Phía sau trang sách

Kẻ ly hương: Mã vạch H4

“Nhà nước đã có từ trước khi ta sinh ra, ta hoàn toàn bất lực không thể tiêu hủy Nhà nước. Kẻ nào tự chọn đặt mình ra ngoài Nhà nước là kẻ phi pháp”.
– J.M. Coetzee, Diary of A Bad Year, 2007.

Published

on

Sự thành công của Viet Thanh Nguyen với Người tị nạn, The Sympathizer hay Nothing Ever Dies đã chứng tỏ một điều: vấn đề tị nạn vẫn đang và sẽ luôn là một trong những nhân tố khắc họa nên lịch sử một cách rõ ràng nhất. Ở đó, những nạn dân lặng lẽ gom góp bóng hình mình vào văn chương, hồn ma của họ khuấy động thượng – nghị viện, dấu chân của họ làm nặng nề thêm hậu Brexit. Những nạn dân nói riêng hay kẻ ly hương nói chung vẫn luôn còn đó, họ đứng đấy phơi thân như những bù nhìn canh giữ cánh đồng lịch sử, nhưng tiếc thay, sẽ mãi mãi còn xác không hồn như những vật chất bất di bất dịch ấy, hoặc là biến mất mãi mãi. Và với Kẻ ly hương, thêm một lần nữa ta được bắt gặp từng mặt người một được vẽ nên bởi lớp da thiên di – cánh chim bay hoài mải miết hướng đến địa ngục khôn cùng.

Họ là những ai?

Nếu Người tị nạn của Viet Thanh Nguyen là phát súng đầu tiên cho ta thấy rõ những người tị nạn thật sự là ai, họ trốn chạy điều gì và thứ gì đang chờ đón họ; thì với riêng Kẻ ly hương, tập tiểu luận này là một góc nhìn đa chiều, xoáy sâu hơn bằng câu chuyện của những chứng nhân lịch sử mà những diễn biến hằn sâu trong đôi mắt họ, ký ức lưu lại mãi mãi như những sang chấn tâm lý không thể khôi phục. Người tị nan được viết như một tuyển tập truyện ngắn mà trong đó những sự thật lịch sử phần nào được thi vị hóa trong lớp nền văn chương, hơn thế nữa, dù đã cố gắng xoay chuyển góc nhìn ở nhiều nhân vật khác nhau: khi là nạn nhân, khi là người dang tay che chở; thì nó cũng không thoát khỏi gót chân Asin – sự độc diễn của riêng tác giả. Thiên di có năm bảy loại, và tình cảnh ly hương còn nhiều hơn thế. Dễ hiểu ly hương bao hàm tị nạn, và với sự đa dạng của nhiều góc nhìn, nhiều câu chuyện; Kẻ ly hương thật sự là một tác phẩm khá toàn diện về những con người lạc loài tìm miền đất mới.

Tị nạn đơn thuần là sự chạy trốn chiến tranh, chạy trốn mâu thuẫn lên cao giữa những thể chế chính trị cả trong hay ngoài đất nước; nhưng ly hương còn nhiều hơn thế. Nó có thể là sự chạy trốn về mặt kinh tế, tôn giáo, xã hội; hay cả gần đây, về mặt giáo dục. Những câu chuyện ly hương không chỉ đơn thuần là những cảnh ngộ vượt quá sức chịu đựng, mà hơn thế nữa, nó còn là câu chuyện đằng sau quá trình thiên di địa lý, là sự chấp nhận hay kháng cự, là cách họ bị đối xử, đứng lên, làm lại chính mình; là cách người bản xứ đối diện với họ, hoặc như con người hoặc những bóng ma,… Nhiều góc nhìn, nhiều chủ đề được đưa ra bàn luận như một hội nghị bàn tròn, mà ở đó cuốn sách như biên bản cuối cùng được kể lại để mãi mãi lưu vào lịch sử. Và hãy tin rằng, một khi dũng cảm để đọc hết nó, bạn cũng đồng thời góp phần mình vào chính những trang sử ấy.

Họ đã làm gì?

Lev Golinkin trong câu chuyện của mình đã viết những dòng sau đây: “Trở thành người tị nạn là một quá trình phai màu, chuyển tiếp từ từ sang dạng thức tồn tại như một bóng ma […] Trở thành một người tị nạn là bất lực đứng nhìn những mỏ neo bị dứt đứt, từng cái một, cho đến khi bạn lửng lơ bồng bềnh trên bề mặt xã hội, một bóng ma vất vưởng cần lắm một đời sống mới”. Ở đó, sau hậu chấn rời bỏ quê nhà, lênh đênh trên những con thuyền hoặc thót tim trên những chuyến tàu nối dài đông đúc; họ phải đối mặt với nỗi luyến nhớ những gì bỏ đi, hoặc thương tiếc, hoặc cam chịu quay đi. Có thể nói, nỗi đau trên những hành trình thiên di chỉ như cái đau thể xác: họ có thể đói, khát, bị cướp bóc, hãm hiếp, hoặc thậm chí bị giết chết; nhưng tất cả những thử đó chỉ như bên ngoài; sâu xa hơn, ở chính đằng sau, cái gậm nhấm tinh thần họ từng ngày như bầy chuột lang nhung nhúc trên da thịt người chính là quê hương, nguồn cội, là bản lai diện mục, là những đứa con người cháu, ông bố bà mẹ,… tất cả những quần thể xa xôi, những bóng ma quá vãng, là thứ khiến họ cắn rứt, dù lực bất tòng tâm hay có một phương cách nào, dù ít dù nhiều, đều là những vết khoét sâu mãi mãi không hàn gắn được.

Ở đó có câu chuyện của người cha để lại con mình vì sự an toàn để rồi sau đó tình cảm gắn kết giữa họ rạn nứt mãi mãi (Reyna Grande), có người ông dù đã men bờ vực thẳm vẫn gắng sức vượt Afganistan sang Ấn Độ vì con gái (Joseph Azam), có người mẹ vì muốn gia đình đoàn tụ phải chịu cô độc giữa nước Đức giá rét không một ai (Meron Hadero) hay vì nội chiến mà người đàn bà nản lòng bỏ hết những niềm vui sống (Rosa Tshuma),… và còn nhiều nữa. Họ như cùng chung số mệnh – số mệnh của cách xa, chia ly, đổ vỡ; của lầy lội trong vũng bùn liệu có được là người. Không đơn thuần thế, trong chính nỗi đau thân thể hay tinh thần ấy, họ đồng thời phải chịu đựng chính sự khinh bỉ, dò xét của người bản xứ. Nó như nhát dao càng khoét sâu hơn vào trong tâm khảm họ, như thể, họ tự cảm nhận, bản thân là một cơ quan nội tạng bị chính cơ thể rộng lớn – nhân đạo – đào thải. Không nhà, không cửa, không quê hương, thân thích,… tất cả như những mũi neo đứt lìa bản thân họ ra khỏi bến bờ thân quen, vươn ra đại dương của những bất an cùng những bảo tố đang chờ phía trước.

Họ thấy thế nào?

Bằng nhiều giọng văn khi hài hước, oán hận; khi điềm tĩnh, nản lòng; những mảnh ghép trong cuốn sách này dần dần định hình thế giới mà chúng ta sống. Trở thành một kẻ ly hương là chấp nhận mất tất cả làm lại từ đầu, nhưng cũng đồng thời, là những dè bỉu, khinh khi: “Chúng tôi bị phán xét như một giống loài suy đồi, những tên đạo tặc, sát nhân, hãm hiếp, và bán ma túy đang làm nhiễm độc linh hồn Nam Phi”. Họ luôn trong trạng thái cúi mặt nhìn xuống tìm từng đồng xu lẻ vì có lý gì đâu mà ngẩng đầu nhìn lên như Viet Thanh Nguyen viết, hay luôn phải hàm chứa trong mình một sự biết ơn khó tả – biết ơn vì căn nhà, lẽ sống, vì lòng nhân đạo dang tay giúp đỡ. Họ biết ơn nhưng sẽ không bao giờ trả lại được loại tình nghĩa đó. Như loài bất tử cộng sinh vào người tị nạn, nó chiếm lấy lòng tự tôn của họ, dang tay lấy trọn những cố gắng của họ; dù có thành công đến đâu, nên người thế nào, nhưng với tư cách của một nhà văn, dấu gạch nối giữa hai quốc tịch vẫn không thể nào xóa bỏ. “Là những người tị nạn, chúng tôi mắc nợ họ căn cước trước kia của mình. Chúng tôi phải đặt nó trước cửa nhà họ như một tặng phẩm, và hân hoan từ bỏ nó để có được vị trí của chúng tôi trong xứ sở mới này. Không chân trong chân ngoài. Không có nền văn hóa thứ ba ở đây”.

Trong cuốn tiểu luận này, Marina Lewycka – tác giả của Lược sử máy kéo bằng tiếng Ukraina đã đóng góp một bài viết vô cùng sâu sắc về người tị nạn, trong một giọng văn vô cùng bất ngờ. Thay vì phong cách trào phúng châm biếm như cuộc tình 27 72 trong những tác phẩm trước đây, bà thay vào đó một sự nản lòng sâu sắc vì sự thay đổi của nhân tính, của đói nghèo và lòng tham. Bà đi từ nước Anh của những chiếc bánh ngọt hay lời mời ăn tối, sang một nước Anh của khủng hoảng hậu Brexit và sự xoay trục của tư tưởng Trump. Bài xích tị nạn, bài xích di dân hay chủ nghĩa bản địa bài ngoại,… tất cả len lỏi vào đời sống người dân Anh hiện đại như một phương cách đến gần hơn với cuộc rời bỏ EU.

Những người phương Tây hiện đại nhìn người tị nạn bằng con mắt căm thù – hờn căm không phải vì họ làm nhơ bẩn phông nền văn hóa vĩ đại từ lâu, cũng không hẳn vì họ giành lấy cơm ăn áo mặc, chỗ ở, việc làm của cộng đồng mình; mà dễ thấy, vì nỗi tị hiềm. Vì một khao khát đổi thay cuộc đời, người tị nạn hay kẻ ly hương luôn mang trong mình thứ gene chiến thắng thời cuộc, họ học và làm việc gần hết tốc lực. Và chỉ khi câu châm ngôn nước Mỹ bị băng hoại vì sự thờ ơ biếng nhác, thì Donald Trump và “Make American Great Again” mới đủ sức lật ngửa bàn cờ chính trị. Kết lại bằng tiếng thở dài của những tự do dân chủ đã mất; bà viết trong cơn nản lòng: “Có lẽ với tất cả những người như chúng tôi cái gọi là quê hương chân chính chỉ là một khung cảnh điền viên đượm sắc hồng tuổi hoa niên, nơi từ đó chúng tôi đã chia ly biền biệt vào cõi lưu đày”.

Những tín hiệu mới

Khi Donald Trump bước một bước thần kỳ lên cầm quyền và hoạch định kế hoạch xây bức tường ngăn cách với Mexico, và cũng trước khi Barbra Streisand làm một đĩa nhạc đậm tính chính trị mỏng để “diss” vị tân tổng thống này; thì từ sâu xa trước đó có một thực tế là những nhen nhóm đoàn kết văn hóa đã bắt rễ vào sâu trong lòng nước Mỹ. Trump có thể làm mọi thứ: ông ta có tiền, quyền lực, điều hành; và nếu Thượng viện thông qua chính sách này (dù trường hợp ấy chỉ có thể xuất hiện trong những tiểu thuyết viễn tưởng của H.G. Wells, Belyaev hay Čapek), thì có lẽ ông ta cũng không thể ngờ chính sự gắn kết văn hóa đã là một ngáng trở khó thể vượt qua, mà biểu hiện hùng hồn và đơn giản nhất, là trong một siêu thị nước Mỹ. Ariel Dorfman một cách hài hước đã viết nên chính những gắn kết yếu tố Mỹ Latin này. Ông dùng sự đa dạng của một siêu thị, nơi những mặt hàng Mỹ Latin bày bán còn phong phú hơn cả nơi quê nhà, nơi bạn có thể mua đến 18 loại ớt Chile chỉ trong không gian siêu thị. Cũng chính trong không gian nhỏ này, sự luyến nhớ cố hương của họ cộng hưởng cùng nhau làm nên một sức mạnh bất di bất dịch mặc cho quyền lực hay của cải. Dorfman khẳng định: “Lục địa của Juárez và García Márquez và Eva Perón không còn có thể được hiểu là chấm dứt tại Rio Grande mà trải dài mãi tận xứ Mỹ xa xôi phương Bắc”.

Nhưng cũng gần đó, trong bài viết “Quê hương thứ hai”, Joself Kertes đã cho ta thấy một Canada hào sảng mở rộng vòng tay, một đất nước linh hoạt và dễ thích nghi. Cũng như Mỹ thuở ban đầu, Canada không có một lịch sử dân cư rõ ràng, và cũng vì thế, nó dễ chấp nhận một nền văn hóa đa bản sắc. Và những nạn dân hay kẻ trôi dạt chính lại là một trong những mảng màu làm phong phú thêm: họ góp màu da mình vào màu da chung, tiếng nói mình vào tiếng nói chung, và hơn hết, san sẻ ký ức mình thành ký ức chung. Những tín hiệu này đồng thời cho ta thấy vẫn còn đấy những bầu trời tươi sáng, chủ nghĩa bài xích dẫu sao vẫn chưa lan đến những nền dân chủ văn minh.

Kết

Ngô là loài C4, nghĩa là, chúng hấp thụ và khóa nhiều cacbon vào trong phân tử của mình hơn hẳn những loài thực vật C3 khác. Chính đặc điểm này làm nên vai trò chính yếu của nó trong nền công nghiệp thực phẩm hay trong những di chỉ tàn tích hóa thạch, khi đồng vị C13 chiếm một tỉ lệ chính yếu rất dễ nhận thấy; thì song song đó, người tị nạn hay kẻ ly hương cũng là giống loài kì lạ như thế. Nếu người Mexico được gọi là “người ngô” vì sự tôn sùng của họ vào loài cây này; thì mở rộng ra hơn, người Mexico tị nạn nói riêng hay những kẻ ly hương nói chung, họ cũng đồng thời mang trong mình những tính chất rất “ngô”: họ là những con người duy nhất mang trong mình cảm thức đau thương hay nỗi mặc cảm như những đồng vị đặc biệt. Họ hấp thụ nỗi đau nhiều hơn ai hết và làm nên con người mình độc lập như thế. Như Alexandar Hemon viết trong Mệnh trời:“Giản lược họ thành một đám đông vô diện mạo, xóa bỏ những câu chuyện của họ chính là tội ác chống lại loài người và lịch sử”, thì với cuốn sách này, câu chuyện của họ lại một lần nữa tập hợp tại đây như lời gói gọn gửi ra thế giới. Một võ đài của những nỗi niềm tị nạn.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Tìm hiểu thêm về tác phẩm Kẻ ly hương


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Người mắt kép: Những con người kết nối, những câu chuyện lồng vào nhau

Published

on

“Cô ơi, hai mắt màu khác nhau thì thế giới mà nó nhìn thấy có giống nhau không?”

Nếu bạn thắc mắc về nhan đề của sách thì câu thoại trên đã phần nào hé mở cho ta biết thế nào là người mắt kép. Và để biết vai trò của người mắt kép trong câu chuyện, tôi nghĩ bạn hãy cầm sách lên và khám phá vai trò của người ấy.

Nội dung bài viết dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Người mắt kép.

*

Mỗi cuốn sách đều chứa đựng một kho tàng - một thế giới chờ người đọc, người nghe khám phá nó. Tiểu thuyết Người mắt kép kể về những con người với số phận riêng biệt, những vùng đất với số phận đặc thù. Ở một tầng sâu hơn, cuốn sách còn đề cập đến vấn đề khí hậu, vấn đề sinh thái trong văn học và sự trả thù của tự nhiên.

Mỗi người có một cuộc đời riêng biệt nhưng kết nối

Cuộc sống vốn dĩ không có kịch bản, không có đạo diễn, cũng chẳng có nhà sản xuất, chỉ có những kẻ tự quyết định lấy cuộc đời của mình. Trong cuộc trú chân vô cùng ngắn ngủi của chúng ta trên mẫu hành tinh bé nhỏ, chuyện gì cũng có thể xảy ra được cả. Mỗi người có một cuộc đời riêng và để ta gặp được nhau, phải có một “sự tình cờ” nào đó liên kết chúng ta lại.

Người mắt kép kể câu chuyện của Atile’i - một thanh niên 15 tuổi sống ở đảo Wayo Wayo, cậu trai với hành trình dong buồm ra biển lớn vì truyền thống lâu đời của nơi này. Sự tăng trưởng dân số trên đảo dẫn đến sự tăng trưởng sản lượng tiêu thụ và thiếu đất sinh sống. Người con trai thứ, sau 180 lần trăng tròn, phải tự chèo thuyền ra biển, như một lời hứa với Kabang và chưa một ai ra khơi trở về được cả. Anh em sinh đôi ra đời chỉ cách nhau vài giây thôi; nhưng với Atile’i, người ta vẫn phân biệt con trai đầu, con trai thứ. Đứa con trai thứ là người phải lên thuyền ra khơi - sự khác nhau vài giây đó đã tạo nên một vận mệnh khác.

Song hành với đó, sự chối bỏ thực tại luôn ẩn chứa trong mỗi người khi ta không tìm được hạnh phúc, khi hiện tại là sự sống hẫng hụt. Sự thất vọng với thế giới hiện tại khiến con người muốn tìm một thế giới riêng. Alice là một nữ giáo sư sống cùng gia đình nhỏ trong căn nhà xinh đẹp bên bờ biển. Chồng và con trai cô mất tích trong một chuyến leo núi, cô khát khao được kết liễu mạng sống của mình, cô cho đi toàn bộ tài sản vật chất để ra đi mà không phải nghĩ ngợi gì. Ý định chưa kịp thực hiện thì cô gặp Ohiyo, một con mèo cho cô cảm giác cô cần phải chăm sóc nó vì biết đâu đứa con trai bé bỏng của cô ngoài kia chưa chết và đang có người chăm sóc nó như vậy. Một kẻ chỉ vài ngày trước đem cho đi toàn bộ tài sản của mình, vài ngày sau lại đi sắm sửa “gia tài” cho “kẻ khác”.

Hai con người ở hai thế giới, tưởng chừng chẳng bao giờ gặp nhau, bằng một sự tình cờ do đại dương mang đến, Alice gặp Atile’i, hai người dù chẳng biết ngôn ngữ của nhau nhưng họ dần hiểu được lời nói của đối phương. Từ đây, những câu chuyện về cuộc đời họ dần được kể rõ hơn, họ cho nhau niềm tin để sống tiếp cuộc đời của mình.

Sự giận dữ của mẹ thiên nhiên

Ngay cả nếu chúng ta vẫn tiếp tục chạy đủ nhanh và trì hoãn được sự suy sụp của hệ sinh thái thì bản thân cuộc đua cũng tạo nên những vấn đề cực kì lớn. Sau nhiều thế kỉ tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học, đáng ra cuộc sống phải yên ổn và thanh bình hơn - ít nhất là ở các nước tiên tiến. Nhưng bất chấp những thành tựu, chúng ta vẫn lắm lúc thấy áp lực và không tìm được sự hài lòng.

Trong quá trình đọc Người mắt kép, tôi đã nghĩ thật nhiều đến những bộ phim hoạt hình của Ghibli Studio: Laputa Castle In The Sky Laputa (1989), Mononoke Hime (1997), Ponyo (2008),… vấn đề môi trường và cuộc sống con người, những câu hỏi ám ảnh tôi, trên rừng xuống biển. “Có một đảo rác từ ngoài biển trôi vào nơi này”, có một vực xoáy rác, cuốn mọi thứ con người thải ra biển, đem vào lại đất liền để trả lại toàn bộ cho con người.

Cuộc mưu cầu quyền năng thời hiện đại được thúc đẩy bởi liên minh khoa học và tiến bộ kinh tế. Những kí ức của Alice về năm tháng sống cùng ngoại, lúc chưa có nhà máy hóa dầu, mùa đông có rất nhiều người tập trung đến đấy để ngắm chim, rút đầu lại đứng phía sau của ống nhòm như đang kì vọng cuộc sống của mình sẽ có gì đổi khác. Nhưng khi nhà máy ấy hoàn thành, từ đó hầu như không còn nhà nào để mở cửa. “Những ống khói hì hục bốc lên làn khói đen”. Khi một thảm hoạ sinh thái ập đến, người nghèo luôn chịu tác động nhiều hơn người giàu, ngay cả khi thảm kịch ấy do chính người giàu gây ra.

“Chuyện gì thế này? Những thứ này từ đâu đến?”

Toàn bộ những gì con người gây ra cho trái đất, con người phải nhận lại hết. Vực xoáy rác là minh chứng, thiên nhiên đã trả lại cho con người tất cả, vốn lẫn lãi. Con người cần trái đất, con người cần tự nhiên; không có con người trái đất vẫn có thể sống, nhưng không có trái đất, con người sẽ không thể tồn tại được.

Hành trình thiên nhiên đáp trả đó không phải đột ngột theo cách bất ngờ, đó là một quá trình. Tự nhiên đã nhiều lần nhắc nhở, cảnh báo, con người không nghe nên tự nhiên mới dùng hành động để cho con người thấy: “Con người - các ngươi đã thật sự làm ta giận dữ”. Vực xoáy rác khổng lồ cũng chỉ là lời nhắc nhở thôi, như lúc nhà máy hóa dầu quê ngoại của Alice vậy. Cũng giống như những con người ở đảo Wayo Wayo vậy, họ đã thay đổi bằng cách “hiến tế” người con trai thứ như lời hứa giảm số người dân, đảm bảo số người dân ít hơn số cây trong đảo. Và những con người sống ở đất liền, nếu không giảm lượng rác thải tạo ra, rồi cũng chẳng còn nơi để sống đâu. Sự hủy diệt sẽ làm biến mất tất cả. Khi chẳng còn khỏe mạnh, mẹ thiên nhiên sẽ thật sự nổi giận và trả lại con người cơn thịnh nộ của mình.

Chuộc tội như thế nào cho đúng?

Ngày xửa ngày xưa, tất cả mọi vật đều bắt chước lẫn nhau, hòn đảo bắt chước rùa biển, cây cối bắt chước đám mây, cái chết bắt chước sự sống. Thiên nhiên đã tồn tại trước, sau đó rất lâu, con người mới xuất hiện trên trái đất.

Một câu hỏi lớn buộc chúng ta phải tự đặt ra cho chính mình và mọi người. Liệu con người và thiên nhiên có thể chung sống hòa bình? Rốt cục nguyên tắc phân loại là thực sự theo quy luật của tự nhiên hay theo quy tắc của con người? Loài người nhận thức được sự căm phẫn của thiên nhiên, nhưng có khả năng nào để chúng ta chuộc lại lỗi lầm hay không? Khả năng cao là không.

Chẳng ai muốn đón nhận cơn cuồng nộ của thiên nhiên đâu nhỉ? Mèo nhỏ Ohiyo là sự dịu dàng xua tan nỗi đau với Alice. Tôi nghĩ rằng chính sự dịu dàng trong cách con người đối xử với nhau, đối xử với thiên nhiên sẽ làm nguôi ngoai phần nào cơn giận dữ.

Kết.

“Vậy thứ khiến chúng ta sợ hơn đó là con người. Bất luận là người đó nói bảo vệ chúng ta hay người muốn dỡ nhà chúng ta đều đáng sợ cả, vì họ sẽ không nói với chúng ta tại sao, vì cái tại sao của những người dân bản địa chúng ta không giống nhau đúng không?” Mỗi người chúng ta thuộc về một thể loại riêng. Một số sống đời bi kịch, số khác sống đời hài kịch, số tiếp trú ngụ trong những vở kịch của tôn giáo, có kẻ chọn tiếp cận nó như phim hành động, nhưng xét cho cùng, tất cả đều là câu chuyện

Những thất vọng và niềm tin, mỗi người, ai cũng có câu chuyện cho riêng mình, không ai giống ai, có người mải mê tạo nên những câu chuyện, có người mải mê đi tìm những câu chuyện, có người lắng nghe những câu chuyện của những người khác. Và cuối cùng mỗi chúng ta, khi đặt dấu chấm hết cho cuộc đời mình, chúng ta sẽ có một câu chuyện để người khác nhớ về chúng ta.

“Rồi sẽ có một ngày
Em muốn rời bỏ thành phố phồn hoa
Rồi sẽ có một ngày
Em sẽ muốn trông thấy
Một nơi như thiên đường mà thuở ấu thơ mẹ kể”.

Hết.

Hoàng Anh

Ảnh đầu bài: Elle Việt Nam

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH Siêu Đẳng: Một góc nhìn khác về động vật

Published

on

Em có muốn trở lại sống trong ống cống không? Và ăn rác rưởi của con người? Vì loài chuột vẫn sống như thế. Nhưng thực tế là chúng ta không còn là chuột nữa. Chúng ta là thứ được bác sĩ Schultz tạo ra. Một thứ hoàn toàn mới.

Hình thức nhân hóa các loài vật để tạo nên một câu chuyện, một huyền thoại giống như con người không phải là hiếm; và dĩ nhiên, không thiếu những tác phẩm thành công. Đồi thỏ của Richard Adams từng bị e ngại về độ dày quá lớn cho một tác phẩm thiếu nhi; thế nhưng không thể phủ nhận sức ảnh hưởng của nó cho đến ngày nay. Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng – tác phẩm đoạt Huân chương Newberry năm 1972 thì ngược lại, không cần quá dày cũng đủ làm nên một huyền thoại.

Tác phẩm kể về nhà chuột Frisby và những khó khăn họ gặp phải khi đối mặt với chuyến chuyển nhà mùa hè. Góa chồng, bà Frisby một mình nuôi nấng bốn người con, trong đó Timothy, đứa nhỏ nhất, lại đang viêm phổi và có thể trở nặng bất cứ lúc nào, nếu họ đánh liều di chuyển sang căn nhà mùa hè. Thế nhưng băng đã tan, nhà Fitzgibbon đã bắt đầu cày bừa, đâu là giải pháp cho bà mẹ này?

Bài viết dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng.

Thiên nhiên đa dạng

Cũng như những tác phẩm khác, nhà văn Robert C.O’Brien dồn ép câu chuyện đến bước đường cùng, để ta thấy sức khám phá và hành trình chứng minh bản thân của những loài vật tuy nhỏ kích thước nhưng can đảm là có thừa. Thiên nhiên trong tác phẩm của ông điển hình nhưng cũng tuyệt đẹp, với những giúp đỡ, sẻ chia cũng như sự đồng cảm của những loài vật dành cho nhau.

Có thể thấy được sự tương đồng với Đồi thỏ khi cả hai tác phẩm đều bắt nguồn từ việc nơi ở của mình bị con người đe dọa. Mối quan hệ giữa con người và động vật trong tác phẩm của O’Brien không quá cay đắng. Ông cho mỗi tuyến nhân vật một ý nghĩa để hành động, không phản chiếu hay đánh giá phiến diện bất kì ai. Rốt cuộc thì nhà chuột Frisby hay gia đình ông Fitzgibbon cũng cần sống, và điều này càng làm tăng thêm vị thế của gia đình chuột, khi không cầu xin sự thương cảm từ phía người đọc, mà trong tác phẩm này, họ có chỗ đứng cũng như tầm nhìn vô cùng độc lập.

Một trong những yếu điểm của truyện thiếu nhi là nó quá… phi thực. Nếu chỉ dành cho trẻ con, thì không có gì để nói. Nhưng để lưu danh và dành cho nhiều độ tuổi khác nhau, mà mỗi một người có thể nhìn nó theo thế giới quan của mình, như Hoàng tử bé, như Totto-chan bên cửa sổ… thì không phải là dễ. Và tác giả O’Brien giải quyết điều này vô cùng logic. Tác phẩm của ông không chứa đựng sự ngẫu nhiên hay phép thần thông quảng đại nào, mà như nói trên, mọi thứ đều có lý do, và ông cho độc giả một lý do mang tính dự báo, và rất có thể trở thành hiện thực trong những ngày này.

Phân chia cốt truyện thành hai tuyến song song, bên cạnh việc tìm giải pháp cho lần chuyển nhà trong khi Timothy thì đang bệnh nặng; O’Brien cũng khéo léo lồng ghép quá trình Chuột cống, Chuột đồng trốn khỏi phòng thí nghiệm NIMH, và cũng từ đây lí giải vì sao những tình tiết sau đó vô cùng logic. Từng là những loài chuột thí nghiệm, quần thể Chuột cống và Chuột đồng sở hữu bộ gen đặc biệt, trong thử nghiệm giúp học và tiếp thu nhanh. Từ đó, một thế hệ Chuột mới ra đời, toàn năng và không thể phá hủy.

Điều đó cũng lý giải vì sao có một cộng đồng chuột với đủ thứ thiết bị, từ hành lang, sách vở, đèn đóm, máy phát điện, kho hạt… cho đến những bài thuốc gây mê con mèo lởn vởn xung quanh. Các nhân vật này trong tác phẩm của O’Brien nhiều cá tính và đậm dấu ấn, khiến bất cứ lúc nào người đọc cũng tìm thấy được một nhân vật đặc biệt, như Cây Phỉ của Đồi Thỏ, thì tác phẩm này có Chuột Nicodemus, Justin, Arthur, Brutus, quạ Jeremy, bác cú, thầy Ages… những cá tính nổi bật và đậm nét.

Tính nhân văn

Sự đẹp đẽ trong quần thể nhỏ nhắn của các loài vật đã được truyền tải một cách trọn vẹn, từ tình mẹ con ấm áp thiêng liêng của cô chuột Frisby tần tảo nuôi con thơ dại trong mùa đông khắc nghiệt và khan hiếm thức ăn; cho đến việc cứu quạ Jeremy mà không màng đến tính mạng. Bất cứ một việc thiện nào trong tác phẩm này cũng đều dẫn đến một việc tốt khác, cứ thế cái tốt đẹp và lòng tốt nhân đôi, càng lan tỏa thêm sự đồng cảm và tình yêu thương.

Cũng chính sự cứu mạng đó mà bác cú đã mách chị Frisby dời nhà sang mé bế phong – hay vùng tam giác đổ bóng của ngọn đá lớn ông Fitzgibbon bỏ qua khi cày. Cũng chính nhờ sự giúp đỡ của chồng mình chống lại Rồng, mà cộng đồng Chuột cống mới có một thế giới riêng, và những dự án bí mật sau này.

Thế nhưng, nỗi bật nhất vẫn là thế cân bằng giữa các loài vật trong tiểu thuyết này. Chuột Cống không ngại sử dụng thân thể to lớn của mình để cứu Chuột Đồng, Chuột Chù tuy nhiều chuyện nhưng không ngại đứng ra bảo vệ những đứa con của chị Frisby; và dĩ nhiên, những chú chuột ấy cũng có thể diện, cảm xúc, cũng như những nhận thức rất con người.

Khi đã trở thành một giống loài được chọn, 20 chú chuột ấy biết rõ mình không còn thuộc về phường đầu trộm đuôi cướp hay ưa phá hoại của cải của con người nữa. Họ từ bỏ chợ nông sản và những cống rãnh hôi thối của đường phố, mà quây mình ở điền trang Boniface tự trau dồi học hỏi đương lúc gia chủ đi vắng. Từ chiếc xe bỏ hoang của Ông Đồ chơi rong mà họ xây dựng nơi an cư cho riêng mình, và chỉ mình mình.

Thế cân bằng ấy còn nằm ở việc họ không tự bằng lòng với việc ăn ấm mặc êm, trở nên sung túc với điện và nước lấy trộm của con người, hay những hạt giống, ngũ cốc sẵn có từ nhà Fitzgibbon. Trong sự phát triển ngang tầm cỡ con người, họ đã nuôi lớn kế hoạch tự xây dựng Thung lũng Gai, để gieo hạt, trồng trọt dù biết trước là sẽ gian khổ. Họ cũng như con người, tự mình phá hủy cái cung điện nguy ngoa khoét vào đá để bản thân không quay trở lại hưởng thụ được, khi tương lai phía trước là bất định.

Tác phẩm này của O’Brien đạt đến hàng kinh điển bởi nhẽ, nó khai thác một góc nhìn rất mới và đầy biến động về con người và tự nhiên. Loài chuột biết suy nghĩ, biết tự nuôi sống bản thân; chúng độc lập đứng trước con người, chứng minh và thể hiện mình. Con người hay Homo Sapiens từ trước đến nay vẫn tự nhủ bản thân là giống loài riêng biệt duy nhất thông minh; thì ở tác phẩm này, có đôi khi ta phải nhìn lại, rốt cuộc rồi thì con người cũng là động vật, cũng được tạo thành từ các nguyên tử, phân tử từ thủa sơ khai. Họ không có đặc quyền gì đặc biệt, bởi nhẽ, họ đã quen với sự thống trị của bản thân trong thế giới vô tri. Và O’Brien đã bắt một cái bập bênh, để chính họ nhìn lại vị thế của mình.

*

Bằng câu chuyện phiêu lưu đậm màu cổ tích nhưng không thiếu logic và những suy tư rất sâu và xa của con người, Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng không chỉ thể hiện tình cảm thân ái giữa các loài vật hay thế giới nhân hóa kì diệu; mà đồng thời, cũng giúp con người ngộ ra được vị trí và vai trò của chính họ, trong tự nhiên và những giống loài tồn tại trên Trái Đất này. Một tác phẩm hay và chứa đựng nhiều bài học đáng quý.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Chuyện đời Sương: Một góc nhìn về xã hội Hàn Quốc

Published

on

Bạn có bao giờ tự hỏi, mọi quyết định xảy ra với mình là kết quả của định mệnh hay là những lựa chọn của chính bản thân? Liệu định mệnh sẽ/đã đưa bạn gặp nửa kia của đời mình hay do những lựa chọn của bạn? Là do định mệnh hay lựa chọn mà bạn chọn đọc cuốn sách/bài viết này này?

Chuyện đời Sương (Suh Song Nan) kể câu chuyện của cô gái người Việt với cái tên bình thường Nguyễn Thị Sương, xinh đẹp, khỏe mạnh, sinh ra và lớn lên ở miền Tây sông nước, chọn lựa rời bỏ quê hương để làm dâu xứ Hàn. Ngoài ra, câu chuyện còn đan cài số phận của những con người ở làng Gail, những người ở thành thị Jang và Lee Ryeong là đại diện chính, Sương là một mắt xích tình cờ trong câu chuyện. Một câu chuyện với những tình tiết bình thường, không thật sự có cao trào nhưng bên trong những con chữ là sự cuộn sóng và những âm ỉ trong tâm tưởng của nhân vật. Mộng và thực, quá khứ và hiện tại, suy nghĩ và hành động. Cứ bình thường, bình thường như vậy thôi, trên con thuyền chở đầy chữ lênh đênh cùng dòng suy tưởng của các nhân vật, bạn đọc lật giở từng trang sách cho đến cuối cùng, mọi chuyện được sáng tỏ… nhưng vẫn để lại những nuối tiếc.

Những dòng tiếp theo sẽ tiết lộ kha khá nội dung truyện.

Số phận của phụ nữ bị cái gì quyết định thế?

Theo thống kê từ một nghiên cứu của tạp chí Newsweek được xuất bản năm 2011, Việt Nam xếp thứ 45, Hàn Quốc xếp thứ 80 trên tổng số 165 quốc gia tham gia khảo sát về quyền và chất lượng cuộc sống của phụ nữ. Người phụ nữ gần như không có tiếng nói ở các nước Á Đông nói chung và Hàn Quốc nói riêng.

Lấy chồng, kết hôn, sinh con, chẳng phải cuộc đời một người phụ nữ bình thường nào cũng vậy sao? Người phụ nữ khi lấy chồng sẽ thuộc về nhà chồng, họ sống vì bổn phận chứ không còn vì cá nhân mình nữa. Ta có thể thấy qua người mẹ trong Hãy chăm sóc mẹ, Kim Ji Young trong Kim Ji Young, Sinh năm 1982 và Sương hay Jeong Ha trong tác phẩm này, họ trở nên kiệm lời, ít nói và dần vô cảm. Chúng ta vẫn thường nghe các chị kháo nhau lấy chồng như đánh một canh bạc, ai may mắn thì trúng lớn, ai xui thì thua hết vốn liếng.

Không ai có quyền quyết định quê hương, cha mẹ hay giới tính của mình. Điều họ có thể làm là nỗ lực để cuộc sống tốt hơn.

Sương bỏ quê đến miền đất hứa, những mong tương lai tươi sáng hơn; cô mơ về một gia đình hạnh phúc, với ngôi nhà khang trang, có chồng yêu thương, có những đứa con nhỏ, một mảnh vườn để trồng vài loại cây. Khát khao đó có chính đáng không? Có chứ. Nhưng Sương quên mất rằng, hạnh phúc của bản thân đâu thể nào đặt vào tay kẻ khác, đâu thể nào để kẻ khác quyết định thay mình được.

Sương mơ về chốn thị thành xa hoa, cô thất vọng vì Quốc, người thầm yêu cô nhưng không bao giờ dám thổ lộ, xem thường khi anh không lên thành phố mà mãi quẩn quanh ở vùng sông nước nghèo. Sương có tham vọng, có ước mơ, có chính kiến. Cô dám đi, dám làm và dám gánh hậu quả do quyết định của mình mà không một lời kêu ca. “Nhập gia tùy tục”, khác nhau về ngôn ngữ, cách sinh hoạt, khí hậu… nhưng cô đã thích nghi rất tốt, sau bảy năm làm dâu, cô đã nói tiếng Hàn chuẩn như người bản xứ, nấu món Hàn như một người phụ nữ Hàn thực thụ, đến người làng cũng tấm tắc khen.

Khi không còn hy vọng, Sương làm các công việc hằng ngày như một cái máy, chỉ dám mơ những điều mình thích trong tâm tưởng. Sương hoàn toàn có cơ hội chạy trốn khỏi làng quê nghèo khổ đó nhưng cô không chọn bỏ chạy khỏi nơi đây. Sương như loài hoa rừng hằng ngày Lee Ryeong vẫn ngắm, vừa xinh đẹp rực rỡ, vừa ấm áp nhưng cũng âm thầm. Sương mang vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, chịu thương, chịu khó, nhẫn nại vô cùng.

Ranh giới của yêu và ghét, thiện và ác thật mong manh

Sẽ ra sao nếu một ngày con người, khi mà nỗi đau nuốt trọn tâm trí họ, khi hy vọng bắt đầu bị bóng tối thế chỗ? Liệu những gì tốt đẹp nhất làm nên một con người có trường tồn, hay nó cũng sẽ phai dần cùng những mất mát?

Chồng Sương - Jong Tae, không phải là người xấu. Nhưng anh là kẻ nhu nhược. Anh để mẹ đánh đập, mắng nhiếc vợ dù cô chẳng làm sai gì cả; cách duy nhất anh bảo vệ Sương là để cô trốn sang nhà hàng xóm. Đã có lúc anh quan tâm, yêu thương vợ, anh thấy có lỗi vì đã nói dối Sương khi anh hơn cô 20 tuổi nhưng lại bảo chỉ 10 thôi. Anh muốn bù đắp cho Sương bằng những món quà, dù chỉ là những thứ mĩ phẩm rẻ tiền mua trên phố nhưng an ủi Sương biết bao. Anh chu đáo gói phần quà nhỏ gửi về cho ông bà Sương ở Việt Nam. Những định kiến về quan niệm ăn sâu vào người đàn ông đó, chứ có phải bản chất họ xấu xa đâu.

Khi biến cố xảy ra, hắn ta trở thành một con người khác, triền miên trong những cơn say, đánh, chửi, đổ lỗi lên Sương. Rượu đem đến cho hắn cảm giác giải thoát, làm hắn ta trở nên mất trí, thờ ơ trước khổ đau của Sương, thậm chí làm nên những việc ác. Và Jong Tae đã trở thành một kẻ độc ác vì rượu và cả sự hoài nghi.

Họ không có bằng chứng để kết tội nhưng họ dồn ánh mắt nghi ngờ, đổ lỗi lên Sương. Người duy nhất có thể làm chứng - chú Dong Joo lại bị câm, bà Park - mẹ chú cũng lờ đi những hành động của con trai mình. Ranh giới giữa thiện và ác thật mong manh, sự im lặng đã đẩy một người vô tội đến đường cùng. Không phải một lần mà đến tận hai lần, ngọn lửa đã thiêu rụi hy vọng của Sương, những tàn tro và oan khuất từ vụ chạy đầu tiên vẫn còn đủ để một đốm lửa hy vọng lập lòe, để cô sống, tiếp tục nuôi niềm tin về tương lai tốt đẹp hơn. Nhưng ngọn lửa lần này đã thiêu rụi toàn bộ, thiêu rụi căn nhà trắng, Lee Ryeong và tất cả. Nó cũng lấy đi tiếng nói của Sương. Chẳng còn gì.

Lối sống làng xã ăn sâu và gốc rễ người làng quê

Sương là sở hữu chung của dân làng, những ánh nhìn soi mói của người làng luôn nhìn vào cô, chỉ cần có một hành động sai thôi, cả làng sẽ lên án và vớ lấy lý do “người ngoại quốc” để từ chối nhận cô. Dù ở làng Gail hơn 10 năm nhưng không có hộ khẩu Hàn, mà cho dù có thì đời đời kiếp kiếp cô chỉ là “kẻ ngoại quốc” mà thôi. Dân làng cũng chẳng ưa Jang và Lee Ryeong dù họ mang quốc tịch Hàn, sinh ra và lớn lên ở Hàn nhưng họ chỉ là người giàu về đây chiếm đất.

Những suy nghĩ đâm sâu, cắm rễ trong tâm trí họ, họ không chấp nhận một người ngoại quốc, một người thành phố đến sinh sống ở đây.

Hai người phụ nữ đối lập nhưng cũng thật giống nhau

Nhờ trưởng thôn giới thiệu, Sương đã đặt chân vào ngôi nhà trắng làm người giúp việc. Lúc đầu tôi nghĩ, “Chuyện đời Sương” mà sao những trang viết chiếm sóng của Jang và Lee Ryeong nhiều quá trời vậy? Rồi ai mới là nhân vật chính đây? Nhưng có lẽ, mọi thứ đều mang ý nghĩa riêng, chỉ là chúng ta hiểu như thế nào, hiểu đúng nó hay không thôi. Ngôi nhà trắng Lee Ryeong sống là ngôi nhà ao ước của Sương, ngôi nhà cô thấy trong những thước phim cổ tích, trong tưởng tượng. Hai người phụ nữ, họ đều có những nỗi khổ riêng. Sương sống trong sợ hãi đến mức phải trốn chạy sang nhà bà Park mỗi lần mẹ chồng đánh, đến lúc mẹ chồng qua đời lại là những trận đòn roi của chồng, Sương làm việc bục mặt để trang trải phí sinh hoạt, để nuôi người chồng nát rượu mà chẳng hề ta thán nửa lời. Còn Lee Ryeong, quá khứ của cô quả thực không dễ dàng, khi lấy Jang, cuộc sống cô ổn hơn, hạnh phúc chưa được bao lâu thì tai họa ập đến, cô phải sống với bệnh của mình. Thay vì kiên cường cô chọn trốn tránh, một cái xác không hồn trong căn phòng cánh cửa nhỏ như tờ giấy A3 và tối đen. Cô gái ngoại quốc đã kiên cường hơn, có lẽ vì cô khao khát được sống hơn, vì cô có một ước mơ, một hy vọng về tương lai đổi khác. Chỉ cần còn niềm tin, con người ta vẫn có thể vươn lên.

Sự chối bỏ thực tại luôn ẩn chứa trong mỗi người, khi chúng ta không tìm được hạnh phúc, khi sự thất vọng với thế giới khiến con người muốn tìm một thế giới riêng, trong xã hội đầy những nguyên tắc, đè nén thì sự vươn lên của Sương chính là một điều đáng trân trọng. Sương và Lee Ryeong sắp gặp nhau ở thế giới giao thoa, nhưng mọi thứ dang dở đầy tiếc nuối.

Ngôi nhà trắng: Khi tất cả đều hóa tàn tro

Ngôi nhà trắng là ngôi nhà mơ ước Jang dành cho Lee Ryeong, anh đã xây nó làm món quà cầu hôn người con gái đặc biệt, đó cũng chính là ngôi nhà trong những thước phim Sương mơ về trước ngày sang Hàn. Nó xuất hiện với xứ mệnh tốt đẹp biết bao nhưng chẳng có gì hoàn hảo cả. Giữa vùng quê nghèo, ngôi nhà trắng khang trang giàu có là cái gai trong mắt người làng, nó cũng vô tình là bước đẩy Lee Ryeong bị tai nạn. Từ sứ mệnh tốt đẹp lúc đầu, nó trở thành nơi giam cầm Lee Ryeong. Nhưng nó chính là mắc xích quan trọng kết nối câu chuyện. Để Sương gặp họ, để những mối giao cảm giữa những con người xa lạ thật gần gũi. Họ chưa hề trực tiếp ngồi nói chuyện với nhau; chỉ trong tâm tưởng thôi nhưng ta có thể cảm nhận được. Ngôi nhà cháy, tất cả đều hóa tàn tro, thân thể của Lee Ryeong, niềm hy vọng của Sương. Nhưng nó cũng là sự giải thoát, không biết đúng hay sai khi tôi nghĩ, nó giải thoát Jang, dù anh còn yêu Lee Ryeong nhưng là cô của trước kia, một nữ nhà văn khác biệt, viết vì chính mình chứ chẳng vì ai cả. Nó giải thoát Lee Ryeong trước nhưng tiếng kim loại ing tai trong đầu. Điều đó cũng chấm dứt cuộc đời làm dâu, làm vợ nơi xứ Hàn của Sương. Như một chuỗi vòng kết bằng sợi dây mỏng mảnh, ngọn lửa bùng cháy đốt hết tất cả.

Kết.

Câu chuyện không có sự chênh lệch giàu nghèo như trong Parasites, cũng không có những kịch tính mẹ chồng nàng dâu, motif bệnh ung thư… Ở đó chỉ có những con người với cuộc đời bình thường nhưng đủ để phơi bày hiện thực của ảo vọng đổi đời khi lấy chồng Hàn. Cô dâu Việt dưới ngòi bút của tác giả Suh Song Nan không mạnh về sự kiện, hành động hay lời thoại, xuyên suốt cuốn sách có những góc nhìn đan xen giữa các nhân vật. Nếu bạn đặt kì vọng quá lớn về cuốn sách kể chuyện làm dâu, những drama Hàn thì có lẽ, cuốn sách sẽ làm bạn thất vọng đấy. Nhưng không có nghĩa nó không đáng để đọc, để gặt hái những “quả chiêm nghiệm”, để lắng lòng suy nghĩ về số phận người phụ nữ, về cuộc đời của một con người, tác phẩm này là một sự lựa chọn không tồi.

Hết.

Tài liệu tham khảo:

  1. Suh Song Nan (2021) “Chuyện đời Sương nàng dâu Việt ở xứ Hàn”, NXB Phụ Nữ Việt Nam.
  2. Wikipedia (2021) Xếp hạn nữ quyền theo các quốc gia, truy cấp 18/10/2021: https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%AF_quy%E1%BB%81n
Đọc bài viết

Cafe sáng