Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Nàng Tóc Đỏ: Thế giằng co giữa muôn vạn hướng

Published

on

Xứ này chúng ta ai cũng có nhiều cha. Tổ quốc, Allah, quân đội, Mafia… Ở đây đừng ai không có cha.

Phải thú thật rằng, đây là lần đầu tiên tôi đọc văn chương của Orhan Pamuk. Với những độc giả mê văn chương nói chung và những người mộ điệu ông nói riêng, Orhan Pamuk dường như là một trong những nhà văn đoạt giải Nobel – vốn vẫn mặc định là giải thưởng khó đọc – được in nhiều nhất ở Việt Nam, một thị trường đọc non trẻ và rất khó đoán. Nếu Tuyết, Pháo đài trắng, Istanbul hay Những màu khác đến nay đã trở thành những bảo vật hiếm, những cuốn sách được nâng giá gấp nhiều lần và may thay cho những ai sở hữu nó; thì Tôi tên là Đỏ hay Bảo tàng ngây thơ với việc liên tục được tái bản từ năm này sang năm khác đã như dấu chỉ cho thành công của riêng tác giả, tác phẩm, dù cho bản dịch không từ nguyên tác. Và với phông nền những điều như thế, tôi đọc Nàng Tóc Đỏ với tâm thế mong chờ một chuyến hành trình dẫn mình vào chốn u huyền nào đó, chốn tôi nương thân cùng với người đọc, với cộng-đồng-người đã yêu mến ông, khiến sách của ông trở nên quý hiếm và khiến ông trở thành một hiện tượng mà mỗi khi nghe đến tên sách sắp được xuất bản người ta lại háo hức chờ đón.

Nhưng điều gì đã đến với tôi trong cuốn tiểu thuyết thứ 10 này của ông? Mặc cho cả hai đều có yếu tố màu sắc giống nhau – cùng một màu đỏ, nhưng Tên tôi là Đỏ dày cộm như những cuốn của Umberto trong khi Nàng Tóc Đỏ có một thời lượng vô cùng khiêm tốn. Cùng với đó, điều tôi nhận ra sau khi gấp lại cuốn sách ở lần đọc thứ hai không hơn gì một dòng sông êm ả, phẳng lặng về sự giao tranh, về thói giằng co giữa cũ và mới, giữa trẻ và già, giữa Đông và Tây, giữa những hiện đại và truyền thống trong một giọng kể nhẹ nhàng, chậm rãi nhưng điêu luyện. Có người nói, mục đích chính của Orhan Pamuk khi viết Nàng Tóc Đỏ là để nói về trò chơi định mệnh; nhưng với riêng tôi, câu chuyện định mệnh ấy chỉ như vỏ ngoài của loài cua ẩn sĩ – ốc mượn hồn, để Orhan Pamuk viết về cái tâm bản thể là những ngột ngạt, đè nén; những ảo ảnh xếp chồng, những đổ vỡ của Thổ Nhĩ Kỳ, của Istanbul, của người con đế quốc Ottoman lừng lẫy một thời nay bị giằng co giữa những giá trị giữa cũ và mới. Và còn đó là những giao thoa khuếch đại, những sụp đổ cộng hưởng trong nền móng bật gốc từ lâu vốn được lưu truyền từ những điển tích. Và tôi nhìn nhận Nàng Tóc Đỏ như một phiên bản hồi ký dưới dạng văn chương tiếp nối của Istanbul, một bản hùng ca của những giằng co, đè nén thời đại.

*

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Nàng Tóc Đỏ.

Sơ qua một chút về cuốn sách này. Nàng Tóc Đỏ kể về câu chuyện của Cem – cậu con trai với gia cảnh đổ nát: có người cha bỏ nhà theo cánh tả Cách mạng và người mẹ bạc nhược nương theo số phận. Cậu nuôi mộng trở thành nhà văn trong sự ngấm ngầm phản đối của mẹ, và vì sự bỏ đi của cha, cậu theo mẹ về lại vùng quê khi cuộc sống trở nên khó khăn. Vì cần tiền để học luyện thi, cậu lên giúp việc tại hiệu sách Deniz và sau này theo thầy Mahmut để học đào giếng. Trong thời gian nở rộ của những vụ đào đất xây giếng trước thời cơ giới hóa, thầy Mahmut và cậu đến Öngören để đào cho một xí nghiệp dệt, và cũng từ đây câu chuyện mở ra theo một hướng khác.

Với việc bỏ đi của cha và sự tận tình dẫn dắt của thầy Mahmut, Cem từ đây cảm thấy một sự phân tách giữa vai trò của thầy và cha trong cậu ở thời gian này. Cùng lúc đó, vào những tối xuống thị trấn, cậu bắt gặp Nàng Tóc Đỏ trong lều diễn của Nàng, với nét đẹp của đôi mắt u huyền, bí ẩn và đôi môi vành vạnh làm cậu mê mẫn. Cậu sống những ngày mơ tưởng về Nàng và cho đến một hôm được ngủ với Nàng trong sự bức rức bởi tự nhận thức về sự lừa dối của mình. Trong khi ấy, thời gian đào giếng đã vượt quá những ngày dự tính, chủ đất đã ngừng trả tiền cho công việc; nhưng thầy Mahmut với quyết tâm sắt đã vẫn tiếp tục đào và đòi hỏi niềm tin nơi người con, người học trò như cậu. Một ngày khi đã quá mệt, cậu sơ ý làm đổ xô đất ra khỏi guồng quay, rớt xuống giếng và không còn gì hơn ngoài sự im lặng vang lên dưới đó.

Những tưởng đã hại chết thầy, cậu nhanh chóng đóng gói vali và trở về nhà, nuôi trong mình nỗi hoài nghi vì có hay không cái chết của thầy. Thời gian trôi đi, cậu lớn lên và bởi những bởi ám ảnh tội lỗi bị nhốt kín trong thân xác, thay vì trở thành nhà văn như đã dự tính, cậu bẻ ngoặc và trở thành kĩ sư địa chất, lấy vợ và lãnh đạo tập đoàn riêng lớn mạnh. Khi Thổ Nhĩ Kỳ bắt gặp làn sóng đầu tư và đô thị hóa ngày càng khuếch trương tới tận cốt lõi; công ty của Cem bắt gặp mảnh đất ở Öngören và cũng chính bởi dấu mốc này, cậu trở về nơi hơn 30 năm trước đã từng đào giếng. Cùng với câu chuyện tái ngộ nơi mảnh đất ấy với những con người đã từng một thời chứng kiến giai đoạn lớn lên của cậu; một bi kịch khác đã dần thành hình, biến dạng và cuối cùng kết thúc như đúng giai thoại từ Đông sang Tây từ từ trở nên bất diệt.

*

Về những giằng co, có thể thấy ở đây Orhan Pamuk mở rộng biên độ của tình trạng này, từ nội hàm tâm tính của riêng mỗi người đến những biến động vĩ mô, địa lý của vùng Istanbul quê ông. Đầu tiên dễ kể là tình trạng phân tâm trong trí óc Cem về vai trò của cha và thầy Mahmut. Một bên là người cưới mẹ ông, một kẻ cánh tả bỏ đi chạy theo chính trị; một bên là người kể chuyện cổ tích hằng đêm, một người quan tâm lúc tắm, một người hỏi han động viên… Tất cả nhập nhoạng ào vào trong cậu như những lớp sóng, để những khi thầy mắng, cậu lại nhớ đến cha; và ngược lại, khi cảm thấy sự quan tâm từ thầy, cậu lại thấy giận cha, và có cảm giác nó khô lại trở thành vết sẹo ở mãi. “Thầy Mahmut để tâm đến cuộc sống của tôi hơn ba nhiều: ông kể tôi nghe những câu chuyện và dạy tôi nhiều bài học, ông không bao giờ quên hỏi tôi có ổn không, tôi có đói không, có mệt không. Có phải vì vậy tôi rất giận khi bị ông mắng? Vì nếu ba mà làm vậy, tôi lại hiểu ý ông, thấy hối lỗi, rồi quên hết. Nhưng không hiểu sao, việc thầy Mahmut trách mắng dường như để lại một vết sẹo, và tôi sẽ ôm lòng giận ông dù vẫn nghe theo lời ông chỉ dẫn.

Ngoài ra chính tình trạng thiếu vắng tình cảm ấy đã khiến nội tâm Cem xáo trộn và từ trong đó, một thân thể lộn xộn của cậu hiện lên, và đó là lời lý giải rõ ràng cho việc vì sao cậu lại mê đắm Nàng Tóc Đỏ. Giữa một bên là người mẹ bạc nhược, người luôn muốn giữ cậu cho riêng mình và phục tùng những ý nghĩa truyền thống; và một bên là Nàng Tóc Đỏ, người phụ nữ hớp hồn cậu, người phóng khoáng đi theo những gánh hát dân gian rày đây mai đó, không được lựa chọn muốn phục vụ ai, hàng đêm sáng đèn dưới lời thóa mạ của bọn lính canh đòi Nàng thoát y. Nàng Tóc Đỏ là hiện thân của tự do, của cơn cuồng dại tuổi trẻ, của mặc sức giải thể bản thân; Nàng ở độ tuổi không già không trẻ, vừa là người mẹ, người chị, người tình – Nàng là tổng hợp giữa cách tân hiện đại và kịch truyền thống. Nàng làm cậu say mê, làm cậu ghen tị khi thầy Mahmut băng núi để xem vở kịch, và làm cậu đau đớn vì cha cậu đã ngủ với Nàng. Cũng rất có thể, Nàng là thế lực kì bí nào đó khiến cậu đánh rơi chiếc xô, như cuốn sách này một lần kể lại.

Orhan Pamuk một cách sâu sắc đã họa nên những đối lập trong tâm hồn Cem của những ngày này. Vào hôm sau khi đã ngủ với Nàng, tình trạng cật vấn bản thân đã dần xuất hiện, cậu vừa buông thả vừa kìm chặt, rằng “Trong cơn say, tôi lục óc tìm đủ cách để miễn tội và chứng tỏ với mình rằng tôi không phải kẻ phản bội xấu xa, hai mặt. Dù gì Turgay nào phải bạn lâu năm – mình gặp anh ta chỉ ba bốn lần, tôi lý luận. Hơn nữa, người thuộc những gánh hát rong không quê quán nhảy nhót rất khêu gợi và kể chuyện tục tĩu để mua vui cho lính tráng không hẳn cổ xúy những giá trị gia đình lành mạnh. Biết đâu được, có khi chính Turgay cũng không chung thủy với vợ mà theo những người đàn bà khác.” Xuất phát từ buổi tối hôm ấy, những ngã hai ngã ba của đường lựa chọn luôn ám ảnh cậu: giữa việc thành nhà văn hay kĩ sư địa chất, giữa việc liệu thầy Mahmut còn sống hay đã chết, giữa việc chọn đến thăm Cha hay không, giữa việc vì sao mãi không có con… Cem đến cuối rồi thì, thứ tạo nên cậu không phải là xương là máu, mà là ngổn ngang vỡ nát, là phân chia đường hướng mãi không dừng lại.

Và những giao lộ định mệnh ấy như được hợp nhất từ truyện dân gian, về những kết cục báo trước; giữa điển tích phương Tây – Hi Lạp – về Oedipus vô tình giết cha và ngủ với mẹ; và phương Đông – Ba Tư – khi Rustam ra tay giết chết Sohrab – con trai mình mà không hề biết. Lại một lần nữa ở hai phía ngược nhau như bị phân tách bởi hai châu lục, Istanbul hợp nhất trong câu chuyện đầy bi kịch gia đình, về người cha giết con hay con trai giết cha, chẳng ai biết được. Dấu chỉ đầu tiên vào đêm cậu ngủ với Nàng – 20 năm trước chính là nhân tình của Cha – ngang vai mẹ cậu; dấu chỉ thứ hai là khi chiếc xô rơi xuống nghiền nát Thầy Mahmut – người trong những nhập nhoạng cậu xem là Cha. Nhưng không, cả hai dấu chỉ ấy chỉ như những linh tính ngầm, bởi Nàng không phải mẹ thật và thầy không phải cha thật. Cái kết hợp nhất chỉ đến 30 năm sau, khi cậu bị giết bởi chính con trai mình – mầm mống vào đêm cậu ngủ với Nàng. Đấy, rõ ràng, một Istanbul ảo ảo thật thật, một bi kịch mờ mờ pha lẫn bởi những bi kịch khác. Orhan Pamuk một cách khéo léo dựng lên một bi kịch mới, bi kịch nơi đất nước nằm ngáng giữa những ngã đường, giữa những lựa chọn. Người đọc bị lôi từ Oedipus như lời ứng nghiệm giết thầy để rồi nhận ra, bi kịch Rustam mới là sau cuối.

Và cũng từ trong những lớp bi kịch ấy, một Istanbul bị xâu xé thành những phân mảnh hiện lên như cơn sóng ngầm vận động trong toàn tiểu thuyết. Nếu 30 năm trước khi Cem đến đào giếng, Öngören đã oằn mình ngăn Đức chiếm ngã Balkan còn Nga qua ngã Bulgaria thì 30 năm sau, nó đã là loài sâu thay vỏ, để thời mà người dân còn tin vào những trò mê tín và cư xử cung kính với người đào giếng nhường cho thời luyện kim máy móc hiện đại. Istanbul đứng đó giữa những ranh giới va chạm địa tầng, giữa bi kịch Đông – Tây, giữa hiện đại – cổ điển, giữa muôn ngã giằng co.

Và cái kết sau cuối, cái chết khi Cem bị giết chứ không giết con trai của mình, mặc dù khẩu súng được ông phòng bị, như có người nói, đại diện cho việc phương Tây vẫn luôn bao hàm chiếm hữu Istanbul. Nhưng ở mặc khác, nó còn đại diện cho những thế hệ tiếp nối, đại diện cho những mơ ước dang dở một thời – trở thành nhà văn, nhà thơ, làm chủ công ty… tất cả rồi đây lại được Enver – con trai của anh và Nàng – tiếp nối. Không nằm ngoài những mạch vận động ngoài luồng, Istanbul dù bị xâu xé những vẫn vận động, tiến lên, dịch chuyển; chỉ là khác đi những giá trị cũ.

*

Khép lại cuốn sách, trải nghiệm đầu tiên với văn chương của Orhan Pamuk mang đến cho tôi một sự hài lòng. Đầu tiên là cách viết nhẹ nhàng, bình thản; nó êm đềm chảy suốt như một lòng sông. Không lên gân, kiểu cách; bằng cách thấu hiểu tâm lý nhân vật và việc sử dụng giai thoại một cách khéo léo; ông đã dựng nên trò chơi số phận kịch tích lồng trong một Istanbul vẫn mãi nằm giữa những luồng xung động. Không hùng tráng cũng không tầm thường; vừa phải, nhã nhặn và truyền đi đúng thông điệp mà tác giả muốn, Nàng Tóc Đỏ là một ghi chép thật sự về sự mất kết nối, về Istanbul hay Thổ Nhĩ Kỳ giao thoa giữa muôn vàn lãnh địa.

Hết.


Đọc tất cả bài viết của bí.


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Yêu thương cơn “Giận” bằng trái tim hiểu biết

Published

on

By

“Chánh niệm là ta, mà sân hận cũng là ta. Ta không nên trở thành một bãi chiến trường để hai vùng năng lượng đó đánh giặc với nhau. Đừng nên nghĩ rằng chánh niệm là chánh, là tốt, và sân hận là tà, là xấu. Đừng nên nghĩ như vậy.”

Giận là một cuốn sách chứa nhiều sắc thái yêu thương. Chúng ta thường dễ dàng yêu những điều ngọt ngào, đẹp đẽ, đầy sức sống và thương những điều chân thành, trong trẻo, bình yên. Nhưng có một sắc thái yêu thương khác thực sự không hề dễ trao tặng, nhưng nếu làm được, có lẽ con người sẽ tự thân giải thoát mình khỏi những đau khổ và giằng xé trong mọi diễn biến phức tạp của đời sống: yêu thương cơn giận và những nỗi sân hận. 

Cuốn sách là một phương pháp tu tập của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bản gốc được viết bằng tiếng Anh và xuất bản lần đầu năm 2001. Nhưng Giận không chỉ là thực tập tâm linh. Bên trong Giận có những quan điểm triết học, nền tảng khoa học do những con người thực tập chánh niệm phát hiện ra. Cũng giống như nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, phương pháp có nền tảng là sự quan sát, ghi nhận, quán chiếu (đào sâu và phân tích hành vi) và đưa ra những kết luận đối với vận động của tâm (how mind works) thông qua việc dấn thân sâu vào mỗi giây phút thực tại của đời sống. Khi dấn thân sâu, người ta có thể nhận ra những chi tiết do tập khí của sự chú ý dẫn dắt. Đến nay, tiếng vang của tác phẩm vẫn còn nhờ vào giá trị đương thời của nó.

Cuốn sách dành cho người giận, người bị chọc giận, và hướng dẫn làm sao xử lý tàn dư sau những cơn thịnh nộ. Nhiều câu nói trong Giận có khả năng giúp người đọc tỉnh ngộ ở một mức độ nhất định khi họ đang bực bội. Nhưng có lẽ cách khai thác triệt để lợi ích của cuốn sách là vừa đọc vừa tái hiện và quán chiếu lại bên trong mình. Nghĩa là ta cần phải gợi lại dòng cảm xúc tiêu cực phát sinh trong những sự việc không như ý trong quá khứ để khai mở ra một góc nhìn mới. Và nếu muốn, tự chữa lành nó bằng tuệ giác.

Một lời khuyên hữu hiệu được Sư Ông ra sức thuyết phục xuyên suốt quyển sách, đó là những cơn giận rồi vẫn sẽ tiếp diễn, những đả kích tùy vào giới hạn sức chịu đựng của mỗi người, vẫn sẽ dẫn đến tổn thương. Chúng luôn luôn hiện diện. Nhưng bạn sẽ học được cách tiếp nhận và chuyển hóa chúng giống như bạn học cách ủ rác thành phân vậy, vì có hoa thì phải có rác, đừng sợ hãi và nhút nhát trước cơn giận.

“Tiếp xúc với đau khổ giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và nhận diện hạnh phúc khi hạnh phúc có mặt. Nếu không tiếp xúc được với đau khổ thì không biết hạnh phúc đích thực là gì.”

Chánh niệm

Khi giận, Thầy khuyên ta nên duy trì chánh niệm trên hơi thở, vừa điều tiết được cơn thịnh nộ vừa quan sát được tiến trình của cảm xúc. Thầy nói rằng phương pháp xả giận (venting) bằng cách sử dụng bạo lực (đánh, đấm, la hét vào một đồ vật chẳng hạn) là một thực hành nguy hiểm. Điều này là hoàn toàn hợp lý. Tuy vậy, nếu không hiểu rõ về chánh niệm, theo dõi hơi thở rất dễ bị nhầm lẫn thành kiểm soát hơi thở. Người đang giận mà theo dõi hơi thở trong khi chưa thực tập chánh niệm lần nào, rất dễ bị suy nghĩ bao trùm và cảm xúc chi phối. Vì thế, trong giai đoạn thuật ngữ này đang được sử dụng khá phổ biến, thì có một đối tượng khác, cũng được đề cập trong cuốn sách, có vẻ dễ hiểu và dễ thực tập nhất để học về phương pháp duy trì chánh niệm sao cho đúng với bản chất của nó:

“Ăn là một thực tập sâu sắc. Khi tôi ăn, tôi tận hưởng từng miếng ăn. Tôi ý thức rõ rệt từng miếng ăn trong miệng tôi, ý thức là tôi đang ăn. Chúng ta thực tập chánh niệm về ăn uống bằng cách ý thức rõ là ta đang nhai thức ăn. Nhai thật cẩn thận, nhai với niềm vui trong lòng, thỉnh thoảng dừng lại để nhìn những người thân, bạn bè, tăng thân đang cùng ngồi ăn. Được ngồi thảnh thơi ăn chung với nhau là một niềm vui lớn. Khi ăn trong chánh niệm chúng ta sẽ không ăn trong buồn, giận, lo lắng, không ăn những dự án tương lai.”

Thiền ăn là một hoạt động thú vị. Vì mọi người đều có thể toàn tâm toàn ý ăn sao cho ngon miệng, dù thức ăn có hợp khẩu vị, hay dù đang trong hoàn cảnh nào mà không cần hướng dẫn quá chi tiết. Nếu muốn dấn thân thật sâu sắc vào hiện tại, người tu học sẽ phát khởi thêm lòng biết ơn đối với bữa ăn để có thể trân trọng từng thìa thức ăn đưa vào miệng, quan sát từng cử động khi nhai, cảm nhận mùi vị của từng món ăn, nhận diện những thói hư tật xấu làm giảm chất lượng bữa ăn. Hay nói cách khác là Vì trân trọng, nên tôi sẽ hiện diện sâu sắc ở đây với bạn, tôi sẽ không dành năng lượng cho những việc khác. Đó là một trong những cách hiểu và thực tập về chánh niệm trực quan nhất. 

“Muốn ăn cho đúng thì nên nhai ít nhất năm mươi lần trước khi nuốt.”

Thay thế góc nhìn nhị nguyên bằng tâm từ bi và thấu hiểu

Khi theo dõi hơi thở ở một thời lượng nhất định, và nhận diện những cảm xúc đủ lâu, ý thức của ta sẽ phát hiện ra những cảm xúc, những tâm hành không nên có (sân hận, đố kỵ, nghi ngờ) và có xu hướng triệt tiêu chúng. Nhưng theo cuốn sách, nếu con người nhìn nhận những tâm hành ấy bằng tuệ giác tương tức thì sẽ có thể đối xử với chính mình và người thương bằng một cách dễ chịu hơn, bất bạo động. Cũng như tạo tiền đề để tâm từ bi nảy nở.

Tâm nhị nguyên là xu hướng gắn mác đúng-sai, trên-dưới, đẹp-xấu, thắng-thua, khởi đầu-kết thúc, ta-người đã tồn tại và cắm rễ rất sâu trong cách tư duy của con người để làm tiền đề, căn cứ cho mọi ý nghĩ và hành vi. Đạo Phật khuyên rằng, thay vì nhìn qua lăng kính nhị nguyên, hãy nhìn mọi sự vật, hiện tượng, cảm thọ là sự chuyển hóa xuất phát từ sự thay đổi, chuyển hóa của những đối tượng có liên quan, là tính tương tức, là nguyên nhân và kết quả. Được vậy thì có lẽ người ta sẽ tự xóa bỏ cho mình rất nhiều sân hận, bất an phát sinh trong đời sống.

“Pháp môn thực tập của chúng ta phải là bất bạo động. Bất bạo động chỉ có thể phát sinh từ tuệ giác bất nhị, tuệ giác tương tức. Theo tuệ giác này, tất cả mọi sự vật đều có liên hệ với nhau, và không có gì mà có thể tự nó có mặt một mình…. Chừng nào mà ta không có được tuệ giác bất nhị thì chừng đó sẽ còn bạo động, còn muốn trừng phạt, muốn đàn áp, muốn phá bỏ. Nhưng khi đã thấu triệt lẽ thật bất nhị và tương tức thì ta sẽ có thể mỉm cười với cả hoa và rác trong ta, ta có thể ôm ấp cả hai.”

Chúng ta nên làm gì khi đối phương vô tình hoặc hữu ý gây ra đau khổ cho mình? Hay chúng ta nên hành động như thế nào để phản kháng lại tha lực tiêu cực luôn dồn dập trong đời sống? 

“Một người không biết xử lý đau khổ của mình thường vung vãi đau khổ ra chung quanh”, hãy “nên giúp, không nên phạt”; tổ chức một cuộc “hội thảo hòa bình” để đưa đến “hiệp ước sống chung an lạc”; trao tặng một món quà khi giận; tri ân đối phương và viết ra tâm kinh của bản thân là một vài trong số tất cả những phương án bất bạo động thực sự nghĩa tình dành cho người mà bạn yêu quý. Thật đau lòng khi đối phương gây ra đau khổ cho bạn, nhưng bạn vẫn có quyền chọn lựa cách phản đòn sao cho nhân từ, bác ái với cả hai.

Tâm từ bi là cái tâm nhìn thấy nỗi khổ niềm đau của người khác cùng đồng thời khởi nguyện lấy đi những đau khổ ấy. Dùng tâm từ để chữa lành tâm hồn, để soi rọi sự việc, để kiên nhẫn, để tái lập truyền thông, để lắng nghe, để hàn gắn đổ vỡ. Với tâm thế đó, con người khó lòng sân hận được. 

Một dòng văn ý nghĩa nên được viết vào tâm kinh:

“Bạn biết là bạn may mắn gặp được người bạn đường, may mắn có được một người thương trong cuộc đời. Tại sao bạn lại quên đi sự thật đó? Nó ở trong tâm bạn.”

Một câu chuyện cảm động

Sư Ông nói rằng khi giận, tình yêu thương và những kí ức đẹp đẽ của người đang giận sẽ không có mặt, và họ cảm tưởng như nó chưa bao giờ thật sự có mặt. Đó là lí do vì sao khi cơn giận qua đi, người ta thường thốt lên câu “Phải chi lúc đó tôi đừng làm vậy”, và đổ thừa cho cơn giận của mình. Lúc đó, thực ra là chính họ cho phép cơn giận hoành hành bên trong lẫn bên ngoài. 

David và Angelina là câu chuyện về một người sống theo sự dẫn dắt của tập khí, anh cho rằng Angelina và những người khác cố ý xa lánh anh, không yêu thương anh. Nhưng trái tim anh quá nhỏ bé để có thể nhận ra đã từng có tình thương vô điều kiện mà mọi người dành cho anh. Còn Angelina là một cô gái yêu thương David vô điều kiện mà có lẽ trên thế giới ngày nay không còn ai sống như vậy nữa. Đến cuối cùng, Angelina vẫn trở về với David mặc cho những khổ đau mà anh đã gây ra cho cô.

Trong câu chuyện đơn giản này, độc giả sẽ phải tự hỏi khi nào bản thân mình là David mà khi nào là Angelina. Có nhiều phân cảnh để chọn lựa. Chúng ta đều đã từng là Angelina ngay từ khi sinh ra với lòng thương yêu thuần khiết. Nhưng vì không biết cách xử trí tình thương của mình, nên có những lúc chúng ta trở thành David. Hoặc chúng ta đã từng là Angelina và không chịu nổi một ai đó nên đành bỏ đi. Đến cuối cùng thì ta sẽ tự hỏi đến khi nào mới tìm được người thực sự yêu thương mình. Có nhiều người thấy bế tắc, nhiều người may mắn tìm được những người ưng ý sống yên bình đến cuối đời, nhưng cũng sẽ có nhiều người chọn sự tri túc. Sống biết đủ và biết ơn. Nếu thành công, đến một ngày nào đó ta sẽ có thể cất giọng hỏi Angelina dễ thương ngày xưa của ta giờ đang ở đâu, ta đã làm gì với sự dễ thương ấy, hoặc anh chàng David của ta giờ ra sao rồi. Đó là khoảnh khắc của sự quay đầu, của tỉnh thức và giác ngộ.

Giận - thiền sư Thích Nhất Hạnh

“Tôi cũng là một David. Tôi có nhiều Angelina trong đời mình. Trong thiền đường nhỏ của mình, tôi có một bức hình của hơn hai trăm Angelina của tôi - đó là những đệ tử của tôi tại những trung tâm thiền tập của chúng tôi tại Pháp và Mỹ. Trước khi tôi bắt đầu thiền tọa, tôi luôn luôn nhìn vào bức hình ấy và cúi lạy các Angelina của tôi. Rồi tôi ngồi xuống và nguyện sẽ sống như thế nào để cho những Angelina của tôi sẽ không bỏ tôi mà đi.

*

Giận là một cuốn sách khai mở góc nhìn. Đối với những phương pháp thay đổi cặn kẽ nhân sinh quan như Giận, bên cạnh khả năng đọc và hiểu biết, người đọc cần tạm đặt xuống tất cả những quan niệm sống mình đang theo đuổi, để có thể đón nhận triệt để cơn mưa trí tuệ mà không vi tế làm biến thể pháp môn đó. Nhưng quan trọng hơn tất cả, như Sư Ông có viết, “sự thực tập là biết rõ giới hạn của sức mình”. Nếu trái tim yêu thương của bạn chưa muốn mở lòng, bạn cảm thấy khó khăn, cảm thấy thêm u uất và chịu đựng, nghĩa là trái tim bạn chưa đủ lớn và đủ khỏe để giữ trong mình bí kíp này. Hãy thực tập chỉ khi tự thân bạn mong muốn thay đổi mà thôi, và hãy bắt đầu bằng việc tự mình thưởng thức một tách trà thật trọn vẹn.

Anh Đào

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam – Một nghiên cứu tiên phong

Published

on

By

Năm 2020 chứng kiến sự trở lại của các tác phẩm mang đậm tính lịch sử viết về Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20, khi không chỉ một mà có đến ba công ty xuất bản ra mắt cuốn Một chiến dịch ở Bắc Kỳ của bác sĩ Hocquard. Ngoài những dòng hồi ký đầy thấu hiểu cùng sự đồng cảm sâu sắc với nền văn hóa dài lâu, vẻ vang và tinh tế của người An Nam; có lẽ ít ai biết được bác sỹ Hocquard cũng chính là một nhiếp ảnh gia tài năng và vô cùng xuất sắc của nền nhiếp ảnh Việt Nam thế kỷ 19.

Và những bất ngờ ấy sẽ được tiết lộ trong tác phẩm Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam (tựa gốc Early Photograph in Vietnam) của tác giả Terry Bennett - tác phẩm đầu tiên về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam thời kì đầu viết bằng Anh ngữ. Trong tác phẩm truy nguyên về hơn 100 năm lịch sử nhiếp ảnh này, Terry Bennett bằng những nghiên cứu sâu sắc và đầy cảm hứng đã tìm về kho tư liệu khổng lồ nhưng bị phân tán rải rác khắp nơi, để đưa ra một niên biểu và những cá nhân mang đậm dấu ấn vô cùng đặc biệt của ngành khoa học – nghệ thuật còn mới chớm manh nha ở Việt Nam ngay thời kì đó.

MỘT LỊCH SỬ ĐẦY BIẾN ĐỘNG

Có thể thấy nhiếp ảnh Việt Nam gắn liền với một quá trình lịch sử dài – tham vọng bành trướng thuộc địa của Pháp trên toàn châu Á. Bắt nguồn từ những hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ thừa sai, từ đây người Pháp lún sâu vào trong can thiệp quân sự, và cũng từ đó ngành nhiếp ảnh dần dần du nhập vào nước ta, mở đầu là bởi những người ngoại quốc.

Tấm hình đầu tiên được chụp ở Việt Nam rất có thể là của nhiếp ảnh gia Jules Itier, một thanh tra hải quan, chụp pháo đài Đồn Hai vào năm 1845 ở Đà Nẵng. Ông theo một đoàn người Pháp đàm phán đòi trả tự do cho các giáo sĩ thừa sai bị bắt bớ, và với nhiệm vụ thăm dò để xây dựng cảng ở Biển Đông, chính ông cũng không thể ngờ với khoảnh khắc mạo hiểm ấy sau này mình sẽ trở thành người then chốt nhất trong lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam.

buoi dau nhiep anh viet nam - terry bennett
Hương Ký. Mẹ và con, những năm 1920, ảnh in trên giấy tráng bạc, thuộc bộ sưu tập cá nhân tác giả.

Tập trung vào trong thời kì thuộc địa, bắt đầu từ khi người Pháp bước đến năm 1850 và kết thúc vào năm 1950 khi Pháp rút khỏi Đông Dương, Terry Bennett đầy thận trọng và khách quan đã chứng minh được nhiếp ảnh của thời kì đầu không chỉ là khoa học, mà còn là nghệ thuật.

Các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp người Pháp tác nghiệp không chỉ thỏa mãn mỗi niềm đam mê, mà ở họ còn là những mục đích thương mại. Đầu năm 1863 theo chân làn sóng đổ đến Saigon làm ăn và sinh sống, kéo theo số lượng ngày càng tăng các nhà truyền giáo và nhân viên ngoại giao, từ đó số lượng hiệu ảnh thương mai cũng ngày càng tăng.

Các nhiếp ảnh gia của thời kì này cần rất nhiều yếu tố để có thể tồn tại và phát triển một hiệu ảnh độc lập. Họ cần có tài chính vững vàng mà bên cạnh đó là tài năng cũng như khả năng quảng giao, tiếp thị và óc kinh doanh nhạy bén. Sang đầu thế kỷ 20, với sự cạnh tranh vô cùng khắc nghiệt của những hiệu ảnh bản xứ, những nhiếp ảnh gia người Pháp ngày càng bị thu hẹp thị trường, và phải phụ thuộc phần nhiều vào các hoạt động buôn bán thiết bị nhiếp ảnh, hoặc thắng các gói giao thầu của chính quyền thuộc địa ưu tiên cho người Pháp.

NHỮNG ANH HÙNG CỦA LỊCH SỬ

Nếu tấm hình đầu tiên được chụp vào năm 1845 ở Đà Nẵng, thì người đầu tiên chụp hình chân dung sớm nhất tại Việt Nam với hình ảnh các chức sắc Nam Kỳ là nhiếp ảnh gia Paul-Émile Beranger. Ông cũng đồng thời là người đầu tiên chụp ảnh vùng Sài Gòn trong cuộc chuyển hướng tiến công xuống phía Nam của tướng Rigault de Genouilly trên tàu Catinat.

Ngoài những cái tên đặt nền móng đầu tiên cho nhiếp ảnh Việt Nam thì cũng không thể không nhắc đến Émile Gsell – người quan trọng và nổi bật nhất trong số các nhiếp ảnh gia ngoại quốc. Là người từng ghi hình lại những điều kỳ vĩ ở cả Việt Nam và Cao Miên, Dieulefils – gã khổng lồ của nhiếp ảnh Đông Dương cuối thế kỷ 19 cũng là một nhân vật quan trọng khác, mà tập ảnh Đông Dương xinh đẹp và kỳ vĩ đã được đón nhận vô cùng nồng nhiệt trong thời gian qua.

buoi dau nhiep anh viet nam - terry bennett anh
Émile Gsell. Ảnh tổng hợp chân dung, khoảng năm 1870, in trên giấy bạch đản, thuộc bộ sưu tập tác giả

Bác sĩ Hocquard phục vụ trong chiến tranh Pháp – Thanh cũng là người đầu tiên có đặc quyền chụp ảnh cho một vị Hoàng đế - vua Đồng Khánh. Với những tấm ảnh đạt được độ sâu cũng như tư tưởng vô cùng trân trọng các giá trị truyền thống, ông được ca ngợi là một trong những nhiếp ảnh gia xuất sắc nhất của Việt Nam thế kỷ 19, và xứng đáng được ca ngợi ở cả phương Tây lẫn Việt Nam.

Bên cạnh đó, những nhiếp ảnh gia cả chuyên nghiệp và nghiệp dư người bản xứ cũng được nhắc đến trong cuốn sách này. Hiếm có ai ngờ những tri thức như Trương Vĩnh Ký cũng có thời gian từng mở hiệu ảnh nếu như không có những nghiên cứu sâu của Terry Bennett. Bên cạnh đó, Khánh Ký – ông tổ của nghề nghiếp ảnh Việt Nam, người phái sinh và phát triển lối chụp ảnh chân dung trong nhà cũng được đề cập. Hiệu ảnh Hương Ký, cụ Nguyễn Lan Hương – người sản xuất bộ phim đầu tiên với lối chụp ảnh tối tân và luôn thay đổi mỗi năm khác nhau, cũng là một chứng nhân khác cho những con người từng làm nên một thời lịch sử của nhiếp ảnh nước nhà.

*

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam có thể nói là cuốn sách đầy thú vị và nhiều cảm hứng với những truy nguyên từ trong lịch sử. Là một nhà nghiên cứu ngoại quốc thế nhưng Terry Bennett đã làm được rất nhiều, để tìm lại về những nền nhiếp ảnh không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn Hàn Quốc và Nhật Bản. Tuy còn nhiều khó khăn trong việc định danh những nhiếp ảnh gia bản xứ và giới chuyên nghiệp người Pháp, thế nhưng có thể nói đây là một nghiên cứu vô cùng tiên phong. Và với những gì tác giả đưa ra, ta đã có cái nhìn vô cùng khách quan về bối cảnh thời đó, và những biến động trong ngành nhiếp ảnh, cũng như những người tiên phong nhất cho ngành khoa học này.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Niên lịch miền gió cát: Tôi không muốn tồn tại, tôi muốn sống

Published

on

“Việc coi đất đai như một tổ hợp cộng đồng là một khái niệm cơ bản trong sinh thái học, nhưng việc coi đất đai như một thứ để yêu thương, trân trọng lại là một phần mở rộng của đạo đức.

Sự thật rằng đất đai hàm ẩn các giá trị văn hóa là một sự thật lâu đời nhưng gần đây đã rơi vào quên lãng”.

Từ thời cổ đại, nhà triết học Hy Lạp Protagore (thế kỉ V trước công nguyên) đưa ra tuyên bố nổi tiếng: “Con người là thước đo của mọi thứ”. Trong Sáng thế, loài người được ban cho quyền “thống trị” cá dưới nước và chim trên trời cùng mọi sinh vật di chuyển trên mặt đất. Đó là chưa kể đến vô số những hình thức biểu đạt khác đồng thuận với quan điểm lấy con người làm trung tâm - hơn lấy sinh thái làm trung tâm. Vậy thật sự điều đó có đúng hay không? Tôi nghĩ rằng chúng ta cần xem xét lại các mối quan hệ về sự cân bằng giữa tự nhiên với tự nhiên và tự nhiên với con người. Niên lịch miền gió cát là một cuốn sách hé lộ phần nào câu trả lời, và cũng là một cuốn sách nên đọc với những bạn quan tâm đến môi trường.

Miền gió cát: Một vùng đất tuyệt đẹp

Niên lịch miền gió cát lấy bối cảnh tại trang trại miền gió cát ở Wisconsin, đó là thế giới bình yên nhất mà con người ta có thể “Về quê nuôi cá và trồng thêm rau”. Tác phẩm được chia làm ba phần chính, phần I: Niên lịch miền gió cát những bài viết được sắp xếp theo thứ tự mười hai tháng trong năm. Từ tháng giêng tuyết tan, tháng tư mùa nước nổi, hoa cải báo xuân đến tháng tám cánh đồng xanh cỏ, tháng chín bản hợp xướng của rừng cây bụi, tháng mười hai những rặng thông tuyết và con chim bạc má mang số hiệu 65290. Thời gian nơi hạt gió cát là một chuỗi tịnh tiến của vô vàn những điều cám dỗ lòng người. Những cuộc thăm thú lãng đãng, dung dị của những ngày tuyết tan, dấu chân chồn, chim bạc má, diều hâu và cả những con chuột đồng.

Phần II: Những phác họa đó đây đi qua những đầm lầy, những lát cắt qua từng năm tháng cùng với sự thật mà người ta bắt đầu ngộ ra về mối quan hệ giữ tự nhiên với tự nhiên, tự nhiên và con người.

Phần III: Buổi yến tiệc những câu hỏi để nhìn lại về hướng đi của bảo tồn của con người liệu có đúng đắn. Tôi đã thắc mắc tại sao tên cuốn sách là vậy, cho đến khi đọc, tôi mới tỏ ra nhiều điều. Thật sự, mọi thứ trên đời đều có nguyên do và ý nghĩa của nó nếu các bạn muốn biết thì cuốn sách luôn chờ bạn khám phá.

Thế giới ở “Niên lịch miền gió cát” sinh động, chân thực như trong những chương trình “Thế giới động vật”, “Thế giới đó đây”, với những góc máy khuất, người đọc thỏa sức khám phá thiên nhiên hoang dã cùng những suy tư mà tác giả muốn chúng ta cùng ngẫm và trả lời.

Tự nhiên luôn có những cân bằng kỳ diệu

Có những tác động làm tự nhiên không còn tự nhiên nữa. “Nếu như bầy hươu sống trong nỗi kinh sợ bầy sói, thì những ngọn núi luôn sống trong nỗi khiếp đảm bầy hươu”. Con người dùng cái mác bảo tồn để bảo vệ loài này nhưng vô tình đẩy một loài khác đến bên bờ vực tuyệt chủng. “Và cũng vì thế mà chúng ta chỉ còn trơ lại các thung lũng cát và tương lai con người cứ trôi ra biển lớn theo những dòng sông cuộn chảy”. Ẩn trong hoang dã là sự cứu rỗi cho thế giới. Có lẽ đó cũng là ý nghĩa ẩn trong tiếng tru của loài sói mà núi non đã biết từ lâu nhưng người đời thì đến giờ vẫn chưa thông hiểu.

Lạm dụng việc nhân giống thú săn sẽ khiến pháp luật lên tiếng quản lí đầu vào. Việc thắt chặt quản lí thú săn sẽ làm giảm giá trị của chúng như những chiến lợi phẩm, vì giờ đây việc săn bắn chúng đã mất đi tính hoang dã nguyên sơ. Để bảo vệ con cá hồi người ta phải tiêu diệt những con diệc hay chim hồng tước… người đánh cá sẽ không cảm thấy mất mát gì trong việc đánh đổi giữa sinh mạng loài này và loài khác nhưng sự đánh đổi này lại khiến các nhà điểu học cắn móng tay điên loạn.

“Điều gì xảy ra với loài thú săn mồi khi chúng ta biến một loài thú bị săn thành một thứ lâm sản để thu hoạch? Liệu chúng ta cần các biện pháp dành cho ngoại lai? Làm cách nào để bên quản lí thiên nhiên có thể phục hồi các giống loài đang dần tiêu biến như loài gà gô, vốn đã tuyệt chủng do săn bắn?” Vô vàn những câu hỏi vì sao con người cần trả lời.

Con người thực sự muốn gì?

“Nền văn hóa thượng cổ thường gắn liền với thiên nhiên hoang dã. Do đó, loài bò rừng không chỉ là nguồn thức ăn cho người thổ dân châu Mỹ, mà còn là nguồn cảm hứng cho kiến trúc, trang phục, ngôn ngữ, nghệ thuật và tín ngưỡng của họ”.

Con người ta đâu phải lúc nào cũng quay về quá khứ được? Thời gian không bao giờ quay đầu, có chống lại nó thì nó vẫn đẩy chúng ta đi về phía trước. Đôi khi để học được một bài học chúng ta phải trả một cái giá rất đắt. Chính vì vậy, sự tiếc nuối là một điều cần thiết xảy ra với con người, chúng ta không bao giờ có thể quay ngược thời gian, cũng không biết tương lai sẽ mang đến điều gì? Những cuộc hành hương về đầm lầy, những loài chim đặc biệt chỉ xuất hiện ở hạt Miền Gió Cát bởi tự nhiên nơi đây dung chứa chúng.

Con người sinh ra không phải để đối đầu với tạo hóa, chúng ta không có răng nanh, không có móng vuốt vũ khí, chúng ta có là tư duy. Khoa học hiện đại đơm hoa kết trái và cuộc sống của con người ngày càng nhẹ nhàng hơn. Trong Sapiens: Lược sử loài người, Yuval Noah Harari đã viết: “Chúng ta đã tiến lên từ những chiếc xuồng đi sông, đến thuyền có mái chèo, đến tàu hơi nước, đến tàu con thoi - nhưng ai biết chúng ta sẽ đi tới đâu. Chúng ta mạnh mẽ hơn bao giờ hết, nhưng gần như không biết làm gì với sức mạnh đó. Tệ hơn nữa, con người dường như vô trách nhiệm hơn bao giờ hết.” Chúng ta gây nên sự hủy hoại thảm khốc cho các loài động vật, thảm thực vật và cả hệ sinh thái, chúng ta tìm kiếm cho mình cảm giác thoải mái, thư thái và tận dụng sự hiện đại nhưng chưa bao giờ thấy hài lòng. Chúng ta kiếm tìm thiên nhiên vì nó cho ta niềm vui sướng, chúng ta nghe đến “cách hành xử trong thiên nhiên”, chúng ta răn dạy giới trẻ, chúng ta in những khái niệm để treo tường, đóng đinh… mỗi người đều đang tái hiện một kịch bản thấm nhuần chất liệu đời sống hằng ngày

Hãy để một thân cây mọc lên

Ở thung lũng Genova có một bài hát “Trên mặt đất rễ cây đâm sâu, cùng sống với ngọn gió, cùng hạt giống vượt qua mùa đông, cùng chim chóc ca vang mùa xuân…”  dù sở hữu bao nhiêu quyền năng, bao nhiêu năng lực, có hiện đại, vĩ đại ra sao thì con người không thể sống và tồn tại trong thế giới không có đất, cây cối và các loài vật khác được. Con người chúng ta đang sống vì điều gì? Con người chúng ta đang chống lại điều gì? Kẻ thù lớn nhất của chúng ta là ai? Những núi rác, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, sự tận diệt của tự nhiên, một trái đất hoang tàn. Những lưỡi cưa cắt ngang thân gỗ sồi qua từng năm cùng biến động của sàn chứng khoán mà tôi tin rằng “Giả như cây gỗ sồi có nghe thấy tiếng đổ rầm của sàn chứng khoán thì những thớ gỗ cũng chẳng mảy may rung động”.

Dù muốn hay không, con người chúng ta buộc phải thừa nhận rằng, thời gian trôi qua, ai cũng sẽ lớn lên và già đi, sẽ có một ngày chúng ta tạm biệt thế giới, bỏ lại tất cả ở phía sau và biến mất mãi mãi, nhưng chính cái chết làm chúng ta biết sợ, làm chúng ta trân quý hiện tại và yêu thương cuộc sống này hơn. Vòng sinh tử của tạo hóa sẽ chẳng bỏ qua ai, cái gì cả, và tự nhiên cũng sẽ như vậy. Chúng ta thỉnh thoảng vẫn nghe đâu đó loài này tuyệt chủng, loài kia được đưa vào sách đỏ… và nghe nó như một điều lúc đầu thật khó tin nhưng sau cũng dần thấy bình thường. Nếu chúng ta không biết quý trọng tài nguyên, yêu thương mẹ thiên nhiên hơn thì đến một ngày sẽ chẳng còn trái đất để sống nữa.

Kết.

Trong những câu chuyện cổ tích, đến cuối cùng chúng ta vẫn thường nghe “Và từ đó họ sống hạnh phúc mãi về sau…”, con người chúng ta dù giàu sang hay nghèo khó thế nào thì cuối cùng điều chúng ta mong muốn vẫn là một cuộc sống hạnh phúc. Trái đất đã được thống nhất thành một khối duy nhất về sinh thái và lịch sử, nhân loại cũng tận hưởng sự tiện nghi và giàu sang chỉ có trong chuyện cổ tích nhưng liệu chúng ta có đang hạnh phúc? Thế nào mới là hạnh phúc? Hạnh phúc do đâu mà có? Liệu chúng ta có đang sống hạnh phúc hơn tổ tiên của mình ngày trước? Tự nhiên có những quy ước của nó, mọi vật cũng đều có một giới hạn, khi con người vượt qua những giới hạn đó thì sẽ phải trả giá cho hành động của mình. Làm mẹ thiên nhiên nổi giận, hậu quả con người nhận lại chưa bao giờ là dễ chịu.

Hết.

Hoàng Anh

Đọc bài viết

Cafe sáng