Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Tuyết – Thứ tro trắng chôn lấp những hi vọng

Sau thành công vang dội của “Tên tôi là Đỏ”, Orhan Pamuk tiếp tục chứng tỏ ông là ứng cử viên sáng giá cho giải Nobel với “Tuyết” – tác phẩm được Margaret Atwood ca tụng là “cuốn sách không thể thiếu của thời đại chúng ta”.

Đăng từ

on

Tiểu thuyết tựa lối đi nhỏ xuyên qua bầu không khí mờ ảo được tuyết che phủ để tìm đến trái tim của những kẻ khắc khổ bị đóng băng từ tận bên trong. Những con người ấy, những người sống trong vòng tay của tuyết, ngày ngày đắm chìm vào cái lạnh buồn bã đẹp vô hạn, liệu họ thấy gì từ tinh thể sáu cạnh huyền ảo tinh khôi, hay chưa kịp chạm đến đã vỡ tan. Tôi cứ tưởng có thể bắt gặp cảnh tượng này ở mọi nơi có tuyết. Nhưng tôi phải chờ đến Kars, thành phố tuyết, khi cái đẹp và sự đổ vỡ cách nhau chỉ trong gang tất mới cảm nhận rõ ràng được. Và lắm lúc, Orhan Pamuk đẩy ranh giới đó về zero, biến mọi chuyện trở nên khó đoán sau bức màn trắng xóa. Tuyết hội tụ đủ các yếu tố làm nên tên tuổi Orhan Pamuk, mặt khác cũng chứa đựng những bí mật của riêng nó.

Tóm tắt tác phẩm:

Tiểu thuyết xoay quanh hành trình kiếm tìm hạnh phúc đích thực đời mình của thi sĩ Ka – một người sống lưu vong sau mười hai năm trở về quê nhà để gặp mặt người bạn học Ipek. Xen lẫn câu chuyện tình yêu là bức tranh chính trị đẫm mùi khói súng ở thành phố biên giới Kars diễn ra giữa các thế lực Hồi giáo cực đoan và nhà nước thế tục với những khát vọng khó hiểu của những kẻ lãnh đạo (Lam và Sunay Zaim). Điểm tô bức tranh rối rắm đó là tin đồn về những cô gái tự sát để phản đối lệnh cấm khăn trùm đầu cùng số phận bi thảm của những thiếu niên Hồi giáo trẻ trung vô tình trở thành nạn nhân hay bất đắc dĩ phải làm nhân chứng cho tấn thảm kịch. Tất cả diễn ra trên nền cơn bão tuyết suốt ba ngày ba đêm biến Kars thành một màu trắng chết chóc.

Giống như Patrick Modiano của những con phố Paris, Mạc Ngôn gắn bó với miền đất Cao Mật hay như Dublin qua ngòi bút James Joyce; Orhan Pamuk là nhà văn sinh ra từ một thành phố – đứa con của Istanbul. Những trang viết của ông thấm đẫm tình yêu và nỗi nhớ với cố đô văn hiến, trong gần như tất cả các tác phẩm của mình: từ tiểu thuyết lịch sử Pháo đài Trắng, hay như Cuốn sách Đen viết tại New York, cho tới dấu ấn nghệ thuật của Tên tôi là Đỏ, cùng câu chuyện tình yêu tại Bảo tàng Ngây thơ và đỉnh cao phải kể tới Istanbul – Hồi ức và thành phố. Ngay từ những trang đầu của Istanbul, Orhan Pamuk đã khẳng định:

Conrad, Nabokov, Naipaul – những nhà văn này được biết đến là do đã thành công trong việc thiên di giữa các ngôn ngữ, quốc tịch, văn hóa, xứ sở, đại lục, và ngay cả nền văn minh. Trí tưởng tượng của họ lấy dưỡng chất từ sự lưu vong, một sự nuôi dưỡng được chiết ra không phải từ gốc rễ, mà từ việc không có gốc rễ. Tuy nhiên, sự tưởng tượng của tôi đòi hỏi tôi phải ở lì trong cùng một thành phố, cùng một con đường, cùng một căn nhà, nhìn mãi vào một cảnh tượng. Số phận của Istanbul là số phận của tôi. Tôi gắn liền với thành phố này bởi vì nó đã làm cho tôi trở thành tôi như bây giờ.

Điều này biến Tuyết trở thành tác phẩm đặc biệt của ông, xét về mặt bối cảnh. Lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất tính tới thời điểm hiện tại, Orhan Pamuk để cho câu chuyện không xảy ra ở Istanbul mà ở Kars. Kars là tên thành phố biên giới phía đông bắc của Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời trong tiếng Thổ, kar lại có nghĩa là tuyết. Kars có thể được coi như là nước Thổ thu nhỏ, với một cộng đồng đa sắc tộc gồm người Thổ, người Kurd, người Azerbaijan và cả người Armenia – đây đã từng là thủ đô của Armenia và cũng chính tại đây họ rơi vào cuộc thảm sát. Cùng một thời điểm, ở Kars luôn tồn tại các thế lực Hồi giáo chính trị mâu thuẫn với nhà nước thế tục lẫn một bộ phận nhỏ người dân theo đạo Cơ đốc. Bằng cách mượn tuyết để xóa đi các dấu vết đặc trưng của Kars, nhà văn biến Kars thành một thực thể sống nơi ông thỏa sức tạo nên các ý niệm của mình. Thành phố bị tuyết chia cắt bây giờ trông cứ như con rùa khổng lồ cõng trên lưng hòn đảo, làm cho hòn đảo tách biệt với đại dương. Nếu đồng nhất Orhan Pamuk với Istanbul, thì Kars sẽ là người bạn đặc biệt của ông, thành phố thổ lộ cho ông nhiều hơn vẻ bề ngoài của nó. Khi trở lại với vẻ bề ngoài, mặc dù nhà văn luôn phủ nhận mình là nhà hoạt động chính trị, nhưng Kars, với các đặc điểm kể trên, rõ ràng là mảnh đất màu mỡ cho những chính khách phô diễn tài năng. Orhan Pamuk không hề giấu diếm toàn cảnh bức tranh chính trị ấy, tuy vậy, lại chẳng dễ dàng để lần ra quan điểm của ông. Xét về nội dung, điểm này cũng đặc biệt không kém. Nhưng liệu chỉ có chính trị?

Không khó tìm thấy câu trả lời. Nó nằm ngay lối vào câu chuyện, những dòng miêu tả một người đàn ông giữa lúc say ngủ:

Ông sống lưu vong đã được mười hai năm bên Đức song chưa bao giờ bận tâm nhiều đến chính trị. Lòng đam mê đích thực, mọi suy nghĩ của ông, là đều dành cho thi ca.

Vài dòng đơn giản nhưng hàm chứa cả cuốn sách. Người đàn ông ấy tên Kerim Alakuşoğlu, vì không ưa cho lắm nên ông tự gọi mình là Ka. Một người đàn ông sống lưu vong song chưa bao giờ bận tâm chính trị, và suy nghĩ của ông hướng về thi ca. Thi ca, chính thi ca mới là điểm đích thực cần quan tâm chứ chẳng phải chính trị hay bất cứ điều gì khác. Như vậy, nhà văn không ngần ngại gợi ý cho chúng ta, những độc giả bị khung cảnh của Kars làm choáng ngợp, rằng chúng ta phải tiếp cận cuốn sách theo hướng văn chương, hãy tìm kiếm chất thơ đằng sau mỗi câu chuyện, chớ để vẻ ngoài chính trị kia đánh lừa mà vô tình ta biến thành người lưu vong ở Kars.

Ka quay về Kars nhằm kiếm tìm hạnh phúc sau những năm dài tha hương và cũng tại đây, nhà thơ bị kéo vào một cuộc đảo chính, bị kẹp vào giữa Hồi giáo chính trị và giới quân sự Thổ. Bi kịch xảy đến buộc một người Âu hóa như ông đối mặt với sự lựa chọn tâm linh. Ông đã phải đấu tranh nội tâm rất lâu giữa việc tin hay không tin vào Thượng đế. Cho đến lúc Ka chết, tôi tin cán cân vẫn chưa ngã hẳn về bên nào. Càng bất hạnh hơn khi không những không có được hạnh phúc, Ka còn chẳng thể quay về được thời điểm bất hạnh trước kia. Cuộc đời ông cứ trượt dài trong nỗi bế tắc. Vào những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi của mình, Ka sống với nỗi âu lo bất hạnh thường trực nhưng tại những giờ khắc đen tối nhất nhà thơ lại cảm thấy hạnh phúc. Cảm xúc hỗn loạn đã đưa Ka vào thế giới đa chiều của tuyết – tinh thể sáu cánh trong suốt có tâm chính giữa với ba trục tưởng tượng xoay tròn nhiều vòng trong không trung trước khi chạm đất – niềm cảm hứng để lần đầu tiên sau bốn năm Ka mới viết được thơ, bài thơ đề tên Kar – Tuyết.

Để làm việc đó, ông vẽ ra một tinh thể tuyết riêng dựa theo hình các bông tuyết trong sách vở, sau đó ông xếp tất cả các bài thơ sáng tác ở Kars lên chỗ của chúng. Hệt như cấu trúc của cuốn thơ mới, tất cả những gì đã biến con người ông thành thi sĩ Ka, được vẽ lên tinh thể tuyết này. Theo quan điểm của ông, mỗi người phải có một bông tuyết như vậy, một dạng bản đồ tâm linh của cuộc đời. Các trục HỒI ỨC, LÝ TRÍ và TUỞNG TUỢNG Ka mô phỏng từ sơ đồ cây tri     thức con người của Bacon. Ông cũng viết rất cụ thể và tường tận về những nỗ lực của mình nhằm giải thích ý nghĩa của các điểm trên nhánh rẽ của hình lục lăng này.

Ảnh: listelist.com

Căn tính của Ka, cái chất làm nên con người ông cô đọng trong Tuyết thông qua những cái tên và những liên tưởng. Có lẽ vì vậy, định mệnh đã an bài cho Tuyết và Ka cùng một kết cục. Ông không thể hoàn thành được nó, dù sau khi trở lại Đức thời gian của ông còn nhiều. Số phận hay là Thượng đế mà ông chẳng thực lòng tin đã vĩnh viễn khép lại mong muốn hóa thân thành bông tuyết của Ka: là Ka chứ không phải là kar hay Kars, không phải là Tuyết. Trước khi kịp chạm đất, bông tuyết của ông bị cơn gió làm vỡ thành nhiều mảnh và ông sẽ mãi khuyết đi một phần của mình. Ông chẳng bao giờ tìm lại được phần linh hồn mất đi đó, bởi nó đã biến mất sau khi tuyết ở Kars tan chảy. Ôm theo sự mất mát ấy, Ka sống trong nỗi cô đơn những năm cuối đời, một cuộc đời dang dở Kars trao cho ông đồng thời lấy mất của ông. Cuối cùng tuyết sẽ lại tan. Rồi Ka chết.

Hà cớ gì Ka phải đi đến lựa chọn sống còn như vậy? Không chọn hay chọn cả hai có được chăng? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần xoáy sâu vào đời sống ở Kars: Hồi giáo chính trị, nước Thổ thế tục, những chiếc khăn trùm đầu và cả về những số phận dở dang khác. Trước tiên là xung đột đức tin, và nói tới đức tin không thể thiếu Hồi giáo, thứ có vị trí đặc biệt quan trọng trong văn chương Orhan Pamuk, xuất hiện với tần suất gần như tuyệt đối. Nhưng phải tới Tuyết, tôn giáo này được đẩy lên cực độ, trở nên sống còn của toàn tiểu thuyết. Orhan Pamuk có một tình yêu đặc biệt với đất nước ông, nhà văn đưa Kars trở về màu sắc đặc trưng của Thổ Nhĩ Kỳ: cái ngã ba của thế giới, từ thành Troy cổ đại cho tới những Consantinople rồi Istanbul và những Erzurum, Kars; nơi suy nghĩ con người luôn chia làm hai như eo Bophorus vĩ đại. Tại đất nước này, người ta hoặc sống trong đức tin mãnh liệt về một Thượng đế chí tôn hoặc quay lưng lại với nó. Khi hai thái cực chẳng thể dung hòa, xung đột xảy ra và máu sẽ đổ. Cuộc đối đầu giữa hai nhân vật Lam và Sunay Zaim, những vụ khủng bố của phe Hồi giáo và những cuộc đảo chính của phe thế tục, là một ví dụ điển hình của nước Thổ. Lam và Sunay Zaim, gọi chung là nhà hoạt động chính trị, sẽ chẳng bao giờ hình dung ra hậu quả to lớn họ tạo ra từ lời nói con con. Rồi lúc bọn họ chết, thì đó là chết cho lý tưởng, cho những điều họ bảo vệ, không lâu sau sẽ trở thành những huyền thoại, tượng đài được tôn vinh kính ngưỡng. Vậy còn những người như Necip, Fazil thì sao? Đây mới là tầng lớp hứng chịu hậu quả nặng nề nhất. Cả hai chỉ là những học sinh tôn giáo trẻ trung đầy nhiệt huyết, đang sống những tháng ngày hồn nhiên nhất của cuộc đời. Ở cái tuổi ấy, Thượng đế mới manh nha tồn tại trong đức tin các cậu bé. Chẳng phải khi xưa chính Muhammad cũng phải tới bốn mươi tuổi mới nhận được thiên khải đó ư. Đoàng một phát, trái tim non nớt của Necip vỡ vụn, tôi cảm nhận được lúc ấy, tận sâu thẳm trong Fazil đã bắt đầu xuất hiện vết nứt. Chàng trai mãi mãi chẳng tìm thấy đức tin được nữa, vầng trăng lưỡi liềm chàng hằng ao ước thẫm một màu máu. Chàng gục ngã ngay trước cổng thiên đàng, thiên đàng màu trắng có bông tuyết nhỏ tan vào giữa con ngươi và Thượng đế của chàng biến mất khi còn chưa thành hình. Hỡi tuyết kia, ai cho ngươi rơi trên những ước vọng?

Với sự thật đau buồn này, tôi tin rằng Orhan Pamuk đang muốn cho cả thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây thấy rằng: Hồi giáo không phải tà giáo, và vẫn còn đó rất nhiều cậu trai như Necip, những người không bao giờ bị bạo lực vấy bẩn.

Nếu có một điểm tương đồng được tất cả những người ngồi đầu và giữa phòng     thống nhất, thì Necip nhận ra có đạn thật sau loạt súng thứ ba, song cậu lại hiểu sự kiện đó theo một hướng riêng.

Hai giây trước khi trúng đạn, cậu đứng dậy và nói đủ to để nhiều người nghe thấy (tuy không được thu vào băng video):“Dừng lại, đừng bắn! Súng có đạn thật đấy!”

Những gì mọi người trong phòng đến lúc này đã cảm thấy bằng trái tim nhưng lý trí vẫn cố cưỡng lại, thế là đã được nói ra.

Phía bên kia thành phố là Kadife và cuộc chiến giữa những chiếc khăn trùm đầu. Khác với những bạn bè đồng trang lứa của mình, Kadife không chọn cách tự tử để phản đối. Cô ví việc mình tháo khăn trùm đầu như là biểu tượng đấu tranh. Những người phụ nữ, đặc biệt những cô bé như Kadife chẳng còn có thể sống đời bình thường được nữa. Họ sống trong sự dở dang do cái bóng quá lớn của chiếc khăn tạo ra. Họ trở thành quả bóng mà dù Hồi giáo chính trị hay Nhà nước thế tục đều muốn đá về cầu môn đối phương. Chẳng ai đứng ra nhận lấy trách nhiệm về những thiếu nữ tự tử cả, chỉ toàn đổ lỗi lẫn nhau. Kadife, có lẽ cô cũng không nhận ra mình cũng chỉ là quả bóng. Cứ cho rằng cô là quả bóng gai góc đi nữa, thì điều cô làm được bất quá làm xước chân các nhà hoạt động chính trị. Cuối cùng rồi cô sẽ bị đá đi. Nếu may mắn, cô giữ được cuộc sống. Còn không, quả bóng xì hơi và xẹp xuống. Nó muôn đời nằm đó trên sân, đừng mơ có ai nhặt lấy, suy cho cùng ai lại muốn quả bóng xẹp chứ. Cho tới khi một đợt tuyết mới rơi xuống, lấp đi cái hố quả bóng tạo ra, và làm mọi thứ đều trông trăng trắng giống nhau. Dưới lớp tuyết dày, tôi tưởng chừng không thể bắt kịp những phụ nữ ấy, tuyết làm cho họ bí ẩn hơn và đẹp hơn, nhưng điều đó chỉ làm cho đàn ông say đắm họ hơn. Ka đã yêu họ, tôi cũng yêu họ.

“Ông xem xét cuộc đời quá đỗi đơn giản,” Kadife bác lại. “Thay cho tự sát vì tình, người ta chỉ cần đợi ít lâu là tình yêu sẽ không còn giằng xé. Nghèo đói cũng không phải nguyên nhân thực thụ. Những người không chịu nổi đòn roi có thể lấy trộm ít tiền của chồng rồi bỏ trốn, như thế giản dị hơn nhiều.”

“Thôi được vậy lý do thực sự là gì?”

“Tất nhiên lý do thực sự của mọi cuộc tự sát là lòng kiêu hãnh. Ít nhất thì với    đàn bà.”

“Vì lòng kiêu hãnh của họ bị tổn thương trong tình yêu?”

“Ông không hiểu gì hết!” Kadife đáp. “Phụ nữ không tự sát vì lòng kiêu hãnh của họ bị tổn thương, mà để chứng tỏ họ kiêu hãnh chừng nào.”

Như một nguyên lý nhị nguyên tất yếu, tình yêu ở Kars ra đời từ sự chia rẽ và cùng lúc sự chia rẽ làm tình yêu càng thêm mãnh liệt. Với những người phụ nữ và những người đàn ông đặc biệt như thế, dễ dàng nhận ra tình yêu giữa sẽ không đi theo logic thông thường. Đó không phải là thứ tình cảm theo kiểu phương Tây mà cũng chẳng phải ngôn tình phương Đông, nó mang màu sắc nước Thổ rõ rệt. Tại Kars, tính cách Thổ phát lộ hơn bao giờ hết trong mối tình của Ka, Ipek, Lam và Kadife.


Nếu buộc phải mô tả tình yêu ở Kars, tôi không có cách nào tốt hơn mượn bông tuyết của Ka. Trong bông tuyết của tôi, cũng có ba trục toạ độ: Lý trí, Tưởng tượng và Hồi ức; những tình cảm, những câu chuyện trên ba trục sẽ ảnh hưởng lẫn nhau tuỳ theo mức độ liên quan xa gần. Tình yêu, sẽ là tâm của bông tuyết. Nó giữ cho tinh thể trong suốt ấy xoay vòng trong không trung đủ để các trục giao thoa với nhau nhưng không đủ để xoá bỏ các trục. Sau đó nó sẽ hoặc tan chảy hoặc hoà vào tầng tầng lớp lớp các bông tuyết ngày đêm phủ lấy Kars. Kết quả tạo ra thật mỹ mãn, bức tranh tình yêu trở nên trắng và lạnh, đẹp và mờ ảo hơn bao giờ hết. Cuối cùng, khi tuyết ngừng rơi, tình yêu không biến mất mà chuyển vào những dạng hình khác bí ẩn không kém trong vòng tuần hoàn của tuyết. Rất khó duy trì một cân bằng xúc cảm tinh tế đến như vậy suốt cuốn tiểu thuyết, và Orhan Pamuk lần nữa chứng minh tài năng của ông.

Ka luôn luôn trải nghiệm một khoảnh khắc hạnh phúc trong kinh sợ, cốt để sự bất hạnh nối tiếp không quá lớn. Do vậy mà lúc này trong khi ôm Ipek – vì tình yêu thì ít mà vì nỗi sợ sinh ra từ đó thì nhiều – ông tin rằng cô sẽ khước từ ông, rằng sự gần gũi đang nảy nở sẽ đột ngột tan vỡ, và niềm hạnh phúc không xứng đáng của ông sẽ biến thành sự khước từ và tủi hổ xứng đáng, song cũng nhờ thế mà ông sẽ tìm được thanh thản cho mình.

Chỉ một mảnh ghép nữa là bức tranh hoàn chỉnh: Orhan – người kể chuyện. Cũng giống nhiều tiểu thuyết khác của mình, Orhan Pamuk lại xuất hiện trong Tuyết khi cơn bão đã tan, khi mọi việc đi đến hồi kết. Nhưng như vậy không có nghĩa là vai trò của ông không quan trọng. Nhà văn duy trì bản thể của mình ở lằn ranh giữa cái bên trong và bên ngoài, giữa thế giới tiểu thuyết và thế giới thực. Việc dung hòa hai thái cực dẫn tôi tới câu hỏi lớn về sự tồn tại: liệu một nhà văn sẽ làm đến mức nào để giữ hay loại bỏ sự hiện diện của mình đối với độc giả? Nếu ở Tên tôi là Đỏ, tiếng nói của cậu bé Orhan yếu ớt chỉ có thể cảm thán mà không thế thay đổi câu chuyện thì tại Tuyết, bóng dáng người kể chuyện Orhan Pamuk dường như có mặt trong cả tiểu thuyết mặc dù thứ ông tạo ra được chỉ là những dòng tự sự từ ký ức của thi sĩ Ka bạn ông. Điều này tạo cho tôi một nghi ngờ liệu rằng đó có phải là Ka hay là Op (rút gọn theo cách của Ka) hay phải chăng Ka chính là Op. Tuy vậy, tôi không cố đào sâu tìm hiểu chân tướng vì đó có thể là cạm bẫy hay lối cụt mà một khi dấn bước, tôi sẽ tìm thấy con người khác không chỉ của Ka hay Op mà còn của tôi. Tôi càng nghi ngờ hơn và càng không dám nghi ngờ. Tôi chấp nhận rằng cũng như tôi, Op đã bỏ một phần của ông ấy lại ở Kars.

Ảnh: IMDb.com

Để kết thúc, tôi xin mượn lời Fazil nói với Orhan ở cuối tác phẩm:

“Nếu ông để tôi xuất hiện trong một cuốn tiểu thuyết nói về Kars thì tôi muốn nói với độc giả rằng họ không nên tin những gì ông viết về tôi, về tất cả chúng tôi. Không ai hiểu được chúng tôi khi xa cách như thế.”

Vì vậy bạn cũng đừng tin tôi mà hãy dấn thân vào Tuyết để tìm niềm tin của riêng mình.

Hết.

3V

Xem tất cả những bài viết của 3V tại đây.


2 bình luận

2 Bình luận

  1. Thiện Quang

    Tháng Sáu 8, 2019 at 5:14 sáng

    Hay quá bạn ơi!
    1 like cho bạn hihi

  2. Pingback: Tôi đi tìm hiểu tác phẩm “Tuyết” của Orhan Pamuk – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

20 điều bạn chưa biết về truyện cổ Grimm

Đăng từ

on

Người đăng

Đã hơn 200 năm kể từ ngày xuất bản các tác phẩm Hansel và Gretel, Rumpelstiltskin và 200 câu truyện khác như Kinder- und Hausmärchen hay Children’s and Household Tales của Jacob và Wilhelm Grimm vào năm 1812.

Hầu hết tất cả chúng ta đều biết đến truyện cổ Grimm. Nhưng bạn có biết trong phiên bản Grimm gốc của Cô bé Lọ Lem, các cô chị ghẻ đã cắt bỏ một phân bàn chân để mang vừa chiếc giày? Hay người muốn giết hại Bạch Tuyết chính là mẹ ruột chứ không phải mẹ kế?

Trong một cuộc phỏng vấn mới đây, Giáo sư Maria Tatar ở đại học Havard – biên tập viên, dịch giả, người chú giải cho ấn bản 20 năm của The Annotated Grimm Brothers đã tiết lộ một số sự thật bất ngờ về truyện cổ Grimm.

1. Jacob và Wilhelm Grimm không hề có dự định viết truyện cổ tích cho trẻ con. Đây chỉ là một phần của dự án học thuật để khẳng định và bảo vệ tinh thần của người dân Đức.

2. Nhưng Edgar Taylor, một người Anh, đã dịch và xuất bản những câu chuyện này ở Anh vào năm 1823, và được trẻ con vô cùng yêu thích. German Popular Stories (tạm dịch: Những câu chuyện nổi tiếng ở Đức) trở nên nổi tiếng và tạo cảm hứng cho anh em nhà Grimm biên tập lại tuyển tập sách dành cho đối tượng gia đình. Điều này đã làm nên lịch sử khi ngày nay những câu chuyện của họ giúp củng cố thêm nền văn chương và văn hóa phổ biến ở phương Tây.

3. Anh em nhà Grimm không đi lang thang khắp làng quê, cũng không đương đầu với rừng rậm hay thời tiết khắc nghiệt để lượm lặt những câu chuyện của người nông dân từ mọi ngóc ngách. Nguồn truyện của họ chủ yếu đến từ những người phụ nữ trung lưu, có học thức, đặc biệt giỏi giang. Rất nhiều người đến nhà Grimm và kể lại chuyện của họ một cách thoải mái nhẹ nhàng, ngoại trừ một người lính nghỉ hưu kể câu chuyện của mình để đổi lấy quần áo cũ.

4. Anh em nhà Grimm tiếp tục bổ sung và chỉnh sửa bộ truyện, tái bản lần thứ bảy vào năm 1857. Đó là nền tảng cho mọi phiên bản truyện cổ Grimm được xuất bản ngày nay và bao gồm 210 truyện. Ngoài những chuyện ma thuật quen thuộc, quyển sách này cũng có nhiều thần thoại về tôn giáo, truyện cười và truyện ngụ ngôn.

5. Khi nhận thấy tuyển tập truyện được các độc giả trong gia đình đón nhận, tác giả chỉnh sửa thêm cho phù hợp với đối tượng trung lưu. Một trong những điều đầu tiên Wilhelm thực hiện chính là bỏ các chi tiết gợi cảm. Trong ấn bản đầu tiên của Rapunzel, chính vì Rapunzel mang thai nên mụ phù thủy mới biết đến sự viếng thăm của hoàng tử. Cô nói “Mẹ đỡ đầu ơi, tại sao quần áo của con lại bị chật, con không mặc vừa nữa”. Trong ấn bản lần thứ 7, không có một chi tiết nào ám chỉ đến hoạt động tình dục của Rapunzel. “Mẹ đỡ đầu ơi, tại sao kéo mẹ lên lại khó hơn kéo hoàng tử?

6. Một trong những câu chuyện mà Grimm loại bỏ sau ấn bản đầu tiên là Hans Dumm. Câu chuyện kể về người đàn ông có khả năng biến phụ nữ có thai chỉ bằng việc ước điều ước.

7. Anh em nhà Grimm cũng thay đổi truyện theo nhiều hướng khác, như bổ sung các chi tiết về đạo Kitô giáo, từ ngữ dân gian, và nhấn mạnh vai trò giới tính mà khán giả của họ chấp nhận. Họ trau chuốt và mở rộng các cảnh bạo lực, thường chọn các phiên bản xấu xa hơn là kết thúc có hậu.

8. Trong vài phiên bản của Rumpelstiltskin, Rumpelstiltskin trốn thoát bằng một cái thùng hay chỉ đơn giản là bỏ chạy, như trong ấn phẩm đầu tiên. Tuy nhiên, trong ấn bản năm 1857, ông ấy la hét và “trong cơn thịnh nộ, ông đã dậm chân phải mạnh đến nỗi nó văng đến tận eo. Sau đó, quá giận dữ, ông nắm chân trái bằng hai tay và xé cả người thành hai mảnh.”

9. Trong bản Cô bé Lọ Lem của Pháp, Lọ Lem tha thứ cho hai người chị kế và tìm chồng tốt cho họ. Nhưng trong phiên bản của Grimm thì khác. Đầu tiên, cả hai người chị cắt bỏ phần bàn chân để thử giày, và hoàng tử chỉ phát hiện họ không phải cô gái chàng tìm khi một chú bồ câu nói rằng chân họ bị chảy máu. Khi hoàng tử tìm được Lọ Lem, những chú chim bồ câu này đã khoét mắt của những người chị kế.

10. Không hề có bà tiên! Đúng vậy, trong phiên bản Grimm của Cô bé Lọ Lem, một cây phỉ nhỏ bé được Lọ Lem tưới bằng nước mắt đã cho nàng váy để tham dự dạ tiệc.

11. Đừng lo về việc phải hôn một con ếch. Trong Hoàng tử ếch của Grimm, con ếch biến thành hoàng tử không phải vì nụ hôn mà khi công chúa ném nó vào bức tường trong phòng ngủ. Ngay lập tức, nàng được diện kiến hoàng tử và cả hai cùng đi ngủ. Trong các phiên bản về sau, tác giả nhà Grimm đã “đứng đắn” hơn khi sửa đổi thành chi tiết “tại buổi đấu thầu của cha cô”, hoàng tử trở thành “người chồng và bạn đời” của cô gái.

12. Người mẹ kế ác độc trong Bạch Tuyết và Hansel và Gretel ban đầu là mẹ ruột của họ. Anh em nhà Grimm cho rằng họ nên bảo vệ tình mẫu tử thiêng liêng trước độc giả của mình.

13. Vì ý định ban đầu của Grimm nhằm bảo vệ nền văn học dân gian của Đức, Đức quốc xã đã cố gắng chiếm đoạt Children’s and Household Tales cho mục đích ý thức hệ của mình.

14. Các tác giả như Margaret Atwood, Angela Carter và Anne Sexton đã chỉnh sửa và chuyển thể truyện cổ Grimm thành truyện ngắn, thơ và tiểu thuyết. Điều này có tác dụng tích cực đến việc phân tích chuyện cổ tích và ảnh hưởng của chúng, đặc biệt là ảnh hưởng lên các điều kiện giới tính.

15. Khi truyện cổ tích ra đời, các dị bản cũng ra đời. Trên thực tế, Tatar cho biết, không hề có “bản gốc” của một câu chuyện cổ tích. Vậy nên khi Jon Scieszka viết một bài chế giễu The Stinky Cheese Mann và Other Fairly Stupid Tales, ông đã thay đổi từ ngữ nhưng vẫn giữ cốt truyện. Truyện cổ tích thu hút các giá trị văn hóa về thời gian và địa điểm, và các phiên bản khác nhau cho chúng ta biết nhiều giá trị khác nhau của người kể, cũng như cách họ dựa vào các giá trị để kể nên câu chuyện của mình.

16. Đúng là một sự trùng hợp thú vị khi các anh em nhà Grimm kể chuyện cổ “grim”. Trong tiếng Đức và tiếng Anh, “grim” có nghĩa là tàn bạo, độc ác, tức giận hoặc khắc nghiệt.

17. Nhưng các câu chuyện có thật sự tàn bạo đến vậy? Theo Tatar, hầu hết 210 câu chuyện đều kết thúc có hậu. Truyện The Children Who Played Butcher With Each Other là một ngoại lệ.

18. Hầu như tất cả các câu chuyện đều ca ngợi sự khôn ngoan, can đảm và kiên cường.

19. Mùa hè năm ngoái, một nhà lưu trữ người Đức đã khám phá ra 500 câu chuyện cổ tích “mới” đã được Franz Xaver xon Schonwerth – một đồng nghiệp của anh em nhà Grimm, sưu tập trước đây. Tatar cho biết, trong tuyển tập đó có các phiên bản nam của Cô bé Lọ LemCông chúa ngủ trong rừng, và Bạch Tuyết. Liệu anh em nhà Grimm có biết đến các phiên bản này và loại chúng ra khỏi tuyển tập của mình? Chúng ta không bao giờ biết được…

20. Phiên bản mới nhất của truyện cổ Grimm là của Philip Pullman, mang tên Grimm Tales for Young and Old. Ngoài việc kể chúng ta nghe những câu chuyện hấp dẫn một cách mềm mỏng và rõ ràng, Pullman còn đưa ra một số thông tin nền tảng của từng câu chuyện. Rất đáng để bạn đọc thử.

Hết.

Anh Thư dịch

Nguồn: thestar.com


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích



Đọc bài viết

Phía sau trang sách

The Fix – Quốc gia tái thiết: Hy vọng vẫn còn

“The Fix” gồm 10 bài viết như những case study về cách mà các quốc gia đã vượt qua khủng hoảng của mình.

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trong cuốn The Fix – Quốc gia tái thiết, tác giả Jonathan Tepperman đôi lần lặp đi lặp lại trạng thái “Thế giới đang bước đi trên một lưỡi dao cạo”, và vô hình chung, đây không hẳn là sự trùng hợp. Một cách vui vẻ để nhìn nhận, đứng trước mạng lưới thông tin dày đặc được cập nhật 24/7 về tình hình thế giới hiện nay, đôi khi hình tượng hạt dẻ mà chú lười Sid trong Kỷ băng hà (Ice Age) vô ý cắm vào tảng băng để từ đó vũ trụ thành ra nứt nẻ lại hiện ra. Cho đến ngày nay, khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á hay Mùa xuân Ả Rập vừa tạm nguôi đi; thì ngay lập tức mùa hạ kinh hoàng năm 2014 khi Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ra Biển Đông lại đến. Không những thế, sự lớn mạnh của Nhà nước Hồi giáo cực đoan IS, đại dịch chết chóc Ebola, sự thiếu hụt tài nguyên khí đốt, Hy Lạp phá sản hay Chủ nghĩa bản địa bài ngoại ở những nơi di dân chạy trốn chiến tranh Vùng Vịnh… cũng giáng những nỗi kinh hoàng lên đời sống con người. Ở ngay những thời khắc này, chính các sự kiện ấy là thứ hạt dẻ làm nứt vũ trụ, chỉ khác lần này không còn nằm trên màn ảnh 2D và được Disney tạo ra (sự thật rằng nó vừa mua đứt 21st Century Fox); mà đó đã dần thành hình trong thế giới thực – một thế giới của con người, vì con người; và dĩ nhiên, do con người.

The Fix tuy nhiên là một tập hợp những điều tươi sáng hơn thế. Cuốn sách gồm 10 bài viết như những case study về cách mà các quốc gia đã vượt qua khủng hoảng của mình. Lấy 10 chủ để nổi bật nhất nền địa – chính trị những năm vừa qua, Jonathan Tepperman một cách tài tình dẵn dắt người đọc qua những câu chuyện tái thiết của các quốc gia thuộc 4 châu lục; băng qua tình cảnh bất bình đẳng của Brazil, nạn tham nhũng ở Singapore, chủ nghĩa Hồi giáo Cực đoan ở Indonesia, những vết thương nội chiến của Rwanda hay lời nguyền tài nguyên của Bostwana. Bên cạnh đó, ông cũng lần mò đi tìm nguyên nhân lý giải vì sao Canada mở rộng cánh tay với người tị nạn, cách Hàn Quốc tăng trưởng – tăng trưởng nữa – tăng trưởng mãi để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, cách Mexico khởi động lại guồng máy chính phủ, cách Mỹ bùng nổ cách mạng Đá phiến hay phương pháp tháo gỡ nút thắt của New York sau vụ khủng bố 11/9. Nhìn nhận một cách khách quan, The Fix cắt ngang sự ảm đạm như một tia nắng (Adam Grant), và mang một chút hy vọng cho những ai vẫn đang mong muốn những điều tốt đẹp hơn – dĩ nhiên là thực tế hơn.

Trong vai trò Trưởng ban biên tập của Văn phòng Bộ ngoại giao, Jonathan Tepperman tiếp cận đọc giả dưới góc nhìn của một chuyên gia lành nghề. Như một bác sỹ giải phẫu tận tụy từng vấn đề, bằng kinh nghiệm và các mối quan hệ cá nhân, The Fix cung cấp cho người đọc những thông tin đúng đắn, thức thời, đôi khi ngay cả tuyệt mật từ chính những người trong cuộc; và chính yếu tố này làm nên tính thực tế và sinh động cho cuốn sách. Lấy ví dụ như trường hợp cách Mexico tháo gỡ guồng máy chính phủ ngay giữa những cuộc chống đối bè phái, mà theo Jonathan viết, đó đều là những “hoàn cảnh vụn trộm” hay những “cuộc dàn xếp bí mật” giữa 3 đảng phái nhà nước; và nếu không dùng bất cứ một mối quan hệ nào để tiếp cận những cá nhân chủ chốt từng tham gia các hội nghị trên, khó lòng để hiểu được cách chúng vận hành gỡ rối ra sao. Do đó, cá nhân người viết ở góc độ nào và đóng góp ra sao ít nhiều tạo sự thức thời cho cuốn sách này.

Và có một thực tế đa số những cuốn non-fiction ăn khách ngày nay được viết bởi những nhà báo lăn xả hơn những chuyên gia trong ngành. Có thể kể đến như Bad Blood của John Carreyrou, The Shock Doctrine của Naomi Klein, Secret Formula của Frederick L. Allen hay Seven Days in the Art Work của Sarah Thornton,… Đơn giản là vì, dưới góc độ của một nhà báo, nó đòi hỏi người viết cung cấp những thông tin giật gân, có thể gây bất ngờ hay chính những điều ngay cả người đọc không thể màng tới; và cũng chính lẽ đó, chưa chắc là những thông tin chính xác. Trong khi đó, Jonathan Tepperman giữ vững vai trò hai mang của mình – ông tìm tòi như một nhà báo, nhưng khẳng định như một chuyên gia. Cách xây dựng của ông đi từ những điều nhỏ nhặt nhất, như thể cách giải quyết bất bình đẳng ở Brazil bằng chính sách Bolsa Família, khi hỏi tổng thống Lula của nước này đâu là mấu chốt của vấn đề, ngài tổng thống đã không ngần ngại trả lời: “Người hiểu rõ nhất người nghèo thật sự cần gì là những người như mẹ ông – ấy là bản thân người nghèo”. Rõ ràng nhận thấy, Jonathan bằng cách tiếp cận trực tiếp và thức thời làm cho vấn đề một cách sáng tỏ, không đi vòng tránh né, đoán già đoán non hay tin tưởng vào những nhận định ở phía phủ định để phù hợp với con đường xây dựng cuốn sách như trường hợp của nhiều nhà báo khác.

Ảnh: Foreignpolicy.com

Cạnh đó, với các vấn đề trong cuốn sách này, Jonathan không chỉ nêu ra vấn đề, trình bày những cách giải quyết; ông cùng đó nêu bật điểm yếu hay cách áp dụng ra sao vào các nền chính trị khác. Do đó với The Fix, người đọc không mang cảm giác đây là cuốn sách tâng bốc giả tạo những sáng kiến cá nhân; khi một cách thẳng thắn, những điểm yếu của cai trị độc tài, của chủ nghĩa thực dụng, của lối từ bỏ cái hoàn hảo lấy cái có thể chấp nhận được vẫn tồn tại trong này. Jonathan không dè chừng, không sợ hãi và phơi bày chúng như những điểm yếu cần có của muôn mặt vấn đề. Đơn cử như chương về cách mạng Đá phiến của Mỹ, ông không ngần ngại chỉ ra đâu là lý do tuy nằm trên một mỏ đầy những trầm tích đá phiến với một hàm lượng gấp rất nhiều lần Mỹ nhưng lục địa già lại từ chối cơ hội khai thác này, để rồi vẫn bị Nga nắm chui khi phụ thuộc nhập khẩu hơn 1/3 khí đốt từ đất nước này. Hay bởi những đặc tính rất Trung Quốc: ngại mạo hiểm, ưa đi tắt đón đầu và thiếu nguồn khích lệ thị trường tự do đã khiến công cuộc khai thác đá phiến ở đây giậm chân tại chỗ cho đến ngày nay.

Ở một mặt khác, ông không tôn vinh quá đà hay cố lý tưởng hóa bất cứ một cá nhân hay đường lối, chính sách nào. Chẳng hạn như ngay khi vừa cho thấy một nước Mỹ sẵn sàng nghiên cứu những đường hướng mới trong cuộc cách mạng đá phiến, ông liền quay ngoắc phê phán lối thụ động đối mặt với khủng bố trong cơn ảo danh chống phá giữa các đảng phái làm tê liệt nghị trường Washington; để chính bộ máy địa phương như New York phải căng mình đứng ra lo liệu. Hay một mặt khác, ông không ngần ngại cho thấy lối cai trị độc tài của Lý Quang Diệu để đưa Singapore ra khỏi con đường tham nhũng; hay Park Chunghee tiếp tay những chaebol (tập đoàn gia đình) dần dần làm lũng đoạn kinh tế Hàn Quốc khi chỉ vừa khởi sắc. Đây đều không phải những điều đáng khen hay nên học tập trong một thế giới tiến gần đến dân chủ hóa, tự do hóa ngày nay; nhưng với những bước phát triển ngay từ bữa đầu, đây thực sự là cuộc tiểu phẫu đi sâu vào lòng vấn đề, không vòng tránh, không giảm nhẹ. Một lối viết dũng cảm, mạnh mẽ và phơi bày.

The Fix mang trong bản thân thế mạnh không chỉ của những chính sách cứu vớt khỏi cơn bĩ cực chính trị; mà còn chứa trong mình câu chuyện lịch sử của từng quốc gia dính líu ít nhiều trong này. Jonathan bằng cách nghiên cứu sâu rộng đi thẳng vào những mâu thuẫn, cách nó hình thành; đôi khi là những tập quán, phong tục tồn tại xa xưa ở những vùng đất ta chưa từng biết. Ông đi sâu vào nghiên cứu các gacaca (toà án hương thôn của Rwanda), kgotla (phiên giải quyết giữa các tù trưởng Bostwana), đặc điểm Hồi giáo cực đoan nửa vời của Indonesia hay khởi thủy một nền Canada trắng của Canada,… Do đó, nhìn chung, The Fix phù hợp người đọc ở nhiều góc nhìn. Nếu không quá chú trọng đến cách những quốc gia tái thiết – vì có lẽ đó là việc của những người chuyên trách hơn – thì cuốn sách này cho ta góc nhìn tuy chỉ một giai đoạn nhỏ, nhưng đều là những thời khắc chính trị quan trọng của những nơi chốn này. Quốc gia tái thiết đứng giữa hai bờ quá khứ – tương lai. Nếu thấy quá xa trước tương lai bất định, cứ nhảy ngược trở về quá khứ để xem cuộc nội chiến giữa 2 tộc người Tutsi và Hutu ở Rwanda tạo nên hơn 130.000 tội phạm diệt chủng và cần hơn 200 năm mới xử lý hết. Hay quay về thời khắc Singapore vừa được trao trả độc lập, với sự đồi bại và tội ác ngút trời: hội tam hoàng và những hội kín người Hoa công khai điều hành ổ hút và nhà thổ, tay chân chém giết tranh giành địa bàn khắp các đường phố,…

Thế nhưng không thể nói The Fix không có điểm yếu. Thứ nhất, nhìn chung các vấn đề trong cuốn sách này đều là các case study, do đó chúng đều là những giải pháp chỉ trên bề mặt, không một hướng đi cụ thể. Tuy Jonathan đã rất cố gắng đúc kết rất nhiều điểm chung, rất nhiều phương hướng có thể soi rọi cho những nền chính trị khác; nhưng nó là điều bất khả cho nền chính trị của các đất nước quá khác xa nhau. Nhưng như một bài học cuối cùng ông đúc kết lại, đôi khi ta phải từ bỏ cái hoàn hảo để lấy cái có thể chấp nhận được; và ở riêng điều này, The Fix tỏ ra có tác dụng. Không hoàn toàn vô ích khi học hỏi Canada về cách dang tay hỗ trợ và giữ lại người tị nạn hay cách chính quyền thành phố New York tự cứu lấy mình khỏi những lo toan khủng bố đè nặng.

Thứ hai, điểm yếu ở tính địa phương. Ở đây, hầu như 10 bài viết đều gắn liền với 10 cá nhân tổng thống xuất sắc – những người đoán đầu và chịu thử thách. Cùng đi với đó là những hoàn cảnh chính trị mà như Jonathan đôi khi thừa nhận, là rất đặc biệt, có một không hai. Chính những điều này làm nên tích chất manh mún của mỗi vấn đề. Như thể ở trường hợp Indonesia: ta không thể nói lực lượng Hồi giáo ở những khu vực vùng vịnh như Iran, Iraq hay Syria không có đường lối cứng rắn như ở Indonesia để rồi áp dụng bài học ấy ở các nước này. Hay một Bắc Triều để vươn mình phát triển như Nam Triều của ngày hôm nay, thì đào đâu ra các chaebol – gia độc gia đình để được nhà nước dù cho độc tài rót vốn, miễn thuế hay thúc đẩy phát triển? Cho nên nhìn chung, với những case study rất nhỏ và cụ thể tỏ tường thế này, một góc nào đó cho thấy The Fix vẫn chỉ là câu trả lời cho những vấn đề thức thời. Nó không bao quát, không làm nên định lý chung, không thành quỹ tích cho những đường đi vì một thế giới sẽ đẹp đẽ hơn.

Và điều cuối cùng, phụ thuộc tâm lý hơn bất cứ vấn đề nào khác của cuốn sách này. Rằng, con người với một bản chất luôn thích khám phá, bóc trần những điều tăm tối hơn là hy vọng. Dẫu cho phần đầu Jonathan một cách tinh quái nêu bật lên những lần ranh hiểm nguy trước khi đi vào giải quyết, nhưng với thời lượng quá chông chênh nhau đâm ra thiếu đi tác dụng. Không thể trách ai, chỉ trách ông quá lạc quan viết nên cuốn sách e quá tươi sáng cho những con người ủ dột của ngày hôm nay.

Đồng hồ tận thế (Doomsday Clock) vừa nhích thêm 20 giây đến khoảng cách diệt vọng của xã hội loài người, làm giảm khoảng cách xuống còn 100 giây đến thời điểm nửa đêm của ngày cuối cùng. Theo đó, Nhóm nhà Khoa học Hạt Nhân Mỹ cho rằng, hai hiểm họa diệt vong là chiến tranh hạt nhân và biến đổi khí hậu thúc sẽ đẩy càng nhanh quá trình diễn tiến. Chúng còn tăng lên khi có hàng loạt các mối đe dọa khác, khi chiến tranh thông tin trên không gian mạng đang làm ảnh hưởng khả năng đối phó một cách hiệu quả của xã hội. Và The Fix, với nguồn thông tin đầy ắp của mình, lướt qua như một tia sáng cho thấy vẫn có thể phần nào kiểm soát tình hình chừng nào chúng ta vẫn còn cố gắng và xắn tay áo lên để rồi hành động. Như đoạn mở đầu của ông trong cuốn sách này, rằng:

“Từ bỏ hy vọng tất nhiên là nỗi cám dỗ – nhất là vào thời điểm dường như có quá nhiều điều bất ổn xảy ra với thế giới này. Tuy nhiên, vấn đề với nỗi tuyệt vọng là nó chẳng có ích gì. […]

May thay cho chúng ta, nó cũng dư thừa nữa. Không một thử thách nào (dù có vẻ nghiêm trọng đến mấy) là thật sự không thể vượt qua. Giải pháp cho sự bế tắc […] đã có sẵn ngoài kia.

Bạn chỉ cần phải biết nhìn vào đâu để sửa sai mà thôi.”

Hết.

Ngô Thuận Phát

Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Có thể bạn sẽ thích những bài viết sau:


Đọc bài viết

Phía sau trang sách

“Thế giới mới tươi đẹp”: Nơi hạnh phúc là cội nguồn của bất hạnh

Lăng kính lãng mạn hoàn toàn bị bóp nát trong quyển tiểu thuyết này để chừa chỗ cho trí tưởng tượng về một xã hội đề cao giá trị vật chất rẻ tiền và bỏ mặc đi đời sống tinh thần quý báu.

Đăng từ

on

Người đăng

Cốt truyện kể gì?

Trong tác phẩm Thế giới mới tươi đẹp, Aldous Huxley đã xây dựng một xã hội tương lai thuần túy dựa trên sự hạnh phúc – bất chấp hệ quả về mặt đạo đức. Ở tương lai tưởng tượng ấy, khoa học phát minh ra những viên soma giúp người ta lâng lâng và quên đi những nỗi buồn đau, giống như một loại ma túy đỉnh cao của thời đại. Xã hội với tôn chỉ là “hạnh phúc”, nơi công nghệ tiên tiến trở thành công cụ chính để hoàn thành quá trình sinh sản nên các thú vui xác thịt tồn tại chỉ để thỏa mãn tình dục chứ không hề vì mục đích duy trì nòi giống. Người dân hoàn toàn bị lệ thuộc bởi sự thao túng về tâm trí của các lãnh đạo cấp cao. Huxley đã liên tưởng và cường điệu những tệ nạn xã hội trong tương lai một cách đặc sắc, với nguyên nhân lý tưởng là sự sai trái này bắt nguồn từ sự mất tự do và trách nhiệm cá nhân trong một cộng đồng. Không ai trong số họ dám chống đối và thách thức hệ thống cấp cao lãnh đạo. Tất cả mọi người đều tin rằng họ cùng nhau đoàn kết làm việc vì “lợi ích chung”. Vị thần của xã hội này là Ford – là biểu tượng của sự phi nhân hóa và mất cá tính của loài người. Nhìn tổng quan, ưu thế đặc biệt của quyển sách này chính là cốt truyện phi logic đến khó tin nhưng lại phản ánh góc nhìn tương lai khá thú vị.

Aldous Huxley

Tại sao một xã hội không đói nghèo, không bệnh tật, không chiến tranh lại không hề tốt đẹp?

Những khái niệm và quy tắc mà cuốn sách đưa ra thực lòng là rất kỳ quặc, đến nỗi mà nó làm tâm trí tôi bị lẫn lộn, lan man đủ thứ điều về cuộc sống. Nếu thực sự cái thế giới kinh khủng ấy trở thành đời sống thực thì mọi chuyện sẽ như thế nào? Những việc như những đứa trẻ được nhà nước tạo gen và nuôi dưỡng, những từ như “cha” và “mẹ” được coi là lời tục tĩu khiến tôi cảm thấy lo sợ. Cảm thấy lo sợ vì nền kinh tế thế giới phụ thuộc vào mức phát triển liên tục của các tầng lớp cao nhất, khi mà giai cấp xã hội được chia ra quá rõ ràng và những người thấp cổ bé họng thì cam chịu từ trong tiềm thức. Nhìn lướt qua thì thấy nơi đó thật tốt đẹp nhưng nếu xem xét kỹ thì nó hoàn toàn mất đi nhân tính, bất công và đàn áp tinh thần của người dân. Tình yêu và nghệ thuật đã trở thành thứ xa xỉ bởi người ta chỉ chú trọng đến tình dục rẻ tiền; những “phim đen hạng sang” rải rác khắp mọi chốn để thay thế cho dòng phim truyền thống. Ở đó, tình dục và sinh sản đã được tách ra và phụ nữ không còn sinh con nữa, tình dục đã trở thành một trò giải trí nhàm chán và được khuyến khích làm hàng ngày với nhiều người khác nhau. Các tư tưởng đạo đức đã thay đổi và giống như cả xã hội đang cổ vũ những người trẻ hãy cứ trần truồng để thực hiện “trò chơi tình ái” trong các bụi cây, bụi rậm ven đường nào đó. Nếu sống trong một xã hội như thế này, chắc tôi cũng phát điên mà la lên để đòi “quyền được bất hạnh”, để kiếm tìm lại những đam mê và sáng tạo mà bản thân đã đánh mất đi bởi sự chuyên chế và áp bức của một xã hội tàn bạo từ trong ý thức và bộ máy chính trị.

Thực chất, “thế giới tươi đẹp” ấy đã quay trở lại thời phong kiến cổ xưa vì việc kết hợp vô lý giữa khoa học công nghệ và hạnh phúc xác thịt. Tôi có cảm giác như những người lãnh đạo trong xã hội này đã áp đặt chế độ ngu dân cho toàn thể con người, họ không cho bất kỳ ý tưởng cá nhân nào bộc phát, họ không cho bất kỳ sự tiến hóa nào vượt ra khuôn khổ đã định sẵn bởi gen và thụ thai trong ống nghiệm. Và chính sách thực dân cũng được áp dụng từ trong tâm tưởng khi Alphas, Betas nắm giữ quyền lực và đại diện cho đẳng cấp của trí tuệ và thể chất còn Gammas, Deltas và Epsilons thì lại chịu chế độ nông nô. Tất cả những sự tốt đẹp ấy chỉ mang vẻ hào nhoáng bên ngoài, chỉ là mọi người bị ép buộc là hài lòng với sự ổn định đầy dối trá và những thú vui thể xác bần hèn ấy mà thôi. Làm gì có thứ hạnh phúc mà chúng ta phải hy sinh chủ nghĩa tự do và suy nghĩ cá nhân để vun đắp cho nó chứ? Sự nguy hiểm của công nghệ như một mầm mống len lỏi qua từng ngày và qua quyển sách này thì mọi thứ trở nên kinh hoàng biết bao. Một ngày nào đó, khi ánh bình minh của con người chợt tắt, nhường chỗ cho công nghệ, máy móc ngự trị thì khi đó đời sống tự nhiên sẽ bị che lấp bởi những thứ cứng ngắt và tẻ nhạt. Khi gán ghép khoa học vào yếu tố phi đạo đức, rõ ràng, tác giả đã làm bật lên được sự đáng sợ ẩn sau những tiện ích của nó. Sự phản đề của tác giả về niềm tin phổ biến của quần chúng vào công nghệ như một phương thuốc tương lai cho các vấn đề gây ra bởi bệnh tật và chiến tranh đã hoàn toàn hiệu quả.

Lời kết

Sự thành công của quyển sách này một phần vì đã đánh bật niềm tin của chúng ta rằng công nghệ có sức mạnh để thay đổi cả thế giới, khi Huxley cho thấy nó có tiềm năng trở nên nguy hiểm đến cỡ nào. Khi John đòi “quyền được bất hạnh” thì Mustapha đã thể hiện quyền ấy kèm theo những căn bệnh như ung thư, giang mai, ăn uống đói khổ và cả sự sợ hãi về tương lai. Nhưng rõ ràng, khi đọc đến khát vọng chân thực nhất của người Hoang dã, “Nhưng tôi không muốn thoải mái. Tôi muốn Thượng đế, tôi muốn thơ ca, tôi muốn nguy hiểm thật sự, tôi muốn tự do, tôi muốn lòng tốt. Tôi muốn tội lỗi.” – thì chúng ta đều cảm nhận được đây chính là những ước muốn thể hiện bản chất thẳm sâu trong loài người. Bởi lẽ việc loại bỏ tất cả những điều khó chịu và nỗi buồn trong cuộc sống đã vô tình làm loại bỏ cả những thú vui thực sự trong cuộc sống.

Đây là một cuốn sách thực sự phức tạp và tôi phải thú nhận rằng có một số phần tôi đọc mà chẳng hiểu gì cả. Tuy nhiên, may mắn thay, ý nghĩa xuyên suốt câu chuyện thì tôi đã thấu hiểu được. Có lẽ, một phần ý tưởng của tác giả bắt nguồn từ Chiến tranh thế giới thứ nhất với việc đánh dấu sự kết thúc của những giấc mơ phi lý theo chủ nghĩa lãng mạn trong văn học, giống như một số kế hoạch không tưởng ngoài đời thực sắp được đưa ra với những hậu quả tai hại. Chế độ Cộng sản ở Nga và Đức Quốc xã đều bắt đầu như những tầm nhìn phi logic như thế. Thế giới mới tươi đẹp không hề miêu tả những tình tiết máu me, rùng rợn giống như truyện kinh dị hay những tình huống bi thương, bất hạnh như tiểu thuyết tình cảm. Thế nhưng, cảm giác ám ảnh và lo sợ mà nó mang lại thực sự rất mạnh mẽ, vì nó khiến người ta rờn rợn khi nghĩ về thế giới, con người trong truyện. Lăng kính lãng mạn hoàn toàn bị bóp nát trong quyển tiểu thuyết này để chừa chỗ cho trí tưởng tượng về một xã hội đề cao giá trị vật chất rẻ tiền và bỏ mặc đi đời sống tinh thần quý báu. Hạnh phúc đã được lái sang một nghĩa mà nếu ai trải qua cũng có thể gọi đó là hạnh phúc cấp thấp giả tạo nhất.

Hết.

Trần Nguyễn Phước Thông

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!