Phía sau trang sách

Một-designer tiết lộ 1001 vui buồn chuyện-làm-sách

Xuất bản sách là một bức tranh toàn cảnh vô cùng to lớn, mà ở bài viết này, mình xin chia sẻ với bạn ở những góc nhìn nhỏ hơn. Đó là câu chuyện hậu trường sau mỗi quyển sách, chuyện buồn vui chưa kể của Phuong Nam Book, những gì tụi mình đang làm một cách âm thầm nhưng dữ dội, nơi phía cuối văn phòng – tầng 1 của Nhà sách Phú Thọ ấy.

Published

on

Những ngày còn dùi mài kinh sử ở trường học thiết kế, mình khá thích lĩnh vực sách báo, tạp chí. Nhưng đến khi ra trường, đi làm, sở thích ấy cũng nguội lạnh dần bởi nỗi sợ mang tên “in-sai”. Làm thiết kế quảng cáo in sai một – hai cái poster, standee thì có thể in lại. Backdrop hoặc tờ rơi mà in sai thì có hơi phát hoảng một chút vì diện tích thì to hay số lượng lại nhiều. Đỡ hao tổn nhất có lẽ là thiết kế truyền thông online, đăng lên gỡ xuống mấy hồi, có sai cũng không đến nỗi bị đền tiền, trừ lương hay trường hợp xấu nhất là… xách ba lô lên và đi-khỏi-công-ty.

Mà chắc cũng vì sợ quá nên luật hấp dẫn lại bén duyên mình với Phương Nam – Nơi làm ra những quyển sách tuy nhỏ, nhưng lại là sản phẩm không chỉ được in với số lượng vài cái hay vài trăm như công việc lúc trước. Giờ đây, mình phải đối diện với áp lực in ấn lên đến hàng ngàn, hàng trăm ngàn, thậm chí… cả triệu bản in. Nơi chỉ cần chèn sai một cái mã, đời bạn có thể gắn chặt với kho vận và nhà in, cần mẫn ngồi dán mấy ngàn cái nhãn che đi mã cũ suốt cả tuần liền. Thiệt tình, “bút sa là… gà xối mỡ”!

Tuy sách gắn bó với mình từ bé đến lớn nhưng chưa khi nào mình nghiêm túc suy nghĩ về cách làm ra một quyển sách cả. Vì thế trong năm đầu tiên làm việc tại Phương Nam, gia tài lớn nhất mình có được chính là bức tranh toàn cảnh về một quá trình làm sách từ A đến Z vô cùng thú vị. Có thể nói đây là cơ hội quý giá để mình thâm nhập vào thị trường xuất bản tưởng chừng rất “điềm đạm” nhưng cũng không kém phần sôi nổi với những câu chuyện đời, chuyện nghề thăng trầm, khóc cười ra nước mắt như bao nghề khác vậy.

Mỗi quyển sách không chỉ là một đứa con tinh thần của tác giả, thai nghén trong suốt quá trình được viết thành hình, mà còn được thai nghén lần nữa bởi toàn bộ ekip những người làm sách. Ngày mà quyển sách được chào đời trên kệ, được cấp cái “giấy khai sinh” phát hành cả nước, rồi nằm trên tay bạn đọc, sống cùng bạn đọc, là cả một hành trình dài được xây nên bởi rất nhiều tình yêu và tâm sức.     

Phuong Nam Book có lẽ mọi người đã biết từ lâu, nhưng chuyện chúng mình làm sách thế nào, hoạt động ra sao, không phải lúc nào Phuong Nam Book cũng có cơ hội để bày tỏ. Vậy thì nhân dịp cuối năm, nhân những ngày thời tiết ở văn phòng lạnh hơn cả mùa đông này, mình cùng ngồi xuống, uống chén trà, nhâm nhi chút mứt rồi kể chuyện nhau nghe nha.

*

Phuong Nam Book chúng mình tự hào là công ty con của Công ty Cổ phần Văn hóa Phương Nam (PNC) và có người anh em to bự là Công ty Bán lẻ Phương Nam (PNR). Điều này khiến Phương Nam được biết đến không chỉ là hệ thống Nhà sách có mặt trên cả nước, mà Phương Nam còn được nuôi lớn bởi một “hạt nhân” bên trong, một đội ngũ riêng có khả năng làm ra những quyển sách made-in-Phương-Nam. Còn gì tuyệt vời hơn khi một quyển sách đến với chúng mình, sẽ được xuất bản với một quy trình khép kín từ khâu khai thác, biên tập, thiết kế, sản xuất,… đến khi nhập kho, vận chuyển và được trưng-bày-bán ở tất cả Nhà sách Phương Nam trên toàn quốc? Chính điều này đã tạo nên lợi thế và cũng là điểm khác biệt của Phuong Nam Book so với các đơn vị xuất bản, phát hành sách khác ở Việt Nam.

Xuất bản sách là một bức tranh toàn cảnh vô cùng to lớn, mà ở bài viết này, mình xin chia sẻ với bạn ở những góc nhìn nhỏ hơn. Đó là câu chuyện hậu trường sau mỗi quyển sách, chuyện buồn vui chưa kể của Phuong Nam Book, những gì tụi mình đang làm một cách âm thầm nhưng dữ dội, nơi phía cuối văn phòng – tầng 1 của Nhà sách Phú Thọ ấy. 

Công ty mình có 17 thành viên nếu tính luôn cả Ban Giám Đốc. Người đầu tiên mình giới thiệu sẽ là Trưởng ban Khai thác của Phuong Nam Book – Anh Dory mắt hí rất cute hột me. Anh thường là nơi khởi nguồn cho mọi cuộc “sanh nở” sau này, nên theo mình, nhiệm vụ của anh ở công ty khá là quan trọng. Hằng ngày, công việc của anh là… canh me, rình rập coi thị trường sách ngoài kia đang có gì, đang rùm beng vấn đề gì và dù không có gì, thì anh cũng phải đánh hơi, thu thập tin tức và đào bới thêm bản thảo mới. Hồi sau đem về thẩm định, cái nào được sếp gật đầu là anh mừng húm, đưa ngay vào kế hoạch xuất bản.

Mọi người nhìn dân làm sách đằm thắm thế thôi, chứ thị trường sách ngoài kia lại năng động, nhộn nhịp lắm đó nha, cũng có bảng xếp hạng top trending đàng hoàng. Bản thảo nào hay vừa vụt sáng là các nhà nhảy vào giành giựt, đấu thầu, mua bản quyền sách liền, chậm chân một chút là mất ngay cơ may tạo nên bom tấn mùa sách đó, đảm bảo buồn queo luôn. Anh Trưởng ban nhà mình bữa nào buồn thì biết liền, vì anh sẽ vắng bóng ở công ty. Anh bận lang thang bên ngoài gặp gỡ tác giả, dịch giả, hoặc các nhà xuất bản bàn chuyện làm ăn. Không biết lúc đó anh có tỉ tê kiểu (năn nỉ) ai có bản thảo nào mới để dành cho Phương Nam không hén? Mình thì hay bắt gặp anh ngồi mình ên nghiền ngẫm catalogue sách mới, lướt tới lướt lui, điểm chỉ những cái tựa hy-vọng-hot, rồi gõ gõ đánh giá, làm đề xuất gửi lên Ban Giám Đốc.

Vậy mới thấy, một quyển sách đến được với mình trước nhất phải là cái duyên, sau là cơ may và cũng là cơ hội. Có khi chỉ từ một buổi café nói chuyện hợp cạ; ờ, để dành cho nhau, làm cùng nhau quyển này nha. Hoặc có khi là một email chào mời hấp dẫn từ nhà xuất bản; một ý định viết lại cuộc đời của tác giả đã gắn bó với Phương Nam mấy chục năm; một bản thảo tiềm năng từ tác giả mới toanh, tin tưởng gửi gắm đến email của Ban Biên Tập. Hoặc một ý tưởng nhỏ xíu nào đó bật ra lúc brainstorm mà ekip thấy tâm đắc… thế là a-lê-hấp bắt tay vào tìm cha đẻ, má nuôi ngay để đặt gạch, hì hụi cùng nhau thực hiện dự án mới.

Bạn thấy đó, việc làm sách chỉ cần một cảm hứng đủ để khởi đầu, nhiều hơn nữa là sự tin tưởng, hỗ trợ, phối hợp, cùng gắng sức vì đứa con tinh thần chung. Sau khi làm tròn vai trò thẩm định, chọn bản thảo, quản lý tác quyền ở những bước đầu tiên, anh Trưởng ban khai thác sẽ trao truyền lại “viên ngọc thô” này cho các chị Biên tập để mài giũa, đánh bóng, mà Trưởng ban Biên tập chính là Chị Rùa tóc bím (đang ngồi sau lưng mình đây). 

Các bạn cũng biết là nhà văn thì máu nghệ sỹ cực kỳ lớn, lúc nào cao hứng sẽ viết tràn giang đại hải, ba bốn trang cho mỗi một ý, đọc vào có khi không hiểu gì luôn. Morasse (hay chính tả, ngữ pháp) thì khỏi phải bàn, cũng theo cảm hứng mà chấm, phẩy, xuống hàng, gạch đầu dòng,… tứ tung và lộn xộn. Thế nên, bên cạnh công việc biên tập lại câu chữ sao cho rõ ràng, mạch lạc, chuẩn tiếng Việt, các chị Biên tập còn phải kiểm chứng tính chính xác của các thông tin, là cầu nối trao đổi giữa các bên: Tác giả – Dịch giả – Phương Nam và Nhà xuất bản (NXB) để tìm được tiếng nói chung nhất. Chưa kể quyển nào nội dung hơi nhạy cảm, là chị Rùa và đồng đội phải nhảy vào, vận dụng tối đa công lực, khéo léo điều chỉnh, làm sao giữ được tinh thần nguyên tác mà vẫn đảm bảo phù hợp với văn hóa đọc của thị trường Việt và cuối cùng là nhận được cái gật đầu, đóng dấu bản in từ NXB. Thế mới thấy, câu chữ có sức mạnh ghê gớm mà những người cầm cân nảy mực đóng một vai trò hết sức quan trọng ha. Có lẽ do vậy mà phần lớn các chị Biên tập nhà mình vẫn còn… độc thân vui tính lắm, chắc vì “dành cả thanh xuân để đọc boon” (bản thảo sau khi dàn trang, sẽ được in ra giấy) nên không còn thời gian để “đọc” hay tìm hiểu ai khác nữa. Quả là một sự thiệt thòi lớn cho các anh nam nhi vì để lỡ các chị em có tâm hồn sâu sắc thế này!

Thế rồi, sau khi được “tút tát” nội dung bởi chị Rùa và các cộng sự, bản thảo sẽ tiếp tục chuyển sang bộ phận Dàn trang – Thiết kế (là tui đây) để chuẩn bị bước vào giai đoạn “nâng tầm nhan sắc”.

Hai con đường song song cùng lúc sẽ được tiến hành cho một bản thảo ở thời điểm này. Đầu tiên, bản Word sẽ được đổ dàn thành trang sách theo kích thước chuẩn đã tính toán để lợi giấy. Lúc này thì các chất liệu bên trong ruột sách (như text, hình ảnh,…) sẽ được Chị N – Đội trưởng đội Layout sắp xếp, xử lý bằng việc chọn lựa font – size chữ, style sách, chân – đầu trang, tựa hay đầu chương,… sao cho hài hòa với mắt nhìn của độc giả. Dàn trang xong thì xuất file và in thành bản giấy (gọi là boon 1), chuyển lại bộ phận Biên tập đọc kiểm tra, chỉnh sửa và tiếp tục lặp lại quy trình này cho đến boon thứ… n, một khi nội dung đã hoàn toàn chỉn chu và sạch lỗi.

Trong khi đó, đội thiết kế trông có vẻ điềm tĩnh hơn (bề ngoài) nhưng thật ra đang vắt giò lên cổ mà chạy (bề trong), để biến bản tóm tắt nội dung mà mình nhận được, thành một bìa sách sáng tạo, lung linh, chất nhất có thể!

Một bìa sách đẹp không chỉ nói lên tinh thần tác phẩm, thể hiện được phong cách của từng thể loại, mà còn phải phải ấn tượng, nổi bật, hút mắt khách hàng nhằm tăng sự tương tác và khả năng bán. Việc tính toán thiết kế về mặt hình ảnh không thôi chưa đủ, mà Bộ phận Thiết kế còn phải quan tâm về quy cách kỹ thuật trong sản xuất, in ấn, gia công, bảo quản thành phẩm trong lúc vận chuyển, trưng bày và quảng bá truyền thông. Sách nên làm bìa mềm hay bìa cứng? Khổ bao nhiêu thì được? Bìa có hiệu ứng ép kim, dập nổi, UV gì cho sang chảnh? Có tranh vẽ minh họa hay không? Bookmark hay Postcard tặng kèm? Combo, đóng hộp hay trưng bày ra sao? Quảng bá thế nào?… Tất cả đều sẽ được cân nhắc kỹ lưỡng cùng với việc ra ý tưởng, phác thảo và xây dựng concept ngay từ những bước đi đầu tiên, quả thật không phải là điều dễ dàng.

Đứa con từ lúc tượng hình chỉ vài option bìa, có thể lên đến hàng chục option mà vẫn chưa nhận được cái gật đầu từ sếp và ekip; chưa kể còn phải vượt qua cửa ải tác giả, dịch giả, chuẩn thông số kỹ thuật để khi ra đến nhà in sẽ không phải quay về. Mỗi lần chuyển in, mình hay đùa là làm mình giảm thọ cả chục tuổi. Vậy mà gắn bó với nghề cũng ngót nghét 3 năm rưỡi hơn, chắc mình cũng không còn tuổi để thọ nữa rồi.

Buổi nấu và chụp hình món ăn cho quyển sách Món cuốn xanh

Một khi đội Design và Layout hoàn thành được file cuối và chuyển qua Bộ phận Sản xuất cũng là lúc mình có thể ngừng nín thở, hít lấy hít để oxy, lấy đà chạy sang những bản thảo kế tiếp. Niềm vui của một người làm thiết kế chính là khi nhìn máy in chạy ro ro ra bản vẽ mà mình đã dành hết tâm huyết tạo nên. Quyển sách sẽ còn tiếp tục những công đoạn cuối cùng như cắt xén, đóng cuốn, gia công hiệu ứng, gói thành phẩm rồi cuối cùng là vận chuyển, nhập kho và đợi ngày phát hành để có thể chuyển phát đi khắp cả nước.

Những bản in đầu tiên của 30 món mứt ngon của người Việt

Trong toàn bộ quy trình này, cũng không thể không nhắc đến một nhân vật rất quan trọng, là người nắm trong tay giấy sinh-tử của một quyển sách, đó là bạn Hằng tóc ngắn ở bộ phận Giấy phép.

Từ khi sách chính thức đưa vào dây chuyền sản xuất, Hằng sẽ là người đăng ký thông tin về sách cho Nhà Xuất Bản (NXB), để lấy quyết định xuất bản, chứng nhận bản quyền của Phuong Nam Book đối với tựa sách này. Đồng thời, layout sẽ được gửi sang Thư viện Khoa học Tổng hợp để xin biên mục, đó là thông tin bạn sẽ thấy ở trang hai của sách, xác nhận quyển sách đã được lưu trữ một chỗ trong thư viện quốc gia. Khi Phòng Thiết kế ra boon và bìa cuối cùng, cũng phải qua tay Hằng gửi cho NXB ký duyệt, đồng ý đóng dấu lên đó để Nhà in được phép triển khai sản xuất. Sách in xong, một số lượng nhất định sẽ nộp lại cho NXB (hay còn gọi là nộp lưu chiểu) và Thư viện Khoa học Tổng hợp để đảm bảo việc in ấn đúng như những gì được cấp phép.

Sau tất cả, khi NXB hoàn thành việc kiểm tra, đối chiếu sách lưu chiểu, cuối cùng sẽ cấp cho Phuong Nam Book Quyết định phát hành quyển sách – cũng chính là “tờ giấy khai sinh” đáng mong đợi nhất của tất cả các bộ phận. Đến đây thì, a lê hấp, sách sẽ chính thức được lên kệ, không chỉ ở Nhà sách Phương Nam, mà còn ở tất cả kênh phát hành sách online – offline toàn quốc.

Trên đây là chuyện kể về các bộ phận chủ chốt của Phuong Nam Book, nhưng sẽ là thiết sót nếu không nhắc đến công sức thầm lặng của các chị Kế Toán, đội ngũ truyền thông – Marketing, bộ phận phát hành, kho vận,… và cả anh chị em Nhà sách – những người trực tiếp bày bán, đưa sách tiếp cận độc giả.

Có những câu chuyện hậu trường éo le, như khi tác giả giận dỗi vì NXB cắt bỏ nội dung quá nhiều; bản thảo đề cập vấn đề chính trị nhạy cảm không biết phải sửa làm sao; thiết kế như làm dâu trăm họ, có khi vật vã mấy tháng liền mà bìa vẫn chưa được duyệt; hay buồn teo người lúc phát hiện một lỗi morasse nào đó mà sách đã in rồi. Có những nỗi buồn không tên khi NXB bỗng dưng kéo nhau… đi du lịch, phải thêm tuần nữa về mới cấp được giấy phép; hay dịch giả… đi trốn cả thế giới, không biết ở đâu để gọi về thực thi hợp đồng. Còn nhiều, nhiều lắm, 1001 chuyện chưa kể mà Phuong Nam Book chúng mình phải đối diện và xử lý mỗi ngày, ấy thế mà từ sếp đến nhân viên, vẫn luôn tin vào những gì mình đang làm và chưa khi nào từ bỏ mọi sự cố gắng.

Phiên chợ sách cuối tuần những ngày cuối năm

Ở thời điểm ngoài đường đã rộn vang những ca khúc Giáng Sinh, văn phòng đã tràn ngập sắc xanh, đỏ và ánh đèn lấp lánh từ ngay cửa vào, Phuong Nam Book chúng mình cũng đã hoàn tất chuyển in những tựa sách cuối cùng của năm 2019 và bắt tay vào những dự án mới của năm 2020. Khi nhìn lại những tựa sách Phuong Nam Book đã làm trong năm, thi thoảng lòng mình vẫn dậy lên một niềm tự hào rất khẽ… Dù mình biết, những quyển sách ấy có thể không là những quyển sách xuất sắc nhất, hay những cái tựa bán chạy nhất,… nhưng sẽ luôn là quyển sách đúc kết từ sự tận tâm, say mê nhất với nghề, không chỉ riêng tác giả mà còn là đơn vị xuất bản sách chúng mình nữa.

Chuyện làm sách, thì là vui nhưng cũng không thiếu những trăn trở, ưu tư, những điều mà người làm sách vẫn chưa thể thực hiện được cho con đường này. Mình chỉ mong sao mỗi quyển sách của Phuong Nam Book, với đời sống riêng của nó, sẽ ghi dấu, sẽ gìn giữ và lan tỏa thật nhiều giá trị để ngày càng đến gần bạn đọc hơn nữa.

Để những con chữ không chỉ là tri thức, mà còn là món quà của thời gian, của văn hóa, của cảm xúc kết nối giữa người với người.

Để khi có mặt ở bất kỳ thành phố nào, mình vẫn luôn tìm đến Nhà sách Phương Nam như một thói quen ghé thăm nhà. Để cầm lên quyển sách nào đó của Phuong Nam Book, rồi bất giác mỉm cười, như chào một người bạn cũ đã lâu không gặp…

Hết.

Sài Gòn, những ngày cuối năm 2019.

Đặng Tú Khuyên, một-designer của Phuong Nam Book

Phía sau trang sách

Thời tái chế: Quyền vứt bỏ đồ vật không làm con người hạnh phúc

Published

on

By

Thời tái chế - tập thơ của Mai Văn Phấn (nhà thơ được giải thưởng văn học Cikada 2017 của Thụy Điển) một lần nữa khẳng định dấu ấn thi pháp độc đáo trong sự kết hợp hài hòa với những suy niệm về quá trình mục rữa của thế giới hiện đại.

Khi con người bị đồ vật bỏ rơi trong Thời tái chế

Những cuộc cách mạng công nghiệp đã khiến cho con người ngày càng sở hữu nhiều đồ vật. Đặc quyền ấy khiến họ có thêm một đặc quyền thứ hai đối nghịch: quyền vứt bỏ đồ vật. Nhưng trong thế giới của Thời tái chế, câu chuyện diễn ra ngược lại: con người bị đồ vật bỏ rơi.

Ngay từ tiêu đề, Thời tái chế đã cung cấp cho ta một chìa khóa gợi ý để giải mã tác phẩm này: chất liệu tái chế không phải là chất liệu gốc, nhưng nó không tồn tại độc lập như cá thể riêng biệt mà bắt nguồn từ một chất liệu gốc có trước. Như vậy, có thể hiểu chất liệu tái chế tự thân nó phần nào cũng là chất liệu gốc (cho một chuỗi những tái - tái chế diễn ra sau đó trong trường hợp khả dĩ). Chính sự bất lưỡng phân này khiến chất liệu tái chế vừa là phép cộng vừa là phép trừ so với chất liệu gốc: phép cộng cho một chất phụ trợ để biến đổi sang đời kế tiếp, phép trừ vì đã mất đi sự cô đặc độc nhất của phẩm tính nguyên thủy. Để hiểu tập thơ này, có lẽ ta cũng cần đi theo một tinh thần như vậy - đó là thế giới mà sự phân chia giữa chủ thể và khách thể không phải lúc nào cũng rõ ràng:

“Mọi người lần lượt tự thú từng là giẻ lau, chổi cùn, hót rác, quyển sách long gáy, chiếc ghế gãy một chân, bàn là chập điện. Tự nhận mình là tấm chăn đã rách, đôi giày há mõm, bộ quần áo lỗi thời, chiếc hộp nhựa lâu năm dính đầy bụi bẩn. Giờ tất cả đang tự giác đến nơi tập kết để được phân loại, bị tiêu hủy, hoặc đợi tái sinh.”

Đôi khi, chính linh hồn cũng bị đồ vật hóa: “Những linh hồn chiếm lĩnh cảnh quan, mang tên đồ vật. Đây linh hồn xà phòng, thùng rác, băng vệ sinh, sách bút, quạt máy, khăn tắm, mâm bát, mồi nhậu, xoong nồi…” Và con người trong sự bất lực của chính mình không thể làm gì khác, ngoại trừ việc: “Tôi nằm xuống đợi giấc mơ khác.”

Do đó, có thể nói Thời tái chế là quá trình biến chủ thể thành khách thể, khách thể thành chủ thể, vật tác động trở thành vật bị tác động và ngược lại. Khi quá trình này kết thúc, cá thể chuyển hóa vẫn cùng lúc mang cả những đặc tính cũ và mới.

Bút pháp biến hóa đa dạng

Thời tái chế thuộc thể loại trường ca nhưng lại được trình bày như một tiểu thuyết ngắn với chín chương, lần lượt có các tiêu đề như sau: Điểm nhìn, Thẫm đỏ, Sân khấu, Lối rẽ, Đồ tể, Đối thoại, Mô hình, Giấc mơ, Kết nối. Thông qua đó, nhà thơ cho thấy sự biến hóa đa dạng trong bút pháp qua từng chương:

Chương I và II miên man trong những hình ảnh vừa trừu tượng, vừa cụ thể, khiến ta không thể tìm được mối nối giữa các sự kiện tưởng chừng dễ nắm bắt - có phần nào gợi nhớ đến hình thức thơ văn xuôi.

Chương III tường thuật một vở kịch nhân sinh từ lúc đêm diễn chuẩn bị bắt đầu đến khi màn nhung đã buông xuống; bằng những câu ngắn gọn, nhịp điệu nhanh, miêu tả chi tiết nhưng từ ngữ giản dị, chương này phần nào mang hơi hướm của kĩ thuật viết kịch bản phim: chỉ thuật lại những gì mắt thấy tai nghe, không đi sâu vào nội tâm nhưng thông qua hành động, tâm tư của nhân vật sẽ được bộc lộ.

Chương IV kể câu chuyện về một người con gái chờ đợi người yêu đi mãi không về lại mang dáng dấp của một truyện ngắn. Phần mở đầu tường thuật lại câu chuyện với bước nhảy thời gian nhanh chóng chỉ trong hai câu ngắn gọn khiến ta liên tưởng đến cách kể của chuyện cổ tích: “Người con gái ấy chờ đợi người con trai ra đi và mãi không về. Chị đã thành một bà lão già nua, run rẩy.” Phần tiếp theo là đối thoại giữa đôi tình nhân về tự do và lí tưởng. Phần kết lại mang tính sử thi với hình ảnh biểu tượng về con thuyền lật úp. 

Chương V kể những câu chuyện về bảy (loại) người đồ tể khác nhau. Họ được định hình qua những tình huống biến họ thành phi nhân, rồi từ đó, họ như bị đóng băng thành một mẫu vật tiêu biểu để trưng bày vào đúng thời điểm chữ được viết xuống. Nghệ thuật nắm bắt khoảnh khắc, biến cái cụ thể thành cái tiêu biểu trong dung lượng câu chuyện vỏn vẹn chừng trăm chữ ở chương này khiến ta nhớ đến thể loại truyện cực ngắn. Chương VII cũng mang phong cách tương tự như chương V.

Chương VI được viết dưới hình thức năm mẫu đối thoại tựa một vở kịch.

Chương VIII và IX là một cái kết trọn vẹn khi quy hồi về tự sự trữ tình như chương I và II, một cấu trúc vòng tròn cho thấy vạn vật tự nhiên và cả con người, cho dù có bị suy hóa và băng hoại đến đâu, cuối cùng cũng sẽ tìm được điểm cân bằng.

Khi tiến hành trò chơi giữa các hình thức qua mỗi chương như thế, Mai Văn Phấn dường như đã thiết lập được một cấu trúc tương tự truyện khung (frame story). Nhưng ở đây, không phải là truyện lồng trong truyện mà là thể loại lồng trong thể loại. Tập trường ca ôm lấy kết cấu tiểu thuyết trong chín chương, mỗi chương lại ôm lấy kết cấu truyện ngắn trong từng phân đoạn, truyện ngắn trong từng phần đoạn đến lượt nó lại như vòng tròn nhỏ nhất trong chuỗi vòng đồng tâm ôm lấy cái hạt cốt lõi, nguyên sơ nhất là thơ ca. Từ chương mở đầu đến chương kết thúc của Thời tái chếnhư một hành trình đi từ sự mơ hồ của thơ đến sự sáng rõ của văn xuôi.

Máu là chất dẫn truyền cho hình thức chuyển điệu

Trong những chuyển điệu liên tiếp về hình thức, một hình ảnh xuyên suốt được Mai Văn Phấn sử dụng để kết nối những đơn vị chương với nhau là máu. Máu trong Thời tái chế vừa mang tính tinh thần vừa mang tính vật chất. “Máu phun trào. Máu đắp lên máu trong chiến trận. Rừng hoang mất máu thối rữa xác chết. Sông suối, ao hồ mất máu trương phềnh xác chết.” Trong phần trích này, ở hai câu đầu máu mang tính vật chất, như kết thành những khối nặng nề chất chồng lên nhau; ở hai câu sau máu lại mang tính tinh thần trong phạm trù là linh hồn của thiên nhiên.

Có khi, máu được đặc tả ở góc độ khứu giác: “Giấc mơ máu xông lên mùi hăng nồng nặc,” có khi ở góc độ thị giác với sự kết hợp bất ngờ: “Tôi đau giấc mơ cây cỏ úa vàng, trút xuống từng cơn thiếu máu.” Có khi máu mang tính thời đoạn: “Lá khô đưa tôi về một thời mất máu, một thời khinh rẻ máu, một thời gian lận máu, một thời lợi dụng, tụng ca máu.” Có khi máu trở thành một đấng cứu thế: “Ta dừng lại quỳ xuống tạ ơn máu!”, “Không thể trả ơn được máu,” “Máu vô giá và bất tử.” Nhưng chính máu cũng nằm trong một vòng “tái chế” của riêng nó: “Giọt máu ấy bây giờ có hình hạt sương mang ánh sao khuya, giọt mưa trong lành buổi sớm, vệt nước cam em bé vừa uống lỡ rớt xuống cằm.”

Vì sao máu là hình ảnh được tác giả nhấn mạnh trong Thời tái chế? Phải chăng vì máu là một trong những đơn vị cơ bản nhất của sự sống, là chất liệu gốc mà dù có bị tái chế bao nhiêu lần vẫn giữ nguyên tầm quan trọng của nó. Do đó, máu là chất dẫn truyền cho ta quay về những giá trị cốt lõi nhất của tự nhiên, của việc sống, việc làm người; rằng đôi khi để vượt qua những thời điểm khó khăn, ta chỉ cần dừng lại một phút để cảm nhận dòng máu nóng hổi vẫn chảy trong cơ thể mình.

“Máu điềm nhiên từng bước khoan dung, bình an tựa hơi thở của bé thơ đang ngủ... Mọi người và tôi bắt đầu thở mạnh, không còn sợ hãi. Chúng tôi bỗng chốc có cùng nhóm máu, cùng nằm yên cho dòng sông đỏ tươi ấm nóng đi qua.”

Đó có thể là một “giải pháp” mà nhà thơ Mai Văn Phấn đã gợi ý cho chúng ta khi sống trong Thời tái chế ngày nay.

Thông tin tác giả

Sinh 1955, tại Kim Sơn - Ninh Bình, hiện sống và sáng tác tại thành phố Hải Phòng. Đoạt một số giải thưởng Văn học Việt Nam và quốc tế, trong đó có Giải thưởng Hội Nhà văn VN 2010, Giải Văn học Cikada của Thụy Điển 2017. Đã xuất bản 16 tập thơ và 1 tập phê bình & tiểu luận tại Việt Nam; 15 tập thơ ở nước ngoài và trên mạng phát hành sách của Amazon. Thơ Mai Văn Phấn được dịch sang 25 ngôn ngữ, gồm: tiếng Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Đức, Thụy Điển, Hà Lan, An-ba-ni, Serbia, Macedonia, Montenegro, Slovakia, Ru-ma-ni, Thổ Nhĩ Kỳ, Uz-bék, Kazakh, Ả-Rập, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan, Ne-pan, Hin-đi và Ben-ga-li (Ấn Độ).

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Gót sen ba tấc: Có ai hiểu nỗi đau kim liên?

Published

on

By

Gót sen ba tấc của nhà văn Phùng Kí Tài khắc họa sinh động những tâm tình buồn vui, những chuyện dở khóc dở cười xoay quanh phong tục bó chân thiếu nữ đã tồn tại gần một nghìn năm suốt chiều dài lịch sử phong kiến Trung Quốc.

Chuẩn mực cái đẹp trong đôi chân chỉ vừa vặn dài hơn điếu thuốc lá

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Thời phong kiến Trung Quốc từng tồn tại quan niệm thẩm mĩ rằng chân phụ nữ phải nhỏ mới đẹp. Độ dài chuẩn mực chỉ nên từ ba đến bốn tấc, trong đó dài hơn bốn tấc gọi là “thiết liên”, tầm bốn tấc là “ngân liên”, và ở đỉnh cao nhất được mọi người ngưỡng vọng gọi là “kim liên” thì chỉ vỏn vẹn có ba tấc - tức dài hơn điếu thuốc lá một chút. Vì quan niệm này, những bé gái tầm từ bốn đến chín tuổi đã bị buộc phải bó chân để bàn chân không phát triển nữa và có thể uốn nắn lại hình dạng: chỉ giữ ngón cái tự nhiên, bốn ngón còn lại quặp cong xuống lòng bàn chân.  

Phong tục bó chân bắt nguồn từ thời Ngũ Đại Thập Quốc vào thế kỉ thứ 10, vốn chỉ dành cho những vũ công thuộc tầng lớp thượng lưu, sau đó dần thịnh hành trong giới quí tộc đời Tống, và phổ biến rộng nhất trong mọi giai tầng xã hội vào đời Mãn Thanh rồi thoái trào vào những năm đầu thế kỉ 20.

Lấy bối cảnh Trung Quốc trải dài từ những năm cuối thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20, Gót sen ba tấc thuật lại toàn bộ những thăng trầm trong cuộc đời của nữ nhân vật chính Qua Hương Liên. Ở tuổi lên bảy, Hương Liên bị bà ngoại buộc phải bó chân, chịu trăm bề đau đớn như bao bé gái thời bấy giờ. Nhưng cũng nhờ đôi chân nhỏ ba tấc ấy, vào năm mười bảy tuổi, Hương Liên lọt vào mắt xanh của lão gia đại phú Đồng Nhẫn An – chủ hiệu đồ cổ Dưỡng cổ trai vốn mê mẩn gót sen. Cô nhanh chóng được gả vào nhà họ Đồng danh giá, làm con dâu cả. Nhà họ Đồng vốn xác định vị trí quyền lực của con dâu dựa trên đôi chân chứ không phải thứ bậc hay tài trí. Chính vì vậy, Đồng Nhẫn An thường tổ chức Hội thi chân để con dâu trong nhà phân cao thấp dưới sự chứng kiến của những giám khảo là bạn bè ông trong giới tri thức – cũng là dân nghiện gót sen. Bị cuốn trong vòng xoáy tranh đua này khi bước chân vào nhà họ Đồng, Hương Liên đã trải qua bao phen sóng gió để từng bước khẳng định mình trong một xã hội mà đôi chân cũng cần phải trang điểm thật kĩ càng, và khi cưới xin, người ta chỉ nhìn chân mà không xem mặt.

Gót sen - nghệ thuật hay sự tàn nhẫn?

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Trong Gót sen ba tấc, công đoạn bắt đầu bó chân cho một bé gái được Phùng Kí Tài miêu tả rất chi tiết. Sự chi tiết này tạo độ tin cậy như một tài liệu tham khảo nhưng đồng thời cũng khiến người đọc rùng rợn trước nỗi đau khi hủy hoại một bộ phận cơ thể bẩm sinh tự nhiên.

“Dải vải bó chặt bốn ngón, quấn xuống lòng bàn chân, vòng lên mu bàn chân, kéo chặt ra sau gót rồi lại bó bốn ngón một vòng nữa. Đoạn bà lật ngửa bàn chân lên, lấy sức kéo về phía sau, bắt bốn ngón quặp hẳn vào lòng bàn chân. Hương Liên chỉ cảm thấy chỗ này đau, chỗ kia chặt, chỗ đó tức chỗ nọ gãy, nhưng bà không cho em kịp cảm nhận kĩ từng vị, cứ làm thật nhanh, quấn thêm hai vòng như trước. Sau đó bà kéo dải vải về phía trước, quấn kĩ ngón chân cái còn để chừa ra ngoài, rồi cứ từng lượt từng lượt từ trước ra sau, bó chặt cứng bốn ngón chân quặp vào lòng bàn chân, chặt như lấy kìm kẹp chặt, không thể động cựa một li một lai, nửa li nửa lai nào.”

Nhưng đó chưa phải là tất cả, “gãy được đốt ngón chân mới thành một nửa, rụng cả xương ngón chân mới gọi là hoàn thành.” Và công đoạn tạo dáng cho bàn chân sau khi bó còn đau đớn hơn gấp bội phần: “Bà nhặt ít mảnh bát vỡ, đập vụn ra, đệm dưới bàn chân khi bó lại. Hễ em bước đi, mảnh bát vỡ cứa nát chân em. Mấu cán chổi của bà có vụt đen đét như thế nào, Hương Liên cũng không chịu nhúc nhắc nữa. Bị đòn còn hơn chân bị cứa đau. Bàn chân nát bó kín trong đám vải vỡ mủ ra. Mỗi lần thay vải bó, bao giờ bà cũng phải lôi tuột cả máu mủ lẫn thịt thối. Thực ra đó là cách bó chân có từ lâu đời ở nông thôn miền Bắc. Thịt có rữa, xương có gãy mới có thể thay hình đổi dáng như ý muốn.”

Tuy nhiên, điểm tạo nên giá trị đặc biệt của Gót sen ba tấc lại không chỉ đơn thuần nằm ở việc Phùng Kí Tài nêu ra những đau đớn, bất hạnh một người phụ nữ bó chân phải gánh chịu - vốn là điều người đời sau dễ dàng nhận thấy ở hủ tục này. Tác phẩm của Phùng Kí Tài tinh tế hơn khi ông chỉ ra những phức cảm xoay quanh đôi chân bó bằng cách xây dựng một nhân vật ở phía đối trọng với Qua Hương Liên là Đồng Nhẫn An. Là một nhà buôn đồ cổ nhưng chỉ bán đồ giả, Đồng Nhẫn An không những tinh thông các mánh lới phân biệt đồ thật - đồ giả, mà còn thâm tường nghệ thuật gót sen từ cổ chí kim. Cách Đồng Nhẫn An tín ngưỡng đôi chân khiến ta nhớ đến nhân vật lão già Utsugi trong tác phẩm Nhật ký già si của nhà văn Tanizaki Junichiro. Cũng như Utsugi cuồng vọng đôi chân con dâu; với Đồng Nhẫn An, bó chân không chỉ là nghệ thuật mà đã được nâng thành thứ tối cao tựa tôn giáo, thành nghi thức ông bắt buộc con cháu phải tuân theo.

Điều lạ lùng là dù cực đoan như thế, người đọc lại không thể ghét bỏ nhân vật này. Trong ngòi bút của Phùng Kí Tài, Đồng Nhẫn An không phải là đen, còn Qua Hương Liên là trắng. Khi kể chuyện dưới điểm nhìn của Đồng Nhẫn An, Phùng Kí Tài không viết với giọng điệu phê phán, đả kích; ông để nhân vật tự đưa ra chính quan điểm của mình. Và bằng kiến văn sâu rộng, Phùng Kí Tài thuyết phục được ta tin rằng trong đôi mắt của đàn ông thời xưa việc bó chân không chỉ đơn thuần là hình thái áp đặt phụ quyền nhằm hạn chế chuyển động nữ nhi, mà còn vì họ thực sự nhìn thấy vẻ đẹp trong đôi chân bó. Vì thế, Gót sen ba tấc không rơi vào vòng cực đoan phê phán một chiều. Phùng Kí Tài dường như cho người xưa một cơ hội biện minh, và đồng thời đưa người đọc rơi vào phức cảm trong việc phân định đúng sai.

Nghệ thuật kể chuyện xuất sắc với giọng văn linh hoạt

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Gót sen ba tấc nằm trong bộ ba tác phẩm văn học “tầm căn” (tìm về cội nguồn, những giá trị xưa cũ) của Phùng Kí Tài bên cạnh Roi thần, Âm dương bát quái. Với chủ đề gót sen, tác phẩm này tưởng chừng sẽ mang màu sắc nặng nề, buồn bã nhưng thực tế, Phùng Kí Tài lại đem đến cho người đọc góc nhìn hài hước, lí thú khi biến tục bó chân thành một trò chơi nghệ thuật, đồng thời vẫn giữ được nét trầm buồn trước những suy tư về thời cuộc biến đổi.

Trước khi chính thức vào hồi thứ nhất của câu chuyện, Gót sen ba tấc có phần dẫn nhập với tiêu đề “Vài lời dông dài”. Ở phần này, tác giả đã liệt kê một loạt chuyện hoang đường xảy ra ở vệ Thiên Tân trong cùng một ngày: một gia đình giàu có bố thí cháo cho người tàn tật khắp thiên hạ tạo nên cảnh tượng hỗn loạn đến mức chẳng ai hay loài động vật nào dám ra đường, một phu nhân nhà quí tộc nọ ăn táo bị chẹn ngang họng phải nuốt con rắn nhỏ dài để đẩy hột táo rơi xuống bụng... Những diễn biến này tuy thoạt kì thủy có vẻ không ảnh hưởng nhiều đến mạch truyện chủ đạo nhưng chính nó đã góp phần tái hiện bối cảnh sống động cho câu chuyện chuẩn bị bắt đầu. Ngoài ra, nó còn có tác dụng là chất phụ trợ cho sự phi lí hóa, pha loãng đi cảm giác về tính hiện thực của câu chuyện sẽ được kể trong khi vẫn cùng lúc giữ được màu sắc hiện thực với những chi tiết lịch sử có thật về tục bó chân. Đây là một lựa chọn nghệ thuật kể chuyện tài tình của Phùng Kí Tài.

Trong Gót sen ba tấc, văn phong của Phùng Kí Tài sinh động vì ông liệt kê tất cả những yếu tố có thể kết hợp với nhau trong một tổ hợp được đưa ra. Điều đó khiến câu văn ông vừa có sinh khí vừa đặc biệt hài hước bằng cách phóng đại những chi tiết. Ở điểm người khác đã dừng lại thì Phùng Kí Tài không chịu bỏ lỡ cơ hội tiềm năng để chi tiết phát triển, cứ khiến nó nở bừng ra như một nhánh cây căng tràn sức sống, không ngừng mọc thêm nhánh con, từ nhánh con mới lại có nhiều nhánh khác sinh thành. Dưới đây là một ví dụ:

“Nếu vị nào chưa hề nghiên cứu, ngàn lần xin đừng góp chuyện bừa. Vị bảo bó chân thật khổ, nhưng bó rồi cũng thật đẹp đấy! Vị chửi chân bó xấu, hừm, chân bó lại mắng vị mới xấu kia! Nếu triều Thanh không đổ, làm sao có khóc có cười, muốn sống muốn chết, bó rồi cởi, cởi rồi bó, lại bó lại cởi, lại cởi lại bó? Người thời bấy giờ thật sự coi chân bó hơn cả đầu óc. Nhưng các vị chớ có tưởng bây giờ tiệt nòi chân bó thì vạn sự đại cát. Không bó chân thì có thể bó tay, bó mắt, bó tai, bó óc, bó lưỡi, rồi cũng lại có khóc, có cười, muốn sống, muốn chết, bó bó cởi cởi, cởi cởi bó bó, cởi bó bó cởi, bó cởi cởi bó.”

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Ở ví dụ này, ta có thể thấy hai đơn vị “cởi” và “bó” được ông khai thác triệt để ra sao, khi thì ông ghép “bó” với một loạt bộ phận cơ thể khác nhau, khi thì ông song điệp giữa “bó” và “cởi” bằng cách thay đổi thứ tự xuất hiện. Một ví dụ khác:

“Người ta bảo việc nào cũng chỉ có một cái lí, còn tôi, tôi bảo việc nào cũng có hai cái lí. Mỗi người có cái lí của mình, thế là thiên hạ thái bình. Mọi người tranh nhau một cái lí, thế là thiên hạ bất an. Người xưa thích tìm ra sự thật, truy cứu xem gà đẻ ra trứng hay trứng nở ra gà. Ai đẻ ra ai mặc xác! Có gà chén, có trứng xơi, anh chén gà, tôi xơi trứng, anh chén trứng, tôi xơi gà; hoặc anh chén cả trứng lẫn gà, tôi cũng xơi cả gà lẫn trứng, thế chẳng đều ăn ngon, đều no bụng cả sao?”

Ở đây, ông lại tiến hành trò chơi giữa hai đơn vị là “trứng” và “gà”. Đây chính là cách Phùng Kí Tài biến những triết lí nhân sinh sâu sắc thành những câu văn hài hước, dí dỏm, dễ tiếp thu với nhiều người đọc.

Và dĩ nhiên, Gót sen ba tấc không chỉ có phong vị hài hước. Văn phong Phùng Kí Tài thay đổi linh hoạt tùy theo điểm kể. Ở phần dẫn truyện, vì kể dưới góc nhìn thánh thần, của một người ở vị thế biết tất cả nên ông chọn văn phong hài hước, châm biếm. Nhưng ở hồi thứ nhất, khi kể chuyện dưới góc nhìn của một đứa trẻ mới bảy tuổi chưa hiểu nhiều sự đời đã bị buộc phải bó chân, giọng văn ông lại trở nên xót thương, đồng cảm. Ở những phân đoạn miêu tả họa tiết giày, với kiến thức hội họa từ thời gian làm giáo viên mĩ thuật, ông khiến người đọc mê mẩn bởi lối tả cực kì chi tiết những mẫu hoa văn, những đường trang trí. Và khi viết về cái chết, ông dùng những câu đơn giản nhất để đẩy tiến trình đi đến cửa tử một cách nhanh chóng lại càng cho thấy hiện thực khắc nghiệt, không có thời gian để khóc thương hay suy ngẫm về sự mất mát.

Bên cạnh chủ đề bó chân, Gót sen ba tấc còn bàn đến chủ đề thật - giả. Không chỉ tranh bị làm giả mà cả gót sen cũng có thể làm nhái. Vậy giá trị của một con người dựa trên những chuẩn mực vốn giả dối sẽ ra sao? Một lần nữa, Phùng Kí Tài khiến ta chiêm nghiệm vấn đề nhân sinh giữa thật và giả. Giả quá đến mức nào đó cũng hóa thật. Và cái thật không phải lúc nào cũng là cái đúng. Cái đúng cũng không hẳn luôn là cái tốt đẹp.

Thông tin tác giả

Phùng Kí Tài

Phùng Kí Tài là một trong số những nhà văn nổi tiếng trong thời kì văn học mới của Trung Quốc kể từ sau 1977 đến nay. Ông sinh năm 1942 ở thành phố Thiên Tân nhưng gốc gác ở thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang.

Sau khi tốt nghiệp trung học, nhờ tầm vóc cao lớn, Phùng Kí Tài tham gia hội bóng chuyền rồi chuyển sang làm giáo viên dạy vẽ, chuyên vẽ theo lối cổ. Trong “cách mạng văn hóa”, ông chịu nhiều khổ cực như bao trí thức khác, từng làm công nhân, nhân viên bán hàng, dạy học và nhiều công việc khác nữa. Những nỗi cực nhọc cùng những công việc không hợp sở trường không hề làm ông nhụt chí, mà lại làm giàu cuộc đời sáng tác của ông.

Tác phẩm tiêu biểu:

- Gót sen ba tấc
- Roi thần
- Âm dương bát quái

Nhận xét báo chí nước ngoài

Ảnh: Facebook Tao Đàn

“Một tiểu thuyết thật sự xuất sắc, hấp dẫn với hàm lượng văn chương cực phẩm. Phùng Kí Tài kể chuyện thông minh, phần lớn nhờ sự dửng dưng mỉa mai khôi hài, khi chọn tục bó chân như một phương tiện khảo sát quá khứ Trung Quốc để đưa ra lời bình phẩm về thời nay.”
- The New Yorker

“Vừa đáng sợ vừa hài hước, vừa quái lạ vừa thực tế, vừa diễm tình vừa thuần khiết, vừa mơ hồ vừa chi tiết, câu chuyện này hoàn toàn choán hết tâm trí ta.”
- Library Journal

Vũ Lập Nhật

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Chiếc hộp Pandora: Màu thanh tân nơi chốn thê lương

Published

on

By

Bên trong Chiếc hộp Pandora hẳn nhiên là tai họa – điều đó chúng ta đều đã biết. Nhưng một câu hỏi khác, có lẽ cũng quan trọng không kém: “Thế còn bên ngoài thì sao?” Tiểu thuyết Chiếc hộp Pandora của Dazai Osamu đã dò xét thật kĩ lưỡng phần bên ngoài chiếc hộp - tức tâm tư của người mở hộp.

Chiếc hộp Pandora có bối cảnh diễn ra vào giai đoạn Nhật Bản vừa thất bại sau chiến tranh, đang trong quá trình phục hồi lại. Lúc bấy giờ, bệnh lao phổi còn là một căn bệnh nan y.

Tác phẩm được viết dưới hình thức epistolary (thư từ) của một người thanh niên tên là Koshiba Risuke gửi cho bạn mình kể về những ngày tháng điều trị bệnh lao của anh ở một viện điều dưỡng kì lạ tên là Kenkodojo. Nơi đó, mọi người đều được đặt những biệt danh thân mật. Koshiba được những người trong viện gọi là Hibari (chim sơn ca).

Thông qua những lá thư, Hibari đã tái hiện lại chi tiết đời sống hàng ngày ở Kenkodojo. Tại đây có qui định gọi giám đốc bệnh viện là viện trưởng, bác sĩ là chỉ đạo viên, y tá là trợ lí, bệnh nhân là học viên... với chủ trương xem bệnh viện như trường học để bệnh nhân tự tin, lạc quan hơn, quên đi căn bệnh của mình. Ở thời điểm hiện tại, mô hình được đề cập trong truyện vẫn còn gợi ra nhiều điều đáng học hỏi trong công tác y tế.

Chiếc hộp Pandora đã được chuyển thể thành hai phiên bản phim điện ảnh vào năm 1947 và năm 2009.

Số phận trắc trở của một tiểu thuyết từ mối tâm giao giữa nhà văn và độc giả

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Chiếc hộp Pandora được viết dựa trên nhật kí giường bệnh của Kimura Shosuke (1921-1943), một độc giả hâm mộ Dazai. 

Shosuke sinh ra ở làng Aodani (hiện tại là thành phố Joyo), quận Tsuzuki, tỉnh Kyoto; là con trai trưởng trong một gia đình kinh doanh bán sỉ trà Uji với bố là ông Kimura Jutarou và mẹ là bà Toyo. Ông là người con thứ hai trong gia đình có sáu anh chị em.

Năm 1936, ông tốt nghiệp trường Kyoto Thực Tu Thương Nghiệp. Để nối nghiệp gia đình, ông học việc trong một hiệu buôn trà ở thành phố Shizuoka, nhưng rồi bị nhiễm bệnh lao và phải nhập viện. Hồi hương khi bệnh tình đã thuyên giảm, ông tiếp tục trị liệu tại nhà và đồng thời nuôi chí làm nhà văn, ông đã tự xuất bản truyện ngắn trong một tạp chí làm chung với những người đồng chí hướng.

Vào khoảng thời gian ấy, sau khi đọc một truyện ngắn của Dazai đăng trên báo Bungei (Văn nghệ) số tháng 4 năm 1940 có tên là Zenzo wo omou (Tạm dịch: Nghĩ về Zenzo), Shosuke đã hoàn toàn ái mộ Dazai. Zenzo trong tiêu đề truyện ngắn này là chỉ nhà văn Kasai Zenzo (1887-1928), quê ở tỉnh Aomori, đồng hương với Dazai. Ông đã qua đời vì bệnh lao sau một thời gian dài chiến đấu với bệnh tật. Có lẽ vì vậy mà Shosuke - một người cũng đang mang căn bệnh tương tự, khi đọc Nghĩ về Zenzo lại dễ dàng đồng cảm hơn. Vào cuối tháng 7 ngay trong năm đó, Shosuke đã gửi thư cho Dazai, mối liên lạc qua thư từ của hai người đã bắt đầu từ đây.

Kimura Shosuke

Ngày 27.3.1941, Shosuke lập kế hoạch tự tử bằng Bromisoval - một loại thuốc thôi miên và an thần, nhưng thất bại. Tháng 7 năm đó, chứng thổ huyết và bệnh lao của ông lại chuyển biến xấu. Ngày 15.8.1941, ông vào viện điều dưỡng Kusaka thuộc tỉnh Osaka, quận Nakakawachi, làng Kusaka (hiện tại là thành phố Higashiosaka) để tiếp tục điều dưỡng. Cuối năm, ông lại chuyển sang viện điều dưỡng Kamejima thuộc tỉnh Aichi.

Tháng 2.1942, ông rời viện trở về nhà nhưng tháng 9 năm đó bệnh tình lại chuyển biến xấu hơn. Cuối năm đó, ông lại nhập viện điều dưỡng Kyoto ở thành phố Kyoto.

Ngày 13.5.1943, vì bệnh tật đau đớn, Shosuke đã tự tử bằng Bromisoval và qua đời ở tuổi 22. Ông để lại di chúc rằng muốn trao toàn bộ 12 quyển nhật kí cho Dazai, và dựa vào nguồn tư liệu đó Dazai đã viết tiểu thuyết Hibari no koe (Tạm dịch: Tiếng hót chim sơn ca; hoặc có thể hiểu là Giọng nói của Hibari) vào năm 1943. Tác phẩm này đã không được phát hành vì ngay trước khi xuất bản thì nhà in bị không kích dẫn đến việc toàn bộ số sách vừa in bị thiêu hủy. Sau chiến tranh, Dazai đã viết lại Hibari no koe dựa trên bản in thử còn sót lại lúc bấy giờ, đổi tên tác phẩm thành Chiếc hộp Pandora. Tác phẩm này bắt đầu được đăng tải trên tuần báo Kahoku từ 22.10.1945 đến 7.1.1946, tổng cộng có 64 kì.

Hình thức thư từ được truyền tải sống động dưới ngòi bút của Dazai

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Với nhiều lần chuyển viện, trải qua nhiều phương pháp trị liệu khác nhau, 12 quyển nhật kí của Kimura Shosuke là nguồn tài liệu thực tế dồi dào cho Dazai viết Chiếc hộp Pandora. Tuy nhiên, ông không viết tác phẩm này dưới hình thức nhật kí như nguồn tư liệu gốc mà chuyển thành hình thức thư từ. Có lẽ, lựa chọn này phần nào là sự phản chiếu lại mối quan hệ thư tín của chính Dazai và Shosuke trên thực tế.

Hình thức thư từ đồng nghĩa với việc kể lại chuyện đã qua khiến tác phẩm chủ yếu là lời trần thuật nội tâm của người viết thư. Tuy nhiên, nội dung của những lá thư lại không hẳn chìm trong thì quá khứ. Đôi khi, Dazai tạo cảm giác tươi mới về thì hiện tại bằng cách để người viết thư tả lại môi trường xung quanh diễn ra như thế nào khi anh đang viết (có người qua lại chào hỏi ngắt quãng mạch viết của anh, những gì anh đang thấy, những gì anh nghe được...), tâm trạng của anh lúc viết những dòng đó, những hoạt động vừa diễn ra ngay trước khi viết.

Về người đọc thư trong Chiếc hộp Pandora, ta chỉ biết đó là một nhà thơ và không biết được danh tính cũng như thông tin nào cụ thể hơn. Điều này tạo khoảng trống cho sự hóa thân của người đọc vào vị trí người trực tiếp trao đổi thư từ với Hibari (người viết thư).

Chiếc hộp Pandora cũng viết theo dạng monologic khi không đưa ra những bức thư từ hai phía mà chỉ trình hiện cho người đọc biết chiều gửi thư từ một phía. Do đó, ở những phân đoạn Hibari tạm dừng kể chuyện và chia sẻ với bạn thư về nhân sinh quan của mình, tác phẩm khiến ta phần nào hoài nhớ Thư gửi người thi sĩ trẻ tuổi của Rainer Maria Rilke.

Chiếc hộp Pandora có lối kể chuyện theo kiểu slice of life, trình bày từng lát cắt cuộc sống hằng ngày với cách dựng truyện phản cao trào. Không hề có một kịch tính chung để dẫn đến cao trào cho toàn bộ câu chuyện, hay có thể nói là kịch tính tự triệt tiêu trong từng chương: một vấn đề đưa ra từ đầu chương sẽ được giải quyết ngay cuối chương đó. Việc này xảy ra có lẽ là do hình thức thư từ bởi tâm lí chung của một người khi viết thư là thuật lại trọn vẹn câu chuyện khi mọi thứ đã được giải quyết. Vì vậy, người đọc cũng không nhất thiết phải đọc hết Chiếc hộp Pandora trong một lần đọc mà có thể mỗi ngày đọc một chương như cách ta chậm rãi đọc thư của một người bạn phương xa rồi ngồi viết hồi âm và chờ đợi một cánh thư nữa lại đến với tất cả tấm chân tình.

Tâm tư sôi sục của những thanh niên trước thời cuộc đất nước

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Trong Chiếc hộp Pandora, hình ảnh con thuyền được lặp lại nhiều lần qua tự sự của Hibari dường như để gợi sự liên kết đến con thuyền của Noah – là thứ duy nhất cứu rỗi con người và động vật trong sự kiện Đại Hồng Thủy mà Chúa tạo ra để trừng phạt sự suy đồi nhân thế. Có lẽ con thuyền chính là hình ảnh đối lập với chiếc hộp Pandora, là chút hi vọng còn sót lại. Và những con thuyền kiêu hãnh lướt trên đạo lộ thủy triều này – theo Dazai, không gì khác hơn, chính là những thanh niên mang lại hương vị tuổi trẻ tràn đầy nhiệt huyết cho một cuộc tái thiết Nhật Bản mới.

“Những người thuộc thế hệ cũ chỉ có thể hiểu tâm tư tình cảm của chúng tôi như là một thứ dũng khí bồng bột hay sự khủng hoảng ở chặng cuối của tuyệt vọng. Thật đáng buồn... Thực sự, trong khi người lớn đang tiếp tục to tiếng để tranh luận đến cùng về trách nhiệm của cuộc chiến tranh, về lòng ái quốc, thì chúng tôi quyết định bỏ lại họ ở phía sau và ngay lập tức lên đường theo lời kêu gọi trực tiếp của Thiên Hoàng. Tôi cảm thấy chính điều đó mới là những đặc trưng của một nước Nhật kiểu mới.”

Chiếc hộp Pandora nói lên nỗi niềm băn khoăn của người thanh niên trước thời cuộc đất nước. Và có lẽ thông qua đó, Dazai cũng phần nào bày tỏ quan điểm nghệ thuật của chính mình khi chọn góc nhìn từ cuộc sống của những thanh niên nhỏ bé, bị gạt ra ở một góc khuất bên lề xã hội khi mắc căn bệnh ác tính nhưng vẫn đau đáu trước thời cuộc, rằng cuộc sống phải được nhìn nhận từ chính sự tươi mới, từ nhịp đập nóng hổi trong vòng quay không ngừng tự tái tạo mỗi ngày khi mặt trời mọc chứ không phải từ những lí thuyết khô khan trên sách vở hay những chân lí thuộc về một thiểu số trọng yếu của thời đại.

Và theo Dazai, con đường để trụ vững trên bản đồ thế giới là không ngừng học hỏi, tiếp thu kiến thức chung của nhân loại một cách sâu sắc – đây cũng chính là tư duy khiến Nhật Bản trở thành cường quốc từ thời Meiji.

“Người Nhật nhất định phải nghiên cứu Kinh Thánh trước khi nghiên cứu khoa học và triết học phương Tây. Mặc dù tôi không phải là người theo đạo Thiên Chúa, nhưng nếu Nhật Bản không hề nghiên cứu Kinh Thánh mà chỉ tìm hiểu sơ sài mỗi bề nổi của nền văn minh phương Tây, thì tôi tin rằng đây thực sự là nguyên nhân đại bại của Nhật Bản.”

Đã đến thời kì lên ngôi của sự thanh cao và tươi sáng

Ảnh: Facebook Tao Đàn

Chiếc hộp Pandora cũng bàn đến quan niệm về “karumi” (thanh thoát) như một thi tính thiết yếu nói riêng và như một phẩm tính quan trọng nói chung về nghệ thuật, về lẽ sống ở đời.

“Hãy nhìn chú chim bay trên bầu trời. Đó không phải là vấn đề mang tính học thuyết. Đó là sự dối trá và vô dụng. Chỉ bằng cảm xúc, tôi có thể hiểu mức độ thuần khiết của con người. Vấn đề là cảm xúc. Là vần điệu. Nghệ thuật nếu không thanh cao và tươi sáng thì tất cả chỉ là nghệ thuật rởm.”

Và Dazai đã để cho nhân vật, hay một phần nào đó trong chính ông khẳng khái thốt lên: “Đã đến thời kì lên ngôi của sự thanh cao và tươi sáng.” Vì vậy, khác với tâm cảm bi đát thể hiện trong một số tác phẩm của Dazai, ở Chiếc hộp Pandora, ta cảm nhận được sự dịu dàng trong nỗi u hoài, màu thanh tân nơi chốn thê lương. Dù phải đối diện với căn bệnh không thể chữa khỏi, các nhân vật vẫn đưa ra rất nhiều quan điểm sống tích cực. Có lẽ, vẻ đẹp của con người khi bước ra từ nỗi đau mà vẫn giữ được nét ngây thơ trong sáng chính là sự thanh cao bậc nhất.

Chiếc hộp Pandora cấu thành từ những lá thư, ta có thể hiểu cái kết trong truyện chỉ là kết tạm. Những bức thư, những tâm tình, đời sống của nhân vật vẫn sẽ tiếp diễn, chỉ là ta không được đọc nó nữa. Và như Dazai đã viết, chính ta cũng phải lao vào cuộc sống như một cây nho đang vươn mình lớn lên.

Thông tin tác giả

Dazai Osamu (1909 – 1948) sinh ra ở thị trấn Kanagi, tỉnh Aomori vào năm 1909, tên thật là Tsushima Shuji. Gia đình Dazai có mười một người con. Vì mẹ quá ốm yếu, không thể trông nom hết con cái nên Dazai sống với một người dì. Ông bắt đầu viết từ khá sớm và trong năm 1930, ông đã ghi danh học khoa Ngữ văn Pháp tại trường đại học Tokyo. Sinh thời, Dazai từng cố gắng tự sát nhiều lần với những lí do khác nhau. Tự sát trở thành một yếu tố then chốt trong những tác phẩm của ông. Dazai đã có một văn nghiệp lẫy lừng trước Thế chiến nhưng những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông lại là các sáng tác ở giai đoạn hậu chiến khi ông phê phán cả đất nước và chính bản thân mình. Tâm thế đó một lần nữa khiến ông rơi vào tuyệt vọng dẫn đến việc tự sát và qua đời năm 1948.            

Vũ Lập Nhật

Đọc bài viết

Cafe sáng