Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Khát vọng đổi đời: Kết quả của tưởng tượng hay là dự báo tương lai

Published

on

Stefan Zweig – nhà văn nổi tiếng người Áo, từ trước đến nay luôn được biết đến là một tác gia có sự phân tích tâm lý nhân vật sâu sắc ở mảng truyện ngắn. Người ta biết nhiều đến ông qua hai tác phẩm tiêu biểu: 24 giờ trong đời người đàn bàBức thư của người đàn bà không quen; thế nhưng, không chỉ ở mảng truyện ngắn, với tiểu thuyết mặc cho một số lượng khiêm tốn (chỉ hai tác phẩm cho đến khi cơn bĩ cực trào đến) Stefan Zweig cũng kịp ghi tên mình vào danh sách những tác gia viết tiếng Đức có ảnh hưởng vô cùng lớn đến thế hệ người đọc, bên cạnh những Thomas Mann, Frank Kafka hay Thomas Bernhard,… Khát vọng đổi đời là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, được xuất bản sau 40 năm từ khi cái chết ngỡ ngàng ập đến, nhưng dư âm của nó vẫn mãi còn đó, thâm nhập len lỏi vào từng ngóc ngách đời sống, trở thành những giá trị tuy không mới nhưng chưa bao giờ cũ.

Khát vọng đổi đời là một cuốn tiểu thuyết lạ, bởi nhẽ, nó được viết ngắt quãng hai phần. Phần đầu, cuộc đời chính của nhân vật Christina Hoflehner, như một vở kịch dang dở phê phán thế giới phù hoa, nơi mọi chân giá trị bị đảo ngược. Thế nhưng sau khi câu chuyện phôi thai thành hình, Stefan Zweig lại gác bút để đó, vì như ông chia sẻ trong những bức thư còn lại “tôi rơi vào một vực thẳm sâu hoắm không sao vượt qua nổi”. Và chính sự trỗi dậy của đế chế thứ 3 khi dáng hình Hitler bao trùm lên toàn thể châu Âu, đã như cú thúc vào trong tâm trí khiến cây bút lại một lần nữa phải được cầm lên. Phần sau, trong nỗi ngậm ngùi thế nhưng lại can đảm nhất, thật thà nhất và cũng đau đớn nhất; được ông viết sau khi đã lưu vong sang London. Ở đó Ferdinand được ông xây dựng như hình tượng chính mình: một con người đã mất tất cả: quê hương, xứ sở, nguồn gốc, tên tuổi, … Tựa Sylvia Path hay Szabo Magda khi dùng thế giới quan cá nhân để viết nên Quả chuông ác mộng hay Cánh cửa, Stefan Zweig ở đây cũng bằng một sự dũng cảm tự thân khoét sâu vào nỗi đau mình, hy sinh một phần thân thể để viết nên cái vết thương đã mưng mủ của rất nhiều người mà chỉ sau một đêm cơn bão thời cuộc đã quét sạch gọn ghẽ chính họ ra khỏi mảnh sân của mình.

Nửa đầu tiểu thuyết, ông tập trung viết về thói phù phiếm của những tên đạo đức giả hưởng lợi từ cuộc chiến. Được viết vào những năm 30 khi Thế chiến thứ nhất vừa mới đi qua, trong một khung cảnh nghèo nàn của Áo thời hậu chiến, có lẽ, đói nghèo là thứ tác động nhiều đến ông bên cạnh đất nước đang từ từ đứng dậy sau cơn suy kiệt. Ở đó, Christina Hoflehner sống vật vờ như được lập trình sẵn, sở hữu trong mình cơ may khi nhờ quan hệ của ông bác mà kiếm được việc làm ở bưu điện, tuy công việc nhàm chán nhưng ít ra mỗi tháng vẫn kiếm được vài siling để gom góp vào khoản tiền lo cho người mẹ nằm liệt giường. Thế nhưng, thứ công việc ấy cũng chật vật như chính bữa ăn ngày có ngày không ở vùng nông thôn hẻo lánh. Vật vờ như một cái bóng từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa, rồi từ 2 giờ trưa đến 6 giờ chiều; cuộc sống của cô vẫn cứ lặp đi lặp lại đều đều như thế. Cho đến một ngày, cô được một người họ hàng mời đến chơi như cách nối lại sợi dậy ruột rà từ lâu đã đứt, và cũng chính từ đây, cô được biết thế giới thực chất là như thế nào, đáng sống ra thể làm sao.

Ở khu nghỉ dưỡng trên núi cao thuộc vùng Thụy Sỹ ấy, Christina lần đầu tiên biết thế nào là đáng sống. Ở đó cô được gặp bè lũ những người làm giàu từ cuộc chiến: có người Mỹ giàu lên nhờ buôn vũ khí, có người Pháp bỗng dưng phất lên chỉ sau một đợt đầu cơ. Ở đó cô cũng chứng kiến những cuộc vũ hội hăng say, hay khoản tiền cá cược chỉ sau 10 phút là lấy được trong khi cô phải mài lưng 4 tháng trong chính vương quốc bé tí là bưu điện của mình. Christina cũng là con người, cô ào vào thế giới ấy nhanh chóng, tận hưởng từng giây từng phút những khoảnh khắc ấy, và bỏ quên đi con người của mình ở nước Áo xa xôi cách đấy 2 lần đổi tàu. Bằng những so sánh giữa hai thế giới tưởng như không giao nhau, Stefan Zweig một cách tài tình bóc trần cái nghèo của đất nước mình, đất nước của những con người thèm thuồng. Như những bi kịch trong Đỏ và đen hay Chỉ ngu ngơ mới biết cười, thói phù hoa ở đây cũng khiến con người ta thức tỉnh, và sự thức tỉnh ấy đã không đến muộn.

Không chỉ khắc họa thói đạo đức giả của những con người ngoại quốc, Stefan Zweig cũng đồng thời khéo léo phơi trần bộ mặt của những người-con-ưu-tú của đất nước mình, mà dì Clare của Christina là một ví dụ. Sợ quá khứ trác táng của mình lại một lần nữa được đào bới lên, con người ấy nhẫn tâm cắt đứt mọi mối quan hệ. Christina từ một bình minh thiên đường bị đẩy xuống bóng tối địa ngục, như thể: “Tâm hồn tan nát, nàng chỉ cảm thấy rằng người ta đã cướp đoạt mất của nàng một cái gì đó, rằng đang từ một cô gái hạnh phúc, được niềm vui chắp cánh nàng phải trở lại thành con sâu mù lòa bò trên mặt đất”. Cũng chính từ đó, nàng trở nên khinh bỉ cái thế giới giả tạo ấy, thế giới không thật ấy. Nhưng biết làm sao, khi đó lại là một sang chấn tâm lý quá lớn. Một lần nhìn thấy để rồi nhớ nhung cả đời, Christina mang theo giấc mộng vương giả ấy vào tận đời thực, và vì đã đứng trên bước ngưỡng vọng, đâm ra cô thấy thế giới này thật đáng chán và không còn gì để sống: “Sống làm gì khi sẽ phải chết dần, chết mòn, ngày này qua ngày khác, trong khi vẫn biết rằng còn có một thế giới khác, một thế giới thực sự, rằng trong con người nàng vẫn sống một con người khác và con người ấy đang chết ngạt vì ngộ độc bởi cái thế giới đã làm cho mê mẩn tâm thần ấy”.

Phần đầu của tiểu thuyết có lẽ được Stefan Zweig kết thúc tại đây, bởi nhẽ, có viết thêm một điều gì nữa thì đó cũng là cái hiện thực tàn khốc, cái thật thà tái tê, không sao thay đổi được. Và cũng có thể chỉ từ khi làn sóng phát xít nhen nhóm thao túng toàn bộ châu Âu, chính sự kiện ấy khiến ông phải tránh sang Anh, và cũng từ đây thai nghén một nhân vật mới, Ferdinand. Một cách dễ nhận ra, ông dùng Ferdinand như chính một cách viết về bản thân, về những nỗi đau và cơn sốt thế hệ giày xéo lên mình. Nếu Christina chỉ nhận thấy những mất mát về mặt vật chất, về những công bằng mặt ngoài không trùng khớp nhau, thì Ferdinand lại đi sâu vào ngọn nguồn, về khoảng thời gian thanh niên đã mất, cuộc chiến đã mãi mang đi. Ở đó Ferdinand như một người tình cách mạng, khơi nên những nỗi đọa đầy của thời cuộc. Một mặt anh chấp nhận vì đó là những hiển nhiên, nhưng nhen nhóm ở  đó vẫn mãi là những bất lực bản thân, bởi cứ mỗi cố gắng nhô mình lên trên mặt nước hoàn cảnh, thì thời cuộc lại như thứ hắc ín đen ngòm trói chặt bước chân, kéo mãi con người xuống vực thẳm buồn sâu.

“Trong khi anh đang ngủ thì đổng tiền lại mất giá, trong khi anh đang thay đôi giày há mõm bằng đôi guốc gỗ để chạy vội ra cửa hàng thì nắm giấy bạc đã chẳng còn giá trị gì nữa, lúc nào cũng thấy người ta chạy ngược chạy xuôi, nhưng hình như chẳng kịp làm một việc gì”. Đó là hình ảnh của xã hội đương thời, là cuộc sống của những thanh niên dành cả quãng đời sôi nổi để quăng mình vào Thế chiến để rồi đau xót nhận ra đổi lại họ chẳng được thứ gì. Họ ước mơ, rồi tan biến. Họ khao khát, rồi tuyệt vọng. Họ trồi lên, nhưng đạp đổ. Tất cả kéo con người ta duy nhất vào một con đường, chết, vì sống làm gì nữa khi không còn gì có thể cứu vãn, khi cứ phải sống vật vờ như những bóng ma đợi ngày hành quyết. Như câu buông xuôi đầy bất lực của Ferdinand, rằng: “Không đâu, chúng ta đã đầu thai nhầm thế kỷ rồi”.

Bằng cuộc gặp gỡ tình cờ ở thành Vien, Christina và Ferdinand như tìm thấy nhau trong cơn khốn khổ. Một người vì những ảo danh làm cho mê mải, một người vì những khắc nghiệt đâm ra khinh thường, cả hai người họ sáp vào với nhau như cơn an ủi bản thân, như một cách sống qua ngày đoạn tháng. Cũng kể từ đây, Stefan Zweig chuyển từ công kích riêng một tầng lớp, sang cả xã hội đầy những nhiễu nhương. Ở đó là bộ máy nhà nước quan liêu, là chế độ mới vô cùng thực dụng, là những con người chấp nhận đầu hàng số phận vô cùng đáng khinh. Trong khi Stefan Zweig hay Ferdinand mãi luôn tìm một con đường vùng vẫy; thì nhà nước ấy, xã hội ấy, những người ấy, lại như chiếc tàu lướt êm đi vào chỗ chết: “Cô thử nghe mà xem, họ cười hô hố vẻ rất hài lòng, nhưng họ chỉ là những chiếc máy đang nghỉ ngơi ngày chủ nhật, những kẻ nô lệ làm mướn, không, cô cứ thử nghe mà xem, tiếng cười của họ ướt đẫm mồ hôi, sặc mùi mỡ béo và hoàn toàn bất hạnh”.

Ở đó xã hội làm bần cùng con người ta, biến họ thành tầng lớp thoái hóa, chôn chặt chính những chân rết xuống đáy xã hội. Họ vạ vật kêu van nhưng vô ích. Có ích gì đâu khi bầu không khí trùm kín đất nước đang dần thối rữa, khi cơn mưa hóa chất rơi xuống làm cháy tan tành tâm tính của mỗi người họ. Ở đó, mỗi một phản ứng diễn ra hòa vào làn sóng của những thối rửa, bốc mùi và ám vào da thịt cá thể. Như bộ phim Parasite, mỗi một người họ đều mang trong mình thứ mùi nghèo khổ, thứ mùi đọa đầy mà có thay đổi quần áo, phục sức nước hoa hay tắm gội hàng giờ cũng không gột sạch được. Vì đó là mùi hương của đất nước, của đói nghèo, của tuyệt vọng, của ngã quỵ, của chết gục: “Phải, sự nghèo đói ấy toát ra từ căn phòng nằm dưới tầng hầm, cửa mở sân sau; toát ra từ bộ quần áo không được thay đổi thường xuyên. Cái mùi ấy không thể đánh tan đi được […] Không có cách nào có thể thoát ra được, cho dù nó có được che đậy bằng chiếc mũ mới, cho dù suốt ngày có đánh rang cũng vậy – cái mùi ấy vẫn cứ bốc ra từ dạ dày”.

Chỉa mũi dùi sang một nhà nước đã quá tàn tạ, ta thấy một giọng văn hào sảng của Thomas Bernhard trong những phê phán đầy mỉa mai của Stefan Zweig: “Nhưng, bạn thân mến ạ, ở nước Áo của chúng ta mọi con đường đều cong cả”. Và đứng trước những hoàn cảnh ấy, còn lại gì ngoài cái chết vì nỗi ham thích tự do? Đến cuối, cả 2 con người họ yêu nhau, tìm đến tự do, khát khao hạnh phúc, bằng một cách hết sức thơ mộng, khẩu súng và cyanua. Như vận cuộc đời của mình vào trong tiểu thuyết, đến phút cuối đời, Stefan Zweig và người bạn gái của mình cũng chọn cái tự do như thế trong một căn phòng ở Brazil. Nhưng khác ở đây, như Erich Maria Remaque viết trong Bóng ở thiên đường: “Nếu trong buổi tối ấy ở Brazil, khi Stefan Zweig và vợ ông cùng tự vẫn, họ có thể trút bầu tâm sự với ai đó dù chỉ qua điện thoại thì thảm họa đã không xảy ra. Nhưng Zweig đã rơi vào cảnh tứ cố vô thân nơi đất khách quê người”, Christina và Ferdinand vẫn còn một con đường khác. Họ lấy lại những gì đã mất, những gì đáng lẽ từng thuộc về mình, những gì là của mình, nhất định của mình. Stefan Zweig viết trong thế đối đầu giữa lý trí vả tình cảm, giữa hình dung thực và cái ảo tưởng. Thế nhưng, ông đã không đủ can đảm để lèo lái cuộc đời mình như nhân vật chính ông đã viết ra, hoặc, ông dùng chính cái chết ấy, như cách ẩn dụ cho cái kết của tiểu thuyết này. Nói gì chăng nữa, chính số phận ông và Khát vọng đổi đời có một thứ gì đó gắn bó chặt chẽ, ông quyết định cuốn tiểu thuyết này, hay ngược lại, nó quyết định ông? Khó mà biết được, nhưng chắc một điều, cả ông và tiểu thuyết này đều là nô lệ của chính thời cuộc đang mang trên lưng.

“Nhà nước đã chỉ cho chúng ta thấy rằng chỉ trong vòng hai tuần lễ, toàn bộ số tiền của dành dụm suốt ba đời của một gia đình có thể biến thành những tờ giấy lộn […]. Thậm chí nếu như anh có giết một người nào đó, thì thử hỏi ai đã đẩy anh đến hành động ấy, ai đã huấn luyện anh để làm việc ấy? [..] Nếu chúng ta bắt buộc phải lường gạt thì ai là người chúng ta phải chịu ơn vì cái nghệ thuật ấy? Chính nhà nước – đó chính là ông thầy của chúng ta”. Những triết lý sau rốt của Stefan Zweig như lời hồi đáp mạnh bạo quăng vào thời cuộc, tương tự như Gabriel Garcia Marquez một lần từng viết trong Ngài đại tá chờ thư: “Hãy nói cho tôi nghe: trong lúc ấy chúng ta ăn bằng cái gì?’ – Ngài đại tá phải trải qua bảy mươi nhăm năm của cuộc đời ngài từng phút một để đi tới cái thời khắc nghiệt ngã này. Ngài cảm thấy nghiệt ngã, lâng lâng, kiêu ngạo khi trả lời: ‘Cứt’ “. Dù khác biệt những vùng địa lý hay khác xa những hệ tư tưởng, cả Marquez và Stefan Zweig cuối cùng cũng đã nói ra đúng thứ chủ chốt của một vấn đề, và với Khát vọng đổi đời, nó không còn đơn thuần là một khát vọng, mà nó chỉ cho ta thấy khát vọng có thể hủy hoại con người ta dữ dội đến mức độ nào, nó dìm họ xuống, không thể trồi lên.

Hết.

minh.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Hồ sơ Rachel: Tiểu thuyết đầu tay và quan trọng nhất định hình nên Martin Amis

Hai mươi có thể chẳng phải là khởi đầu cho sự chín chắn, nhưng, chắc chắn, nó là kết thúc của tuổi thanh xuân.

Published

on

Khi nói về những cuốn sách táo bạo nhất tôi từng đọc qua, thì Trên đường, Chuyện nàng O và Hồ sơ Rachel không thể thiếu ở đầu danh sách. Nếu Trên đường kỳ lạ bởi cái hoang dã sống chết hết mình trong thời tuổi trẻ, Chuyện nàng O là bởi màu sắc huê tình đậm đặc dục tính; thì Hồ sơ Rachel như vùng giao chiếu của biểu đồ ấy – giữa cái hoang vu tuổi trẻ và tính bạt mạng thời khắc huê tình. Với cuốn tiểu thuyết đầu tay và vẫn còn "thô" như chính Martin Amis từng thừa nhận sau này – ông đã viết nên câu chuyện đầy ngạo nghễ, phớt đời, suồng sã mà không thiếu đi tính đa cảm trong mỗi nhân vật. Như dấu chỉ cho một sự nghiệp sừng sỏ của một trong những nhà văn quan trọng nhất nước Anh sau này, Hồ sơ Rachel là tấm gương phản ánh thời đại – nơi chú hề "đại lộ" tự soi chiếu mình để rồi bất chợt nụ cười vẽ sẵn đang tự khinh mình, cũng khinh khi đời; trong một kiểu thức phóng túng, trịch thượng đến độ bi kịch, éo le.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng của tác phẩm Hồ sơ Rachel.

*

Nếu có cuộc bình chọn đâu là nhân vật đặc sắc nhất trong những tác phẩm văn chương từ trước đến nay, thì Charles Highway có lẽ là người mình dành duy nhất mọi sự trông mong (xin lỗi Jack của Titanic, vì sự chung thủy của mình). Để họa được Charles chắc hẳn không có một tính từ nào cố định cho chàng trai này, giữa "cao ngạo", "tự luyến", "suồng sã", "khinh khi",… Charles là tổng hòa của những điều ấy, là người con trai với tuổi thiếu niên rực lửa mà như anh nói, Hai mươi có thể chẳng phải là khởi đầu cho sự chín chắn, nhưng, chắc chắn, nó là kết thúc của tuổi thanh xuân. Và do đó, Charles của tuổi 19 dạm ngõ 20 là cá tính duy nhất và độc đáo nhất ta được trải nghiệm ở nơi con ngựa bất kham, giữa những mối quan hệ gia đình, giữa sợi dây bó chặt xã hội và những khoái lạc rủa xả rất đáng để tâm.

Thành thực mà nói, Martin Amis đã xây dựng một Charles táo bạo không bằng phép màu nào cả. Người con trai đại lộ ấy cũng như những chàng thanh niên khác, người có đủ thứ mụn trứng cá, đổ đốn vào rượu chè rẻ tiền và cà phê, chơi pinball, săn tiệc, tìm gái và… xuất tinh. Thế nhưng bằng chính cái "thô" như Amis thừa nhận – nó không đặt ra giới hạn đạo đức hay mỹ học nào cho tiểu thuyết này cả. Là bầu trời của những cậu chàng, là cánh cửa mở vào xã hội của những năm xưa; ta thấy sự vận động của Hồ sơ Rachel chứa đầy chủ nghĩa tự nhiên dáng vẻ Zola. Nói thế để thấy rằng, Hồ sơ Rachel tuy là một tập sách đóng mà Charles giữ riêng cho mình, thế nhưng đồng thời cũng là cánh cửa dẫn vào quá khứ của ngày hôm nay, để biết rằng dù thời gian có trôi qua bao lâu đi nữa, con thác dữ dội mà gập gềnh tuổi trẻ vẫn thế, vừa đáng sống mà cũng đáng quên. Điều khác biệt duy nhất ta có thể nhận ra là liệu có còn giới hạn của đường biên quy hoạch tuyến tính, nơi đạo đức hay tính mỹ học như nhát cắt gọn vào trong hiện thực, khi con người bịt mắt sống tiếp những hôm nay?

Đối với Charles, cảm giác về một cậu chàng Don Quixote đánh nhau với cối xây gió là mặt nổi bật không thể không thấy – cậu chàng với đủ thứ trò dối trá, cao ngạo, ngang tàng; người của hàng tá những lần làm làm tình trong trạng thái say ma túy và thức dậy vào chiều hôm sau. Hơn thế, để làm tăng vẻ ngoài đầy nổi bật ấy, anh ta phục sức chính bản thân mình bằng những tiểu luận – phê bình thơ ca, trong khi bản thân không cảm được một chút nào những bài thơ ấy. Thế nhưng ở tuổi 19, 20 thơ mộng tràn đầy tự tin cùng những cô gái mê đắm trong bầu không khí bung xõa của dân hippie, cơn sóng thanh xuân đã tràn vào người và dĩ nhiên không lâu sau đó, như một kết quả tất yếu của những lần làm tình bừa bãi, anh đã mắc lậu.

Dễ thấy Amis xây dựng hình tượng Charles vượt ngoài khuôn thước bằng những điều trên, thế nhưng một mặt nào đó, ông cũng xoay ngược cậu chàng vào bản thân mình bằng những bi kịch dường như lớn hơn. Đầu tiên là cái trăn trở về một gia đình ôn cố mờ nhạt – nơi cha mẹ đóng vai như những con rối giữ vững hạnh phúc gia đình trong khi bản thân đã chết trong nhau từ lâu. Đôi lần anh nói từ tuổi rất nhỏ về nỗi căm hận và sự đau đớn, Căm hận là phản ứng tâm lý duy nhất ta học được trước một bầu không khí gia đình cằn cỗi. Nó là một cảm xúc tàn phá và… đau đớn. Chính những cuốn sổ và sở thích viết một năm 7 cuốn nhật ký, việc viết chớp nhoáng bất cứ ai mà anh từng gặp, ghi chép những điều mình đã từng thấy – đã cung cấp cho anh một góc nhìn rộng về thế giới nghi hoặc này; cộng với tính cách suồng sã nơi bản thân mình; cả hai gặp nhau và nổ trong nhau thành một phản ứng châm biếm xã hội đầy rặt nụ cười trong cái đớn đau ta không thể thấu.

Và chính việc gặp Rachel đã cho anh một tiêu cự phù hợp trong câu chuyện ấy. Để nói một cách dễ hiểu, thông qua Hồ sơ Rachel, Diễn văn gửi bố hay Những cuộc chinh phục và kỹ thuật [những cuốn sổ tay của mình], anh ít nhất đã có một góc nhìn vào bức tranh xã hội đương thời. Thế nhưng nếu đó là bức tranh lớn với bối cảnh rộng; thì cuộc tình và những mơ ước cùng với Rachel cho anh trải nghiệm thực hơn cũng suy tư hơn về vị trí và vai trò của mình ở bờ bến 20. Nếu trước 20 tình dục là cái ta làm, là phận sự của bản thân ta; thì sau 20, chỉ qua một nhích của cây kim giây, lập tức trở thành cái ta phải làm cho xong và là phận sự đối với bạn tình. Chính đường biên mỏng manh về thời khắc này cho anh dũng khí để đến với Rachel, để sống cuộc đời riêng bản thân mình, để được ngập chìm trong bãi tha ma nơi bánh xe đỗ của thế hệ trước.

Việc tiếp thu và hành xử như những lớp người đi trước biến cuộc tình này thành một đường thẳng, như trong những ngày tan vỡ sau này, anh phải thừa nhận Mối quan hệ của bọn tôi cho đến phút đó chỉ toàn là thẳng tiến và lý tưởng hóa, không có tính thật thà đến nỗi khi trường hợp ủ dột thực tình, đáng ghét đầu tiên xuất hiện, tôi (và cả Rachel) nhận ra là bọn tôi chẳng có thứ máy móc nào để phá vỡ nó. Chính trong trạng thái thúc giục của thời quá độ, Charles không còn là anh. Từ người cao ngạo nay bị ra rìa ở Tea Centre, từ bị từ chối không biết bao lần nay lại nuôi mộng bám dính dằng dai; để đến cuối rồi thì, Rachel đến với anh chỉ như lựa chọn của cuộc may rủi, để một trong hai (giữa anh và DeForest) không ai phải đau khổ thêm. Và kết quả trước mắt là khuynh hướng tự suy ngẫm đời mình cho có thứ tự lớp lang đã đánh bại anh, làm nhục anh và phơi bày cái đa cảm của bản thân mình ra trước người đọc.

Thế nhưng chính cuộc chinh phục tưởng như mãi mãi bỗng chốc khép lại bằng những lý do không thể lạ hơn – vì Rachel nhơ nhớp, dơ bẩn; vì Rachel tè dầm hay kỳ quặc hơn nữa, vì Rachel nổi mụn trên mũi!? Trải qua thời kỳ mê đắm cho đến suy sụp, cuộc tình của hai người họ kết thúc một cách không thể lường trước. Thế nhưng đằng sau bề nổi của tảng băng chìm ấy, là dối trá, lọc lừa; là những mặt đối lập chưa thể nhìn thấy ở tít đằng xa, mà cú cua gấp ở phía sau cùng, là cuộc vụng trộm với người đàn bà khác dẫn đến Rachel mang thai trong một trường hợp không thể lường trước.

Vào đúng khoảnh khắc Charles nhận ra bao cao su bị thủng cũng là lúc trách nhiệm của việc có con len sâu vào anh, mà hai đại diện vô cùng tiêu biểu đã cho anh thấy con đường ấy không hề dễ dàng. Việc thù ghét cha mình vì một gia đình bình thường, vì sự xa cách, vì mối quan hệ nhợt nhạt vẫn không thể bằng việc ông không cần dối vợ, tự mình duy trì sức khỏe để có tình nhân và còn thật thà hơn nữa, dẫn hai chị em họ về nơi nhà mình trong bầu không khí bàn luận chính trị của giới tinh hoa. Gần hơn chỉ cách có một vách tường, việc cảm thông với Jenny trước những nhục hình Norman gây ra vì không muốn cô sinh con, không muốn bầu vú chảy xệ đậm đặc mùi sữa hay bánh pudding sẽ không còn khít khi anh ra vào; đã đánh động Charles một điều gì đó về sự khốn nạn của việc làm cha, của chính tình trạng khốn khổ mà bọn đàn ông gây ra cho người phụ nữ để rồi sau này Rachel đáp hoàn toàn ngược lại. Chắc anh sẽ nói chuyện này khá khá… nhảm, nhưng con cái là thứ duy nhất phụ nữ có thể có mà đàn ông thì không. Và họ nên tự hào về điều đó. Cái đó đã bù trừ mọi chuyện.

Và Charles có thật đáng trách khi đổ mọi thứ lên đầu Rachel? Bởi lẽ nguồn cơn của việc bao thủng cũng chính là cuộc vụng trộm của anh với Gloria, việc cho rằng Rachel nói dối về gia thế mình, về ba lý do không đâu như đã dẫn trên… tất cả dẫn về một sự ích kỷ ở phía Charles. Ngao ngán hơn, là lời biện hộ không thể nuốt trôi Tôi cũng đã nói dối và tưởng tượng và lừa bịp; sự tồn tại của tôi cũng là một cái mạng nhện dối trá sắc màu sặc sỡ – nhưng với tôi việc đó […] mang đậm tính giải trí, văn chương, để đáp lại một nhu cầu trí tuệ hay cảm xúc. Thế nhưng nhìn nhận ở một mặt khác, việc còn quá trẻ và phải chứng kiến những sự phụ bạc, những lần bạo hành chỉ vì vấn đề con cái nơi người đàn ông trong gia đình mình đã dẫn Charles đến phán quyết ấy; tuy rằng bất công nhưng vẫn có thể cảm thông cho một tuổi trẻ đã quá hư hao. Đến cuối rồi thì không ai vui vẻ, không ai được gì; chỉ toàn mất mát bởi con tàu nhanh cuối cùng cũng đã vào ga, cuốn phăng mọi thứ cản trở trên đường.

*

Với Hồ sơ Rachel, Martin Amis đã viết nên một tiểu thuyết thách thức thời đại, nơi ông phá bỏ mọi định kiến đạo đức để biến cái thô vụn thành niềm chân thật không một vết xước; để từ đó ta thấy một tuổi trẻ vội vã, những đứt gãy gia đình, những dằn vặt tự thân trở thành nguyên liệu cho điệu jive linh hoạt của những bàn chân suồng sã, trịch thượng, phóng túng lướt trên sàn nhảy cứng đanh mang vẻ giả tạo của xã hội Anh một thời quá khứ và cả sau này. Hồ sơ Rachel ngạo nghễ, linh hoạt mà đa cảm một cách không ngờ. Tiểu thuyết đầu tay và quan trọng nhất định hình nên Amis của ngày hiện tại. Vô cùng hay ho.

Hết.

minh.

Ảnh đầu bài: Nhã Nam

*

Hồ sơ mật: Danh sách xếp hạng văn học 2020


Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đời sống bí ẩn của cây: Để suy ngẫm lại những điều hiển nhiên

“Khi bạn biết rằng cây cũng biết đau, cũng có ký ức, và cây ba mẹ sống cùng con cái, thì bạn không còn có thể chặt chúng và phá vỡ cuộc sống của chúng bằng những cỗ máy to lớn nữa”

Published

on

By

Peter Wohlleben viết cuốn sách Đời sống bí ẩn của cây dựa trên những kết luận đáng kinh ngạc của nghiên cứu khoa học gần đây và đề xuất chúng ta thay đổi thế giới quan cố hữu của mình: coi xét và đối xử với cỏ cây như là những sinh vật sống nhưng “chậm chạp” hơn nhiều so với thế giới động vật thay vì là những “cỗ máy” hữu cơ đơn giản.

Wohlleben bắt đầu sự nghiệp của mình với công việc quản lý rừng, nhưng ông thú nhận, lúc đó, ông “biết về đời sống bí ẩn của cây chẳng nhiều hơn bao nhiêu những gì mà một người bán thịt hiểu về đời sống cảm xúc của động vật”, bởi nhiệm vụ của ông là đánh giá xem cây rừng nào đã đủ tiêu chuẩn để thu hoạch.

Một bước ngoặt xảy đến vào khoảng 20 năm về trước: Wohlleben bỏ việc, chuyển sang nhận tổ chức huấn luyện sinh tồn và xây dựng các tour du lịch nhà gỗ trong rừng. Chính những cuộc gặp gỡ với du khách đã thay đổi cách nghĩ của ông về thực vật và thiên nhiên. “Du khách bị hút hồn bởi những thân cây cong vẹo, xương xẩu mà trước đây tôi sẽ loại bỏ vì chúng có giá trị thương mại thấp. Đi cùng với những du khách của mình, tôi biết lưu tâm đến nhiều thứ khác hơn ngoài giá trị của thân cây.”

Những trải nghiệm trực tiếp quý giá đã giúp ông tích lũy những câu chuyện “vụn vặt” hằng ngày của cỏ cây hoa lá mà sau này ông tìm cách kể lại trong cuốn sách Đời sống bí ẩn của cây, được nhiều ý kiến đánh giá là đã tiết lộ những khám phá tuyệt vời về đời sống tưởng chừng tĩnh lặng của rừng.

Những ý kiến trái chiều thường “tấn công” ngôn ngữ sử dụng trong tác phẩm: ông dùng trường từ vựng dành để mô tả đời sống xã hội của con người để biểu đạt những nét vẻ trong thế giới cỏ cây. Nhiều người cho rằng Wohlleben đã quá “cảm tính”, cố tình bỏ qua việc phân ranh rành rẽ giữa thực vật và động vật.

Nhưng độc giả có thể thấy ở phần cuối cuốn sách 76 mục tài liệu tham khảo chỉ dẫn tới các ấn phẩm khoa học uy tín cũng như các báo cáo nổi tiếng gần đây chứng minh rằng, tác giả cuốn sách đơn giản chỉ truyền đạt những phát hiện thực tế của khoa học bằng ngôn ngữ mà độc giả dễ tiếp cận.

Hơn nữa, điều thú vị của cuốn sách không chỉ giới hạn trong những kết quả nghiên cứu khoa học, Wohlleben còn dành nhiều trang mô tả những biến chuyển tâm lý và tinh thần của chính mình sau quãng đời làm việc trong rừng.

Wohlleben chỉ cho người đọc thấy, từ quan điểm sinh thái, chúng ta cần xem cây rừng không phải là những cá thể cô lập mà là các cộng đồng bị ràng buộc trong một tập hợp các mối quan hệ sinh thái phức tạp với các sinh vật cùng loài cũng như khác loài và đặc biệt là với các loại nấm trong lòng đất giúp truyền chất dinh dưỡng cho rễ cây. Đây là những điều mà từ lâu các nhà sinh vật học đã nhắc đến, nhưng được tác giả cuốn sách diễn tả rất sống động và cuốn hút.

Đời sống bí ẩn của cây

Cây rừng, không như phần lớn chúng ta nghĩ, vốn có một đời sống tình cảm và xã hội phong phú, thậm chí chúng dường như có khả năng lập kế hoạch trước để tạo ra một môi trường tối ưu, đảm bảo tuổi thọ của chúng. Cây rừng không chỉ tương tác với nhau một cách tình cờ, mà còn có thể hình thành nên những mối quan hệ tựa như “tình bạn” trong những khoảng rừng sâu, và trong lúc đó, những cá thể “cô đơn” sẽ phải chịu bao khó khăn vì bị tách biệt khỏi cộng đồng.

Vậy tại sao cây rừng là những sinh vật xã hội như vậy? Wohlleben trả lời: “Lý do cũng giống như trong cộng đồng loài người chúng ta: hợp tác sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn”. Trường hợp một nhóm bạch dương nuôi dưỡng một cá thể bị bệnh khiến ông nhớ về chuyện một đàn voi chăm nom con bị ốm: “Cũng giống như đàn voi, chúng coi sóc lẫn nhau, giúp đỡ kẻ ốm yếu cho đến khi nó khỏe lại. Thậm chí, đàn voi còn miễn cưỡng không nỡ bỏ lại con voi chẳng may chết”.

Mùi hương chính là thứ ngôn ngữ bí mật mà cây rừng sử dụng để giao tiếp với nhau. Wohlleben so sánh điều này với cách thức động vật giao tiếp bằng cách sử dụng pheromone hay những tín hiệu hóa học giữa các cá thể cùng loài. Tác giả đưa ra một ví dụ: ở thảo nguyên châu Phi, hươu cao cổ thường ăn lá cây keo gai dù. Khi điều đó xảy ra, trong vài phút cây bắt đầu sản xuất một chất độc biến lá cây thành đắng, khiến hươu cao cổ phải chùn bước. Đồng thời, cây keo gai dù đó còn tạo ra một mùi hương cảnh báo để những cây keo khác xung quanh ngay lập tức nhận ra – và vì thế, chúng có thể chuẩn bị trước cho cuộc tấn công hươu cao cổ.

Vì không thể di chuyển và chạy trốn, cây rừng đã phát triển các hệ thống thay thế để tự bảo vệ mình trước các mối đe dọa khác nhau. Mạng kết nối được hình thành khi rễ của cây rừng kết nối với nhau qua một hệ thống nấm trong lòng đất “giao tiếp” bằng cách truyền các xung điện. Điều này rất hữu ích, đặc biệt trong trường hợp cần cảnh báo các cây khác về sự xâm nhập của sâu bệnh hoặc hạn hán. Hơn nữa, cây rừng còn có khả năng chia sẻ chất dinh dưỡng qua rễ, đặc biệt khi một cá thể cây không quang hợp đủ hay bị côn trùng tấn công.

Trong một chương về sinh sản có tựa đề Tình yêu, Wohlleben kể rằng, một số cây rừng đã giao tiếp với nhau và ngầm đồng thuận về việc không nở hoa hàng năm, để lũ thú rừng không thể dựa dẫm vào chúng. “Cây sẽ trì hoãn việc ‘yêu đương’ tạo ra thế hệ kế tiếp, vì vậy suốt mùa đông lũ động vật mang thai phải căng mình chịu đựng một thời gian dài với rất ít thức ăn, và nhiều con sẽ không sống sót nổi. Khi tất cả dẻ gai và sồi đồng loạt nở hoa vào cùng thời điểm rồi kết trái, số thú ăn thực vật ít ỏi còn lại sẽ không thể nào phá hủy được mọi thứ…” Chương này đặc biệt cho thấy Wohlleben tài tình như thế nào trong việc chuyển thông tin khoa học sang các phỏng đoán, các tưởng tượng về đời sống kỳ thú của cây.

Wohlleben còn cho rằng mỗi cây rừng có một “tính cách” riêng, theo nghĩa chúng có sự kết hợp độc đáo những kinh nghiệm và đặc điểm riêng biệt. Hầu hết chúng ta đều cho rằng bất cứ điều gì được mã hóa trong gen của một loài thực vật sẽ quyết định toàn bộ đời sống của nó.

Wohlleben qua quan sát từng cây riêng lẻ trong nhiều năm đã chứng minh rằng cây rừng có thể ghi nhớ những kinh nghiệm và rút ra những bài học, theo thời gian; những “trải nghiệm sống” này hình thành nên tính cách độc đáo của chúng. Càng ngày càng có nhiều chuyên gia đồng thuận với ý kiến của tác giả: cây cối vốn là sinh vật xã hội, chúng biết chăm lo cho con cái, cho hàng xóm láng giềng; chúng biết ghi nhớ, học hỏi, tính toán, thậm chí có cảm xúc và cảm nhận được đau đớn.

“Một khu rừng khỏe mạnh hơn – bạn thậm chí có thể nói rằng hạnh phúc hơn – có năng suất tăng đáng kể, nghĩa là mang lại nhiều lợi nhuận hơn.” Cuối cùng, ngôi làng Hümmel ở vùng núi Eifel quê nhà của Wohlleben đã thuê ông quản lý rừng theo những nguyên tắc sinh thái mà ông coi trọng. Ông mô tả lại trải nghiệm này trong Đời sống bí ẩn của cây, nhấn mạnh việc giảm thiểu các tác động đến sự phát triển tự nhiên của rừng, thúc đẩy sự đa dạng sinh thái, dùng động vật để loại bỏ cây không cần thiết thay vì dùng máy móc nặng đốn chặt và vận chuyển.

Ông khuyên chúng ta không nên áp dụng trồng rừng độc canh mà nên cố gắng đáp ứng “nhu cầu xã hội” của cây. Như những gì Wohlleben kết luận, nếu hiểu các khả năng vô tận của cỏ cây và học cách cảm biết được đời sống và nhu cầu cảm xúc của chúng thì chúng ta sẽ bắt đầu đối xử với chúng khác đi, không coi rừng thuần túy là nhà máy sản xuất gỗ nữa, mà coi rừng như “lá phổi xanh” của nhân loại, một ốc đảo để con người nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe.

“Nhưng chúng ta không nên quan tâm đến cây chỉ đơn thuần vì nguyên nhân vật chất, chúng ta cũng nên quan tâm đến chúng vì những câu đố và những điều kỳ diệu nho nhỏ mà chúng cho chúng ta thấy. Dưới tán cây xanh, những sự việc kịch tính hàng ngày và những câu chuyện tình yêu cảm động đang diễn ra.”

Đời sống bí ẩn của cây là một cuốn sách vừa lãng mạn, vừa giàu tính khoa học. Rất nhiều người có thể học hỏi từ cuốn sách này, từ những người ham du thám muốn có cảm thức kết nối sâu sắc hơn với thiên nhiên đến những nhà quản lý muốn xây dựng một chính sách ưu việt hay những nhà hoạt động vì môi trường. Cuốn sách thôi thúc chúng ta suy ngẫm lại những gì đã được coi là hiển nhiên, khuyến khích chúng ta dùng tri kiến mỗi lần tiếp xúc với thiên nhiên, dùng sự tử tế để đối đãi với cây cối, xây dựng một mối quan hệ mà trong đó, các bên đều có lợi.

“Cho đến lúc ấy, khi lần tới bạn đi dạo trong rừng, hãy để trí tưởng tượng của bạn bay cao.”

Hết.

Số ít 20% thông minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Con đường phản bội: Nỗi băn khoăn của tình thế làm người

Published

on

Trong dòng chảy văn chương đương đại, có thể nói văn học di dân luôn chiếm vị thế vô cùng quan trọng mỗi lần xuất hiện. Lần ngược trở về những giải thưởng lớn được trao hàng năm mang tính quốc tế - như Booker chẳng hạn, cả giải Quốc tế lẫn Chính thức dành cho khối Thịnh vượng chung đều ít nhất mỗi năm có một tác phẩm thuộc dòng văn này.

Nếu thống kê nền văn chương di dân nào quen thuộc với độc giả Việt Nam nhất, thì các tác giả Trung Quốc có thể nói là không quá xa lạ với giới xuất bản nước nhà trong những năm qua. Từ Amy Tan đến Anchee Min, từ Lý Dực Vân đến Lư Tân Hoa… những nhà văn di dân này luôn đưa được tiếng nói tự do của bản thân mình ra với thế giới, để cho thấy được một điều gì đó vốn từ lâu vẫn bị kiềm tỏa.

Trong những tên tuổi kể trên, để nhắc đến những nhà văn di dân để lại dấu ấn đậm nét trên văn đàn thế giới, thì hai cái tên không thể không nhắc đến là Yiyun Li (Lý Dực Vân) và Ha Jin (Cáp Kim). Nếu Yiyun Li luôn viết về những tác động của vết thương quá khứ vốn vẫn chưa lành nay va chạm với cuộc sống hiện tại, thì Ha Jin chỉ viết về hiện thực quá khứ – tức những năm tháng ông đã hoặc phải trải qua nếu từng có mặt ở quê nhà bản xứ; mà ta có thể thấy thông qua Đợi chờ – tác phẩm đoạt giải Sách Quốc gia năm 1999 của Mỹ hay Con đường phản bội gần đây đã được giới thiệu và tiến hành chuyển ngữ.

Điều đặc biệt cuốn hút của dòng văn học di dân có thể nói - nếu ta tóm gọn nó chỉ trong một cụm - thì đó chắc hẳn là "sự mở mắt". Với người trong cuộc – đó là tiếng nói tự do để họ thoát xác và đi đến được với những trăn trở vốn vẫn chất chứa từ lâu. Ở một mặt khác với người ngoài cuộc, thì đó là cơ hội để vén bức màn vốn vẫn phong kín từ lâu bởi một thế lực tập trung nào đó. Và Con đường phản bội của Ha Jin cũng không nằm ngoài hai điểm chủ chốt ấy: vừa là tiếng nói tự do, vừa là ngòi bút vạch trần hiện thực một thời đen tối.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng của tác phẩm Con đường phản bội.

*

Tiểu thuyết là câu chuyện kể về Gary Trương – một điệp viên nhị trùng làm việc cho Đảng Cộng Sản dưới thời nội chiến với Quốc Dân Đảng những năm 1950. Từ cuộc Nội chiến Quốc – Cộng đến bối cảnh của chiến tranh Triều Tiên hay sự đối đầu của hai nước lớn Liên Xô và Mỹ… Gary ở đó và bị cuốn vào vòng xoáy của những đấu tranh trong cơn bất ổn về mặt chính trị. Vốn dĩ là một điệp viên của phía Trung Quốc, nay ông đâm ra ngày càng yêu mến và muốn ở lại nước Mỹ vĩ đại với phong cảnh đẹp, những tiến bộ xã hội hay hơn hết là nền dân chủ.

Có thể nói bằng việc xây dựng một điệp viên hai mang, Ha Jin đã khéo léo dẫn dắt người đọc vào trong vòng xoáy đối đầu của những mặt trái ở phía ngoại vi hay là nội hàm. Ở người đàn ông ấy luôn chứa đựng những nỗi trăn trở và cô độc không thể nào nguôi. Tuy trở thành một huyền thoại sống của ngành tình báo nước nhà mà không cần đến bất cứ tài lực hay tiền lực nào, thế nhưng ông vẫn là một linh hồn thực quá cô độc. Từ một chàng trai chỉ luôn khát khao giải phóng đất nước ra khỏi bóng tối của chủ nghĩa thực dân, chế độ thuộc địa; nay bỗng chốc anh đã trở thành anh hùng vô danh trong mặt trận vô hình. Anh yêu thích Jazz như cũng yêu thích chính sự bất định nơi mình, như một gián điệp chiến lược có cuộc sống hỗn loạn, dẫn đến cô độc bén rễ vào sâu trong anh.

Từ việc bỏ mặc người vợ đầu tiên với hai đứa con ở nơi quê nhà mà anh không thể làm được gì khác ngoài việc chu cấp những khoảng tiền lương, đến cuộc hôn nhân với nàng Nellie và tình nhân là cô phát thanh viên trẻ; một mặt nào đó, Gary luôn hiện ra với người đọc một sự bất lực trong vẻ bạc nhược. Một mặt nào đó, anh hiểu tình trạng của mình – khao khát được yêu và được đáp lại nhưng biết sẽ không gì khác có thể xảy ra, từ đó một sự cô độc bén rễ trong anh, khiến ta cảm giác như một mảnh bèo gió dập sóng đưa.

Một điểm đặc biệt trong các sáng tác của Ha Jin là hình tượng người đàn ông trong các tác phẩm của ông luôn đứng chông chênh giữa hai bến bờ, hoặc đương đầu với số phận khó khăn, hoặc bạc nhược nằm im để rồi chịu chết. Nếu trong Đợi chờ là Khổng Lâm với cuộc tình tay ba không thể vượt thoát giữa Mạn Na, Thục Ngọc và ông; thì ở Con đường phản bội, đó là quê hương, đó là nước Mỹ – một cuộc dằn vặt cả ở bên ngoài lẫn ở bên trong. Với cuốn sách này, Ha Jin không giấu sự thật nào một lần xảy ra. Cũng tương tự như Viet Thanh Nguyen viết về viễn kiến của điện ảnh Hollywood hay cuộc sống của những di dân trên đất Mỹ sau ngày tháng Tư đỏ lửa trong The Sympathizer, ở Con đường phản bội, Ha Jin nhìn cuộc đời qua hai lăng kính cuộc sống ông đã trải qua, dẫn đến câu nói sau cuối ở phiên tòa xử như một nhát chém vào những ngây ngô ông một lần tin “Hai nước giống như người cha và người mẹ, cho nên là người con, tôi không thể chia rẽ hai bên và tôi yêu cả hai. Tôi không thể gây tổn thương cho người này để kết thúc đẩy hạnh phúc cho người kia”.

Đó là Trung Quốc của thực dụng mù quáng, của không quan tâm đến một nguyên tắc nào mà ưu tiên trước nhất là việc tồn tại. Đó là đất nước của bốn mối quan tâm chính chỉ có bao gồm thức ăn, quần áo, nhà ở, phương tiện đi lại. Hay như Diêm Liên Khoa một lần viết trong Tứ thưngười phương Tây thường bảo Trung Quốc có ba thứ đã trở thành đặc sản: đó là thuốc súng, giấy, và sự dối trá. Cái dối trá ấy ta cũng được thấy ở phía sau này khi Gary bị tước đoạt hết tất cả giá trị, còn phía nước nhà chỉ kịp phủi tay không làm gì khác.

Một mặt nào đó, Con đường phản bội cũng có thể nói là một bán tự truyện của chính Ha Jin khi ông hướng về quê nhà bản xứ, trong hình tượng của nhân vật chính, mà ta dễ dàng nhận ra ở những chi tiết cụ thể, chẳng hạn Gary có thể nói được tiếng Anh với thứ ngữ pháp đến độ hoàn hảo nhưng lại thiếu đi nhiều sự thoải mái. Ở Gary cũng có những vọng hoài cố, về biến cố Thiên An Môn 1989 khiến ông không trở về nước, về những thảm họa cuộc Đại nhảy vọt của những nạn đói thiếu ăn trầm trọng, về Cách mạng ruộng đất, Bè lũ bốn bên…

Trong khi đó, Mỹ – một đất nước ngăn nắp, trật tự, sung túc, riêng tư, liên tục và đề cao giá trị con người. Khi Nixon nhúng chân vào bãi lầy chiến tranh Việt Nam, người dân của họ vẫn có đủ quyền đứng lên biểu tình cho một đất nước hướng đến hòa bình. Cũng chính điều này xoay chuyển hoàn toàn con người Gary, khiến ông từ một điệp viên chuyển thành con người gắn kết giữa hai nước lớn, khẳng định thêm một lần nữa Không con cá nào có thể sống mà không bị ảnh hưởng bởi dòng nước nó bơi trong đó. Theo cách nào đấy, tất cả chúng ta đều bị định hình bởi những thế lực to lớn hơn bản thân chúng ta.

*

Với Con đường phản bộiHa Jin lại một lần nữa dồn ép nhân vật của tác phẩm mình vào thế chông chênh của tình thế làm người. Không như Đợi chờ là cuộc chiến tâm tính của ba con người ràng buộc vào nhau; Con đường phản bội là thế gọng kìm của nỗi hoài nhớ quê hương và cái khao khát tinh thần tự do, hướng đến dân chủ. Tác phẩm này chứa đựng rất nhiều cảm xúc trong cách dẫn dắt tuyến tính, trung tính nhưng đầy mê hoặc, với Con đường phản bội nỗi nhớ quê hương đã phát triển thành nỗi đau âm ỉ trong tim, làm cho con người ta trở nên mụ mẫm không thể thoát ra, một thiên đường mù sương dang tay chờ đón.

Có gì còn lại sau phía màn sương?

Hết.

Ngô Thuận Phát

*

Những tác phẩm văn học Trung Quốc đã được review tại Bookish

Đọc bài viết

Cafe sáng