KOMOaudio

Mùa xuân vắng lặng: Cái giá khi vi phạm thỏa ước giữa con người và thiên nhiên

“Chúng ta tưởng mình đủ khôn ngoan để tận hưởng những lợi ích của thỏa ước hiện đại mà không phải trả giá.”

Published

on

Năm Covid thứ hai.

Tình hình thế giới vẫn thật hỗn loạn. Việt Nam trải qua một năm sóng gió với sức mạnh kiên cường đang rộn ràng náo nức cho một niên lịch mới, một mùa xuân mới thì Covid lại xuất hiện, một điều chẳng ai mong muốn – theo nghĩa đen và nghĩa bóng – mùa xuân đến một cách vắng lặng hơn bình thường.

Dù cái sự vắng lặng của mùa xuân nó chẳng ăn nhập gì với sự vắng lặng cuốn sách muốn đề cập, tôi một lần nữa mang Mùa xuân vắng lặng ra đọc.

*

“Một sự yên lặng lạ kỳ. Những chú chim đã bay đi đâu mất?”

Nếu Túp lều bác Tom của Harriet Beecher Stowe là phát súng cho phong trào đấu tranh vì nô lệ thì Mùa xuân vắng lặng của Rachel Carson chính là hồi chuông báo động đỏ cho vấn đề môi trường khi con người bước vào thiên niên kỉ hiện đại. Theo dòng thời gian thì đến ngày nay, Mùa xuân vắng lặng vẫn còn nguyên giá trị với những con người hay quốc gia đang loay hoay với vấn đề môi trường. Cuốn sách là câu trả lời cho câu hỏi “điều gì đã làm cho không ít những thị trấn của Mỹ vắng sự rộn ràng của mùa xuân”, và cũng là hành trình tìm lại những giai điệu mùa xuân đã mất trên những mảnh đất này.

Một câu thần chú ma quỷ đã giáng xuống người dân ở một trang trại trên đất Mỹ, những căn bệnh không rõ nguyên nhân làm gia súc, gia cầm ốm dần rồi chết. Không khí chết chóc bao trùm khắp nơi. Táo sắp đến độ nở bông nhưng chẳng chú ong nào vo ve, hoa vẫn nở nhưng không được thụ phấn và chẳng có quả táo nào. Hai bên đường là thảm thực vật khô héo. Không phải phép thuật của bà phù thủy độc ác nào, chẳng phải câu thần chú nguy hiểm hay hành động “đánh ghen” tàn nhẫn nào mà chính con người đã “vô tình” gây ra tất cả. Chúng ta, dù muốn hay không phải công nhận một điều rằng, bàn tay con người tác động đến tự nhiên đã làm hệ sinh thái thay đổi rất nhiều.

Từ buổi bình minh, khi sự sống bắt đầu trên trái đất, loài người tồn tại trên tiểu hành tinh này đã đối mặt với nhiều vấn đề. Sau nạn đói, dịch bệnh và chiến tranh là những mối nguy hại lớn đối với con người. Thời hiện đại, con người phải đối mặt với vô vàn vấn đề khác: môi trường ô nhiễm, tài nguyên khan hiếm… Chúng ta dường như đã đặt bút ký vào một bản giao kèo với thiên nhiên ngay lúc chúng ta chào đời; nó chi phối cuộc đời chúng ta cho đến giây phút chúng ta lìa xa thế giới. Thời hiện đại, hầu hết các nền văn hóa đều tin rằng con người có vai trò trong bản kế hoạch vũ trụ lớn lao đó.

Con người từ bỏ ý nghĩa để đổi lấy quyền năng

Mọi thứ trong cuộc sống vận hành đều có nguyên tắc và liên kết nào đó với nhau. Thời đại công nghiệp ập đến, sự hiện đại và hóa chất len lỏi vào cuộc sống của con người. Giết một loài sâu bọ chúng ta chỉ cần phun thuốc trừ sâu một, hai lần; thế là chúng không còn gây hại đồng ruộng nữa. Con người không ngừng nghiên cứu, vươn đến cái hiện đại, giành lấy quyền năng tối cao về mình mà quên đi rằng, hệ sinh thái đa dạng cần có sự cân bằng.

Chúng ta thấy thật mất thời gian khi sử dụng các biện pháp thiên địch, khi dùng tay bắt sâu bọ trên đồng lúa, nhổ cỏ trên những cánh đồng bao la, chúng ta chỉ cần phun thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, và thế là chẳng còn sâu bọ cũng chẳng còn cỏ dại. Lợi ích trước mắt quá lớn, chúng ta vô tình bỏ quên lại nhiều điều. Những cây hoa dại, những loài sinh vật có lợi cho đất ngấm thuốc trừ sâu, chúng cũng mất đi. Hay cả nếu chúng không mất đi, ảnh hưởng của dư lượng thuốc trừ sâu trong các loại rau củ vẫn còn, chúng ta ăn, uống thực phẩm chế biến từ các loại rau củ đó mỗi ngày. Chúng ta cũng đánh mất luôn cơ hội được nhìn thấy những con chim hót, những chú bồ câu chao liệng hay những cây đinh lăng mọc dại hai bên đường.

—————

“Những hóa chất với các đặc tính lạ thường của nó được con người sử dụng cho các giống cây trồng và vật nuôi, biến thảm thực vật và động vật quanh đó trở thành lớp áo choàng của Medea, phủ độc lên mọi vật, những gì sống tiếp xúc với chúng.”

—————

Chúng ta làm mọi thứ, chúng ta mong muốn một cuộc sống hiện đại, tốt nhất cho bản thân và con cháu của mình, bản giao kèo hiện đại chúng ta ký từ lúc sinh ra đó, chúng ta chưa hề đọc hết; đa số chúng ta chỉ để ý cái lợi trước mắt chứ không suy nghĩ về lâu dài, cơ hội được thấy một đàn ngỗng trời bay liệng mất đi, thay vào đó, chúng ta nhìn đàn ngỗng bay qua màn hình ti vi trong các tư liệu cũ. Môi trường đang thật sự ô nhiễm, điều này xảy ra rành rành trước mắt chúng ta nhưng chúng ta hành động như thể mình còn rất nhiều thời gian và các biện pháp hữu hiệu. Làm sao để phục hồi lại những loài động vật đã tuyệt chủng, làm sao để cứu lấy môi trường với không khí đầy ô nhiễm và những lỗ thủng tầng ozone, làm sao để phục hồi những cánh rừng đã sa mạc hóa trở nên tươi tốt, làm sao để duy trì đa dạng sinh học?

Khi chúng ta nhận ra mình đang lao đến bờ vực nhanh thế nào, chúng ta chẳng thể dựa vào Thần Chết che chắn cho mình; có kiếp sau vẫn không thể thay đổi hiện tại của đà sống xuống dốc, phản ứng tự nhiên sẽ là hy vọng ai đó đạp phanh và làm chúng ta đi chậm lại. Những nếu chúng ta đạp phanh, nền kinh tế có dấu hiệu sụp đổ, cùng với đó là xã hội của chúng ta.

Cái giá phải trả khi vi phạm thỏa ước hiện đại

Từ xưa đến nay, vô số nhà tư tưởng, nhà tiên tri và người dân đã định nghĩa hạnh phúc, chứ không phải bản thân cuộc sống, mới là điều tuyệt vời nhất. Cuộc mưu cầu hạnh phúc sinh hóa cũng là nguyên nhân gây ra tội ác trên thế giới. Cơ thể con người không phải là bất khả xâm phạm; chúng ta bị tác động bởi những hóa chất độc hại từ môi trường. Tác hại của thuốc trừ sâu con người chưa thể thống kê được hết, thiệt hại lên thảm thực vật, những dòng sông, thế giới côn trùng… mức thiệt hại về môi trường thật sự đáng sợ.

Môi trường sống bị thu hẹp. Cuộc chiến của sự sống chống lại ung thư bắt đầu cách đây từ rất lâu đến nỗi nguồn gốc của chúng mất dần theo thời gian. Chúng ta không biết, không còn nhớ rõ nguồn cơn của ung thư nhưng chắc hẳn nó đã bắt đầu từ môi trường tự nhiên. Một trong những loại thuốc diệt sinh vật gây hại dẫn đến ung thư sớm nhất là arsenic, sodium, arsenite…

Chúng ta hay những người lớn tuyên tuyền, ra rả về việc phải bảo vệ môi trường, chúng ta bảo vệ môi trường vì ai? Vì con cháu, vì thế hệ sau của chúng ta, nhưng thực sự có phải như vậy không hay chỉ để thỏa mãn cho cuộc sống hiện đại, nhu cầu tiện nghi, tiện lợi.

Sau khi đọc xong Mùa xuân vắng lặng, cảm giác của tôi (và tôi chắc rằng ai đọc xong cuốn sách cũng sẽ thấy thế) là nỗi sợ. Tôi cảm thấy sợ phải hít thở vì không biết trong không khí có bao nhiêu hóa chất độc hại, tôi sợ khi ăn những con cá, những loại rau củ nhiễm hóa chất, tàn dư của thuốc trừ sâu dù qua nhiều lần cày sới, bừa bới vẫn còn trong đất.

Ngày nay, chúng ta nghe tin về những loài động vật, những loài thực vật đang dần tuyệt chủng, có những loài đã biến mất mãi mãi khỏi cuộc sống của chúng ta. Tôi đã đọc một cuốn sách khác về môi trường mang tên Niên lịch miền gió cát, nó cho tôi những giấc mơ và mong muốn nhìn thấy hình ảnh của những đàn thú đông đúc, những điều tự do hoang dã. Lựa chọn trong cuộc sống của mỗi người là khác nhau, có thể những gì thuộc về tự nhiên không cần thiết với người này nhưng lại hoàn toàn cần thiết với người kia. Chúng ta đối mặt với câu hỏi rằng, liệu “một mức sống ngày càng cao” có đang để đánh đổi điều tự do hoang dại hay không?

Kết.

Ngày xưa chúng ta thường hay nghe rằng con người chinh phục thiên nhiên, làm chủ thiên nhiên; nhưng thời gian gần đây chẳng còn nghe những câu như vậy nữa, chúng ta nghe và hiểu rằng con người phải sống hòa hợp với thiên nhiên. Những điều kì diệu mà thiên nhiên có đang dần mất đi. Thiên nhiên vốn đa dạng, côn trùng có nhiều loài kẻ thù, không chỉ từ vi khuẩn và còn từ nhiều loài côn trùng khác, ý tưởng dùng côn trùng kiềm hãm côn trùng cũng đã xuất hiện từ thời đồ đá. Nền khoa học ban sơ đã trang bị vũ khí hiện đại để chống lại những thế lực mà con người hiện đại lo sợ. Liệu một cuộc sống hiện đại, tiện nghi có đáng để đánh đổi với cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên hay không? Liệu những quả táo với dư lượng thuốc trừ sâu có đáng để đánh đổi một bầy chim sẻ đậu trên cây để hót hay không? Liệu nếu tiếp tục với đà hiện đại, homo deus sẽ đi đến đâu? Mùa xuân đến bao giờ sẽ thôi vắng lặng? Câu trả lời này mỗi bạn đọc hãy tự có câu trả lời cho riêng mình.

Để cây cối bên hồ chỉ còn lá rụng
Và chẳng còn nghe tiếng hót của chim.

(Keats)

Hết.

Hoàng Anh

KOMOaudio

Hành trình thay đổi đất nước của Sứ đoàn Iwakura

Published

on

By

Dựa trên chuyến đi của Đại đế Nga Peter đến các nước Tây Âu để học hỏi vào thế kỷ 19, Sứ mệnh Iwakura mở ra công cuộc Duy Tân Minh Trị đã làm thay đổi Nhật Bản một lần và mãi mãi với cuộc hành trình kéo dài 1 năm 10 tháng (1871 – 1873).

Được đánh giá là một trong những sự kiện lớn nhất của lịch sử châu Á cuối thế kỷ 19, sứ mệnh Iwakura chủ trương “Bunmei kaika” (văn minh khai sáng) đã chuyển sức mạnh của lưỡi gươm samurai sang năng lực của trí tuệ do công tước Iwakura Tomomi dẫn đầu, với khoảng 50 thành viên, gồm nhiều nhân vật chính phủ cao cấp. Ngoài số kể trên còn có các du học sinh phục vụ cho việc thông dịch, thông tin. Họ đã đi thăm Hoa Kỳ và hàng chục các quốc gia châu Âu khác nhau, như: Anh, Pháp, Đức, Áo, Ý, Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Sĩ, Thụy Điển và Nga.

Có tầm quan trọng bởi đây là lần đầu tiên mà một quốc gia phương Đông tự mình tham gia vào hệ thống thương lượng quốc tế, trong khi ở thời điểm đó vấn đề ngoại giao chỉ được giới hạn trong mối liên hệ giữa một nhóm người có chung một nền văn hóa hoặc về ngôn ngữ như Mỹ với bất cứ cường quốc châu Âu nào; hoặc các quốc gia nói tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Ý, hay tiếng Tây Ban Nha với nhau, nơi ngôn ngữ quốc tế không gây ra những sự bất tiện.

Iwakura Tomomi (người mặc trang phục truyền thống) cùng 4 phó sứ (từ trái sang) Kido Takayoshi, Yamaguchi Masuka, Ito Hirobumi và Okubo Toshimichi. Ảnh: Ishiguro Keisho sưu tầm

Một góc nhìn mới

Nói về chuyến Tây du khảo cứu quan trọng này, tư liệu từ phía Nhật Bản tương đối đầy đủ, chủ yếu nằm trong 5 tập Beto Kairan Jikki (Báo cáo về chuyến đi của đoàn đại sứ đặc biệt đến Mỹ và châu Âu) do sử gia Kume Kumitake và cũng đồng thời là người trải nghiệm thực địa viết nên.

Nó là một sự tổng hợp giữa nhật ký, thông tin nghe được từ các chuyến thăm, nhưng cũng có phần hạn chế bởi các quan điểm của người chắp bút. Vì vậy, Sứ đoàn Iwakura do Ian Nish chủ biên như một mảng khác để hoàn thiện thêm hành trình quan trọng này, đến từ góc nhìn của phía Tây phương.

Học giả, nhà nghiên cứu về Nhật Bản Ian Nish.
Nguồn: The Telegraph

Như Ian Nish chia sẻ, tác phẩm này được tổng hợp từ hội nghị ba năm họp một lần của Hiệp hội Nghiên cứu Nhật Bản ở châu Âu diễn ra vào năm 1997, trùng đúng kỷ niệm 125 năm chuyến đi diễn ra. Tại đó nhiều nhà nghiên cứu đã tìm về các tư liệu vẫn còn lưu trữ tại các quốc gia phương Tây, như nhật ký của các chính khách, báo chí địa phương, những lá thư trao gửi nội bộ giữa các đại sứ quán… có so sánh với tác phẩm của Kume Kumitake và báo chí Nhật Bản. Qua đó nhìn lại cuộc du khảo này trên phương diện lịch sử, chính trị và quan hệ quốc tế, cũng như làm rõ vai trò của sứ đoàn và phản ứng của phương Tây đối với sự kiện này.

Có thể thấy rằng thách thức đặt ra tương đối lớn, bởi lẽ nhiệm vụ của sứ đoàn Iwakura có tầm quan trọng đối với Nhật Bản hơn là các nước mà họ đến thăm, nên nguồn tư liệu có thể là không đầy đủ. Vì vậy trừ các quốc gia có tầm vóc lớn như: Mỹ, Anh, Pháp, Đức… thì những trải nghiệm tại các nước nhỏ hơn như: Hà Lan, Đan Mạch, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha… gần như không được đề cập trong các văn kiện còn lại. Một điểm bất ngờ của cuốn sách này là bài nghiên cứu về cuộc viếng thăm Thụy Điển của đoàn thám hiểm, với những tiết lộ mới được bật mí, những tưởng đã không tồn tại trong suốt nhiều năm.

Qua đó các nhà nghiên cứu đã làm rõ được nhiều yếu tố, mà một trong số đó là các mục tiêu của phía Nhật Bản. Theo đó ngoài việc giới thiệu với phương Tây những gương mặt lãnh đạo mới, kết thân với giới lãnh đạo phương Tây, tìm hiểu và đánh giá sự phát triển, nhận thức, các bài học của họ trong mọi lĩnh vực để tìm ra mô hình khả thi chuyển đổi xã hội phong kiến lâu đời thành quốc gia hiện đại; thì mong muốn đàm phán lại những hiệp ước từng ký tương đối bất lợi cũng được coi là một trong những vai trò được đặt lên hàng đầu trong chuyến đi.

Bởi lẽ, trước khi lên đường, vào năm 1858, Nhật Bản đã phải ký các Hiệp ước hòa bình và hữu nghị với Mỹ để mở cửa và thúc đẩy thêm giao thương thương mại. Sau đó Anh, Pháp theo chân và cũng đòi hỏi những điều tương tự. Các nước phương Tây như Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch… cũng ký một hiệp ước chung, dẫn đến một trong những mục đích lớn được các nhà nghiên cứu đặt ra là liệu có phải nó nhằm hướng đến việc xem lại các hiệp ước sao cho phù hợp hơn trước bối cảnh chế độ phong kiến đã bị phế truất, và chế độ mới của giai đoạn Minh Trị vừa mới bắt đầu.

Phái đoàn Iwakura (cánh trái) trong buổi tiếp kiến Tổng thống Pháp. Tranh minh họa của James E. Taylor

Do đó, có thể khẳng định động cơ của sứ đoàn thay đổi theo thời gian và theo suy nghĩ của những người có liên quan. Ngay từ ban đầu khi ở nước Mỹ, có thể thấy Iwakura có lần đề cập đến việc đàm phán một hiệp định mới với Tổng thống Grant bằng việc kêu gọi một sự xem xét của toàn liên minh bao gồm châu Âu cũng như Mỹ. Chính việc khước từ lời kêu gọi này mà nhiều khả năng nhiệm vụ đàm phán ở các quốc gia châu Âu lui lại, để việc thu thập thông tin được đưa lên một vị trí cao hơn.

Vì thế ở Anh, sứ đoàn có đôi lần nhắc đến yếu tố chỉnh sửa hiệp định, nhưng họ không muốn bản thân quyết định, mà chỉ chủ yếu muốn nghe quan điểm từ phía nước Anh hơn là thúc đẩy đi đến cuối cùng. Tại đây họ cũng gặp phải một yêu cầu kép là phải mở rộng cảng hơn nữa cho các tàu châu Âu và nhanh chóng khoan dung tôn giáo, chấm dứt diệt đạo. Điều này rồi sẽ liên tục trở lại ở các nước khác, như Hà Lan – nơi họ chịu sự chỉ trích mạnh mẽ trong việc dập tắt tôn giáo, hay các cuộc gặp với Liên minh Phúc Âm ở Đức, Thụy Điển.

Những người phụ nữ ăn mặc theo kiểu phương Tây đến Hoa Kỳ vào năm 1871 với sứ mệnh Iwakura.
Nguồn ảnh: Kameda Kinuko.

Dẫu vậy cũng theo các nhà nghiên cứu, góc nhìn hậu thế không nên khắt khe nếu những bước đầu trên trường ngoại giao quốc tế của sứ đoàn Iwakura có phần loạng choạng, bởi họ gần như không có điểm chung nào đối với phương Tây. Trong khi tiếng Nhật không phải là ngôn ngữ quốc tế, hệ thống tương tác văn hóa của Nhật cũng không gắn bó (mà còn kình chống) với thế giới quan Latin - Thiên chúa giáo… Vì vậy thất bại hay việc chưa đạt được những mục tiêu chính trị có phần dễ hiểu.

Điều này còn chưa kể đến tình hình rắc rối trong nội bộ nước Nhật khi sứ đoàn tiến hành các chuyến du khảo, cũng như những sự đối lập về nền tảng tư duy giữa các thành viên khi buổi chuyển giao giữa chế độ Phong kiến và Minh Trị Duy Tân vừa mới xảy ra trong thời gian ngắn.

Thay đổi ở Nhật Bản

Các bài viết lớn và được nghiên cứu nhiều nhất là ở ba cường quốc của thời bấy giờ gồm Hoa Kỳ, Anh và Pháp. Ở đó sứ đoàn nhìn thấy tinh thần tự do, phóng khoáng của Mỹ, sức mạnh từ cuộc cách mạng công nghiệp của Anh và sự phóng khoáng, tinh tế, thanh lịch tràn ngập nghệ thuật ở Pháp. Ở mỗi điểm dừng họ được chào đón một cách long trọng, được đón tiếp bởi những vị nguyên thủ hàng đầu đất nước, và quan trọng nhất là nhận ra được một thành công chung của các nước này dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, giáo dục, phát triển mạnh mẽ, và một thể chế chính trị dân chủ.

Phái đoàn Ngoại giao Nhật Bản trình tài liệu cho Tổng thống Mỹ Ulysses S. Grant. Tranh minh họa của James E. Taylor.

Ở các nước khác họ có những mối quan tâm riêng biệt hơn. Chẳng hạn ở Đức và Bỉ, sứ đoàn Iwakura quan tâm nhiều hơn đến sức mạnh quân sự cũng như cơ sở hạ tầng giao thông. Trong khi ở Ý, nghệ thuật và các nghệ nhân lại khiến cho họ mê mẩn hơn cả. Đây là tương quan có tính hai chiều, khi Bỉ cũng muốn Nhật Bản trở thành đối tác về mặt quân sự, để xuất khẩu vốn và làm giảm xuống ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế 1867. Cùng trong lúc đó, Ý muốn Nhật Bản mở rộng đường hơn cho những thương nhân ngành lụa, vì ý thức được vai trò quan trọng của vấn đề này…

Từ đó sau khi trở về phương Tây từ năm 1868, Nhật Bản đã có những bước tiến lớn mang tính nhảy vọt. Một trong số đó là việc coi trọng giáo dục kỹ thuật. Theo các thống kê, từ năm 1868 đến năm 1902, Nhật Bản đã cấp hơn 11.000 visa du học, biến đây trở thành “đợt thủy triều du học” đầu tiên đến từ châu Á.

Không ngừng ở đó, họ cũng thuê thêm hai vị chuyên gia xây dựng kế hoạch giáo dục tổng quát, từ đó hình thành đại học kỹ thuật. Vào giai đoạn này, chính quyền Minh Trị cũng thuê từ 500 cho đến 600 những người từ nước ngoài về làm việc cho chính phủ mình. Tính đến năm 1890, Nhật để thuê khoảng 3.000 chuyên viên tư vấn thường xuyên làm việc tại Nhật ở mọi lĩnh vực cũng như ngành nghề.

Hình minh họa châm biếm một samurai chui đầu vào nòng súng tại buổi đến thăm nhà máy sản xuất súng của Krupp. Hình ảnh Peter Pantzer cung cấp.

Những gì có được từ cuộc du khảo cũng có ảnh hưởng đến các quan điểm về mặt chính trị một cách sâu sắc. Theo đó, sau chuyến viếng thăm nước Nga, họ sớm nhận ra nếu Nhật Bản phải liên quan tới một quốc gia khác thì đó không phải là Triều Tiên mà chính là Nga. Vì vậy khi việc tranh cãi ác liệt về việc có nên tấn công nhắm vào Triều Tiên, phái chủ hòa gồm những thành viên đã từng tham dự chuyến du khảo này đã kịch liệt phản đối, từ đó thay đổi quan điểm của riêng chính phủ trong việc can dự vào các vấn đề mang tính bành trướng.

Điều này không chỉ đến từ nước Nga và các dự cảm bị xâm lược của những người Nhật, mà còn đến từ nước Pháp trước đó, khi họ nhận ra đế quốc lớn này thu được nhiều nguồn nguyên liệu lớn đến từ thuộc địa, nhưng còn quá sớm để đánh giá được tính hiệu quả của bước đi này. Chuyến thăm viếng này cũng làm thay đổi nhận thức về tự do tôn giáo, từ đó tạo những điều kiện thuận lợi để mở cửa Nhật Bản.

Bởi lẽ một trong những lý do ban đầu cho việc bức hại Kitô giáo ở Nhật là các nhà lãnh đạo lo sợ nó sẽ cho phép các nước phương Tây xâm chiếm Nhật Bản để bảo vệ những người đồng đạo. Thế nhưng bằng việc sứ đoàn không bị tổn hại khi mạo hiểm đi vào đất nước có tôn giáo đối nghịch, thì chính phủ Nhật Bản đã yên tâm rằng Kitô giáo không phải là đoàn quân tiên phong xảo quyệt của một cường quốc phương Tây. Từ đó tháo gỡ nút thắt của cả hai bên vốn đã tồn tại từ lâu.

Quãng đường đã đi của Sứ đoàn Iwakura. Nguồn Digital Museum of the History of Japanese in New York.

Qua cuốn sách này, thêm một lần nữa có thể khẳng định về tầm nhìn xa của riêng nước Nhật trong các chính sách canh tân thời Minh Trị, từ đó mở ra một chương sử mới trong lịch sử Nhật Bản. Không chỉ nhìn nhận từ phía chủ quan, Sứ đoàn Iwakura còn là góc nhìn đến từ khách quan để thêm lần nữa xóa tan huyền thoại về những vấn đề xoay quanh chuyến đi lịch sử, góp phần giải mã cho sự thành công cũng như tiến bộ một cách nhanh chóng của đất nước này đối với thế giới. 

Nguồn: Người Đô Thị | Minh Anh

Đọc bài viết

Book trailer

Hồi ức Phú Nhuận: Trải nghiệm hành trình đa chiều qua lịch sử của một quận đô thị độc đáo

Published

on

By

Hồi ức Phú Nhuận – tác phẩm mới nhất của nhà báo Phạm Công Luận – không dừng lại trong phạm vi ghi chép dáng dấp cơ bản của một vùng đất, mà còn phần nào đó giúp người đọc nhận diện đời sống đô thị đất Sài Gòn, trong trăm năm qua.

Trong Hồi ức Phú Nhuận, Phạm Công Luận cố gắng ghi nhận dòng chảy thời gian đi qua một vùng đất bằng việc sưu tầm và viết lại những hồi ức tản mạn không chỉ của riêng tác giả – một người sinh ra và lớn lên gắn bó với vùng đất này, mà còn từ lời kể của nhiều cư dân Phú Nhuận qua các thế hệ.

Tinh thần Phú Nhuận xưa được tái hiện sống động

Phú Nhuận là một trong những quận nội thành quan trọng áp sát trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. Sau hơn 300 năm hình thành và phát triển, từ xuất thân nhỏ bé là một vùng đất cằn cỗi, một gò đất hoang với vài hộ gia đình lưu dân tới khẩn hoang lập ấp, Phú Nhuận đã vươn mình trở thành một quận hoàn toàn đô thị hóa. Nơi đây có một cuộc sống đa dạng với nhiều sắc thái, có lịch sử ngang bằng với đô thị Sài Gòn, có một số nhân vật được trọng nể vì những đóng góp cho xã hội trên nhiều mặt và có những địa chỉ khiến người từ các nơi khác phải tìm đến…

Trong những bài viết của Hồi ức Phú Nhuận, tinh thần Phú Nhuận xưa hiện lên rõ nét qua những câu chuyện hoài niệm về các con đường ngày xưa, có con đường từng trải qua bảy lần thay tên (đường Nguyễn Văn Trỗi), có con đường từng đi ngang quán xá và trại lính (đường Võ Tánh ngày xưa, nay là Hoàng Văn Thụ); là những quán ăn, tiệm cà phê mà tác giả luôn mong “lớn nhanh để đĩnh đạc bước vào” nhưng “không bao giờ có cơ hội đó nữa vì tất cả đều đã đóng cửa qua thời gian”...

Chính vì những lẽ đó, Hồi ức Phú Nhuận tuy là kí ức riêng của tác giả nhưng lại bắt được dòng hơi thở chung của đời sống đô thị Sài Gòn xưa và nay.

Những trang viết giàu cảm xúc, đầy ắp tư liệu

Hồi ức Phú Nhuận gồm 60 bài viết về Phú Nhuận theo trục thời gian trải dài từ xưa đến nay, bao quát đủ mọi mặt trong đời sống của quận đô thị này, được tác giả chia thành chín phần: Mấy nẻo đường quen, Nơi chốn đi về, Dưới mái trường xưa, La cà quán xá, Giải trí và rèn luyện thân thể, Cơ sở làm ăn, Dập dìu tài tử giai nhân, Ôn chuyện xưa; và phần Phụ lục điểm qua sáu giai đoạn hình thành và phát triển của Phú Nhuận.

Với giọng văn trầm tĩnh, giàu cảm xúc và tư liệu đầy đặn, 60 bài viết như những thước phim ngắn được bật lên, lần lượt đưa người đọc tìm về những tinh túy đã từng hiện diện ở Phú Nhuận: có một số thứ dù còn tồn tại nhưng ít nhiều thay đổi qua thời gian, có một số thứ tuy đã biến mất nhưng vẫn ẩn tàng trong kí ức của người Phú Nhuận và trong những góc khuất của đời sống.

Tùy bút vốn là thể loại để người viết có thể tự do tung hứng theo cảm xúc. Nhưng ở Hồi ức Phú Nhuận, Phạm Công Luận đã viết không chỉ dựa vào cảm xúc đơn thuần mà còn có sự nghiên cứu, phóng chiếu với những tư liệu thực tế đúng như thao tác thường thấy ở nhà báo chuyên nghiệp.

Bộ sưu tập công phu về đời sống Phú Nhuận

Phạm Công Luận khảo sát về Phú Nhuận ở đủ mọi khía cạnh: lịch sử, văn hóa, tâm lý, lối sống, giải trí, kinh doanh… Qua đó, những giá trị Phú Nhuận đã từng tồn tại, nay trở lại trong ký ức và niềm thương cảm về thân phận một vùng đất mà mỗi người, mỗi thế hệ người dân đã gắn bó bằng những cách khác nhau.

Trong Hồi ức Phú Nhuận, tác giả còn cung cấp những thông tin thú vị mà nhiều khi chính người Phú Nhuận chưa hẳn đã biết: Nhà văn Hồ Biểu Chánh đã sống ở Phú Nhuận những năm cuối đời, sau khi ông mất, con đường có ngôi nhà ông ở (trước đây vốn là con hẻm), đã được đặt lại theo tên ông, trở thành đường Hồ Biểu Chánh như ngày nay; tiệm phở Bắc Huỳnh thuộc hàng cao cấp, dù chỉ tồn tại ngắn ngủi nhưng rất tiếng tăm, khi đột nhiên đóng cửa năm 1982 đã khiến nhiều người vô cùng tiếc nuối; đầu thế kỉ 20, nhà thuốc Ông Tiên ở Phú Nhuận là “nhà bào chế và kinh doanh thuốc Đông dược có tiếng trên toàn cõi Đông Dương”…    

Khi nhắc đến một vùng đất, không thể không đề cập đến những con người đã và đang gắn bó ở đó. Chính vì vậy, trong Hồi ức Phú Nhuận, Phạm Công Luận dành hẳn hai phần để viết về những người đã chọn Phú Nhuận làm nơi an cư: phần Dập dìu tài tử giai nhân dành cho giới nghệ sĩ, phần Ôn chuyện xưa dành cho những người Phú Nhuận trong kí ức tác giả.

Bên cạnh đó, cuốn sách còn có phần tranh của họa sĩ Phạm Công Tâm, Trương Ánh Mai cùng ảnh tư liệu phong phú từ nhiều nguồn khác nhau. Sự kết hợp hài hòa giữa những trang viết đa chiều, giàu cảm xúc và phần hình ảnh được đầu tư chăm chút khiến Hồi ức Phú Nhuận thực sự là món quà quý để người đọc tìm về di sản văn hóa của Phú Nhuận, để hòa điệu, tri ân những độc giả luôn nặng lòng với quận đô thị này.

Trích đoạn

Các nghệ sĩ của Sài Gòn một thuở, những bóng sắc huyền thoại, những danh ca một thời, những nhà văn nhà báo của nửa thế kỷ trước từng sống ở đây hầu như không còn ai ở lại cư xá này, trừ căn nhà 215D/16 năm xưa của nghệ sĩ Năm Châu, nay đã ngăn thành hai căn cho gia đình hai người con và đổi thành địa chỉ mới.

(Trích Cư xá của các nghệ sĩ)

Trong hơn 20 năm trước 1975, nhà hàng bò bảy món Ánh Hồng tuy tọa lạc trên con đường nhỏ ở Phú Nhuận nhưng tiếng tăm vang ra khắp Sài Gòn – Gia Định. Nhiều người, nhất là giới văn nghệ sĩ biết tiếng nhà hàng này, đã từng đến thưởng thức bảy món bò của bà Tư Lái, bếp chính. Tuy vậy, không mấy ai biết gốc gác của nó.

(Trích Nhà hàng bò bảy món Ánh Hồng danh tiếng Sài thành)

Về tác giả

Nhà báo Phạm Công Luận là tác giả của những tựa sách gây tiếng vang và được tái bản nhiều lần như Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Những lối về ấu thơ, Chú bé Thất Sơn. Không chỉ nổi bật trong thể loại tản văn, ông còn là một cây bút gạo cội sở hữu lượng tác phẩm dồi dào, mang đến cho độc giả nhiều tập sách chuyên khảo, hồi ký về Sài Gòn giàu giá trị như Sài Gòn – Chuyện đời của phố (5 tập), Phong vị báo xuân xưa, Sài Gòn – Ngoảnh lại trăm năm…

Đọc bài viết

KOMOaudio

Trò chuyện cùng tác giả “Ga thiền” về cách giúp trẻ giải tỏa căng thẳng

Published

on

Một mùa tựu trường nữa lại chuẩn bị bắt đầu. Bên cạnh việc sắm sửa sách giáo khoa, học cụ cho con; chuyện giúp con rèn luyện những kĩ năng về sức khỏe tinh thần có lẽ cũng là một trong những vấn đề được phụ huynh quan tâm hàng đầu.

Nắm bắt được nhu cầu đó, Phương Nam Book đã phát hành bộ sách “Giúp trẻ làm quen với thiền” để hướng dẫn bé cách giải tỏa căng thẳng. Và Ga thiền là một tác phẩm nằm trong bộ sách này.

Ga thiền lấy ý tưởng về chuyến tàu của nội tâm mà thông qua đó, trẻ có thể học cách quan sát những toa tàu cũng chính là quan sát những suy nghĩ bận rộn, những cảm giác khó chịu và thất vọng của bản thân mình.

Bài phỏng vấn dưới đây do nhà báo Deborah Kalb thực hiện với Susan B. Katz – tác giả phần lời cho Ga thiền sẽ giúp bạn đọc phần nào hiểu rõ hơn những điều đặc biệt của tác phẩm cũng như phương pháp giúp trẻ giải tỏa căng thẳng.

Từ đâu cô có ý tưởng viết Ga thiền?

Trong khoảng 20 năm vừa qua, tôi đã tham dự các khóa tu thiền tại Trung tâm Thiền Spirit Rock với nhiều giáo viên khác nhau, trong đó có cô Sylvia Boorstein. Cách đây vài năm, trong một buổi pháp thoại, cô Sylvia có giảng là nên để những ý nghĩ trôi qua như đám mây.

Là một tác giả viết sách cho trẻ em, tôi quyết định truyền đạt lại khái niệm đó sao cho gần gũi với các em. Thế rồi, ý tưởng về một nhà ga xe lửa và cách vận dụng những từ ngữ để giảm tốc cho “chuyến tàu nội tâm” đến với tôi. Sau đó, tôi cũng nghĩ ra được tiêu đề Ga thiền bởi tôi thích âm điệu của nó (tiêu đề tiếng Anh của tác phẩm này là Meditation Station, có vần ở -tation – chú thích của người dịch).

Tôi đã có dịp làm việc với các sư thân cận thầy Thích Nhất Hạnh khi còn là Giám đốc Đối tác Chiến lược tại Facebook; nhờ đó, tôi quen được một sư cô trong đội ngũ của thầy; về sau, cô đã tham gia làm biên tập viên cho tờ tạp chí Shambhala. Thế là, tôi đưa bản thảo này cho cô và cô rất thích.  

Theo cô, những phương pháp nào là tốt nhất để dạy trẻ em về chánh niệm?

Chánh niệm có nghĩa là có mặt trong giây phút hiện tại, bất kể lúc đó bạn đang rửa chén, ăn uống, đi bộ hay nói chuyện với ai đó.

Một số phương pháp đơn giản nhất có thể áp dụng cho trẻ là:

1. Thở bụng:

Đặt tay lên bụng và hít hơi vào trong 3 giây, từ từ để không khí làm căng phồng bụng như quả bóng. Tạm dừng một giây trước khi thở ra, sau đó thở ra trong năm giây. Điều quan trọng là thời gian thở ra phải dài hơn thời gian hít vào vì nghiên cứu cho thấy chu trình này sẽ làm dịu hệ thần kinh giao cảm và làm nhịp tim chậm lại. Tóm lại, quá trình này giúp giảm mức độ căng thẳng;

2. Trò chuyện với trần nhà:

Các nhà giáo dục cho rằng khi đặt tên những cảm xúc của chúng ta rồi xem chúng là bạn, ta sẽ có thể làm giảm tác dụng của hiệu ứng “bộ lọc xúc cảm”.  Theo lí thuyết, khi ta làm bạn với cảm xúc của mình, ta sẽ có khả năng vượt qua nỗi lo lắng; đồng thời, tinh thần sẵn sàng chấp nhận những rủi ro cũng được nâng lên. Tôi bảo các bé nói với trần nhà (hoặc, với những bé nhút nhát hơn thì cứ thì thầm vào khuỷu tay), những câu nói như: “Xin chào, Nỗi Sợ, người bạn thân mến của tôi!”, hoặc “Chào buồi sáng, Quý Ngài U buồn.” Còn Chán Nản thì là một anh bạn to con. “A, cậu đã trở lại rồi, Cậu bạn Chán Nản, mừng cậu đến!” Nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng một nửa trận chiến là dạy trẻ gọi tên và thừa nhận cảm xúc của mình. Không phán xét hay kháng cự. Trẻ càng nhận thức được những gì mình đang cảm thấy, thì kỹ năng sống sẽ càng được tăng cường để đối mặt trực diện với cảm xúc và những trải nghiệm thay đổi. Tóm lại, hãy làm bạn với những cảm xúc của mình và rồi những cảm xúc đó sẽ ít tác động đến bạn hơn.

3. Ở lại sân ga:

Phương pháp này lấy từ chính cuốn sách Ga thiền của tôi. Hãy bảo bé tưởng tượng rằng bé đang ở trong một nhà ga xe lửa. Khi có một ý nghĩ xuất hiện trong đầu cố lôi kéo bé đi, hãy cứ nhìn ý nghĩ ấy trôi qua. Vẫy chào tạm biệt chuyến tàu/ dòng suy nghĩ. Cảm nhận mặt đất bên dưới đang nâng đỡ bé. Hít vào và thở ra thật sâu. Chạm đầu ngón tay. Ngoe nguẩy ngón chân. Nương tựa vào chính cơ thể và hơi thở của mình sẽ giúp bé có thể nhẹ nhàng quan sát dòng suy nghĩ đang ngược xuôi trên đường ray mà không bị cuốn vào. Và ở đây, phương pháp nói xin chào (hay tạm biệt) một ý nghĩ cũng khá hữu dụng. Chẳng hạn như: “Chào cơn mộng tưởng dạo chơi công viên.”

4. Vận động:

Trẻ em vốn cần vận động. Khi ở nhà, trẻ có một lợi thế là có nhiều cơ hội để đứng dậy đi đây đó, chơi đùa. Tuy nhiên, những lúc trẻ cứ ngồi nhìn chăm chăm vào một thiết bị suốt khoảng thời gian dài, rất cần phải cho trẻ đứng dậy vận động. Trẻ có thể đã biết những tư thế yoga căn bản, bạn có thể chỉ thêm cho trẻ một số bài tập giãn cơ hay cân bằng để trẻ tập luyện. Có rất nhiều tư thế được đặt theo tên động vật càng khiến cho quá trình vận động trở nên hứng thú. Bé có biết đứng thăng bằng như một cái cây, hai tay dang ra làm cành không? Bé có biết vòng cánh tay để làm tư thế chim đại bàng? Rồi còn có tư thế mèo/ bò, cá heo, rắn hổ mang nữa. Danh sách vẫn còn rất dài. Một bài tập yoga/ giãn cơ đơn giản cho “não nghỉ giải lao” có thể sẽ giúp trẻ tập trung trở lại. 

5. Bé đang cảm thấy gì?

Phương pháp này khuyến khích trẻ vận động năm giác quan quay trở lại thời điểm hiện tại. Không cần phải lo lắng về câu hỏi kiểm tra ngày mai (ý tôi là vẫn cần học bài, nhưng đừng lo sợ) hay nghĩ ngợi về khoảnh khắc xấu hổ khi học online trên Zoom vào ngày hôm qua. Ngay bên ngoài, có thể là trong vườn nhà bạn hay công viên địa phương, hãy chơi trò săn tìm những âm thanh tự nhiên. Bạn cũng có thể chơi trò “Tôi thấy” với trẻ để trẻ rời mắt khỏi màn hình và tương tác với gia đình. Trẻ có thể nhắm mắt lại và đoán những mùi hương quen thuộc trong bình (hoặc trên bông gòn) không? Những mùi dễ sẽ là: quế, thông, chocolate hoặc bỏng ngô. Tiếp đến là vị giác, hãy đặt một viên M&M hoặc nho khô lên lòng bàn tay trẻ. Trẻ có thể ngửi nhưng chưa được nếm. Sau đó, bảo trẻ cho thức ăn vào miệng và để hương vị được vị giác hấp thu từ từ. Nhai thật chậm, tận hưởng hương vị. Chánh niệm vốn đòi hỏi chúng ta phải dừng chậm lại, để trở thành một phần của trải nghiệm.

Thực hiện phỏng vấn: Deborah Kalb
Hoàng Đức Nhiên dịch

Đọc bài viết

Cafe sáng