Phía sau trang sách

Máu bẩn: Công nhận… bẩn thật

Published

on

Năm năm trước, công ty xét nghiệm máu Theranos đã hóa rồng trong mắt các nhà đầu tư nhờ một bài báo có tiêu đề chơi chữ – “Bloody Amazing”1 – trên tạp chí Fortune. Năm 2019, Theranos chỉ còn là hơi tàn ngày cũ, một bóng ma có giá trị duy nhất là trở thành điển tích để giới đầu tư cảnh giác và toàn bộ phần còn lại của thế giới chế nhạo. Nhìn lại một cách khách quan, không phải ăn may mà Theranos làm nên chuyện. Những chiến thuật lắt léo của người sáng lập và nhà lãnh đạo công ty – Elizabeth Holmes – đã vượt qua những trò lừa gạt thông thường: đằng sau sự vút bay và chìm xuồng chóng vánh của Theranos là một hệ thống gian lận tinh vi, nhưng cốt lõi của nó là thứ mà tôi tạm gọi là cú lừa nhân cách. Theranos từng là một công ty “kỳ lân” có định giá ngất ngưởng, và Elizabeth cũng được đối xử trịnh trọng như nữ hoàng trên một bàn tiệc quản trị đầy những bố già trong lĩnh vực chính trị, kinh tế và quân sự. Vâng, hội đồng giám đốc của cô chẳng có ai chuyên về nghiên cứu khoa học đâu.

Hiển nhiên đó nên là dấu hiệu cảnh báo sớm đến các nhà đầu tư và công chúng mới phải. Nhưng cô vẫn là thiên tài của Thung lũng Silicon, cho đến khi John Carreyrou – nhà báo hai lần nhận giải thưởng Pulitzer danh giá – xuất hiện, như một con cá mập đánh hơi thấy mùi máu (bẩn) trong nước và lần lượt vạch trần bộ mặt thật của Elizabeth và Theranos. Thật khôn khéo, nhát đao khai tử Theranos cũng mang cái tên máu me chẳng kém, đồng thời cũng là cú ghi bàn để đời trong sự nghiệp lẫy lừng của John. Cú ghi bàn ấy chính là Bad Blood (Máu bẩn).

Truyền thuyết về con rồng (hay là con kỳ lân) rỗng ruột

Lần đầu tiên tôi biết đến cái tên Elizabeth Holmes là vào khoảng năm 2014. Elizabeth xuất hiện trên Business Insider, trong một bài báo tiêu đề tôi chẳng nhớ rõ, nhưng phần trực quan thì ấn tượng hơn hẳn: một cô gái trong trang phục đen từ đầu đến chân, đôi mắt xanh lơ to tròn (rất, rất tròn) nhìn chằm chằm vào ống kính máy ảnh (và tôi). Nội dung bài báo tôi cũng không còn nhớ chi tiết, nhưng đại khái là bức chân dung về một người phụ nữ trẻ đã phát minh ra công nghệ xét nghiệm máu tân tiến, hứa hẹn tạo nên bước đột phá thần kỳ trong lĩnh vực công nghệ và y tế: chỉ với một giọt máu chích trên đầu ngón tay (thay vì lấy một ống máu từ ven tĩnh mạch), chiếc máy kích cỡ nhỏ như lò nướng của cô có khả năng thực hiện tất tần tật mọi loại phân tích và xét nghiệm chỉ trong một thời gian ngắn. Quan trọng hơn, cô là phụ nữ. Một người phụ nữ thành đạt, nghiêm cẩn và đang vẽ ra một chương mới trong ngành công nghiệp vốn thống trị bởi đàn ông.

Thời điểm ấy, Elizabeth Holmes đã để lại trong tôi một ấn tượng khá sâu sắc (bằng chứng là năm năm sau tôi vẫn nhớ về cô). Tuy nhiên, không giống nhiều người (đa số là nữ) sẽ mang cô ra làm hình mẫu phấn đấu, tôi không dành nhiều thời gian để tìm hiểu thêm. Nhưng cảm giác của tôi lúc ấy là thứ hỗn hợp pha trộn giữa hoài nghi và hy vọng. Tôi nhận ra những bài báo viết về cô thiếu những dẫn chứng khoa học đến khó tin, nhưng nói theo cách nào đó, đây cũng là điều hiển nhiên: với những công ty như Theranos, bí mật công nghệ là sống còn. Nền tảng học thuật của cô cũng không vững vàng để thuyết phục cái phần nghi kị trong tôi, nhưng biết đâu cô là thiên tài (ha!), và cô có một bộ sậu nhà khoa học và nghiên cứu viên giúp hiện thực hóa tầm nhìn của cô. Dù gì Steve Jobs cũng đâu phải là kỹ thuật viên!

Quên bẵng đi câu chuyện đó, lần tiếp theo Elizabeth để lại ấn tượng trong tôi là khi cô và công ty Theranos bị phanh phui lừa đảo trong khâu kiểm định chất lượng, gian lận tài chính và vô số những cáo buộc khác (từ dân sự đến hình sự).

Máu bẩn của John Carreyrou là cuốn sách lý giải những tác động đến hành trình chuyển mình của Elizabeth, từ một thần đồng tại Thung lũng Silicon đến một tội nhân bị vô số người mỉa mai và giễu cợt trên Internet. Sử dụng cấu trúc không-thời gian tương đối lộn xộn, Máu bẩn lại truyền tải một thứ ý tưởng vô cùng liền mạch và dễ hiểu: câu chuyện một dũng sĩ (hoặc nhiều dũng sĩ) tiêu diệt con rồng độc ác, đáng sợ và rỗng ruột. Mở đầu với một “vụ án”: giám đốc tài chính của Theranos, Henry Mosley, người vốn rất tin tưởng và nể phục Elizabeth, sau khi phát hiện những lỗ hổng tài chính và nghi kỵ về đạo đức làm việc, đã cố gắng cảnh tỉnh cô. Những tưởng lời khuyên răn của Mosley sẽ có tác dụng, nhưng không, màn can thiệp (không được chào đón) của ông rước lấy kết cục là ông lập tức bị đá khỏi chức vụ giám đốc tài chính. Sau đó, vị trí của ông cũng không được thay thế. Theranos hoạt động trong mười năm sau đó mà không hề có CFO2.

Việc Mosley bị sa thải không hề là ngoại lệ trong công ty này. Trái lại nó là thông lệ, là một cái mụn nhọt cảnh báo vô số những khối u tiềm tàng ẩn mình trong công ty. Phó Chủ tịch Điều hành của Theranos, Ramesh “Sunny” Balwani, là một người đàn ông trạc 40 tuổi, gốc Ấn Độ. Nếu bạn hỏi đa phần các cựu nhân viên thì sở dĩ ông ta bò lên được cái chức này là vì… ông ta là bồ của Elizabeth. Với chế độ gia đình trị mà điển hình là sự hiện diện sừng sững của Sunny, một kẻ thiếu kiến thức, thiếu năng lực, thái độ kiêu căng và miệt thị nhưng lại nắm trong tay quyền hành quan trọng thứ hai trong công ty, văn hóa doanh nghiệp của Theranos dựa trên việc theo dõi, gây áp lực và khủng bố nhân viên nếu cần thiết; ban lãnh đạo giấu nhẹm thông tin; những người có đầu óc và chính kiến bị chèn ép trong khi những kẻ thiếu kinh nghiệm và giỏi xu nịnh lại trèo lên được vị trí cấp cao.

Nhưng môi trường làm việc chỉ là một rắc rối “sương sương” của Theranos. Gót chân Asin của nó cũng chính là thứ mà công ty này huênh hoang phô diễn trên các tạp chí báo đài có tiếng có miếng: công nghệ. Theranos biến thành một chú kỳ lân tại Hoa Kỳ là do lời tuyên bố chắc nịch của Elizabeth: cô có thể cách mạng hóa ngành xét nghiệm máu bằng cách dùng chỉ một giọt máu chích trên đầu ngón tay để xét nghiệm đủ mọi loại bệnh trên đời. Đáng ngạc nhiên hơn, những xét nghiệm này được tiến hành bằng một chiếc máy nho nhỏ có thể đặt tại nhà, với quy trình dễ dàng thực hiện bởi bất kỳ ai và cho kết quả chỉ sau một thời gian ngắn. Tưởng tượng mà xem, với những bệnh nhân mắc bệnh mãn tính, những người hàng ngày phải thực hiện vô số cuộc chích máu như tra tấn (mỗi lần lấy cả ống máu và chờ lâu lắc), nếu công nghệ này có thật, Theranos sẽ trở thành cứu tinh. Đồng thời, nó sẽ phát triển thành thế lực không thể coi thường trong rất nhiều ngành nghề: bán lẻ (với hệ thống phân phối khắp quốc gia, những chuỗi bán lẻ sẽ giúp công nghệ Theranos dễ dàng tiếp cận với khách hàng trên diện rộng), quân đội (thay vì phải bưng nguyên một phòng thí nghiệm lên chiến trường để xét nghiệm xem các binh sĩ có nhiễm bệnh tật gì không), và dĩ nhiên, y tế.

Vấn đề là, công nghệ này không có thật.

Trong bốn năm học đại học, tôi từng tham gia và theo dõi khá nhiều các cuộc thi khởi nghiệp. Có một bi kịch thường thấy là, giữa ý tưởng sơ khai và quá trình hiện thực hóa tồn tại mâu thuẫn rất lớn. Ý tưởng quá tầm thường, bạn sẽ không được ban giám khảo (hoặc nhà đầu tư) chú ý đến. Ý tưởng quá trên trời, quá trình hiện thực hóa của bạn sẽ là một cơn ác mộng, và thường dự án ra đời sẽ chứa đầy những lỗ hổng chỉ chực chờ ban giám khảo đâm chọt và bạn phải dùng đến tài chém gió của mình để khỏa lấp những khiếm khuyết ấy. Một chiêu mà tôi từng, e hèm, áp dụng trong phần vấn đáp là, khi người am hiểu rõ nhất về dự án đã tắc tị trước những cú đâm chọt lắt léo của ban giám khảo, thì người mồm mép nhất sẽ lên sàn để dẫn câu chuyện về một cái kết êm xuôi và đằm thắm hơn, để ban giám khảo quên phứt mấy cái lỗ chướng mắt ấy.

Đó chính là chiến lược mà Elizabeth Holmes và Theranos đã áp dụng khi bất cứ ai bày tỏ sự quan ngại về các lỗ hổng công nghệ. Tôi sẽ không mô tả cụ thể về công nghệ xét nghiệm tại Theranos (spoiler!) nhưng dễ đoán thôi, nó là một thảm họa. Chuyện kinh dị là mức độ thảm họa của nó. Hai đời máy phân tích đều không đáp ứng được những lời hứa hẹn của Elizabeth. Trục trặc ở khắp mọi khâu: việc dùng chỉ một giọt máu chích từ đầu ngón tay để phục vụ cho tất cả các loại xét nghiệm là không tưởng. Những chiêu thức lừa đảo liên tục được áp dụng để khỏa lấp những trục trặc trong quá trình vận hành. Có lẽ cái duy nhất mà nó tạo ra ấn tượng tốt đẹp là cái vỏ (Elizabeth là fan cuồng nhiệt của Steve Jobs; cô luôn muốn các thiết kế sản phẩm của mình phải có diện mạo thời thượng như của Apple). Và tương tự, đứng trước sự chất vấn và nghi hoặc ít nhiều của đối tác và chính phủ, thứ duy nhất có giá trị, cũng là thứ cứu sống cả Theranos (với đầy rẫy những lỗ hổng cùng tốc độ thay đổi nhân sự khó tin, ám chỉ một môi trường làm việc thiếu lành mạnh) có lẽ chính là cái vỏ Elizabeth.

*

“…đưa Elizabeth trở thành gương mặt đại diện cho Theranos là bước đi hoàn toàn hợp lý. Cô là công cụ marketing đắc lực nhất cho công ty.”

Đó là câu nói của Patrick O’Neill, cựu giám đốc sáng tạo của hãng quảng cáo sừng sỏ TBWA\Chiat\Day (và sau này đầu quân trở thành giám đốc sáng tạo của Theranos). Tôi nghĩ Patrick có chút nói giảm nói tránh. Elizabeth chính là công cụ đắc lực nhất của công ty. Nếu Theranos là một công ty bán hàng thông thường, câu nói này là tinh hoa của trí khôn. Nhưng Theranos là công ty công nghệ y tế, một công ty hứa hẹn sẽ thay đổi cả làng khoa học. Một công ty như vậy mà tài sản đáng giá nhất lại là nhà sáng lập không có nền tảng vững chắc về khoa học và y tế thì đó lại là cả một vấn đề. Tuy nhiên, không ai nhìn ra được vấn đề đó.

Cú lừa đảo lớn nhất mà Theranos dành cho thế giới là cú lừa nhân cách, mà Elizabeth Holmes là biên kịch, đạo diễn và diễn viên chính trong vở lừa này. Elizabeth có sức mê hoặc không tầm thường, sức mê hoặc đã lôi kéo được rất nhiều nhân vật có sức ảnh hưởng vào tròng: từ cựu ngoại trưởng Henry Kissinger, George Shultz đến ông trùm để chế truyền thông Mỹ Rupert Murdoch. Từ nhỏ, Elizabeth đã nung nấu tham vọng làm giàu. Vài năm sau khi nhập học Stanford, cô chính thức bỏ học để cống hiến toàn thời gian cho Theranos (tình tiết này nghe quen không?). Một huyền thoại luôn cần một câu chuyện. Và câu chuyện của Elizabeth có khởi đầu lý tưởng: nó có chút gia vị quen thuộc của vô số những tỷ phú công nghệ khác, nhưng nó có một cú twist hoàn hảo: cô là một phụ nữ trẻ, và cô không khởi nghiệp bằng công nghệ mà bằng khoa học.

Với một xuất phát đáng gờm như vậy, Elizabeth bắt đầu dùng cái đầu lạnh của mình để phát triển Theranos. Nội bộ công ty là một đống rối nùi, nhưng với người ngoài, Elizabeth tạo nên những màn trình diễn xuất thần. Cô dần học đươc những chiêu trò bán hàng thực thụ: cô bắt đầu xây dựng thương hiệu cá nhân từ việc mặc áo đen cổ lọ (một dấu hiện khác gợi nhắc đến thần tượng quá cố của cô), cô biến giọng nữ cao của mình thành giọng nam trầm (một bước đi khôn ngoan để khiến bản thân thêm uy quyền khi làm việc với đa số đồng nghiệp và đối tác nam). Thế nhưng, thứ vũ khí nhân cách lớn nhất của Elizabeth chính là tầm nhìn, là nhiệt huyết không khoan nhượng dành cho Theranos. Những người có khát khao thay đổi thế giới theo hướng tốt đẹp hơn thường tỏa ra hấp lực, và nếu giấc mơ ấy thêm chút cảm hứng riêng tư thì càng thêm lôi cuốn và đáng tin. Câu chuyện mà Elizabeth dùng làm mở đầu cho những bài phát biểu của mình, rằng cậu ruột của cô từng mất vì bệnh ung thư, và giá như quá trình xét nghiệm nhanh chóng hơn thì cậu cô đã có thể chẩn đoán bệnh sớm hơn và không qua đời. Theranos ra đời, là để phát hiện bệnh sớm và dễ dàng hơn, để bạn không phải nói lời chia tay đến những người thân yêu quá sớm. Trong một thế giới hỗn loạn, nơi những phát minh công nghệ liên tiếp ra đời để phục vụ cho những thói quen sớm nở tối tàn và thừa thãi của giới trẻ, Elizabeth xuất hiện, với gương mặt điềm tĩnh và đôi mắt sáng ngời, nói về một thế giới mới tươi đẹp, của những đổi thay khoa học, của những bước chuyển cách mạng, và nơi mà đau đớn được giảm thiểu, ai mà không bị mê hoặc? (đặc biệt là những vị tướng già đã bị vô số thương đau mài cho chai sạn).

Giữa hàng hà sa số những nhân vật CEO nổi lên từng ngày trong thế giới công nghệ, Elizabeth chính là một cú hit: ở cô hội tụ đầy đủ những đặc điểm mà người ta đang tìm kiếm trong một hiện tượng truyền thông mới. Cùng với sự giúp đỡ của báo chí, cô thôi miên cả đất nước. Nước Mỹ bị chính những kỳ vọng lớn lao của họ chơi khăm. Cho đến khi John Carreyrou xuất hiện và đập tan ngai vàng của cô.

Ai là người giết rồng?

Từ đầu đến giờ, tôi không nhắc nhiều về tác giả John Carreyrou, bởi trong Máu bẩn, ông cũng không nhắc nhiều về chính mình. Mãi đến khoảng một trăm trang cuối, John mới xuất hiện (như trùm cuối). Lý giải cho sự xuất hiện muộn màng của ông, tôi nghĩ một phần vì cuốn sách nên là sân khấu của Theranos, một phần vì John không phải là người vạch trần theo nghĩa bóng: những dấu hiệu sai phạm của Theranos vốn đã xuất hiện sẵn rồi, chỉ cần chờ người kết nối các điểm lại thôi. Và ai phù hợp hơn ông, phóng viên kỳ cựu của tờ Wall Street Journal, từng hai lần nhận giải thưởng Pulitzer danh giá và vừa hoàn thành một cuộc điều tra về vụ lừa đảo của Medicare?

Theo ý kiến cá nhân tôi, phần cuối của Máu bẩn có chút hụt hơi khi so với đoạn đầu. Có nhiều yếu tố tác động: có thể do sự hồi hộp của tôi khi chờ ngày tàn của Theranos đã bị xẹp xuống ít nhiều, hoặc là do John không thể công bố quá nhiều thông tin do nhân chứng cung cấp trong quá trình điều tra. Hoặc có thể, phần cuối của cuốn sách đã không còn là thần thoại về chuyện xiên một con rồng – mà nó đã biến thành một câu chuyện thông thường kể về một người đàn ông bất chấp những lời dọa dẫm đe nẹt từ phía binh đoàn luật sư để vạch trần một công ty gian trá. Câu chuyện này dĩ nhiên vẫn rất hấp dẫn. Nhưng lúc này, tôi cảm nhận rõ ràng là con rồng đã chết ngáp – chết trước khi trùm cuối lên sàn rồi. Cái chết của con rồng là do thứ bệnh độc phát sinh từ bên trong. John Carreyrou chỉ là cánh tay vén rèm phơi bày một bản thể bệnh tật, lắm mồm ra ánh sáng. Còn những người phát hiện căn bệnh này đã xuất hiện từ trước – họ chính là những nhân viên bị Theranos đối xử tệ bạc trước kia, những bác sĩ bị công ty lừa gạt, và những kẻ trục lợi từng gây thù chuốc oán với Theranos. Con rồng không chết vì một nhát kiếm, mà do vô số những vết xẻo từ những người từng bị nó bạo hành.

*

Một chương khiến tôi có ấn tượng nhất trong Máu bẩn kể về cuộc đối đầu giữa Tyler Shultz và George Shultz. Thời điểm này, Theranos vẫn chưa bị John Carreyrou vạch mặt. George hiện là thành viên hội đồng quản trị của Theranos, ông tin tưởng Elizabeth như (chắc là hơn cả) người nhà. Còn Tyler lúc này là cựu nhân viên phòng thí nghiệm Theranos. Anh từ chức vì phát hiện những sai phạm nghiêm trọng trong khâu quản lý chất lượng, cũng như những nỗ lực từ phe cánh Elizabeth để “xào nấu” kết quả thí nghiệm hòng chứng minh công nghệ Theranos vẫn xài tốt. Anh không muốn phản bội lương tâm mình.

Trong cuộc đối đầu này, Tyler đang cố gắng vạch trần những sai phạm của công ty và thuyết phục ông nội mình (vâng, George là ông nội Tyler) rời bỏ hội đồng giám đốc và cứu vãn thanh danh ông trước khi quá muộn. Nhưng George đã từ chối tin tưởng lời nói và bằng chứng từ phía Tyler – người tốt nghiệp chuyên ngành sinh học, từng trực tiếp làm việc trong phòng thí nghiệm Theranos, cháu trai của ông. Phủ nhận những số liệu thực tiễn, ông lựa chọn tin vào tầm nhìn của Elizabeth.

Như đã nói ở trên, những sai phạm của Theranos đã ê hề trước thời điểm John Carreyrou nhảy vào cuộc chơi. Nhưng không một ai hoài nghi về tính trung thực của công ty. Tấm kính màu hồng đã che mắt họ trước sự thật. Tấm kính ấy còn mạnh mẽ đến mức khi đối diện sự thật, George đã lạnh lùng từ chối tin vào đó. Thông tin lý tính và niềm tin cảm tính là một cuộc chơi không cân bằng. Sự không cân bằng này đã đưa Theranos đến đỉnh cao danh vọng. Và, theo một cách nào đó, sự không cân bằng này đã đẩy Theranos xuống vực sâu.

Tôi tự hỏi, nếu một nhà báo khác, không phải là John Carreyrou – một phóng viên dày dạn kinh nghiệm và uy tín vạch trần thì sao? Nếu bạn cảm thấy suy nghĩ này hơi xa vời, hãy nhìn vào cách thế giới tiếp cận với cú rơi của Theranos. Một từ xuất hiện rất nhiều: psychopath (người mắc chứng rối loạn nhân cách chống đối xã hội). Psychopath là một cụm từ rất có sức hấp dẫn trong truyền thông, và ở Elizabeth, người ta thấy thấp thoáng đâu đó những đặc điểm nhận dạng: đôi mắt to nhìn chằm chằm vào người đối diện không chút ngại ngần, chứng hoang tưởng hiển hiện trong lời nói và hành động, sự ám ảnh với việc bắt chước Steve Jobs, những lời ngụy biện trắng trợn và biểu hiện không hối cải sau khi Theranos bị vạch trần. Những đặc điểm ngày xưa nâng cô thành anh hùng, nay biến cô thành một kẻ dối trá và bất lương. Tôi tin rằng đã từng tồn tại một Elizabeth thật tâm muốn thay đổi thế giới và thật lòng tin tưởng tuyệt đối vào viễn cảnh trong đầu mình. Tại một điểm nào đó của cuộc chơi, cô đã biến chất, hoặc cái chất bẩn trong đầu cô đã điều khiển cô hoàn toàn. Tuy nhiên, số đông vẫn đơn giản hóa sự ngã ngựa của Theranos, và chưa bao giờ câu nói “Look at her, I knew she was a liar” (Nhìn ả mà xem, tôi đã biết ả là kẻ dối trá mà) lại khiến tôi buồn cười như vậy. Bên cạnh đó, không thể chối cãi rằng văn hóa hoạt động dựa trên thẩm định cá tính và cách gọi vốn “trả trước” của Thung lũng Silicon phải chịu trách nhiệm một phần vì đã tạo điều kiện cho vụ lừa đảo Theranos diễn ra. Cuộc điều tra của John Carreyrou và Wall Street Journal đã một lần đập tan tấm kính màu hồng bằng những kiểm nghiệm của FDA3, tài liệu thanh tra do CMS4 cung cấp, những nghiên cứu bình duyệt, nhưng một lần nữa, tấm kính điềm nhiên tái sinh, chỉ là theo hướng đối lập: nhìn qua nó, đây không còn là truyền thuyết về một con rồng mạnh mẽ vươn vai thức tỉnh nữa. Đây là truyền thuyết về sự suy tàn của một mụ phù thủy cần được tế sống. Và vô tình hay cố ý, Máu bẩn cũng góp phần vào quá trình tái định hình câu chuyện.  

Không phủ nhận những nỗ lực của John Carreyrou trong việc đào sâu và đưa ra những lý giải khoa học và dẫn chứng tương đối cụ thể, nhưng tôi nghĩ, yếu tố khiến Máu bẩn trở thành “Sách kinh doanh hay của năm 2018 do Financial TimesMcKinsey bình chọn” chính là tính kịch nghệ khôn khéo của nó. Khi dùng từ “kịch nghệ”, tôi không có ý nói John đã thêm mắm dặm muối (hay nói dối). Tôi nghĩ rằng, trong nỗ lực xây dựng một câu chuyện có đầu có đuôi, có nguyên nhân có kết quả, ông đã sử dụng lối tường thuật có chọn lọc, bằng cách cân nhắc những tình tiết nổi bật để đưa vào cuốn sách. Máu bẩn là một câu chuyện có thật, với hệ thống người liên quan rất đồ sộ và đa sắc màu, nhưng khéo ở chỗ, họ nằm rất vừa vặn trong những khuôn mẫu nhân vật điển hình tồn tại ở các tác phẩm hư cấu: một gã Phó Chủ tịch Điều hành thô lỗ và độc địa (một tên phản diện đần thối khiến độc giả khinh khỉnh), một nữ doanh nhân thông minh và máu lạnh, thành công trong việc dùng sự duyên dáng của mình để đánh bẫy thế giới (một nhân vật phản diện thông minh hơn, khiến ta vừa nể sợ vừa căm ghét), một nhà nghiên cứu tài năng nhưng có kết thúc bất công và bi kịch (một nốt trầm buồn trong câu chuyện), cùng anh chàng COCC (con ông cháu cha) tồn tại trong một danh gia vọng tộc phức tạp với cả tá luật sư và người nhà ngầm tính toán với nhau. Tinh tế ở chỗ, họ đủ phức tạp để khiến người đọc ghi nhớ; mỗi người có một trường đoạn chuyện kể riêng tư, chỉn chu với cao trào và kết thúc vẹn toàn. Nhưng họ không quá phức tạp để bắt buộc người đọc nhìn nhận họ là những con người có thật với những mâu thuẫn không thể lý giải trong động cơ và cách hành xử. Sự phức tạp của họ tồn tại để phục vụ cho câu chuyện. Tất cả kết hợp với giọng văn báo chí trung lập nhưng nêm nếm một chút phẫn uất từ tốn dâng trào trong câu chữ, Máu bẩn là một kịch bản điện ảnh đang gào thét cần được chuyển thể lên màn ảnh rộng (và đúng là nó sắp lên màn ảnh) chứ không đơn thuần là một cuốn sách với nỗ lực đi tìm sự thật. Tôi, một cách rất cảm tính, thích sự khôn khéo này. Vì ít nhất, nó cũng phục vụ cho một thứ mục tiêu có vẻ tốt đẹp hơn là Theranos.

Hết.

Chú thích:

  1. “Bloody Amazing” (hết sức tuyệt vời) là một phép chơi chữ, trong đó “bloody” vừa có nghĩa là “máu me”, vừa có nghĩa là “hết sức”.
  2. CFO (viết tắt cho Chief Financial Officer): Giám đốc tài chính.
  3. FDA (viết tắt cho Food and Drug Administration): Cục quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ.
  4. CMS (viết tắt cho Centers for Medicare and Medicaid Services): Trung tâm Dịch vụ Medicare & Medicaid, cơ quan Liên bang quản trị chương trình Medicare Hoa Kỳ.

Mèo Heo

Phía sau trang sách

Dư Hoa: “Ở tuổi 21, tôi bị cuốn hút bởi Kawabata”

Published

on

By

Là một trong những nhà văn thuộc thế hệ tiên phong của văn học Trung Quốc sau thời mở cửa, Dư Hoa là tên tuổi lớn luôn được chờ đón mỗi khi có tác phẩm mới ra mắt. Văn nghiệp của ông tương đối đa dạng với nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại, từ hiện thực, châm biếm cho đến huyền ảo… Những năm gần đây cùng với Tàn Tuyết, ông được nhắm đến cho vị trí mới nhất của giải Nobel Văn Chương sau đúng một “giáp” mà Mạc Ngôn đã giành được vào năm 2012.

Bài phỏng vấn sau đây được đăng tải trên The Paris Review số mùa đông 2023.

Quay về giai đoạn đầu đời, ông đã đọc gì khi còn trẻ?

Ngoài tuyển tập của Mao Trạch Đông, thì tất cả những gì mà chúng tôi có là sách y học, sách cấp 1, cấp 2 và toàn là Lỗ Tấn. Cũng vì thế nên hồi đó tôi không thích ông ấy chút nào, mặc dù sau này tôi lại thấy thích. Vào những ngày sau Cách mạng Văn hóa, khi thư viện trong thị trấn mở cửa trở lại, thì có khoảng 30 hay 40 cuốn mà họ gọi là văn học cách mạng. Loại này được phép và tôi đã đọc tất cả. Nhưng có một số ít tiểu thuyết được truyền khắp trường một cách bí mật, để khi đến tay của tôi thì nó đã mất bìa trước hoặc là bìa sau, thiếu 10 trang đầu hay 10 trang cuối, do đó mà tôi thậm chí còn không biết nó có tựa là gì hay ai viết ra. Theo kinh nghiệm của tôi, ta có thể sống mà không biết câu chuyện bắt đầu thế nào, nhưng không chịu được khi không biết rõ cái kết. Nó như là cực hình vậy. Vì vậy tôi đã tự mình bịa ra cái kết, và các bạn cùng lớp thường tụ tập xung quanh để nghe những ý tưởng này. Bây giờ nghĩ lại, tôi nhận ra rằng đó có thể là nơi sự nghiệp viết văn của mình bắt đầu.

Các tác phẩm đã chuyển ngữ của Dư Hoa

Ông có bị ảnh hưởng bởi thế hệ tác giả Trung Quốc đi trước không?

Khi tôi bắt đầu viết văn, văn học lúc ấy chủ yếu là văn học vết thương. Chúng bày tỏ sự phẫn nộ đối với Cách mạng Văn hóa. Tôi quan tâm đến Vương Tăng Kỳ vì ông ấy xử lí nỗi đau tinh thần theo cách vô cùng độc đáo. Tôi đã đọc truyện của ông ấy vào năm 1980 và thấy rằng chúng rất hay. Những người giỏi nhất trong thế hệ đó có một điểm chung là họ rất khuyến khích các nhà văn trẻ; trong khi những người hạng 2, hạng 3 thì đối xử tệ với thế hệ tôi, như thể chúng tôi đang đe dọa chiếm lấy vị trí của họ vậy.

Tuy nhiên nhà văn tôi say mê nhất vẫn là Kawabata. Tôi đã đọc Vũ nữ Izu và tôi say mê ông ấy trong vòng 4 năm. Tôi đọc mọi thứ mà mình có được, từ Ngàn cánh hạc, Cố đô, Xứ tuyết, mà tôi vẫn nghĩ là hay nhất...  Kawabata đã dạy tôi rằng chính chi tiết, chứ không phải cốt truyện, mới tạo nên thứ gì đó đáng đọc, rằng những tác phẩm vĩ đại không phải là chuỗi sự kiện mà là tập hợp chi tiết khó quên. Đó là điều mà độc giả cảm động, cốt truyện chỉ đơn thuần là thú vị thôi. Ở tuổi 21, tôi hoàn toàn bị cuốn hút bởi một trong những câu chuyện của ông. Đó là về một người phụ nữ có chồng sắp cưới đang tham chiến, và lo lắng rằng anh sẽ chết trận. Khi ấy cô đã đến thăm một ngôi nhà đang xây dựng dở ở khu vực lân cận, và suy đoán xem ai sẽ sống ở đó khi nó hoàn thành. Nó khá cổ điển và đã trở thành lý tưởng của tôi, về một câu chuyện không có nhân vật chính, chỉ có các nhân vật phụ mà thôi. Ông ấy đã cho tôi thấy không cần phải viết theo tiến trình tường thuật chặt chẽ, mà cũng có thể đảo ngược lại nó.

Với ông thì viết tiểu thuyết có khác biệt nhiều so với khi viết truyện ngắn không?

Tôi luôn cảm thấy viết truyện ngắn giống như là làm một công việc có hạn định vậy. Tôi có thể thực hiện chúng theo lịch trình, và chắc chắn sẽ hoàn thành được trong 1 hoặc là vài ngày. Tiểu thuyết thì không thể làm theo cách đó. Qua nhiều năm làm việc, ý thức của anh thay đổi cuốn sách. Anh hiểu sâu hơn về các nhân vật, anh và họ như sống cùng nhau. Khi tôi viết được nửa chừng cuốn sách, họ bắt đầu nói những điều theo ý mình. Đôi khi tôi nghĩ những điều ấy thậm chí còn tốt hơn khi tự mình tưởng tượng.

Cảnh trong phim Phải sống (1994) của Trương Nghệ Mưu chuyển thể từ tiểu thuyết Sống của Dư Hoa. Ảnh MUBI

Ông đã nói việc viết lách chia đôi cuộc đời?

Vâng, anh sống một cuộc đời tưởng tượng và một cuộc đời khác trong thực tế. Khi cuộc sống đầu tiên phát triển, cuộc sống thứ hai co lại, không cách nào khác cả. Anh càng viết nhiều, thế giới tưởng tượng này càng giãn ra. Và cuộc sống còn lại là ngồi trên ghế, hoàn toàn im lặng, nơi cơ thể anh vẫn còn ở đó. Hoặc có thể chân của anh nhịp lên nhịp xuống, Mạc Ngôn chính là kiểu ấy, khi ông chìm đắm vào việc viết [1].

Ông viết có dễ dàng không, có nhiều bản nháp không?

Nhìn chung, mất đâu đó khoảng một năm để hoàn thành cuốn sách. Tôi thường viết tay, sau đó tôi sẽ xem xét bản nháp trong 1 hoặc là 2 tháng để chỉnh sửa, rồi lại đặt nó ở một chỗ khác, rồi 1 hoặc 2 tháng tiếp theo sẽ chỉnh sửa tiếp. Vào thời điểm bản thảo thứ hai được tinh chỉnh, tôi gần như đã hình dung được nó sẽ diễn ra thế nào. Nhưng trong khi tôi đang chỉnh sửa, tôi thường rơi nước mắt... Chỉ khi đọc hết qua một lần đọc, anh mới hiểu được sức mạnh của nó. Hồi đó chúng tôi không có khăn giấy, và cuối cùng điều tôi phải làm là quấn chiếc khăn quanh tay, dùng nó lau mặt và viết bằng tay còn lại.

Ông có thường khóc khi viết không?

Tôi nghĩ nếu một nhà văn thậm chí không thể tự xúc động với những gì mình viết thì có lẽ họ cũng sẽ không lay động được độc giả của mình. Tôi nhớ khi tôi viết Huynh đệ tôi đã khóc rất nhiều, có cả nước mũi những thứ khác, đến nỗi vợ tôi sẽ bước vào và nhìn thấy một núi khăn giấy đã qua sử dụng ở bên cạnh mình. Lúc này chúng tôi đã có khăn giấy.

Nhưng những cuốn sách đó cũng khá buồn cười.

Sống cần một chút hài hước vì nếu không thì tôi sẽ không thể tiếp tục được. Tôi nghe nói rằng nó rất khó đọc. Trương Nghệ Mưu, đạo diễn bộ phim chuyển thể, đã nói với tôi rằng người xem sẽ khó cảm nhận được nó, nhưng tôi cũng cảm thấy thế!

Ông nghĩ gì về cái kết hạnh phúc hơn của bộ phim?

Tôi yêu bộ phim. Chỉ có kẻ ngốc mới trung thành với nguyên tác, bởi họ là kẻ không có ý tưởng riêng, tất cả những gì họ có thể làm là lùng sục tài liệu và tái hiện nó. Nhân tiện, tôi chưa bao giờ xem bộ phim truyền hình dài tập này. Phim quá dài, mà nếu TV cứ bật mãi thì tôi không chịu nổi.

Kawabata là một trong những nguồn cảm hứng của Dư Hoa

Ông có tưởng tượng cuốn sách sẽ trở thành một tác phẩm kinh điển không?

Với tựa đề Sống, cuốn sách không hề có ý định chết đi! Nhưng mong muốn lớn nhất của tôi là tạp chí nào đó đăng nó nhiều kì và đặt nó lên đầu mục lục, điều mà cuối cùng tôi cũng làm được. Tôi chưa bao giờ có thể tưởng tượng được nó sẽ bán chạy. Tôi nghe nói nó đã bán được tới 20 triệu bản ở Trung Quốc, không bao gồm sách nói, sách điện tử hoặc các bản lậu. Nhà xuất bản của tôi nói rằng tôi phải bán được ít nhất 50 triệu bản lậu đấy.

Phiên bản tiếng Anh của Sống cũng khá tốt. Bây giờ anh nhận được tiền bản quyền 2 năm 1 lần phải không [2].

Không. Đến giờ họ vẫn chưa cho tôi một xu nào cả.

Không thể nào thế!

Tôi sẽ hỏi han về vấn đề này. Nhưng ông có thấy phiền khi sách của mình bị sao chép lậu không?

Tôi không phản đối. Tất cả những bộ phim tôi xem đều là phim lậu, và với tất cả các nhà làm phim ngoài kia, tôi xin lỗi, nhưng những thể loại tôi thích không chiếu ở rạp, vì vậy đó là cách duy nhất tôi có thể xem chúng! Nhân tiện, thật đáng kinh ngạc khi Liên hoan phim Cannes kết thúc vào tháng 5 và đến tháng 8 hoặc tháng 9, thì chúng ta có thể xem phim với phụ đề được dịch.

Ông có thường xuyên gặp khó khăn hoặc bỏ dở công việc không?

Nhà văn Dư Hoa. Ảnh The Paris Review

Hiện tại, tôi có 3 cuốn sách vẫn đang dang dở, tôi cứ tự nhủ mình không được làm gì khác ngoài việc cố gắng hồi sinh hết cả 3 cuốn. Nhưng thời gian để làm việc đó ngày càng ít đi, và cũng thật khó để anh có thể hồi tưởng bản thân thật sự ở đó như khi mới bắt đầu viết. Tôi đã mất tận 21 năm để hoàn thành Thành phố bị mất.

Ông đã duy trì lại mạch cảm xúc đó bằng cách nào?

Những ghi chú của tôi cực kì quan trọng. Trong tất cả những cuốn sách của tôi, nó là cuốn nhắc đến lịch sử sâu sắc nhất, vì vậy tôi cần phải thực hiện rất nhiều nghiên cứu về lịch sử và văn chương. Chỉ riêng điều đó thôi đã mất của tôi gần 2 năm. Tôi đã thu thập được nhiều chi tiết tuyệt vời và nó truyền cảm hứng cho tôi.Dịch từ bài phỏng vấn củaMichael Berry.

Chú thích:

[1] Mạc Ngôn và Dư Hoa từng ở chung phòng trong kí túc xá của trường đại học.

[2] Người thực hiện cuộc phỏng vấn là dịch giả tiếng Anh của tiểu thuyết Sống.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Một Holocaust khác lạ của Georges Perec

Published

on

By

Là một trong những thành viên của nhóm văn chương tiên phong OuLiPo với những sáng tạo về mặt hình thức, cùng Italo Calvino và Raymond Queneau, Georges Perec là một tác giả có sự đổi mới về nghệ thuật viết. Trong đó W, hay Ký ức tuổi thơ ra mắt vào năm 1975 được coi là một trong những tác phẩm vô cùng đỉnh cao.

Những thử nghiệm văn chương

Xưởng Văn Chương Tiềm Tàng hay OuLiPo là nhóm nhà văn và nhà toán học chủ trương đổi mới, cách tân nghệ thuật. Có thể kể đến Italo Calvino với Lâu đài của những số phận giao thoa, khi kết hợp giữa văn chương và bài tarot hay Perec với cuốn tiểu thuyết Đồ vật từng giành giải Renaudot, khi nội dung cuốn sách chỉ được tạo thành từ việc liệt kê đồ vật thường ngày. Ông cũng có một tác phẩm hơi hướng trinh thám mà toàn văn bản không có chữ “e”. W, hay ký ức tuổi thơ cũng nằm trong xu hướng này.

Cuốn sách gồm 2 mạch truyện, một là tự truyện của chính tác giả về cuộc đời mình trước, trong và sau Thế chiến thứ II. Mạch truyện còn lại là sản phẩm thiên về tưởng tượng, khi Perec tạo ra hòn đảo tên là W, nơi cư dân trên đảo sống như một làng thể thao của thế vận hội Olympic. Có thể nhận thấy những nét chấm phá về xu hướng phản địa đàng (dystopia) ở nơi chốn này. Cả 2 câu chuyện được đặt xen kẽ và phản ánh nhau bằng những khoảng trống đã được xây dựng một cách khéo léo.


Về mặt từ ngữ, W không phải là một cái tên đến thật ngẫu nhiên. Cũng như cấu tạo, nó được tạo thành từ 2 chữ V đính kết vào nhau, và 2 chữ V lại được tạo thành từ một chữ X được cắt ngang ra, mà trong tiếng Pháp nó cũng có nghĩa là giá cưa gỗ. Nếu ta thêm thắt một vài chi tiết ở chữ X này, nó sẽ biến thành biểu tượng chữ vạn (卐), và rồi phân rã thành một ngôi sao đính kết trên chính ve áo của người Do Thái (✡). Như vậy về mặt cấu tạo, vùng đất mà Perec đã tưởng tượng ra chính là dấu chỉ cho những gì ông đã trải qua, những gì ông không còn nhớ và cả những gì giờ được vay mượn.

Như ở đầu sách trong những văn bản có tính tự truyện ông đã viết rằng: “Tôi không có ký ức tuổi thơ. Cho đến năm tôi gần mười hai tuổi, tiểu sử của tôi chỉ có vài dòng: tôi mất cha năm bốn tuổi, mất mẹ năm sáu tuổi; tôi sống qua thời chiến tranh trong các khu nội trú khác nhau ở Villard-de-Lans. Năm 1945, vợ chồng chị ruột của cha tôi đã nhận nuôi tôi”. Việc không có mối nối nào đối với ký ức rồi sẽ biến thành một sự đứt gãy, và rồi những gì mà nhà văn làm đó là lấp vào khoảng trống rất nhiều trải nghiệm mình đã chứng kiến, lấy nó từ nơi người khác, và rồi biến nó thành ra của mình hoặc làm một việc hoàn toàn mới mẻ đó là sáng tác.


Trong những đoạn văn mang tính tự truyện được viết ngập ngừng và đầy khoảng trống, nhịp độ của riêng Perec cũng cho ta thấy được sự hoài nghi của bản thân ông. Cũng như W.G.Sebald quẩn quanh bên một nhà ga mà không thể nhớ cái tên Austerlitz tưởng rất quen thuộc là từ đâu ra, Perec cũng thế. Ông viết ký ức lớn nhất mà mình có được là vào năm 1942, ở nhà ga Lyon, khi mẹ mua cho ông một cuốn truyện tranh và rồi thấy bà vẫy chiếc mùi soa màu trắng ở nơi sân ga lúc tàu khởi hành. Cả 2 nhà văn đều được gửi đi trên những toa tàu dành cho trẻ con, để tránh diễn biến phức tạp có thể xảy ra, từ đó nhà ga như chốn lưu lạc của những linh hồn, để họ mãi tìm và rồi tuyệt vọng.

Ở những đoạn khác, Perec cũng đã cài cắm cho ta thấy được vì sao ông lại mang theo ý tưởng tạo ra vùng đất hư cấu của bản thân mình. Trong khi sự khuyết thiếu trong tiểu sử khiến ông an lòng một thời gian dài, thì khi càng lớn, sự khô khan khách quan và hiển lộ trong suốt ngày càng làm ông khó mà chịu nổi. Từ đó ông bắt đầu quan sát. Ông nhớ một cách rõ ràng mình đến với Chúa tận tụy ra sao, ông biết mình đã nhận vơ “di sản” một vụ tai nạn từ người anh họ khiến cho cánh tay bị gập ra sau đặc biệt thế nào… Ông cũng chỉnh sửa những dòng tự truyện mà mình đã biết cách đó vài năm, dù những chú thích cũng không được chắc là hoàn toàn đúng. Chính trong sự quanh quẩn đó, hình ảnh những con người đặc biệt bắt đầu hiện ra, đưa ông vào chốn W tương đối đặc biệt.

Ký ức là hòn đảo tâm trí

W theo đó là một hòn đảo mà tại nơi đây thể thao là quan trọng nhất. Trong khi những người già, phụ nữ, trẻ em bị co cụm trong một khu riêng, thì phần lớn đảo được dành cho những thanh niên đang tuổi trưởng thành. Ở đó gồm có nhiều làng, mỗi làng sẽ cử ra những thành viên riêng lẻ để thi đấu đối kháng với nhau, có khi ở quy mô nội bộ, có khi là 2 làng liên kế, và cũng có khi là những hội lễ như Olympic nơi mà tất cả đều đấu với nhau. Ở đó có các môn như chạy đua nước rút, vượt chướng ngại vật, phóng lao, ném lao cũng như nhiều môn tổng hợp…

Theo Perec viết, “không xã hội loài người nào có thể cạnh tranh được với W”, bởi việc sáng tạo nên nó như được hình thành từ những chủng tộc người Aryan thượng đẳng mà Hitler đã từng một lần ôm mộng bá chủ. Struggle for life là luật ở đây, nơi chỉ chiến thắng và những thành tích mới là quan trọng, còn việc thua cuộc sẽ đưa người ta đi vào cái chết. Khán giả có thể ca ngợi những người chiến thắng, nhưng sẽ không tha cho kẻ bại trận. Chỉ một tiếng kêu đòi hỏi hành hình, điều đó cũng có nghĩa là cái chết đến từ Trung Cổ đang chờ đợi họ.

Nhưng cũng nực cười như một xã hội không có công bằng, trong thứ thiết chế tưởng được kết cấu với các lề luật được quy định trước, thì sự bất công mới luôn là thứ được giới chóp bu ham thích ban phát. Những người thắng cuộc sẽ được ban phát những món ăn ngon và thức rượu quý mà họ không có, để rồi nếu không sáng suốt, họ sẽ thất bại vào ngày hôm sau và rồi bị tước tất cả danh dự. Ở xứ W không có tuyệt đối, chỉ có tương đối. Một người có thể có hết tất cả vào ngày hôm nay, nhưng rồi hôm sau sẽ lại mất cả.

Mua Sách - W hay là ký ức tuổi thơ - Nhã Nam Official tại FishingBook | Tiki

Phụ nữ ở đây chiếm một số lượng vô cùng ít ỏi. Khi sinh nở, chỉ một bé gái là được giữ lại trên 5 bé trai. Vào các ngày lễ chiến thắng, họ bị thả ra như những “thỏ sắt” trong trận đua chó mà phía sau là những vận động viên sẽ cưỡng hiếp họ. Cũng như Chuyện người tùy nữ của Margaret Atwood, giới nữ ở nơi chốn này chỉ được sinh ra dùng cho sinh sản. Những người đàn ông vì những tham vọng cũng như giải phóng cơn khát dục tình, sẽ làm hại nhau bằng đủ mọi cách, từ liên minh, gian lận cho đến giết người, mà dĩ nhiên thế mạnh luôn luôn thuộc về những người mạnh nhất.

Không thể không thấy hòn đảo W chính là mô hình thu nhỏ của trại diệt chủng mà mẹ Perec đã từng bước vào rồi nằm mãi lại. W hay là chữ X được tái định hình trở thành bàn xẻ sinh mạng con người. Việc bỏ tên riêng ở xứ W và được thay bằng một hệ thống các quy tắc phức tạp chẳng phải là việc xóa bỏ danh tính của người Do Thái, xăm lên tay họ những dãy số dài rồi nó sẽ trở thành dấu chỉ của họ đó sao. Và cũng chẳng phải việc đánh dấu những chữ W lên lưng áo khoác của những người trưởng thành cũng tương tự với ngôi sao sáng chói mà những người Do Thái sẽ phải đeo trên ngực mình? Những người phụ nữ bị lạm dụng, những người đàn ông phải luôn chiến đấu giành giật sự sống… để đến cuối cùng họ bị giáng cấp, và chỉ là một trò chơi của giới chóp bu nắm giữ quyền lực.

Như vậy hòn đảo W chính là nỗ lực mà Perec cố gắng thấu hiểu về cuộc đời của mẹ mình, kể từ thời điểm chiếc khăn mùi xoa được vẫy giữa nơi nhà ga Lyon là ấn tượng cuối cùng mà ông sở hữu. Ở đó “những vận động viên ném tạ mà những quả tạ của họ là những cục sắt cùm chân, những vận động viên nhảy cao với cổ chân đeo xích, những vận động viên nhảy xa ngã huych xuống chiếc hố chứa đầy nước phân bón”. Tất cả vô nghĩa, tất cả cuồng loạn và chỉ hướng về một xã hội tàn nhẫn, bạo lực và cũng là nơi cả nhân loại này không còn là người.

Bằng tài năng sáng tạo và những cách tân trong nghệ thuật viết, Georges Perec đã viết nên một cuốn sách thuộc dòng Holocaust khác lạ và ấn tượng. Chính việc tưởng tượng ra vùng đất W hoàn toàn hư cấu, mang chất phản địa đàng đã tạo nên nét đặc biệt cho tác phẩm này, thêm phần đả kích cũng như châm biếm sự mất nhân chính, tạo nên tiếng nói vô cùng mạnh mẽ.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đế chế ký hiệu: Có một nước Nhật rất riêng của Roland Barthes

Published

on

Đế chế ký hiệu là tập tiểu luận không thể bỏ lỡ đối với những ai yêu mến và muốn tìm hiểu về văn hóa nước Nhật – chính xác hơn – là một nước Nhật từ góc nhìn độc đáo của nhà ký hiệu học Roland Barthes.

Tác phẩm Đế chế ký hiệu tập hợp 26 bài viết có tính chất phân mảnh của Roland Barthes về nước Nhật với nhiều bài ngẫu nhiên, xoay quanh các chủ điểm như: Ngôn ngữ lạ, Nước và mẩu vụn, Đũa, Pachinko, Nhà ga, Gói, Ba lối viết, Món ăn giải trung tâm, Tri giác/Vô tri giác, Trong/Ngoài, Cúi chào, Bẻ khóa nghĩa, Miễn nghĩa, Phụ tiết, Hiệu văn phòng phẩm, Lối viết bằng bạo lực, Buồng ký hiệu… Những từ khóa chính được đề cập trong sách có thể kể đến là: bộ mã, rỗng và đầy, đi và viết.

Roland Barthes – tác giả của Đế chế ký hiệu – là nhà ký hiệu học, nhà hậu cấu trúc luận, nhà phê bình văn học nổi tiếng người Pháp. Đế chế ký hiệu được Roland Barthes sáng tác sau chuyến đi Nhật dài ngày theo lời mời của nhà văn Maurice Pinguet – lúc bấy giờ đang giữ chức vụ là giám đốc Viện Pháp-Nhật ở Tokyo.

Đế chế ký hiệu không chỉ là một bức tranh độc đáo về xã hội Nhật Bản mà còn là áng văn xuôi mang vẻ đẹp của văn chương đích thực, giúp độc giả có thể tận hưởng được niềm hân hoan khi chìm đắm trong những dòng suy tư sâu sắc của Roland Barthes. Hãy thử đọc cách ông miêu tả về món tempura, ta sẽ cảm nhận rõ sự hài hòa mĩ mãn khi trí tuệ và cảm xúc song hành với nhau trong một lối văn điêu luyện:

“Món tempura thoát khỏi ý nghĩa mà chúng ta thường gán cho món chiên, tức là sự nặng nề. Bột tìm lại ở đó bản chất của nó là thứ hoa đã được phân tán, hòa loãng, nhẹ nhõm đến mức thành sữa, chứ không còn là chất sệt; gặp dầu, thứ sữa vàng óng ánh ấy mỏng manh đến mức bao lấy mảnh thức ăn một cách không hoàn hảo, để lộ ra màu hồng của tôm, màu xanh của ớt, màu nâu của cà tím, qua đó tước đi của đồ chiên cái tạo nên món tẩm bột rán kiểu Tây, tức là vỏ, là bọc, là đặc.” (Khe)

Khi thưởng thức Đế chế ký hiệu, độc giả không cần phải đọc theo trình tự tuyến tính mà có thể linh hoạt chọn đọc bất kì phần nào trong sách; bởi lẽ, từng bài viết trong cuốn sách là một lát cắt đơn lẻ, vừa độc lập với cái chung và đồng thời vẫn thuộc về cái chung là đề tài văn hóa Nhật Bản. Tùy theo nền tảng tri thức của từng người, việc đón nhận những văn bản trong sách có thể nằm ở nhiều cấp độ khác nhau. Chính vì thế, để hiểu sâu hơn về tác phẩm này, trước khi lật những trang đầu tiên của sách, người đọc nên tìm hiểu một chút về cuộc đời Roland Barthes và những nét đặc trưng của văn hóa nước Nhật. Từ đó, độc giả sẽ có thể thưởng thức sách trong tinh thần phản biện, soi chiếu những luận điểm của tác giả dưới nhiều góc nhìn khác nhau.

Một trong những điểm độc đáo nhất của Đế chế ký hiệu có lẽ là việc nước Nhật được miêu tả trong sách không hoàn toàn là nước Nhật dựa trên thực tế; chính xác hơn, đó là nước Nhật trong trí tưởng tượng của Barthes. Điều này mở ra một không gian riêng để ông có thể tự do tái diễn giải lại nước Nhật theo góc nhìn cá nhân với những quan sát mới lạ, độc đáo, đúng như lời nhận xét của nhà văn Maurice Pinguet:

“Nước Nhật, nước Nhật ấy, nước Nhật của anh ấy – đối với Roland Barthes – là điều không tưởng của cái thèm muốn.”

Chính vì vậy, Đế chế ký hiệu có thể khiến người đọc cảm thấy những gì mình từng hiểu biết về nước Nhật hoàn toàn bị đảo ngược vì nước Nhật mà tác giả trình hiện trong sách hoàn toàn khác với nước Nhật trong những tác phẩm văn học, điện ảnh do chính người Nhật sáng tạo. Tinh thần lạ hóa này có thể truyền nhiều cảm hứng cho các độc giả đang muốn viết văn, hoặc sáng tạo nghệ thuật nói chung.

Thông qua tác phẩm Đế chế ký hiệu, Roland Barthes cho người đọc thấy một tấm gương rất đẹp về người lữ khách khi đặt chân đến đất nước xa lạ đã cố gắng quan sát mọi thứ một cách tinh tường bằng việc tôn trọng sự khác biệt. Đó cũng là tinh thần ta cần phải học hỏi trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay.

Hoàng Đức Nhiên

Đọc bài viết

Cafe sáng