Chuyện người cầm bút

Trò chuyện với Orhan Pamuk: Nghệ thuật tiểu thuyết số 187 (Phần 5)

Published

on

Orhan Pamuk sinh năm 1952 tại Istanbul, nơi ông vẫn đang sống. Gia đình ông giàu lên từ việc xây dựng đường sắt trong những ngày đầu của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ; Pamuk theo học trường Robert College, nơi con cái giới thượng lưu ưu tú của thành phố được hưởng nền giáo dục thế tục theo kiểu phương Tây. Ngay từ đầu, ông đã bộc lộ niềm đam mê với nghệ thuật thị giác, nhưng sau khi đăng ký học kiến trúc tại đại học, ông lại muốn viết. Ông hiện là tác giả được đọc nhiều nhất tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Đọc các phần trước của cuộc phỏng vấn: Phần 1 | Phần 2 | Phần 3 | Phần 4

*

ÁGQ: Sự ràng buộc với tiểu thuyết đã khiến ông chuốc lấy rắc rối. Nó dường như có thể gây nhiều rắc rối hơn nữa. Điều đó nghĩa là bẻ gẫy các liên kết cảm xúc. Đó là giá đắt phải trả.

OP: Đúng, nhưng đó là điều tuyệt vời. Khi đi du lịch và không cô đơn trên bàn làm việc, sau một thời gian tôi cảm thấy chán nản. Tôi hạnh phúc khi ở một mình trong phòng và sáng tạo. Không chỉ ràng buộc với nghệ thuật hay với nghề nghiệp mà tôi hết lòng, đó còn là mối ràng buộc ở một mình trong phòng. Tôi tiếp tục nghi thức đó, tin rằng những gì tôi đang làm bây giờ ngày nào đó sẽ được xuất bản, hợp thức hóa phút mộng mơ của mình. Tôi cần những giờ phút cô độc bên bàn làm việc với giấy tốt và bút máy cũng như một số người cần thuốc cho sức khỏe. Tôi ràng buộc mình với nghi thức này.

ÁGQ: Vậy thì ông đang viết cho ai?

OP: Khi đời càng ngắn đi, anh sẽ thường tự hỏi mình câu đó hơn. Tôi đã viết bảy8 cuốn tiểu thuyết. Tôi rất muốn viết bảy cuốn tiểu thuyết nữa trước khi chết. Nhưng rồi, đời người ngắn ngủi. Tận hưởng cuộc đời nhiều hơn thì sao? Đôi khi tôi thực sự tự ép mình. Tại sao tôi phải làm vậy? Ý nghĩa của tất cả mọi chuyện là gì? Đầu tiên, như đã nói, việc ở một mình trong phòng là bản năng. Thứ hai, có một khía cạnh ganh đua gần như con trẻ trong tôi muốn cố gắng lần nữa viết một cuốn sách hay. Tôi ngày càng ít tin vào tính vĩnh cữu của nhà văn. Chúng ra rất ít đọc những cuốn sách được viết cách đây hai trăm năm. Mọi thứ đang thay đổi quá nhanh đến nỗi những cuốn sách ngày nay có thể sẽ bị lãng quên trong vòng một trăm năm. Rất ít sẽ được đọc. Trong hai trăm năm, có lẽ năm cuốn sách ngày nay sẽ còn sống. Tôi có chắc mình đang viết một trong năm cuốn đó không? Nhưng đó có phải ý nghĩa của nghiệp viết lách? Tại sao tôi phải lo lắng về chuyện được đọc hai trăm năm sau? Có phải tôi nên lo về cuộc sống nhiều hơn? Phải chăng tôi cần an ủi rằng mình sẽ được đọc trong tương lai? Tôi nghĩ về tất cả những điều đó và tiếp tục viết. Tôi không biết tại sao. Nhưng tôi không bao giờ bỏ cuộc. Niềm tin rằng những cuốn sách của anh sẽ có ảnh hưởng trong tương lai là niềm an ủi duy nhất để anh đạt đến khoái lạc trong cuộc đời này.

ÁGQ: Ông là tác giả bán chạy ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng doanh số trong nước lại bị nước ngoài áp đảo. Ông đã được dịch sang bốn mươi ngôn ngữ. Giờ đây ông có nghĩ về lượng lớn độc giả toàn cầu khi viết không? Giờ thì ông có đang viết cho một nhóm độc giả khác không?

OP: Tôi ý thức được độc giả của tôi không còn dành riêng cho một quốc gia. Nhưng ngay từ khi tôi bắt đầu viết, tôi đã nghĩ mình có thể tiếp cận được nhiều nhóm độc giả hơn. Cha tôi thường nói sau lưng một số nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ bạn ông rằng họ “chỉ đối thoại được với người đọc nước mình”.

Có một vấn đề là phải nhận thức được người đọc của mình, cho dù trong nước hay quốc tế. Giờ thì tôi không thể lảng tránh vấn đề này được. Hai cuốn sách cuối cùng của tôi có trung bình hơn nửa triệu độc giả trên khắp thế giới. Tôi không thể phủ nhận mình ý thức được sự tồn tại của họ. Mặc khác, tôi không bao giờ cảm thấy mình làm mọi chuyện chỉ để thỏa mãn họ. Tôi cũng tin rằng độc giả của tôi sẽ nhận ra nếu tôi làm vậy. Tôi biến điều đó thành công chuyện của mình, ngay từ đầu, bất cứ khi nào cảm nhận được sự kỳ vọng của người đọc tôi liền chạy trốn. Ngay cả cấu trúc trong câu – tôi chuẩn bị cho người đọc một cái gì đó và rồi làm anh ta ngạc nhiên. Có lẽ đó là lý do tại sao tôi thích những câu văn dài.

ÁGQ: Với hầu hết độc giả không phải người Thổ, tính độc bản trong cách viết của ông liên quan nhiều đến bối cảnh Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng làm thế nào ông rạch ròi công việc của mình trong bối cảnh Thổ Nhĩ Kỳ?

OP: Có một vấn đề mà Harold Bloom gọi là “nỗi lo bị ảnh hưởng”. Giống như tất cả các nhà văn tôi có nó khi còn trẻ. Vào những năm đầu ba mươi tôi vẫn nghĩ rằng có lẽ tôi đã bị ảnh hưởng quá nhiều từ Tolstoy hay Thomas Mann – tôi nhắm đến thể loại văn xuôi lịch thiệp, quý phái trong tiểu thuyết đầu tiên của mình. Nhưng cuối cùng tôi chợt nhận ra rằng mặc dù các kỹ thuật của mình có lẽ chỉ là phái sinh, thực tế là tôi đang hoạt động ở một góc thế giới, rất xa châu Âu – hay ít nhất là vào thời điểm đó – và cố gắng thu hút một loại độc giả khác biệt trong một môi trường văn hóa lịch sử khác biệt, điều đó mang lại cho tôi tính độc đáo mặc cho nó đạt được với giá rẻ mạt. Nhưng nó cũng là một việc khó nhằn vì những kỹ thuật như thế không thể dịch ra hay truyền đi dễ dàng vậy được.

Công thức cho tính độc bản quá giản đơn – đặt hai thứ không hề ở gần nhau trước đây lại với nhau. Hãy nhìn Istanbul, một bài luận về thành phố và về cách những nhà văn nước ngoài – Flaubert, Nerval, Gautier – nhìn nó và quan điểm của họ ảnh hưởng như thế nào đến một nhóm nhà văn Thổ nhất định. Kết hợp bài luận này vào việc sáng tạo ra cảnh quan lãng mạn của Istanbul làm thành một cuốn tự truyện. Chưa ai làm điều đó trước đây. Hãy chấp nhận rủi ro và anh sẽ nghĩ ra điều gì đó mới mẻ. Tôi thử tạo ra một cuốn sách độc bản với Istanbul. Tôi không biết liệu nó có thành công hay không. The Black Book cũng như vậy – kết hợp một thế giới hoài cổ kiểu Proust với những ngụ ngôn Hồi giáo, những câu chuyện và âm mưu rồi đặt tất cả chúng ở Istanbul và xem điều gì sẽ xảy ra.

ÁGQ: Istanbul truyền tải cảm giác rằng ông luôn là bóng hình cô độc. Ông ắt hẳn đơn độc trong tâm thế một nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại ngày nay. Ông lớn lên và tiếp tục sống trong thế giới mà ở đó mình bị tách biệt.

OP: Mặc dù lớn lên trong một gia đình đông đúc và được dạy cách yêu mến cộng đồng nhưng sau đó tôi nhiễm phải thôi thúc muốn thoát ly. Tồn tại một khía cạnh tự hủy hoại bản thân trong tôi, rồi trong những cơn nóng nảy và những thời khắc giận dữ tôi đã làm những điều khiến tôi bị dứt khỏi khối êm ái của cộng đồng. Từ sớm tôi nhận ra rằng cộng đồng giết chết trí tưởng tượng của mình. Tôi cần nỗi đau cô đơn để vận hành trí tưởng tượng. Và rồi tôi hạnh phúc. Nhưng là một người Thổ, sau một thời gian tôi cần sự an ủi ân cần của cộng đồng, thứ mà có lẽ tôi đã phá hủy. Istanbul hủy hoại quan hệ mẹ con tôi – chúng tôi không còn gặp nhau nữa. Và dĩ nhiên tôi chẳng mấy khi gặp anh trai mình. Quan hệ giữa tôi với công chúng Thổ Nhĩ Kỳ vì những bình luận mới đây của mình cũng gặp trắc trở.

ÁGQ: Vậy ông cảm thấy mình là người Thổ như thế nào?

OP: Đầu tiên, tôi sinh ra là người Thổ. Tôi hạnh phúc với điều đó. Trên bình diện quốc tế, tôi được coi là người Thổ nhiều hơn so với thực tế tôi thấy. Tôi được biết tới như một nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ. Khi Proust viết về tình yêu, ông được coi như một người nói về tình yêu chung chung. Đặc biệt là lúc ban đầu, khi tôi viết về tình yêu, mọi người cho rằng tôi đang viết về tình yêu của người Thổ. Khi tác phẩm của tôi bắt đầu được dịch, người Thổ tự hào về nó. Họ tuyên bố rằng tôi thuộc về họ. Tôi giống một người Thổ hơn với họ. Một khi anh được quốc tế biết đến, kiểu cách Thổ của anh được quốc tế coi trọng thì kiểu cách đó cũng được coi trọng bởi chính người Thổ, những người đòi thuần hóa anh. Ý thức về bản sắc dân tộc của anh trở thành thứ người ta thao túng. Những người khác áp đặt nó. Giờ đây họ băn khoăn về một biểu tượng Thổ quốc tế nhiều hơn nghệ thuật của tôi. Đó là nguyên nhân của ngày càng nhiều vấn đề ở quê hương tôi. Qua những gì họ đọc trên truyền thông đại chúng, nhiều người không biết đến sách của tôi bắt đầu lo ngại về những điều tôi nói về Thổ Nhĩ Kỳ với thế giới bên ngoài. Văn chương được tạo nên từ thiện và ác, quỷ dữ và thiên thần, và họ ngày càng lo về con quỷ trong tôi.

Hết.

Chú thích:

8. Bài phỏng vấn được thực hiện năm 2005. Đến nay, ông đã có 11 tiểu thuyết. Ba tiểu thuyết hoàn thành sau thời điểm phỏng vấn gồm: Masumiyet Müzesi (2008, bản dịch tiếng Việt: Bảo tàng ngây thơ), Kafamda Bir Tuhaflık (2014), Kırmızı Saçlı Kadın (2016, bản dịch tiếng Việt: Nàng Tóc Đỏ) và Veba Geceleri (2021, bản dịch tiếng Anh: Nights of Plague).

3V dịch.

Dịch từ bài viết gốc Paris Review – The Art of Fiction No. 187 (theparisreview.org)

Chuyện người cầm bút

Nhật Chiêu: Truyện tuyệt ngắn không dễ viết

Published

on

By

Lời tiên tri của giọt sương (xuất bản năm 2011) do nhà văn Nhật Chiêu chấp bút là tập truyện tuyệt ngắn và truyện một câu đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam. Qua đó, Nhật Chiêu cũng là một trong những nhà văn tiên phong cho thể loại này ở Việt Nam. Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn về truyện tuyệt ngắn.

Tại sao ông lại viết truyện tuyệt ngắn?

Có người gọi truyện tuyệt ngắn và truyện một câu là Hint fiction, tức là truyện có số lượng trên dưới khoảng 25 từ, là loại truyện khơi gợi một cái gì lớn hơn và phức tạp hơn với số lượng chữ ít ỏi nhất. Trong văn chương, tôi thích những gì khơi gợi hơn là những gì thuyết lí, phô bày lộ liễu. Sự khơi gợi sẽ đưa ta đến chân trời khoáng đạt, còn sự phô bày lộ liễu chỉ là hủy diệt mà thôi.

Có nhiều ý kiến cho rằng khi chuyển sang viết truyện tuyệt ngắn là ông đang chọn hướng đi dễ dãi với mình hơn, ông viết truyện tuyệt ngắn vì ông không thể viết những truyện dài. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Truyện một câu không hề dễ như người ta tưởng tượng. Bởi vì ngay cả trên thế giới, dù thể loại này đã tồn tại trước Việt Nam thì số lượng tác giả thành công cũng như tác phẩm thành công là rất hiếm. Nếu hỏi truyện một câu trên thế giới mà được nhớ đến và thường được trích dẫn thì chỉ có một, hai trường hợp. Trong đó, có Augusto Monterroso - tác giả Guatemala với truyện một câu: Khủng long gồm 8 chữ chữ như sau: “Thức dậy, con khủng long vẫn còn đó.” Truyện này được nhiều nhà văn lớn, trong đó có Italo Calvino ca ngợi hết lời, là đề tài cho nhiều tiểu luận khác nhau. Nếu truyện một câu là dễ dàng thì thử hỏi vì sao ít truyện một câu đạt được thành tựu đến thế. Người ta vẫn nói thơ Haiku dễ làm nhưng thật ra có bao nhiêu bài thơ Haiku được nhớ đến như là tuyệt tác. Tại sao quanh đi quẩn lại cũng chỉ là Basho, Issa, Buson, Shiki? Cho nên hãy cứ tạm xem truyện một câu hoặc hai, ba câu cũng giống như trường hợp thơ Haiku. Dễ hay khó không chắc gì quyết được và cũng chẳng cần tranh luận. Ai cảm thấy nó dễ thì cứ thử viết chơi vài trăm truyện. Thế thôi, bao giờ cũng vậy, dễ nhất là nói. Làm lại là một chuyện khác.

Trong văn học của nhiều nước vẫn luôn luôn tồn tại những nhà văn chỉ viết truyện ngắn. Như vậy, ngắn hay dài không phải là thước đo và thật sự càng ngày càng có xu hướng nhiều nhà văn viết truyện tuyệt ngắn. Tôi có rất nhiều tập truyện tuyệt ngắn của nhiều nhà văn loại này như Augusto Monterroso hoặc như tập truyện Hint fiction do Robert Swartwood tuyển của nhà xuất bản lừng danh Norton, hoặc các tập sách mang tên Flash fiction, Micro fiction…Mỗi ngày tôi đều đọc một vài truyện tuyệt ngắn hoặc truyện một câu của các nhà văn trên thế giới mà tôi đã may mắn sưu tầm được và càng đọc tôi càng thấy khó viết. Đó là ý kiến của tôi.

Là người đi tiên phong ở thể loại truyện tuyệt ngắn, trong quá trình viết, điều gì khiến ông cảm thấy khó khăn nhất?

Do thói quen thường xuyên đọc thơ Haiku và công án Thiền tông, đôi khi chỉ có vài từ hoặc chỉ duy nhất một từ, tôi từng ao ước trong thể loại truyện này cũng có những hình thức tương tự. Nhưng vấn đề là làm sao để cho dài ngắn thế nào thì truyện cũng phải có cái gọi là diễn biến truyện, nghĩa là có tính chất tự sự. Muốn vậy, phải có phương pháp, có cách sử dụng ngôn từ đặc biệt. Nếu không thì mọi sự sẽ thành nhảm và ai cũng làm được dễ dàng. Ví dụ: truyện có chữ Đất sẽ chẳng có nghĩa lí gì nếu như nó không có một tiêu đề thích hợp để gợi lên một vận động của truyện. Tiêu đề ở đây là Sử thi nàng Sita và “toàn văn” của truyện nhờ cái tiêu đề đó mà phát tiết ý nghĩa.

Khó khăn lớn nhất theo tôi vẫn là làm sao để nó đến được với người đọc một cách thuyết phục. Điều này không một tác giả nào có thể nắm chắc. Có những cái thuộc về thói quen, thành kiến, tầm đón đợi, thiếu thông tin… sẽ là những chướng ngại cho việc người đọc bước vào văn bản mà không e dè. Còn trong khi sáng tác, tôi cảm thấy mình quen thuộc với thể truyện tuyệt ngắn như thể có “nhân duyên gắn kết” - theo cách nói của Hoàng Lương, người viết lời bạt cho Lời tiên tri của giọt sương.

Ảnh: Thiên Kim
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Nhà văn Nhật Chiêu: Văn học nước ngoài nên được dạy như văn học Việt Nam

Published

on

By

Những tác phẩm văn học nước ngoài (VHNN) được đưa vào sách giáo khoa như một phần học chính thức bên cạnh văn học Việt Nam (VHVN). Thế nhưng, vì trong đề thi tốt nghiệp, đại học, đa phần tập trung vào VHVN nên việc giảng dạy VHNN trong nhà trường còn nhiều bất cập. Nhiều trường vì chạy đua theo thành tích nên đã không giảng dạy VHNN mà dành giờ học đó để tập trung ôn thi cho VHVN. Trước thực trạng trên, Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn, nhà giáo Nhật Chiêu - người có nhiều công trình nghiên cứu về văn học của các nước trên thế giới.

Thầy nghĩ sao về việc hiện nay nhiều trường không giảng dạy VHNN hoặc dạy rất sơ sài?

Đối với tôi, điều này không có gì là lạ cả. Đó là do các phần kiến thức thuộc về VHNN ít khi được đưa vào đề thi nên mới xảy ra tình trạng như thế. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nếu đã đưa VHNN vào chương trình giảng dạy thì phải làm sao cho đồng nhất việc dạy ở tất cả các trường. Còn nếu có trường dạy, trường không vì chỉ học cho biết thêm thì đừng nên đưa vào chương trình.

Theo quan điểm của thầy thì có nên cho giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN không?

Tôi không bức xúc về chuyện hiện nay VHNN chỉ được dạy như một kiến thức phụ trong môn Văn ở trường nhưng đúng là nếu để giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN thì sẽ tốt hơn rất nhiều. Đây là một việc nên làm. Cũng giống như khi ta học Toán, đó là một sự tổng hợp từ nhiều nền Toán học trên thế giới. Ta đâu có phân biệt, hay nói là đang học “Toán học Việt Nam”. Tương tự như vậy, tôi muốn môn Văn học cũng được nhìn nhận như thế. Càng học được từ nhiều nước khác nhau, ta càng có cái nhìn toàn diện và quan điểm đúng đắn hơn.

Theo thầy, việc học VHNN ngày xưa và bây giờ có gì khác nhau?

Ngày xưa, vào thời tôi thậm chí còn không có môn VHNN. Môn Văn được gọi bằng những cái tên như: “Việt Văn”, “Quốc Văn”, “Văn học Hán-Nôm”, “Văn học Việt-Hán”. Như vậy là ngay cái tên môn học cũng đã xác định rất rõ là chỉ dạy VHVN. Việc đặt tên môn Văn học như chương trình bây giờ là chính xác hơn.

Nếu là vậy thì ngày xưa thầy học VHNN từ những nguồn nào, bắt đầu từ khi nào mà thầy có ý thức nên học VHNN?

Từ bé đến nay, tôi chưa học VHNN một giờ nào theo nghĩa đến trường học. Tôi tự học chủ yếu qua sách báo, những tác phẩm nghiên cứu dịch thuật. Tôi bắt đầu có ý thức về việc này từ năm lớp 6. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ nếu VHNN được dạy một cách đàng hoàng, chính thức trong nhà trường thì vẫn vui hơn. Điều này cũng giống như khi bạn yêu mến một bản nhạc nào đó. Bạn có thể tự nghe nó một mình ở nhà cũng được nhưng cảm giác đến nhà hát nghe nhạc sống vẫn thích hơn phải không nào?

Thầy nghĩ như thế nào khi có người nói rằng việc học VHNN quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của học sinh. Cụ thể là các em sẽ suy nghĩ và viết văn theo cách của người phương Tây, của nước ngoài, không còn là của người Việt Nam nữa?

Đối với bản thân tôi, những chuyện khi tôi viết văn là những chuyện có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào. Và tôi thích văn chương như thế hơn là phải tự bó buộc mình khi viết với suy nghĩ rằng: “Tôi là người Việt Nam. Tôi chỉ viết những chuyện thuộc về Việt Nam.” Chẳng hạn như một trong những truyện cực ngắn mới nhất của tôi có câu như thế này: “Là người cuối cùng được phóng vào vũ trụ, anh nhìn thấy trái đất nổ tan.” Đó là chuyện có thể xảy ra ở bất cứ đâu mà cũng có thể chẳng xảy ra ở đâu cả. Nó chỉ nói về cảm giác của một con người cô đơn, lạc loài nói chung. Tôi muốn nhắn với các bạn như thế này: “Cứ viết những gì mình thích, những gì mình nghĩ.”

Ảnh: Ông Đồ Nghệ
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Cafe sáng