Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Tuyết – Thứ tro trắng chôn lấp những hi vọng

Sau thành công vang dội của “Tên tôi là Đỏ”, Orhan Pamuk tiếp tục chứng tỏ ông là ứng cử viên sáng giá cho giải Nobel với “Tuyết” – tác phẩm được Margaret Atwood ca tụng là “cuốn sách không thể thiếu của thời đại chúng ta”.

Đăng từ

on

Tiểu thuyết tựa lối đi nhỏ xuyên qua bầu không khí mờ ảo được tuyết che phủ để tìm đến trái tim của những kẻ khắc khổ bị đóng băng từ tận bên trong. Những con người ấy, những người sống trong vòng tay của tuyết, ngày ngày đắm chìm vào cái lạnh buồn bã đẹp vô hạn, liệu họ thấy gì từ tinh thể sáu cạnh huyền ảo tinh khôi, hay chưa kịp chạm đến đã vỡ tan. Tôi cứ tưởng có thể bắt gặp cảnh tượng này ở mọi nơi có tuyết. Nhưng tôi phải chờ đến Kars, thành phố tuyết, khi cái đẹp và sự đổ vỡ cách nhau chỉ trong gang tất mới cảm nhận rõ ràng được. Và lắm lúc, Orhan Pamuk đẩy ranh giới đó về zero, biến mọi chuyện trở nên khó đoán sau bức màn trắng xóa. Tuyết hội tụ đủ các yếu tố làm nên tên tuổi Orhan Pamuk, mặt khác cũng chứa đựng những bí mật của riêng nó.

Tóm tắt tác phẩm:

Tiểu thuyết xoay quanh hành trình kiếm tìm hạnh phúc đích thực đời mình của thi sĩ Ka – một người sống lưu vong sau mười hai năm trở về quê nhà để gặp mặt người bạn học Ipek. Xen lẫn câu chuyện tình yêu là bức tranh chính trị đẫm mùi khói súng ở thành phố biên giới Kars diễn ra giữa các thế lực Hồi giáo cực đoan và nhà nước thế tục với những khát vọng khó hiểu của những kẻ lãnh đạo (Lam và Sunay Zaim). Điểm tô bức tranh rối rắm đó là tin đồn về những cô gái tự sát để phản đối lệnh cấm khăn trùm đầu cùng số phận bi thảm của những thiếu niên Hồi giáo trẻ trung vô tình trở thành nạn nhân hay bất đắc dĩ phải làm nhân chứng cho tấn thảm kịch. Tất cả diễn ra trên nền cơn bão tuyết suốt ba ngày ba đêm biến Kars thành một màu trắng chết chóc.

Giống như Patrick Modiano của những con phố Paris, Mạc Ngôn gắn bó với miền đất Cao Mật hay như Dublin qua ngòi bút James Joyce; Orhan Pamuk là nhà văn sinh ra từ một thành phố – đứa con của Istanbul. Những trang viết của ông thấm đẫm tình yêu và nỗi nhớ với cố đô văn hiến, trong gần như tất cả các tác phẩm của mình: từ tiểu thuyết lịch sử Pháo đài Trắng, hay như Cuốn sách Đen viết tại New York, cho tới dấu ấn nghệ thuật của Tên tôi là Đỏ, cùng câu chuyện tình yêu tại Bảo tàng Ngây thơ và đỉnh cao phải kể tới Istanbul – Hồi ức và thành phố. Ngay từ những trang đầu của Istanbul, Orhan Pamuk đã khẳng định:

Conrad, Nabokov, Naipaul – những nhà văn này được biết đến là do đã thành công trong việc thiên di giữa các ngôn ngữ, quốc tịch, văn hóa, xứ sở, đại lục, và ngay cả nền văn minh. Trí tưởng tượng của họ lấy dưỡng chất từ sự lưu vong, một sự nuôi dưỡng được chiết ra không phải từ gốc rễ, mà từ việc không có gốc rễ. Tuy nhiên, sự tưởng tượng của tôi đòi hỏi tôi phải ở lì trong cùng một thành phố, cùng một con đường, cùng một căn nhà, nhìn mãi vào một cảnh tượng. Số phận của Istanbul là số phận của tôi. Tôi gắn liền với thành phố này bởi vì nó đã làm cho tôi trở thành tôi như bây giờ.

Điều này biến Tuyết trở thành tác phẩm đặc biệt của ông, xét về mặt bối cảnh. Lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất tính tới thời điểm hiện tại, Orhan Pamuk để cho câu chuyện không xảy ra ở Istanbul mà ở Kars. Kars là tên thành phố biên giới phía đông bắc của Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời trong tiếng Thổ, kar lại có nghĩa là tuyết. Kars có thể được coi như là nước Thổ thu nhỏ, với một cộng đồng đa sắc tộc gồm người Thổ, người Kurd, người Azerbaijan và cả người Armenia – đây đã từng là thủ đô của Armenia và cũng chính tại đây họ rơi vào cuộc thảm sát. Cùng một thời điểm, ở Kars luôn tồn tại các thế lực Hồi giáo chính trị mâu thuẫn với nhà nước thế tục lẫn một bộ phận nhỏ người dân theo đạo Cơ đốc. Bằng cách mượn tuyết để xóa đi các dấu vết đặc trưng của Kars, nhà văn biến Kars thành một thực thể sống nơi ông thỏa sức tạo nên các ý niệm của mình. Thành phố bị tuyết chia cắt bây giờ trông cứ như con rùa khổng lồ cõng trên lưng hòn đảo, làm cho hòn đảo tách biệt với đại dương. Nếu đồng nhất Orhan Pamuk với Istanbul, thì Kars sẽ là người bạn đặc biệt của ông, thành phố thổ lộ cho ông nhiều hơn vẻ bề ngoài của nó. Khi trở lại với vẻ bề ngoài, mặc dù nhà văn luôn phủ nhận mình là nhà hoạt động chính trị, nhưng Kars, với các đặc điểm kể trên, rõ ràng là mảnh đất màu mỡ cho những chính khách phô diễn tài năng. Orhan Pamuk không hề giấu diếm toàn cảnh bức tranh chính trị ấy, tuy vậy, lại chẳng dễ dàng để lần ra quan điểm của ông. Xét về nội dung, điểm này cũng đặc biệt không kém. Nhưng liệu chỉ có chính trị?

Không khó tìm thấy câu trả lời. Nó nằm ngay lối vào câu chuyện, những dòng miêu tả một người đàn ông giữa lúc say ngủ:

Ông sống lưu vong đã được mười hai năm bên Đức song chưa bao giờ bận tâm nhiều đến chính trị. Lòng đam mê đích thực, mọi suy nghĩ của ông, là đều dành cho thi ca.

Vài dòng đơn giản nhưng hàm chứa cả cuốn sách. Người đàn ông ấy tên Kerim Alakuşoğlu, vì không ưa cho lắm nên ông tự gọi mình là Ka. Một người đàn ông sống lưu vong song chưa bao giờ bận tâm chính trị, và suy nghĩ của ông hướng về thi ca. Thi ca, chính thi ca mới là điểm đích thực cần quan tâm chứ chẳng phải chính trị hay bất cứ điều gì khác. Như vậy, nhà văn không ngần ngại gợi ý cho chúng ta, những độc giả bị khung cảnh của Kars làm choáng ngợp, rằng chúng ta phải tiếp cận cuốn sách theo hướng văn chương, hãy tìm kiếm chất thơ đằng sau mỗi câu chuyện, chớ để vẻ ngoài chính trị kia đánh lừa mà vô tình ta biến thành người lưu vong ở Kars.

Ka quay về Kars nhằm kiếm tìm hạnh phúc sau những năm dài tha hương và cũng tại đây, nhà thơ bị kéo vào một cuộc đảo chính, bị kẹp vào giữa Hồi giáo chính trị và giới quân sự Thổ. Bi kịch xảy đến buộc một người Âu hóa như ông đối mặt với sự lựa chọn tâm linh. Ông đã phải đấu tranh nội tâm rất lâu giữa việc tin hay không tin vào Thượng đế. Cho đến lúc Ka chết, tôi tin cán cân vẫn chưa ngã hẳn về bên nào. Càng bất hạnh hơn khi không những không có được hạnh phúc, Ka còn chẳng thể quay về được thời điểm bất hạnh trước kia. Cuộc đời ông cứ trượt dài trong nỗi bế tắc. Vào những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi của mình, Ka sống với nỗi âu lo bất hạnh thường trực nhưng tại những giờ khắc đen tối nhất nhà thơ lại cảm thấy hạnh phúc. Cảm xúc hỗn loạn đã đưa Ka vào thế giới đa chiều của tuyết – tinh thể sáu cánh trong suốt có tâm chính giữa với ba trục tưởng tượng xoay tròn nhiều vòng trong không trung trước khi chạm đất – niềm cảm hứng để lần đầu tiên sau bốn năm Ka mới viết được thơ, bài thơ đề tên Kar – Tuyết.

Để làm việc đó, ông vẽ ra một tinh thể tuyết riêng dựa theo hình các bông tuyết trong sách vở, sau đó ông xếp tất cả các bài thơ sáng tác ở Kars lên chỗ của chúng. Hệt như cấu trúc của cuốn thơ mới, tất cả những gì đã biến con người ông thành thi sĩ Ka, được vẽ lên tinh thể tuyết này. Theo quan điểm của ông, mỗi người phải có một bông tuyết như vậy, một dạng bản đồ tâm linh của cuộc đời. Các trục HỒI ỨC, LÝ TRÍ và TUỞNG TUỢNG Ka mô phỏng từ sơ đồ cây tri     thức con người của Bacon. Ông cũng viết rất cụ thể và tường tận về những nỗ lực của mình nhằm giải thích ý nghĩa của các điểm trên nhánh rẽ của hình lục lăng này.

Ảnh: listelist.com

Căn tính của Ka, cái chất làm nên con người ông cô đọng trong Tuyết thông qua những cái tên và những liên tưởng. Có lẽ vì vậy, định mệnh đã an bài cho Tuyết và Ka cùng một kết cục. Ông không thể hoàn thành được nó, dù sau khi trở lại Đức thời gian của ông còn nhiều. Số phận hay là Thượng đế mà ông chẳng thực lòng tin đã vĩnh viễn khép lại mong muốn hóa thân thành bông tuyết của Ka: là Ka chứ không phải là kar hay Kars, không phải là Tuyết. Trước khi kịp chạm đất, bông tuyết của ông bị cơn gió làm vỡ thành nhiều mảnh và ông sẽ mãi khuyết đi một phần của mình. Ông chẳng bao giờ tìm lại được phần linh hồn mất đi đó, bởi nó đã biến mất sau khi tuyết ở Kars tan chảy. Ôm theo sự mất mát ấy, Ka sống trong nỗi cô đơn những năm cuối đời, một cuộc đời dang dở Kars trao cho ông đồng thời lấy mất của ông. Cuối cùng tuyết sẽ lại tan. Rồi Ka chết.

Hà cớ gì Ka phải đi đến lựa chọn sống còn như vậy? Không chọn hay chọn cả hai có được chăng? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần xoáy sâu vào đời sống ở Kars: Hồi giáo chính trị, nước Thổ thế tục, những chiếc khăn trùm đầu và cả về những số phận dở dang khác. Trước tiên là xung đột đức tin, và nói tới đức tin không thể thiếu Hồi giáo, thứ có vị trí đặc biệt quan trọng trong văn chương Orhan Pamuk, xuất hiện với tần suất gần như tuyệt đối. Nhưng phải tới Tuyết, tôn giáo này được đẩy lên cực độ, trở nên sống còn của toàn tiểu thuyết. Orhan Pamuk có một tình yêu đặc biệt với đất nước ông, nhà văn đưa Kars trở về màu sắc đặc trưng của Thổ Nhĩ Kỳ: cái ngã ba của thế giới, từ thành Troy cổ đại cho tới những Consantinople rồi Istanbul và những Erzurum, Kars; nơi suy nghĩ con người luôn chia làm hai như eo Bophorus vĩ đại. Tại đất nước này, người ta hoặc sống trong đức tin mãnh liệt về một Thượng đế chí tôn hoặc quay lưng lại với nó. Khi hai thái cực chẳng thể dung hòa, xung đột xảy ra và máu sẽ đổ. Cuộc đối đầu giữa hai nhân vật Lam và Sunay Zaim, những vụ khủng bố của phe Hồi giáo và những cuộc đảo chính của phe thế tục, là một ví dụ điển hình của nước Thổ. Lam và Sunay Zaim, gọi chung là nhà hoạt động chính trị, sẽ chẳng bao giờ hình dung ra hậu quả to lớn họ tạo ra từ lời nói con con. Rồi lúc bọn họ chết, thì đó là chết cho lý tưởng, cho những điều họ bảo vệ, không lâu sau sẽ trở thành những huyền thoại, tượng đài được tôn vinh kính ngưỡng. Vậy còn những người như Necip, Fazil thì sao? Đây mới là tầng lớp hứng chịu hậu quả nặng nề nhất. Cả hai chỉ là những học sinh tôn giáo trẻ trung đầy nhiệt huyết, đang sống những tháng ngày hồn nhiên nhất của cuộc đời. Ở cái tuổi ấy, Thượng đế mới manh nha tồn tại trong đức tin các cậu bé. Chẳng phải khi xưa chính Muhammad cũng phải tới bốn mươi tuổi mới nhận được thiên khải đó ư. Đoàng một phát, trái tim non nớt của Necip vỡ vụn, tôi cảm nhận được lúc ấy, tận sâu thẳm trong Fazil đã bắt đầu xuất hiện vết nứt. Chàng trai mãi mãi chẳng tìm thấy đức tin được nữa, vầng trăng lưỡi liềm chàng hằng ao ước thẫm một màu máu. Chàng gục ngã ngay trước cổng thiên đàng, thiên đàng màu trắng có bông tuyết nhỏ tan vào giữa con ngươi và Thượng đế của chàng biến mất khi còn chưa thành hình. Hỡi tuyết kia, ai cho ngươi rơi trên những ước vọng?

Với sự thật đau buồn này, tôi tin rằng Orhan Pamuk đang muốn cho cả thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây thấy rằng: Hồi giáo không phải tà giáo, và vẫn còn đó rất nhiều cậu trai như Necip, những người không bao giờ bị bạo lực vấy bẩn.

Nếu có một điểm tương đồng được tất cả những người ngồi đầu và giữa phòng     thống nhất, thì Necip nhận ra có đạn thật sau loạt súng thứ ba, song cậu lại hiểu sự kiện đó theo một hướng riêng.

Hai giây trước khi trúng đạn, cậu đứng dậy và nói đủ to để nhiều người nghe thấy (tuy không được thu vào băng video):“Dừng lại, đừng bắn! Súng có đạn thật đấy!”

Những gì mọi người trong phòng đến lúc này đã cảm thấy bằng trái tim nhưng lý trí vẫn cố cưỡng lại, thế là đã được nói ra.

Phía bên kia thành phố là Kadife và cuộc chiến giữa những chiếc khăn trùm đầu. Khác với những bạn bè đồng trang lứa của mình, Kadife không chọn cách tự tử để phản đối. Cô ví việc mình tháo khăn trùm đầu như là biểu tượng đấu tranh. Những người phụ nữ, đặc biệt những cô bé như Kadife chẳng còn có thể sống đời bình thường được nữa. Họ sống trong sự dở dang do cái bóng quá lớn của chiếc khăn tạo ra. Họ trở thành quả bóng mà dù Hồi giáo chính trị hay Nhà nước thế tục đều muốn đá về cầu môn đối phương. Chẳng ai đứng ra nhận lấy trách nhiệm về những thiếu nữ tự tử cả, chỉ toàn đổ lỗi lẫn nhau. Kadife, có lẽ cô cũng không nhận ra mình cũng chỉ là quả bóng. Cứ cho rằng cô là quả bóng gai góc đi nữa, thì điều cô làm được bất quá làm xước chân các nhà hoạt động chính trị. Cuối cùng rồi cô sẽ bị đá đi. Nếu may mắn, cô giữ được cuộc sống. Còn không, quả bóng xì hơi và xẹp xuống. Nó muôn đời nằm đó trên sân, đừng mơ có ai nhặt lấy, suy cho cùng ai lại muốn quả bóng xẹp chứ. Cho tới khi một đợt tuyết mới rơi xuống, lấp đi cái hố quả bóng tạo ra, và làm mọi thứ đều trông trăng trắng giống nhau. Dưới lớp tuyết dày, tôi tưởng chừng không thể bắt kịp những phụ nữ ấy, tuyết làm cho họ bí ẩn hơn và đẹp hơn, nhưng điều đó chỉ làm cho đàn ông say đắm họ hơn. Ka đã yêu họ, tôi cũng yêu họ.

“Ông xem xét cuộc đời quá đỗi đơn giản,” Kadife bác lại. “Thay cho tự sát vì tình, người ta chỉ cần đợi ít lâu là tình yêu sẽ không còn giằng xé. Nghèo đói cũng không phải nguyên nhân thực thụ. Những người không chịu nổi đòn roi có thể lấy trộm ít tiền của chồng rồi bỏ trốn, như thế giản dị hơn nhiều.”

“Thôi được vậy lý do thực sự là gì?”

“Tất nhiên lý do thực sự của mọi cuộc tự sát là lòng kiêu hãnh. Ít nhất thì với    đàn bà.”

“Vì lòng kiêu hãnh của họ bị tổn thương trong tình yêu?”

“Ông không hiểu gì hết!” Kadife đáp. “Phụ nữ không tự sát vì lòng kiêu hãnh của họ bị tổn thương, mà để chứng tỏ họ kiêu hãnh chừng nào.”

Như một nguyên lý nhị nguyên tất yếu, tình yêu ở Kars ra đời từ sự chia rẽ và cùng lúc sự chia rẽ làm tình yêu càng thêm mãnh liệt. Với những người phụ nữ và những người đàn ông đặc biệt như thế, dễ dàng nhận ra tình yêu giữa sẽ không đi theo logic thông thường. Đó không phải là thứ tình cảm theo kiểu phương Tây mà cũng chẳng phải ngôn tình phương Đông, nó mang màu sắc nước Thổ rõ rệt. Tại Kars, tính cách Thổ phát lộ hơn bao giờ hết trong mối tình của Ka, Ipek, Lam và Kadife.


Nếu buộc phải mô tả tình yêu ở Kars, tôi không có cách nào tốt hơn mượn bông tuyết của Ka. Trong bông tuyết của tôi, cũng có ba trục toạ độ: Lý trí, Tưởng tượng và Hồi ức; những tình cảm, những câu chuyện trên ba trục sẽ ảnh hưởng lẫn nhau tuỳ theo mức độ liên quan xa gần. Tình yêu, sẽ là tâm của bông tuyết. Nó giữ cho tinh thể trong suốt ấy xoay vòng trong không trung đủ để các trục giao thoa với nhau nhưng không đủ để xoá bỏ các trục. Sau đó nó sẽ hoặc tan chảy hoặc hoà vào tầng tầng lớp lớp các bông tuyết ngày đêm phủ lấy Kars. Kết quả tạo ra thật mỹ mãn, bức tranh tình yêu trở nên trắng và lạnh, đẹp và mờ ảo hơn bao giờ hết. Cuối cùng, khi tuyết ngừng rơi, tình yêu không biến mất mà chuyển vào những dạng hình khác bí ẩn không kém trong vòng tuần hoàn của tuyết. Rất khó duy trì một cân bằng xúc cảm tinh tế đến như vậy suốt cuốn tiểu thuyết, và Orhan Pamuk lần nữa chứng minh tài năng của ông.

Ka luôn luôn trải nghiệm một khoảnh khắc hạnh phúc trong kinh sợ, cốt để sự bất hạnh nối tiếp không quá lớn. Do vậy mà lúc này trong khi ôm Ipek – vì tình yêu thì ít mà vì nỗi sợ sinh ra từ đó thì nhiều – ông tin rằng cô sẽ khước từ ông, rằng sự gần gũi đang nảy nở sẽ đột ngột tan vỡ, và niềm hạnh phúc không xứng đáng của ông sẽ biến thành sự khước từ và tủi hổ xứng đáng, song cũng nhờ thế mà ông sẽ tìm được thanh thản cho mình.

Chỉ một mảnh ghép nữa là bức tranh hoàn chỉnh: Orhan – người kể chuyện. Cũng giống nhiều tiểu thuyết khác của mình, Orhan Pamuk lại xuất hiện trong Tuyết khi cơn bão đã tan, khi mọi việc đi đến hồi kết. Nhưng như vậy không có nghĩa là vai trò của ông không quan trọng. Nhà văn duy trì bản thể của mình ở lằn ranh giữa cái bên trong và bên ngoài, giữa thế giới tiểu thuyết và thế giới thực. Việc dung hòa hai thái cực dẫn tôi tới câu hỏi lớn về sự tồn tại: liệu một nhà văn sẽ làm đến mức nào để giữ hay loại bỏ sự hiện diện của mình đối với độc giả? Nếu ở Tên tôi là Đỏ, tiếng nói của cậu bé Orhan yếu ớt chỉ có thể cảm thán mà không thế thay đổi câu chuyện thì tại Tuyết, bóng dáng người kể chuyện Orhan Pamuk dường như có mặt trong cả tiểu thuyết mặc dù thứ ông tạo ra được chỉ là những dòng tự sự từ ký ức của thi sĩ Ka bạn ông. Điều này tạo cho tôi một nghi ngờ liệu rằng đó có phải là Ka hay là Op (rút gọn theo cách của Ka) hay phải chăng Ka chính là Op. Tuy vậy, tôi không cố đào sâu tìm hiểu chân tướng vì đó có thể là cạm bẫy hay lối cụt mà một khi dấn bước, tôi sẽ tìm thấy con người khác không chỉ của Ka hay Op mà còn của tôi. Tôi càng nghi ngờ hơn và càng không dám nghi ngờ. Tôi chấp nhận rằng cũng như tôi, Op đã bỏ một phần của ông ấy lại ở Kars.

Ảnh: IMDb.com

Để kết thúc, tôi xin mượn lời Fazil nói với Orhan ở cuối tác phẩm:

“Nếu ông để tôi xuất hiện trong một cuốn tiểu thuyết nói về Kars thì tôi muốn nói với độc giả rằng họ không nên tin những gì ông viết về tôi, về tất cả chúng tôi. Không ai hiểu được chúng tôi khi xa cách như thế.”

Vì vậy bạn cũng đừng tin tôi mà hãy dấn thân vào Tuyết để tìm niềm tin của riêng mình.

Hết.

3V

Xem tất cả những bài viết của 3V tại đây.


2 bình luận

2 Bình luận

  1. Thiện Quang

    Tháng Sáu 8, 2019 at 5:14 sáng

    Hay quá bạn ơi!
    1 like cho bạn hihi

  2. Pingback: Tôi đi tìm hiểu tác phẩm “Tuyết” của Orhan Pamuk – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Bàn về những nhân vật phụ trong “Bắt trẻ đồng xanh”: Thầy Antolini và cô bé Phoebe

Có câu trả lời nào cho giấc mơ mà “Bắt trẻ đồng xanh” vẽ nên không? Có câu trả lời nào cho sự hoang mang của cái tuổi Holden hay một ai đó sẽ trưởng thành?
Có, đó là lý do tôi nhắc đến thầy Antolini và cô bé Phoebe.

Đăng từ

on

Người đăng

Tôi luôn nói mình không ấn tượng nhiều về Holden; so với Holden, tôi đặc biệt cảm giác phấn khích hơn với ông thầy Antolini và em gái cậu, Phoebe.

Holden luôn rất tự phụ, tự phụ đến mức gần như cô độc. Cậu không bao giờ tâm sự chuyện đời tư của mình quá nhiều, nhưng có hai người khiến cậu thật sự “ưa nói”: người đầu tiên đương nhiên là Phoebe, còn lại là ông giáo Antolini này. Đơn giản, ở Antolini hay Phoebe đều hiện diện một thứ Holden luôn tìm kiếm, chính là câu trả lời về sự tử tế.

Antolini là ai?

“Ổng là người độc nhất cuối cùng đã bế xốc cái thằng nhảy ra ngoài cửa sổ, thằng Castle…”

Đây là một ông thầy tôi cho là rất uyên bác, có học vị và khá khiêm cung. Antolini hoàn toàn khác biệt những ông thầy tôi bắt gặp trong câu chuyện của Holden, như Vinson, Spencer,… Không phải ở chỗ tôi thấy ai bộ tịch hơn ai, mà Antolini trước hết là một ông thầy không có cái nhìn định kiến với học trò. Thầy ấy không công khai phủ đầu Holden khi cậu liên tiếp thi rớt và bị đuổi học. Thay vì chỉ trích và phán xét Holden, Antolini rất bình tĩnh, cởi mở nói chuyện với cậu. Chính cách cư xử hòa nhã đó, nó giúp ta vỡ lẽ ra rất nhiều những khía cạnh đằng sau Holden – nếu cái chúng ta nhìn thấy là một Holden luôn có cảm giác cậu sẽ biến mất:

“Tôi cứ đi tuốt Đại lộ Năm… Cứ mỗi lần đi đến cuối ngã tư và bước xuống khỏi lề, tôi lại có cảm giác rằng tôi sẽ không bao giờ đi qua bên kia đường cả. Tôi nghĩ tôi sẽ chỉ đi xuống, đi xuống mãi.”

Thì Antolini sẽ phỏng đoán nó: “Tôi nghĩ rằng cái dốc mà chú đang lăn xuống là một thứ dốc khủng khiếp. Không bao giờ người xuống dốc được nghe hay cảm thấy mình chạm phải đáy hố. Họ cứ việc lăn xuống, lăn xuống.”

Nếu cái chúng ta nhìn thấy là Holden liên tục bị đuổi khỏi các ngôi trường, liên tục gặp gỡ những người cậu quen biết, liên tục quan sát xung quanh mình,… thì Antolini, thầy ấy tiếp tục lý giải: “Cái dốc ấy dành cho những người, vào một lúc nào đó trong đời, đi tìm một cái gì mà hoàn cảnh và những người xung quanh không thể đem lại cho họ, hay họ nghĩ là không thể đem lại cho họ.”

Ở đây, cái hay của Antolini là thầy không giống chúng ta, ông không theo chân Holden sát từng bước, cũng không đọc được toàn bộ suy nghĩ ở trong đầu Holden; ông đơn giản chỉ hỏi cậu nhóc một số những câu hỏi, thế nhưng tất cả những điều chính Holden hay chúng ta không đoán được, ta nhận ra Antolini biết cách kết luận nó.

Antolini đặc biệt còn làm được một điều tôi nghĩ là thật sự không hiện diện nhiều lắm ở những ông thầy – đó là sự chịu khó lắng nghe học sinh. Thậm chí sẽ không khoa trương mấy khi tôi tin rằng, không, không chỉ có mỗi Holden tìm thấy điều gì đó ở cái ông thầy ấy, mà chính Antolini, ngược lại cũng khám phá ra ở Holden khá nhiều điều. Hay nói một cách khác, sánh cạnh Antolini, Holden không đóng vai một đứa trẻ bị động, và Antolini cũng không ở vị thế của một người chủ động hoàn toàn.

*

Tại sao Antolini là một trong số hai nhân vật tôi luôn coi trọng?

Không biết các bạn có giống tôi hay không, có hai thời điểm tôi đọc cuốn sách này và bất chợt muốn khóc. Lần đầu tiên là khi tôi hiểu nỗi sợ của Holden thật sự mang ý nghĩa thế nào. Lúc đấy khóc đơn giản vì tôi biết, dù rõ ràng rất muốn nói một điều gì đó để cổ vũ cậu ta, song tôi đã không làm được. Điều duy nhất tôi nghĩ đến chỉ là, Holden nói đúng, trưởng thành là một quá trình mà ta không cách gì còn có thể nguyên vẹn như trước nữa! Đâu đó ngọn lửa bên trong tôi nguội dần, nguội dần…

Lần thứ hai, đó là khi tôi nghe thầy Antolini phân tách: “Cũng như một ngày kia, nếu chú có cái gì để dâng hiến, thì một người nào đó sẽ học được một điều gì nơi chú.” Antolini làm tôi hơi vỡ òa, vỡ òa bởi tôi tin Bắt trẻ đồng xanh hoàn toàn không điên rồ, và tương lai của Holden cũng không hoàn toàn là một cái gì đó mờ mịt. Phải, chính Antolini ở chỗ này đã thay chúng ta viết tiếp cái giấc mơ Holden sẽ đứng bên vách núi, bắt từng đứa trẻ sẽ rơi xuống đáy vực. Bằng cách thầy ấy đã gợi ý cho Holden rất tỉ mỉ rằng – chỉ cần Holden tiếp tục tin tưởng vào trường học, Holden không những có thể tìm thấy thứ hiểu biết sưởi ấm được trái tim của cậu, mà cậu còn có thể tận dụng sự hiểu biết của mình để giúp đỡ ngược lại những người khác.

Trưởng thành là một quá trình mà ta không cách gì còn có thể nguyên vẹn như trước nữa!

Đâu đó ngọn lửa bên trong tôi nguội dần, nguội dần…

Dĩ nhiên hiện diện ở đây một vấn đề, liệu Holden có thật sự tiếp thu những điều Antolini đang cố gắng hướng dẫn? Tôi nghĩ, có lẽ, tồn tại một khả năng rất cao là có. Ta nhận ra Holden hội tụ vừa đủ các điều kiện, ngoài có thừa thông minh lẫn sự nhạy cảm – giống Antolini đã nói – cậu còn là một đứa trẻ rất “say mê hiểu biết”. Mặc dù ngoài miệng Holden luôn tỏ ra như không hoàn toàn lắng nghe thật kỹ càng bất cứ điều gì. Thế nhưng ta vẫn biết Holden có để tâm. Bởi vì cậu là một người rất chú trọng tiểu tiết, tiểu tiết xuất hiện khắp nơi trong câu chuyện cậu kể chúng ta nghe. Ngược lại, nhìn nhận Antolini, chúng ta phát hiện ra Antolini đại diện cho khá nhiều chuẩn phong cách:

1. Khi thầy ấy nói với Holden: “Chú không phải người đầu tiên đã từng hoang mang, giật mình hay kinh hãi cả đến nôn mửa vì cách xử sự của người ta.” Antolini không nói về chính thầy, tuy nhiên ta chắc chắn, ta có thể xem Antolini như một nguyên mẫu gốc trong số nhiều, rất nhiều người đã từng dao động.

2. Chúng ta say mê lắng nghe Antolini là vì chúng ta hiểu tầm hiểu biết của Antolini thật sự rất rộng. Khi Antolini công nhận và tin tưởng Holden sẽ vượt xa khỏi các ông Vinson hay các thứ diễn thuyết, ta biết Antolini có cơ sở để tin vào điều ấy. Có thể, ta đã luôn bất ngờ về một thằng nhóc tên Holden, nhưng ta càng bất ngờ hơn về một ông thầy (vừa khiêm cung, vừa thông minh, vừa sáng tạo) có thể giải mã và đưa ra được lời khuyên tốt nhất cho cái thằng nhóc đấy. Nếu Holden cảm thấy đổ vỡ vì những góc tối hiện diện nơi hệ thống giáo dục, thì Antolini là một người có thể đại diện cho cái góc sáng trong chính hệ thống giáo dục đó. Ông ta chân thực là một trong số “một vài người đã ghi lại những khó khăn”, cũng là người mà Holden có thể học hỏi. Đó là lý do Antolini thuyết phục được Holden.

Tuy nhiên, Antolini không hoàn toàn là người thay đổi Holden ngay lập tức (không hẳn vì đêm đó, ông thầy đã vuốt đầu Holden. Chính Holden cũng không chắc hành động này mang ý nghĩa gì, chúng ta càng không thể đoán chắc). Chỉ là, có lẽ ở chỗ của Antolini, cái Holden tìm được gần như chỉ là một lời gợi mở mà thôi. Một sự gợi mở sâu sắc tới nỗi nó khiến chúng ta tin, những lời Antolini chia sẻ sẽ theo chân cậu, theo sát chân chúng ta suốt đời.

Vậy thì ai mới là người chân thực nhất khiến Holden lay động?

Đáp án không ai khác ngoài Phoebe!

Tuy khoảnh khắc Phoebe xuất hiện ở những chương cuối chứ không phải trong hồi ức của Holden, tôi luôn cho rằng Phoebe đóng một vai trò rất lớn trong cuộc đời thằng nhóc. Phoebe không giản đơn là một đứa em được Holden vô cùng yêu quý và nuông chiều, mà còn hiện diện sống động như một bản sao nhí của chính Holden nữa. Phoebe khá đa cảm (Em đa cảm lắm. Ý tôi là em rất đa cảm đối với một đứa bé. Đôi khi em quá đa cảm). Cô bé cũng dễ nhạy cảm luôn luôn với những thứ rất bình thường:

“Bữa ăn tối của con ra sao?”

“Mắc dịch”, Phoebe nói.

“Con đã nghe ba con mắng về chuyện xài chữ ấy rồi. Cái gì mắc dịch? Con có thịt sườn. Má đã đi tuốt xuống đường Lexington để…”

“Thịt sườn không sao cả, nhưng Charlene luôn luôn thở vào đầu con mỗi khi chị ấy để cái gì xuống. Chị ấy thở vào hết tất cả món đồ ăn và các thứ. Chị ấy thở vào mọi thứ.”

Không những chỉ nhạy cảm, thỉnh thoảng em cũng xài vài ngôn từ dịch hạch giống Holden. Em thông minh, nhạy bén với các bộ môn nghệ thuật không khác anh trai mình. Dĩ đương nhiên, cả cái cách em xách va li bỏ nhà theo Holden, em quyết định nghỉ học cũng thế. Bởi vì Phoebe là phiên bản nhí của Holden, cho nên trong cuộc truyện trò của hai đứa trẻ ấy, ta nhận ra Phoebe làm khơi dậy được bên trong Holden khá nhiều những góc cạnh.

Đầu tiên, quan sát suốt quá trình hai anh em bên cạnh nhau, ta để ý dường như chân thực nổi bật lên ở đây hình ảnh của một Holden rất trái ngược với cái dáng vẻ đầy bất cần ta vẫn thường hay thấy. Holden ấm áp hơn, cậu biết cách kiểm soát ngôn ngữ lẫn hành vi của mình, cân nhắc đâu nhẹ và đâu nặng. Những điều này thể hiện thông qua thái độ cậu uốn nắn Phoebe – “Đấy không phải là một lý do để đổ mực vào” – lúc Phoebe lý giải nguyên nhân tại sao em vấy mực lên áo đứa bạn. Thể hiện thông qua sự giận dữ của cậu – “Nào, đi. Anh sẽ dẫn em trở lại trường học” – ngay khoảnh khắc Phoebe nói với cậu em quyết định bỏ học để cùng đi theo cậu dù phải tới bất kỳ đâu. Thông qua cái cách cậu đấu tranh với em, rồi hứa sẽ quay trở về nhà.

Sự đối nghịch ấy nói lên điều gì? Chính Phoebe, em làm lớn dậy được năng lực dám chịu trách nhiệm (cũng đồng thời là bản năng) của một người anh trai bên trong Holden. Một đứa trẻ, có thể không biết bỏ học đối với bản thân sẽ tai hại ra sao, tuy nhiên chắc chắn nó biết bỏ học đối với em gái mình thì sẽ gây ra hệ lụy lớn thế nào. Thế cho nên thay vì tiếp tục trốn tránh phải đến trường, ta thấy nó chọn không để hình ảnh của bản thân trở thành một tấm gương xấu cho em gái. Chính quyết định cực kỳ quan trọng ấy cứu nó, cứu em gái nó. Người ta thường nổi loạn hoặc tỏ ra bất cần với cuộc sống mình, duy sự nổi loạn ấy sẽ dừng lại vào cái ngày mà họ hiểu, cuộc đời họ là một chuỗi những sợi dây liên kết với những người họ đặc biệt yêu quý, và họ có trách nhiệm với không chỉ mỗi bản thân mình, mà còn với những mắt xích đó (chẳng hạn như cha/ mẹ họ, em gái họ, con cái họ…).

Thứ hai, Holden là một thằng nhóc ưa mâu thuẫn nhất bạn từng gặp, bạn nghe nó nói về tất cả những chuyện trên trời dưới biển, bạn tưởng Holden biết rất rõ bản thân mình, thế nhưng không, cậu ấy không biết gì hết cả. Thực ra, nói đúng hơn thì không phải Holden không hiểu mình muốn gì, ngược lại, cậu hình dung khá rõ thứ cậu luôn khao khát vươn tới. Tuy nhiên thay vì đối diện với bản thân, đi tìm câu trả lời xem liệu mình có phải một trong số những thằng bộ tịch không, Holden chọn bỏ cuộc ngay cả trước khi cậu thực sự bắt đầu, cậu “muốn chết một cách cao thượng vì một sự nghiệp”… Rồi cậu bắt gặp chính cậu trong hình ảnh của Phoebe. Cậu muốn thôi học, và Phoebe cũng thế. Phoebe khiến cậu phải ít nhiều tự soi lại bản thân.

Người ta thường nổi loạn hoặc tỏ ra bất cần với cuộc sống mình, duy sự nổi loạn ấy sẽ dừng lại vào cái ngày mà họ hiểu, cuộc đời họ là một chuỗi những sợi dây liên kết với những người họ đặc biệt yêu quý.

Khi Holden nói, “Anh sẽ về nhà. Anh sẽ về nhà ngay khi em đi học” – có bao nhiêu phần trăm thằng nhóc thốt lên lời hứa ấy vì Phoebe, có bao nhiêu phần trăm Holden vì chính mình? Tôi không biết, nhưng tôi dám cá, vào lúc Holden khăng khăng hứa, cậu ta đã lần đầu tiên dám trực diện nhìn thẳng vào bản thân!

*

Quay trở lại, nếu chúng ta vẫn còn nhớ đến câu của thầy Antolini:

“Một khi đã vượt qua được tất cả những ông Vinson, chú sẽ bắt đầu tới ngày càng gần hơn – ấy là nếu chú muốn, và nếu chú tìm kiếm nó và trông chờ nó – thứ hiểu biết làm trái tim chú rất, rất âu yếm.”

Ta sẽ nhận ra cái Holden đi tìm không hẳn hoàn toàn thuộc về nơi giáo dục, cái thầy Antolini tư vấn cho Holden cũng vượt xa giáo dục, và cuối cùng – có những sự hiểu biết cũng thế!

Trong câu chuyện về Holden, ý nghĩa thật sự của trưởng thành vốn không nằm ở chỗ bản chất con người sẽ thay đổi, nó nằm ở việc quá trình trưởng thành luôn được đánh dấu bằng khoảnh khắc ta bằng lòng gánh vác trách nhiệm trên vai mình. Chúng ta hình dung đến hai chữ trách nhiệm, cảm tưởng nó nặng hơn hàng vạn tấn sắt, đá trong đời. Kỳ thực nặng nhẹ không phụ thuộc vào trọng lượng của những tranh đấu, va vấp, đổ vỡ ta bắt gặp sau này. Bởi vì nếu chúng ta đem đặt những đắng cay, va vấp ấy lên một đầu bàn cân, còn đầu bên kia là cảm tình chúng ta tha thiết dành gửi đến ai đó, ta biết ta có thể vượt qua được cả bản thân mình. Kim chỉ lệch về phía mà ta thật sự trân trọng.

Đó là lý do cuốn tiểu thuyết khép lại, ta thấy Holden hơi nghẹn ngào:

“Có thể nói là cái mũ săn đã chở che tôi rất nhiều… Tôi suýt khóc lớn lên nữa, vì tôi cảm thấy sung sướng… Tôi cũng không hiểu tại sao. Chỉ vì em thật dễ thương như thế kia…”

Bằng một cách nào đó, Antolini đã luôn ủi an và chỉ dẫn cả Holden lẫn chúng ta. Thầy làm chúng ta thốt nhiên muốn mỉm cười. Mười bảy tuổi – ta biết Holden không chỉ lớn, cậu bắt đầu trở nên hiểu biết hơn.

Có lẽ, Phoebe chính là đứa trẻ đầu tiên được Holden cứu, cũng đồng thời ngược lại, chính nhờ Phoebe mà Holden không sa mình xuống vực. Nếu nói Antolini là người có thể vẽ ra cái viễn cảnh hiện diện một Holden ở tương lai vừa thành tựu, lại vừa tử tế; thì Phoebe, em là người khơi dậy được chân thực hình ảnh một Holden tử tế ở khoảng cách rất gần mình, ngay phút giây mà ai cũng hiểu – hoàn toàn hiện tại.

Quá trình trưởng thành luôn được đánh dấu bằng khoảnh khắc, ta bằng lòng gánh vác trách nhiệm trên vai mình.

Hết.

Người Giao Bánh

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

thế giới đã thay đổi. hoặc phụ nữ bao giờ cũng thế mà ta không biết

“Nếu cần thì gọi hai người đàn ông làm chứng, nếu không có đủ đàn ông thì một đàn ông và hai đàn bà”
(Con Bò, câu 282 – kinh Qur’an)

Đăng từ

on

Người đăng

#Metoo, Time’s Up hay #OscarsSoWhite đã bắt đầu gặt hái những thành công nhất định kể từ khi dậy sóng 1-2 năm trước sau cơn rúng động bê bối của Harvey Weistein. Lần đầu tiên sau bấy nhiêu năm, những giá trị phụ nữ được đưa lên, xem xét và nhìn nhận một cách đúng đắn và đầy đủ. Và không gì khác, chính những giải thưởng như Oscar hay BAFTA vừa qua đã cho thấy những nỗ lực cố gắng (dẫu cho vẫn còn khiêm tốn) của những gì mà vụ mùa ấy đáng thu được. Từ lời phát biểu công tâm của Joker Joaquin Phoenix với sự phân biệt đối xử người da màu cho đến câu đùa thâm sâu của Issa Rae “Xin chúc mừng những người đàn ông ấy”, ta vẫn thấy đâu đó giá trị người da màu và phụ nữ vẫn còn bỏ lửng. Nhưng dẫu sao, từ đó nhìn vào sự cố gắng, những bộ phim kỳ công như Judy, Marriage Story, Little Women hay Bombshell đã phần nào cho thấy phụ nữ ngày nay không còn giậm chân tại chỗ. Họ có thể ra tranh cử tổng thống như Hillary Clinton, trở nên giàu có như Rihanna, quyền lực như Beyoncé hay cất lên tiếng nói đầy tính cá nhân như Lady Gaga,… và còn nhiều điều họ có thể làm hơn thế nữa.

Nhưng ở một khía cạnh khác, phần lớn những yếu tố nữ quyền ta thấy trong dòng chảy xa hoa của Hollywood hay lớp hào nhoáng của nền giải trí thường là khía cạnh mở. Có nghĩa ở đó, phụ nữ đấu tranh cho vị trí của mình, quyền lợi của mình, cho những thứ mà mình có thể làm tốt tương đương một người đàn ông nhưng lại không được công nhận đủ. Ở đó họ vẫn có quyền sống, vẫn có thể được công nhận; nhưng nếu giảm xuống một nấc, khi họ không sống một cách tự do, không những bị đàn ông hạ bệ mà còn bị hủ tục chen lấn? Và đó là khi tiếng nói phụ nữ đã không còn mở. Đó là đợt tấn công toàn thể. Một cách hoài nghi, văn chương Hồi giáo chính là mặt bị giản thể ấy. Cho đến nay, văn chương của địa hạt này vẫn còn ít được quan tâm, có chăng dậy sóng đôi chút khi Salman Rushdie lãnh án tử hình vắng mặt từ các thủ lĩnh tôn giáo cực đoan. Thế nhưng, cũng như vẻ đẹp và sự huyền bí Đông phương, văn chương Hồi giáo lạ lùng nhưng cá tính, đồng thời là tiếng nói mạnh mẽ dấn sâu vào đời sống phụ nữ như nhát dao xé toang hủ tục, phơi bày ra thế giới hiện thực những gì ta vẫn chưa biết, thâm sâu nhưng cũng không kém phần hài hước.

Bài viết này đề cập đến năm cuốn sách, cả những cuốn hư cấu và tự thuật. Trong đó gồm hai cuốn văn chương hiện thực châm biếm của nhà văn người Liban Rachid El-Daif mà Thuận dịch trong những năm vừa qua – Cho xem đùi nào LeilaCon miu cái của nàng Sikirida. Thêm vào đó, phiên bản “Crazy Rich Asians” của thế giới Hồi giáo đến bằng cây viết Rajaa Alsanea mang tên Những tiểu thư Hồi giáo. Hai cuốn tự truyện đau xót làm dậy sóng dư luận những năm về trước, một của Nojoud – cô bé Ly hôn tuổi lên 10; và một của Latifa – cái tên giả mà vì những vạch trần hiện thực cô sẽ phải mang suốt đời còn lại, được tái hiện trong Khuôn mặt bị đánh cắp.

Ở đó, một mặt hiện lên vẻ đẹp của các quốc gia Hồi giáo từ phong cảnh, con người cho đến cảnh ngộ bị băm nát, nổ tung của những xung đột lên cao. Trong chính những cảnh huống ấy, hình tượng người phụ nữ – vai vế vốn luôn bị xem thường trong xã hội này – hiện lên một cách nổi bật. Họ có thể dũng cảm trong nét giễu nhại của Rachid El-Daif, có thể hiện đại theo chuẩn trong tiểu thuyết của Rajaa; nhưng ở mặt khác, họ cũng bị tự do ruồng bỏ, hà khắc xem thường như trong trường hợp Nojoud hay Latifa. Ở đó, vấn đề phụ nữ không là duy nhất; các nhà văn kể trên khéo léo lồng ghép những hệ tư tưởng giao thoa giữa các phông nền văn hóa – truyền thống dưới góc nhìn của thời đại mới. Ta có thể thấy những đối lập về giới, là sự xung khắc những giá trị mới cũ, hay tính nữ vượt lên dẫu cho những nhầy nhụa khinh thường. Dẫu cho không nhiều, năm cuốn sách trên ít nhiều mở ra cánh cửa lạ lẫm của địa hạt văn chương này – nơi còn nhiều bỏ ngõ, nhưng vàng vẫn luôn tồn tại ẩn sâu.

Tái hiện xã hội

Dù là tiểu thuyết hay tự thuật đi chăng nữa, đời sống xã hội Hồi giáo đương thời không ít thì nhiều đã được tái hiện trọn vẹn trong những cuốn sách này. Từ Liban – quốc gia tự do nhất khu vực Ả Rập cho đến Yemen đói nghèo hay Afganistan nội chiến, từ Ả Rập Saudi hào nhoáng cho đến Palestine xách động; tất cả được đem vào đây âm ỉ cháy. Bỏ lại sau lưng hiện thực tàn khốc của cuộc xung đột tôn giáo biến thành nội chiến, của những phiến loạn – chiến tranh; ở đôi nhịp thời khắc ta vẫn thấy dôi dư ra cảnh tượng tươi đẹp của đời sống con người. Đó có thể là những đường dây điện thoại nặng trĩu của Afganistan mà vì những hủ tục bóp nghẹn, chúng phải tải sức nặng của tất cả những lời than thở, những tiếng thở dài, những lời than vãn và những nụ hôn không thể thực hiện trong thế giới thực. Hay đó cũng có thể là đời sống hiện đại của những trung tâm thương mại, của những cô gái hút shisha, uống rượu, mặc thời trang thế hệ mới và lái BMW. Muôn mặt được đưa ra cho những phông nền, nhưng dẫu cho những tươi đẹp ấy, hiện thực sau rốt bỗng chốc khiến chúng chỉ như tia nắng lướt qua bầu trời âm u.

Ẩn đằng sau cái vẻ đẹp thức thời ấy, là chiến tranh, là nội chiến, là xung đột tôn giáo, là diệt chủng con người. Chúng lấy đi không chỉ vẻ đẹp cảnh quan, mà ở một mặt nào đó, là cả những chân kiềng của giá trị con người – tự do, niềm vui sống và được thể hiện mình. Ở đó, phụ nữ có thể bị quất bằng roi bọc chì khi họ mang giày trắng – màu lá cờ Taliban. Họ cũng có thể một đi không trở về một tối nào đó, bởi những xung đột tôn giáo giữa Cơ Đốc giáo, Hồi giáo; hay cả trong nội bộ dòng chảy Hồi giáo, giữa dòng Shite, Sunnite hay Druze. Ở đó, giết người là chuyện thường tình, không ai bận tâm lấy lại công bằng cho người thân mình; vì cũng như không khí, cái chết với họ nhan nhản ở khắp mọi nơi. Không khí là cái chết, mà không khí cũng là nhân quyền, hư vô, mênh mông và không lối thoát. Ở đó, như Rachid viết: “Nói cho cùng thì những cái chết vô tội vạ đã trở thành chuyện thường ngày ở Liban. Người ta có thể giết ai đó chỉ vì kẻ này đã từ chối không nhường đường khi lái xe, hay nhường chỗ khi xếp hàng mua bánh. Người ta giết nhau trong dửng dưng. Ở Liban, thời gian đó, giết người thậm chí không còn bị qui định là một tội ác. Tội ác chỉ là khi giết người có chủ ý”.

Artwork background: Võ Khánh Trang

Giá trị con người ở thời khắc ấy trở nên rẻ rúng trước những cai trị hà khắc của tôn giáo cực đoan. Là sự cầm tù tự do của Taliban, là cái chết ép uổng của những cô bé lên 9 lên 10 không thể cất lên tiếng nói để rồi bị lạm dụng thân thể chỉ vì hai chữ “tự do”, “danh dự” của người đàn ông trong gia đình mình. Ở đó, những đứa bé vẫn chưa kịp lớn đã bị đưa đi như món hàng cứu viện xách động từ Iraq – chúng thanh toán lẫn nhau do những nguyên do còn bẩn thỉu hơn, như trộm ô tô, tranh cửa hiệu để tống tiền, buôn bán ma túy, dẫn gái, giành chỗ đậu xe, v.v. Xã hội Hồi giáo trong những cuốn sách này không được nhắc đến một cách tự thân, chúng chìm ẩn trong những cấu trúc ngữ nghĩa và ngôn từ tràn lan; thế nhưng đó là cảnh tượng không thể làm ngơ. Chúng hiển hiện, nổi bật chỉ như một dụng ý ngầm, nhưng đó còn là tiếng gào thét vào thế giới tự do, văn minh; của một xã hội không còn đói nghèo, bất công và cả chiến trận. Thế nhưng xã hội Hồi giáo không chỉ có thế, dường như chỉ là bước đầu.

Những luồng tư tưởng

Không khó để nhận ra những xung đột mới – cũ, Đông – Tây giữa các nhân vật trong cuốn sách này. Nếu bốn cô gái của Rajaa trong Những tiểu thư hồi giáo đại diện cho cách sống mới – kiểu “live fast, die young, be wild, have fun”; thì những nhân vật trường thọ như má Adiba trong Con miu cái của nàng Sikirida hay Z trong Cho xem đùi nào Leila lại như những rường cột niềm tin, truyền thống, về những ý nghĩ cổ điển. Nếu Rachid quăng thẳng vào những hủ tục xa xưa lát cắt sắc lẹm từ cái vốn được coi là không trong sáng, lành mạnh trong xã hội Hồi giáo – sex; thì Rajaa còn cất tiếng nói mạnh hơn, khi xây dựng hình tượng Michelle – một nữ anh hùng thời đại với những lý lẽ đóng đinh như thể Doris Lessing từng xây nên Anna Wulf trong Cuốn sổ vàng.

Ở đó Rachid El-Daif cười vào rường cột những luật lệ hà khắc một cách đầy châm biếm mỉa mai như thể một tình tiết trong Con miu cái của nàng Sikirida khi ông xây dựng cảnh huống để cho Sikirida và chính cháu gái mình cùng kết hôn giả với người đàn ông lái taxi – Abu Brahim trước sự chứng kiến đúng luật của thầy dòng, để má Adiba không phải bận tâm về sự hướng thần của mình. Kết hôn được cho là một trong những vấn đề tế nhị và có phần thiêng liêng trong fatwa, thế nhưng dù cho thế nào, con người ta vẫn cố tìm lấy khoảng hở để sống đúng cuộc đời mình. Dùng một thứ thiêng liêng tự thân để cười vào những cố định vô lý, Rachid một lần nữa cho thấy những nghịch lý làm giới hạn đi sự sống của con người; và cũng tái khẳng định ở một mặt nào đó, dẫu sao đi nữa con người sẽ vẫn luôn hướng về phía tự do – hướng về những thứ vốn thuộc về họ mà không một ai có thể lấy đi.

Và một lần nữa, điều này còn khẳng định đúng ở Những tiểu thư hồi giáo khi Rajaa xây dựng song song giữa một bên là những gì xã hội muốn và một bên là những gì các cô gái thời cô làm. Xã hội của cô mong muốn phụ nữ phải đi lại ít thôi, nói ít thôi để tìm được một tấm chồng. Xã hội ấy cũng xé toạc những cuốn tiểu thuyết lãng mạn, cô lập các mối quan hệ của con cái mình trong hiển hình của những người cha người mẹ. Xã hội này đồng thời căm ghét Valentine, gọi nó là tội ác màu đỏ. Xã hội thời bấy giờ cũng tạo nên thứ gọi là Uỷ ban phát huy đức hạnh và ngăn ngừa đồi bại, hay ngắn gọn hơn là Cảnh sát Tôn giáo, để ngăn ngừa những người khác giới đi gặp gỡ nhau. Thế nhưng vượt lên trên những cố định ấy, những cô gái của Rajaa vẫn tụ tập, chia sẻ với nhau dưới sự bảo trợ của Nuwayyen những quan tâm chính trị, việc chơi đùa các chàng trai hay tư duy sống cho chính bản thân mình của Michelle hay Lamees để rồi từ từ Gamrah hay Sadeems cũng tưởng thưởng chính lối sống ấy.

Thế nhưng nhìn nhận ở mọi khía cạnh, sự khác biệt ấy là điều hiển nhiên và khó dung hòa dù cho là xã hội nào. Mới – cũ, Đông – Tây vẫn luôn tồn tại song song trong mỗi một ngày. Một cách văn chương và đầy mới mẻ, cả Rachid và Rajaa đã cho ta thấy cách những đối ngẫu luôn sống cạnh nhau và khẳng định rằng, con người dẫu sao sẽ luôn vươn lên và sống đời mình chẳng chóng thì chầy chỉ là thời gian.

Những đối lập về giới

Trong bộ phim Marriage Story, nhân vật Nora do Laura Dern thủ vai đã có một phát biểu đậm tính luật sư được nhào nặn ra để 1) suy tôn nữ quyền và 2) mang cho cô giải Oscar danh giá thế này: “Người ta chẳng chấp nhận nổi những người mẹ bợm rượu, quát nạt con cái, mắng chúng là lũ khốn. […] Thử nghĩ xem, hình mẫu một người cha tốt đẹp chỉ mới được hình thành khoảng ba mươi năm gần đây thôi. Trước đó, các ông bố có quyền im lặng, lơ đãng, không thể dựa dẫm được và ích kỉ, tất cả chúng ta đều nói rằng mình muốn họ khác đi. Nhưng về cơ bản, ta chấp nhận họ. Ta yêu họ vì những khiếm khuyết của họ, nhưng người ta hoàn toàn không chấp nhận những khuyết điểm tương tự ở người mẹ. Ta không chấp nhận về mặt quy ước vai trò, ta cũng không chấp nhận về mặt tinh thần. Vì nền tảng trong đức tin Do Thái-Kitô giáo của chúng ta là dù Mary, Đức Mẹ của Chúa Jesus có như thế nào đi chăng nữa, bà cũng phải hoàn hảo. Bà là trinh nữ nhưng vẫn mang thai, kiên định ủng hộ con mình và ôm xác con khi con qua đời. Mà ông bố thì chẳng có ở đấy. Ông ta thậm chí còn không làm gì. Chúa ở trên thiên đường. Chúa là cha, và Chúa không xuất hiện. Vậy nên cô phải hoàn hảo […] Cô luôn phải tuân theo một chuẩn mực khác, đòi hỏi cao hơn.

Chán hết chỗ nói, nhưng đời là thế đấy”.

Ảnh: Phim Marriage Story (2019)

Và vâng, là đúng thế, đời là thế đấy và chán hết chỗ nói. Điều này cũng đúng trong trường hợp văn chương khi phần lớn (và hầu hết) những nhân vật nam trong các cuốn sách này đều như được đúc ra từ một khuôn. Họ là những người cha (của Amal, của Nojoud, của má Adiba) xấu xa, gia trưởng, độc đoán. Họ là những người đàn ông chưa kịp lớn (“tôi” và “cha tôi” trong Cho xem đùi nào Leila). Họ cũng là những người suy nhược, như tràng dài những anh người yêu của bốn cô gái (Waleed, Rashid, Falie, Khalid, Firas,…). Từ góc nhìn Rajaa là điều bình thường – khi cô là tác gia nữ nhìn về phía đàn ông dưới một xã hội không mấy thiện cảm. Nhưng với trường hợp Rachid, dường như đồng thời là sự suy tôn hình tượng những người phụ nữ, khi ông không ngại đứng dưới lập trường của người đàn ông cất lên tiếng nói đầy tính nữ.

Một cách cụ thể và đầy tỏ tường như trong Cho xem đùi nào Leila, những hành động trẻ con của “tôi” như Ngồi phơi đầu dưới mặt trời đổ lửa, tóc đẫm dầu ôliu, một ngày 21 tháng 6, một ngày chủ nhật, 10 giờ sáng (giờ mùa hè ở Beyrouth) để phản đối việc người cha lục tuần mong muốn kết hôn vì sợ cô đơn. Còn hơn cả thế, người cha ấy cũng không thua kém đứa con của mình, “Cha tôi mãi là một đứa trẻ cần được chăm chút, bảo vệ, và chúng tôi, những đứa con của ông, luôn có trách nhiệm phải lo lắng cho ông. […] Ông hành xử hệt như con thú động dục tuy bên ngoài ai cũng nghĩ là một người già trầm tĩnh”. Rachid điềm tĩnh khi nói về những nhân vật đàn ông của mình. Ông xây dựng họ như những bản photocopy di truyền, trong mối quan hệ cha – con như sự tiếp nối thời đại không bao giờ ngưng. Không những thế, ở Con miu cái của nàng Sikirida, Redouan và cha của cậu cũng trùng hợp thay – cùng làm phụ nữ mang thai để rồi biến mất. Đàn ông trong hai cuốn sách của ông là một sinh vật (có lẽ) thèm khát đến kỳ động dục, suy nghĩ nhiều hơn ở giữa hai chân thay vì trí não – có lẽ cũng là một điểm mỉa mai khác nữa.

Không những thế, ở đây, cái giả hình tính đực cũng được đưa ra như thứ ngụy biện cho những nghịch lý của một xã hội mà những điều luật được diễn dịch bởi giới đàn ông. Trong Ly hôn tuổi lên 10, cô bé Nojoud từng giải thích cảnh ngộ chính mình như sau: “Không chỉ hắn làm hại em, mà cả gia đình em, gia đình của riêng em cũng bảo vệ hắn. Tất cả những điều đó chỉ vì một vấn đề… Vấn đề gì nhỉ? Vấn đề danh dự!”. Danh dự là thứ làm nên cốt cách của họ, danh dự đúc kết trong chính con dao jambia của xã hội Yemen, danh dự khiến cha bán con, như má Adiba còn Amal thì bị ruồng bỏ. Danh dự không hơn một thứ hảo danh mà dòng giống đực dùng để che đi chính cái bất lực của bản thân mình. Danh dự được người phụ nữ cảm nhận và gào thét lên trong nỗi tù đày của thân phận mình.

Ở đó đàn ông từ chối lấy người phụ nữ đã trao cho anh trinh tiết của mình hay từ bỏ người từng yêu chỉ vì khác biệt tôn giáo, danh tiếng hay gia đình. Cuộc sống của bốn cô gái được Rajaa khắc họa trong chính cái khuôn mực thước ấy. Ở đó dù cho thế nào thì người đàn ông cũng phải dũng mãnh để khi lên giường “nếu không dũng mãnh được như ngựa giống thỉ tôi thà chết còn hơn! Tôi không thể nào chấp nhận người ta nghi ngờ nam tính của tôi, thà giết chết tôi đi!” Nực cười một kiểu, chính những giả hình ấy lại được phát hiện bởi cô gái trẻ sau hai mối tình đứng lên làm lại từ đầu không cần ai khác, chứ không phải bởi nhà hiền triết, một người suy tư hay một ai khác đấu tranh cho quyền phụ nữ “Dù có sự khác biệt lớn về tuổi tác – họ đều được đúc từ cùng một khuôn thôi: thụ động và yếu đuối. Họ là nô lệ của những hủ tục và truyền thống lâu đời cực kỳ bảo thủ dù đầu óc được học hành khai sáng của họ giả vờ bác bỏ những điều đó! Đó là cái khuôn đúc ra tất cả đàn ông ở cái xã hội này. Họ chỉ là những con tốt mà gia đình họ di chuyển trên bàn cờ thôi”.

Và phụ nữ, họ còn nhận ra rất nhiều điều khác.

Sự vươn lên của tính nữ

Tình dục, tự do – hai khía cạnh được nhắc đến như sự vươn lên của vương triều phụ nữ trong cuốn sách này. Rachid một cách tài tình mở toang cách cửa sức sống của người phụ nữ trong nền xã hội rối ren. Ông phá bỏ gông cùm, đánh tan bài xích, vượt lên trên hết bằng lối ra của một nhân tố ít được nhắc đến nhất từ trước đến nay, một thứ thiêng liêng, chỉ một với một, hết sức kín đáo và hoàn toàn riêng tư – sex. Rachid xây dựng cốt truyện châm biếm như cách xây dựng nội dung, ở đó ông đi theo kiểu 1) bùng binh và 2) đường song song mở ra hai hướng. Với Cho xem đùi nào Leila, đó là kiểu bùng binh quan hệ mà không nghi ngờ gì nữa, là bí mật lớn nhất và cũng là cái hài hước nhất của toàn tác phẩm. Hai cặp nhân vật, Z – Leila, tôi – cha tôi xoay qua xoay lại như một vòng tròn. Bốn người bọn họ được giữ với nhau không những chỉ bằng từ trường trái đất, mà còn là bởi những cuộc làm tình. Cả bốn người họ, nếu như được viết ra giấy để rồi bắt cặp, không trừ cả đến giới tính thì đều ít nhất làm tình với nhau một lần (chỉ trừ một cặp cha – con). Thế nhưng dù thế, ta dễ nhận ra, sex trong văn chương Rachid không mang ý nghĩa thô bỉ, mà nó lại còn hàm chứa nhiều điều hơn thế.

Vốn dĩ xã hội Hồi giáo mà người ta biết là nơi nghiêm khắc trong những việc này. Bằng áo burqa, bằng khăn hijab; tín đồ Hồi giáo ngăn ngừa những cơn khơi gợi dục tính một cách như thế. Thế nhưng, trong tác phẩm mình, Rachid mở rộng vấn đề ấy một cách không biên giới – không tuổi tác, không giới tính, không quan hệ, không giai tầng. Xét vào bối cảnh, sex trong thế giới Hồi giáo được ông mang vào như lưỡi của một chiếc kéo, cả hai cắm phập vào nhau và dĩ nhiên, cùng cười vào nhau, cùng phản ánh nhau. Ở đó ta thấy đời sống sôi động của người phụ nữ, khi ra đường có thể là những cái chai di động do burqa quá rộng, nhưng khi lên giường họ hoàn toàn là một sinh thể rất khác, nồng nàn, ẩn chứa và vỡ tung ra. Tình dục đối với họ, cũng như những người khác, đơn thuần là một hành động giản đơn, một hành động tự nhiên như ăn, uống, chạy nhảy hay bơi lội. Họ sống ở đó và được là mình, họ là người, và chính những hành động ấy mới chính là họ, hành động của một con người và cư xử như một con người.            

Nếu Cho xem đùi nào Leila là cách khai thác yếu tố bùng binh, thì Con miu cái của nàng Sikirida là kiểu đường thẳng mở ra hai hướng, giao nhau duy nhất ở niềm ham muốn. Phụ nữ trong văn chương của ông là người có gout, dẫu cho hoàn hảo hay khiếm khuyết, xinh đẹp hay xấu xa. Sikirida – một ả ngoại quốc không hơn không kém, không tính chung thủy, không phải tầng lớp cao sang; thế nhưng luôn luôn ham muốn làm tình với đàn ông trẻ, trẻ hơn cả mình, dẫu cho chỉ trong một không gian nhỏ của nhà vệ sinh với con trai người bán rau. Trong khi đó, Amal – cô bé chỉ mới cấp 3, giàu có, xinh đẹp nhưng lại khuyết tật không thể đi được – lại dần tìm được cảm hứng sau cuộc làm tình với Redouan – kẻ hiến thân mà như cô nói, chỉ thích đàn ông học thức, thông minh và hơn cả mình. Rõ ràng ta thấy, phụ nữ trong các tác phẩm ông không những tìm về chính mình, mà họ còn tự do để được lựa chọn. Họ thể hiện tính nữ của mình trong cuộc làm tình, họ cho thấy sự kiểm soát bản thân trong việc chọn ai để thi hành điều đó.

Rachid đập tan ảo tưởng kiểm soát phụ nữ của đàn ông một cách như thế. Không xây dựng hình ảnh phụ nữ dáng dấp anh hùng; ông chỉ đơn giản cho thấy vai trò chủ động của họ trong hành động cấm ở nơi họ sống. Phụ nữ từ đó vươn lên, mở tung bản ngã và được là mình. Chính ở điều này tính văn chương của Rachid được bộc lộ, vì không như người khác dễ dàng sa ngã vào cái thô bỉ mỹ học mang danh tình dục; ông mượn nó để làm phương tiện phát ngôn của mình, một cách gián tiếp nhưng đầy sức mạnh. Ngoài ra, hình tượng được ông sử dụng: từ con miu cái – như cách phụ nữ bộc lộ bản tính cho đến cái đùi của Leila – như đại diện cho vẻ đẹp tính nữ. Con miu cái dẫu bị Sikirida từ bỏ, mang xa đến đâu cuối cùng vẫn sẽ trở về như ám chỉ nói, phụ nữ dẫu bị ngăn cách đến mức độ nào, bản tính vẫn dẫn họ về và làm lại mình. Z – người phụ nữ xấu xí không ai thèm lấy, tuôn lệ nước mắt khi nhìn thấy chiếc đùi Leila – một biểu trưng cho cái đẹp, cho tính nữ mà cô không hề có – đã ngầm ý rằng, phụ nữ có thể không đẹp hoặc không hoàn hảo; nhưng tính nữ vượt xa hơn thế, nó là bản chất, nó là bản ngã, mà chính thông qua việc khao khát có một đứa con, tính nữ đè chết cái đẹp: “Ông ấy bố thí tôi được làm vợ ông ấy bởi vì tôi quá xấu. Nhưng ông ấy không thể ngăn cản tôi có thai”.

Và trực tiếp hơn, Khuôn mặt bị đánh cắp của Latifa sẽ là gì nếu không phải là tiếng kêu tự do của những con người áp bức quá lâu? Ở đó, Taliban triệt tiêu phụ nữ. Họ giam phụ nữ trong chiếc burqa phùng phình và lưới mắt cáo để che ánh mắt. Ở đó, phụ nữ không được khám bệnh còn bác sỹ nữ không được hành nghề. Đó đều là những phương thức không phải giam cầm, mà đó là cách bọn chúng tiêu diệt phụ nữ Afganistan. Tương tự như thế, xã hội Yemen giết chết những người phụ nữ trong cuộc hôn phối mà những bé gái lên 9 lên 10 còn chưa biết được thế nào để trở thành vợ, thành mẹ, để thành đàn bà chỉ vì hai tiếng danh dự của gia đình mình. Thế nhưng, họ là những phụ nữ không cam chịu. Nojoud đứng lên ly hôn khi mới 10 tuổi mặc cho những thành kiến xã hội còn đó, Latifa đến Pháp như cách cất lên tiếng nói cho phụ nữ Afganistan để rồi sẽ mãi sống cái tên giả, bởi những cực đoan nơi quê nhà luôn chờ đón cô bằng một cái chết không hề báo trước. Họ mạnh mẽ, quyết tâm, kiên trì để sống đời sống mình, dù bước ra từ văn chương hay ngoài đời thực, họ là những người sẽ luôn và sống đúng với mình, với những gì cuộc sống cho phép.

Kết

Bằng chất hài hước vốn có của mình, Rachid El-Daif đã khắc họa một cách thành công tính nữ trong sex – một cách tinh tế và đầy sức mạnh. Trong khi đó, Rajaa Alsanea khơi gợi cách phụ nữ hiện đại vượt lên chính những danh xưng người khác gán chết cho mình – họ tân tiến, học thức, làm chủ bản thân. Nojoud và Latifa như bằng chứng sống cho sức mạnh phụ nữ; họ mạnh mẽ, vươn mình và không chần chứ bất cứ một ngưỡng vọng nào. Từ châm biếm, hòa nhã, phức tạp đến chân thật mà không kiểu cách, những cuốn sách này một cách mạnh mẽ mở toang cánh cửa đóng kín từ lâu của xã hội Hồi giáo, từ đó cho thấy sức mạnh của người phụ nữ. Thế giới đã thay đổi. Hoặc phụ nữ bao giờ cũng thế mà ta không biết.

Hết.

minh.


Nữ tính trong văn chương



Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Pedro Páramo: Tác phẩm viết về và viết bởi cái chết

Pedro Páramo là tác phẩm viết về và viết bởi cái chết. Một cách tài tình sau khi đi một vòng xuyên suốt toàn bộ tiểu thuyết, ta nhận thấy tất cả những nhân vật trong này, dù già trẻ lớn bé, xuất hiện nhiều hay chỉ trong một khung cảnh, tất cả đều đã chết.

Đăng từ

on

Người đăng

“Thực tình họ đã quá ồn ĩ vì một người chết của gia đình rồi. Nếu là người thân của họ thì có lẽ họ sẽ chẳng khóc lóc thảm thiết đến như thế đâu”.

Mexico và vẻ đẹp tràn đầy năng lượng của mình từng đến với tôi thông qua văn chương cũng như phim ảnh. Nếu phim ảnh là Coco với cảm xúc và sự tươi trẻ, là Roma với những gam màu trắng đen của thói đời lên xuống; thì Mexico trong văn chương của Jack Kerouac là những ngày rong ruổi tuổi trẻ, là mảnh đất của hoang dại, là khát khao được thoát khỏi chiếc lồng ngột ngạt của mực thước xã hội. Và Mexico thì còn gì nữa? Là lễ hội của phông nền văn hóa, là Carlos Fuentes với Nàng Aura từng đọc khi 19 20, và thật lòng mà nói, là chẳng hiểu gì. Nhưng như một nhân duyên tình cờ, nhờ yêu thích Jorge Amado mà tôi tạt ngang Márquez trong cơn đồng mộng, và ở một truyện ngắn được in trong quyển Tuyển truyện ngắn (mà tôi không thể nhớ tên), ông đã nói: “Tôi có thể kể xuôi toàn bộ tác phẩm này từ đầu đến cuối rồi lại kể ngược từ cuối lên đầu”. Cứ thế Pedro Páramo đến với tôi qua dây chuyền nền văn chương Mỹ Latin, và quả thật, Márquez đã một lần nữa đóng vai Jorge Amado khi cho thấy cái nhìn cực kì quái lạ vào sâu trong Juan Rulfo – một trong những nhà văn mà tôi vô cùng đồng tình, vĩ đại nhất văn chương Mexico.

Pedro Páramo xoay quanh câu chuyện về một chàng trai đi tìm cha, nhưng tiểu thuyết này cũng không thoát ra khỏi cái đặc trưng của văn chương Mỹ Latin nói chung và Mexico nói riêng của thời kỳ này. Đọc sâu vào Pedro Páramo ta vẫn thấy đâu đó là hình dáng của tên độc tài, là đời sống áp bức, là khởi nghĩa nổi dậy, là sự giằng xé nội tâm đi tìm bản chất của người. Tất cả viết trong phông nền đậm màu hiện thực kỳ ảo dưới ngôi kể từ nhiều góc nhìn, không – thời gian được cắt ra từng lớp và xếp chồng lên nhau. Từ Alejo Carpentier đến García Márquez, từ Jorge Amado đến Carlos Fuentes, và nay là Juan Rulfo; tất cả những ngòi bút ấy đều mang trong mình sứ mệnh văn chương để kể câu chuyện trong những huyễn hoặc viễn tưởng khó mà nghĩ đến. Và Pedro Páramo dường như là tiểu thuyết đầu tiên (mà tôi từng đọc qua) căn chỉnh và hài hòa đầy đủ các yếu tố này.

Những vấn đề châu Mỹ

Pedro Páramo là nhân vật được chọn trở thành tiêu đề cho tiểu thuyết này, nhưng y không hẳn là nhân vật chính. Từ Pedro Páramo, Juan Rulfo tỏa ra những con đường văn chương thông qua các nhân vật gắn kết dù ít hay nhiều nhưng đều có quan hệ nào đó với y. Với Pedro Páramo, Juan Rulfo đã khắc họa một cách thân quen hình ảnh tên cường hào địa chủ điển hình cho tầng lớp bóc lột ở xã hội Mexico thời bấy giờ, mà ta có thể nhìn thấy sự tương đồng với Horácio của Amado trong Đất dữ hay người bà bất lương của Erendira trong truyện ngắn cùng tên của Márquez. Tên địa chủ ấy cũng như những mẫu hình khác: hung tợn, dữ dằn; nhưng trái lại, lại si mê một tình yêu không thể có được. Tuy tài sản, đất đai, quyền hành dường như nắm được mọi thứ trong tay nhưng nhìn chung, y và những người như y lại có đời sống bất hạnh.

Say mê Susana – người phụ nữ ốm yếu suy kiệt dần sau cái chết của cha mình, mất đi người con duy nhất thừa nhận – Miguel bởi chính bức tường mình đã xây nên sau cuộc nhảy ngựa, cộng thêm là sự trỗi dậy của cách mạng chống địa chủ; tất cả làm cho cuộc sống của Pedro Páramo xoay vần trong cơn bão chớm đến. Từ một người khinh thị luật pháp, rằng: “Ô hay, luật pháp nào kia, hở Fulgor. Luật pháp từ đây trở về sau này sẽ do chúng ta làm nên”; nay sớm nhận ra sự trừng phạt đang đến gần: “Chúng ta sống trên miền đất nhờ đấng Toàn năng sản đủ thứ. Nhưng tất cả các thứ quả sản ra ở đây đều chua. Chúng ta bị kết tội chỉ được hưởng những quả chua đó”. Rồi cuối cùng là cái chết tan tành của y vào trong hư vô về lại tro bụi.

Juan Rulfo khắc họa Pedro Páramo một cách tài tình, không phải tuýp người nóng nảy dễ kích động đâm giết chém thuê như Horácio của Amado, mà thay vào đó, y là kiểu người nham hiểm và mang trong mình đầy đủ đường đi nước bước hệt như nhân vật Quốc trưởng được lấy mẫu chung từ phần lớn những tên độc tài của khu vực Nón phương Nam, mà Porfirio Díaz là đại diện chính, của Alejo Carpentier trong Sự tráo trở của phương pháp. Như thể khi đối đầu với lực lượng cách mạng, y đã dùng El Tilcuate như lá chắn cho mình; hay khi phải trả nợ cho nhà Preciado, y đã nghĩ ra cách cưới Dolores để không kéo dài thêm khoảng nợ trong khi bản thân chẳng yêu thích gì cô. Việc xây dựng một nhân vật táo bạo và có chiều sâu như thế làm nổi bật lên trên hình tượng của con người ấy, tuy là văn chương nhưng dường như không quá xa vời cuộc sống thực tại của đất nước này.  

Bên cạnh nhân vật chính là chủ đồn điền Media Luna, Juan Rulfo cũng khéo léo đồng thời cho thấy cuộc sống của con người dưới thời khắc ấy, và cùng đó, vạch rõ cho người đọc thấy chế độ độc tài có thể biến đổi con người ta đến mức độ nào. Những nhân vật trong câu chuyện đáng thương này có thể kể đến như mẹ của người kể chuyện – Dolores, như cha xứ Renteria, người cô Eduviges, anh chàng bị mất hết ruộng đất Toribio Aldrete, người đàn bà cất lên tiếng nói từ dưới nấm mồ Dorotea,… tất cả được Juan Rulfo xây dựng như quần thể của những phê phán bất công cất lên từ dưới lòng đất. Pedro Páramo là cuốn tiểu thuyết phức tạp và đòi hỏi sự tập trung gần như cao độ của người đọc mặc cho một thời lượng vô cùng khiêm tốn, bởi nhẽ, nó được cấu thành hầu hết nhờ những chồng chồng lớp lớp của câu chuyện, cạnh đó, là sợi dây quan hệ giữa mỗi nhân vật trong câu chuyện này. Đôi khi họ quen biết rõ nhau, nhưng cũng đôi khi họ chẳng quan hệ gì và góp phần vào đây chỉ như chút hương thoáng qua, nhưng cần thiết. Juan Rulfo một cách chậm rãi kể tuần tự câu chuyện, đôi khi đảo ngược thời gian, và từ trong đám lộn xộn những bi kịch ấy, ta nhận ra cuộc sống dưới thời khắc cũ có thể mong manh đến mức độ nào.

Dolores, vì một khát khao hạnh phúc làm cho mù mờ con mắt bởi tuổi thanh xuân, người từng nói rằng:”Ôi hạnh phúc! Ôi hạnh phúc! Cám ơn Thượng đế đã cho con don Pedro […] Dẫu rằng có bị ruồng bỏ con cũng cam lòng” đến cuối cùng vẫn phải căm phẫn người đàn ông ấy, vì bỏ bà đi, và quyết nhờ đứa con trai duy nhất lấy lại những thứ đã mất. Dorotea, người bị ám ảnh bởi ước mơ có một đứa con, cuối cùng cũng phải tan rã trong hầm mộ nghe tiếng thầm thì. Ông bà Donis, ngọn nguồn tương đồng của Trăm năm cô đơn, khi là hôn phối cận huyết, là tự dằn vặt bản thân và phải phủ khăn ăn lên mặt để tránh sự kết tội của Chúa như khi ăn món sẻ nướng Ambelopoulia: “Tôi chỉ mãi mãi ở trong nhà này kể từ khi ông ta đã biến tôi từ em gái thành người vợ của ông ấy. Kể từ độ ấy tôi chỉ ở trong nhà vì tôi ngại dân chúng nhìn thấy mình”. Hay như Toribio Aldrete, người mất hết ruộng đất bởi những luật lệ về quyền dụng ích do chính Pedro Páramo gây ra, đã phải kết thúc cuộc sống bằng cái chết thốt ra như lời tuyên ngôn: “Người ta nói rằng sức mạnh ở phía sau ta”, và hồn ma ấy vẫn vất vưởng trong căn phòng kia hàng trăm năm trời, chưa bao giờ mất đi chính bởi xung động bất công còn mãi trường tồn.

Nhưng trên hết, nằm trên những mưu mô của con người như phương cách tồn tại trong lòng xã hội nhiễu nhương của những tên độc tài, vấn đề tôn giáo và đức tin – ngọn nguồn về bản chất con người, luôn được đưa ra như chút manh mún cuối cùng của đạo đức tàn suy. Ở đây xuất hiện nhân vật cha xứ Renteria, người luôn bị dằn vặt bởi sứ mệnh và cuộc sống phía trước. Ông từng phân vân khi đến tha tội cho Miguel, người đã giết anh ông, cưỡng hiếp cháu gái ông; nhưng vì sức mạnh của 25 đồng bạc, dường như nó khiến ông phải ngã mũ rồi nằm khóc trong kho chứa đồ Thánh vì sự bất lương của bản thân mình. Trong khi đó, việc xá tội cho bà Eduviges bởi việc tìm đến cái chết một cách tự thân lại không thể, dù đó chỉ là một, hai hay một trăm từ lặp lại vô nghĩa, nhưng nếu không có tiền để cầu kinh Thánh Gregor, thì cái chết ấy sẽ phải xuống địa ngục mà không có bất cứ một sự xá tội nào: Cái gì đã bắt đức cha từ chối tha lỗi khi việc nói ra một từ, hai từ, hay một trăm từ là một việc dễ dàng nếu như những từ này đích thực cần thiết cho việc cứu giúp một linh hồn. Đức cha đã biết gì về thiên đường và địa ngục? Tuy nhiên, đức cha, do hòa mình vào trong một làng không tên tuổi, đã biết chắc những ai là người đáng được lên thiên đường. […] Ta đang duyệt lại các tên Thánh như thể ta nhìn thấy những con dê cái đang nhảy ra”.

Xã hội lúc ấy làm con người ta hoài nghi về chính bản thân mình, họ tự vấn bản thân về giá trị của sự sống – cái chết, bởi mỗi kết cục trên cuộc đời này đều có tính tương đối, như một câu nói mở đầu tiểu thuyết: “Bò lên hay trườn xuống hoàn toàn phụ thuộc vào người đang đi trên nó”. Không khó nhận ra khi trong tiểu thuyết này, Juan Rulfo dùng rất nhiều những đối ngẫu trong suy nghĩ, đối thoại để khắc họa nên cái chông chênh của xã hội lúc ấy. Một ví dụ như sau, về cái chết, giữa một bên là người bà thủa ấu thời của Pedro Páramo – người vẫn còn sống, và một bên là của Dorotea – người đàn bà lắng nghe tiếng thì thầm của những xác chết – như mình: “Tất cả đều được hoàn thiện trong cái chết có Thượng đế làm nhân chứng nhân. Người ta chỉ chết khi muốn chết chứ không phải do Thượng đế sắp đặt” Hiển nhiên cuộc sống mang theo nó công việc. Cái duy nhất khiến chân tay người ta hoạt động là niềm tin rằng khi nhắm mắt xuôi tay sẽ được mang từ nơi này đến nơi khác. Nhưng khi người ta chết rồi thì một cánh cửa đã khép bước họ lại và chỉ mở ra cho họ một cánh cửa dẫn đến địa ngục, đã thế thì chẳng nên sinh ra trong cõi đời này làm gì”.

Juan Rulfo dùng chính sự đối ngẫu như thế làm con người ta bỗng chốc nhận ra cái chông chênh của bản thân mình. Nhưng dù ở khía cạnh nào đi nữa, Pedro Páramo một cách thẳng thừng cho thấy giá trị của con người có thể bé nhỏ đến mức độ nào. Họ nhỏ bé không những trước tạo hóa bao la, bất lực trước sự sống, cái chết; mà còn vỡ vụn bởi chèn ép hạ bệ thời cuộc, bởi quyền lực tập trung vào tay địa chủ. Juan Rulfo dùng Juan Preciado như lời khẳng định về hiện thực lúc ấy, ông không viết những dòng này bằng từ ngữ của thì hiện tại hay tương lai, mà sự xuất hiện dưới nấm mồ của Juan hay Dorotea như lời tái khẳng định cho ngày hôm nay. Cuối cùng rồi thì, như Carlos Fuentes viết trong Nàng Aura: Họ muốn chúng tôi sống đơn lẻ […] Bởi lẽ theo lời họ, cô đơn là điều cần thiết để đạt được sự thánh thiện”.

Phong cách nghệ thuật thân quen

Ảnh: radionica.rocks

Dịch giả Nguyễn Trung Đức trong bài giới thiệu quyển sách đã nói rằng, nếu Alejo Carpentier là người mở đường cho chủ nghĩa hiện thực kỳ ảo vào trong văn chương Mỹ Latin, thì Juan Rulfo – theo tôi, chính là người nắm được trào lưu văn chương ấy một cách xuất sắc. Và rõ ràng đúng là như thế. Với Pedro Páramo và thời điểm ra đời của nó, dường như đây là cuốn tiểu thuyết kỳ lạ, độc đáo và cách tân mới lạ so với trào lưu văn học theo khuynh hướng cách mạng trước đó. Pedro Páramo không hẳn cách ly hẳn so với khuynh hướng tiền tố, ta dễ thấy việc xây dựng hình tượng tên địa chủ và cao trào cách mạng nổi dậy vẫn mang đậm hệ tư tưởng cách mạng, thế nhưng việc xây dựng tiểu thuyết trong không khí lạ lẫm của văn chương mới là điều làm nên sức hút của tác phẩm này.

Pedro Páramo là tác phẩm viết về và viết bởi cái chết. Một cách tài tình sau khi đi một vòng xuyên suốt toàn bộ tiểu thuyết, ta nhận thấy tất cả những nhân vật trong này, dù già trẻ lớn bé, xuất hiện nhiều hay chỉ trong một khung cảnh, tất cả đều đã chết. Mở đầu tiểu thuyết, Juan Rulfo gài cắm người đọc vào con đường đi xuống mãi không có gió, để gắn hồn ma quanh quẩn vào trong văn chương, tiếng động làm thành một tiếng nói chung. Nếu ở Nàng Aura, Carlos Fuentes dùng âm thanh như cách khuếch tán nỗi sợ vào trong người đọc, khi đó là tiếng mèo gào, tiếng vấy sột soạt; còn Jorge Amado là tiếng kêu của các loài vật, là tiếng thét gào vĩnh biệt của chú ếch khi bị rắn độc nuốt; thì với Pedro Páramo, đó là âm thanh của im lặng, của mưa, của tiếng nện gót trên đá lót đường, của vó ngựa đường xa, của góa phụ than khóc, của tiếng rì rầm không bao giờ ngơi nghỉ: “Tôi lại nghĩ rằng nếu như tôi chỉ nghe thấy cái thanh tịnh là vì tôi chưa quen với cái thanh tịnh hoặc cũng có thể là đầu tôi chứa đầy tiếng ồn và tiếng nói”. Chính âm thanh được tả bằng không gian phẳng của ngòi bút ít nhiều trở thành những tạp âm trắng quẩn quanh trong tai người đọc, ám ảnh và đau xót để rồi hiển nhiên thay vì là Pedro Páramo, tên đầu tiên của tiểu thuyết này đáng ra lại là Los murmullos – Những lời thì thầm.

Juan Rulfo dùng một cách dày đặc những chi tiết hiện thực kì ảo, không như Márquez hay Carpentier chỉ như chấm phá trong lòng hiện thực. Chính không gian u huyền đến từng khoảng không của Pedro Páramo dường như là yếu tố chính làm nên một tiểu thuyết hay, không một cận trên hay giới hạn nào, và có lẽ bởi chính lối viết mới mẻ ấy, tự bản thân nó đặt ra chuẩn mới cho tiểu thuyết Mexico nói riêng và châu Mỹ Latin nói chung. Sau gần một thập kỉ tiếp nối, văn chương Mexico mới chứng kiến thêm một cây bút cá tính tương tự Juan Rulfo đã từng, và đó là Carlos Fuentes. Đọc Nàng Aura (rất tiếc đây là tác phẩm duy nhất của ông được chuyển ngữ) và Pedro Páramo, ta thấy nhiều sự tương đồng. Nếu Nàng Aura tràn ngập những khoảng không tối tăm, những âm thanh u huyền, không có gì rõ ràng hay cụ thể, chỉ là tiếng động, là trống rỗng; thì Pedro Páramo cũng tương tự thế. Nhưng một cách rõ ràng, Pedro Páramo đã thoát ra khỏi những lớp văn chương dày đặc để sống đời thực tại riêng mình, nhưng âu đó cũng là điều bình thường, bởi những thúc đẩy thời đại, bởi văn chương và vai trò của nó thay đổi từng thời kỳ, dưới nhiều góc nhìn.

Nếu quy kết ngôi nhà mà chàng nghiên cứu lịch sử ở trong những ngày chìm vào mộng mị với Aura và không gian mà Juan Preciado và Dorotea dưới những nấm mồ; ta thấy khoảng không của 2 tiểu thuyết này là một. Từ không gian đen thẫm chỉ có vài ngọn nến mỏng manh le lóm, giá trị con người được dần hiện ra. Nếu Nàng Aura tập trung nhiều vào tình cảnh con người, vào cảnh ngộ cô độc của mỗi cá thể trên cuộc đời này; thì Pedro Páramo và thời thế của nó cho thấy cả một quãng dài số phận. Những nhân vật mà Juan Rulfo mang vào tiểu thuyết này không nhiều, nhưng cũng không thể nói là ít; ít nhiều nó gây cho người đọc nhầm lẫn hay ngộ nhận. Nhưng nếu để bỏ một nhân vật hay tổ khúc nào đó đi, tất cả sẽ lại dẫn hướng về khuynh hướng lụn bại domino của toàn cuốn sách.

Thể như đôi tình nhân trong một đêm hè, họ không dính dáng quá nhiều tới cốt truyện chung, nhưng qua đó, ta thấy con người dù cho những đè nén của chế độ độc tài, họ vẫn trân trọng tình cảm dành cho nhau. Hay như anh em nhà Doris, họ là sự ngột ngạt của thời đại, là những lỗi lầm tự mình cảm thấy nhưng bất lực không thoát ra được. Ngoài ra, ở nhân vật luật sư Gerardo Trujillo là sự xuống cấp xã hội, sự xem thường tri thức, và là cái vô vọng của tầng lớp ấy dưới đế chế thống trị. Thêm vào đó, Damiana Cisneros – người giúp việc nhà cho Pedro Páramo, luôn dồn nén trong mình thứ tình cảm thiếu thời một lần bỏ lỡ, và sau này để bù đắp cho thiếu sót ấy, trở thành người dắt gái cho Pedro và đến xưng tội với cha Renteria trong tình cảnh say rượu như một vòng lẩn quẩn. Dù lớn hay bé, nội tại hay ngoại hàm, những nhân vật này của Juan Rulfo đã làm nên sự gắn kết cảnh tình chặt chẽ, một mặt cho thấy câu chuyện của bản thân mình, mặt kia cho thấy xã hội lúc ấy đã biến chuyển ra sao. Do đó hoàn toàn đồng tình khi cho rằng Pedro Páramo đã thoát ra khỏi những ước lệ văn học, mà nó quá ước lệ để trở nên phơi bày hiện thực một cách trần trụi nhất trong khi ước lệ vừa phải khó mà làm được.

Để nhớ lại cái bao trùm tiểu thuyết này, chẳng phải anh chàng sử gia của Nàng Aura đã sống trong căn phòng thông với ánh sáng khí trời đối lập hoàn toàn với khoảng không đen ngòm nơi bà Consuelo sống; và cũng chẳng phải trong Pedro Páramo, mọi âm thanh tự nhiên đều được gói gọn trong lớp vỏ của địa ngục cứ đi xuống mãi? Juan Rulfo đã sắp đặt 2 khía cạnh tối – sáng, trắng – đen rất gần nhau, nhưng để bước qua được khoảng không ấy, là cả sự nhập nhằng của văn chương, là cơn tự vấn bản thân trong mỗi nhân vật. Pedro Páramo mang rất ít trong mình câu chuyện của những tự vấn lương tâm cá nhân, nhưng nó là áng sử thi cho thấy lửa trên bình nguyên châu Mỹ có thể sáng rực đến mức độ nào. Với Pedro Páramo, phong cách đặc trưng của văn chương Mỹ Latin lần đầu tiên bừng sáng và đánh mạnh vào trong tâm thức người đọc, và Juan Rulfo chứ không ai khác – trở thành huyền thoại trong những cây viết của khu vực nói tiếng Tây Ban Nha, một lần và mãi mãi như thế.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!