Phía sau trang sách

Tôi đi tìm hiểu tác phẩm “Tuyết” của Orhan Pamuk

“Ừ, thế thì cứ loại trừ dân chúng, cấm cản họ, bắt họ phải im miệng. Bởi vì tinh hoa tiến bộ của châu Âu quan trọng hơn là dân chúng.” – Dostoevsky, ghi chép của “Anh Em Nhà Karamazov”.

Published

on

Thổ Nhĩ Kỳ có diện tích rất lớn, hơn bảy trăm tám chục ngàn kí lô mét vuông, trải rộng từ châu Âu sang châu Á, vì thế có nền văn hóa đặc biệt mang cả hai tính chất Á và Âu. Vào thế kỷ thứ chín, dòng họ Seljuk của dân Turk sống ở ngoại vi lãnh thổ Hồi giáo, phía Bắc của biển Caspian và biển Aral. Đến thế kỷ thứ 10, họ Seljuk bắt đầu lấn vào phía Đông của Anatolia, còn được gọi là Asia Minor hay Tiểu Á, dần dần biến vùng này xứ sở của các bộ lạc người Turk (Thổ Nhĩ Kỳ). Anatolia bao gồm phần lớn lãnh thổ của quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Sau trận chiến Manzikert năm 1071, họ Seljuk phát triển và trở nên vương quốc hùng mạnh bao gồm Trung Á, Ba Tư, Anatolia và Tây Nam của châu Á.

Năm 1243 trong khi tiếp tục bành trướng biên giới, quân đội Seljuk bị Mông Cổ đánh bại và suy yếu dần; cuối cùng rơi vào tay đế quốc Ottoman. Đế quốc Ottoman ngự trị 623 năm, hùng mạnh nhất vào thế kỷ 16 và thế kỷ 17, thường xuyên xung đột với Đế quốc và Giáo hội La Mã. Đang trên đà suy thoái, Ottoman ủng hộ Đức trong thế chiến thứ Nhất và hoàn toàn bị đánh bại. Lực lượng Đồng Minh cắt lực lượng Ottoman ra thành nhiều mảnh và chiếm đóng Istanbul. Mustafa Kemal Pasha dẫn đầu cuộc chiến tranh giải phóng Istanbul và dành độc lập, biến phần còn lại của Đế quốc Ottoman thành Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1923, Mustafa Kemal Pasha trở nên Tổng Thống của Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ, chủ trương tự do tôn giáo (secularism), mặc dù khoảng 99 phần trăm dân trong nước theo Hồi Giáo, đa số theo phái Sunni. Quốc hội tặng Mustafa Kemal Pasha tước hiệu Ataturk có nghĩa là người cha của dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1934.

Dân Thổ Nhĩ Kỳ đa số theo Hồi Giáo và phụ nữ thường dùng khăn choàng đầu để che mái tóc của họ. Khăn choàng đầu ngoài biểu hiện tôn giáo, đã trở thành một phong tục tập quán của phụ nữ thích trang phục kín đáo. Giới lãnh đạo trẻ tiếp nối Ataturk, trong nỗ lực “văn minh hóa” Thổ Nhĩ Kỳ bằng cách “Tây phương hóa,” đã xem khăn choàng đầu của phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ là dấu hiệu của sự lạc hậu nên tìm đủ mọi cách để hủy bỏ cách trang phục này. Hệ thống giáo dục thuộc về quyền quản trị của chính phủ vì thế các nữ sinh nếu muốn được vào trường học phải từ bỏ khăn choàng đầu.

*

Orhan Pamuk sinh ngày 7 tháng Sáu năm 1952 ở Istanbul. Ông dạy văn và phê bình văn học, môn Comparative Literature, xin tạm gọi là Văn học So sánh, ở Đại học Columbia (Hoa Kỳ). Ông là nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ đầu tiên được trao giải Nobel Văn chương năm 2006. Tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn 50 ngôn ngữ trên thế giới, tổng số sách bán được hơn 7 triệu cuốn.

Ông mơ ước làm họa sĩ, nhưng để có thể kiếm sống, ông theo học ngành kiến trúc vì bộ môn này gần với giấc mơ làm họa sĩ của ông. Tuy nhiên, sau ba năm học ngành kiến trúc ông bỏ ngành này để theo đuổi sự nghiệp văn chương. Trong văn chương, quá khứ hội họa của ông được thể hiện bằng cách ông dùng màu đặt tên cho tác phẩm. Kinh nghiệm kiến trúc của ông được mang vào tác phẩm qua những miêu tả và nhận xét về những kiến trúc cổ mà Thổ Nhĩ Kỳ đã thừa hưởng từ những nền văn minh lâu đời nhất của Hy Lạp và La Mã. Ông tốt nghiệp ngành báo chí ở Đại học Istanbul năm 1976. Để theo đuổi sự nghiệp văn chương ông đã phải sống nhờ vào mẹ từ năm ông 22 cho đến 30 tuổi. Tháng Ba năm 1982, Pamuk kết hôn với Aylin Turegun một nhà sử học. Năm 1985 cho đến năm 1988, trong khi vợ ông đang theo học cao học ở đại học Columbia, ông nhận làm Giáo sư thỉnh giảng ở đại học này, cùng lúc ông nghiên cứu và thu thập tài liệu để viết quyển The Black Book (Quyển sách đen). Vào thời điểm này ông cũng được mời dạy ở Đại học Iowa. Năm 1991 hôn nhân của ông tan rã. Ông có một con gái đặt tên Ruya (có nghĩa là giấc mơ).

Tháng Hai năm 2005 trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí Das Magazin Thụy Sĩ, nhà văn Pamuk đã nhắc đến hơn ba chục ngàn người Kurd và cả triệu người Armenian đã bị người Thổ Nhĩ Kỳ thảm sát, vì thế ông bị truy tố tội nhục mạ quân đội và bản chất của người Thỗ Nhỉ Kỳ. Ngày 29 tháng Mười Hai năm 2005 công tố viện hủy bỏ vụ truy tố tội hạ nhục quân đội nhưng vẫn giữ tội mạ lị bản chất dân tộc. Sách của ông bị đốt và người ta tổ chức biểu tình nhục mạ và đả kích ông. Vì vậy, ông quay lại Hoa kỳ đi dạy ở đại học Columbia. Hiện nay Pamuk đang ở trong Committee on Global Thought (Hội Đồng Ý Thức Quốc tế) và có chân trong Columbia’s Middle East and Asian Languages and Cultures Department (Ban Ngôn Ngữ và Văn Hóa Trung Đông và Á Châu của đại học Columbia).

Tác phẩm mới nhất của Pamuk The Museum of Innocence (Bảo tàng ngây thơ) đã phát hành ngày 29 tháng Tám năm 2008. Bản dịch tiếng Đức ra mắt trước khi bắt đầu Hội chợ Sách Frankfurt năm 2008. Pamuk triển lãm bộ sưu tập những vật dụng trong cuộc đời viết văn của ông trong một căn nhà của ông ở Istanbul.

Orhan Pamuk được nhiều giải thưởng trong đó có giải văn học Madarali năm 1984 cho tác phẩm The Silent House (Căn nhà im ắng), La Découverte Européenne năm 1991 cho bản tiếng Pháp của quyển này. The White Castle (Lâu đài trắng) xuất bản năm 1985 bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ được trao giải thưởng văn học ngoại quốc Independent Award năm 1990. Năm 1990 quyển The Black Book trở nên nổi tiếng và tạo ra nhiều cuộc tranh luận trong giới văn học Thổ Nhĩ Kỳ bởi vì tính chất phong phú và đa dạng của nó. Pamuk trở nên nhà văn có sách bán chạy nhất và gây ra nhiều sôi nổi trong dư luận khi năm 1985 ông xuất bản The New Life (Cuộc đời mới). Vào thời điểm này Pamuk trở nên rất danh tiếng bởi vì ông công khai bênh vực và đòi quyền sống cho người Kurd. Năm 1995 Pamuk và một nhóm nhà văn bị truy tố vì đã viết những bài tiểu luận phê phán chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đã ngược đãi dân Kurd. Năm 1999 Pamuk xuất bản tập tiểu luận Other Colors (Những màu sắc khác). Pamuk trở nên nổi tiếng trên văn đàn thế giới sau khi ông xuất bản My Name Is Red (Tên tôi là Đỏ) năm 2000. Quyển này được dịch ra 24 ngôn ngữ trên thế giới và đã mang lại giải thưởng quốc tế IMPAC Dublin năm 2003. Năm 2005 Orhan Pamuk được trao giải Hòa Bình Thương Trường Sách của người Đức (Peace Prize of German Book Trade). Tháng Mười năm 2006 Orhan Pamuk được trao giải Nobel Văn chương.

*

Tác phẩm của Pamuk thường nói lên sự xung đột về văn hóa giữa Tây phương và Đông phương, trong đó tôn giáo là trọng điểm. Quyển Tên tôi là Đỏ và Tuyết là thí dụ điển hình. Nhà thơ Sonia Sanchez trong một bài thơ đã quan niệm, người viết văn làm thơ là những nhà chính trị. Hoặc là họ làm thinh chấp nhận chế độ họ đang sống. Hoặc là họ cất tiếng nói để thay đổi xã hội. Văn học thường phản ảnh đời sống của một quốc gia. Muốn biết đời sống của quốc gia nào cứ đọc văn học của quốc gia ấy. Tác phẩm của Orhan Pamuk phản ảnh đời sống của Thổ Nhĩ Kỳ và Orhan Pamuk là nhà văn có tham vọng thay đổi quan điểm chính trị không chỉ giới hạn trong phạm vi Thổ Nhĩ Kỳ, mà còn ở tầm mức thế giới, đặc biệt là châu Âu, đã áp đặt lên quốc gia của ông.

Thổ Nhĩ Kỳ có vị trí đặc biệt, diện tích trải rộng từ Âu sang Á, cách nhau chỉ bởi eo biển hẹp tên là Bosporus Strait, nên có nền văn hóa rất đặc thù, một sự kết hợp giữa Đông Tây rất màu sắc và phong phú. Thủ đô Istanbul ở miền Tây Bắc của Thổ Nhĩ Kỳ, là một thành phố giàu có thịnh vượng nằm trên phần đất của châu Âu. Kars, ở Đông Bắc của Thổ Nhĩ Kỳ, nằm trên châu Á, giáp ranh với Georgia, ngày xưa đã từng là một trung tâm thương mại giàu có, nơi Nga và Armenia, buôn bán trao đổi hàng hóa. Nga hoàng Alexander, tương truyền, đã từng dùng Kars làm nơi rendez-vous với tình nhân. Các nhà chính trị của Nga đã trốn qua ở Kars để tránh bị đi lưu đày ở Siberia (Tây Bá Lợi Á).

Ngày nay, Kars là một nơi điêu tàn nghèo khó, có tỉ lệ thất nghiệp rất cao. Thành phố vẫn còn rất đẹp, mặc dù những kiến trúc cổ đã bắt đầu suy tàn. Một trong những nguyên do làm cho Kars trở nên suy thoái về kinh tế và tài chính là vì lực lượng du kích của dân Kurds thường hay về làng để tìm người gia nhập đạo quân của họ và thu thập lương thực. Điều này làm người ta sợ không dám đầu tư kinh tế vào Kars. Đa số người đến Kars là nông dân trong các làng mạc xa đến Kars để buôn bán ban ngày và trở về làng khi trời tối. Còn lại là các cô điếm từ Georgia và Nga ban ngày phục vụ khách và tối tối mò đến các ba bán rượu. Trong phố có vài tiệm cà phê (tea house) mà đàn ông địa phương tụ tập suốt ngày để đánh cờ, trò chuyện giết thì giờ, và cũng để trốn cái lạnh ở nhà của họ. Kars cũng có một trường Hồi Giáo dành cho trẻ em trai. Theo Hồi Giáo, trẻ em trai đến tuổi mười một hay mười hai phải gia nhập các trường Hồi Giáo để học tập các nghi lễ về tôn giáo. Ở mức độ cực đoan, Taliban (Afghanistan) đã dùng những trường tôn giáo như thế này để huấn luyện quân sự và chính trị cho trẻ em trở thành những cảm tử quân. Chính quyền luôn luôn lo sợ các giáo sinh Hồi giáo nổi loạn nên khi có biến động trường hồi giáo thường bị ruồng xét và bắt bớ.

Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, kar có nghĩa là tuyết. Ka, nhân vật chính của quyển Tuyết, từ Istanbul đến Kars, thành phố mang tên Tuyết, nổi tiếng có thời tiết khắc nghiệt; anh ở Kars chỉ có ba ngày khi thành phố này chìm ngập trong cơn bão tuyết. Ka, như một cánh hoa tuyết ở trong một thành phố tên Tuyết nằm trong cơn bão tuyết. Orhan Pamuk trong bài tiểu luận From the Snow in Kars Notebooks đã cho biết dụng ý của ông là dùng tuyết che lấp tất cả những dấu vết đặc thù của Kars để ông có thể biến Kars thành một thành phố tổng quát chuyên chở những hình ảnh sáng tạo của ông. Kars cũng có thể là bất cứ thành phố nào tượng trưng cho Thổ Nhĩ Kỳ nơi đó Ka nhìn thấy sự xung đột Đông Tây trong chính cá nhân, của người trong quốc gia, và của quốc gia với châu Âu. Đứng về hàng ngũ Tây phương là châu Âu, Frankfurt, Istanbul (phần nằm trên địa phận châu Âu của Thổ Nhĩ Kỳ), và Ka. Đứng về hàng ngũ Đông phương là phần lớn còn lại của Thổ Nhĩ Kỳ thuộc về châu Á, Kars, và tất cả những người dân (đa số là Hồi giáo và một thiểu số Kurd) ở trong Kars.

Cảnh báo: Nội dung dưới đây tiết lộ phần lớn nội dung tác phẩm.

Ka, là nhà thơ, bốn mươi hai tuổi, đẹp trai, tính nhạy cảm đến độ hay khóc. Trong ba ngày ở Kars, anh đã khóc rất nhiều lần, ngay cả vừa đi vừa khóc trên đường phố. Ka sống lưu vong mười hai năm ở Đức, từ Frankfurt trở về Istanbul, rồi từ Istanbul đi đến Kars, đây là một cuộc hành trình đi từ Tây sang Đông, từ châu Âu sang châu Á. Trong cuộc hành trình này, qua Ka, độc giả sẽ nhìn thấy sự xung đột văn hóa và tôn giáo giữa Đông và Tây.

Tên thật của Ka là Kerim Alakuşoğlu. Anh không thích tên này nên bảo mọi người gọi mình là Ka. Orhan Pamuk trong bài tiểu luận In Kars and Frankfurt in trong quyển Other Colors viết năm 2005, đã giới thiệu về nhân vật của mình như sau: “Anh ta không màng đến chính trị, anh ta cũng chẳng thích chính trị; suốt đời anh chỉ yêu thơ. Nhân vật của tôi là một nhà thơ sống ở Frankfurt. Anh ta nhìn chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ như người ta nhìn thấy một tai nạn – đó là một chuyện mà anh ta tình cờ mà bị liên lụy.” Mẹ anh mới vừa mất nên anh về Istanbul làm đám tang cho mẹ. Qua lời của Taner, người bạn phụ trách tờ báo Republican ở Istanbul, Ka biết Ipek, cô bạn gái rất đẹp mà anh đã thầm yêu từ ngày còn ở đại học chưa kịp tỏ tình thì cô đã lấy chồng, vừa mới ly dị và hiện đang ở Kars. Theo lời của Taner, Kars đang ở trong tình trạng biến động. Vị thị trưởng cũ của Kars vừa bị ám sát và sắp sửa có một cuộc bầu cử Thị trưởng mới. Ngoài ra có một hiện tượng đáng chú ý là ở thành phố này đang có dịch tự tử. Những người tự tử toàn là phụ nữ, có người đã lập gia đình, có người còn độc thân và tất cả đều rất trẻ. Taner cấp cho Ka một thẻ báo chí và đề nghị anh về Kars điều tra và viết một bài tường thuật về hai sự kiện này. Ở Frankfurt, Ka tuy biết tiếng Anh nhưng không biết tiếng Đức. Không hòa nhập được với xã hội Đức do bất đồng ngôn ngữ anh làm thơ để đối phó với sự im lặng và cô đơn. Và anh trở nên một nhà thơ nổi tiếng ở Đức. Rồi cũng chính sự im lặng và cô đơn này đã đưa Ka vào tình trạng bế tắc. Suốt bốn năm anh không làm được bài thơ nào. Ka có chủ ý sẽ tìm người để cưới làm vợ rồi đưa về Frankfurt sống. Ipek là lý do chính cho anh đến Kars. Ngoài ra Ka cũng hy vọng sẽ tìm được cảm hứng để làm thơ trở lại.

Ngay lập tức khi đến Kars, Ka đi phỏng vấn gia đình của các cô gái đã tự tử. Ka thu thập được nhiều lý do xem chừng như trái ngược với nhau. Có người cho là các cô tự tử vì không có hạnh phúc với chồng, vì gia đình chồng ngược đãi, vì cha mẹ cấm đoán không cho ra ngoài hay giao du với bạn bè, vì bị vu oan là mất trinh nên bị từ hôn, vì bị bắt phải cởi khăn che đầu và vì bị cấm đến trường. Khi Ka và Ipek hẹn gặp nhau ở một quán cà phê New Life Pastry gần khách sạn Snow Palace, nơi Ka ở do bố của Ipek làm chủ. Ở đây Ka chứng kiến Tiến Sĩ Nuri Yilmaz, Trưởng Viện Giáo Dục của Kars bị bắn và hôm sau ông ta chết. Người bắn là một người trong tổ chức Hồi giáo trẻ tuổi cực đoan. Với vai trò ký giả muốn thu thập tin tức về cuộc bầu cử sắp đến và tìm hiểu lý do gây ra dịch tự tử giữa một số phụ nữ trẻ tuổi ở Kars, Ka được gặp hầu hết các khuôn mặt có thế lực đặc biệt trong Kars và qua họ Ka khám phá ra rất nhiều vấn đề thời sự nóng bỏng không chỉ ảnh hưởng ở Kars mà còn ảnh hưởng đến nền chính trị của quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ. Muhtar Bey, chồng cũ của Ipek, đang ra tranh cử chức thị trưởng, đại diện cho Hồi giáo là đảng đối lập với chính quyền đương kim. Hiện Muhtar đang thắng thế. Việc ông trưởng viện Giáo dục bị ám sát là lý do để chính quyền của Kars bắt nhốt, đánh đập tra tấn nhiều người bị xem là đối lập với chính quyền, trong đó có Muhtar. Pamuk nhận thấy chừng như Muhtar đã quá quen thuộc với chuyện bị bắt bớ đánh đập nên ông ta không có vẻ gì ngạc nhiên. Muhtar xem như chuyện bị chính quyền đánh đập là một cái giá phải trả để được có tiếng nói đại diện cho những người Hồi giáo bị đàn áp. Orhan Pamuk quan niệm cách tốt nhất để hiểu biết đời sống trong một thành phố là đi bộ tham quan thành phố đó. Trong tác phẩm Tên tôi là Đỏ Pamuk đã cho nhân vật của ông đi vòng quanh Istanbul. Trong Tuyết, Pamuk cho Ka đi hết những ngõ ngách hoang phế nghèo nàn nhất của Kars, nơi mà tất cả mọi người trong Kars muốn lãng quên và trên thế giới không ai biết đến. Trong lúc đi bộ vòng quanh thành phố, Ka được Necip, một học sinh của trường Hồi giáo, kết bạn và Necip dàn xếp đưa Ka bến gặp Blue. Blue, có nghĩa là Xanh, là một biểu tượng rất quan trọng trong Hồi Giáo. Đền thờ Sultan Ahmed là một trong những đền thờ lớn nhất, nổi tiếng nhất, lâu đời nhất trong lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ được gọi là Blue Mosque, hay Đền Thờ Xanh. Sở dĩ đền thờ Sultan Ahmed được gọi là đền thờ Xanh là vì tường của đền thờ được ghép rất nhiều gạch men màu xanh thành những hình hoa văn. Vào thế kỷ 14 Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng trên thế giới về việc xuất cảng cobalt một loại khoáng chất màu xanh. Nghệ nhân Việt Nam ở Chu Đậu đã dùng đá màu này trang trí đồ gốm sứ bằng những hoa văn màu xanh lam được mệnh danh là gốm sứ Chu Đậu. Ngoài ra Thổ Nhĩ Kỳ còn có một loại đá xanh đặc biệt họ đã gọi là Turquoise, có nghĩa là đá màu xanh của Thổ Nhĩ Kỳ.

Blue, là một thanh niên có đôi mắt xanh thẫm, màu của đêm sâu, đẹp trai đến độ anh chinh phục được rất nhiều trái tim người đẹp trong đó có cả hai chị em Ipek và Kadife. Người ta đồn là Blue là người cố vấn tư tưởng cho các cô gái đã tự tử. Kadife là em của Ipek, là một cô gái có cá tính rất mạnh. Cô là một cô gái theo Tây phương nên không theo chủ trương phải che dấu mái tóc của mình. Tuy nhiên có một lần bị thách thức nên cô dùng khăn choàng đầu và từ đó bị giới cầm quyền của Kars quấy nhiễu đến độ cô trở nên chống đối và thách thức chính quyền. Kể từ khi dùng khăn choàng đầu, với nhan sắc lộng lẫy, Kadife trở nên thần tượng của giới trai trẻ học sinh trong trường Hồi Giáo, và cô là thủ lĩnh của đám nữ sinh tranh đấu để được quyền choàng khăn. Theo lời của Ka, Ipek còn đẹp hơn Kadife nhiều lần. Blue là kỹ sư điện tử tốt nghiệp đại học ở Hamburg Đức. Blue có một lịch sử chính trị khá lẫy lừng. Người ta đồn là anh đã giết chết một người đồng tính luyến ái, hướng dẫn viên của một chương trình truyền hình, ăn mặc hào nhoáng lố lăng vì người này đã nói những lời bị xem là nhục mạ giáo chủ của Hồi Giáo. Blue có tài ăn nói rất thuyết phục. Blue nói rằng tuy là anh chủ trương dùng bạo động để tiêu diệt kẻ thù của Hồi giáo anh chưa hề giết người bao giờ. Hiện nay Blue được tôn làm người lãnh đạo của thanh niên Hồi Giáo ở Kars. Chính quyền tin là Blue là người điều động việc ám sát Trưởng Viện Giáo Dục vì ông ta đã cấm không cho các cô gái choàng khăn che đầu vào trường học, và đã gây căm phẫn đến độ Teslime tự tử chết. Nhà cầm quyền tìm cách bắt giam Blue bởi vì tin rằng anh có khả năng lãnh đạo nhóm sinh viên Hồi giáo để chống chính quyền.

Ở Kars, báo chí là công cụ của chính quyền. Để kiểm soát và điều động dân làm theo ý của chính quyền, báo chí thường loan tin trước khi sự kiện thật sự xảy ra. Thí dụ như Ka được biết là anh sẽ đọc một bài thơ có tựa đề là Tuyết dù anh chưa sáng tác bài thơ này. Cũng trong buổi đọc thơ này sẽ có một màn kịch được chính quyền hỗ trợ. Đây là một vở kịch có dụng ý tuyên truyền khuyến khích các cô gái từ bỏ khăn choàng đầu. Trong vở kịch có một cô gái có lối sống Tây phương. Để phát biểu quyền tự do chọn lựa cá nhân cô từ bỏ khăn choàng đầu. Những người Hồi giáo quá khích đe dọa sẽ cưỡng hiếp cô và khi họ tấn công, chính quyền đến giải cứu cô kịp lúc. Cô gái lột khăn để xõa mái tóc đẹp và tuyên bố sẽ không bao giờ dùng khăn che tóc nữa. Vở kịch này được trình diễn hằng năm và những nam sinh Hồi giáo thường la ó phản đối nhưng họ vẫn đến xem trong một ngày bão tuyết mịt mù vì họ chẳng có gì để giải trí. Cũng trong đêm diễn kịch này, khi một đám học sinh Hồi Giáo phản đối, Z Dermikol, một cựu đảng viên Cộng sản, bạn của Sunay Zaim, diễn viên chính của buổi trình diễn, đã cho lệnh nã súng vào đám nam sinh Hồi giáo giết chết một số người trong đó có Necip, một học sinh Hồi giáo hiền lành, mơ làm nhà văn, và thầm yêu Kadife.

Sunay Zaim là một diễn viên nhiều tham vọng. Ông ta đã thủ vai nhiều lãnh tụ khét tiếng như Napoleon và Lenin. Tham vọng của Sunay là được đóng vai Ataturk (có nghĩa là người cha của dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ) nhưng cho đến nay mơ ước ấy vẫn không thành và tên tuổi của Sunay Zaim chưa được vào lịch sử. Ngay trong đêm ấy có một cuộc đảo chính. Bạn của Sunay Zaim là Z Demirkol và Thiếu tá Osman Nuri Çolak, một sĩ quan đã về hưu, nhân cơ hội thành phố Kars bị bão tuyết nặng nề tất cả những con đường giao thông đến Kars đều bị ngăn cấm, làm một cuộc đảo chính để cướp quyền hành, dùng quân đội khống chế tất cả mọi người. Cũng trong đêm ấy nhóm đảo chính tấn công trường Hồi Giáo giết học sinh, tấn công một vài trụ sở của người Kurd tịch thu tài liệu, bắt một nhà văn người Kurd đi trong đêm và bắn ông ta chết.

Blue phản đối hành động giết người này và muốn gửi lời tuyên ngôn của mình ra nước ngoài. Ka nói có thể gửi lời tuyên ngôn này đến một tờ báo ở Đức nhưng để lời tuyên ngôn có giá trị bài tuyên ngôn này phải cùng là tiếng nói của những nhóm đối lập và đại diện của dân chúng ở Kars; và anh đề nghị Blue cùng ký tên với một người trưởng nhóm du kích Kurd và một người đảng viên đảng Cộng sản đã về hưu. Turgut Bey, bố của Ipek và Kadife, nguyên trước đây là đảng viên đảng Cộng sản, ký tên vào bản tuyên ngôn này. Blue vì phải xuất hiện trước công chúng để ký lá thư nên bị bắt và Sunay Zaim làm áp lực với Kadife vốn là người tình bí mật của Blue; để cứu Blue, Kadife phải cùng đóng với Sunay Zaim vở kịch The Spanish Tragedy của Thomas Kyd trong đó Sunay Zaim đã thay đổi kết thúc của vở kịch dựa vào vở kịch The Good Woman of Szechuan của Brecht. Trong vở kịch này Kadife phải cởi khăn choàng đầu để lộ bộ tóc nâu rất đẹp của mình và tuyên bố từ bỏ khăn choàng. Nếu Kadife không muốn để lộ mái tóc cô có thể dùng tóc giả. Để cứu Blue Kadife nhận lời diễn kịch nhưng không hứa là sẽ cởi khăn. Và điều kiện của Kadife là Blue phải được thả ra. Tuy nhiên ông diễn viên nghiện rượu hết thời này, có tham vọng muốn vở kịch này sẽ làm danh tiếng của ông ta sống mãi với thời gian nên đã dùng thủ đoạn dấu đạn thật vào súng. Trong vở kịch ông đã đẩy Kadife đến mức đường cùng hoặc là phải cởi khăn choàng đầu hoặc là phải tự tử để bảo vệ danh dự nhưng không cho biết là có đạn trong súng.

Ka là người đứng trung gian trong cuộc thương lượng của Sunay Zaim và Kadife đồng thời thuyết phục Blue đồng ý để Kadife cởi khăn choàng trong vở kịch để giải thoát cho Blue. Khi Kadife bắt đầu vở kịch khi Blue đã được thả và đã đến nơi ẩn náu an toàn. Ka chuẩn bị đưa Ipek ra khỏi Kars về Frankfurt để sống với anh. Khi Ka nói với Blue điều này bỗng nhiên Blue đổi ý và không đồng ý cho Kadife cởi khăn choàng. Khi Ka trao lại tin này với người của Sunay Zaim anh được thông báo cho biết Ipek có một thời đã là người tình của Blue. Trong cơn ghen tột độ anh tiết lộ chỗ trú ẩn của Blue và vì thế Blue cùng với Hande, một người tình mới cũng là bạn của Kadife, bị giết chết.

Trong cơn đau đớn tột độ vì nhận tin cái chết của người yêu cũng là lúc biết mình bị người yêu phản bội, Kadife bắn chết Sunay Zaim bằng cây súng do ông ta đã nạp đạn sẵn. Sunay Zaim đã tự dàn xếp cho cái chết của mình vì ông ta nghĩ cái chết sẽ làm tên tuổi của ông ta tồn tại “biến nghệ thuật thành huyền thoại.” Ông ta đã bắt tờ báo địa phương phải loan tin trước là ông ta sẽ chết trong vở kịch.

Trong lúc Kadife đau đớn vì cái chết của Blue, Ipek cũng đoán được là Ka vì ghen nên đã tố cáo với chính quyền chỗ trốn của Ka và vì thế Ipek từ chối không về Đức với Ka. Ka bị chính quyền bắt buộc rời Kars khi chuyến tàu hỏa đầu tiên rời khỏi nhà ga sau ba ngày tuyết phủ. Anh sống trong nỗi tuyệt vọng vì thương nhớ Ipek nhưng không dám trở về Kars vì sợ bị trả thù. Tuy nhiên bốn năm sau anh bị một nhóm Kurd, Hồi giáo trẻ cực đoan ở Đức, bắn chết để trả thù cho cái chết của Blue.

*

Trong tác phẩm Tuyết, sự xung đột Đông và Tây được biểu hiện qua sự xung đột của quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ với châu Âu. Đã rất nhiều năm Thổ Nhĩ Kỳ cố gắng tham gia Liên Minh châu Âu (European Union). Trong khi rất nhiều quốc gia Cộng sản đã lần lượt được kết hợp vào Liên Minh châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn là người ngoại cuộc đang chờ cứu xét. Sự xung đột của châu Âu với Thổ Nhĩ Kỳ là một sự xung đột lâu đời, cũng lâu đời như lịch sử xung đột của Việt Nam và Trung Quốc! Từ thời văn minh cổ đã có những trận giao tranh đẫm máu giữa Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ và các nước châu Âu đặc biệt là La Mã, Pháp và Anh kéo dài bao nhiêu thế kỷ vì lý do tôn giáo. Trong lịch sử cận đại Thổ Nhĩ Kỳ là đồng minh của Đức trong thế chiến thứ Nhất và sự đồng minh này đã đưa đến sự sụp đổ của đế quốc Ottoman. Thổ Nhĩ Kỳ đã áp dụng chính sách thanh lọc chủng tộc giống như Đức để giết hơn ba mươi ngàn người Kurd và hơn một triệu rưỡi người Armenian. Cuộc thảm sát này được châu Âu mệnh danh là Holocaust của Armenia. Một trong những lý do châu Âu dùng để ngăn chận không cho Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập Liên Minh châu Âu là Thổ Nhĩ Kỳ vi phạm nhân quyền rất trầm trọng. Vào những năm 70, báo chí Thổ Nhĩ Kỳ bớt kềm chế nên một số nhà văn đã viết bài đả kích chính quyền đàn áp người Kurd. Đến thập niên 80, có rất nhiều người trong giới báo chí, văn học, dịch thuật bị bắt đi tù vì những bài viết này. Kurd là một nhóm người thiểu số kết hợp chừng hai mươi phần trăm dân số Thổ Nhĩ Kỳ. Vào những năm 40, nhóm người thiểu số này đã bị đàn áp, cấm không được dùng ngôn ngữ, trang phục, và ngay cả dân ca của họ. Ka là một trong những người bị lưu đày mặc dù bài của anh không chỉ trích chính quyền trầm trọng. Trong quyển Tuyết, nhiều lần Ka đã nhắc đến việc Thổ Nhĩ Kỳ đã thảm sát người Armenian khi người Nga rút ra khỏi địa phận Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1915. Tuy chuyện đã thuộc về quá khứ, cho đến nay chính quyền vẫn cấm báo chí không cho phép nhắc đến và giả vờ như chuyện chưa bao giờ xảy ra. Đoạn văn sau đây là lúc Ka ngồi quán cà phê nói chuyện với Ipek:

“Ngay sau đó họ nói về chính cái tiệm bánh mà họ đang ngồi. Nó là một nhà thờ Orthodox cho đến năm 1967, khi người ta tháo cánh cửa nhà thờ để mang vào viện bảo tàng. Một phần của viện bảo tàng này được dùng để tưởng niệm cuộc thảm sát người Armenia (rất tự nhiên, nàng nói, có vài du khách đến đấy với dự tính là xem những dấu vết về sự thảm sát người Thổ Nhĩ Kỳ bởi người Armenia, và giật mình khi khám phá sự thật ngược lại với sự hiểu biết của họ).”

Orhan Pamuk vạch ra, chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ cần phải sửa đổi việc vi phạm quyền tự do ngôn luận và đàn áp người dân thiểu số nếu muốn gia nhập Liên Minh châu Âu. Thổ Nhĩ Kỳ luôn luôn đứng bên ngoài một trung tâm thương mại, muốn tiến bộ giàu có nhưng không biết phải làm gì. Có tài nguyên nhưng không có kỹ thuật tân tiến để khai thác. Bán tài nguyên cho ngoại quốc thì sẽ bị ăn phỗng tay trên. Kinh tế nghèo khó cùng với sự đàn áp quá độ đã đưa đến chỗ người dân Kurd phản kháng và nổi loạn.

Khi phát biểu về sự thảm sát người Armenia, và bênh vực người Kurd bị đàn áp ở Thổ Nhĩ Kỳ, Pamuk gia nhập hàng ngũ với Kenzaburo Oe, văn hào Nobel năm 1994 và J.M. Coetzee, văn hào Nobel năm 2003. Kenzaburo Oe đã nói về việc quân đội Nhật Bản bức tử dân Nhật và J.M. Coetzee đã phát biểu việc người Nam Phi bị đàn áp. Các văn hào này là những giọng nói hùng mạnh của giới văn học đã bênh vực nhân quyền trong đó có quyền tự do ngôn luận. Họ cũng đã dùng tiếng nói của mình để nói với thế giới thay cho những người không thể nói và không có điều kiện để phát biểu ý kiến.

*

Sự xung đột Đông và Tây trong phạm vi quốc gia được thể hiện qua biểu tượng chiếc khăn choàng đầu của phụ nữ Hồi giáo. Vào đầu những năm 1920, theo trào lưu châu Âu, Ataturk áp dụng chủ nghĩa secularism (tự điển dịch là chủ nghĩa thế tục). Các nhân vật trong quyển Tuyết, đặc biệt là các nam sinh Hồi Giáo như Necip, Fazil, và tên sát nhân đã bắn ông trưởng Viện giáo dục, thường nhập nhằng giữa secularism với atheism (chủ nghĩa vô thần). Đa số quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đều theo secularism, tôi vẫn hiểu là tự do tôn giáo, không áp đặt bất cứ tôn giáo nào làm tôn giáo của quốc gia. Tuy nhiên Hồi giáo chiếm 99 phần trăm tổng số dân số Thổ Nhĩ Kỳ. Và có lẽ những thù hằn dây dưa bắt nguồn từ thời Thập Tự viễn chinh, người Thổ Nhĩ Kỳ đã trút thù hằn này lên những người Armenia là những người theo Thiên chúa giáo. Kế vị Ataturk là những nhà lãnh đạo trẻ tuổi rất ngưỡng một nền văn hóa châu Âu thúc đẩy sâu xa hơn việc châu Âu hóa Thổ Nhĩ Kỳ. Các nhà lãnh đạo này xem việc dùng khăn choàng đầu là lạc hậu do đó cấm phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ không được dùng khăn choàng đầu khi đặt chân lên đất đai tài sản của chính quyền. Đối với người Hồi giáo, bị tước đoạt quyền dùng khăn choàng đầu là một hành động khống chế của secularism, bị xem là hậu thân của những người theo Thiên Chúa giáo.

Phụ nữ và chiếc khăn choàng đầu trở nên một quả banh quần vợt bị tung hứng trên mặt trận dàn ra bởi chính quyền mệnh danh là tự do tôn giáo và các lãnh tụ Hồi giáo. Khăn choàng đầu của phụ nữ không chỉ là trang phục, mà còn là biểu tượng tôn giáo và phong tục của phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ. Người phụ nữ Hồi giáo, để được đến trường, và để cuộc sống của người thân không bị đảo lộn, phải từ bỏ khăn choàng đầu. Họ phải trả lời đối diện với sự trừng phạt của các người lãnh đạo tôn giáo. Sự trừng phạt đôi khi là sự đánh đập và hãm hiếp. Cả hai bên đều không muốn nhận trách nhiệm trong việc đã dằng co và đưa đẩy các cô nữ sinh Hồi giáo đến chỗ tự tử chỉ vì các cô muốn có quyền được dùng khăn choàng đầu. Pamuk đã xây dựng Kadife, một nhân vật nữ có cá tính và năng khiếu lãnh đạo. Kadife đã tranh luận về lý do những người phụ nữ Hồi giáo tự tử như sau:

“Tôi xin cô vui lòng giải thích tại sao cô muốn tự tử?” Sunay nói.

“Đây không phải là một câu hỏi ai cũng có thể trả lời,” Kadife nói.

“Cô nói thế là có ý gì?”

“Nếu một người biết chính xác tại sao cô ta tự tử và có thể phát biểu lý do của mình một cách công khai, cô ta sẽ không cần tự tử,” Kadife nói.

“Không! Không phải thế,” Sunay nói. “Có người tự tử vì yêu; có người giết người vì họ không chịu được sự đánh đập của chồng nữa, hay bởi vì sự nghèo khó đã xuyên thấu xương họ như một mũi dao.”

“Ông có cái nhìn về cuộc đời đơn giản quá mức.” Kadife đáp lại. “Một người phụ nữ muốn tự tử vì tình yêu vẫn biết nếu cô ta chờ ít lâu tình yêu của cô sẽ phai tàn. Nghèo khó cũng không phải là lý do chính đáng để tự tử. Và một người phụ nữ không cần phải tự tử để trốn tránh ông chồng vũ phu; cô ta chỉ cần ăn cắp tiền của hắn và bỏ hắn.”

“Thế thì, lý do thật sự là gì?”

“Lý do chính một người phụ nữ tự tử là vì cô ta muốn bảo toàn danh dự. Ít ra đó cũng là lý do mà đa số phụ nữ đã tự tử.”

“Cô có ý nói là họ bị người yêu hạ nhục?”

“Ông chẳng hiểu biết chút nào!” Kadife nói. “Một người phụ nữ không tự tử vì cô ta mất danh dự, cô tự tử vì muốn phô trương cái danh dự của cô ta.”

*

Sự xung đột Đông Tây ở mức độ cá nhân được Pamuk thể hiện qua cách chọn lựa hạnh phúc cá nhân hay an toàn cho gia đình và xã hội. Ka, lớn lên ở Istanbul, một thành phố mang tính chất văn hóa Âu châu, và sống lâu năm ở Frankfurt, một thành phố châu Âu. Lẽ ra anh có thể hòa nhập trong xã hội châu Âu nhưng trái lại anh rất cô đơn lạc lõng trong xã hội Tây phương. Làm một cuộc hành trình từ Tây sang Đông, từ Âu sang Á, anh nghĩ là ở Kars anh sẽ tìm thấy mình và sẽ tìm thấy hạnh phúc. Ở Kars, giữa những người Hồi giáo Ka càng hoang mang không biết mình là ai, không biết mình muốn gì. Trong cơn say túy lúy anh hôn tay của sheikh Efendi nhưng vẫn không thấy mình hòa hợp với người Hồi giáo. Mọi giá trị về văn hóa và tôn giáo mà anh tự thiết lập lúc ban đầu bỗng lung lay. Ở Frankfurt hay ở Kars, Ka luôn là người ngoại cuộc đi tìm một nơi thích hợp cho mình. Khi còn ở nước ngoài Ka định nghĩa hạnh phúc là viết ra được những câu thơ và có người yêu mình. Khi về đến Kars hạnh phúc được anh định nghĩa như sau trên trang 325:

“Hạnh phúc là tìm một thế giới khác để mà sống, một thế giới mà anh có thể quên hết nghèo khó và những kẻ độc tài. Hạnh phúc là có ai đó trong vòng tay và biết rằng mình đang ôm cả thế giới.”

Sau đây là nhận xét về Ka của Z Demirkol, viết văn, làm thơ, nhà báo, đã từng theo chế độ Cộng sản, và là một trong những nhà quân sự đã làm cuộc đảo chính ở Kars.

“Những người trí thức như ông không biết mình muốn cái gì, điều này làm tôi phát ốm. Anh nói anh thích có dân chủ, thế rồi anh lại theo phe với những người Hồi giáo cực đoan. Anh nói anh muốn có nhân quyền, xong rồi anh đi thương lượng với đám khủng bố giết người. Anh nói Âu châu là giải pháp rồi anh lại đi vòng vòng nịnh bợ các người Hồi giáo ghét bất cứ những gì là biểu tượng của châu Âu. Anh nói ủng hộ nữ quyền, thế rồi anh giúp đám đàn ông quấn khăn lên đầu vợ con của họ.”

*

Tiểu thuyết của Orhan Pamuk rất đa dạng, phong phú và rất nhiều ẩn dụ. Tác giả mở đầu câu truyện bằng một vụ giết người. Rồi sau đó cứ vài chương ông cho thêm một vụ giết người nữa, và càng về sau càng nhiều người bị giết. Tương tự Doris Lessing, văn hào Nobel năm 2007, trong quyển Cỏ hát (The Grass is Singing) ông cho biết thủ phạm giết chết nhân vật ngay trong những trang đầu, và những cái chết về sau như cái chết của Necip và Sunay Zaim được báo trước như thể tác giả không muốn độc giả phí thì giờ đi tìm thủ phạm giết người. Biết được tên sát nhân rồi độc giả chú ý vào những xung đột từ nội tâm đến ngoại trường đã đưa đến việc giết người. Khác với Yu Hua trong Brothers (Anh em) Pamuk không khai thác khía cạnh ghê rợn của sự bạo động. Qua Necip, Pamuk nhấn mạnh đến cái chết phi lý của một học sinh tôn giáo, ngây thơ, mơ mộng, hiền lành, chỉ biết yêu chưa biết hận thù, còn đang phân vân không biết có sự hiện hữu của Trời hay không, một nhánh cây thanh xuân bị bẻ gãy thật đột nhiên, một cái chết mà tôi thấy trong một câu hát của Trịnh Công Sơn, “chết thật tình cờ nằm chết như mơ.” Nhân vật của ông ít khi đối ngược với nhau, ngoại trừ hai nhân vật Necip và Kadife. Necip là một thanh niên Hồi giáo rất hiền lành mơ mộng, trong khi Kadife là một phụ nữ được nuôi dạy theo văn hóa châu Âu. Các nhân vật khác được xây dựng thành từng cặp bổ túc hậu thuẫn cho nhau thí dụ như Necip là tuổi trẻ của Ka, Kadife và Ipek là biểu tượng vừa Âu vừa Á của phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ, Necip và Fazil tượng trưng cho các giáo sinh Hồi giáo, hiền lành, mơ mộng. Không phải người nào ở trong trường Hồi giáo cũng trở nên những tay khủng bố giết người.

Nếu nước trong tác phẩm Mùa len trâu (của Sơn Nam được làm thành phim) làm chết lúa với trâu và phá hủy tài sản của cải của dân ở đồng bằng miền nam Việt Nam; nếu gió trong Tam Quốc Chí đã giúp lửa đốt cháy những chiến thuyền ở trận Xích Bích; nếu những vụ bạo động giết người ở Mỹ thường xảy ra ở những khu dân nghèo, tỉ lệ nghiện ngập và thất nghiệp cao, trong những đêm mùa hè khi vạn vật đắm chìm trong hơi nóng; thì trong tác phẩm Tuyết, cơn bão tuyết kéo dài ba ngày phong tỏa mọi lối ra vào thành phố, giữa những người dân bất mãn đã lâu vì những ức chế và mức độ nghèo khó, và giữa những người có tham vọng cá nhân to hơn lòng nhân đạo với vũ khí trong tay, có tác dụng phá hoại nguy hiểm tương đương với nước, gió lửa, và hơi nóng. Tuyết có công dụng dập tắt âm thanh và vây hãm để cuộc thảm sát những người yếu thế có thể xảy ra trong một thời gian rất ngắn. Kars trong màn tuyết triền miên không còn là Kars nữa mà là hiện thân của bất cứ thành phố nào trong quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ. Cái đàn áp, bóp nghẹt, bạo động áp dụng lên những người yếu thế nhỏ bé ở Kars cũng có thể ở một nơi nào đó trên quốc gia này.

Pamuk có tham vọng thay đổi quan điểm của châu Âu về những người Hồi Giáo và Thổ Nhĩ Kỳ, qua cách ông thể hiện những nhân vật sống ở Kars, ở một thành phố hẻo lánh nghèo nàn thuộc về châu Á. Pamuk cho rằng là các quốc gia Hồi giáo, trong đó có Thổ Nhĩ Kỳ, đã bị hiểu lầm nghiêm trọng. Một thiểu số người Hồi giáo, trẻ và nông nổi, chủ trương dùng bạo động để bảo vệ danh dự Hồi giáo, thật ra chỉ là một nhóm người trẻ tuổi, dễ bị lừa dối và lung lạc. Họ gây rối loạn bởi vì nhàm chán do dư thì giờ nhưng thiếu phương tiện để tự xây dựng đời sống và hạnh phúc của riêng họ. Một nhân vật trẻ tuổi, du kích Kurd, đại diện cho nhóm người nghèo và ít học của Thổ Nhĩ Kỳ, khi được hỏi anh ta sẽ nói gì với thế giới Tây phương nếu anh được cho phép tóm gọn trong hai câu, anh ta đã nói:

“Lỗi lầm to lớn nhất của nhân loại,” anh chàng thiếu niên người Kurd nói, “sự lừa dối to lớn nhất của hằng ngàn năm qua là: lẫn lộn giữa cái nghèo với ngu ngốc.”

“Nói cho chính xác, anh ta có ý gì khi dùng chữ ngu ngốc? Anh ta nên giải thích cho rõ ràng.”

“Suốt quá trình lịch sử, các nhà lãnh đạo tôn giáo, và những người có danh dự luôn luôn cảnh giác điều lầm lẫn này. Họ nhắc cho chúng ta nhớ rằng những người nghèo khổ có tấm lòng, biết suy nghĩ, nhân từ, và sáng suốt cũng như bao nhiêu người khác.”

Pamuk cũng nói hộ người dân Thổ Nhĩ Kỳ là họ không tin người Tây phương có thể hiểu và cảm thông với họ. Fazil, bạn của Necip, một trong những nam sinh Hồi giáo, về sau kết hôn với Kadife đã nói: “Nếu ông viết một quyển sách về Kars và cho tôi vào quyển sách, tôi muốn nói với độc giả của ông là đừng tin bất cứ những gì ông nói về tôi hay về bất cứ người nào của chúng tôi. Không ai sống rất xa chúng tôi có thể hiểu chúng tôi.”

Tác phẩm Tuyết sẽ giữ một vai trò quan trọng trong việc khuyến khích Đông Tây tìm hiểu lẫn nhau để giữ hòa bình trên thế giới khi mà cuộc chiến giữa Tây phương và các quốc gia Hồi giáo như Afghanistan, Iraq vẫn còn đang tiếp diễn. Thế giới luôn lo ngại Thổ Nhĩ Kỳ sẽ biến thành một quốc gia như Iran. Một vài quốc gia lạc hậu khác nhìn thấy Thổ Nhĩ Kỳ qua tác phẩm Tuyết may ra sẽ tôn trọng nhân quyền và quyền tự do ngôn luận?

Hết.

Tham khảo:

Western Civilization, Jackson J. Spielvogl
The New York Times Book Review của Margaret Atwood

Nguyễn Thị Hải Hà


Tìm hiểu thêm về tác phẩm Tuyết

Phía sau trang sách

Đôi mắt trũng sâu và những tiên đoán kỳ lạ

Published

on

By

Trước khi Stephen King được khai thác bản quyền ồ ạt như hiện nay, thì một trong những “tiểu thuyết gia ly kỳ nổi tiếng” nổi tiếng nhất ở Việt Nam không ai khác ngoài Dean Koontz. Với hàng loạt tựa sách từ trinh thám đến kinh dị, dù là phái sinh từ cốt truyện có sẵn như Frankenstein hay tác phẩm hư cấu hoàn toàn mới, Koontz đều tạo nên dấu ấn bởi cốt truyện mới lạ, thu hút. Trong đó Đôi mắt trũng sâu gần đây được giới đọc sách quan tâm trở lại bởi có tính tiên tri kỳ lạ. 

Tiểu thuyết là câu chuyện xoay quanh hành trình tìm con của Tina Evans khi cô nhận được những dấu hiệu kì lạ. Đó là tấm bảng đề hai chữ CHƯA CHẾT, những giấc mơ bí ẩn, hay sự chuyển động đột ngột của các luồng khí… mà tất cả đều quy về Danny – con trai cô – vốn đã qua đời với thể xác biến dạng đến nỗi không còn nhận diện được trong lần thực hiện chuyến điền dã nơi vùng núi sâu. Đứng trước những hiện tượng có phần “siêu nhiên”, Tina tin vào bản năng người mẹ và tìm cách giải cứu cậu bé, nhưng cô không bao giờ ngờ tới việc đang vướng vào một hệ thống rộng lớn hơn với các âm mưu quyền lực quốc tế.

Như Dean Koontz thừa nhận, Đôi mắt trũng sâu là một phép thử khi ông pha trộn nhiều thể loại trong tiểu thuyết: hành động, hồi hộp, lãng mạn và đôi chút huyền bí. Do đó, phần lớn nội dung tác phẩm không có tính dữ dội bùng phát, cũng không đủ thời lượng khắc họa chiều sâu; thêm nữa là sự phức tạp trong chủ đề đã được tối giản cũng như độ căng đã được nới lỏng. Tuy nhiên, chính những yếu tố đó lại khiến cuốn sách này không chỉ là một tác phẩm trinh thám – kinh dị thông thường khi khai thác được rất nhiều góc khuất, từ sự mất mát cá nhân cho đến lớn hơn là các vấn đề địa chính trị thế giới.

Tác phẩm có kết cấu như tàu lượn siêu tốc khi Koontz rất tập trung khai thác hạ tầng cơ sở. Thay vì viết theo kiểu “dọa ma” thông thường, ông cố gắng làm rõ chi tiết để tác phẩm có giá trị, không rẻ tiền, mà ngược lại vô cùng hợp lý. Đó là cách khai thác tâm lý tế vi, qua những mô tả về cơn sang chấn hậu tang lễ mà Tina gặp phải, song song với mặc cảm tội lỗi là nỗi cay đắng cùng quyết tâm dứt khoát muốn quên đi quá khứ đau buồn. Thế nhưng, cái chấp niệm Danny còn sống luôn dày vò cô, một biểu hiện cụ thể là việc thường xuyên nhìn thấy hình ảnh cậu bé trong những khuôn mặt khác. Koontz cũng đồng thời khắc họa bi kịch gia đình – vốn là nguồn cơn cũng như áp lực đổ hết lên đầu phụ nữ.      

Dean Koontz | Ảnh: Rick Loomis

Tính lãng mạn cũng được tác giả khai thác khéo léo, khi xây dựng thân phận cựu điệp viên cho Elliot, hình tượng này gợi nhớ nhiều đến loạt truyện James Bond của Ian Fleming. Vẫn là motif người đàn ông hào hoa và mối tình cùng những giai nhân; kèm theo đó là các pha hành động kịch tích kích thích adrenaline – để làm được điều này, Koontz tạo ra một thế lực đối đầu có phần “biến thái” cùng hai con người đấu tranh cho chính nghĩa.

Trên hành trình cứu thoát Danny, hai người phát hiện ra Thảm kịch Sierra mà Danny vướng vào thực ra có nguồn cơn từ một dự án tên là Pandora – chính tên gọi này đã cho thấy tính bí mật của dự án với mạng lưới bảo vệ vô hình, các lực lượng ẩn danh được mô tả như những tổ chức nguy hiểm, quyền lực, vô pháp vô thiên. Từ thực tế này, Koontz đã xây dựng các thuyết âm mưu có tính tiên đoán, nhưng lạ thay lại trùng khớp với những vấn đề hiện nay.

Đó là vấn nạn tham nhũng trong bộ máy quyền lực khi chính phủ nuôi sống mạng lưới có phần “vô hình” chỉ để tư lợi. Việc này được thực hiện thông qua các cuộc dàn xếp bầu cử địa phương, với tài chính và các thế lực chính trị ủng hộ đằng sau. Hiện thực này không quá xa lạ, khi gần đây ta chứng kiến một nước Mỹ chia rẽ trong hai cuộc bầu cử liên tiếp. Đặc biệt hơn là những vấn đề chạy đua quyền lực cùng phát triển vũ khí sinh học. Loại virus cuối cùng mà Elliot cũng như Tina tìm được trùng hợp thay lại tên là Wuhan-400, có phần tương đồng với virus Corona.

Thế nhưng chính trong những giấc mơ hoang đường của tiến sĩ Tamaguchi, Koontz cũng gửi gắm một vài thông điệp nhân văn qua hình ảnh những kẻ hoang tưởng vĩ đại sản sinh ra sự bất tử và những công trình vĩ đại. Trong tập truyện Ngày mười tháng mười hai, George Saunders cũng có truyện ngắn Thoát khỏi đầu nhện, viết về chất hóa học VerbaluceTM có tác dụng chiếm hữu tâm trí – từ đó gây ra những tội ác không thể dung thứ. Hay Frank Herbert trong Xứ Cát cũng có Hương dược, và chẳng phải chính vì những thứ đó mà con người quay ra đối đầu với nhau?

*

Đôi mắt trũng sâu có thể nói là một tác phẩm mới lạ, thú vị. Do được kết cấu theo kiểu “tàu lượn siêu tốc” nên phần khởi đầu có đôi chút chậm chạp, thế nhưng khi vượt qua được đỉnh dốc ấy thì những pha hành động sẽ làm ta thót tim. Một lần nữa, tác phẩm này lại củng cố vị trí của một trong những nhà văn viết truyện ly kỳ nổi tiếng nhất nước Mỹ.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trò chuyện trong quán La Catedral: Một Peru hỗn mang

Published

on

By

Văn chương Mỹ Latin nổi tiếng với truyền thống tái hiện lịch sử qua cuộc đời của các gia tộc. Từ Trăm năm cô đơn, Ngôi nhà của những hồn ma cho đến Bình địa trên lửa hay Pedro Páramo… ta thấy lẩn khuất đằng sau những thủ pháp cách tân nghệ thuật (kì ảo) đều là một hiện thực sống động có phần chua cay, với giới địa chủ, độc tài – thông qua góc nhìn của những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội.

Nhà văn Peru đoạt giải Nobel Văn chương 2010, Mario Vargas Llosa cũng không nằm ngoài truyền thống này. Việc tái bản gần đây hai kiệt tác được in hơn một thập kỉ trước – Trò chuyện trong quán La CatedralThành phố và Lũ chó – đã cho thấy sức hút của ông với độc giả trong nước. Kết hợp được sự đa dạng của phong cách thể hiện cùng những cải tiến mới mẻ trong phong cách viết có thể được xem là lý do chính khiến các tác phẩm của Llosa thu hút độc giả.

Bằng việc cắt gọt các đoạn đối thoại, tình tiết, bối cảnh… Llosa đã cung cấp góc nhìn đơn tuyến nhưng toàn vẹn của một sự thật đa chiều. Có chủ trương thay đổi về cách trần thuật trong suốt 5 phần với hơn 600 trang sách, người đọc sống cùng một Peru biến động cùng những người con của nó, quằn quại và nhiều dằn xé.

Câu chuyện kể về nhân vật Santiago – con trai giữa của dòng họ Zavalita, có cha là người làm việc cho chính phủ độc tài Odría. Ngay từ lúc nhỏ anh đã là “con cừu đen” của gia đình, khi luôn có những ý kiến khác lạ lệch ngoài chuẩn mực. Tiểu thuyết đi suốt cuộc đời anh, từ thơ ấu, đến trưởng thành rồi sau này là “sản phẩm thải loại”, thông qua cuộc nói chuyện trong quán La Catedral với Ambrosio – người lái xe cho cha anh. Từ đó các bí mật được tiết lộ, những sự thật được phơi bày, càng làm rõ hơn một mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” hơn bao giờ hết.

Nội dung dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Trò chuyện trong quán La Catedral.

Mảnh đất lắm người nhiều ma

Nếu Juan Rulfo là người phơi bày rõ ràng tội ác của tầng lớp địa chủ, thì có thể nói Llosa là người cho thấy lịch sử hiện đại của Peru – với sự xúi giục của Mỹ ở sân sau – một chế độ độc tài cũng như những mầm mống chính trị nảy sinh trong suốt quá trình hình thành lịch sử hiện đại, từ chủ nghĩa quân phiệt, chế độ độc tài cho đến chủ nghĩa xã hội và những tư tưởng cấp tiến khác.

Lịch sử đó một mặt được bộc lộ qua nhân vật Santiago và quá trình rời nhà vượt thoát của anh. Luôn chống đối cha mình bởi ông là người kiếm tiền từ chế độ độc tài, Santiago và những người bạn đại học sớm theo Cahuide để kết hợp chi bộ Đại học và chi bộ Công nhân. Thế nhưng anh chưa bao giờ cảm nhận được hoàn toàn mình thuộc về nơi đâu. Chính sự bất định trong tư tưởng của anh cũng ngầm chỉ ra thế chênh vênh của một đất nước đầy hỗn loạn của các nền tư tưởng, mà như một câu thoại trong đây: “Nếu đánh mất sự nản lòng, chỉ cần mở bất cứ tờ báo Peru nào rồi bạn sẽ có lại cảm giác ấy”.

Được cai trị bởi một viên tướng thối tha, ăn cắp và bất lực, Llosa một lần nữa “giấu nhẹm” tổng thống, để cho thấy rằng đó chỉ là một cá nhân bù nhìn, không chủ kiến và hầu như vắng mặt trong suốt tiểu thuyết. Thay vào đó Llosa tập trung hướng vào viên tướng Bermundéz – vị giám đốc công an được đề cử nhanh cấp tốc, với những trò ham thú quyền lực. Ở nhân vật này, người đọc có thể thấy được mẫu hình chung của những tên độc tài đương thời như thể Diaz mà Alejo Carpentier từng thể hiện. Y ta nham hiểm, xấu xí và đầy mưu lược, từng bước từng bước trả thù, ăn miếng trả miếng để nhằm giữ vững chiếc ghế của mình. Mưu toan chồng chất lên nhau, trong đất nước đang dần rệu rã giờ đây chỉ còn những tấn trò hề.

Mario Vargas Llosa | Ảnh: Quim Llenas

Từ việc cảnh sát đàn áp các nhóm thanh niên nghiên cứu chủ nghĩa Marx cho đến các phong trào chống đối Odría; từ việc liên minh của các chính trị gia nhằm hất cẳng Bermundéz cho đến hành động hối lộ ám vào máu thịt… Llosa đã tái hiện một cách chung nhất mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” nơi quê hương ông, mà trong thực tế với cuốn Thành phố và Lũ chó, ông cũng từng bị đuổi khỏi đất nước về sự nói thẳng và nói thực của mình.

Những cách tân nghệ thuật

Cấu tạo 5 phần như vở bi kịch năm hồi thường thấy, Llosa thay đổi phong cách viết ở từng phần một, từ liên tục trong một mạch kể duy nhất cho đến cắt rời câu chuyện, tiếp theo đó là những dòng suy tư dài cũng như những đoạn đối thoại nâng kịch tích không ngơi nghỉ. Tiểu thuyết dâng đến cao trào ở phần thứ 5 như hơi thở thở ra bất lực, của những sự thực được nói ra, của bí mật đã thôi kềm giữ. Bốn phần trước ông đều gài cắm những bi kịch riêng trên nền một câu chuyện lớn, để dần dần xâm chiếm và là cú bùng nổ cảm xúc cần thiết cuối cùng.

Sử dụng mạng lưới nhân vật chằng chịt là những cá thể xung quanh nhân vật chính Santiago, Llosa khai thác một cách hiệu quả các mối quan hệ xã hội, để không phân nhỏ vào mối quan hệ huyết thống, mà từ đó ta thấy được sự bất hạnh có thể đổ ập xuống đầu của bất kì ai trong bất kì lúc nào. Từ nàng Amalia mang bi kịch như trong Quán rượu của Zola cho đến Trinidad bị thẩm vấn dã man cuối cùng gục chết ở một góc phố. Từ thiếu phụ làng chơi – Nàng Thơ Hortensia cho đến Ambrosio – con người sống động duy nhất, vẫn giữ được nhân tính trong bầu không khí độc hại của quyền lực, mưu toan, tiền bạc và sau rốt là đánh mất nhân đạo.

Llosa tạo ra một trường phái riêng cho mình, khi ông cắt rời những câu đối thoại, bối cảnh… riêng lẻ để gom chúng vào một vision board, từ đó gợi lên nguyên nhân – kết quả, đôi khi là bổ sung góc nhìn, mà cũng có khi là gợi nên một sự hoang mang nhất định. Sự cắt rời này vừa là manh mối nhưng cũng là một ý nghĩa bâng quơ xẹt qua người đọc, nó nằm ở đó để đay nghiến rốt cuộc điều gì xảy ra, hay ai đang nói? Để rồi họ mang theo nó đến suốt hành trình, không dễ dàng để tìm ra hay chỉ ghép nối được ở phía sau cuối.

Sự tách rời ấy như biện pháp đảm bảo tính xác thực của Llosa. Chi tiết những cuộc biểu tình không chỉ đến riêng từ phía Don Cayo Bermúndez – người chuẩn bị bị hất cẳng, mà còn từ phía liên minh của những người gây ra xung đột. Cũng tương tự với câu chuyện của Amalia, của Trinidad, của Queta hay Ambrosio. Llosa ẩn thân hầu hết trong tiểu thuyết này, ông không cho cảm giác độc giả đang bị dắt mũi hay nhìn bó hẹp theo bản thân tác giả, mà với sự đa chiều trong cách khai thác sự thật, những gì ông viết ra có thể đánh lừa bất cứ ai e dè, có thể vẫn xuất phát từ ngòi bút tác giả, nhưng toàn vẹn và bao trùm.

Hình tượng xuyên suốt về một cơn nhộn nhạo dạ dày, là con rắn, là nhát dao hay là con sâu cũng lẩn khuất xuyên suốt tác phẩm. Mọi nhân vật đứng trước bi kịch đời mình đều cảm thấy tình trạng ấy, của nỗi sợ chết, của cuộc đời hoang đàng và của hậu kiếp đang chờ sau đó. Sự hội tụ này cho thấy Llosa quy tụ nhân vật về các nút thắt, để cho thấy rằng chúng đều bắt nguồn từ chính một lịch sử biến động của Peru, nơi họ sống, thở từng giây phút một của sự đàng điếm, xa hoa, và giờ đây rồi sẽ mục rữa và sụp đổ.

*

Trò chuyện trong quán La Catedral có thể thách thức bất cứ người đọc nóng vội nào. Bằng thời lượng lớn cũng như phong cách viết đặc biệt, Llosa đã khơi gợi lịch sử biến động của dải đất châu Mỹ, vừa đớn hèn mà cũng đau thương không thể khác được. Với tác phẩm lớn này, ông để lại dấu ấn cá nhân nhưng cũng phân tích một cách sâu sắc cấu trúc quyền lực cũng như thân phận nhỏ nhoi của những nạn nhân trong thời cuồng loạn. Mới mẻ và đầy đặc sắc.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Công bố danh sách rút gọn Giải Booker 2022: Phái nữ chiếm phần hơn

Published

on

Đến hẹn lại lên, cuộc đua không khoan nhượng để bình bầu ra “tác phẩm văn chương trác tuyệt nhất thế giới” (dĩ nhiên, với ràng buộc sách phải được dịch sang ngôn ngữ Anh) đã công bố sáu ứng cử viên — từ 153 đề cử — lọt vào danh sách rút gọn. Tác phẩm thắng cuộc sẽ nhận được khoản tiền mặt 50.000 bảng Anh (tương đương 1,49 tỉ Việt Nam đồng), được chia đều cho tác giả và dịch giả.

Hòa vào xu hướng đa dạng văn hóa và sắc tộc trong văn chương, sáu cái tên cạnh tranh Giải Booker năm nay đến từ sáu đất nước với sáu ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt. Nhiều cái tên quen thuộc với độc giả Việt Nam như Olga Tokarczuk (chủ nhân giải Nobel Văn chương năm 2019) và Mieko Kawakami (tác giả của Ngực và trứng). Phái nữ chiếm ưu thế trong danh sách, với sự xuất hiện của năm tác giả và ba dịch giả nữ. Văn đàn đồng thời đổ dồn ánh nhìn vào bộ đôi Olga Tokarczuk và dịch giả Jennifer Croft – liệu hai người phụ nữ phi thường này có thể lặp lại chiến thắng của Bieguni, những người không ngừng chuyển động vào năm 2018 (Giải Man Booker International) không? Kết quả Giải Booker 2022 sẽ được công bố vào ngày 26 tháng Năm.

Một giải thưởng danh giá như Booker chưa bao giờ phù hợp với những chuyến cưỡi ngựa xem hoa, nhưng đọc hết cả sáu tác phẩm — bằng tiếng Anh — vẫn là nhiệm vụ tương đối khó nhằn. Thông qua bài viết giới thiệu này, với sự đa dạng trong chủ đề và cách viết của sáu đề cử năm nay, hy vọng bạn có thể lựa chọn một cuốn sách để đích thân đọc và cảm nhận.

*

1. The Books of Jacob: Công trình để đời của Olga Tokarczuk

Đặt bối cảnh vào giữa thế kỷ XVIII, The Books of Jacob viết về cuộc đời của đấng cứu thế tự xưng — chàng Jacob Frank trẻ tuổi, quyến rũ — người Do Thái du hành qua đế chế Hapsburg và Ottoman, vừa lôi kéo vừa khước từ sự chú ý của quần chúng và chính quyền.

The Books of Jacob

Jacob, chàng là một gã lạ đời: vạm vỡ, cao ráo, má lúm đồng tiền. Bộ râu rậm rạp lóng lánh trong nắng trời. Duyên dáng như một chú nai đỏ. Vừa bí ẩn vừa phàm trần, không ngừng ngân nga những khúc ca có lời tục tĩu. Đám đông quay quanh chàng như hành tinh mắc kẹt trong sức hút của mặt trời: được phân tầng rõ ràng trên nấc thang thứ bậc là những người vợ, người tình, những ả lạc loài, những kẻ lăng xăng và các loại bám đuôi lì lợm. Dường như có một vầng hào quang gợi tình (đến mức lố bịch) choàng lên thân thể chàng.

“Frank Jacob” được xây dựng dựa trên một nhân vật lịch sử có thật; tác giả rõ ràng đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Tokarczuk bám sát những khúc ngoặt số phận Frank, khi anh cải đạo sang Hồi giáo, sau đó là Công giáo và – tiện đường – trở thành một người ủng hộ chủ nghĩa phục quốc Do Thái.

Tuy nhiên, The Books of Jacob không chỉ khắc họa chuyến lang bạt rối rắm của một tay lãnh tụ giáo phái. Đây là cuốn tiểu thuyết phóng túng, choáng ngợp và lập dị; tinh vi, lớp lang và tràn ngập tính dí dỏm mượn cảm hứng từ văn học dân gian. Cuốn sách cũng không ngần ngại khai thác những chủ đề tăm tối hơn. Người Do Thái bị săn lùng và truy đuổi khắp mọi nơi. Những hình mẫu sơ khai của cuộc diệt chủng Do Thái vẫn hiện diện. Tấn hài kịch trong tác phẩm pha trộn với bi kịch thuần túy, của tra tấn, bội phản, giam cầm, chết chóc.

Olga Tokarczuk | Ảnh: The Monthly

The Books of Jacob, xuất bản bằng tiếng Ba Lan 2014, được Viện hàn lâm Thụy Điển đánh giá là “kiệt tác để đời” của Olga Tokarczuk. Với độ dài khổng lồ 1.000 trang, cuốn sách là “chuyến hành trình tuyệt vời qua bảy lãnh thổ, năm ngôn ngữ và ba tôn giáo lớn, chưa kể các giáo phái phụ”.

2. Heaven: Bức tranh tàn khốc về bạo lực học đường

So sánh với Ngực và trứng — bộ ba truyện ngắn biến đổi liên tục giữa các góc nhìn và tuyến thời gian để giải quyết mệnh đề nữ quyền và quyền tự chủ sinh sản của giới nữ, Heaven có cấu trúc và nội dung ít phức tạp hơn. Ở đây, nhân vật chính 14 tuổi chịu sự bắt nạt tàn bạo từ bạn cùng lớp. Trong chương đầu tiên, cậu bé bị đánh đập, chế nhạo, bị ép ăn phấn và nhốt vào tủ đựng đồ. Đau lòng thay, cậu bé dường như đã quen với những cực hình này. Bên dưới lớp mặt nạ kiên cường ấy, sự khổ sở của cậu thấm đẫm từng trang sách.

Heaven

Heaven, cuốn sách thứ hai của Mieko Kawakami được dịch sang tiếng Anh, mở đầu với một tờ giấy nhắn nhét bên trong hộp bút chì: “Chúng mình nên làm bạn với nhau”. Thoạt tiên, nhân vật chính — người bị các học sinh khác gọi là Con Mắt vì cậu mắc chứng nhược thị (mắt lười) — cho rằng tờ giấy trên chỉ là trò đùa ác ý của băng bắt nạt. Nhưng tin nhắn ấy đến từ Kojima, cô học sinh cũng bị bắt nạt vì lười tắm rửa, dơ hầy. Hai đứa trẻ cùng khổ tạo thành một liên minh bí mật.

Con Mắt và Kojima dường như đang cùng sống trong một thực tại tàn nhẫn, một hoàn cảnh và số phận bi đát tương đồng (thậm chí, nếu Heaven là một tiểu thuyết young adult khác, Kojima hiển nhiên sẽ trở thành mối tình đầu của Con Mắt). Nhưng đi sâu hơn, Mieko Kawakami phơi bày những mệnh đề triết học phản chiếu và đối lập, giữa quyền lựa chọn và bị ép buộc, giữa chấp nhận và phản kháng.

Được Sam Bett và David Boyd chuyển ngữ một cách hoàn hảo, cuốn sách chứa đầy những tình tiết bạo lực được dàn dựng công phu, những phân cảnh bắt nạt vô nghĩa được mô tả rõ mồn một, đến mức bản thân độc giả cũng cảm nhận được nỗi đau của Con Mắt. Những kẻ hành hạ cậu gần như không có diện mạo; bạo lực nằm trong DNA của chúng: từ khi chúng chào đời, hẳn chúng đã biết cách đánh đập người khác mà không để lại dấu vết, tra tấn đồng bạn mà không bị tóm tận tay.

Khi Con Mắt, khập khiễng và lắp bắp, hỏi một người bạn học về lý do bắt nạt mình, đứa trẻ kia đã phát biểu cả một đoạn độc thoại. “Địa ngục không tồn tại. Tất cả đều là dựng chuyện. Kẻ yếu không dám đối mặt với thực tế. Chúng nó không thể đối mặt với nỗi đau hay nỗi buồn, chứ đừng nói đến tiếp thu sự thật hiển nhiên rằng không có gì trên đời thực sự có ý nghĩa cả”. Kẻ bắt nạt là Nietzsche còn Kojima là Lão Tử. Triết học không bao giờ được đề cập trực tiếp, nhưng nó mang lại cảm giác thuần khiết, cấp bách hơn cả — thông qua phương thức truyền đạt rõ ràng của một thiếu niên.

Mieko Kawakami | Ảnh: Kinfolk

Cái kết của Heaven không phải là một kết thúc có hậu, nhưng lần đầu tiên, Kawakami cho phép một chút ánh sáng le lói hiển hiện trên trang sách. Những chương cuối cùng an ủi tâm hồn độc giả, nhưng không hề thay đổi sự thật tàn khốc. Nó hứa hẹn với ta rằng, một ngày nào đó, cậu bé 14 tuổi ấy sẽ có một tương lai, cái tương lai mà — không lâu trước đó — cả bản thân cậu và người đọc đều lo sợ rằng cậu bé không thể sống sót và đón nhận.

3. Elena Knows: Quyền lựa chọn của phụ nữ

Chẳng ai nghĩ rằng bà già Elena — 63 tuổi và đang bị bệnh Parkinson — có thể làm thám tử. Nhưng sau khi thi thể cô con gái sùng đạo, Rita, được phát hiện trong tư thế treo cổ trên tháp chuông nhà thờ mà cô thường đi lễ, các nhà chức trách vội vàng thông báo đây là một vụ tự tử. Elena, một người không có đức tin, từ chối chấp nhận kết luận này.

Được một số người ca ngợi là “Hitchcock của River Plate”, Claudia Piñeiro là nhà văn trinh thám tội phạm nổi tiếng ở quê hương Argentina và trên thế giới. Tuy nhiên, dù sách của bà bán chạy toàn cầu cùng bốn cuốn tiểu thuyết được xuất bản ở Anh Quốc, nhiều độc giả nói tiếng Anh vẫn chưa mấy quen thuộc với tên tuổi của bà.

Claudia Piñeiro | Ảnh: Manuel Cortina

Elena Knows, cuốn tiểu thuyết ngắn gọn và phong cách được Frances Riddle dịch sang tiếng Anh, là cách thức lý tưởng để làm quen với Piñeiro. Thoạt nhìn, đây là hành trình giải mã bí ẩn chặt chẽ và súc tích, với nhân vật chính quyết đoán và bướng bỉnh. Nhưng đồng thời, tác phẩm chứa những lời bình sắc nhọn về mối quan hệ giữa mẹ và con gái, sự phẫn nộ nhắm đến bộ máy quan liêu, hệ thống y tế và những gánh nặng giáo điều mà tôn giáo đặt lên vai người phụ nữ. Quyền lựa chọn phá thai trong một xã hội Công giáo bảo thủ sâu sắc chính là chìa khóa quan trọng để gỡ nút thắt câu chuyện này.

Cuốn sách được chia thành ba phần, tiêu đề lần lượt là “Buổi sáng”, “Buổi trưa” và “Buổi chiều” — bám sát lịch uống thuốc của Elena mà bà buộc phải tuân thủ, để kiểm soát được “kẻ thù” sống bên trong cơ thể mình. Elena không phải là một bà lão ngọt ngào và tử tế. Cha Juan, linh mục của con gái bà, từng cáo buộc Elena tội “kiêu căng và ngạo mạn, khi nghĩ rằng bà biết tất thảy mọi chuyện, ngay cả khi sự thật cho thấy điều ngược lại”. Ông nói không sai; Elena đầy thiếu sót, nhưng Piñeiro vẫn có thể khiến độc giả ủng hộ bà – nhân vật chính có tính nết khó ưa.

Elena Knows

Khi Elena bước về điểm cuối cuộc hành trình, những tiết lộ thật tàn bạo xuất hiện. “‘Không bao giờ’ không phải là một từ áp dụng cho giống loài chúng ta,” Isabel nói. “Có rất nhiều điều chúng ta nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ làm nhưng khi bị đặt vào tình huống nhất định, chúng ta sẽ làm thế”.

Những tác phẩm khác lọt vào danh sách rút gọn Giải Booker 2022

Cursed Bunny là tuyển tập truyện ngắn của tác giả người Hàn Quốc Bora Chung. Từ chối bị đóng khung trong một thể loại nhất định, tác phẩm xóa nhòa ranh giới giữa chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, kinh dị và khoa học viễn tưởng. Bora Chung kết hợp tài tình các yếu tố kỳ ảo và siêu thực để khắc họa thực trạng kinh hoàng và tàn nhẫn của chế độ phụ quyền và chủ nghĩa tư bản trong xã hội hiện đại. Tác phẩm do Antor Hur dịch sang tiếng Anh.

Cursed Bunny


Tomb of Sand của Geetanjali Shree, được Daisy Rockwell dịch từ tiếng Hindi, kể về cuộc hành trình của một phụ nữ Ấn Độ 80 tuổi tới Pakistan sau khi chồng bà qua đời. Chủ đề nghe qua có vẻ sầu thảm, nhưng cuốn sách ngược lại – rất hài hước, sâu lắng, tràn đầy cảm hứng tự do và hiện đại.

Tomb of Sand


A New Name: Septology VI-VII do Jon Fosse - một nhà văn và nhà viết kịch người Na Uy rất nổi tiếng tại quê nhà - chắp bút. Được dịch bởi Damion Searls, cuốn sách là ấn phẩm cuối cùng trong loạt truyện kể về cuộc đời Asle, người họa sĩ già sống cô độc bên bờ đại dương trong những năm tháng cuối đời.

A New Name: Septology VI-VII

Hết.

Mèo Heo lược dịch từ tạp chí New York Times và NPR.

Đọc bài viết

Cafe sáng