Phía sau trang sách

Khát vọng đổi đời: Kết quả của tưởng tượng hay là dự báo tương lai

Published

on

Stefan Zweig – nhà văn nổi tiếng người Áo, từ trước đến nay luôn được biết đến là một tác gia có sự phân tích tâm lý nhân vật sâu sắc ở mảng truyện ngắn. Người ta biết nhiều đến ông qua hai tác phẩm tiêu biểu: 24 giờ trong đời người đàn bàBức thư của người đàn bà không quen; thế nhưng, không chỉ ở mảng truyện ngắn, với tiểu thuyết mặc cho một số lượng khiêm tốn (chỉ hai tác phẩm cho đến khi cơn bĩ cực trào đến) Stefan Zweig cũng kịp ghi tên mình vào danh sách những tác gia viết tiếng Đức có ảnh hưởng vô cùng lớn đến thế hệ người đọc, bên cạnh những Thomas Mann, Frank Kafka hay Thomas Bernhard,… Khát vọng đổi đời là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, được xuất bản sau 40 năm từ khi cái chết ngỡ ngàng ập đến, nhưng dư âm của nó vẫn mãi còn đó, thâm nhập len lỏi vào từng ngóc ngách đời sống, trở thành những giá trị tuy không mới nhưng chưa bao giờ cũ.

Khát vọng đổi đời là một cuốn tiểu thuyết lạ, bởi nhẽ, nó được viết ngắt quãng hai phần. Phần đầu, cuộc đời chính của nhân vật Christina Hoflehner, như một vở kịch dang dở phê phán thế giới phù hoa, nơi mọi chân giá trị bị đảo ngược. Thế nhưng sau khi câu chuyện phôi thai thành hình, Stefan Zweig lại gác bút để đó, vì như ông chia sẻ trong những bức thư còn lại “tôi rơi vào một vực thẳm sâu hoắm không sao vượt qua nổi”. Và chính sự trỗi dậy của đế chế thứ 3 khi dáng hình Hitler bao trùm lên toàn thể châu Âu, đã như cú thúc vào trong tâm trí khiến cây bút lại một lần nữa phải được cầm lên. Phần sau, trong nỗi ngậm ngùi thế nhưng lại can đảm nhất, thật thà nhất và cũng đau đớn nhất; được ông viết sau khi đã lưu vong sang London. Ở đó Ferdinand được ông xây dựng như hình tượng chính mình: một con người đã mất tất cả: quê hương, xứ sở, nguồn gốc, tên tuổi, … Tựa Sylvia Path hay Szabo Magda khi dùng thế giới quan cá nhân để viết nên Quả chuông ác mộng hay Cánh cửa, Stefan Zweig ở đây cũng bằng một sự dũng cảm tự thân khoét sâu vào nỗi đau mình, hy sinh một phần thân thể để viết nên cái vết thương đã mưng mủ của rất nhiều người mà chỉ sau một đêm cơn bão thời cuộc đã quét sạch gọn ghẽ chính họ ra khỏi mảnh sân của mình.

Nửa đầu tiểu thuyết, ông tập trung viết về thói phù phiếm của những tên đạo đức giả hưởng lợi từ cuộc chiến. Được viết vào những năm 30 khi Thế chiến thứ nhất vừa mới đi qua, trong một khung cảnh nghèo nàn của Áo thời hậu chiến, có lẽ, đói nghèo là thứ tác động nhiều đến ông bên cạnh đất nước đang từ từ đứng dậy sau cơn suy kiệt. Ở đó, Christina Hoflehner sống vật vờ như được lập trình sẵn, sở hữu trong mình cơ may khi nhờ quan hệ của ông bác mà kiếm được việc làm ở bưu điện, tuy công việc nhàm chán nhưng ít ra mỗi tháng vẫn kiếm được vài siling để gom góp vào khoản tiền lo cho người mẹ nằm liệt giường. Thế nhưng, thứ công việc ấy cũng chật vật như chính bữa ăn ngày có ngày không ở vùng nông thôn hẻo lánh. Vật vờ như một cái bóng từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa, rồi từ 2 giờ trưa đến 6 giờ chiều; cuộc sống của cô vẫn cứ lặp đi lặp lại đều đều như thế. Cho đến một ngày, cô được một người họ hàng mời đến chơi như cách nối lại sợi dậy ruột rà từ lâu đã đứt, và cũng chính từ đây, cô được biết thế giới thực chất là như thế nào, đáng sống ra thể làm sao.

Ở khu nghỉ dưỡng trên núi cao thuộc vùng Thụy Sỹ ấy, Christina lần đầu tiên biết thế nào là đáng sống. Ở đó cô được gặp bè lũ những người làm giàu từ cuộc chiến: có người Mỹ giàu lên nhờ buôn vũ khí, có người Pháp bỗng dưng phất lên chỉ sau một đợt đầu cơ. Ở đó cô cũng chứng kiến những cuộc vũ hội hăng say, hay khoản tiền cá cược chỉ sau 10 phút là lấy được trong khi cô phải mài lưng 4 tháng trong chính vương quốc bé tí là bưu điện của mình. Christina cũng là con người, cô ào vào thế giới ấy nhanh chóng, tận hưởng từng giây từng phút những khoảnh khắc ấy, và bỏ quên đi con người của mình ở nước Áo xa xôi cách đấy 2 lần đổi tàu. Bằng những so sánh giữa hai thế giới tưởng như không giao nhau, Stefan Zweig một cách tài tình bóc trần cái nghèo của đất nước mình, đất nước của những con người thèm thuồng. Như những bi kịch trong Đỏ và đen hay Chỉ ngu ngơ mới biết cười, thói phù hoa ở đây cũng khiến con người ta thức tỉnh, và sự thức tỉnh ấy đã không đến muộn.

Không chỉ khắc họa thói đạo đức giả của những con người ngoại quốc, Stefan Zweig cũng đồng thời khéo léo phơi trần bộ mặt của những người-con-ưu-tú của đất nước mình, mà dì Clare của Christina là một ví dụ. Sợ quá khứ trác táng của mình lại một lần nữa được đào bới lên, con người ấy nhẫn tâm cắt đứt mọi mối quan hệ. Christina từ một bình minh thiên đường bị đẩy xuống bóng tối địa ngục, như thể: “Tâm hồn tan nát, nàng chỉ cảm thấy rằng người ta đã cướp đoạt mất của nàng một cái gì đó, rằng đang từ một cô gái hạnh phúc, được niềm vui chắp cánh nàng phải trở lại thành con sâu mù lòa bò trên mặt đất”. Cũng chính từ đó, nàng trở nên khinh bỉ cái thế giới giả tạo ấy, thế giới không thật ấy. Nhưng biết làm sao, khi đó lại là một sang chấn tâm lý quá lớn. Một lần nhìn thấy để rồi nhớ nhung cả đời, Christina mang theo giấc mộng vương giả ấy vào tận đời thực, và vì đã đứng trên bước ngưỡng vọng, đâm ra cô thấy thế giới này thật đáng chán và không còn gì để sống: “Sống làm gì khi sẽ phải chết dần, chết mòn, ngày này qua ngày khác, trong khi vẫn biết rằng còn có một thế giới khác, một thế giới thực sự, rằng trong con người nàng vẫn sống một con người khác và con người ấy đang chết ngạt vì ngộ độc bởi cái thế giới đã làm cho mê mẩn tâm thần ấy”.

Phần đầu của tiểu thuyết có lẽ được Stefan Zweig kết thúc tại đây, bởi nhẽ, có viết thêm một điều gì nữa thì đó cũng là cái hiện thực tàn khốc, cái thật thà tái tê, không sao thay đổi được. Và cũng có thể chỉ từ khi làn sóng phát xít nhen nhóm thao túng toàn bộ châu Âu, chính sự kiện ấy khiến ông phải tránh sang Anh, và cũng từ đây thai nghén một nhân vật mới, Ferdinand. Một cách dễ nhận ra, ông dùng Ferdinand như chính một cách viết về bản thân, về những nỗi đau và cơn sốt thế hệ giày xéo lên mình. Nếu Christina chỉ nhận thấy những mất mát về mặt vật chất, về những công bằng mặt ngoài không trùng khớp nhau, thì Ferdinand lại đi sâu vào ngọn nguồn, về khoảng thời gian thanh niên đã mất, cuộc chiến đã mãi mang đi. Ở đó Ferdinand như một người tình cách mạng, khơi nên những nỗi đọa đầy của thời cuộc. Một mặt anh chấp nhận vì đó là những hiển nhiên, nhưng nhen nhóm ở  đó vẫn mãi là những bất lực bản thân, bởi cứ mỗi cố gắng nhô mình lên trên mặt nước hoàn cảnh, thì thời cuộc lại như thứ hắc ín đen ngòm trói chặt bước chân, kéo mãi con người xuống vực thẳm buồn sâu.

“Trong khi anh đang ngủ thì đổng tiền lại mất giá, trong khi anh đang thay đôi giày há mõm bằng đôi guốc gỗ để chạy vội ra cửa hàng thì nắm giấy bạc đã chẳng còn giá trị gì nữa, lúc nào cũng thấy người ta chạy ngược chạy xuôi, nhưng hình như chẳng kịp làm một việc gì”. Đó là hình ảnh của xã hội đương thời, là cuộc sống của những thanh niên dành cả quãng đời sôi nổi để quăng mình vào Thế chiến để rồi đau xót nhận ra đổi lại họ chẳng được thứ gì. Họ ước mơ, rồi tan biến. Họ khao khát, rồi tuyệt vọng. Họ trồi lên, nhưng đạp đổ. Tất cả kéo con người ta duy nhất vào một con đường, chết, vì sống làm gì nữa khi không còn gì có thể cứu vãn, khi cứ phải sống vật vờ như những bóng ma đợi ngày hành quyết. Như câu buông xuôi đầy bất lực của Ferdinand, rằng: “Không đâu, chúng ta đã đầu thai nhầm thế kỷ rồi”.

Bằng cuộc gặp gỡ tình cờ ở thành Vien, Christina và Ferdinand như tìm thấy nhau trong cơn khốn khổ. Một người vì những ảo danh làm cho mê mải, một người vì những khắc nghiệt đâm ra khinh thường, cả hai người họ sáp vào với nhau như cơn an ủi bản thân, như một cách sống qua ngày đoạn tháng. Cũng kể từ đây, Stefan Zweig chuyển từ công kích riêng một tầng lớp, sang cả xã hội đầy những nhiễu nhương. Ở đó là bộ máy nhà nước quan liêu, là chế độ mới vô cùng thực dụng, là những con người chấp nhận đầu hàng số phận vô cùng đáng khinh. Trong khi Stefan Zweig hay Ferdinand mãi luôn tìm một con đường vùng vẫy; thì nhà nước ấy, xã hội ấy, những người ấy, lại như chiếc tàu lướt êm đi vào chỗ chết: “Cô thử nghe mà xem, họ cười hô hố vẻ rất hài lòng, nhưng họ chỉ là những chiếc máy đang nghỉ ngơi ngày chủ nhật, những kẻ nô lệ làm mướn, không, cô cứ thử nghe mà xem, tiếng cười của họ ướt đẫm mồ hôi, sặc mùi mỡ béo và hoàn toàn bất hạnh”.

Ở đó xã hội làm bần cùng con người ta, biến họ thành tầng lớp thoái hóa, chôn chặt chính những chân rết xuống đáy xã hội. Họ vạ vật kêu van nhưng vô ích. Có ích gì đâu khi bầu không khí trùm kín đất nước đang dần thối rữa, khi cơn mưa hóa chất rơi xuống làm cháy tan tành tâm tính của mỗi người họ. Ở đó, mỗi một phản ứng diễn ra hòa vào làn sóng của những thối rửa, bốc mùi và ám vào da thịt cá thể. Như bộ phim Parasite, mỗi một người họ đều mang trong mình thứ mùi nghèo khổ, thứ mùi đọa đầy mà có thay đổi quần áo, phục sức nước hoa hay tắm gội hàng giờ cũng không gột sạch được. Vì đó là mùi hương của đất nước, của đói nghèo, của tuyệt vọng, của ngã quỵ, của chết gục: “Phải, sự nghèo đói ấy toát ra từ căn phòng nằm dưới tầng hầm, cửa mở sân sau; toát ra từ bộ quần áo không được thay đổi thường xuyên. Cái mùi ấy không thể đánh tan đi được […] Không có cách nào có thể thoát ra được, cho dù nó có được che đậy bằng chiếc mũ mới, cho dù suốt ngày có đánh rang cũng vậy – cái mùi ấy vẫn cứ bốc ra từ dạ dày”.

Chỉa mũi dùi sang một nhà nước đã quá tàn tạ, ta thấy một giọng văn hào sảng của Thomas Bernhard trong những phê phán đầy mỉa mai của Stefan Zweig: “Nhưng, bạn thân mến ạ, ở nước Áo của chúng ta mọi con đường đều cong cả”. Và đứng trước những hoàn cảnh ấy, còn lại gì ngoài cái chết vì nỗi ham thích tự do? Đến cuối, cả 2 con người họ yêu nhau, tìm đến tự do, khát khao hạnh phúc, bằng một cách hết sức thơ mộng, khẩu súng và cyanua. Như vận cuộc đời của mình vào trong tiểu thuyết, đến phút cuối đời, Stefan Zweig và người bạn gái của mình cũng chọn cái tự do như thế trong một căn phòng ở Brazil. Nhưng khác ở đây, như Erich Maria Remaque viết trong Bóng ở thiên đường: “Nếu trong buổi tối ấy ở Brazil, khi Stefan Zweig và vợ ông cùng tự vẫn, họ có thể trút bầu tâm sự với ai đó dù chỉ qua điện thoại thì thảm họa đã không xảy ra. Nhưng Zweig đã rơi vào cảnh tứ cố vô thân nơi đất khách quê người”, Christina và Ferdinand vẫn còn một con đường khác. Họ lấy lại những gì đã mất, những gì đáng lẽ từng thuộc về mình, những gì là của mình, nhất định của mình. Stefan Zweig viết trong thế đối đầu giữa lý trí vả tình cảm, giữa hình dung thực và cái ảo tưởng. Thế nhưng, ông đã không đủ can đảm để lèo lái cuộc đời mình như nhân vật chính ông đã viết ra, hoặc, ông dùng chính cái chết ấy, như cách ẩn dụ cho cái kết của tiểu thuyết này. Nói gì chăng nữa, chính số phận ông và Khát vọng đổi đời có một thứ gì đó gắn bó chặt chẽ, ông quyết định cuốn tiểu thuyết này, hay ngược lại, nó quyết định ông? Khó mà biết được, nhưng chắc một điều, cả ông và tiểu thuyết này đều là nô lệ của chính thời cuộc đang mang trên lưng.

“Nhà nước đã chỉ cho chúng ta thấy rằng chỉ trong vòng hai tuần lễ, toàn bộ số tiền của dành dụm suốt ba đời của một gia đình có thể biến thành những tờ giấy lộn […]. Thậm chí nếu như anh có giết một người nào đó, thì thử hỏi ai đã đẩy anh đến hành động ấy, ai đã huấn luyện anh để làm việc ấy? [..] Nếu chúng ta bắt buộc phải lường gạt thì ai là người chúng ta phải chịu ơn vì cái nghệ thuật ấy? Chính nhà nước – đó chính là ông thầy của chúng ta”. Những triết lý sau rốt của Stefan Zweig như lời hồi đáp mạnh bạo quăng vào thời cuộc, tương tự như Gabriel Garcia Marquez một lần từng viết trong Ngài đại tá chờ thư: “Hãy nói cho tôi nghe: trong lúc ấy chúng ta ăn bằng cái gì?’ – Ngài đại tá phải trải qua bảy mươi nhăm năm của cuộc đời ngài từng phút một để đi tới cái thời khắc nghiệt ngã này. Ngài cảm thấy nghiệt ngã, lâng lâng, kiêu ngạo khi trả lời: ‘Cứt’ “. Dù khác biệt những vùng địa lý hay khác xa những hệ tư tưởng, cả Marquez và Stefan Zweig cuối cùng cũng đã nói ra đúng thứ chủ chốt của một vấn đề, và với Khát vọng đổi đời, nó không còn đơn thuần là một khát vọng, mà nó chỉ cho ta thấy khát vọng có thể hủy hoại con người ta dữ dội đến mức độ nào, nó dìm họ xuống, không thể trồi lên.

Hết.

minh.

Click to comment

Viết bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Phía sau trang sách

Giải mã hạnh phúc: Khám phá nguồn gốc của niềm vui và sự hài lòng

Liệu có bí mật nào cho hạnh phúc? Đây là câu hỏi đã xuất hiện từ hàng thập kỷ trước, và nhiều triết gia, lãnh tụ tôn giáo cũng như nhà khoa học đã đưa ra câu trả lời của riêng họ. Nhưng liệu có thể dùng khoa học để giải mã sự mưu cầu hạnh phúc được không?

Published

on

Hãy cùng đến với “Giải mã hạnh phúc”. Đây là một giả thuyết được đưa ra bởi chuyên gia tâm lý Jonathan Haidt, cho rằng hạnh phúc đến từ những khao khát nội tâm và đồng thời cũng đến từ các yếu tố bên ngoài. Nói cách khác thì hạnh phúc vừa là “bẩm sinh”, vừa là “nuôi dưỡng”.

Cụ thể thì như vậy nghĩa là gì? Hãy cùng phân tích các thành phần tạo nên “Giải mã hạnh phúc”, cũng như cách ứng dụng chúng vào cuộc sống để tìm kiếm niềm vui và sự hài lòng.

Bẩm sinh

Yếu tố di truyền đóng một vai trò nhất định trong cảm nhận chung về hạnh phúc của chúng ta. Một số người sinh ra đã có cái nhìn lạc quan, trong khi những người khác có thể phải vật lộn với lo âu và trầm cảm. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là mặc dù di truyền có thể ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc cơ bản, nhưng chúng không phải là yếu tố quyết định duy nhất.

Nuôi dưỡng

Môi trường và trải nghiệm cũng định hình hạnh phúc, điều này  bao gồm các mối quan hệ, công việc và thậm chí cả cộng đồng nơi chúng ta sống. Bằng cách tạo ra một môi trường hỗ trợ và trọn vẹn, chúng ta có thể nuôi dưỡng hạnh phúc lớn hơn trong cuộc sống.

Cân bằng giữa mong muốn và hoàn cảnh: “Giải mã hạnh phúc” cho rằng chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc bằng cách cân bằng giữa mong muốn bên trong và hoàn cảnh bên ngoài. Ví dụ, nếu bạn có mong muốn mạnh mẽ về an ninh tài chính, có thể bạn cần tìm một công việc mang đến nguồn thu nhập ổn định. Mặt khác, nếu bạn có niềm đam mê sâu sắc với sự sáng tạo, việc theo đuổi một sự nghiệp cho phép niềm đam mê đó phát triển có thể quan trọng hơn.

Vậy, làm cách nào để áp dụng “Giải mã hạnh phúc” vào thực tiễn? Dưới đây là một vài mẹo giúp bạn tìm thấy niềm vui và sự hài lòng trong cuộc sống:

1. Xác định các giá trị của bản thân: Hiểu được điều gì thực sự quan trọng với bạn có thể giúp định hướng các quyết định và tạo ra một cuộc sống viên mãn hơn.

2. Nuôi dưỡng các mối quan hệ: Mối quan hệ bền chặt với gia đình và bạn bè có thể mang lại tình yêu thương, sự hỗ trợ và cảm giác được thuộc về.

3. Theo đuổi đam mê: Tham gia vào các hoạt động và sở thích mang lại niềm vui có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc và hài lòng.

4. Thực hành lòng biết ơn: Dành thời gian để trân trọng những điều tốt đẹp trong cuộc sống, dù nhỏ bé, có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc tổng thể của bạn.

5. Cho đi: Giúp đỡ người khác có thể mang lại ý nghĩa và sự trọn vẹn cho cuộc sống của chúng ta.

Jonathan Haidt là một nhà tâm lý học và nhà tâm lý học xã hội, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về tâm lý học đạo đức và tâm lý học tư tưởng chính trị. Ông là giáo sư ngành Lãnh đạo Đạo đức tại Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, và đã xuất bản một số cuốn sách và nhiều bài báo nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học.

Các công trình của Haidt thường tập trung vào ý tưởng rằng niềm tin và giá trị đạo đức của chúng ta được hình thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm văn hóa, sự nuôi dạy và kinh nghiệm cá nhân. Ông lập luận rằng đạo đức không chỉ là vấn đề lý trí mà còn bị ảnh hưởng bởi cảm xúc và trực giác của chúng ta.

Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của Haidt cho lĩnh vực tâm lý học là mô hình “trực giác xã hội” về phán đoán đạo đức. Mô hình này cho rằng các phán đoán đạo đức thường dựa trên những đánh giá tự động, vô thức về các tình huống, thay vì lý luận có ý thức và có chủ ý. Công trình này thách thức quan điểm truyền thống cho rằng việc ra quyết định đạo đức là một quá trình hoàn toàn lý trí, và nhấn mạnh tầm quan trọng của cảm xúc và trực giác trong việc hình thành niềm tin đạo đức của chúng ta.

Nghiên cứu của Haidt cũng đã khám phá vai trò của đạo đức trong hệ tư tưởng chính trị, và ông đã chỉ ra rằng những người theo chủ nghĩa bảo thủ và tự do thường có nền tảng đạo đức khác nhau. Ví dụ, những người theo chủ nghĩa bảo thủ có xu hướng coi trọng các giá trị như lòng trung thành, quyền lực và sự thiêng liêng, trong khi những người theo chủ nghĩa tự do có xu hướng coi trọng sự công bằng và chăm sóc. Haidt lập luận rằng những khác biệt về đạo đức này đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình thái độ và hành vi chính trị.

Các công trình của Haidt đã được trích dẫn rộng rãi và nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải thưởng William James Fellow từ Hiệp hội Khoa học Tâm lý. Các cuốn sách của ông được ca ngợi vì dễ tiếp cận và chứa đựng những hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người.

Nhìn chung, những đóng góp của Jonathan Haidt cho lĩnh vực tâm lý học đã làm sáng tỏ vai trò của đạo đức và cảm xúc trong việc định hình niềm tin và hành vi, đồng thời giúp mở rộng hiểu biết về sự phức tạp của tâm trí con người.

Tóm lại, “Giải mã hạnh phúc” nhắc nhở chúng ta rằng hạnh phúc là sự kết hợp của cả bẩm sinh và nuôi dưỡng. Bằng cách cân bằng những mong muốn bên trong với hoàn cảnh bên ngoài, chúng ta có thể tạo ra một cuộc sống viên mãn và vui vẻ hơn. Vậy nên, hãy thử kiểm chứng “Giải mã hạnh phúc” và xem liệu nó có khiến bạn hạnh phúc hơn không nhé!

Lam dịch từ MindfulMac

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trách nhiệm thuộc về ai khi thiên nhiên hoang dã trở thành “tội phạm”?

Gấu đen đột nhập nhà dân, cây cối bị tình nghi gây ra án mạng, con nai băng qua đường không đúng luật. Nếu thiên nhiên phạm luật thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Published

on

Trong thế giới ngày càng đô thị hóa, ranh giới giữa lãnh địa con người và thiên nhiên hoang dã trở nên mong manh hơn bao giờ hết, dẫn đến những cuộc "chạm trán" dở khóc dở cười. Mary Roach đã khám phá thế giới kỳ thú nơi luật pháp - con người giao thoa, xung đột với bản năng tự nhiên trong Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật.

Giải mã "tội ác" của thiên nhiên

Mary Roach mở đầu Fuzz bằng cách đặt ra một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng lại khơi gợi vô số vấn đề phức tạp: Điều gì xảy ra khi thiên nhiên "phạm luật"? Không chỉ là những con thú lớn như gấu hay báo sư tử gây rắc rối ở vùng ngoại ô, danh sách "tội phạm tự nhiên" của Roach còn bao gồm cả những loài chim ăn trộm nông sản, những con khỉ tinh ranh ở Ấn Độ, những hạt đậu độc gây chết người hay thậm chí là những cái cây vô tri bị xem là mối nguy hiểm tiềm tàng.

Roach không ngồi yên trong phòng viết mà xông pha thực địa. Bà tham dự một khóa học về an toàn khi gặp thú dữ, theo chân các nhà khoa học điều tra hiện trường các vụ tấn công của động vật hoang dã, thậm chí nếm thử các loại thực vật bị xem là "có vấn đề".

Sách Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật (trái) và tác giả Mary Roach.

Khi tìm hiểu về những con voi ở Bắc Bengal thích chè chén, say xỉn, bà cho biết voi uống thứ mà dân làng thường uống: haaria, loại rượu pha chế tại nhà được lên men và dự trữ với số lượng đủ để làm say một con voi. "Theo Sĩ quan Raj, có hai điều xảy ra khi voi say xỉn. Hầu hết chỉ lạc đàn và ngủ quên. Nhưng dường như mọi đàn đều có một kẻ say xỉn hung hăng, thường là con đầu đàn hoặc voi đực đang trong kỳ musth. Trên đời, dù bạn có muốn mạo hiểm thế nào chăng nữa thì cũng phải tránh xa một con voi đực say xỉn", Roach viết.

Trọng tâm của Fuzz không phải là việc kết tội thiên nhiên mà là nỗ lực giải mã những hành vi bị xem là "phạm luật" ấy dưới góc độ khoa học. Tác giả đưa độc giả đi sâu vào thế giới của sinh thái học hành vi, di truyền học bảo tồn, khoa học pháp y động thực vật và quản lý động vật hoang dã.

Cụ thể như việc tìm hiểu các nghiên cứu tập tính nhằm hiểu rõ hơn về cách động vật di chuyển, kiếm ăn, và phản ứng với sự hiện diện của con người, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn, như thiết kế hàng rào chống gấu, tạo hành lang di chuyển an toàn cho động vật hoang dã...

Con người nằm ở đâu trong "tội ác" này?

Một trong những thông điệp ngầm nhưng mạnh mẽ xuyên suốt Fuzz là sự tự vấn về vai trò của con người trong các cuộc xung đột với thiên nhiên. Mary Roach đặt câu hỏi: Liệu việc phá hủy môi trường tự nhiên, thay đổi cảnh quan, để thức ăn ngoài trời, vứt rác không đúng cách đã vô tình "mời gọi" động vật hoang dã vào những tình huống rắc rối?

Theo tìm hiểu của Roach, một con gấu vào khu dân cư tìm thức ăn không phải vì nó "xấu tính". Mà có thể vì nguồn thức ăn tự nhiên của nó bị suy giảm hoặc vì thùng rác của con người quá hấp dẫn, dễ tiếp cận. Bà không đổ lỗi cực đoan nhưng chỉ ra nhiều "tội ác" của thiên nhiên thực chất là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành động của con người.

Cuốn sách cũng nhắc đến những tình huống tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, thực tiễn trong việc quản lý xung đột. Từ những người ủng hộ biện pháp cứng rắn để bảo vệ tài sản và tính mạng con người, đến những nhà bảo tồn nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhân đạo hơn, tác giả để độc giả tự suy ngẫm về sự phức tạp của việc tìm kiếm điểm cân bằng. Làm thế nào để vừa bảo vệ lợi ích của con người, vừa tôn trọng quyền sống và không gian sinh tồn của các loài khác?

Theo Nguyệt Dạ | ZNews

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Nếu từng khóc khi xem phim “Mưu cầu hạnh phúc”, thì đây là cuốn sách bạn nên đọc

Published

on

Trong bộ phim Mưu Cầu Hạnh Phúc (The Pursuit of Happyness) ra mắt vào năm 2006 của đạo diễn Gabriele Muccino, diễn viên Will Smith vào vai Chris Gardner - một người cha đơn thân thất nghiệp, vô gia cư, phải vật lộn giữa cuộc sống bấp bênh, những đêm ngủ ở nhà ga, và giấc mơ đổi đời từ một chương trình thực tập không lương. Đó là một hành trình đầy khổ đau, nước mắt, nhưng cũng là bản hùng ca của lòng kiên cường và khát khao vươn lên.

Cùng năm 2006, chuyên gia tâm lý học Jonathan Haidt cho ra đời Giải Mã Hạnh Phúc, một công trình kết nối những minh triết cổ đại với khoa học hiện đại để trả lời câu hỏi muôn thuở: Hạnh phúc là gì, và làm sao để có được nó?

Khi đặt nhân vật Chris Gardner bên cạnh các giả thuyết về hạnh phúc của Haidt, ta nhận ra: Có những chân lý không bị mài mòn bởi thời gian hay hoàn cảnh, chẳng hạn như việc hạnh phúc không đến từ việc trốn tránh khổ đau, mà từ cách ta bước xuyên qua nó.

Will Smith và con trai Jaden Smith trong Mưu Cầu Hạnh Phúc.

"Con voi" và "người cưỡi voi": Cảm xúc và lý trí trong hành trình sinh tồn

Tác giả Jonathan Haidt dùng hình ảnh “con voi và người cưỡi voi” để ví von mối quan hệ giữa cảm xúc (con voi) và lý trí (người cưỡi). Trong phim, Chris Gardner nhiều lần bị cảm xúc dồn vào chân tường: Khi bị đuổi khỏi nhà, khi mất chỗ ngủ, khi con trai hỏi “Chúng ta có nhà không?”. Nhưng chính trong những khoảnh khắc ấy, “người cưỡi voi” - lý trí, bản lĩnh, lòng tin của Chris - vẫn kiên định dẫn đường.

Anh không để cảm xúc giận dữ, tuyệt vọng kiểm soát mình. Anh chọn hành động, kiên trì học hỏi, giữ vững phẩm giá ngay cả khi lau dọn toilet công cộng để có thêm chút tiền. Dù cảm xúc có lúc muốn gục ngã, anh vẫn tiếp tục hành động có lý trí, không để cơn tuyệt vọng làm tê liệt mình. Những lúc phải ngủ ở ga tàu với con trai, Chris vẫn giữ lòng tự trọng và tiếp tục cố gắng, giống như một người cưỡi đang cố gắng điều khiển một con voi đầy hoảng loạn.

Điều kiện ngoại cảnh và “ngưỡng hạnh phúc”

Sách Giải Mã Hạnh Phúc chỉ ra rằng con người có “mức độ hạnh phúc” nhất định. Ta có thể vui hoặc buồn nhất thời vì sự kiện bên ngoài, nhưng sau đó sẽ quay về mức hạnh phúc trung bình của mình. Thế nhưng, Haidt cũng lưu ý rằng có những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lâu dài đến hạnh phúc: nghèo đói, cô lập, hoặc bị sỉ nhục kéo dài.

Chris Gardner trải qua gần như tất cả những điều này, nhưng thay vì cam chịu, anh đã cố gắng tìm nhiều cách khác nhau để xoay chuyển số phận của bản thân, dẫu có những lúc rơi vào cảnh nghèo túng đến mức chỉ còn vỏn vẹn 30 đô la trong ví. Vì đã nỗ lực tự mình thay đổi hoàn cảnh nên khi thành công đến, anh không chỉ nhận được phần thưởng vật chất mà kèm theo đó còn là cảm giác xứng đáng, sự gắn kết với con trai, và lòng tự tôn được củng cố.

Ý nghĩa và mục đích sống: Cội nguồn của hạnh phúc bền vững

Haidt cho rằng hạnh phúc bền vững không đến từ việc theo đuổi khoái lạc (pleasure), mà đến từ việc sống có mục tiêu, có giá trị. Chris Gardner không chỉ muốn giàu mà hơn thế nữa, anh muốn trở thành một người cha xứng đáng, một con người có giá trị. Tình yêu dành cho con trai là kim chỉ nam dẫn lối, khiến anh không bỏ cuộc dù bị cả thế giới quay lưng.

Điều này khớp với một câu nói của triết gia Friedrich Nietzsche: "Nếu bạn có một lý do đủ lớn để sống, bạn có thể chịu đựng hầu hết mọi nỗi đau." (He who has a why to live for can bear almost any how).

Hạnh phúc không phải đích đến, mà là hành trình

Cuối phim, khi Chris được nhận vào làm chính thức, anh rưng rưng cố không bật khóc giữa đám đông, chạy vội đến nhà trẻ của con trai và ôm lấy con. Đó không chỉ là giây phút hạnh phúc đơn thuần, mà còn là sự giải phóng sau bao tháng ngày chịu đựng và không từ bỏ. Từ một nhân viên chào bán thiết bị y tế, cuộc đời Chris đã thay đổi. Đó là minh chứng cho giả thuyết cuối cùng của Haidt: “Hạnh phúc không phải là thứ mà bạn có thể tìm thấy, có được hoặc đạt được một cách trực tiếp. Bạn phải có được các điều kiện phù hợp và sau đó chờ đợi. Một số điều kiện đó nằm trong bạn, chẳng hạn như sự gắn kết thống nhất giữa các phần và cấp độ trong tính cách của bạn. Các điều kiện khác yêu cầu mối quan hệ với những thứ bên ngoài bạn: giống như cây cối cần mặt trời, nước và đất tốt để phát triển, con người cũng cần tình yêu, công việc và sự kết nối với một điều gì đó lớn lao hơn.”

Mưu Cầu Hạnh Phúc không kể lại con đường đạt đến thành công của một người đàn ông, mà đã khắc họa lại lòng kiên trì bền bỉ và ý chí quyết tâm vượt lên số phận. Giải Mã Hạnh Phúc không dạy ta cách để luôn hạnh phúc, mà cho ta công cụ để hiểu hạnh phúc thật sự là gì. Một bên là nhân vật trong phim, một bên là những giả thuyết được đúc kết từ hàng ngàn năm trí tuệ của nhân loại, giao nhau tại điểm giữa: sự gắn kết với cuộc sống, niềm tin vào một điều tốt đẹp và cao cả hơn chính bản thân mình.

Lam

Đọc bài viết

Cafe sáng