Chuyện người cầm bút

Tưởng nhớ Rachel Carson – đợi chờ một Mùa Xuân không còn vắng lặng (phần 1)

Published

on

Tại một hòn đảo ở Maine, có một ngôi nhà nằm trên tảng đá sát rìa biển hệt như tổ chim đại bàng. Bên dưới mái hiên sau nhà với lan can sơn trắng là một tảng đá trơn tuột, dốc xuống bãi triều thấp lổn nhổn những rong lươn và tảo gạc hươu. Những con ốc mỡ bám vào đá. Những con vẹm tự kẹp vào nhau. Một con mòng biển đậu trên một tảng đá cỏ dại xù xì, tự rỉa lông và thoải mái nép mình, chống chọi với gió dữ dội đang băng qua mặt nước. Trong khi — trên vách đá — những cây vân sam, linh sam và bạch dương phủ đầy địa y, thở dài kẽo kẹt như những ông già vào một buổi bình minh ẩm ướt.

Ngồi bên chiếc bàn trong ngôi nhà ấy — một chiếc bàn gỗ thông chen vào góc phòng, nơi cánh cửa run rẩy theo từng cơn gió, như thể cầu xin để được mở ra, Rachel Carson viết: “Bờ biển là một lãnh địa cổ xưa”. Rất lâu trước khi Carson viết Mùa xuân vắng lặng — cuốn sách cuối cùng của bà — xuất bản năm 1962, bà đã là một nhà văn nổi tiếng: một nhà khoa học, nhà thơ của biển. Undersea (tạm dịch Dưới biển), bài tiểu luận đột phá của bà, xuất hiện trên tờ The Atlantic năm 1937. Bà băn khoăn: “Ai hiểu biết về biển cả? Không phải tôi, cũng chẳng phải bạn — với lượng tri thức giới hạn trên mặt đất — chúng ta đều không biết về bọt biển và cơn thủy triều dâng tràn qua chú cua đang ẩn mình dưới lớp rong; hoặc bài ca du dương của những cơn sóng dài, chậm rãi giữa đại dương, nơi đàn cá lang thang đi săn và bị săn, nơi những chú cá heo phá sóng để hít thở bầu không khí trên cao.” Đoạn văn mang cho người đọc cảm giác ngây ngất, chìm đắm trong cơn sóng ngôn từ, mớ hỗn độn đầy nước của loài nhuyễn thể, mang cá, giun ống, nhím biển, sinh vật phù du, đẫm nước muối, không cuống, hình cây, thăm thẳm, có gai, phóng xạ, ánh bạc và lân tinh, trong khi đây đó, “những con tôm hùm len lỏi mình trong ánh hoàng hôn bất diệt, với sự thận trọng tinh ranh.”

Mùa xuân vắng lặng không phải là một tác phẩm tầm thường: nó phát động phong trào vì môi trường; thúc đẩy việc thông qua Đạo luật Không khí sạch (1963), Đạo luật Hoang dã (1964), Chính sách Môi trường Quốc gia (1969), Đạo luật Nước sạch và Đạo luật về các loài có nguy cơ tuyệt chủng (1972); dẫn đến việc thành lập Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) vào năm 1970. Trên thế giới, số lượng sách đạt được những thành tựu trên có thể đếm được trên đầu chi của loài sao biển. Tuy nhiên, số sách còn lại của Carson và gần như tất cả tiểu luận của bà đều liên quan đến đại dương. Việc Carson được tưởng nhớ vì một cuốn sách đề cập đến hiểm họa của thuốc trừ sâu thông dụng DDT hẳn sẽ khiến bà ngạc nhiên trong những năm tuổi trẻ, khi bà còn là một nhà nghiên cứu sinh vật biển tại Cục Thủy sản Hoa Kỳ, viết ghi chú về cá-trích-mình-dày, nghiên cứu mũi cá voi với chuyên ngành cao học về cá chình Mỹ.

Carson rất tự hào về Mùa xuân vắng lặng. Mặc dù vậy, thật đau lòng khi thấy tuyển tập vừa ra mắt Mùa xuân vắng lặng và những bài viết khác về môi trường do Sandra Steingraber (Thư viện Hoa Kỳ) biên soạn, không bao gồm bài viết nào của bà về biển cả. Steingraber phàn nàn rằng, “dù những cuốn sách về biển của Carson đôi khi ám chỉ đến các mối đe dọa môi trường, chúng không kêu gọi một hành động cụ thể nào cả”. Và vì thế, chúng bị gạt sang một bên. Tác động chính trị là thước đo kỳ lạ để đánh giá giá trị của một tác phẩm văn xuôi, khi sức mạnh của nó nằm ở kiến thức và xúc cảm kinh ngạc. Trong cuốn sách đầu tiên của mình, Under the Sea-Wind (1941) (tạm dịch Dưới làn gió biển), Carson đã viết, “Đứng ở rìa biển, cảm nhận sự lên xuống của thủy triều, cảm nhận hơi thở của làn sương mù di chuyển trên đầm lầy muối lớn, xem những con chim vút nhanh lên xuống những ngọn sóng đã vỗ vào các lục địa trong hàng ngàn năm, xem những con lươn già và những con cá trích non lao ra biển, là để biết về những điều gần như vĩnh cửu như bất kì dạng sống nào trên trái đất.” Bà không thể viết Mùa xuân vắng lặng nếu trong nhiều thập kỷ, bà không trèo xuống những tảng đá, xắn ống quần và lội xuống hồ thủy triều, suy nghĩ về tác động đổi thay giữa các sự vật, và làm thế nào, “sau hàng thiên niên kỷ, biển ngày càng mặn chát hơn do muối từ các lục địa.” Bà thích nhất đi ra ngoài vào ban đêm, với một chiếc đèn pin, xuyên qua bóng tối đặc quánh.

*

Tất cả các sinh vật đều được tạo ra từ biển, như Carson đã chỉ ra. Bà gọi đó là “người mẹ vĩ đại của sự sống”. Ngay cả các loài động vật có vú trên cạn, với bộ xương cứng như vôi và dòng máu mặn, cũng bắt đầu từ những bào thai bơi trong đại dương. Bản thân bà không biết bơi. Bà không thích thuyền. Trong suốt thời thơ ấu, bà chưa bao giờ ngửi thấy mùi của đại dương. “Tôi đã từng tưởng tượng biển trông như thế nào và tiếng sóng thì sẽ ra sao”.

Carson sinh năm 1907 ở phía tây Pennsylvania, gần sông Allegheny, trong một ngôi nhà gỗ hai tầng ở trang trại rộng sáu mươi bốn mẫu Anh với một vườn lê táo, một sân sau nuôi lợn, ngựa, gà và cừu, một nơi có lẽ không khác lắm với những mô tả trong đoạn mở đầu Mùa xuân vắng lặng:

Đã từng có một thị trấn ở trung tâm nước Mỹ, nơi mọi loài dường như sống hài hòa với môi trường xung quanh. Thị trấn nằm giữa những trang trại trù phú, với những cánh đồng trĩu hạt và những sườn đồi của vườn cây ăn trái, nơi vào mùa xuân, từng đám hoa trắng lững lờ trên những cánh đồng xanh. Vào mùa thu, cây sồi, cây phong và cây bạch dương thắp nên một ngọn lửa rực rỡ sắc màu trên phông nền của những cây thông. Sau đó, cáo sủa trên đồi, nai lặng lẽ băng qua cánh đồng, nửa giấu mình trong màn sương của những sớm mùa thu.

Là con út trong gia đình có ba người con, bà đã trải qua thời thơ ấu lang thang trên cánh đồng và những ngọn đồi. Mẹ bà đã dạy bà tên của các loài động thực vật. Bà đã đọc The Wind in the Willows (Gió qua rặng liễu) và những tác phẩm của Beatrix Potter. Ở tuổi lên tám, bà viết một câu chuyện về hai chú chim hồng tước tìm kiếm một ngôi nhà. “Tôi không thể nhớ nổi, ngay cả khi còn nhỏ, có lúc nào tôi không cho rằng mình sẽ trở thành một nhà văn,” bà nói. “Tôi không biết tại sao.” Những câu chuyện bà viết ở thời niên thiếu đã ghi lại những gì bà khám phá: “tổ của chim cút-mào chen chúc những trứng, tổ chim vàng anh trông như cái nôi lơ lửng trên không, tổ chim cúc cu là bộ khung với những cây gậy, và ngôi nhà phủ đầy địa y của chim ruồi.”

Và sau đó, khói bụi ngành công nghiệp than đá ở Pittsburgh đã xâm chiếm thời thơ ấu của Carson, khi cha bà bắt đầu bán dần từng tấc đất trong trang trại gia đình. Đồng cỏ biến thành cửa hàng. Đó không phải là tai họa đến từ thuốc trừ sâu, nhưng với Carson, đó là sự mất mát cho phép bà viết rõ ràng trong phần mở đầu của Mùa xuân vắng lặng, về số phận của một thị trấn Mỹ giả tưởng bị phun DDT:

Thế rồi, những triệu chứng lạ xuất hiện và mọi thứ bắt đầu thay đổi. Lời nguyền quái ác giáng xuống cộng đồng: những căn bệnh bí ẩn quét sạch đàn gà; bầy gia súc ốm dần rồi chết. Khắp nơi đều là hình bóng của thần chết. Những người nông dân nói về nhiều bệnh tật trong gia đình họ. Trong thị trấn, các bác sĩ ngày càng bối rối trước những loại bệnh tật mới xuất hiện ở các bệnh nhân. Đã có những cái chết đột ngột và không rõ nguyên nhân. Không chỉ người lớn mà ngay cả trẻ con cũng bị tấn công đột ngột khi đang chơi, rồi sau đó vài giờ thì chết.

Carson rời nhà đến Trường Cao đẳng nữ Pennsylvania để học ngành ngôn ngữ Anh. Bà từng gửi những bài thơ cho các tạp chí – Poetry, The Atlantic, Good Housekeeping, The Saturday Evening Post – và có một bộ sưu tập thư từ chối từ họ. Mẹ bà đã bán táo, gà, đồ sứ gia đình để giúp trả học phí và thường đi từ nông trại đến trường đại học mỗi cuối tuần để đánh máy giấy tờ cho con gái mình (sau này bà cũng đánh máy sách của Carson), đặc biệt là vì — giống như nhiều bà mẹ khác — bản thân bà cũng khao khát được học.

Carson, bạn bè vẫn gọi là Ray, đã dự buổi dạ hội của trường vào năm 1928, nhưng chưa từng biểu lộ hứng thú với đàn ông. Tuy nhiên, bà vô cùng say mê giáo sư sinh học của mình, Mary Scott Skinker. Bà đổi chuyên ngành và theo chân Skinker đến Woods Hole trong một dự án nghiên cứu mùa hè. Cuối cùng, bà đã nhìn thấy đại dương. Bà lùng sục trên bờ biển hàng giờ liên tục, lạc vào một thế giới mới, bị mê hoặc bởi từng sinh vật. Vào ban đêm, bà chăm chú nhìn xuống vùng nước ngoài bến tàu để xem sự kết đôi của những con giun nhiều tơ, với những sợi lông lấp lánh ánh trăng.

Carson hoàn thành bằng thạc sĩ động vật học tại Đại học Johns Hopkins và bắt đầu chương trình Tiến sĩ năm 1932. Cả gia đình chuyển đến Baltimore để sống cùng bà: mẹ bà, người cha ốm yếu, chị gái đã ly hôn và hai cô cháu gái còn rất nhỏ. Carson, người làm công ăn lương duy nhất của gia đình, đã làm trợ lý phòng thí nghiệm và giảng dạy sinh học – động vật học tại Johns Hopkins cũng như Đại học Maryland. Khi cuộc Đại Khủng Hoảng (cuộc suy thoái kinh tế 1929 – cuối những năm 1930) ngày càng nghiêm trọng, có thời gian họ phải sống dựa trên những quả táo. Cuối cùng, Carson phải rời trường cao học để nhận một công việc được trả lương cao hơn, trong bộ phận giáo dục cộng đồng của Cục Thủy sản Hoa Kỳ. Bà kiếm thêm tiền bằng cách viết báo cho tờ Baltimore Sun. Người viết tiểu sử của bà, Linda Lear, viết một cách nặng nề, rằng một bài báo của bà viết về trang trại nuôi hàu, trong khi đó “ba bài khác tiếp tục nghiên cứu về cá-trích-mình-dày.”

Cha của Carson qua đời năm 1935. Sau đó hai năm chị bà cũng mất, để lại cho Carson một người mẹ và hai cô cháu gái cần phải chăm nom. Sau đó bà đã nhận nuôi cháu trai của mình, khi cậu bé mồ côi năm bốn tuổi. Những nghĩa vụ này đôi khi khiến Carson nản lòng, nhưng người viết tiểu sử của bà thất vọng gấp đôi. Đối với Lear, tác giả của Rachel Carson: Witness for Nature (tạm dịch Rachel Carson: Chứng nhân của thiên nhiên, 1997) và biên tập viên của tuyển tập Lost Woods: The Discovered Writing of Rachel Carson (tạm dịch Khu rừng đã mất: Những ghi chép được khám phá của Rachel Carson, 1998), nghĩa vụ gia đình — cụ thể là những đứa trẻ — không gì hơn là những gánh nặng “cướp đi sự riêng tư và vắt kiệt năng lượng thể xác lẫn tinh thần.” Lear nói điều này một cách chung chung, như một cách giải thích tại sao Carson không viết nhiều hơn và tại sao ngoại trừ các bài báo cho tờ Sun, Carson chưa bao giờ nộp bản thảo đúng hạn. Nhưng quan tâm đến người khác mang lại những hiểu biết riêng. Carson nhận ra thế giới đẹp đẽ, hoang dại, bản năng và dễ bị tổn thương, mỗi bộ phận gắn liền với nhau không thể tách rời, không chỉ thông qua những nghiên cứu khoa học phi thường mà còn bằng cả đời chăm sóc người già và trẻ nhỏ, lau vầng trán người hấp hối, dỗ các cô bé mồ côi mẹ đi ngủ, hâm nóng bữa tối cho cậu nhóc cô đơn. “Gia đình” thấm đẫm trong những hiểu biết của Carson về thiên nhiên. “Động thực vật hoang dã đang suy giảm vì ngôi nhà của chúng đang bị phá hoại”, bà viết vào năm 1938, “nhưng nhà của các loài hoang dã cũng là nhà của chúng ta.” Nếu bà có ít ràng buộc gia đình hơn, bà hẳn sẽ có ít sự thấu suốt hơn.

-Còn tiếp-

ichigo lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Jill Lepore, đăng tại The New Yorker.

Chuyện người cầm bút

Nhật Chiêu: Truyện tuyệt ngắn không dễ viết

Published

on

By

Lời tiên tri của giọt sương (xuất bản năm 2011) do nhà văn Nhật Chiêu chấp bút là tập truyện tuyệt ngắn và truyện một câu đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam. Qua đó, Nhật Chiêu cũng là một trong những nhà văn tiên phong cho thể loại này ở Việt Nam. Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn về truyện tuyệt ngắn.

Tại sao ông lại viết truyện tuyệt ngắn?

Có người gọi truyện tuyệt ngắn và truyện một câu là Hint fiction, tức là truyện có số lượng trên dưới khoảng 25 từ, là loại truyện khơi gợi một cái gì lớn hơn và phức tạp hơn với số lượng chữ ít ỏi nhất. Trong văn chương, tôi thích những gì khơi gợi hơn là những gì thuyết lí, phô bày lộ liễu. Sự khơi gợi sẽ đưa ta đến chân trời khoáng đạt, còn sự phô bày lộ liễu chỉ là hủy diệt mà thôi.

Có nhiều ý kiến cho rằng khi chuyển sang viết truyện tuyệt ngắn là ông đang chọn hướng đi dễ dãi với mình hơn, ông viết truyện tuyệt ngắn vì ông không thể viết những truyện dài. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Truyện một câu không hề dễ như người ta tưởng tượng. Bởi vì ngay cả trên thế giới, dù thể loại này đã tồn tại trước Việt Nam thì số lượng tác giả thành công cũng như tác phẩm thành công là rất hiếm. Nếu hỏi truyện một câu trên thế giới mà được nhớ đến và thường được trích dẫn thì chỉ có một, hai trường hợp. Trong đó, có Augusto Monterroso - tác giả Guatemala với truyện một câu: Khủng long gồm 8 chữ chữ như sau: “Thức dậy, con khủng long vẫn còn đó.” Truyện này được nhiều nhà văn lớn, trong đó có Italo Calvino ca ngợi hết lời, là đề tài cho nhiều tiểu luận khác nhau. Nếu truyện một câu là dễ dàng thì thử hỏi vì sao ít truyện một câu đạt được thành tựu đến thế. Người ta vẫn nói thơ Haiku dễ làm nhưng thật ra có bao nhiêu bài thơ Haiku được nhớ đến như là tuyệt tác. Tại sao quanh đi quẩn lại cũng chỉ là Basho, Issa, Buson, Shiki? Cho nên hãy cứ tạm xem truyện một câu hoặc hai, ba câu cũng giống như trường hợp thơ Haiku. Dễ hay khó không chắc gì quyết được và cũng chẳng cần tranh luận. Ai cảm thấy nó dễ thì cứ thử viết chơi vài trăm truyện. Thế thôi, bao giờ cũng vậy, dễ nhất là nói. Làm lại là một chuyện khác.

Trong văn học của nhiều nước vẫn luôn luôn tồn tại những nhà văn chỉ viết truyện ngắn. Như vậy, ngắn hay dài không phải là thước đo và thật sự càng ngày càng có xu hướng nhiều nhà văn viết truyện tuyệt ngắn. Tôi có rất nhiều tập truyện tuyệt ngắn của nhiều nhà văn loại này như Augusto Monterroso hoặc như tập truyện Hint fiction do Robert Swartwood tuyển của nhà xuất bản lừng danh Norton, hoặc các tập sách mang tên Flash fiction, Micro fiction…Mỗi ngày tôi đều đọc một vài truyện tuyệt ngắn hoặc truyện một câu của các nhà văn trên thế giới mà tôi đã may mắn sưu tầm được và càng đọc tôi càng thấy khó viết. Đó là ý kiến của tôi.

Là người đi tiên phong ở thể loại truyện tuyệt ngắn, trong quá trình viết, điều gì khiến ông cảm thấy khó khăn nhất?

Do thói quen thường xuyên đọc thơ Haiku và công án Thiền tông, đôi khi chỉ có vài từ hoặc chỉ duy nhất một từ, tôi từng ao ước trong thể loại truyện này cũng có những hình thức tương tự. Nhưng vấn đề là làm sao để cho dài ngắn thế nào thì truyện cũng phải có cái gọi là diễn biến truyện, nghĩa là có tính chất tự sự. Muốn vậy, phải có phương pháp, có cách sử dụng ngôn từ đặc biệt. Nếu không thì mọi sự sẽ thành nhảm và ai cũng làm được dễ dàng. Ví dụ: truyện có chữ Đất sẽ chẳng có nghĩa lí gì nếu như nó không có một tiêu đề thích hợp để gợi lên một vận động của truyện. Tiêu đề ở đây là Sử thi nàng Sita và “toàn văn” của truyện nhờ cái tiêu đề đó mà phát tiết ý nghĩa.

Khó khăn lớn nhất theo tôi vẫn là làm sao để nó đến được với người đọc một cách thuyết phục. Điều này không một tác giả nào có thể nắm chắc. Có những cái thuộc về thói quen, thành kiến, tầm đón đợi, thiếu thông tin… sẽ là những chướng ngại cho việc người đọc bước vào văn bản mà không e dè. Còn trong khi sáng tác, tôi cảm thấy mình quen thuộc với thể truyện tuyệt ngắn như thể có “nhân duyên gắn kết” - theo cách nói của Hoàng Lương, người viết lời bạt cho Lời tiên tri của giọt sương.

Ảnh: Thiên Kim
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Nhà văn Nhật Chiêu: Văn học nước ngoài nên được dạy như văn học Việt Nam

Published

on

By

Những tác phẩm văn học nước ngoài (VHNN) được đưa vào sách giáo khoa như một phần học chính thức bên cạnh văn học Việt Nam (VHVN). Thế nhưng, vì trong đề thi tốt nghiệp, đại học, đa phần tập trung vào VHVN nên việc giảng dạy VHNN trong nhà trường còn nhiều bất cập. Nhiều trường vì chạy đua theo thành tích nên đã không giảng dạy VHNN mà dành giờ học đó để tập trung ôn thi cho VHVN. Trước thực trạng trên, Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn, nhà giáo Nhật Chiêu - người có nhiều công trình nghiên cứu về văn học của các nước trên thế giới.

Thầy nghĩ sao về việc hiện nay nhiều trường không giảng dạy VHNN hoặc dạy rất sơ sài?

Đối với tôi, điều này không có gì là lạ cả. Đó là do các phần kiến thức thuộc về VHNN ít khi được đưa vào đề thi nên mới xảy ra tình trạng như thế. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nếu đã đưa VHNN vào chương trình giảng dạy thì phải làm sao cho đồng nhất việc dạy ở tất cả các trường. Còn nếu có trường dạy, trường không vì chỉ học cho biết thêm thì đừng nên đưa vào chương trình.

Theo quan điểm của thầy thì có nên cho giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN không?

Tôi không bức xúc về chuyện hiện nay VHNN chỉ được dạy như một kiến thức phụ trong môn Văn ở trường nhưng đúng là nếu để giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN thì sẽ tốt hơn rất nhiều. Đây là một việc nên làm. Cũng giống như khi ta học Toán, đó là một sự tổng hợp từ nhiều nền Toán học trên thế giới. Ta đâu có phân biệt, hay nói là đang học “Toán học Việt Nam”. Tương tự như vậy, tôi muốn môn Văn học cũng được nhìn nhận như thế. Càng học được từ nhiều nước khác nhau, ta càng có cái nhìn toàn diện và quan điểm đúng đắn hơn.

Theo thầy, việc học VHNN ngày xưa và bây giờ có gì khác nhau?

Ngày xưa, vào thời tôi thậm chí còn không có môn VHNN. Môn Văn được gọi bằng những cái tên như: “Việt Văn”, “Quốc Văn”, “Văn học Hán-Nôm”, “Văn học Việt-Hán”. Như vậy là ngay cái tên môn học cũng đã xác định rất rõ là chỉ dạy VHVN. Việc đặt tên môn Văn học như chương trình bây giờ là chính xác hơn.

Nếu là vậy thì ngày xưa thầy học VHNN từ những nguồn nào, bắt đầu từ khi nào mà thầy có ý thức nên học VHNN?

Từ bé đến nay, tôi chưa học VHNN một giờ nào theo nghĩa đến trường học. Tôi tự học chủ yếu qua sách báo, những tác phẩm nghiên cứu dịch thuật. Tôi bắt đầu có ý thức về việc này từ năm lớp 6. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ nếu VHNN được dạy một cách đàng hoàng, chính thức trong nhà trường thì vẫn vui hơn. Điều này cũng giống như khi bạn yêu mến một bản nhạc nào đó. Bạn có thể tự nghe nó một mình ở nhà cũng được nhưng cảm giác đến nhà hát nghe nhạc sống vẫn thích hơn phải không nào?

Thầy nghĩ như thế nào khi có người nói rằng việc học VHNN quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của học sinh. Cụ thể là các em sẽ suy nghĩ và viết văn theo cách của người phương Tây, của nước ngoài, không còn là của người Việt Nam nữa?

Đối với bản thân tôi, những chuyện khi tôi viết văn là những chuyện có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào. Và tôi thích văn chương như thế hơn là phải tự bó buộc mình khi viết với suy nghĩ rằng: “Tôi là người Việt Nam. Tôi chỉ viết những chuyện thuộc về Việt Nam.” Chẳng hạn như một trong những truyện cực ngắn mới nhất của tôi có câu như thế này: “Là người cuối cùng được phóng vào vũ trụ, anh nhìn thấy trái đất nổ tan.” Đó là chuyện có thể xảy ra ở bất cứ đâu mà cũng có thể chẳng xảy ra ở đâu cả. Nó chỉ nói về cảm giác của một con người cô đơn, lạc loài nói chung. Tôi muốn nhắn với các bạn như thế này: “Cứ viết những gì mình thích, những gì mình nghĩ.”

Ảnh: Ông Đồ Nghệ
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Cafe sáng