Chuyện người cầm bút

Trò chuyện với Orhan Pamuk: Nghệ thuật tiểu thuyết số 187 (Phần 3)

Published

on

Orhan Pamuk sinh năm 1952 tại Istanbul, nơi ông vẫn đang sống. Gia đình ông giàu lên từ việc xây dựng đường sắt trong những ngày đầu của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ; Pamuk theo học trường Robert College, nơi con cái giới thượng lưu ưu tú của thành phố được hưởng nền giáo dục thế tục theo kiểu phương Tây. Ngay từ đầu, ông đã bộc lộ niềm đam mê với nghệ thuật thị giác, nhưng sau khi đăng ký học kiến trúc tại đại học, ông lại muốn viết. Ông hiện là tác giả được đọc nhiều nhất tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Đọc các phần trước của cuộc phỏng vấn: Phần 1 | Phần 2

*

ÁGQ: Ông có bao giờ quan tâm đến nghị luận xã hội thông qua văn chương?

OP: Không. Tôi phản ứng lại với thế hệ tiểu thuyết gia cũ, đặc biệt là những năm tám mươi. Tôi nói điều này với tất cả sự tôn trọng, nhưng chủ đề của họ rất hạn hẹp và phiến diện.

ÁGQ: Hãy quay lại trước The Black Book. Cảm hứng nào giúp ông viết Pháo đài Trắng? Đây là quyển sách đầu tiên mà ông sử dụng một phông nền lặp lại xuyêt suốt tiểu thuyết – sự mạo danh. Ông nghĩ tại sao ý tưởng trở thành một ai đó khác xuất hiện trong tiểu thuyết của mình?

OP: Đây là chuyện rất cá nhân. Tôi có một người anh trai rất ganh đua nhau chỉ hơn tôi mười tám tháng tuổi. Theo cách nào đó, anh ấy trở thành cha – người cha theo trường phái Freud của tôi, có thể nói như vậy. Chính anh đã trở thành bản ngã biến đổi của tôi, biểu tượng của uy quyền. Mặc khác, chúng tôi cũng có sự ganh đua và tình anh em chiến hữu. Một mối quan hệ vô cùng phức tạp. Tôi viết nhiều về chuyện đó trong Istanbul. Tôi là cậu bé Thổ điển hình, giỏi bóng đá và háo hức với đủ loại trò chơi và cuộc thi. Anh ấy rất thành công ở trường, giỏi hơn tôi. Tôi cảm thấy ghen tị với anh và anh cũng ghen tị với tôi. Anh là người biết điều và có trách nhiệm, một bề trên đã nhận xét như vậy. Trong khi tôi chăm chú vào các trò chơi, anh để tâm đến các nguyên tắc. Chúng tôi ganh đua mọi lúc. Và tôi đã mơ tưởng mình trở thành anh, đại loại vậy. Điều đó tạo ra một hình mẫu. Đố kỵ, ghen tị – là những chủ đề tôi mặn nồng. Tôi luôn lo về sức nặng hoặc sự thành công của anh trai đã có thể ảnh hưởng đến mình nhiều như thế nào. Đây là một phần thiết yếu trong đời sống tinh thần của tôi. Nhận thức được điều đó, vì vậy tôi đặt ra khoảng cách giữa mình và những cảm xúc đó. Tôi biết điều đó tệ hại, vì vậy tôi có quyết tâm của một con người văn minh để chống lại nó. Song đây là dải ngân hà các đầu mút thần kinh mà tôi luôn gắng đương đầu mọi lúc. Và tất nhiên, đến cuối cùng nó trở thành đề tài trong tất cả các câu chuyện của tôi. Ví dụ trong Pháo đài Trắng, mối quan hệ gần như bạo dâm của hai nhân vật chính dựa trên mối quan hệ giữa tôi và anh mình.

Mặt khác, đề tài mạo danh này được phản chiếu qua sự mong manh mà Thổ Nhĩ Kỳ cảm thấy khi đối mặt với văn hóa phương Tây. Sau khi viết Pháo đài Trắng, tôi nhận ra rằng sự ghen tị đó – lo lắng về chuyện bị ảnh hưởng bởi người khác – giống với vị trí của Thổ Nhĩ Kỳ khi nhìn về phía tây. Anh biết đấy, khao khát trở nên Tây hóa và sau đó bị kết án không chính chuyên. Cố tóm lấy tinh thần châu Âu rồi cảm thấy mặc cảm vì bắt chước. Tâm trạng trầm bổng thế này gợi nhớ đến mối quan hệ ganh đua giữa anh em.

ÁGQ: Ông có bao giờ tin rằng cuộc đối đầu liên tục giữa các xung lực Đông và Tây ở Thổ Nhĩ Kỳ sẽ có lúc được giải quyết êm thấm?

OP: Tôi là người lạc quan. Thổ Nhĩ Kỳ không nên lo về việc có hai tinh thần, hai linh hồn thuộc hai nền văn hóa khác nhau. Tâm thần phân liệt làm anh thông minh. Anh có thể mất kết nối với đời thực – tôi là một tác gia hư cấu, vì vậy tôi không nghĩ điều đó tồi tệ – nhưng anh không nên lo về chứng tâm thần phân liệt của mình. Nếu anh quá lo rằng một phần của mình sẽ giết chết phần kia, anh sẽ chỉ còn một linh hồn độc nhất. Chuyện đó còn tệ hơn cả bị ốm. Đây là lý thuyết của tôi. Tôi cố truyền bá nó trong chính trị Thổ, giữa các chính trị gia Thổ, những người yêu cầu đất nước phải có một linh hồn nhất quán – rằng nó phải thuộc về phương Đông hoặc phương Tây hoặc dân tộc chủ nghĩa. Tôi chỉ trích quan điểm nhất nguyên đó.

ÁGQ: Làm thế nào để ý tưởng đó đi vào Thổ Nhĩ Kỳ?

OP: Ý tưởng về một Thổ Nhĩ Kỳ dân chủ, tự do càng được thiết lập, tư duy của tôi càng được chấp nhận. Thổ Nhĩ Kỳ có thể gia nhập Liên minh châu Âu chỉ bằng quan điểm đó thôi. Đó là con đường đấu tranh chống lại chủ nghĩa dân tộc, phản bác lại luận điệu Chúng Ta chống lại Họ.

ÁGQ: Tuy nhiên trong Istanbul, theo như cách ông lãng mạn hóa thành phố, dường như ông đang tiếc thương cho sự sụp đổ của Đế chế Ottoman.

OP: Tôi không thương tiếc Đế chế Ottoman. Tôi là người Tây hóa. Tôi vui lòng vì quá trình Tây hóa đã diễn ra. Tôi chỉ đang chỉ trích cách thức hạn chế mà giới tinh hoa đang thống trị – nghĩa là gồm cả bộ máy quan liêu và người giàu mới – quan niệm về Tây hóa. Họ thiếu sự tự tin cần thiết để tạo ra nền văn hóa dân tộc giàu biểu tượng và lễ nghi của riêng mình. Họ không cố gắng tạo ra một nền văn hóa Istanbul là sự kết hợp hữu cơ giữa Đông và Tây; họ chỉ đặt những thứ Tây phương và Đông phương lại với nhau. Dĩ nhiên, đã có một nền văn hóa Ottoman địa phương mạnh mẽ, song nó đang dần mất đi từng chút một. Những gì họ phải làm, và làm không tới chốn, là tạo ra một nền văn hóa địa phương mạnh mẽ, là sự kết hợp – không phải bắt chước – của quá khứ phương Đông và hiện tại phương Tây. Tôi cố làm điều tương tự trong sách của mình. Có lẽ các thế hệ mới sẽ làm được điều đó, và việc gia nhập Liên minh châu Âu sẽ không phá hủy bản sắc Thổ mà làm cho nó hưng thịnh và cho chúng ta nhiều tự do và tự tin hơn để tạo ra nền văn hóa Thổ mới. Bắt chước phương Tây hoặc rập khuôn nền văn hóa Ottoman cũ kĩ đã chết không phải là giải pháp. Anh buộc phải làm điều gì đó với mấy thứ này và không nên quá lo lắng về việc là một phần của chúng.

ÁGQ: Tuy vậy, trong Istanbul, dường như ông có cùng nhận định với người nước ngoài, người phương Tây khi nhìn về thành phố quê hương ông.

OP: Nhưng tôi cũng giải thích lý do tại sao một trí thức Thổ đã Tây hóa có thể đồng nhất với cái nhìn phương Tây – tạo nên Istanbul là một quá trình đồng nhất với phương Tây. Luôn có sự phân hóa đó, và anh cũng dễ dàng nhận ra sự giận dữ của phương Đông. Mọi người đôi khi là người phương Tây và đôi khi lại là người phương Đông – trên thực tế là sự kết hợp liên tục của cả hai. Tôi thích ý tưởng về Đông phương học của Edward Said, nhưng vì Thổ Nhĩ Kỳ chưa bao giờ là thuộc địa nên việc lãng mạn hóa Thổ Nhĩ Kỳ không bao giờ là vấn đề với người Thổ. Người phương Tây không hạ nhục người Thổ như cách họ lăng mạ người Ả Rập và người da đỏ. Istanbul chỉ bị xâm lược trong hai năm và tàu bè của kẻ thù đã rời đi như khi họ đến, vì vậy điều này không để lại vết sẹo sâu trong tinh thần dân tộc. Cái để lại sẹo sâu là sự sụp đổ của Đế chế Ottoman, vì vậy tôi không có cảm giác lo lắng người phương Tây coi thường mình. Mặc dù sau khi thành lập nước Cộng hòa, có đủ mối đe dọa bởi người Thổ muốn Tây hóa song không tới nơi tới chốn, chuyện đó để lại mặc cảm tự ti mà chúng tôi phải giải quyết và thảng hoặc tôi cũng có thể bị.

Mặc khác, vết sẹo không sâu như các quốc gia khác bị đô hộ trong hai trăm năm. Người Thổ không bao giờ bị đàn áp bởi các cường quốc phương Tây. Sự đàn áp người Thổ phải chịu do tự họ gây ra; chúng tôi đã xóa bỏ lịch sử của mình vì nó thực tiễn. Dựa vào đó sự đàn áp cho cảm giác mong manh. Song thứ Tây hóa tự áp đặt đó cũng mang lại sự cô lập. Người da đỏ mặt đối mặt với kẻ áp bức họ. Người Thổ bị cô lập một cách kỳ quặc với thế giới phương Tây mà họ bắt chước. Vào những năm năm mươi và thậm chí là những năm sáu mươi, khi một người nước ngoài đến ở tại Istanbul Hilton, chuyện sẽ lan trên khắp các mặt báo.

– Còn tiếp –

Đọc phần 4 của cuộc phỏng vấn tại đây

3V

Dịch từ bài viết gốc Paris Review – The Art of Fiction No. 187 (theparisreview.org)

Chuyện người cầm bút

Nhật Chiêu: Truyện tuyệt ngắn không dễ viết

Published

on

By

Lời tiên tri của giọt sương (xuất bản năm 2011) do nhà văn Nhật Chiêu chấp bút là tập truyện tuyệt ngắn và truyện một câu đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam. Qua đó, Nhật Chiêu cũng là một trong những nhà văn tiên phong cho thể loại này ở Việt Nam. Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn về truyện tuyệt ngắn.

Tại sao ông lại viết truyện tuyệt ngắn?

Có người gọi truyện tuyệt ngắn và truyện một câu là Hint fiction, tức là truyện có số lượng trên dưới khoảng 25 từ, là loại truyện khơi gợi một cái gì lớn hơn và phức tạp hơn với số lượng chữ ít ỏi nhất. Trong văn chương, tôi thích những gì khơi gợi hơn là những gì thuyết lí, phô bày lộ liễu. Sự khơi gợi sẽ đưa ta đến chân trời khoáng đạt, còn sự phô bày lộ liễu chỉ là hủy diệt mà thôi.

Có nhiều ý kiến cho rằng khi chuyển sang viết truyện tuyệt ngắn là ông đang chọn hướng đi dễ dãi với mình hơn, ông viết truyện tuyệt ngắn vì ông không thể viết những truyện dài. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Truyện một câu không hề dễ như người ta tưởng tượng. Bởi vì ngay cả trên thế giới, dù thể loại này đã tồn tại trước Việt Nam thì số lượng tác giả thành công cũng như tác phẩm thành công là rất hiếm. Nếu hỏi truyện một câu trên thế giới mà được nhớ đến và thường được trích dẫn thì chỉ có một, hai trường hợp. Trong đó, có Augusto Monterroso - tác giả Guatemala với truyện một câu: Khủng long gồm 8 chữ chữ như sau: “Thức dậy, con khủng long vẫn còn đó.” Truyện này được nhiều nhà văn lớn, trong đó có Italo Calvino ca ngợi hết lời, là đề tài cho nhiều tiểu luận khác nhau. Nếu truyện một câu là dễ dàng thì thử hỏi vì sao ít truyện một câu đạt được thành tựu đến thế. Người ta vẫn nói thơ Haiku dễ làm nhưng thật ra có bao nhiêu bài thơ Haiku được nhớ đến như là tuyệt tác. Tại sao quanh đi quẩn lại cũng chỉ là Basho, Issa, Buson, Shiki? Cho nên hãy cứ tạm xem truyện một câu hoặc hai, ba câu cũng giống như trường hợp thơ Haiku. Dễ hay khó không chắc gì quyết được và cũng chẳng cần tranh luận. Ai cảm thấy nó dễ thì cứ thử viết chơi vài trăm truyện. Thế thôi, bao giờ cũng vậy, dễ nhất là nói. Làm lại là một chuyện khác.

Trong văn học của nhiều nước vẫn luôn luôn tồn tại những nhà văn chỉ viết truyện ngắn. Như vậy, ngắn hay dài không phải là thước đo và thật sự càng ngày càng có xu hướng nhiều nhà văn viết truyện tuyệt ngắn. Tôi có rất nhiều tập truyện tuyệt ngắn của nhiều nhà văn loại này như Augusto Monterroso hoặc như tập truyện Hint fiction do Robert Swartwood tuyển của nhà xuất bản lừng danh Norton, hoặc các tập sách mang tên Flash fiction, Micro fiction…Mỗi ngày tôi đều đọc một vài truyện tuyệt ngắn hoặc truyện một câu của các nhà văn trên thế giới mà tôi đã may mắn sưu tầm được và càng đọc tôi càng thấy khó viết. Đó là ý kiến của tôi.

Là người đi tiên phong ở thể loại truyện tuyệt ngắn, trong quá trình viết, điều gì khiến ông cảm thấy khó khăn nhất?

Do thói quen thường xuyên đọc thơ Haiku và công án Thiền tông, đôi khi chỉ có vài từ hoặc chỉ duy nhất một từ, tôi từng ao ước trong thể loại truyện này cũng có những hình thức tương tự. Nhưng vấn đề là làm sao để cho dài ngắn thế nào thì truyện cũng phải có cái gọi là diễn biến truyện, nghĩa là có tính chất tự sự. Muốn vậy, phải có phương pháp, có cách sử dụng ngôn từ đặc biệt. Nếu không thì mọi sự sẽ thành nhảm và ai cũng làm được dễ dàng. Ví dụ: truyện có chữ Đất sẽ chẳng có nghĩa lí gì nếu như nó không có một tiêu đề thích hợp để gợi lên một vận động của truyện. Tiêu đề ở đây là Sử thi nàng Sita và “toàn văn” của truyện nhờ cái tiêu đề đó mà phát tiết ý nghĩa.

Khó khăn lớn nhất theo tôi vẫn là làm sao để nó đến được với người đọc một cách thuyết phục. Điều này không một tác giả nào có thể nắm chắc. Có những cái thuộc về thói quen, thành kiến, tầm đón đợi, thiếu thông tin… sẽ là những chướng ngại cho việc người đọc bước vào văn bản mà không e dè. Còn trong khi sáng tác, tôi cảm thấy mình quen thuộc với thể truyện tuyệt ngắn như thể có “nhân duyên gắn kết” - theo cách nói của Hoàng Lương, người viết lời bạt cho Lời tiên tri của giọt sương.

Ảnh: Thiên Kim
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Nhà văn Nhật Chiêu: Văn học nước ngoài nên được dạy như văn học Việt Nam

Published

on

By

Những tác phẩm văn học nước ngoài (VHNN) được đưa vào sách giáo khoa như một phần học chính thức bên cạnh văn học Việt Nam (VHVN). Thế nhưng, vì trong đề thi tốt nghiệp, đại học, đa phần tập trung vào VHVN nên việc giảng dạy VHNN trong nhà trường còn nhiều bất cập. Nhiều trường vì chạy đua theo thành tích nên đã không giảng dạy VHNN mà dành giờ học đó để tập trung ôn thi cho VHVN. Trước thực trạng trên, Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn, nhà giáo Nhật Chiêu - người có nhiều công trình nghiên cứu về văn học của các nước trên thế giới.

Thầy nghĩ sao về việc hiện nay nhiều trường không giảng dạy VHNN hoặc dạy rất sơ sài?

Đối với tôi, điều này không có gì là lạ cả. Đó là do các phần kiến thức thuộc về VHNN ít khi được đưa vào đề thi nên mới xảy ra tình trạng như thế. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nếu đã đưa VHNN vào chương trình giảng dạy thì phải làm sao cho đồng nhất việc dạy ở tất cả các trường. Còn nếu có trường dạy, trường không vì chỉ học cho biết thêm thì đừng nên đưa vào chương trình.

Theo quan điểm của thầy thì có nên cho giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN không?

Tôi không bức xúc về chuyện hiện nay VHNN chỉ được dạy như một kiến thức phụ trong môn Văn ở trường nhưng đúng là nếu để giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN thì sẽ tốt hơn rất nhiều. Đây là một việc nên làm. Cũng giống như khi ta học Toán, đó là một sự tổng hợp từ nhiều nền Toán học trên thế giới. Ta đâu có phân biệt, hay nói là đang học “Toán học Việt Nam”. Tương tự như vậy, tôi muốn môn Văn học cũng được nhìn nhận như thế. Càng học được từ nhiều nước khác nhau, ta càng có cái nhìn toàn diện và quan điểm đúng đắn hơn.

Theo thầy, việc học VHNN ngày xưa và bây giờ có gì khác nhau?

Ngày xưa, vào thời tôi thậm chí còn không có môn VHNN. Môn Văn được gọi bằng những cái tên như: “Việt Văn”, “Quốc Văn”, “Văn học Hán-Nôm”, “Văn học Việt-Hán”. Như vậy là ngay cái tên môn học cũng đã xác định rất rõ là chỉ dạy VHVN. Việc đặt tên môn Văn học như chương trình bây giờ là chính xác hơn.

Nếu là vậy thì ngày xưa thầy học VHNN từ những nguồn nào, bắt đầu từ khi nào mà thầy có ý thức nên học VHNN?

Từ bé đến nay, tôi chưa học VHNN một giờ nào theo nghĩa đến trường học. Tôi tự học chủ yếu qua sách báo, những tác phẩm nghiên cứu dịch thuật. Tôi bắt đầu có ý thức về việc này từ năm lớp 6. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ nếu VHNN được dạy một cách đàng hoàng, chính thức trong nhà trường thì vẫn vui hơn. Điều này cũng giống như khi bạn yêu mến một bản nhạc nào đó. Bạn có thể tự nghe nó một mình ở nhà cũng được nhưng cảm giác đến nhà hát nghe nhạc sống vẫn thích hơn phải không nào?

Thầy nghĩ như thế nào khi có người nói rằng việc học VHNN quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của học sinh. Cụ thể là các em sẽ suy nghĩ và viết văn theo cách của người phương Tây, của nước ngoài, không còn là của người Việt Nam nữa?

Đối với bản thân tôi, những chuyện khi tôi viết văn là những chuyện có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào. Và tôi thích văn chương như thế hơn là phải tự bó buộc mình khi viết với suy nghĩ rằng: “Tôi là người Việt Nam. Tôi chỉ viết những chuyện thuộc về Việt Nam.” Chẳng hạn như một trong những truyện cực ngắn mới nhất của tôi có câu như thế này: “Là người cuối cùng được phóng vào vũ trụ, anh nhìn thấy trái đất nổ tan.” Đó là chuyện có thể xảy ra ở bất cứ đâu mà cũng có thể chẳng xảy ra ở đâu cả. Nó chỉ nói về cảm giác của một con người cô đơn, lạc loài nói chung. Tôi muốn nhắn với các bạn như thế này: “Cứ viết những gì mình thích, những gì mình nghĩ.”

Ảnh: Ông Đồ Nghệ
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Cafe sáng