Chuyện người cầm bút

Trò chuyện với Orhan Pamuk: Nghệ thuật tiểu thuyết số 187 (Phần 4)

Published

on

Orhan Pamuk sinh năm 1952 tại Istanbul, nơi ông vẫn đang sống. Gia đình ông giàu lên từ việc xây dựng đường sắt trong những ngày đầu của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ; Pamuk theo học trường Robert College, nơi con cái giới thượng lưu ưu tú của thành phố được hưởng nền giáo dục thế tục theo kiểu phương Tây. Ngay từ đầu, ông đã bộc lộ niềm đam mê với nghệ thuật thị giác, nhưng sau khi đăng ký học kiến trúc tại đại học, ông lại muốn viết. Ông hiện là tác giả được đọc nhiều nhất tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Đọc các phần trước của cuộc phỏng vấn: Phần 1 | Phần 2 | Phần 3

*

ÁGQ: Ông có cho rằng có một chuẩn mực hoặc thậm chí là một chuẩn mực nào đó nên tồn tại? Chúng ta đã nghe nói về một chuẩn mực phương Tây, nhưng còn một chuẩn mực phi-phương Tây thì sao?

OP: Vâng, có một chuẩn mực khác. Nó nên được khám phá, phát triển, sẻ chia, phản biện và sau đó được chấp nhận. Hiện giờ cái gọi là chuẩn mực phương Đông đang suy tàn. Những văn tự vinh quang ở khắp chung quanh nhưng không có thứ gì ghép chúng lại với nhau. Từ các tác phẩm kinh điển Ba Tư, cho đến tất cả các văn bản tiếng Ấn, tiếng Hoa và tiếng Nhật, những cái đó nên được đánh giá phê bình nghiêm túc. Cứ như hiện nay, chuẩn mực nằm trong tay các học giả phương Tây. Đó là trung tâm phân phối và truyền đạt.

ÁGQ: Tiểu thuyết là một hình thức văn hóa rất Tây. Nó có vị trí nào trong truyền thống phương Đông hay không?

OP: Tiểu thuyết hiện đại, tách rời khỏi hình thức sử thi, về căn bản là một thứ phi-phương Đông. Bởi vì tiểu thuyết gia là một cá nhân không thuộc về tập thể, không chia sẻ những bản năng cơ bản của cộng đồng, suy nghĩ và xét đoán với một nền văn hóa khác nền văn hóa anh ta đang trải nghiệm. Một khi nhận thức của anh ta khác với cộng đồng mà anh thuộc về, anh ta là người ngoài cuộc, là kẻ cô độc. Và sự phong phú trong chữ nghĩa của anh ta đến từ tầm nhìn mãn nhãn ngoài cuộc đó.

Một khi bạn hình thành thói quen nhìn thế giới như vậy và viết về nó theo phong cách đó, bạn sẽ có mong muốn tách khỏi cộng đồng. Đây là hình mẫu tôi nghĩ đến trong Tuyết.

ÁGQ: Tuyết là cuốn sách có nhiều yếu tố chính trị nhất của ông được xuất bản. Ông nghĩ thế nào về chuyện đó?

OP: Khi tôi dần trở nên nổi tiếng ở Thổ Nhĩ Kỳ vào giữa những năm 90, thời điểm mà cuộc chiến chống quân du kích người Kurd diễn ra quyết liệt, những nhà văn cánh tả cũ lẫn những người cấp tiến hiện đại mới muốn tôi giúp họ ký vào thỉnh nguyện thư – dần dần họ yêu cầu tôi làm những việc chính trị không liên quan đến cuốn sách của mình.

Ngay sau đó là đợt phản công bằng chiến dịch ám sát những yếu nhân. Họ bắt đầu gọi tên tôi. Tôi đã rất tức giận. Sau đó tôi tự hỏi, Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi viết một cuốn tiểu thuyết mang màu sắc chính trị mà trong đó tôi khai phá những thế lưỡng nan chính trong đầu óc mình – đến từ một gia đình trung-thượng lưu và cảm thấy có trách nhiệm với những người không có sức ảnh hưởng chính trị? Tôi tin vào nghệ thuật tiểu thuyết. Điều lạ lùng là làm sao khiến bạn trở thành người ngoài cuộc. Lúc đó tôi tự nói với mình rằng tôi sẽ viết một cuốn tiểu thuyết chính trị. Tôi bắt đầu viết nó ngay sau khi hoàn tất Tên tôi là Đỏ.

ÁGQ: Tại sao câu chuyện lại được diễn ra ở thị trấn nhỏ Kars?

OP: Nó nổi danh là một trong những thị trấn lạnh nhất Thổ Nhĩ Kỳ. Và là một trong những nơi nghèo nhất. Đầu những năm 80, toàn bộ trang nhất của các tờ báo lớn đồng loạt nói về sự nghèo đói ở Kars. Ai đó tính rằng anh có thể mua toàn bộ thị trấn với mức giá đâu đó một triệu đô la. Không khí chính trị quá ngặt nghèo khi tôi muốn tới đó. Vùng ngoại ô thị trấn có dân số phần lớn là người Kurd, nhưng ở khu trung tâm là sự đan xen giữa người Kurd, người Azerbaijan, người Thổ và tất cả các nhóm khác. Đã từng có cả người Nga và người Đức. Có nhiều nhóm tôn giáo khác nhau như Shia và Sunni. Cuộc chiến chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành chống lại du kích quân người Kurd diễn ra ác liệt đến mức du lịch đến đó là bất khả thi. Tôi biết mình không thể đơn giản tới đó với tư cách tiểu thuyết gia, vì vậy tôi đã hỏi nhờ biên tập viên của một tờ báo tôi có qua lại để xin thẻ thông hành để đến khu vực này. Ông ấy có sức ảnh hưởng và đã đích thân gọi cho thị trưởng và sếp cẩm để cho họ biết tôi sẽ đến.

Ngay khi đến nơi, tôi đã đến thăm thị trưởng và bắt tay sếp cẩm để họ không tóm tôi trên đường. Thực tế, vài cảnh sát ở đó không biết tôi và đã đưa tôi đi, dễ chừng với ý định tra khảo tôi. Lập tức tôi cho họ vài cái tên – tôi biết thị trưởng, tôi biết sếp cẩm… Tôi là một nhân vật đầy ám muội. Bởi mặc dù Thổ Nhĩ Kỳ trên lý thuyết là quốc gia tự do, nhưng bất kỳ người nước ngoài nào cũng từng bị nghi ngờ cho tới khoảng năm 1999. Hy vọng là ngày nay mọi thứ dễ thở hơn.

Hầu hết con người và nơi chốn trong cuốn sách đều dựa trên bản sao có thực. Ví dụ, tờ báo địa phương bán được hai trăm năm mươi bản là có thực. Tôi đến Kars với một chiếc máy ảnh và máy quay. Tôi quay mọi thứ ở đó và sau này trở lại Istanbul cho bạn bè xem. Mọi người cho rằng tôi hơn điên. Có những chuyện khác thực sự đã diễn ra. Giống như cuộc đối thoại mà tôi mô tả về biên tập viên một tờ báo nhỏ, người nói với Ka những gì ông đã làm ngày hôm qua và Ka hỏi làm thế nào anh biết và anh ta tiết lộ rằng mình nghe từ bộ đàm của cảnh sát và cảnh sát đã theo dõi Ka mọi lúc. Đó là sự thật. Và họ cũng theo dõi tôi.

Phát thanh viên địa phương đưa tôi lên ti vi và nói, Nhà văn nổi tiếng của chúng ta đang viết một chuyên mục cho tờ báo quốc gia – đó là một việc vô cùng quan trọng. Các cuộc bầu cử cấp thành phố sắp diễn ra nên người dân Kars đã mở cửa chào đón tôi. Họ đều muốn nói gì đó với báo chí quốc gia, để chính phủ biết họ nghèo đến thế nào. Họ không biết rằng tôi sẽ đưa họ vào tiểu thuyết. Họ nghĩ tôi đưa những điều đó vào bài báo. Tôi phải thú nhận rằng chuyện đó thật cay đắng và tàn nhẫn đối với tôi. Mặc dù tôi cũng đang thực sự nghĩ đến việc viết một bài báo về chuyện đó.

Bốn năm trôi qua. Tôi đi đi về về. Có một quán cà phê nhỏ, nơi thỉnh thoảng tôi vẫn ngồi viết và ghi chú. Một người bạn nhiếp ảnh gia của tôi, người tôi đã mời đi cùng vì Kars là nơi tuyệt đẹp khi tuyết rơi, tình cờ nghe được cuộc trò chuyện trong quá cà phê nhỏ. Mọi người đang nói chuyện với nhau trong khi tôi viết ghi chú, rằng, Ông ta đang viết loại báo gì vậy? Đã ba năm rồi, đủ thời gian để viết một cuốn tiểu thuyết. Họ đã bắt được tôi.

ÁGQ: Phản ứng với cuốn sách ra sao?

OP: Ở Thổ Nhĩ Kỳ, cả những người bảo thủ – hay Hồi giáo chính trị – và những người thế tục chủ nghĩa đều tỏ ra khó chịu. Không đến mức cấm sách hay xúc phạm tôi. Nhưng họ khó chịu và viết về nó trên nhật báo quốc gia. Những người thế tục chủ nghĩa khó chịu vì tôi viết rằng cái giá phải trả của việc trở thành người thế tục cấp tiến ở Thổ Nhĩ Kỳ là bạn quên mất rằng bạn cũng phải là một người dân chủ. Quyền lực của những người thế tục chủ nghĩa Thổ đến từ quân đội. Điều này phá hủy nền dân chủ và văn hóa Thổ khoan dung. Một khi quân đội lún quá sâu vào văn hóa chính trị, mọi người sẽ mất tự tin và dựa vào quân đội để giải quyết mọi vấn đề của họ. Người ta thường nói, Đất nước và nền kinh tế là một mớ hỗn độn, hãy kêu gọi quân đội dọn sạch nó. Nhưng ngay khi họ dọn xong, họ cũng phá hủy văn hóa khoan dung. Rất nhiều nghi can bị tra tấn; hàng trăm nghìn người bị bỏ tù. Điều này lại mở đường cho một cuộc đảo chính quân sự mới. Cứ mỗi mười năm lại một lần mới. Vậy nên tôi đã chỉ trích những người thế tục chủ nghĩa vì điều đó. Họ cũng không thích việc tôi mô tả những người theo chủ nghĩa Hồi giáo như thể là toàn nhân loại.

Những người Hồi giáo chính trị khó chịu vì tôi viết về một người Hồi giáo quan hệ tình dục trước hôn nhân. Đó chỉ là một đơn cử. Người Hồi giáo luôn nghi ngờ tôi bởi tôi không đến từ nền văn hóa của họ và bởi tôi có ngôn ngữ, thái độ và thậm chí cử chỉ của một người Tây hóa và của một người có nhiều đặc quyền. Họ có riêng người đại diện về những vấn đề đó và hỏi, Làm thế nào mà ông có thể viết về chúng tôi? Ông chẳng hiểu gì cả. Chuyện này tôi cũng đã bao quát trong các phần của tiểu thuyết.

Nhưng tôi không muốn cường điệu. Tôi đã sống sót. Tất cả họ đều đọc cuốn sách. Họ có thể tức giận, song đó là dấu hiệu của quan điểm tự do ngày càng tăng rằng họ chấp nhận tôi và sách của tôi như họ vốn dĩ. Phản ứng của người dân Kars cũng bị chia rẽ. Một số nói, Vâng, chính là như vậy. Số khác, thường là những người dân tộc chủ nghĩa Thổ, tỏ ra lo lắng khi tôi nhắc đến người Armenia. Ví dụ, một phát thanh viên truyền hình đã bỏ cuốn sách của tôi vào chiếc túi tượng trưng màu đen và gởi qua bưu điện cho tôi và nói trong một cuộc họp báo rằng tôi đang tuyên truyền cho người Armenia – dĩ nhiên chuyện đó thật phi lý. Chúng tôi có một nền văn hóa đầy giáo lý, dân tộc chủ nghĩa như vậy đấy.

ÁGQ: Cuốn sách có bao giờ trở thành một biểu tượng kiểu Rushdie không?

OP: Không, hoàn toàn không.

ÁGQ: Đó là một cuốn sách bi quan, ảm đạm vô cùng. Người duy nhất trong cả tiểu thuyết có thể lắng nghe từ mọi phía – Ka – cuối cùng lại bị mọi người khinh thường.

OP: Tôi có lẽ đã bi kịch hóa vị trí của mình với tư cách một tiểu thuyết gia Thổ Nhĩ Kỳ. Mặc dù biết mình bị khinh thường nhưng ông ấy rất thích duy trì đối thoại với mọi người. Ông cũng có bản năng sinh tồn mạnh mẽ. Ka bị khinh thường vì họ coi ông giống như gián điệp phương Tây, đó là điều tôi bị nói nhiều lần.

Về sự ảm đạm, tôi đồng ý. Nhưng lối thoát là sự hóm hỉnh. Khi người ta nói nó ảm đạm, tôi hỏi họ, Nó có vui không? Tôi nghĩ có nhiều điều khôi hài trong đó. Ít nhất đó là ý định của tôi.

– Còn tiếp –

3V

Dịch từ bài viết gốc Paris Review – The Art of Fiction No. 187 (theparisreview.org)

Chuyện người cầm bút

Nhật Chiêu: Truyện tuyệt ngắn không dễ viết

Published

on

By

Lời tiên tri của giọt sương (xuất bản năm 2011) do nhà văn Nhật Chiêu chấp bút là tập truyện tuyệt ngắn và truyện một câu đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam. Qua đó, Nhật Chiêu cũng là một trong những nhà văn tiên phong cho thể loại này ở Việt Nam. Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn về truyện tuyệt ngắn.

Tại sao ông lại viết truyện tuyệt ngắn?

Có người gọi truyện tuyệt ngắn và truyện một câu là Hint fiction, tức là truyện có số lượng trên dưới khoảng 25 từ, là loại truyện khơi gợi một cái gì lớn hơn và phức tạp hơn với số lượng chữ ít ỏi nhất. Trong văn chương, tôi thích những gì khơi gợi hơn là những gì thuyết lí, phô bày lộ liễu. Sự khơi gợi sẽ đưa ta đến chân trời khoáng đạt, còn sự phô bày lộ liễu chỉ là hủy diệt mà thôi.

Có nhiều ý kiến cho rằng khi chuyển sang viết truyện tuyệt ngắn là ông đang chọn hướng đi dễ dãi với mình hơn, ông viết truyện tuyệt ngắn vì ông không thể viết những truyện dài. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Truyện một câu không hề dễ như người ta tưởng tượng. Bởi vì ngay cả trên thế giới, dù thể loại này đã tồn tại trước Việt Nam thì số lượng tác giả thành công cũng như tác phẩm thành công là rất hiếm. Nếu hỏi truyện một câu trên thế giới mà được nhớ đến và thường được trích dẫn thì chỉ có một, hai trường hợp. Trong đó, có Augusto Monterroso - tác giả Guatemala với truyện một câu: Khủng long gồm 8 chữ chữ như sau: “Thức dậy, con khủng long vẫn còn đó.” Truyện này được nhiều nhà văn lớn, trong đó có Italo Calvino ca ngợi hết lời, là đề tài cho nhiều tiểu luận khác nhau. Nếu truyện một câu là dễ dàng thì thử hỏi vì sao ít truyện một câu đạt được thành tựu đến thế. Người ta vẫn nói thơ Haiku dễ làm nhưng thật ra có bao nhiêu bài thơ Haiku được nhớ đến như là tuyệt tác. Tại sao quanh đi quẩn lại cũng chỉ là Basho, Issa, Buson, Shiki? Cho nên hãy cứ tạm xem truyện một câu hoặc hai, ba câu cũng giống như trường hợp thơ Haiku. Dễ hay khó không chắc gì quyết được và cũng chẳng cần tranh luận. Ai cảm thấy nó dễ thì cứ thử viết chơi vài trăm truyện. Thế thôi, bao giờ cũng vậy, dễ nhất là nói. Làm lại là một chuyện khác.

Trong văn học của nhiều nước vẫn luôn luôn tồn tại những nhà văn chỉ viết truyện ngắn. Như vậy, ngắn hay dài không phải là thước đo và thật sự càng ngày càng có xu hướng nhiều nhà văn viết truyện tuyệt ngắn. Tôi có rất nhiều tập truyện tuyệt ngắn của nhiều nhà văn loại này như Augusto Monterroso hoặc như tập truyện Hint fiction do Robert Swartwood tuyển của nhà xuất bản lừng danh Norton, hoặc các tập sách mang tên Flash fiction, Micro fiction…Mỗi ngày tôi đều đọc một vài truyện tuyệt ngắn hoặc truyện một câu của các nhà văn trên thế giới mà tôi đã may mắn sưu tầm được và càng đọc tôi càng thấy khó viết. Đó là ý kiến của tôi.

Là người đi tiên phong ở thể loại truyện tuyệt ngắn, trong quá trình viết, điều gì khiến ông cảm thấy khó khăn nhất?

Do thói quen thường xuyên đọc thơ Haiku và công án Thiền tông, đôi khi chỉ có vài từ hoặc chỉ duy nhất một từ, tôi từng ao ước trong thể loại truyện này cũng có những hình thức tương tự. Nhưng vấn đề là làm sao để cho dài ngắn thế nào thì truyện cũng phải có cái gọi là diễn biến truyện, nghĩa là có tính chất tự sự. Muốn vậy, phải có phương pháp, có cách sử dụng ngôn từ đặc biệt. Nếu không thì mọi sự sẽ thành nhảm và ai cũng làm được dễ dàng. Ví dụ: truyện có chữ Đất sẽ chẳng có nghĩa lí gì nếu như nó không có một tiêu đề thích hợp để gợi lên một vận động của truyện. Tiêu đề ở đây là Sử thi nàng Sita và “toàn văn” của truyện nhờ cái tiêu đề đó mà phát tiết ý nghĩa.

Khó khăn lớn nhất theo tôi vẫn là làm sao để nó đến được với người đọc một cách thuyết phục. Điều này không một tác giả nào có thể nắm chắc. Có những cái thuộc về thói quen, thành kiến, tầm đón đợi, thiếu thông tin… sẽ là những chướng ngại cho việc người đọc bước vào văn bản mà không e dè. Còn trong khi sáng tác, tôi cảm thấy mình quen thuộc với thể truyện tuyệt ngắn như thể có “nhân duyên gắn kết” - theo cách nói của Hoàng Lương, người viết lời bạt cho Lời tiên tri của giọt sương.

Ảnh: Thiên Kim
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Nhà văn Nhật Chiêu: Văn học nước ngoài nên được dạy như văn học Việt Nam

Published

on

By

Những tác phẩm văn học nước ngoài (VHNN) được đưa vào sách giáo khoa như một phần học chính thức bên cạnh văn học Việt Nam (VHVN). Thế nhưng, vì trong đề thi tốt nghiệp, đại học, đa phần tập trung vào VHVN nên việc giảng dạy VHNN trong nhà trường còn nhiều bất cập. Nhiều trường vì chạy đua theo thành tích nên đã không giảng dạy VHNN mà dành giờ học đó để tập trung ôn thi cho VHVN. Trước thực trạng trên, Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn, nhà giáo Nhật Chiêu - người có nhiều công trình nghiên cứu về văn học của các nước trên thế giới.

Thầy nghĩ sao về việc hiện nay nhiều trường không giảng dạy VHNN hoặc dạy rất sơ sài?

Đối với tôi, điều này không có gì là lạ cả. Đó là do các phần kiến thức thuộc về VHNN ít khi được đưa vào đề thi nên mới xảy ra tình trạng như thế. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nếu đã đưa VHNN vào chương trình giảng dạy thì phải làm sao cho đồng nhất việc dạy ở tất cả các trường. Còn nếu có trường dạy, trường không vì chỉ học cho biết thêm thì đừng nên đưa vào chương trình.

Theo quan điểm của thầy thì có nên cho giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN không?

Tôi không bức xúc về chuyện hiện nay VHNN chỉ được dạy như một kiến thức phụ trong môn Văn ở trường nhưng đúng là nếu để giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN thì sẽ tốt hơn rất nhiều. Đây là một việc nên làm. Cũng giống như khi ta học Toán, đó là một sự tổng hợp từ nhiều nền Toán học trên thế giới. Ta đâu có phân biệt, hay nói là đang học “Toán học Việt Nam”. Tương tự như vậy, tôi muốn môn Văn học cũng được nhìn nhận như thế. Càng học được từ nhiều nước khác nhau, ta càng có cái nhìn toàn diện và quan điểm đúng đắn hơn.

Theo thầy, việc học VHNN ngày xưa và bây giờ có gì khác nhau?

Ngày xưa, vào thời tôi thậm chí còn không có môn VHNN. Môn Văn được gọi bằng những cái tên như: “Việt Văn”, “Quốc Văn”, “Văn học Hán-Nôm”, “Văn học Việt-Hán”. Như vậy là ngay cái tên môn học cũng đã xác định rất rõ là chỉ dạy VHVN. Việc đặt tên môn Văn học như chương trình bây giờ là chính xác hơn.

Nếu là vậy thì ngày xưa thầy học VHNN từ những nguồn nào, bắt đầu từ khi nào mà thầy có ý thức nên học VHNN?

Từ bé đến nay, tôi chưa học VHNN một giờ nào theo nghĩa đến trường học. Tôi tự học chủ yếu qua sách báo, những tác phẩm nghiên cứu dịch thuật. Tôi bắt đầu có ý thức về việc này từ năm lớp 6. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ nếu VHNN được dạy một cách đàng hoàng, chính thức trong nhà trường thì vẫn vui hơn. Điều này cũng giống như khi bạn yêu mến một bản nhạc nào đó. Bạn có thể tự nghe nó một mình ở nhà cũng được nhưng cảm giác đến nhà hát nghe nhạc sống vẫn thích hơn phải không nào?

Thầy nghĩ như thế nào khi có người nói rằng việc học VHNN quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của học sinh. Cụ thể là các em sẽ suy nghĩ và viết văn theo cách của người phương Tây, của nước ngoài, không còn là của người Việt Nam nữa?

Đối với bản thân tôi, những chuyện khi tôi viết văn là những chuyện có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào. Và tôi thích văn chương như thế hơn là phải tự bó buộc mình khi viết với suy nghĩ rằng: “Tôi là người Việt Nam. Tôi chỉ viết những chuyện thuộc về Việt Nam.” Chẳng hạn như một trong những truyện cực ngắn mới nhất của tôi có câu như thế này: “Là người cuối cùng được phóng vào vũ trụ, anh nhìn thấy trái đất nổ tan.” Đó là chuyện có thể xảy ra ở bất cứ đâu mà cũng có thể chẳng xảy ra ở đâu cả. Nó chỉ nói về cảm giác của một con người cô đơn, lạc loài nói chung. Tôi muốn nhắn với các bạn như thế này: “Cứ viết những gì mình thích, những gì mình nghĩ.”

Ảnh: Ông Đồ Nghệ
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Cafe sáng