Phía sau trang sách

Khát vọng đổi đời: Kết quả của tưởng tượng hay là dự báo tương lai

Published

on

Stefan Zweig – nhà văn nổi tiếng người Áo, từ trước đến nay luôn được biết đến là một tác gia có sự phân tích tâm lý nhân vật sâu sắc ở mảng truyện ngắn. Người ta biết nhiều đến ông qua hai tác phẩm tiêu biểu: 24 giờ trong đời người đàn bàBức thư của người đàn bà không quen; thế nhưng, không chỉ ở mảng truyện ngắn, với tiểu thuyết mặc cho một số lượng khiêm tốn (chỉ hai tác phẩm cho đến khi cơn bĩ cực trào đến) Stefan Zweig cũng kịp ghi tên mình vào danh sách những tác gia viết tiếng Đức có ảnh hưởng vô cùng lớn đến thế hệ người đọc, bên cạnh những Thomas Mann, Frank Kafka hay Thomas Bernhard,… Khát vọng đổi đời là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, được xuất bản sau 40 năm từ khi cái chết ngỡ ngàng ập đến, nhưng dư âm của nó vẫn mãi còn đó, thâm nhập len lỏi vào từng ngóc ngách đời sống, trở thành những giá trị tuy không mới nhưng chưa bao giờ cũ.

Khát vọng đổi đời là một cuốn tiểu thuyết lạ, bởi nhẽ, nó được viết ngắt quãng hai phần. Phần đầu, cuộc đời chính của nhân vật Christina Hoflehner, như một vở kịch dang dở phê phán thế giới phù hoa, nơi mọi chân giá trị bị đảo ngược. Thế nhưng sau khi câu chuyện phôi thai thành hình, Stefan Zweig lại gác bút để đó, vì như ông chia sẻ trong những bức thư còn lại “tôi rơi vào một vực thẳm sâu hoắm không sao vượt qua nổi”. Và chính sự trỗi dậy của đế chế thứ 3 khi dáng hình Hitler bao trùm lên toàn thể châu Âu, đã như cú thúc vào trong tâm trí khiến cây bút lại một lần nữa phải được cầm lên. Phần sau, trong nỗi ngậm ngùi thế nhưng lại can đảm nhất, thật thà nhất và cũng đau đớn nhất; được ông viết sau khi đã lưu vong sang London. Ở đó Ferdinand được ông xây dựng như hình tượng chính mình: một con người đã mất tất cả: quê hương, xứ sở, nguồn gốc, tên tuổi, … Tựa Sylvia Path hay Szabo Magda khi dùng thế giới quan cá nhân để viết nên Quả chuông ác mộng hay Cánh cửa, Stefan Zweig ở đây cũng bằng một sự dũng cảm tự thân khoét sâu vào nỗi đau mình, hy sinh một phần thân thể để viết nên cái vết thương đã mưng mủ của rất nhiều người mà chỉ sau một đêm cơn bão thời cuộc đã quét sạch gọn ghẽ chính họ ra khỏi mảnh sân của mình.

Nửa đầu tiểu thuyết, ông tập trung viết về thói phù phiếm của những tên đạo đức giả hưởng lợi từ cuộc chiến. Được viết vào những năm 30 khi Thế chiến thứ nhất vừa mới đi qua, trong một khung cảnh nghèo nàn của Áo thời hậu chiến, có lẽ, đói nghèo là thứ tác động nhiều đến ông bên cạnh đất nước đang từ từ đứng dậy sau cơn suy kiệt. Ở đó, Christina Hoflehner sống vật vờ như được lập trình sẵn, sở hữu trong mình cơ may khi nhờ quan hệ của ông bác mà kiếm được việc làm ở bưu điện, tuy công việc nhàm chán nhưng ít ra mỗi tháng vẫn kiếm được vài siling để gom góp vào khoản tiền lo cho người mẹ nằm liệt giường. Thế nhưng, thứ công việc ấy cũng chật vật như chính bữa ăn ngày có ngày không ở vùng nông thôn hẻo lánh. Vật vờ như một cái bóng từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa, rồi từ 2 giờ trưa đến 6 giờ chiều; cuộc sống của cô vẫn cứ lặp đi lặp lại đều đều như thế. Cho đến một ngày, cô được một người họ hàng mời đến chơi như cách nối lại sợi dậy ruột rà từ lâu đã đứt, và cũng chính từ đây, cô được biết thế giới thực chất là như thế nào, đáng sống ra thể làm sao.

Ở khu nghỉ dưỡng trên núi cao thuộc vùng Thụy Sỹ ấy, Christina lần đầu tiên biết thế nào là đáng sống. Ở đó cô được gặp bè lũ những người làm giàu từ cuộc chiến: có người Mỹ giàu lên nhờ buôn vũ khí, có người Pháp bỗng dưng phất lên chỉ sau một đợt đầu cơ. Ở đó cô cũng chứng kiến những cuộc vũ hội hăng say, hay khoản tiền cá cược chỉ sau 10 phút là lấy được trong khi cô phải mài lưng 4 tháng trong chính vương quốc bé tí là bưu điện của mình. Christina cũng là con người, cô ào vào thế giới ấy nhanh chóng, tận hưởng từng giây từng phút những khoảnh khắc ấy, và bỏ quên đi con người của mình ở nước Áo xa xôi cách đấy 2 lần đổi tàu. Bằng những so sánh giữa hai thế giới tưởng như không giao nhau, Stefan Zweig một cách tài tình bóc trần cái nghèo của đất nước mình, đất nước của những con người thèm thuồng. Như những bi kịch trong Đỏ và đen hay Chỉ ngu ngơ mới biết cười, thói phù hoa ở đây cũng khiến con người ta thức tỉnh, và sự thức tỉnh ấy đã không đến muộn.

Không chỉ khắc họa thói đạo đức giả của những con người ngoại quốc, Stefan Zweig cũng đồng thời khéo léo phơi trần bộ mặt của những người-con-ưu-tú của đất nước mình, mà dì Clare của Christina là một ví dụ. Sợ quá khứ trác táng của mình lại một lần nữa được đào bới lên, con người ấy nhẫn tâm cắt đứt mọi mối quan hệ. Christina từ một bình minh thiên đường bị đẩy xuống bóng tối địa ngục, như thể: “Tâm hồn tan nát, nàng chỉ cảm thấy rằng người ta đã cướp đoạt mất của nàng một cái gì đó, rằng đang từ một cô gái hạnh phúc, được niềm vui chắp cánh nàng phải trở lại thành con sâu mù lòa bò trên mặt đất”. Cũng chính từ đó, nàng trở nên khinh bỉ cái thế giới giả tạo ấy, thế giới không thật ấy. Nhưng biết làm sao, khi đó lại là một sang chấn tâm lý quá lớn. Một lần nhìn thấy để rồi nhớ nhung cả đời, Christina mang theo giấc mộng vương giả ấy vào tận đời thực, và vì đã đứng trên bước ngưỡng vọng, đâm ra cô thấy thế giới này thật đáng chán và không còn gì để sống: “Sống làm gì khi sẽ phải chết dần, chết mòn, ngày này qua ngày khác, trong khi vẫn biết rằng còn có một thế giới khác, một thế giới thực sự, rằng trong con người nàng vẫn sống một con người khác và con người ấy đang chết ngạt vì ngộ độc bởi cái thế giới đã làm cho mê mẩn tâm thần ấy”.

Phần đầu của tiểu thuyết có lẽ được Stefan Zweig kết thúc tại đây, bởi nhẽ, có viết thêm một điều gì nữa thì đó cũng là cái hiện thực tàn khốc, cái thật thà tái tê, không sao thay đổi được. Và cũng có thể chỉ từ khi làn sóng phát xít nhen nhóm thao túng toàn bộ châu Âu, chính sự kiện ấy khiến ông phải tránh sang Anh, và cũng từ đây thai nghén một nhân vật mới, Ferdinand. Một cách dễ nhận ra, ông dùng Ferdinand như chính một cách viết về bản thân, về những nỗi đau và cơn sốt thế hệ giày xéo lên mình. Nếu Christina chỉ nhận thấy những mất mát về mặt vật chất, về những công bằng mặt ngoài không trùng khớp nhau, thì Ferdinand lại đi sâu vào ngọn nguồn, về khoảng thời gian thanh niên đã mất, cuộc chiến đã mãi mang đi. Ở đó Ferdinand như một người tình cách mạng, khơi nên những nỗi đọa đầy của thời cuộc. Một mặt anh chấp nhận vì đó là những hiển nhiên, nhưng nhen nhóm ở  đó vẫn mãi là những bất lực bản thân, bởi cứ mỗi cố gắng nhô mình lên trên mặt nước hoàn cảnh, thì thời cuộc lại như thứ hắc ín đen ngòm trói chặt bước chân, kéo mãi con người xuống vực thẳm buồn sâu.

“Trong khi anh đang ngủ thì đổng tiền lại mất giá, trong khi anh đang thay đôi giày há mõm bằng đôi guốc gỗ để chạy vội ra cửa hàng thì nắm giấy bạc đã chẳng còn giá trị gì nữa, lúc nào cũng thấy người ta chạy ngược chạy xuôi, nhưng hình như chẳng kịp làm một việc gì”. Đó là hình ảnh của xã hội đương thời, là cuộc sống của những thanh niên dành cả quãng đời sôi nổi để quăng mình vào Thế chiến để rồi đau xót nhận ra đổi lại họ chẳng được thứ gì. Họ ước mơ, rồi tan biến. Họ khao khát, rồi tuyệt vọng. Họ trồi lên, nhưng đạp đổ. Tất cả kéo con người ta duy nhất vào một con đường, chết, vì sống làm gì nữa khi không còn gì có thể cứu vãn, khi cứ phải sống vật vờ như những bóng ma đợi ngày hành quyết. Như câu buông xuôi đầy bất lực của Ferdinand, rằng: “Không đâu, chúng ta đã đầu thai nhầm thế kỷ rồi”.

Bằng cuộc gặp gỡ tình cờ ở thành Vien, Christina và Ferdinand như tìm thấy nhau trong cơn khốn khổ. Một người vì những ảo danh làm cho mê mải, một người vì những khắc nghiệt đâm ra khinh thường, cả hai người họ sáp vào với nhau như cơn an ủi bản thân, như một cách sống qua ngày đoạn tháng. Cũng kể từ đây, Stefan Zweig chuyển từ công kích riêng một tầng lớp, sang cả xã hội đầy những nhiễu nhương. Ở đó là bộ máy nhà nước quan liêu, là chế độ mới vô cùng thực dụng, là những con người chấp nhận đầu hàng số phận vô cùng đáng khinh. Trong khi Stefan Zweig hay Ferdinand mãi luôn tìm một con đường vùng vẫy; thì nhà nước ấy, xã hội ấy, những người ấy, lại như chiếc tàu lướt êm đi vào chỗ chết: “Cô thử nghe mà xem, họ cười hô hố vẻ rất hài lòng, nhưng họ chỉ là những chiếc máy đang nghỉ ngơi ngày chủ nhật, những kẻ nô lệ làm mướn, không, cô cứ thử nghe mà xem, tiếng cười của họ ướt đẫm mồ hôi, sặc mùi mỡ béo và hoàn toàn bất hạnh”.

Ở đó xã hội làm bần cùng con người ta, biến họ thành tầng lớp thoái hóa, chôn chặt chính những chân rết xuống đáy xã hội. Họ vạ vật kêu van nhưng vô ích. Có ích gì đâu khi bầu không khí trùm kín đất nước đang dần thối rữa, khi cơn mưa hóa chất rơi xuống làm cháy tan tành tâm tính của mỗi người họ. Ở đó, mỗi một phản ứng diễn ra hòa vào làn sóng của những thối rửa, bốc mùi và ám vào da thịt cá thể. Như bộ phim Parasite, mỗi một người họ đều mang trong mình thứ mùi nghèo khổ, thứ mùi đọa đầy mà có thay đổi quần áo, phục sức nước hoa hay tắm gội hàng giờ cũng không gột sạch được. Vì đó là mùi hương của đất nước, của đói nghèo, của tuyệt vọng, của ngã quỵ, của chết gục: “Phải, sự nghèo đói ấy toát ra từ căn phòng nằm dưới tầng hầm, cửa mở sân sau; toát ra từ bộ quần áo không được thay đổi thường xuyên. Cái mùi ấy không thể đánh tan đi được […] Không có cách nào có thể thoát ra được, cho dù nó có được che đậy bằng chiếc mũ mới, cho dù suốt ngày có đánh rang cũng vậy – cái mùi ấy vẫn cứ bốc ra từ dạ dày”.

Chỉa mũi dùi sang một nhà nước đã quá tàn tạ, ta thấy một giọng văn hào sảng của Thomas Bernhard trong những phê phán đầy mỉa mai của Stefan Zweig: “Nhưng, bạn thân mến ạ, ở nước Áo của chúng ta mọi con đường đều cong cả”. Và đứng trước những hoàn cảnh ấy, còn lại gì ngoài cái chết vì nỗi ham thích tự do? Đến cuối, cả 2 con người họ yêu nhau, tìm đến tự do, khát khao hạnh phúc, bằng một cách hết sức thơ mộng, khẩu súng và cyanua. Như vận cuộc đời của mình vào trong tiểu thuyết, đến phút cuối đời, Stefan Zweig và người bạn gái của mình cũng chọn cái tự do như thế trong một căn phòng ở Brazil. Nhưng khác ở đây, như Erich Maria Remaque viết trong Bóng ở thiên đường: “Nếu trong buổi tối ấy ở Brazil, khi Stefan Zweig và vợ ông cùng tự vẫn, họ có thể trút bầu tâm sự với ai đó dù chỉ qua điện thoại thì thảm họa đã không xảy ra. Nhưng Zweig đã rơi vào cảnh tứ cố vô thân nơi đất khách quê người”, Christina và Ferdinand vẫn còn một con đường khác. Họ lấy lại những gì đã mất, những gì đáng lẽ từng thuộc về mình, những gì là của mình, nhất định của mình. Stefan Zweig viết trong thế đối đầu giữa lý trí vả tình cảm, giữa hình dung thực và cái ảo tưởng. Thế nhưng, ông đã không đủ can đảm để lèo lái cuộc đời mình như nhân vật chính ông đã viết ra, hoặc, ông dùng chính cái chết ấy, như cách ẩn dụ cho cái kết của tiểu thuyết này. Nói gì chăng nữa, chính số phận ông và Khát vọng đổi đời có một thứ gì đó gắn bó chặt chẽ, ông quyết định cuốn tiểu thuyết này, hay ngược lại, nó quyết định ông? Khó mà biết được, nhưng chắc một điều, cả ông và tiểu thuyết này đều là nô lệ của chính thời cuộc đang mang trên lưng.

“Nhà nước đã chỉ cho chúng ta thấy rằng chỉ trong vòng hai tuần lễ, toàn bộ số tiền của dành dụm suốt ba đời của một gia đình có thể biến thành những tờ giấy lộn […]. Thậm chí nếu như anh có giết một người nào đó, thì thử hỏi ai đã đẩy anh đến hành động ấy, ai đã huấn luyện anh để làm việc ấy? [..] Nếu chúng ta bắt buộc phải lường gạt thì ai là người chúng ta phải chịu ơn vì cái nghệ thuật ấy? Chính nhà nước – đó chính là ông thầy của chúng ta”. Những triết lý sau rốt của Stefan Zweig như lời hồi đáp mạnh bạo quăng vào thời cuộc, tương tự như Gabriel Garcia Marquez một lần từng viết trong Ngài đại tá chờ thư: “Hãy nói cho tôi nghe: trong lúc ấy chúng ta ăn bằng cái gì?’ – Ngài đại tá phải trải qua bảy mươi nhăm năm của cuộc đời ngài từng phút một để đi tới cái thời khắc nghiệt ngã này. Ngài cảm thấy nghiệt ngã, lâng lâng, kiêu ngạo khi trả lời: ‘Cứt’ “. Dù khác biệt những vùng địa lý hay khác xa những hệ tư tưởng, cả Marquez và Stefan Zweig cuối cùng cũng đã nói ra đúng thứ chủ chốt của một vấn đề, và với Khát vọng đổi đời, nó không còn đơn thuần là một khát vọng, mà nó chỉ cho ta thấy khát vọng có thể hủy hoại con người ta dữ dội đến mức độ nào, nó dìm họ xuống, không thể trồi lên.

Hết.

minh.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Sự bất tử

Published

on

Tôi mất một năm để dịch xong cuốn sách ấy và nhiều năm sau để tiếp tục suy nghĩ về từng thông điệp mình đã nhận được.

Thậm chí lúc gõ ra những từ này, tôi vẫn chưa thực sự hiểu anh, Louis. Và đó là khoảng cuối năm 2018. Sau 3 năm, có lẽ bây giờ tôi đã gần điểm chạm hơn một chút.

Ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice hiếm khi chết do tác động ngoại cảnh, mà thường là tự kết liễu. Họ tồn tại hàng trăm năm, chứng kiến thế giới lột áo mới hết lần này đến lần khác. Giá trị văn hoá cũ mai một, giá trị tư tưởng cũ bị cười cợt. Gia đình, bạn bè lần lượt qua đời và sau đó là cả một thời đại xuống mồ. Những cỗ xe ngựa bị ô tô thay thế; đèn khí biến mất và đèn cao áp xuất hiện; những toà nhà lai tạp kiến trúc Pháp, Tây Ban Nha và Mỹ mọc lên trên khắp nẻo đường New Orleans.

Ma cà rồng trở thành những linh hồn già cỗi và thủ cựu, đầu óc chai sần vì phải nếm trải quá nhiều sự tàn độc từ chính mình lẫn loài người. Tình yêu nói riêng, cảm xúc nói chung đều chẳng có nghĩa lý gì cả. Con người không bất tử. Và cũng chẳng ma cà rồng nào chịu đựng được đồng loại cho đến ngày tàn của vũ trụ.

Tranh Vanitas Still Life with a Tulip, Skull and Hour-Glass của Champaigne, Philippe de

Tại sao phải hiểu cho nhau nếu ta còn hàng trăm ngàn năm để nhìn vào mâu thuẫn? Nếu không có sự chết thì lòng vị tha hay đạo đức đều chỉ là triết lý giẻ rách. Chẳng có gì là hiện sinh hay vị lai trong cuộc đời vô tận. Mọi giá trị vật chất chỉ là nắm đất mớ cát bởi không có khao khát hay dục vọng nào để trao đổi. Kiến thức tích lũy vài thế kỷ cũng là đồ bỏ khi mất đi mục đích sống. Ở đó, chỉ còn hư vô.

Có một tác giả cho rằng, mọi ma cà rồng đều tồn tại với tư tưởng của Friedrich Nietzsche, bởi vì họ bất tử và họ muốn trở nên bất bại. Nhưng tôi không đồng ý. Có thể ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice tồn tại với tư tưởng Nietzsche thật, nhưng đó là vì: “One has to take a somewhat bold and dangerous line with this existence: especially as, whatever happens, we are bound to lose it.” – (Nietzsche viết trong Untimely Meditations)

Sự sống đáng giá là bởi chúng ta có thể mất nó, bất cứ khi nào. Trong sự bất tử không có yếu tố then chốt này.

Vậy nên kết cục cho họ luôn luôn là như thế – như ma cà rồng Armand từ từ tiến về phía dòng sông và biến mất tựa phù du. Sự bất tử là hình phạt nặng nề nhất, bởi món quà đính kèm chính là trạng thái hữu tri vô giác, chỉ còn lại đúng một nỗi cô độc khủng khiếp như hố đen nuốt chửng những sinh vật này cho đến lúc lụi tàn.

Tôi đã lần hồi dò lại trong mỗi chương tiểu thuyết mình từng đi qua để chạm được vào tiềm thức của anh, Louis. Và chặng đường ấy diễn ra như thế này.

“Những người từng đến với New Orleans đều để lại nơi đây dấu ấn khó phai nhòa. Một số công trình kiến trúc bằng gạch, đá và cẩm thạch của thành phố xưa vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Ngay cả khi những ngọn đèn khí bị đèn điện thay thế, những chiếc máy bay xuất hiện và những tòa nhà chọc trời mọc lên chật kín đường Canal, vẻ đẹp một thời vang bóng của New Orleans vẫn còn đó. Tất nhiên, không phải con đường nào cũng còn dấu ấn cổ xưa. Nhưng đối với ta, mảnh đất đó luôn là New Orleans của trăm năm về trước. Mỗi lần dạo bước trên những con đường đêm đầy ánh sao của Quận Garden, ta lại thấy như thời gian chưa bao giờ trôi đi. Có lẽ đó là bản chất của cái gọi là di tích. Những dấu ấn để lại, bất kể chỉ là một ngôi nhà nhỏ hay một tòa lâu đài với những cột trụ Corinth khổng lồ và những mảng hoa văn tinh tế bằng sắt rèn, đều có thể khiến chúng ta có cảm giác như quá khứ vẫn đang tiếp tục chảy trôi trong thì hiện tại. Mặt trăng hôm nay vẫn rọi sáng bầu trời New Orleans như mặt trăng năm xưa. Chỉ cần những dấu tích đừng biến mất thì cảm xúc trong ta sẽ không thay đổi.”

2

"Ta sẽ đặt cuốn sách xuống và nhìn ra ngoài cửa sổ, cảm nhận từng nhịp đẩy đưa của đại dương, ngắm muôn vì tinh tú sáng rõ hơn trên đất liền nhiều lần đang sà xuống để chạm lên những con sóng. Khi ta đang ngồi một mình trong cabin tăm tối, dường như bầu trời đã hạ xuống để gặp đại dương và những bí mật lớn đã được tiết lộ trong cuộc hội ngộ đó, những hố sâu thăm thẳm sẽ vĩnh viễn khép lại một cách diệu kỳ. Nhưng khi trời và biển vẫn chưa phân biệt rạch ròi, cũng như khi trần gian còn trong thuở hỗn mang, ai đã tiết lộ bí mật vĩ đại đó? Chúa ư? Hay là Satan? Ta bỗng nghĩ đến niềm an ủi vĩ đại khi được gặp Satan, được nhìn thẳng lên khuôn mặt ngài, không cần biết khuôn mặt đó kinh dị tới mức nào. Nếu được biết mình hoàn toàn thuộc về ngài, ta sẽ được an ủi và giải thoát khỏi nỗi thống khổ vì sự ngu dốt của bản thân. Rồi ta có thể vén lên những bức màn đã chia cắt ta vĩnh viễn với cái gọi là nhân loại.

Ta cảm thấy con tàu đang tiến đến ngày một gần với bí mật đó. Bầu trời dường như không có điểm kết thúc, nó bao trùm lấy ta bằng vẻ đẹp huy hoàng và sự tĩnh lặng không cùng. Nhưng từ giải thoát nhanh chóng biến thành cơn ác mộng trong ta. Bởi làm gì có sự giải thoát nào cho kẻ đã bị nguyền rủa vĩnh viễn, làm gì có sự giải thoát nào. Ta tự hỏi nỗi đau khổ này có thể so sánh với những ngọn lửa vĩnh cửu của địa ngục hay không? Những con sóng cuồn cuộn dưới muôn vì tinh tú vĩnh hằng kia thì liên quan gì tới Satan? Khi chúng ta còn thơ dại, cảnh tượng hùng vĩ ấy chẳng có nghĩa lý gì bởi chúng ta còn đang mải mê vật lộn với những khát vọng cuồng điên khác. Khi ấy, chúng ta hiếm khi coi sự bình yên là điều đáng mơ ước: những thiên thần tối cao vĩnh viễn ngước nhìn lên khuôn mặt Chúa Trời và vẻ mặt ngài vĩnh viễn thanh thản. Trong quyền năng của ngài, chiếc nôi đại dương dịu dàng này chẳng qua chỉ là một lời hứa nhỏ nhoi mà thôi.

Nhưng ngay cả trong giây phút này, khi con tàu đang ngủ và cả trần gian đều đang say ngủ, những nghĩ suy về thiên đàng và địa ngục không còn là nỗi đọa đày của ta nữa. Nó đã trở thành hiểu biết, thành niềm tin, cả hai điều đó hoặc chỉ một trong hai thôi… có lẽ là sự cứu chuộc duy nhất mà ta dám mơ ước."

3

“Tôi không biết là một đứa con lại có quyền giải phóng cho cha mẹ nó. Tôi không biết là mình có thể không gắn bó với cô bé nữa, cho đến chừng nào… Ta ngừng lời. Ta đã định nói: Cho đến chừng nào cô bé vẫn còn sống trên đời. Nhưng ta nhận ra đó là một tuyên bố phàm tục vô nghĩa. Cô bé sẽ sống vĩnh viễn, cũng như ta vậy. Nhưng chẳng phải bất kỳ người cha nào trên đời này cũng phải trải nghiệm điều đó sao? Con gái họ sẽ sống vĩnh viễn vì họ sẽ là người chết trước. Đột nhiên ta bị mất phương hướng."

“‘Claudia là cả một thời đại đối với anh, một thời đại của cuộc đời anh. Nếu anh rời xa cô bé, anh sẽ rời xa người duy nhất còn sống đã cùng anh bước qua thời đại đó. Anh sẽ hoảng sợ trước sự cô độc, gánh nặng và phạm vi không thể đo đếm được của cuộc sống vĩnh hằng.’

‘Đúng, đó là sự thật, nhưng đó chỉ là một phần nhỏ của lý do mà thôi. Thời đại – điều này vốn không nghĩa lý gì lắm với tôi. Quả thực Claudia đã mang lại cho nó những ý nghĩa nhất định. Nhưng những ma cà rồng khác cũng đã trải nghiệm và sống sót qua quãng thời gian kéo dài hàng trăm thời đại đó rồi.

Nhưng họ không hề sống sót,’ Armand nói. ‘Thế giới này sẽ tràn ngập ma cà rồng nếu họ thực sự sống sót được. Anh nghĩ bằng cách nào mà tôi đã trở thành ma cà rồng già nhất ở đây cũng như trên khắp thế gian này?’

Ta ngẫm nghĩ về điều đó rồi đánh bạo nói, ‘Những ma cà rồng khác đã bị giết?’

‘Không, gần như là không bao giờ. Việc đó không cần thiết. Anh nghĩ có bao nhiêu ma cà rồng đủ sức chịu đựng sự bất tử? Không sớm thì muộn, họ sẽ bắt đầu có những ý niệm ảm đạm về cái giá phải trả cho cuộc sống vĩnh hằng. Trên con đường bất tử, họ muốn mọi thứ cũ trong đời họ vẫn phải được bảo toàn và không thể bị hủ hóa: những cỗ xe ngựa phải có thiết kế mà họ tin cậy, quần áo phải được cắt đo theo đúng tiêu chuẩn xưa cũ của họ, những người đàn ông phải ăn mặc cũng như trò chuyện theo đúng kiểu cách mà họ vẫn luôn hiểu và kính trọng. Khi mà, trên thực tế, mọi thứ đều thay đổi thì chỉ có ma cà rồng là vẫn như cũ. Mọi thứ đều thay đổi, chỉ có ma cà rồng là thực thể duy nhất vẫn mãi mục nát và méo mó. Chẳng mấy chốc, với một tâm trí không linh hoạt và kể cả với tâm trí linh hoạt nhất, sự bất tử này sẽ trở thành hình phạt ăn năn trong nhà thương điên của những hình hài vô cùng khó hiểu và vô giá trị. Trong đêm, một ma cà rồng sẽ thức dậy và nhận ra điều mình đã khiếp sợ có lẽ là trong hàng thập kỷ qua là gì. Hắn đơn giản là không cần cuộc sống này nữa, dù là với bất kỳ cái giá nào. Mọi nét đặc trưng, kiểu cách và dáng hình đã từng khiến sự bất tử hấp dẫn trong mắt hắn đều sẽ bị quét sạch khỏi mặt đất. Và không còn gì ở lại để giúp hắn thoát được khỏi cảm giác tuyệt vọng ngoài trừ việc giết chóc. Và ma cà rồng đó sẽ chết. Không ai sẽ đi tìm hài cốt của hắn. Không ai biết được hắn đã đi đâu. Và thường thì cũng không còn ai bên cạnh hắn – lẽ ra hắn vẫn nên tìm kiếm trong số các ma cà rồng khác một bạn đồng hành. Không ai biết được là hắn đang chìm trong tuyệt vọng. Hắn đã chấm dứt việc nói từ rất lâu rồi, cho dù là về bản thân hắn hay về bất cứ ai. Hắn sẽ biến mất.'”

Vậy mà sau câu chuyện rất dài, rất u tối, rất chi tiết (thậm chí quá chi tiết) của anh, khẩn cầu duy nhất của tay phóng viên vẫn là: “Xin hãy cho tôi một cơ hội trở thành ma cà rồng.”

Thật đáng buồn phải không, Louis?

Hải Âu

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đôi mắt trũng sâu và những tiên đoán kỳ lạ

Published

on

By

Trước khi Stephen King được khai thác bản quyền ồ ạt như hiện nay, thì một trong những “tiểu thuyết gia ly kỳ nổi tiếng” nổi tiếng nhất ở Việt Nam không ai khác ngoài Dean Koontz. Với hàng loạt tựa sách từ trinh thám đến kinh dị, dù là phái sinh từ cốt truyện có sẵn như Frankenstein hay tác phẩm hư cấu hoàn toàn mới, Koontz đều tạo nên dấu ấn bởi cốt truyện mới lạ, thu hút. Trong đó Đôi mắt trũng sâu gần đây được giới đọc sách quan tâm trở lại bởi có tính tiên tri kỳ lạ. 

Tiểu thuyết là câu chuyện xoay quanh hành trình tìm con của Tina Evans khi cô nhận được những dấu hiệu kì lạ. Đó là tấm bảng đề hai chữ CHƯA CHẾT, những giấc mơ bí ẩn, hay sự chuyển động đột ngột của các luồng khí… mà tất cả đều quy về Danny – con trai cô – vốn đã qua đời với thể xác biến dạng đến nỗi không còn nhận diện được trong lần thực hiện chuyến điền dã nơi vùng núi sâu. Đứng trước những hiện tượng có phần “siêu nhiên”, Tina tin vào bản năng người mẹ và tìm cách giải cứu cậu bé, nhưng cô không bao giờ ngờ tới việc đang vướng vào một hệ thống rộng lớn hơn với các âm mưu quyền lực quốc tế.

Như Dean Koontz thừa nhận, Đôi mắt trũng sâu là một phép thử khi ông pha trộn nhiều thể loại trong tiểu thuyết: hành động, hồi hộp, lãng mạn và đôi chút huyền bí. Do đó, phần lớn nội dung tác phẩm không có tính dữ dội bùng phát, cũng không đủ thời lượng khắc họa chiều sâu; thêm nữa là sự phức tạp trong chủ đề đã được tối giản cũng như độ căng đã được nới lỏng. Tuy nhiên, chính những yếu tố đó lại khiến cuốn sách này không chỉ là một tác phẩm trinh thám – kinh dị thông thường khi khai thác được rất nhiều góc khuất, từ sự mất mát cá nhân cho đến lớn hơn là các vấn đề địa chính trị thế giới.

Tác phẩm có kết cấu như tàu lượn siêu tốc khi Koontz rất tập trung khai thác hạ tầng cơ sở. Thay vì viết theo kiểu “dọa ma” thông thường, ông cố gắng làm rõ chi tiết để tác phẩm có giá trị, không rẻ tiền, mà ngược lại vô cùng hợp lý. Đó là cách khai thác tâm lý tế vi, qua những mô tả về cơn sang chấn hậu tang lễ mà Tina gặp phải, song song với mặc cảm tội lỗi là nỗi cay đắng cùng quyết tâm dứt khoát muốn quên đi quá khứ đau buồn. Thế nhưng, cái chấp niệm Danny còn sống luôn dày vò cô, một biểu hiện cụ thể là việc thường xuyên nhìn thấy hình ảnh cậu bé trong những khuôn mặt khác. Koontz cũng đồng thời khắc họa bi kịch gia đình – vốn là nguồn cơn cũng như áp lực đổ hết lên đầu phụ nữ.      

Dean Koontz | Ảnh: Rick Loomis

Tính lãng mạn cũng được tác giả khai thác khéo léo, khi xây dựng thân phận cựu điệp viên cho Elliot, hình tượng này gợi nhớ nhiều đến loạt truyện James Bond của Ian Fleming. Vẫn là motif người đàn ông hào hoa và mối tình cùng những giai nhân; kèm theo đó là các pha hành động kịch tích kích thích adrenaline – để làm được điều này, Koontz tạo ra một thế lực đối đầu có phần “biến thái” cùng hai con người đấu tranh cho chính nghĩa.

Trên hành trình cứu thoát Danny, hai người phát hiện ra Thảm kịch Sierra mà Danny vướng vào thực ra có nguồn cơn từ một dự án tên là Pandora – chính tên gọi này đã cho thấy tính bí mật của dự án với mạng lưới bảo vệ vô hình, các lực lượng ẩn danh được mô tả như những tổ chức nguy hiểm, quyền lực, vô pháp vô thiên. Từ thực tế này, Koontz đã xây dựng các thuyết âm mưu có tính tiên đoán, nhưng lạ thay lại trùng khớp với những vấn đề hiện nay.

Đó là vấn nạn tham nhũng trong bộ máy quyền lực khi chính phủ nuôi sống mạng lưới có phần “vô hình” chỉ để tư lợi. Việc này được thực hiện thông qua các cuộc dàn xếp bầu cử địa phương, với tài chính và các thế lực chính trị ủng hộ đằng sau. Hiện thực này không quá xa lạ, khi gần đây ta chứng kiến một nước Mỹ chia rẽ trong hai cuộc bầu cử liên tiếp. Đặc biệt hơn là những vấn đề chạy đua quyền lực cùng phát triển vũ khí sinh học. Loại virus cuối cùng mà Elliot cũng như Tina tìm được trùng hợp thay lại tên là Wuhan-400, có phần tương đồng với virus Corona.

Thế nhưng chính trong những giấc mơ hoang đường của tiến sĩ Tamaguchi, Koontz cũng gửi gắm một vài thông điệp nhân văn qua hình ảnh những kẻ hoang tưởng vĩ đại sản sinh ra sự bất tử và những công trình vĩ đại. Trong tập truyện Ngày mười tháng mười hai, George Saunders cũng có truyện ngắn Thoát khỏi đầu nhện, viết về chất hóa học VerbaluceTM có tác dụng chiếm hữu tâm trí – từ đó gây ra những tội ác không thể dung thứ. Hay Frank Herbert trong Xứ Cát cũng có Hương dược, và chẳng phải chính vì những thứ đó mà con người quay ra đối đầu với nhau?

*

Đôi mắt trũng sâu có thể nói là một tác phẩm mới lạ, thú vị. Do được kết cấu theo kiểu “tàu lượn siêu tốc” nên phần khởi đầu có đôi chút chậm chạp, thế nhưng khi vượt qua được đỉnh dốc ấy thì những pha hành động sẽ làm ta thót tim. Một lần nữa, tác phẩm này lại củng cố vị trí của một trong những nhà văn viết truyện ly kỳ nổi tiếng nhất nước Mỹ.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trò chuyện trong quán La Catedral: Một Peru hỗn mang

Published

on

By

Văn chương Mỹ Latin nổi tiếng với truyền thống tái hiện lịch sử qua cuộc đời của các gia tộc. Từ Trăm năm cô đơn, Ngôi nhà của những hồn ma cho đến Bình địa trên lửa hay Pedro Páramo… ta thấy lẩn khuất đằng sau những thủ pháp cách tân nghệ thuật (kì ảo) đều là một hiện thực sống động có phần chua cay, với giới địa chủ, độc tài – thông qua góc nhìn của những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội.

Nhà văn Peru đoạt giải Nobel Văn chương 2010, Mario Vargas Llosa cũng không nằm ngoài truyền thống này. Việc tái bản gần đây hai kiệt tác được in hơn một thập kỉ trước – Trò chuyện trong quán La CatedralThành phố và Lũ chó – đã cho thấy sức hút của ông với độc giả trong nước. Kết hợp được sự đa dạng của phong cách thể hiện cùng những cải tiến mới mẻ trong phong cách viết có thể được xem là lý do chính khiến các tác phẩm của Llosa thu hút độc giả.

Bằng việc cắt gọt các đoạn đối thoại, tình tiết, bối cảnh… Llosa đã cung cấp góc nhìn đơn tuyến nhưng toàn vẹn của một sự thật đa chiều. Có chủ trương thay đổi về cách trần thuật trong suốt 5 phần với hơn 600 trang sách, người đọc sống cùng một Peru biến động cùng những người con của nó, quằn quại và nhiều dằn xé.

Câu chuyện kể về nhân vật Santiago – con trai giữa của dòng họ Zavalita, có cha là người làm việc cho chính phủ độc tài Odría. Ngay từ lúc nhỏ anh đã là “con cừu đen” của gia đình, khi luôn có những ý kiến khác lạ lệch ngoài chuẩn mực. Tiểu thuyết đi suốt cuộc đời anh, từ thơ ấu, đến trưởng thành rồi sau này là “sản phẩm thải loại”, thông qua cuộc nói chuyện trong quán La Catedral với Ambrosio – người lái xe cho cha anh. Từ đó các bí mật được tiết lộ, những sự thật được phơi bày, càng làm rõ hơn một mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” hơn bao giờ hết.

Nội dung dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Trò chuyện trong quán La Catedral.

Mảnh đất lắm người nhiều ma

Nếu Juan Rulfo là người phơi bày rõ ràng tội ác của tầng lớp địa chủ, thì có thể nói Llosa là người cho thấy lịch sử hiện đại của Peru – với sự xúi giục của Mỹ ở sân sau – một chế độ độc tài cũng như những mầm mống chính trị nảy sinh trong suốt quá trình hình thành lịch sử hiện đại, từ chủ nghĩa quân phiệt, chế độ độc tài cho đến chủ nghĩa xã hội và những tư tưởng cấp tiến khác.

Lịch sử đó một mặt được bộc lộ qua nhân vật Santiago và quá trình rời nhà vượt thoát của anh. Luôn chống đối cha mình bởi ông là người kiếm tiền từ chế độ độc tài, Santiago và những người bạn đại học sớm theo Cahuide để kết hợp chi bộ Đại học và chi bộ Công nhân. Thế nhưng anh chưa bao giờ cảm nhận được hoàn toàn mình thuộc về nơi đâu. Chính sự bất định trong tư tưởng của anh cũng ngầm chỉ ra thế chênh vênh của một đất nước đầy hỗn loạn của các nền tư tưởng, mà như một câu thoại trong đây: “Nếu đánh mất sự nản lòng, chỉ cần mở bất cứ tờ báo Peru nào rồi bạn sẽ có lại cảm giác ấy”.

Được cai trị bởi một viên tướng thối tha, ăn cắp và bất lực, Llosa một lần nữa “giấu nhẹm” tổng thống, để cho thấy rằng đó chỉ là một cá nhân bù nhìn, không chủ kiến và hầu như vắng mặt trong suốt tiểu thuyết. Thay vào đó Llosa tập trung hướng vào viên tướng Bermundéz – vị giám đốc công an được đề cử nhanh cấp tốc, với những trò ham thú quyền lực. Ở nhân vật này, người đọc có thể thấy được mẫu hình chung của những tên độc tài đương thời như thể Diaz mà Alejo Carpentier từng thể hiện. Y ta nham hiểm, xấu xí và đầy mưu lược, từng bước từng bước trả thù, ăn miếng trả miếng để nhằm giữ vững chiếc ghế của mình. Mưu toan chồng chất lên nhau, trong đất nước đang dần rệu rã giờ đây chỉ còn những tấn trò hề.

Mario Vargas Llosa | Ảnh: Quim Llenas

Từ việc cảnh sát đàn áp các nhóm thanh niên nghiên cứu chủ nghĩa Marx cho đến các phong trào chống đối Odría; từ việc liên minh của các chính trị gia nhằm hất cẳng Bermundéz cho đến hành động hối lộ ám vào máu thịt… Llosa đã tái hiện một cách chung nhất mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” nơi quê hương ông, mà trong thực tế với cuốn Thành phố và Lũ chó, ông cũng từng bị đuổi khỏi đất nước về sự nói thẳng và nói thực của mình.

Những cách tân nghệ thuật

Cấu tạo 5 phần như vở bi kịch năm hồi thường thấy, Llosa thay đổi phong cách viết ở từng phần một, từ liên tục trong một mạch kể duy nhất cho đến cắt rời câu chuyện, tiếp theo đó là những dòng suy tư dài cũng như những đoạn đối thoại nâng kịch tích không ngơi nghỉ. Tiểu thuyết dâng đến cao trào ở phần thứ 5 như hơi thở thở ra bất lực, của những sự thực được nói ra, của bí mật đã thôi kềm giữ. Bốn phần trước ông đều gài cắm những bi kịch riêng trên nền một câu chuyện lớn, để dần dần xâm chiếm và là cú bùng nổ cảm xúc cần thiết cuối cùng.

Sử dụng mạng lưới nhân vật chằng chịt là những cá thể xung quanh nhân vật chính Santiago, Llosa khai thác một cách hiệu quả các mối quan hệ xã hội, để không phân nhỏ vào mối quan hệ huyết thống, mà từ đó ta thấy được sự bất hạnh có thể đổ ập xuống đầu của bất kì ai trong bất kì lúc nào. Từ nàng Amalia mang bi kịch như trong Quán rượu của Zola cho đến Trinidad bị thẩm vấn dã man cuối cùng gục chết ở một góc phố. Từ thiếu phụ làng chơi – Nàng Thơ Hortensia cho đến Ambrosio – con người sống động duy nhất, vẫn giữ được nhân tính trong bầu không khí độc hại của quyền lực, mưu toan, tiền bạc và sau rốt là đánh mất nhân đạo.

Llosa tạo ra một trường phái riêng cho mình, khi ông cắt rời những câu đối thoại, bối cảnh… riêng lẻ để gom chúng vào một vision board, từ đó gợi lên nguyên nhân – kết quả, đôi khi là bổ sung góc nhìn, mà cũng có khi là gợi nên một sự hoang mang nhất định. Sự cắt rời này vừa là manh mối nhưng cũng là một ý nghĩa bâng quơ xẹt qua người đọc, nó nằm ở đó để đay nghiến rốt cuộc điều gì xảy ra, hay ai đang nói? Để rồi họ mang theo nó đến suốt hành trình, không dễ dàng để tìm ra hay chỉ ghép nối được ở phía sau cuối.

Sự tách rời ấy như biện pháp đảm bảo tính xác thực của Llosa. Chi tiết những cuộc biểu tình không chỉ đến riêng từ phía Don Cayo Bermúndez – người chuẩn bị bị hất cẳng, mà còn từ phía liên minh của những người gây ra xung đột. Cũng tương tự với câu chuyện của Amalia, của Trinidad, của Queta hay Ambrosio. Llosa ẩn thân hầu hết trong tiểu thuyết này, ông không cho cảm giác độc giả đang bị dắt mũi hay nhìn bó hẹp theo bản thân tác giả, mà với sự đa chiều trong cách khai thác sự thật, những gì ông viết ra có thể đánh lừa bất cứ ai e dè, có thể vẫn xuất phát từ ngòi bút tác giả, nhưng toàn vẹn và bao trùm.

Hình tượng xuyên suốt về một cơn nhộn nhạo dạ dày, là con rắn, là nhát dao hay là con sâu cũng lẩn khuất xuyên suốt tác phẩm. Mọi nhân vật đứng trước bi kịch đời mình đều cảm thấy tình trạng ấy, của nỗi sợ chết, của cuộc đời hoang đàng và của hậu kiếp đang chờ sau đó. Sự hội tụ này cho thấy Llosa quy tụ nhân vật về các nút thắt, để cho thấy rằng chúng đều bắt nguồn từ chính một lịch sử biến động của Peru, nơi họ sống, thở từng giây phút một của sự đàng điếm, xa hoa, và giờ đây rồi sẽ mục rữa và sụp đổ.

*

Trò chuyện trong quán La Catedral có thể thách thức bất cứ người đọc nóng vội nào. Bằng thời lượng lớn cũng như phong cách viết đặc biệt, Llosa đã khơi gợi lịch sử biến động của dải đất châu Mỹ, vừa đớn hèn mà cũng đau thương không thể khác được. Với tác phẩm lớn này, ông để lại dấu ấn cá nhân nhưng cũng phân tích một cách sâu sắc cấu trúc quyền lực cũng như thân phận nhỏ nhoi của những nạn nhân trong thời cuồng loạn. Mới mẻ và đầy đặc sắc.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Cafe sáng