Chuyện người cầm bút

Trò chuyện với Orhan Pamuk: Nghệ thuật tiểu thuyết số 187 (Phần 1)

Published

on

Orhan Pamuk sinh năm 1952 tại Istanbul, nơi ông vẫn đang sống. Gia đình ông giàu lên từ việc xây dựng đường sắt trong buổi đầu nền Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ; Pamuk theo học trường Robert College, nơi con cái giới thượng lưu ưu tú của thành phố được hưởng nền giáo dục thế tục theo kiểu phương Tây. Ông bộc lộ niềm đam mê với nghệ thuật thị giác từ sớm, nhưng sau khi đăng ký học kiến trúc tại đại học, ông lại muốn viết. Ông hiện là tác giả được đọc nhiều nhất tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Tiểu thuyết đầu tay của ông, Cevdet Bey and His Sons, xuất bản năm 1982 và tiếp theo là The Silent House (1983), Pháo đài Trắng1 (1985/dịch ra tiếng Anh năm 1991), The Black Book (1990/1994), và The New Life (1994/1997). Năm 2003, Pamuk nhận Giải thưởng Văn học Quốc tế IMPAC Dublin cho Tên tôi là Đỏ2 (1998/2001), một vụ sát hại bí ẩn lấy bối cảnh Istanbul thế kỷ 16 và được thuật lại bằng nhiều giọng kể. Cuốn tiểu thuyết khai phá các đề tài trọng tâm trong văn chương của ông: bản sắc phức tạp của một quốc gia nằm giữa Đông và Tây, sự ganh đua ruột thịt, sự tồn tại của những người hai mang, giá trị của cái đẹp và độc bản, và nỗi khắc khoải về dấu ấn văn hóa. Tuyết3 (2002/2004), tập trung vào chủ nghĩa tôn giáo và chính trị cấp tiến, là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông đương đầu với chủ nghĩa chính trị cực đoan ở Thổ Nhĩ Kỳ đương đại và nó khẳng định vị thế của ông ở nước ngoài, mặc cho chia rẽ quan điểm trong nước. Cuốn sách mới đây nhất của Pamuk là Istanbul: Hồi ức và thành phố4 (2003/2005), một bức chân dung kép về chính ông – thời thơ ấu và niên thiếu – và nơi ông ra đời.

Cuộc phỏng vấn với Orhan Pamuk được tiến hành trong hai phiên dài liên tục tại London và qua thư từ. Cuộc trò chuyện đầu tiên diễn ra vào tháng Năm năm 2004 trong thời điểm Tuyết được xuất bản ở Anh. Một căn phòng khác thường được chuẩn bị cho cuộc gặp – đèn ống chiếu sáng, máy lạnh ồn ào trong không gian văn phòng dưới tầng hầm khách sạn. Pamuk đến, mặc áo khoác vải nhung đen bên ngoài áo sơ mi màu xanh nhạt và quần dài sẫm màu, rồi nhận xét, “Chúng ta có thể chết ở đây và sẽ chẳng ai tìm thấy”. Chúng tôi lui về một góc sang trọng, yên tĩnh tại sảnh khách sạn nơi chúng tôi sẽ chuyện trò trong ba giờ đồng hồ, chỉ dừng lại để thưởng thức cà phê và săng-uých gà.

Tháng Tư năm 2005, Pamuk trở lại London để xuất bản cuốn Istanbul và chúng tôi ngồi vào cùng góc đó trong sảnh khách sạn nói chuyện trong hai giờ. Lúc đầu trông ông khá căng thẳng, và cũng có lý do cả. Hai tháng trước, trong một cuộc phỏng vấn với tờ báo Thụy Sĩ Der Tages-Anzeiger, ông đã nói về Thổ Nhĩ Kỳ, rằng “ba mươi ngàn người Kurd và một triệu người Armenia đã bị sát tại những vùng đất nọ và không ai ngoài tôi dám nói chuyện đó”. Phát ngôn này đã châm ngòi một chiến dịch trường kỳ chống lại Pamuk trên những tờ báo dân tộc chủ nghĩa Thổ. Rốt cuộc, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ vẫn kiên trì phủ nhận vụ diệt chủng người Armenia năm 1915 trên đất Thổ và áp đặt những điều luật giới hạn nghiêm ngặt việc thảo luận về cuộc xung đột với người Kurd đang diễn ra. Pamuk từ chối thảo luận về những tranh cãi xoay quanh bản thu âm công khai với hy vọng nó sẽ sớm đi vào dĩ vãng. Tuy vậy, vào tháng Tám, những phát biểu của ông trên tờ báo Thụy Sĩ khiến ông bị buộc tội theo Điều 301/1 Bộ luật hình sự Thổ Nhĩ Kỳ vì tội “công khai bôi nhọ” bản sắc Thổ – một tội danh có thể bị phạt tù tới ba năm. Mặc cho báo chí quốc tế giận dữ đưa tin về trường hợp của ông, cũng như những phản đối chính phủ mạnh mẽ bởi những thành viên của Nghị viện châu Âu và bởi PEN Quốc tế, khi tạp chí này được ấn hành trung tuần tháng 11, Pamuk vẫn dự kiến hầu tòa vào ngày 16 tháng 12 năm 2005.

Ángel Gurría-Quintana


Người phỏng vấn (ÁGQ): Ông cảm thấy thế nào khi phỏng vấn?

Pamuk (OP): Đôi khi tôi cảm thấy lo lắng vì nói ra những câu trả lời ngu ngốc cho một số câu hỏi có phần vô nghĩa. Chuyện đó xảy đến trong cả tiếng Thổ lẫn tiếng Anh. Tôi nói một thứ tiếng Thổ tệ hại và thốt ra những câu ngu xuẩn. Tôi đã bị tấn công ở Thổ Nhĩ Kỳ vì các cuộc phỏng vấn nhiều hơn là vì những cuốn sách. Các chính ủy viên và bình luận viên tại Thổ Nhĩ Kỳ không đọc tiểu thuyết.

ÁGQ: Nhìn chung sách của ông nhận được phản hồi tích cực ở Châu Âu và Hoa Kỳ. Đâu là sự tiếp nhận then chốt của ông tại Thổ Nhĩ Kỳ?

OP: Những năm tốt đẹp đã qua rồi. Khi tôi xuất bản những cuốn sách đầu tiên của mình, thế hệ tác giả đi trước đang lụi tàn, vì vậy tôi được đón nhận vì tôi là một tác giả mới.

ÁGQ: Khi ông nói thế hệ trước, ý ông là những ai?

OP: Những tác giả cảm thấy có trách nhiệm xã hội, những nhà văn cho rằng văn chương phục vụ đạo đức và chính trị. Họ theo chủ nghĩa hiện thực phẳng lì, không hề thể nghiệm. Giống như những nhà văn ở các nước nghèo, họ phí hoài tài năng vào nỗ lực phục vụ mẫu quốc. Tôi không muốn như họ, bởi ngay khi còn trẻ tôi đã yêu thích Faulkner, Virginia Woolf, Proust – tôi chưa bao giờ khao khát hình mẫu hiện thực xã hội kiểu Steinbeck và Gorky. Văn chương ra đời trong những năm sáu mươi và bảy mươi đã trở nên lỗi thời, vì vậy tôi được chào đón như một tác gia thế hệ mới.

Sau đến giữa những năm chín mươi, khi sách của tôi bắt đầu bán được con số mà không ai ở Thổ Nhĩ Kỳ từng mơ đến, những năm trăng mật của tôi với báo chí và trí thức Thổ chấm dứt. Kể từ đó, đón nhận chủ yếu trong giới phê bình nằm ở phản ứng với việc quảng bá và bán sách, hơn là nội dung trong sách. Thật không may, giờ đây tôi lại khét tiếng với những bình luận chính trị – hầu hết trong số đó được lọc ra từ các cuộc phỏng vấn quốc tế và bị một số nhà báo dân tộc chủ nghĩa Thổ định hướng trơ trẽn để khiến tôi trông có vẻ cấp tiến và ngu xuẩn về chính trị so với thực tế.

ÁGQ: Vậy ra có phản ứng thù địch với sự nổi tiếng của ông?

OP: Quan điểm cứng rắn của tôi thì đó là một hình phạt cho doanh số bán sách và bình luận chính trị của mình. Nhưng tôi không muốn tiếp tục chủ đề này, bởi nghe như tôi đang biện hộ. Có thể tôi đang bóp méo bức tranh tổng thể.

ÁGQ: Ông viết ở đâu?

OP: Tôi luôn nghĩ nơi anh ngủ hoặc sẻ chia với bạn đời nên tách biệt với nơi anh viết. Các lề thói và tình hình trong nước phần nào giết chết óc tưởng tượng. Họ giết chết con quỷ trong tôi. Những lề thói nhạt nhẽo hằng ngày trong nước làm cho niềm khao khát về phía bên kia, nơi trí tưởng tượng cần để vận hành, mờ nhạt đi. Vì vậy trong nhiều năm tôi luôn có một văn phòng hoặc một nơi nho nhỏ bên ngoài nhà để làm việc. Tôi luôn có những căn hộ khác nhau.

Nhưng một lần tôi dành nửa học kỳ ở Hoa Kỳ lúc vợ cũ đang lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Columbia. Chúng tôi sống trong một căn hộ dành cho những sinh viên đã kết hôn và chẳng có không gian nào khác, vì vậy mà tôi ngủ và viết cùng một chỗ. Những điều nhắc nhớ về đời sống gia đình ở khắp chung quanh. Chuyện đó làm tôi khó chịu. Sáng ngày ra tôi chào tạm biệt vợ như người đi làm. Tôi sẽ rời nhà, tản bộ quanh vài khu và quay trở lại như người đang đến văn phòng.

Mười năm trước tôi tìm thấy một căn hộ trông ra eo biển Bosphorus với tầm mắt hướng về thành cổ. Có lẽ nó là một trong các cảnh quan đẹp nhất Istanbul. Nó cách nơi tôi sống hai mươi lăm phút đi bộ. Nó chứa đầy sách và bàn của tôi nhìn ra quang cảnh ấy. Trung bình mỗi ngày tôi dành mười giờ đồng hồ ở đó.

ÁGQ: Mười giờ một ngày?

OP: Đúng, tôi là một người làm việc chăm chỉ. Tôi thích điều đó. Mọi người nói rằng tôi có nhiều tham vọng và có lẽ cũng có phần đúng. Nhưng tôi yêu những gì tôi làm. Tôi thích ngồi vào bàn giống như một đứa trẻ với đồ chơi của nó. Về căn bản, đó là công việc, nhưng nó thú vị và trò chơi cũng vậy.

ÁGQ: Orhan, người trùng tên với ông và là người dẫn chuyện trong Tuyết, tự mô tả mình là một thư ký luôn ngồi xuống vào cùng thời điểm trong ngày. Ông có cùng kỷ luật viết lách như thế không?

OP: Tôi đã nhấn mạnh rằng bản chất giáo sĩ của tiểu thuyết gia trái ngược với bản chất của nhà thơ, những người có uy tín rất cao theo truyền thống Thổ. Trở thành một nhà thơ là điều phổ biến và được trọng vọng. Hầu hết các quốc vương và chính khách Ottoman là nhà thơ. Nhưng không phải theo cách hiểu của chúng ta về các nhà thơ thời nay. Trong hàng trăm năm, đó là cách giúp anh trở thành một trí thức. Hầu hết những người này tập hợp các bài thơ của họ trong bản thảo gọi là divan. Thực tế, thơ cung đình Ottoman gọi là thơ divan. Một nửa chính khách Ottoman tạo ra divan. Đó là cách viết mọi thứ tinh vi và có học thức, với nhiều quy tắc cùng lễ nghi. Rất thường và lặp đi lặp lại. Sau khi những ý tưởng phương Tây truyền đến Thổ Nhĩ Kỳ, di sản này kết hợp cùng ý niệm lãng mạn và hiện đại làm cho nhà thơ thành người bùng cháy vì sự thật. Nó gia tăng sức nặng vào uy tín của nhà thơ. Mặt khác, một tiểu thuyết gia về bản chất là người lấp đầy khoảng trống bằng sự kiên nhẫn của anh ta, chầm chậm như một con kiến. Một tiểu thuyết gia tạo ấn tượng với chúng ta không phải bằng khải tượng ma mị và lãng mạn, mà bởi sự kiên nhẫn của anh ta.

ÁGQ: Ông có từng làm thơ chưa?

OP: Người ta thường hỏi tôi như vậy. Năm mười tám tuổi tôi từng làm thơ và xuất bản một số bài thơ ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng rồi tôi bỏ. Tôi thanh minh rằng tôi nhận ra nhà thơ là người mà thông qua đó Chúa cất giọng. Anh ta bị ám bởi thi ca. Tôi đã thử sức với thơ, nhưng sau một thời gian tôi nhận ra Chúa chẳng nói gì với tôi. Tôi tiếc nuối và tưởng tượng – nếu Chúa có nói với tôi, thì ngài sẽ nói điều gì? Tôi bắt đầu viết rất tỉ mỉ, chậm rãi, cố tìm ra điều này. Đó là viết văn xuôi, viết tiểu thuyết. Vì thế nên tôi làm việc y như giáo sĩ. Một số nhà văn khác cho rằng cách diễn đạt này hơi xúc phạm. Nhưng tôi chấp nhận điều đó – tôi làm việc như một giáo sĩ.

ÁGQ: Ông có cho rằng theo thời gian viết văn đã trở nên dễ dàng hơn với mình không?

OP: Không đâu. Đôi khi tôi cảm thấy nhân vật của mình nên bước vào một căn phòng và tôi vẫn không biết làm cách nào khiến anh ta bước vào. Có lẽ tôi tự tin hơn, sự tự tin này đôi lúc tỏ ra hữu ích vì khi đó không cần thử nghiệm, anh cứ thế viết những gì chảy ra trên đầu bút. Tôi đã viết tiểu thuyết trong ba mươi năm qua, vậy nên tôi nghĩ mình đã tiến bộ hơn đôi chút. Tuy nhiên thi thoảng tôi vẫn đi vào ngõ cụt ở những chỗ tôi nghĩ mình không bao giờ bị. Một nhân vật không thể bước vào phòng và tôi không biết phải làm sao. Vẫn như thế! Sau ba mươi năm.

Chia một cuốn sách thành các chương rất quan trọng đối với cách suy nghĩ của tôi. Khi viết một cuốn tiểu thuyết, nếu tôi biết trước toàn bộ mạch truyện – hầu như là vậy – tôi chia nó thành từng chương và nghĩ ra chi tiết về những gì xảy ra trong mỗi phần. Tôi không nhất thiết phải bắt đầu với chương một và phải viết tất cả các chương khác theo thứ tự. Khi tôi bị chặn lại, chuyện đó chẳng quan trọng với tôi, tôi tiếp tục với bất cứ thứ gì tôi thích. Tôi có thể viết từ chương đầu tiên tới chương thứ năm, sau đó nếu không thích nó, tôi chuyển sang chương số mười lăm và tiếp tục từ điểm này.

ÁGQ: Ý ông là mình đã vạch ra trước toàn bộ cuốn sách?

OP: Mọi thứ. Ví dụ Tên tôi là Đỏ, có nhiều nhân vật và tôi chỉ định cho mỗi nhân vật số chương nhất định. Khi viết, đôi khi tôi muốn tiếp tục “trở thành” một trong các nhân vật. Vậy nên khi kết thúc một trong các chương của Shekure, có lẽ là chương bảy, tôi đã nhảy tới chương mười một, là chương của cô ấy. Tôi thích trở thành Shekure. Nhảy từ một nhân vật hay một nhân cách tới nhân vật khác có thể khiến bạn chán nản.

Nhưng chương kết thúc tôi luôn viết cuối cùng. Đó là điều chắc chắn. Tôi thích tự trêu mình, tự hỏi bản thân rằng cái kết nên như thế nào. Tôi chỉ có thể viết đoạn kết một lần. Càng về cuối, trước khi kết thúc, tôi tạm dừng và viết lại phần lớn các chương đầu.

ÁGQ: Có khi nào có ai đó đọc trong lúc ông viết?

OP: Tôi luôn đọc tác phẩm của mình cho người cùng tôi sẻ chia cuộc sống. Tôi luôn biết ơn nếu người đó nói, Cho em xem, hoặc, Cho em thấy anh đã làm được gì hôm nay. Điều đó không chỉ tạo ra một chút áp lực cần thiết mà còn giống như việc cha mẹ vỗ nhẹ vào lưng anh và nói, Làm tốt lắm. Đôi khi, người đó sẽ nói, Xin lỗi, em sẽ không mua nó. Chuyện này tốt thôi. Tôi thích nghi thức này.

Tôi luôn nhớ đến Thomas Mann, một trong những hình mẫu của mình. Ông ấy từng mang cả gia đình đến ở cùng nhau, người vợ cùng sáu đứa con. Ông thường đọc cho cả gia đình sum vầy của mình. Tôi thích điều đó. Người cha kể câu chuyện.

– Còn tiếp –

Đọc phần 2 của cuộc phỏng vấn tại đây

3V

Dịch từ bài viết gốc Paris Review – The Art of Fiction No. 187

Chú thích:

1, 2, 3, 4: Đối với các sách đã được dịch sang tiếng Việt, người dịch sử dụng tên tiếng Việt cho thông dụng. Các sách vẫn chưa có bản dịch tiếng Việt người dịch tạm dùng tên tiếng Anh trong bài viết gốc.

Chuyện người cầm bút

Nhật Chiêu: Truyện tuyệt ngắn không dễ viết

Published

on

By

Lời tiên tri của giọt sương (xuất bản năm 2011) do nhà văn Nhật Chiêu chấp bút là tập truyện tuyệt ngắn và truyện một câu đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam. Qua đó, Nhật Chiêu cũng là một trong những nhà văn tiên phong cho thể loại này ở Việt Nam. Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn về truyện tuyệt ngắn.

Tại sao ông lại viết truyện tuyệt ngắn?

Có người gọi truyện tuyệt ngắn và truyện một câu là Hint fiction, tức là truyện có số lượng trên dưới khoảng 25 từ, là loại truyện khơi gợi một cái gì lớn hơn và phức tạp hơn với số lượng chữ ít ỏi nhất. Trong văn chương, tôi thích những gì khơi gợi hơn là những gì thuyết lí, phô bày lộ liễu. Sự khơi gợi sẽ đưa ta đến chân trời khoáng đạt, còn sự phô bày lộ liễu chỉ là hủy diệt mà thôi.

Có nhiều ý kiến cho rằng khi chuyển sang viết truyện tuyệt ngắn là ông đang chọn hướng đi dễ dãi với mình hơn, ông viết truyện tuyệt ngắn vì ông không thể viết những truyện dài. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Truyện một câu không hề dễ như người ta tưởng tượng. Bởi vì ngay cả trên thế giới, dù thể loại này đã tồn tại trước Việt Nam thì số lượng tác giả thành công cũng như tác phẩm thành công là rất hiếm. Nếu hỏi truyện một câu trên thế giới mà được nhớ đến và thường được trích dẫn thì chỉ có một, hai trường hợp. Trong đó, có Augusto Monterroso - tác giả Guatemala với truyện một câu: Khủng long gồm 8 chữ chữ như sau: “Thức dậy, con khủng long vẫn còn đó.” Truyện này được nhiều nhà văn lớn, trong đó có Italo Calvino ca ngợi hết lời, là đề tài cho nhiều tiểu luận khác nhau. Nếu truyện một câu là dễ dàng thì thử hỏi vì sao ít truyện một câu đạt được thành tựu đến thế. Người ta vẫn nói thơ Haiku dễ làm nhưng thật ra có bao nhiêu bài thơ Haiku được nhớ đến như là tuyệt tác. Tại sao quanh đi quẩn lại cũng chỉ là Basho, Issa, Buson, Shiki? Cho nên hãy cứ tạm xem truyện một câu hoặc hai, ba câu cũng giống như trường hợp thơ Haiku. Dễ hay khó không chắc gì quyết được và cũng chẳng cần tranh luận. Ai cảm thấy nó dễ thì cứ thử viết chơi vài trăm truyện. Thế thôi, bao giờ cũng vậy, dễ nhất là nói. Làm lại là một chuyện khác.

Trong văn học của nhiều nước vẫn luôn luôn tồn tại những nhà văn chỉ viết truyện ngắn. Như vậy, ngắn hay dài không phải là thước đo và thật sự càng ngày càng có xu hướng nhiều nhà văn viết truyện tuyệt ngắn. Tôi có rất nhiều tập truyện tuyệt ngắn của nhiều nhà văn loại này như Augusto Monterroso hoặc như tập truyện Hint fiction do Robert Swartwood tuyển của nhà xuất bản lừng danh Norton, hoặc các tập sách mang tên Flash fiction, Micro fiction…Mỗi ngày tôi đều đọc một vài truyện tuyệt ngắn hoặc truyện một câu của các nhà văn trên thế giới mà tôi đã may mắn sưu tầm được và càng đọc tôi càng thấy khó viết. Đó là ý kiến của tôi.

Là người đi tiên phong ở thể loại truyện tuyệt ngắn, trong quá trình viết, điều gì khiến ông cảm thấy khó khăn nhất?

Do thói quen thường xuyên đọc thơ Haiku và công án Thiền tông, đôi khi chỉ có vài từ hoặc chỉ duy nhất một từ, tôi từng ao ước trong thể loại truyện này cũng có những hình thức tương tự. Nhưng vấn đề là làm sao để cho dài ngắn thế nào thì truyện cũng phải có cái gọi là diễn biến truyện, nghĩa là có tính chất tự sự. Muốn vậy, phải có phương pháp, có cách sử dụng ngôn từ đặc biệt. Nếu không thì mọi sự sẽ thành nhảm và ai cũng làm được dễ dàng. Ví dụ: truyện có chữ Đất sẽ chẳng có nghĩa lí gì nếu như nó không có một tiêu đề thích hợp để gợi lên một vận động của truyện. Tiêu đề ở đây là Sử thi nàng Sita và “toàn văn” của truyện nhờ cái tiêu đề đó mà phát tiết ý nghĩa.

Khó khăn lớn nhất theo tôi vẫn là làm sao để nó đến được với người đọc một cách thuyết phục. Điều này không một tác giả nào có thể nắm chắc. Có những cái thuộc về thói quen, thành kiến, tầm đón đợi, thiếu thông tin… sẽ là những chướng ngại cho việc người đọc bước vào văn bản mà không e dè. Còn trong khi sáng tác, tôi cảm thấy mình quen thuộc với thể truyện tuyệt ngắn như thể có “nhân duyên gắn kết” - theo cách nói của Hoàng Lương, người viết lời bạt cho Lời tiên tri của giọt sương.

Ảnh: Thiên Kim
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Nhà văn Nhật Chiêu: Văn học nước ngoài nên được dạy như văn học Việt Nam

Published

on

By

Những tác phẩm văn học nước ngoài (VHNN) được đưa vào sách giáo khoa như một phần học chính thức bên cạnh văn học Việt Nam (VHVN). Thế nhưng, vì trong đề thi tốt nghiệp, đại học, đa phần tập trung vào VHVN nên việc giảng dạy VHNN trong nhà trường còn nhiều bất cập. Nhiều trường vì chạy đua theo thành tích nên đã không giảng dạy VHNN mà dành giờ học đó để tập trung ôn thi cho VHVN. Trước thực trạng trên, Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn, nhà giáo Nhật Chiêu - người có nhiều công trình nghiên cứu về văn học của các nước trên thế giới.

Thầy nghĩ sao về việc hiện nay nhiều trường không giảng dạy VHNN hoặc dạy rất sơ sài?

Đối với tôi, điều này không có gì là lạ cả. Đó là do các phần kiến thức thuộc về VHNN ít khi được đưa vào đề thi nên mới xảy ra tình trạng như thế. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nếu đã đưa VHNN vào chương trình giảng dạy thì phải làm sao cho đồng nhất việc dạy ở tất cả các trường. Còn nếu có trường dạy, trường không vì chỉ học cho biết thêm thì đừng nên đưa vào chương trình.

Theo quan điểm của thầy thì có nên cho giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN không?

Tôi không bức xúc về chuyện hiện nay VHNN chỉ được dạy như một kiến thức phụ trong môn Văn ở trường nhưng đúng là nếu để giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN thì sẽ tốt hơn rất nhiều. Đây là một việc nên làm. Cũng giống như khi ta học Toán, đó là một sự tổng hợp từ nhiều nền Toán học trên thế giới. Ta đâu có phân biệt, hay nói là đang học “Toán học Việt Nam”. Tương tự như vậy, tôi muốn môn Văn học cũng được nhìn nhận như thế. Càng học được từ nhiều nước khác nhau, ta càng có cái nhìn toàn diện và quan điểm đúng đắn hơn.

Theo thầy, việc học VHNN ngày xưa và bây giờ có gì khác nhau?

Ngày xưa, vào thời tôi thậm chí còn không có môn VHNN. Môn Văn được gọi bằng những cái tên như: “Việt Văn”, “Quốc Văn”, “Văn học Hán-Nôm”, “Văn học Việt-Hán”. Như vậy là ngay cái tên môn học cũng đã xác định rất rõ là chỉ dạy VHVN. Việc đặt tên môn Văn học như chương trình bây giờ là chính xác hơn.

Nếu là vậy thì ngày xưa thầy học VHNN từ những nguồn nào, bắt đầu từ khi nào mà thầy có ý thức nên học VHNN?

Từ bé đến nay, tôi chưa học VHNN một giờ nào theo nghĩa đến trường học. Tôi tự học chủ yếu qua sách báo, những tác phẩm nghiên cứu dịch thuật. Tôi bắt đầu có ý thức về việc này từ năm lớp 6. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ nếu VHNN được dạy một cách đàng hoàng, chính thức trong nhà trường thì vẫn vui hơn. Điều này cũng giống như khi bạn yêu mến một bản nhạc nào đó. Bạn có thể tự nghe nó một mình ở nhà cũng được nhưng cảm giác đến nhà hát nghe nhạc sống vẫn thích hơn phải không nào?

Thầy nghĩ như thế nào khi có người nói rằng việc học VHNN quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của học sinh. Cụ thể là các em sẽ suy nghĩ và viết văn theo cách của người phương Tây, của nước ngoài, không còn là của người Việt Nam nữa?

Đối với bản thân tôi, những chuyện khi tôi viết văn là những chuyện có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào. Và tôi thích văn chương như thế hơn là phải tự bó buộc mình khi viết với suy nghĩ rằng: “Tôi là người Việt Nam. Tôi chỉ viết những chuyện thuộc về Việt Nam.” Chẳng hạn như một trong những truyện cực ngắn mới nhất của tôi có câu như thế này: “Là người cuối cùng được phóng vào vũ trụ, anh nhìn thấy trái đất nổ tan.” Đó là chuyện có thể xảy ra ở bất cứ đâu mà cũng có thể chẳng xảy ra ở đâu cả. Nó chỉ nói về cảm giác của một con người cô đơn, lạc loài nói chung. Tôi muốn nhắn với các bạn như thế này: “Cứ viết những gì mình thích, những gì mình nghĩ.”

Ảnh: Ông Đồ Nghệ
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Cafe sáng