Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Công thức của Rupi Kaur, “nhà thơ của thập niên”

Sau khi đọc “Rupi Kaur là nhà thơ của thập niên” trên tờ New Republic của Rumaan Alam.

Published

on

Mấy năm trước và gần đây, Milk and Honey (Bản dịch có nhan đề Sữa và Mật, NXB Nhã Nam, 2019) của Rupi Kaur nổi như cồn. Nổi về nhiều khía cạnh, những dòng thơ súc tích, ngắn gọn, cô đọng, không cần phải suy nghĩ nhiều mà vẫn có thể rút ra được những nhân sinh quan dễ hiểu và có thể coi là sâu sắc, bên cạnh đó, có thể bằng những bức sketch line-art thường đi kế cạnh, thơ ngắn, dễ vừa một khung hình chụp up story, bìa sách đẹp,… Để vắn tắt sự ảnh hưởng của nó, trước khi được dịch, năm 2018 và đầu năm nay, dân “chơi sách” từ lâu đã sống chết với những bản thơ cổ Trần Dần, Vi Thuỳ Linh, Hoàng Cầm giờ đây đổ đi mua bản tiếng Anh, tiếng Pháp. Bìa sách màu đen, deep xịt, thơ gọn ghẽ có thể dịch bằng Google đủ làm nên sức lan toả của nó.

Sữa và mật

Rupi Kaur, nếu như bạn là người mê sách đồng thời cuồng Instagram thì có thể thừa biết, cô sở hữu 3,8 triệu người theo dõi hiện tại, một con số khổng lồ cho một tác giả, gấp 30 lần Margaret Atwood, 15 lần John Green, là những tác giả đang còn hoạt động và sử dụng Instagram thường xuyên. Thơ của cô bán được ba triệu rưỡi bản, con số ấn tượng trong khi thơ thế giới, đang lụi tàn, với số lượng bản in trung bình chỉ là 500 bản in, với sự vận động bớt ế miệt mài từ người thân và người nhà. Người trẻ Mỹ, trong sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông và văn hoá pop cộng đồng, sẽ có thể không hề còn nhớ tới Merwin hay Milosz, nhưng nhắc tới rupi kaur (viết thường, như mọi bài đăng của cô) thì họ sẽ liên hồi nghĩ tới một bức hình vuông vức trắng xoá, góc cuối bên phải có hình vẽ cách điệu bằng những dây mực, bên góc trái xoã xuống những dòng thơ ngắn gọn, phông Times New Roman.

Hai năm sau khi “milk and honey”, “the sun and her flowers” ra đời không đánh dấu cho điều gì mới mẻ và ý nghĩa gì quan trọng lắm. Vẫn những cách trình bày và bìa sách cũ, đi qua hiệu ứng của những câu từ không bao giờ viết hoa thì bắt gặp những câu thơ ngắn gọn, phô trương, dễ đoán, những phép ẩn dụ tưởng chừng nhấn nhá đến vô phương thấu hiểu thật ra nhạt nhẽo và tầm thường, sự ngắt câu chểnh mảng và chỉ gây dấu ấn chứ không mang ý nghĩa về bất cứ nội dung gì. Thì làm thế nào, Rupi Kaur, một nhà thơ (nếu bạn đồng ý), trẻ, số lượng tác phẩm chưa đồ sộ và chưa có thành tích nào đặc biệt quan trọng, lại thay đổi bộ mặt thơ thế giới trong thập niên này, và có thể cô, những hậu duệ cô sẽ tiếp tục duy trì điều đó vào những thập niên tiếp nữa?

Nếu là một người đọc dễ tính, như các cô nàng tuổi teen đang chuếnh choáng cuộc đời, yêu đương, những người lạc lối (trong thế hệ này, số người đó vô số kể, hơn 3,8 triệu nhiều) thì thơ Kaur dễ dàng đánh động và thuyết phục bạn, đó là thể loại thơ mà những người sõi đời sẽ kể (thật ra không phải, ở dưới sẽ cho bạn biết vì sao), là Nam Cao sẽ viết, thể loại thơ người ta sẽ rất thích để đăng kèm caption. Sau đây là công thức của Kaur:

1. Tính đánh động bằng hình ảnh:

Một số câu thơ (verse) của Kaur giống như một câu nói trong bài phát biểu của bà hội trưởng ôn tồn giảng đạo cho bầy trẻ hơn. Nhưng vì thế, nó “mạnh mẽ” và “bộc trực”:

Một trong số đó:

bạn sợ hãi

giọng nói của tôi

tôi cũng thế

tôi cũng sợ hãi nó

Hay:

thật mạnh mẽ làm sao

trái tim con người

qua bao lần tan vỡ

vẫn sống

Đó là những dòng thơ mà người ta sẽ lấy để làm lyrics cho những bài hát thị trường, nó mang tính đánh động trực diện vào hai thái cực cảm xúc khác nhau, chỉ với những vần thơ vô cùng đơn điệu và tầm thường. Bài đầu tiên, ám chỉ lời nói độc hại, “lời nói giết người hơn dao”. Bài thứ hai, ca ngợi, tự mãn với sức mạnh của trái tim con người. Chấm hết, không gì nghĩ ngợi hơn nữa. Để làm rõ sự đơn giản của lớp ý thức của Kaur, xin đọc một bài thơ cũng ngắn như thế của Merwin có tên là “Tiết kiệm” (bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng):

Không cần phải đập tấm gương.

Đây là khuôn mặt tan vỡ,

Sẵn cho bảy năm buồn bã.

Đầu tiên, ở phương diện hình thức, thơ của Merwin không cố cắt các đoạn thơ ra khi không cần thiết, các đoạn thơ ngắt nhưng đầy đủ nghĩa, chững chạc, vững vàng. Và sau mỗi câu đều có dấu câu, không cố níu giữ sự liền mạch giữa các câu thơ sau khi xuống dòng. Còn thơ của Kaur, sự bẻ ngắt vô thức để tạo sự vỡ mạch, ấn tượng, hụt hẫng, trong khi cách viết thì mong muốn sự liền mạch trong câu thơ (verse) như thể một đoạn văn (prose), loại bỏ mọi sự cản trở lẫn hỗ trợ của dấu câu. Rõ ràng, thơ Kaur có mang tính biểu hiện, gây ấn tượng hơn so với thơ cũ. Đó là một nguyên liệu quan trọng trong công thức thành công của cô, sự ngắn gọn, vừa đủ một khung hình Instagram bởi vì người ta sẽ không bao giờ đọc những thứ quá dài, phô diễn sự sâu sắc, bởi ai cũng thích đọc những vần thơ sâu sắc nhưng quá lười để nghĩ, để bóc tách sự sâu sắc đó ra và thử nghiệm, thôi thì để nhà thơ nghĩ luôn tất cả, tiếp đó, đánh động, nội dung đề cập thường khơi dậy con người tính giác ngộ về tính ác sẵn có (phù hợp với những người nghi hoặc) hay là trân quý con người (phù hợp với những con người yêu đời, trẻ trung, bước qua tan vỡ). Kaur tự rước vào mình thiên chức người mang tiếng nói chung, đó là những tiếng nói ai cũng biết, một bó rau muống mà ai cũng có thể tậu được trong chặng đường sống, nhưng cô ta thổi vào đó hình ảnh, đem nó qua Mỹ, đặt cái tên thật mĩ miều, “morning glory”, trang hoàng bao bì và lấy lời gấp ba gấp bốn từ nó. Trong khi, “Tiết kiệm” của Merwin, chỉ nói về những cảm xúc cá nhân, không hề toàn thể, rất bất chợt mà có thể sẽ không thường trực hiện diện trong chính con người của tác giả nữa. Vậy thì, độc giả phải tự đi tìm đó là gì, nó tốn quá nhiều thời gian, để tìm hiểu “bảy năm buồn bã” đó là gì, và hình ảnh cái gương vỡ biểu đạt cho điều gì. Và người ta hiện đại không đủ thời gian và tâm huyết để đi tìm hiểu sự buồn bã của một người, thay vào đó, người ta sẽ đi tìm tính nhân bản hiện diện cạn hẹp trong thơ Kaur.

Nói về những tính cá nhân trong thơ của Kaur, không phải là không có. Đại loại là:

tôi là nước

mềm mại đủ

để cung hiến cho đời

mạnh mẽ đủ

để cuốn phăng chúng đi.

Câu thơ đầu tiên rõ ràng là một câu tự sự, và rõ ràng bài thơ là cách tự nhận mình là nước của cô. Và bắt đầu giải thích sự toàn diện của lời tự sự vô thưởng vô phạt ấy, đó là một kiểu viết cổ điển, mang tính kêu gọi và toàn thể. Ai cũng có những cảm xúc tương tự đó, vì nó quá hoàn hảo, những cách giải thích hoàn toàn thuyết phục, tự đưa mình ra thành thánh nữ và lôi kéo người đọc thành tông đồ của tín ngưỡng của mình.

2. Không quên những dài dòng ngắn gọn:

Những câu thơ ngắn không phải bao giờ cũng là đặc điểm của Kaur, để có chỗ cho những phép ẩn dụ đầy sâu sắc (có lẽ) và để cảm xúc trôi thành cuộn, cô cũng có cho mình những bài thơ dài dòng, nhưng cũng lại chỉ vừa đủ trong một khung hình trắng trơn đó.

mẹ bạn

có thói quen là

cho bạn nhiều tình thương

quá mức bạn có thể giữ

ba bạn đã vắng mặt

bạn là một trận chiến

giữa biên cương hai nước

những phá huỷ song song

những nghịch lý gắn nối hai nước

nhưng cũng chia rẽ tàn khốc chúng

Đề cập đến chủ đề gia đình, với sự bất hạnh của tuổi thơ, lối kể nhưng lại đánh tới người đọc, xưng “your” (ngôi hai), bài thơ không thể không gây xúc động đặc biệt. Đoạn đầu mềm mại, dịu dàng, dập dìu, nữ tính, sau câu ngăn cách thì lập tức chuyển sang cơ học với vô số từ chuyên ngành lý tính (colleteral, paradox). Bài thơ tập trung được nhiều cung bậc, đủ sự ẩn dụ và hình ảnh thì quá sức gợi cảm, chỉ cần người đọc ở mức trung bình thấp cũng có thể hiểu nổi và gật gù (I’m a war), chính vì sự khó hiểu đơn giản ấy, cô thu hút độc giả tiếp tục trong một trò chơi giải mã từ ngữ mà cô bịa ra, trò chơi rất cam go, nhưng đơn giản.

cô gái da nâu xinh xắn

mái tóc dày của cô như dòng sữa dê không lọ nào chứa hết

cô gái da nâu xinh xắn

da cô khôn kham chứa nhiều mặt trời nhất có thể

tôi biết cô ghét làm da mình đen thêm

nhưng cô như nam châm hút tất cả ánh sáng

chứa nó nhiều nhất có thể

cô như nam châm hút tất cả ánh sáng

đôi lông mày giao nhau – xây cầu nối liền hai thế giới

âm đạo – nơi tăm tối sâu thẳm nhất cơ thể

đang cố giấu những quặng vàng

cô sẽ có những quầng thâm thật sớm

ưa thích những quầng sáng

cô gái da nâu xinh xắn

cô kéo chúa ra bụng họ

Bỏ qua những phép tu từ và từ ngữ lạng xạng khó hiểu, bài thơ là bức tranh ca ngợi vẻ đẹp người phụ nữ, từ những thứ mà họ cố phô ra cho người đời thấy cho đến nơi sâu thẳm nhất, bằng những hình ảnh thơ đẹp, lạ, hoán dụ chuyển đổi cảm giác nhiều, và sau đó là đối tượng hướng tới, “cô gái da nâu”.

3. Tình yêu và tính nữ trong xã hội shared pop-culture

Khó mà một nhà thơ trẻ nào, dẫu có tư duy lỗi lạc như Kaur lại có thể làm lơ chủ đề tình yêu như một mảnh đất màu mỡ để cày xới vun trồng. Tình yêu của Kaur cũng mang tính nữ như bao ai, tan vỡ, tổn thưởng và cứu rỗi, cô đơn. Và một trong số đó, có hàng loạt bài có thể đủ thời gian để trích dẫn ra đây như sau:

sự trớ trêu của cô đơn

ta đều cảm nhận được

cùng nhau

Hay:

yêu

với nỗi cô đơn

của bạn

Và:

tôi muốn tuần trăng mật một mình

Thay vì những đau khổ đầy cảm tính của những chị gái xuân sắc dậy dà thì Kaur nói về tình yêu với những kiểu cảm xúc lấy lý tính và tricky. Bài thơ trích dẫn ban đầu ngay lần đầu đọc đã cho người ta thấy sự thú vị trong cách triển khai ý nghĩa của một tình yêu đang dần nhạt nhoà nhưng cả hai không ai muốn buông tay trước. Đó là loneliness, nhưng togetherat the same time. Đối chọi từ ngữ, đầy thông minh. Bài thứ hai cũng vậy, nói về sự cô đơn sau tình yêu nhưng lại đề cập đến tình yêu, tình yêu với nỗi cô đơn. Điều này thể hiện tính biểu hiện của trong thơ của cô, cô muốn cho người ta thấy sự thông minh trong cách dùng từ của cô, thu kéo độc giả để soi chiếu những đối chọi từ ngữ chứ không phải những cảm giác văn chương và trải nghiệm.

Ca thứ ba là một sự thú vị nữa, độc nhất một dòng, dòng mà Lana Del Rey sẽ viết trong những bài hát rất femalist, với chất giọng lãng mạn du dạt như một kẻ tự tình tổn thương. Nhưng ở đây, Kaur không thể có âm nhạc, cô ta dùng hình vẽ, đặt bên cạnh một câu thơ độc nhất có vẻ đớn đau và đầy yếu ớt là người phụ nữ đang thủ dâm với vẻ tự mãn. Lập tức biến chuyển câu thơ thành một cách nghĩ khác, đầy nữ quyền, không còn ướt át mà đầy sức mạnh, sức mạnh của “lòng tự yêu bản thân”, theo một bình luận trên bài đăng mà tôi thấy. Điều này chứng tỏ những bức line-art bên cạnh, cũng đầy súc tích và siêu thực góp phần bổ trợ cảm giác cho chúng ta rất nhiều, sự kết hợp siêu văn bản (hypertext) hài hoà, độc đáo và có tác dụng là công cụ hữu hiệu giúp cô định hình, quy chuẩn suy nghĩ của người đọc. Và người ta sẵn sàng đắm chiều trong đó.

Kết thúc thập niên với Kaur, tôi mong ít nhất nó cho chúng ta cái nhìn trực diện nhất về cái cách mà chúng ta đọc đã thay đổi bộ mặt thơ. Phương tiện truyền thông và nếp sống nhanh, vội, nhưng vẫn muốn hiểu hết các giá trị sâu sắc làm Kaur và sự thông minh của cô (cả gương mặt, hình thể, theo Rumaan Alan) có đất để diễn giải và chiếm sóng. Cô không cần quá nhiều trải nghiệm về cách mạng Ireland như W. B Yeats, trải nghiệm cuộc sống chính trị và lối sống toàn cầu như Pablo Neruda, hay đau đớn bởi các phức cảm và bất hạnh đè nén, nhạy cảm như Sylvia Plath để viết thơ, cô chỉ cần phóng tác lại những tư tưởng giờ đây quá dễ dàng để kiếm và hiểu lại theo ngôn ngữ, hình ảnh và lối dùng từ của mình. Các tên tuổi Whitman, Frost, Dickinson,… không còn phù hợp với lối sống của đại đa số giới trẻ nữa, thay vào đó sẽ là những bài thơ độc ngôn, ngắn gọn và ít phải suy nghĩ như thế. Kaur hiểu được người đọc đương thời muốn những nghịch lý gì, muốn sự phức tạp mà đơn giản, sự sâu sắc mà dễ hiểu, sự chảy tuôn trào cảm xúc nhưng tỉnh táo và lý tính, sự cuồng si và thẳm tối nhưng vẫn tricky và trào lộng. Có thể nói sự thành công lớn nhất của cô không phải ở chỗ thơ của cô đạt tới những tầm mức cao thế nào, mà chính tư duy trong cách làm thơ, cô đã dạy cho chúng ta, những người viết trong thế hệ trẻ, nếu muốn thoát khỏi bàn tròn của những chuyên gia, xâm nhập sâu vào đời sống cộng đồng thì phải làm thế nào, đó là công thức chung nhất của văn chương những ngày sau của thập niên kế tiếp, tôi đoán.

Hết.

Gia Bin

Ảnh: rupikaur_


Đọc tất cả những bài viết của Gia Bin.


Một năm nhìn lại



2 Comments

2 Bình luận

  1. Minh

    Tháng Mười Hai 31, 2019 at 10:09 sáng

    Không thể phủ nhận một điều là rupi kaur “rất thông minh” khi đón đầu được xu hướng và “rất nhạy bén” khi biết người khác cần gì. Thơ của cô mang tính tức thời, hệt như kiểu nhanh đến rồi nhanh quên. Nói một cách hình tượng hóa, rupi kaur và các tác phẩm của mình là 1 bức vẽ 2d – như những bức phác họa chì – nó có chiều dài, chiều rộng; nhưng thiếu đi chiều kích tâm hồn ở độ sâu như thơ của Wislawa Szymborska từng gây lên một hiệu ứng mạnh cho mình. Ở một thời đại nhanh chóng như thế này, đó không hẳn là một điều gì xấu hổ; chỉ đơn thuần nó cho thấy thơ đang phát triển theo xu hướng nào. Còn với những ai (còn) muốn khai phá bản thân, xin mời về thời quá vãng. Bài viết rất hay!

  2. Bùi Gia Bin

    Tháng Mười Hai 31, 2019 at 11:18 sáng

    Thơ của Wislawa và kaur giống nhau ở điểm đề cập đến cái toàn thể, nhưng cái điểm trào lộng, phản chiến và thông thái (trong chữ thơ, không phải trong những thứ ngoài chữ thơ) là thứ mà kaur không bao giờ đạt đến nỗi trong thời đại của chúng ta, một thứ mà cần phải được mài dũa trong thời đại văn học lãng mạn chiến tranh Ba Lan mới có thể lĩnh hội được sáng suốt như thế.
    Cảm ơn bạn đã cảm nhận nhé!

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Khách không mời: Khi mọi thứ đều cong

Published

on

By

khach khong moi

  Em thường nhìn vào những khu nhà cao mới xây, em thấy không cái nhà nào thẳng cả […] Nàng chưa bao giờ thấy ai có sống mũi thẳng một trăm phần trăm. Cũng đúng như bạn chẳng bao giờ thấy một cái cây, một bức tường, một cái chân bàn, hay một cây cột điện thoại nào thẳng một trăm phần trăm.

Tôi đọc Geling Yan rất vô tình. Trong một lần lướt xem những đầu sách nào chuẩn bị được in ở các thị trường lớn trên thế giới, thì The Secret Talker lọt vào mắt tôi với cái bìa khá ấn tượng cùng tên tác giả gợi nhớ nhiều tới gốc gác Trung Quốc. Thông thường, những thị trường lớn này hay ưa chuộng các tác giả châu Á có phần đặc biệt – họ viết hoặc phản ánh những điều bị cấm (trường hợp Diêm Liên Khoa, Lý Dực Vân) hoặc thật sự khác biệt với phong cách nổi trội (trường hợp Tàn Tuyết, Dư Hoa…). Và cũng vì thế, Geling Yan để lại một ấn tượng sâu sắc nhưng tôi vẫn chưa có khái niệm gì về bà sau lần chạm mặt tình cờ ấy.            

Tiếp sau đó, trong một lần đi tìm sách cũ ở những ngõ ngách Saigon, tôi bỗng lại gặp một quyển sách khác của bà, Khách không mời. Thú thật đây không phải là lần đầu tiên tôi bắt gặp nó, nhưng với chiếc bìa không để lại quá nhiều ấn tượng thì tôi đã lướt qua nó rất nhiều lần trước đây. Nhưng dĩ nhiên duyên phận đã lôi kéo vào vòng xoáy này khi tuần trước nhớ tên tác giả, tuần sau đã gặp sách của bà, thêm vào đó là dịch giả vô cùng tiếng tăm, nên tôi đã thử và đọc cuốn này. Khách không mời thật sự mới lạ, vì so với hầu hết những tiểu thuyết Trung Quốc khác tôi từng đọc qua viết về Cách mạng Văn hóa, hậu Phong trào Tứ Thanh hay thời chuyển giao quyền lực của Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình hay biến cố Thiên An Môn… thì Khách không mời lại tập trung vào một quãng thời gian mới hơn, gần đây hơn nhưng cũng đầy vận động với một Trung Quốc đương thời.

Không thể phủ nhận chính việc đặt Khách không mời vào bối cảnh của thời “mở cửa” đã trở thành một trong những lý do khiến nó mới mẻ, độc đáo và không bị nhàm chán. Nếu văn chương Xô Viết dễ bị hình dung như văn chương của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, Trung Đông là tiếng nói mới của phụ nữ bị áp bức thì Trung Quốc như phần lãnh thổ rộng lớn của mình, lại có nhiều cái tên - từ văn chương hậu Cách mạng văn hóa, làn sóng linglei đến trào lưu tiểu thuyết quan trường… Geling Yan cũng từ đó phát triển và phối trộn những màu sắc đặc trưng rất Trung Hoa. Bà lùi về quá khứ một chút với thời nghèo đói, bà tiến vài bước đến kì tương lai, và hay ho là Khách không mời nằm được ở giữa, với chủ đề mới, rặc tính Đông phương nhưng hầu như rất ít tác phẩm nào từng gợi nhớ đến, mà gần đây nhất có thể coi Parasite của Bong Joon-ho như sự thấu cảm cùng chung chủ đề.

Nếu ai tìm hiểu về Geling Yan thì chắc sẽ không thể quên gia tài đồ sộ những cuốn tiểu thuyết của bà. Về nhà (tựa gốc Coming Home) hay Kim Lăng Thập tam thoa (The flowers of war) từng được Trương Nghệ Mưu chuyển thể, đã lấy đi nhiều giọt nước mắt lãnh đạm, khi thì trong chiến tranh Trung – Nhật, khi thì là tình yêu và sự cứu rỗi. Phần lớn những nhân vật của bà đều là phụ nữ. Họ bị bán đứng, xem thường, rẻ rúng và trở thành trò tiêu khiển trong chiến tranh hay như phụ nữ nông thôn thường thấy – vất vả, cơ cực. Bước ra từ Khách không mời, bà phá vỡ motif thường thấy của mình, khi không đặt chân bước vào chiến tranh, cũng không tạc thù miêu tả phụ nữ, mà rộng ra hơn và linh hoạt hơn với những vấn đề lớn hơn, vĩ mô hơn và nhất quán hơn.

Nhân vật chính của Khách không mời là Đan Đông, một người đàn ông ưa nhìn ở độ tuổi trung niên sống trong xí nghiệp sản xuất nay phải hoạt động cầm chừng ngày có ngày không. Hơn 10 tháng nay họ không nhận gì ngoài những phiếu lương có vẻ như vô giá trị. Được ở đấy với Tiểu Mai – người vợ xinh đẹp, họ có giá thuê chỗ ở rẻ, được ăn cắp điện để nấu nướng, có nước nóng rửa ráy, mua được thịt thà không phải qua kiểm định và có cá hộp hết hạn để trả thay lương. Sống trong tận cùng của những nghèo xơ xác ấy, trong một lần đi phỏng vấn làm bảo vệ khách sạn, một con đường mới đã mở ra cho Đan Đông – đó là đóng giả phóng viên để được ăn tiệc miễn phí và nhận về tiền “xin lỗi đã làm phiền”.

Geling Yan mô tả khá hay hình tượng người đàn ông này. Bà không chỉ nêu bật cái khổ, bà còn dồn ép nhân vật của chính mình vào con đường khốn đốn, tận cùng. Trong những buổi ăn tiệc ấy, ngoài Đan Đông thì những con rệp ăn tiệc khác nay cũng đánh mồi thấy được sự béo bở. Chúng cướp quyền sở hữu trí tuệ là mánh khóe làm giả danh thiếp của anh, chúng thuê thêm người làm thợ chụp ảnh, và dĩ nhiên, cảnh sát không thể ngó lơ. Một vài tuần sau chiến lược càn quét của ngành công an đã tàn phá mâm cổ miễn phí, và cũng như bao kẻ khác, Đan Đông hay Tiểu Mai cuối cùng cũng phải chui vào tấm lưới muôn phương vây bủa.

Song song với việc bị đẩy đi đến đường cùng, Đan Đông cũng phải đối mặt với những thứ khác đang kềm giữ anh. Có thể tưởng tượng người đàn ông ấy là một miếng cam nay bị vắt kiệt, mà bàn tay ấy, khốn thay không phải bởi những tầng lớp giàu sang – mà là những người còn nghèo hơn anh. Đó là nỗi thương cảm của một người nghèo dành cho những người nông dân nghèo còn kiết xác hơn cả mình với những tham nhũng, bắt bớ, quan liêu. Đó còn là sự mông lung giữa dục tính thật sự và việc lợi dụng người cùng khổ khác, mà hiển hiện nhất chính là Mười Khó với lời thỉnh cầu về một bài báo vách trần sự thật, trong khi anh chỉ là một tay lừa bịp không hơn không kém. Anh tự nhủ rằng Mày phải cẩn thận trong những ngày này, hoặc mày sẽ bị đẩy vào tình huống mà ở đó phải chạm trán với cái nghèo khó trên mọi nẻo đường.

Vượt thoát ra khỏi Đan Đông, Geling Yan xây dựng một bầu không khí được chia ra thành hai tầng lớp dựa trên nhận thức, giữa một bộ phận những người cảm được trò mèo của nhịp sống hiện đại (như Đan Đông, người họa sỹ già Trần Dương) và một bộ phận những người còn lại. Mối quan hệ một mặt thâm giao với Trần Dương – người phản đối những trò mê dụ, người bị tổn thương khi giá trị con người đã xuống thấp nhất - giữ anh lơ lửng cùng mối quan tâm với những bác nông dân, những người cùng khổ và không có gì. Đan Đông đã bị dồn nén từ cả 2 phía, không chỉ người giàu, mà là kẻ hèn trong cơn quằn quại.

Một người không phải cứ bán thân mình thì mới là mãi dâm. Một người thậm chí có thể trở thành một con điếm còn bẩn thỉu hơn bằng cách bán một thứ gì đó quý hơn cả thân xác mình, dường như là lời miêu tả đúng nhất những trò điêu ngoa của lớp thị dân được thời sung túc. Khi bị đồng tiền chi phối, họ có thể làm những bữa tiệc ăn thịt chim công; nặng hơn một chút họ mua thánh bán thần, họ mua chuộc báo chí để mọi sự thật thành ra bẻ cong. Đau đớn hơn cả khi họ lừa dối cùng chung một dòng giống người, họ bắt bớ, chiếm đoạt; họ lừa đảo từng đồng lương ít ỏi, từng căn họ xây thêm để làm giàu nữa cho bản thân mình.

Nhưng ngay cả khi những người giàu có nhất ấy chường mặt ra ngoài, trong bản thân họ luôn là tình thế chông chênh lo sợ ngai vàng ấy một ngày bị cướp đi mất. Trong họ luôn là nỗi bất an nghe tin một cơn bão tới. Tầng lớp dưới cùng thì sợ chiến dịch dọn dẹp loài con rệp ăn tiệc, tầng lớp giàu sang thì sợ phanh khui trốn thuế, đầu tư lừa bịp hay ti tỉ những công việc khác. Tất cả bọn họ đều có một tật: Trần Dương thì bứt đầu lông cọ vẽ, tổng giám đốc Võ thì bóp que diêm, Hồng Ngọc thì đùa giỡn với chiếc dép lê đi trong nhà. Họ làm những điều không cần suy nghĩ này để tự trấn tĩnh bản thân. Để hiểu được cái gì làm cho họ rối trí.

Với Khách không mời, Geling Yan hay Nghiêm Ca Linh đã mang đến một bữa tiệc khỏa thân trong chính trải nghiệm của việc nói lên sự thật.Với cuốn sách này bà một lần nữa chứng minh được tên tuổi mình, khi luôn linh hoạt với đời sống và mở thế giới quan một cách rộng khắp lướt qua thực tại. Hiện đại, sắc sảo, tinh tế và vô cùng mạnh mẽ; có thể nói đây là một trong những cuốn sách có tầng sâu nhất của bà, vượt thoát khỏi những tiểu thuyết thời hậu Cách mạng văn hóa thường thấy, nhưng dẫu sao cũng dễ thấy rằng, nó còn thiếu một chút đột phá với những thể nghiệm trên cùng.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tháo gỡ phép màu – Một hành trình mạnh mẽ

Published

on

By

thao go phep mau featured

Tháo gỡ phép màu của Julie Yip – Williams có lẽ là một tựa sách gây nhiều băn khoăn khi ta lần đầu bắt gặp. Thế nhưng khi đã đi hết hành trình của người phụ nữ đầy bản lĩnh và kiên cường này, ta sẽ hiểu vì sao đến cuối cùng thì Phép màu cũng cần được tháo gỡ, và điều quan trọng nhất không phải là ta có được điều gì từ sự kỳ diệu, mà là ta hiểu được gì từ sau cuộc sống vốn luôn hạn hữu này.

Được viết như một ghi chép về cuộc đời mình, Julie - người mẹ, người vợ, người bạn, người phụ nữ tràn đầy cảm hứng – đã kể về quá trình trưởng thành, nhận thức, buông bỏ và thấu hiểu chính cuộc sống này. Sinh ra với bệnh đục thủy tinh thể bẩm sinh mà bước ngoặt đầu tiên đã là thử thách, liệu cô có giữ được mạng sống ở tuổi lên 3?

Những năm miền Nam Việt Nam mới được giải phóng, cuộc đời của một đứa trẻ không thể nhìn thấy là rất khó đoán, và đó cũng là lý do vì sao bà nội vẫn luôn nghĩ rằng cái chết là thứ quá đỗi êm dịu với một đứa bé như cô. Như một phép màu bỗng chốc xảy ra, vị thầy thuốc từ chối ban phát vị thuốc chết; và cũng chính sự kiện ấy đã làm nảy sinh một sự cố thủ từ chính mẹ cô – người phụ nữ vốn được dạy bảo phải phục tùng chồng – nay lần đầu tiên đứng lên bảo vệ con mình, và đi đến quyết định di cư sang Mỹ.

Với gốc gác là dòng tộc Hoa, sau cơn chính biến Nạn kiều 1978, cô cùng gia đình rời khỏi Việt Nam, đến Hongkong và sau cùng là thẳng đến Mỹ. Với một đứa trẻ gần như mù lòa vì đục thủy tinh thể, hành trình lênh đênh đến hơn 3 tháng trên một chiếc thuyền ọp ẹp mà vẫn bình yên kỳ thực là một phép màu. Như sau này cô cũng thừa nhận, quá nhiều phép màu đã đến với cô, là thứ tạo ra, tái sinh và giúp cô sống tiếp trong cuộc đời này.

Và dĩ nhiên, Phép màu chưa dừng ở đó. Sau khi được các bác sỹ ở Mỹ phẫu thuật can thiệp dẫu cho không thể hoàn toàn sáng mắt, cô phần nào có lại thị lực dẫu bị sa sút, ở một trạng thái mà ta vẫn gọi là ‘mù pháp lý’. Cô chăm chỉ học tập, gạt bỏ hết mọi định kiến người khác áp đặt lên mình, tốt nghiệp Havard và trở thành luật sư ở một hãng luật danh tiếng. Chưa dừng ở đó, cô còn gặp được Josh – người đàn ông của đời mình, có một căn nhà ở khu Brooklyn và hơn hết là 2 thiên thần nhỏ - Mia và Bella.

Thế nhưng một ngày năm 2013 khi 37 tuổi, cô được chuẩn đoán mắc phải ung thư đại tràng, và tình hình còn xấu hơn nữa khi đó là giai đoạn IV đang có dấu hiệu di căn ra khắp cơ thể. Trong những ngày nằm ở bệnh viện đối mặt ban đầu với ung thư, những con số thống kê nhấp nháy trên màn hình Ipad được Josh đưa ra chỉ có khoảng 0.08% phụ nữ dưới 40 tuổi có thể mắc phải bệnh này, và tỷ lệ sống sót là 6-15%. Phép màu lại một lần nữa tiếp tục hiển hình khi có tới 99% khả năng Julie không mắc ung thư; nhưng lần duy nhất này thật sự khắc nghiệt.

Một điểm đặc biệt là với cuốn hồi kỳ này, Julie không cố che giấu một điều gì cả. Cô không tự an ủi bản thân với chút hy vọng hão huyền, khi việc di căn từ nơi màng bụng đã lan ra đến tử cung, phổi và sau này là xương và gan. Cô đã thử đến 3 lần thí nghiệm lâm sàng với các loại thuốc khó tìm khác nhau, các phương pháp mới mẻ, các loại đông – tây y,,, cô không từ chối bất cứ điều gì. Thế nhưng ung thư ngày càng tai ác, sau cơn hòa giải với những lần xạ trị tưởng chừng bình yên thì ngay lập tức nó quay trở lại và tấn công cô.

Trong những ngày chiến đấu với những hạch nhỏ xuất hiện nơi phổi và đầu thời kỳ di căn vào xương, trong Julie là một vũ trụ của những cảm xúc. Cô khóc than, bất lực cho số phận mình; cô nổi đóa với Chúa – nếu Ngài có tồn tại – vì việc chọn cô; cô giận dữ với bất cứ một yêu cầu nào không được đáp ứng và cả ganh tị với ‘Cô vợ Hai Lẳng Lơ’ – biệt hiệu của người sẽ thay cô chăm sóc Josh cùng các con gái khi cô rời đi.

Từ người du lịch 5 châu đến tận Nam Cực nay chuyến đi cuối cùng là quần đảo Galapagos, nơi những nguyên sơ vẫn được bảo tồn - nơi cô cảm nhận được Josh trong mối quan hệ và là tình yêu cuối đời của mình. Trong những tháng ngày đối chọi ở trên giường bệnh, cô vẫn níu kéo một chút hơi sức để các con gái không thấy mình đã từ bỏ. Cô dũng cảm chiến đấu với ung thư, nhưng theo một cách thực tế, lý trí và cũng mạnh mẽ.

Thay vì than khóc vì chính cái tạ mình đang đeo phải, thay vì mù quáng tin tưởng vào việc điều trị ở giai đoạn cuối; cô ở đó và lên kế hoạch cho những người thân yêu nhất. Hợp nhất căn nhà để các con gái có không gian riêng khi chúng lớn lên, nhờ vả chị gái chăm sóc hai cô gái nhỏ, nhắn gửi cô giáo phụ trách về việc học đàn, gửi gắm đến Josh về niềm hạnh phúc, tự lên kế hoạch cho tang lễ mình… Tất cả được cô chăm chút kỹ càng như chuyến cuối cùng bên lề cái chết, là chốn hội ngộ với bà cố tổ – nơi cô vốn nghĩ không quá đáng sợ mà chỉ đơn thuần là dịp gặp mặt như những ngày xưa.

Nhà văn trinh thám Sidney Sheldon từng nói ‘Phép Màu có thật trong cuộc sống này... với điều kiện, ta phải tự mình tạo ra chúng’, và cuộc đời của chính Julie là một Phép màu. Biết rằng Phép màu đã đến rồi đi, cô đã trân trọng, yêu thương và tận dụng hết mọi khoảnh khắc; để khi cánh cửa mới mở ra, những Phép màu sẽ được tháo xuống, gỡ ra và truyền tiếp cho thế hệ sau bằng chính niềm tin, sự hy vọng cũng như niềm hân hoan. Dũng cảm, thẳng thắn và rất xúc động – hành trình của Julie Yip – Williams là niềm ham sống, khát khao tự do, vươn lên số phận. Một chặng đường vô cùng mạnh mẽ.

Hết.

Chiêu Dương

Ảnh đầu bài: Kafla Bookstore

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Yêu thương cơn “Giận” bằng trái tim hiểu biết

Published

on

By

“Chánh niệm là ta, mà sân hận cũng là ta. Ta không nên trở thành một bãi chiến trường để hai vùng năng lượng đó đánh giặc với nhau. Đừng nên nghĩ rằng chánh niệm là chánh, là tốt, và sân hận là tà, là xấu. Đừng nên nghĩ như vậy.”

Giận là một cuốn sách chứa nhiều sắc thái yêu thương. Chúng ta thường dễ dàng yêu những điều ngọt ngào, đẹp đẽ, đầy sức sống và thương những điều chân thành, trong trẻo, bình yên. Nhưng có một sắc thái yêu thương khác thực sự không hề dễ trao tặng, nhưng nếu làm được, có lẽ con người sẽ tự thân giải thoát mình khỏi những đau khổ và giằng xé trong mọi diễn biến phức tạp của đời sống: yêu thương cơn giận và những nỗi sân hận. 

Cuốn sách là một phương pháp tu tập của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bản gốc được viết bằng tiếng Anh và xuất bản lần đầu năm 2001. Nhưng Giận không chỉ là thực tập tâm linh. Bên trong Giận có những quan điểm triết học, nền tảng khoa học do những con người thực tập chánh niệm phát hiện ra. Cũng giống như nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, phương pháp có nền tảng là sự quan sát, ghi nhận, quán chiếu (đào sâu và phân tích hành vi) và đưa ra những kết luận đối với vận động của tâm (how mind works) thông qua việc dấn thân sâu vào mỗi giây phút thực tại của đời sống. Khi dấn thân sâu, người ta có thể nhận ra những chi tiết do tập khí của sự chú ý dẫn dắt. Đến nay, tiếng vang của tác phẩm vẫn còn nhờ vào giá trị đương thời của nó.

Cuốn sách dành cho người giận, người bị chọc giận, và hướng dẫn làm sao xử lý tàn dư sau những cơn thịnh nộ. Nhiều câu nói trong Giận có khả năng giúp người đọc tỉnh ngộ ở một mức độ nhất định khi họ đang bực bội. Nhưng có lẽ cách khai thác triệt để lợi ích của cuốn sách là vừa đọc vừa tái hiện và quán chiếu lại bên trong mình. Nghĩa là ta cần phải gợi lại dòng cảm xúc tiêu cực phát sinh trong những sự việc không như ý trong quá khứ để khai mở ra một góc nhìn mới. Và nếu muốn, tự chữa lành nó bằng tuệ giác.

Một lời khuyên hữu hiệu được Sư Ông ra sức thuyết phục xuyên suốt quyển sách, đó là những cơn giận rồi vẫn sẽ tiếp diễn, những đả kích tùy vào giới hạn sức chịu đựng của mỗi người, vẫn sẽ dẫn đến tổn thương. Chúng luôn luôn hiện diện. Nhưng bạn sẽ học được cách tiếp nhận và chuyển hóa chúng giống như bạn học cách ủ rác thành phân vậy, vì có hoa thì phải có rác, đừng sợ hãi và nhút nhát trước cơn giận.

“Tiếp xúc với đau khổ giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và nhận diện hạnh phúc khi hạnh phúc có mặt. Nếu không tiếp xúc được với đau khổ thì không biết hạnh phúc đích thực là gì.”

Chánh niệm

Khi giận, Thầy khuyên ta nên duy trì chánh niệm trên hơi thở, vừa điều tiết được cơn thịnh nộ vừa quan sát được tiến trình của cảm xúc. Thầy nói rằng phương pháp xả giận (venting) bằng cách sử dụng bạo lực (đánh, đấm, la hét vào một đồ vật chẳng hạn) là một thực hành nguy hiểm. Điều này là hoàn toàn hợp lý. Tuy vậy, nếu không hiểu rõ về chánh niệm, theo dõi hơi thở rất dễ bị nhầm lẫn thành kiểm soát hơi thở. Người đang giận mà theo dõi hơi thở trong khi chưa thực tập chánh niệm lần nào, rất dễ bị suy nghĩ bao trùm và cảm xúc chi phối. Vì thế, trong giai đoạn thuật ngữ này đang được sử dụng khá phổ biến, thì có một đối tượng khác, cũng được đề cập trong cuốn sách, có vẻ dễ hiểu và dễ thực tập nhất để học về phương pháp duy trì chánh niệm sao cho đúng với bản chất của nó:

“Ăn là một thực tập sâu sắc. Khi tôi ăn, tôi tận hưởng từng miếng ăn. Tôi ý thức rõ rệt từng miếng ăn trong miệng tôi, ý thức là tôi đang ăn. Chúng ta thực tập chánh niệm về ăn uống bằng cách ý thức rõ là ta đang nhai thức ăn. Nhai thật cẩn thận, nhai với niềm vui trong lòng, thỉnh thoảng dừng lại để nhìn những người thân, bạn bè, tăng thân đang cùng ngồi ăn. Được ngồi thảnh thơi ăn chung với nhau là một niềm vui lớn. Khi ăn trong chánh niệm chúng ta sẽ không ăn trong buồn, giận, lo lắng, không ăn những dự án tương lai.”

Thiền ăn là một hoạt động thú vị. Vì mọi người đều có thể toàn tâm toàn ý ăn sao cho ngon miệng, dù thức ăn có hợp khẩu vị, hay dù đang trong hoàn cảnh nào mà không cần hướng dẫn quá chi tiết. Nếu muốn dấn thân thật sâu sắc vào hiện tại, người tu học sẽ phát khởi thêm lòng biết ơn đối với bữa ăn để có thể trân trọng từng thìa thức ăn đưa vào miệng, quan sát từng cử động khi nhai, cảm nhận mùi vị của từng món ăn, nhận diện những thói hư tật xấu làm giảm chất lượng bữa ăn. Hay nói cách khác là Vì trân trọng, nên tôi sẽ hiện diện sâu sắc ở đây với bạn, tôi sẽ không dành năng lượng cho những việc khác. Đó là một trong những cách hiểu và thực tập về chánh niệm trực quan nhất. 

“Muốn ăn cho đúng thì nên nhai ít nhất năm mươi lần trước khi nuốt.”

Thay thế góc nhìn nhị nguyên bằng tâm từ bi và thấu hiểu

Khi theo dõi hơi thở ở một thời lượng nhất định, và nhận diện những cảm xúc đủ lâu, ý thức của ta sẽ phát hiện ra những cảm xúc, những tâm hành không nên có (sân hận, đố kỵ, nghi ngờ) và có xu hướng triệt tiêu chúng. Nhưng theo cuốn sách, nếu con người nhìn nhận những tâm hành ấy bằng tuệ giác tương tức thì sẽ có thể đối xử với chính mình và người thương bằng một cách dễ chịu hơn, bất bạo động. Cũng như tạo tiền đề để tâm từ bi nảy nở.

Tâm nhị nguyên là xu hướng gắn mác đúng-sai, trên-dưới, đẹp-xấu, thắng-thua, khởi đầu-kết thúc, ta-người đã tồn tại và cắm rễ rất sâu trong cách tư duy của con người để làm tiền đề, căn cứ cho mọi ý nghĩ và hành vi. Đạo Phật khuyên rằng, thay vì nhìn qua lăng kính nhị nguyên, hãy nhìn mọi sự vật, hiện tượng, cảm thọ là sự chuyển hóa xuất phát từ sự thay đổi, chuyển hóa của những đối tượng có liên quan, là tính tương tức, là nguyên nhân và kết quả. Được vậy thì có lẽ người ta sẽ tự xóa bỏ cho mình rất nhiều sân hận, bất an phát sinh trong đời sống.

“Pháp môn thực tập của chúng ta phải là bất bạo động. Bất bạo động chỉ có thể phát sinh từ tuệ giác bất nhị, tuệ giác tương tức. Theo tuệ giác này, tất cả mọi sự vật đều có liên hệ với nhau, và không có gì mà có thể tự nó có mặt một mình…. Chừng nào mà ta không có được tuệ giác bất nhị thì chừng đó sẽ còn bạo động, còn muốn trừng phạt, muốn đàn áp, muốn phá bỏ. Nhưng khi đã thấu triệt lẽ thật bất nhị và tương tức thì ta sẽ có thể mỉm cười với cả hoa và rác trong ta, ta có thể ôm ấp cả hai.”

Chúng ta nên làm gì khi đối phương vô tình hoặc hữu ý gây ra đau khổ cho mình? Hay chúng ta nên hành động như thế nào để phản kháng lại tha lực tiêu cực luôn dồn dập trong đời sống? 

“Một người không biết xử lý đau khổ của mình thường vung vãi đau khổ ra chung quanh”, hãy “nên giúp, không nên phạt”; tổ chức một cuộc “hội thảo hòa bình” để đưa đến “hiệp ước sống chung an lạc”; trao tặng một món quà khi giận; tri ân đối phương và viết ra tâm kinh của bản thân là một vài trong số tất cả những phương án bất bạo động thực sự nghĩa tình dành cho người mà bạn yêu quý. Thật đau lòng khi đối phương gây ra đau khổ cho bạn, nhưng bạn vẫn có quyền chọn lựa cách phản đòn sao cho nhân từ, bác ái với cả hai.

Tâm từ bi là cái tâm nhìn thấy nỗi khổ niềm đau của người khác cùng đồng thời khởi nguyện lấy đi những đau khổ ấy. Dùng tâm từ để chữa lành tâm hồn, để soi rọi sự việc, để kiên nhẫn, để tái lập truyền thông, để lắng nghe, để hàn gắn đổ vỡ. Với tâm thế đó, con người khó lòng sân hận được. 

Một dòng văn ý nghĩa nên được viết vào tâm kinh:

“Bạn biết là bạn may mắn gặp được người bạn đường, may mắn có được một người thương trong cuộc đời. Tại sao bạn lại quên đi sự thật đó? Nó ở trong tâm bạn.”

Một câu chuyện cảm động

Sư Ông nói rằng khi giận, tình yêu thương và những kí ức đẹp đẽ của người đang giận sẽ không có mặt, và họ cảm tưởng như nó chưa bao giờ thật sự có mặt. Đó là lí do vì sao khi cơn giận qua đi, người ta thường thốt lên câu “Phải chi lúc đó tôi đừng làm vậy”, và đổ thừa cho cơn giận của mình. Lúc đó, thực ra là chính họ cho phép cơn giận hoành hành bên trong lẫn bên ngoài. 

David và Angelina là câu chuyện về một người sống theo sự dẫn dắt của tập khí, anh cho rằng Angelina và những người khác cố ý xa lánh anh, không yêu thương anh. Nhưng trái tim anh quá nhỏ bé để có thể nhận ra đã từng có tình thương vô điều kiện mà mọi người dành cho anh. Còn Angelina là một cô gái yêu thương David vô điều kiện mà có lẽ trên thế giới ngày nay không còn ai sống như vậy nữa. Đến cuối cùng, Angelina vẫn trở về với David mặc cho những khổ đau mà anh đã gây ra cho cô.

Trong câu chuyện đơn giản này, độc giả sẽ phải tự hỏi khi nào bản thân mình là David mà khi nào là Angelina. Có nhiều phân cảnh để chọn lựa. Chúng ta đều đã từng là Angelina ngay từ khi sinh ra với lòng thương yêu thuần khiết. Nhưng vì không biết cách xử trí tình thương của mình, nên có những lúc chúng ta trở thành David. Hoặc chúng ta đã từng là Angelina và không chịu nổi một ai đó nên đành bỏ đi. Đến cuối cùng thì ta sẽ tự hỏi đến khi nào mới tìm được người thực sự yêu thương mình. Có nhiều người thấy bế tắc, nhiều người may mắn tìm được những người ưng ý sống yên bình đến cuối đời, nhưng cũng sẽ có nhiều người chọn sự tri túc. Sống biết đủ và biết ơn. Nếu thành công, đến một ngày nào đó ta sẽ có thể cất giọng hỏi Angelina dễ thương ngày xưa của ta giờ đang ở đâu, ta đã làm gì với sự dễ thương ấy, hoặc anh chàng David của ta giờ ra sao rồi. Đó là khoảnh khắc của sự quay đầu, của tỉnh thức và giác ngộ.

Giận - thiền sư Thích Nhất Hạnh

“Tôi cũng là một David. Tôi có nhiều Angelina trong đời mình. Trong thiền đường nhỏ của mình, tôi có một bức hình của hơn hai trăm Angelina của tôi - đó là những đệ tử của tôi tại những trung tâm thiền tập của chúng tôi tại Pháp và Mỹ. Trước khi tôi bắt đầu thiền tọa, tôi luôn luôn nhìn vào bức hình ấy và cúi lạy các Angelina của tôi. Rồi tôi ngồi xuống và nguyện sẽ sống như thế nào để cho những Angelina của tôi sẽ không bỏ tôi mà đi.

*

Giận là một cuốn sách khai mở góc nhìn. Đối với những phương pháp thay đổi cặn kẽ nhân sinh quan như Giận, bên cạnh khả năng đọc và hiểu biết, người đọc cần tạm đặt xuống tất cả những quan niệm sống mình đang theo đuổi, để có thể đón nhận triệt để cơn mưa trí tuệ mà không vi tế làm biến thể pháp môn đó. Nhưng quan trọng hơn tất cả, như Sư Ông có viết, “sự thực tập là biết rõ giới hạn của sức mình”. Nếu trái tim yêu thương của bạn chưa muốn mở lòng, bạn cảm thấy khó khăn, cảm thấy thêm u uất và chịu đựng, nghĩa là trái tim bạn chưa đủ lớn và đủ khỏe để giữ trong mình bí kíp này. Hãy thực tập chỉ khi tự thân bạn mong muốn thay đổi mà thôi, và hãy bắt đầu bằng việc tự mình thưởng thức một tách trà thật trọn vẹn.

Anh Đào

Đọc bài viết

Cafe sáng