Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Một năm đọc sách

Âu bản tường trình này như một báo cáo cho năm vừa qua về mặt văn chương của bản thân, vì như Endo Shusaku viết, một con người – ai cũng có nhiều mặt.

Published

on

2019 là một năm tốt mặc cho cuốn đầu tiên trong tâm trí vẫn luôn muốn đọc hồi đầu năm nay là cái tên không tươi đẹp mấy – Diary of a Bad Year của J.M. Coetzee. Nhưng thật may vì năm qua là một năm thức thời. Không biết nên cám ơn nhà xuất bản hay là bản thân đã kịp “đú” trend như Tarzan đánh đu nhờ hít drama bổ sung đầy phổi suốt một năm qua. Nhìn lại list dài những cuốn sách theo chân, đắc thắng vì phần lớn là những cây viết nữ (cho hợp #MeToo), văn chương hiện thực vẫn chiếm đa số (có lẽ ảnh hưởng bởi Ký sinh trùng), Trung Quốc lại có khá nhiều (chắc lại vấn đề biên giới), ly hương chiễm chệ một chỗ (Trump cùng đồng bọn) và Mỹ Latin – dĩ nhiên vì thích Roma – vẫn còn đa số. Cũng có những cuốn không ưng gì mấy, cầm lên để xem sau rốt có nhai nổi không; có cuốn cười khẩy khi đọc, cũng có cuốn bám theo sát gót. Có cuốn đọc vì mê, có cuốn đọc để vạch lá tìm lỗi, có cuốn đọc để cộng tác, cũng có cuốn tự nhiên cầm lên vì… đọc thôi. Âu bản tường trình này như một báo cáo cho năm vừa qua về mặt văn chương của bản thân, vì như Endo Shusaku viết, một con người – ai cũng có nhiều mặt.

Theo dòng thiên di của những cánh chim không mỏi, Pachinko của Min Jin Lee mở đầu trào lưu tìm dòng của chủ đề này. Hơn 700 trang khổ 24 với câu chuyện về một gia đình lặn lội từ Bắc Hàn sang Nhật; ở đây ít nhất cuốn sách cũng đã khắc họa một cách ổn thỏa tạo hình vĩ đại của người phụ nữ, của lối ẩn dụ cuộc đời như một trò chơi; nhưng ngoài ra, Pachinko lại để rất ít không gian cho ta suy ngẫm. Cũng gần với đó, Đừng nói chúng ta không lợi quyền với cách xây dựng gần giống Pachinko, nhưng rối rắm và kết hợp nhiều mảng lĩnh vực hơn – như cuộc đọ sức quyền anh của bộ não để nhớ hết những dữ kiện trong này. Toán học, âm nhạc và văn chương như ba chân kiềng của tiểu thuyết– nhưng với riêng bản thân, thứ thích thú nhất ở tác phẩm này của Madeleine Thien là những tiến trình lịch sử. Đọc fiction như non-fiction, và bởi lịch sử luôn được viết ra bởi kẻ chiến thắng nên dưới góc nhìn của kẻ bại trận đồng thời là người đứng ngoài, ít ra Đừng nói chúng ta không lợi quyền đã cung cấp cho ta một góc nhìn phổ quát hơn về Đại cách mạng văn hóa, về vụ Thiên An Môn 1989 và mới mẻ thay, Madeleine Thien cũng tiết chế bớt những khốn khổ van xin niềm thương thường thấy của những tác phẩm văn chương Trung Quốc trong thời kì này. Nếu là một người yêu màu đỏ và không quá vướng bận khi kẹt xe, đây là cuốn sách rất đáng để thử.

Song song cùng đó, Đỗ Quyên Đỏ của Anchee Min như ngắt ra chỉ một quãng nhỏ nhưng tập trung hơn so với Đừng nói chúng ta không lợi quyền của thời kì chuyển đổi quyền lực giữa Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Không ấn tượng nhiều về phông nền lịch sử của cuốn sách này nhưng không thể không nhắc tới lối viết rất “phụ nữ” của Anchee Min – cuồng nhiệt và hoang dã. Cũng cùng sức bức phá đó, đối thủ bại trận “không rõ lý do” của cuộc đua Nobel năm nay – Tàn Tuyết, góp mặt vào danh sách bằng hai cuốn – Đào nguyên ngoài cõi thếBảng lảng trời xanh. Thật ra là lần thứ hai đọc lại và ở lần này lại ngẫm ra nhiều ý tưởng hơn về lối viết của bà. Không hiểu liệu có phải do tác động trước đó của hai cây viết nữ (Min Jin Lee và Madeleine Thien) cùng lối viết hoang dại của Anchee Min không mà lần đọc lại Tàn Tuyết này không quá khó khăn. Đọc rồi để hiểu, thật ra văn chương của bà không phải làm quá – nó chỉ đơn thuần phản ánh những việc rất cá nhân, và do lẽ đó, rất thiết thực. Dưới góc nhìn phân tán của một chiếc kính vạn hoa, một khi không hiểu những gì ẩn chứa đằng sau tầng tầng lớp lớp chữ nghĩa thì bùm – bạn sẽ chìm vào vũng tuyết mà bà phô ra. Tàn Tuyết là như thế, cô độc và đẹp đẽ. Văn chương bà thô mộc nhưng mạnh mẽ, bạo lực trong nền phi bạo lực và cũng có lẽ vì thiếu đi những họa tiết dễ cảm của Murakami, thành ra vẫn vô danh nằm phủ bụi trên những kệ sách Việt Nam.

Năm cuốn sách tiếp theo, hai trong số đó là những phát hiện mới và ba quyển còn lại thật sự là những trải nghiệm rất tiếc khi phải nói là không quá tốt đẹp. Giải thưởng luôn được show ra như cách tri ân bản thân tác giả – tác phẩm, là cách PR bán hàng vô cùng hiệu nghiệm, và dĩ nhiên, cũng là cách lấy đi thời gian của những con bò ngáo ngơ thích thể nghiệm bản thân – như mình. Vì quá yêu Bệnh nhân người Anh hay Margaret Atwood nên khi nhìn thấy cái nhãn Shortlist của Man Booker, bản thân đã không ngần ngại đặt lên để rồi nhận ra dư vị đắng ngắt đằng sau. Thoát đến phương Tây (Exit West) của Mohsin Hamid không phải là cuốn sách tệ, vốn bản thân cốt truyện trong phông nền chiến sự Trung Đông không phải là không thu hút người đọc nhưng với cách phát triển tình tiết, gợi tạo nút thắt để đến cuối cùng khép lại bằng một cái kết không đâu vào đâu thì rõ ràng, nếu để hỏi đâu là cuốn sách “đầu voi đuôi chuột” nhất của năm nay, thì mình sẽ không ngần ngại (mặc dù cũng khá áy náy) trao cho quyển sách này. Á hậu 2, xin mạn phép trao cho Chiếc cặp của Hiromi Kawakami với chiếc nhãn giải thưởng Tanizaki. Đọc hết cuốn tiểu thuyết này mình chỉ có một mong muốn tột bậc là được ngồi cùng hai nhân vật chính để phá tan đội hình tuyệt diệu. Một câu chuyện bình thường dễ đoán của những con người không bình thường, và dĩ nhiên, nó là như thế. Nhẹ nhàng: có; nút thắt: có; cách giải quyết: tương tự Exit West; và nếu bạn là một đọc giả nữ, là người ưa nhẹ nhàng với những câu chuyện thơ mộng, thì vâng, rất hân hạnh để giới thiệu đến bạn Chiếc cặp. Nhưng với một thằng năm nay đã 23 ngấp mé 24, thì vâng, đây là một nỗ lực phi thường!

Cuốn thứ ba, không hay cũng không tệ, nội dung không mới nhưng cách viết khá ổn là Người đẹp say ngủ của Kawabata Yasunari. Có lẽ thành kiến ở việc quá lạm dụng cái chết của văn hóa Nhật đâm ra phần lớn văn chương Nhật thường khiến mình khá dè dặt khi chọn đọc. Với một đứa tâm hồn mỏng manh và hơn 70% cơ thể là nước như mình cùng những lý do không đáng để chết; Người đẹp say ngủ đành thoái lui ở vị trí này, mặc dầu ý nghĩa đằng sau và cách viết của cụ Kawabata rất đáng trải nghiệm. Và với hai trải nghiệm không như mong muốn ấy, khi cầm lên Bên dòng sông Hằng của Endo Shusaku đã khiến cho mình một phút phân vân, nhưng thây kệ, vì công sức của dịch giả yêu quý văn học Nhật (bác Nguyễn Văn Thực) cũng như trót thích Ấn Độ (vì Mùa tôm hay Cân bằng mong manh) thì thôi cũng liều mình, đi vào con đường giáo mác dao găm. Bên dòng sông Hằng đơn giản và dễ đọc hơn Silence (bác Thực từng dịch với tựa Sao Chúa lặng im và dĩ nhiên, vì vài lý do cao đẹp vẫn chưa và có lẽ sẽ không bao giờ được xuất hiện), vẫn chứa những chủ đề mà Endo Shusaku rất hay khai thác trong tác phẩm mình – những xung đột hạn chế, những tư duy hữu cựu và tác động của chúng. Cuốn tiểu thuyết này thoát khỏi những chủ đề sáo mòn, màu sắc u tối của văn chương đương đại Nhật trong kệ sách của mình; thoát ý và đến gần hơn với cách xây dựng văn chương phương Tây, và cũng có lẽ vì thế, Bên dòng sông Hằng là một phát hiện thú vị – không những ở mặt nguồn gốc mà còn là một tác giả vô cùng quan trọng sau này.

Theo sát Bên dòng sông HằngCông chúa Bari của Hwang Sok-Young. Sau một năm khá dài tạm rời xa văn học Hàn Quốc (2017 chỉ có Ở đâu đó có điện thoại gọi tôi, 2018 là Bảy năm bóng tối và 2019 là quả bom xịt của bộ phim chuyển thể), nay mới có dịp cầm trên tay cuốn văn chương của xứ sở này. Văn chương Hàn Quốc và Nhật Bản có màu sắc khá tương đồng nhau; nhưng Hàn Quốc cụ thể, tỏ tường và không u sầu đến mức cực đoan như Nhật, và vì thế Hàn vẫn luôn là một lựa chọn ưu tiên của riêng bản thân mình. Nếu cuốn trước của Endo Shusaku mình từng e ngại vì nguồn gốc xuất thân, thì Công chúa Bari là bởi cái tên … khá củ chuối, nhưng khi chạm vào rồi lại rất khó vượt qua. Công chúa Bari sở hữu trong mình một câu chuyện không bao giờ cũ và một hành trình không bao giờ hết – đi tìm bản chất của người trong một phông nền đậm chất Bắc Hàn. Cuốn sách như áng sử thi dong buồm về câu hỏi lớn, cực ấn tượng và rất hoài nghi. Nếu để tìm một cuốn sách Hàn Quốc thoát khỏi phong trào Dân chủ, phong trào sinh viên, thì đây – Công chúa Bari rất đáng để thử.

*

Ở mảng non-fiction năm nay tạm hài lòng với 4 cuốn sách: Ngàn năm một tiếng thở dài, Sốc – Sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản thảm họa, Kẻ ly hương và bản đọc lại của Nào tối nay ăn gì. Bốn cuốn sách là bốn chủ đề khác nhau, nhưng tựu hình chung đều là những vấn đề thời đại lý thú. Ngàn năm một tiếng thở dài nói đơn giản là một cuốn du ký, nhưng khác ở đây là du ký về miền quá vãng, về quãng dài lịch sử đã qua. Bạn sẽ không tìm thấy những miền đất xinh đẹp trong này, những câu chuyện trải nghiệm thú vị ở đây; nhưng ở đó tràn ngập tiếng thở dài của những vĩ đại đã từng, cảnh đẹp đã qua trong ngòi bút cô đọng của nhà nghiên cứu văn hóa Dư Thu Vũ. Một cuốn sách rất đáng để đọc, để biết những thế hệ trước loài người đã từng vĩ đại đến mức độ nào và dĩ nhiên, cũng từng manh mún ra sao; như thể Kẻ ly hương sừng sững đứng đó như chứng nhân cho tính chất này của xã hội loài người. Tập tiểu luận với 17 bài viết của những cây viết tha hương, và nhờ sự đa dạng của ngọn nguồn câu chuyện và các phông nền văn hóa ít nhiều đã cung cấp cho ta góc nhìn của người trong cuộc về những câu chuyện xung quanh trên thế giới này, từng ngày, từng giờ; khắc phục cách nhìn duy nhất và khá văn chương của Người tị nạn trước đó; cuốn sách thức thời và khá lý thú.

Sốc – Sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản thảm họaNào tối nay ăn gì – Thế lưỡng nan của loài ăn tạp là hai quyển sách nghiên cứu xã hội vô cùng cuốn hút, đầy đủ. Nếu Sốc gắn liệu pháp trị liệu sốc điện những năm 50 vào cơn trỗi dậy của thị trường thương mại tự do tháo xích, thì Nào tối nay ăn gì như cuộc phiêu lưu từ cánh đồng ngô đến chuỗi thực phẩm cuối cùng; từ đây cho thấy hiện trạng của ngành công nghiệp thực phẩm, thói quen ăn uống của con người, sự độc chiếm của loài ngô hay mẫu số chung của những xung đột chính trị trong lịch sử. Ta sẽ gặp lại Margaret Thatcher với trận chiến Falkland, Pinochet với thời gian cầm quyền của chế độc độc tài Chile, hậu cơn bão Katrina quét sạch sành sanh ban New Orleans, chính quyền Bush và chiến tranh Afganistan, Đặng Tiểu Bình và sự kiện năm 1989,… Tất cả được Naomi Klein lý giải dước góc nhìn kinh tế, và mỗi chúng ta sẽ nhận ra những sự thật vẫn đang chôn giấu trong từng cuối hồi ký, từng bài phục dựng. Một cách nhìn sâu hơn vào thế giới vẫn đang vận hành.

Ở mảng văn chương phương Tây, không hiểu do trùng hợp hay một lý do nào đó mà sự xoay trục vào văn chương Đông Âu năm nay lại trùng đúng vào khu vực của giải Nobel văn chương vừa qua. Đọc Dưới cánh thiên thần rượu của Jerzy Pilch trong cơn chuếnh choáng một ngày chia tay vì tình, và cứ thế nó đến. Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Ba Lan này có một thời lượng không lớn, nhưng chứa trong nó là cả vấn đề thời đại, từng câu từng chữ dường như chưa bao giờ thừa thãi. Nếu đọc cuốn sách chưa đến 200 trang này một cách tập trung cao độ và thật đồng cảm, bạn sẽ quote ra được hàng tá câu văn ngập tràn sổ tay về những luân lí của ông trong này. Một tên tuổi lớn mà chỉ giải Nike 2001 thôi không bao giờ đủ.

Trẻ hơn Jerzy Pilch nhưng độ biếng nhác và tầng sâu những lớp ý nghĩa không hề thua kém là Ngoài vùng phủ sóng của Marta Dzido. Người trẻ thị thành – những con sâu biếng lười còn bò lòm ngòm trên sân chơi cuộc đời, những kẻ mộng mơ muốn tìm cái chết; chắc hẳn sẽ là những đọc giả trung thành của cô trong tác phẩm này. Một tiểu thuyết biếng nhác (rất mỏng) cho những con người biếng nhác (những ai vẫn muốn tìm lại phương hướng). Rất ổn. Cùng đó là việc đọc lại Cánh cửa của Szabó Magda – một việc dằn xé lương tâm trong cơn thỏa mãn vì cây viết Hungari vô cùng cuốn hút này. Cuốn tiểu thuyết hay và sẽ không ngừng khiến mình đọc đi đọc lại, bên cạnh Doris Lessing và Jack Kerouac đành trễ hẹn năm nay.

Con sẻ vàng, Những người nuôi giữ bồ câu, Nửa mặt trời vàngLưỡng giới là bốn cuốn tiểu thuyết với thời lượng khủng mình đã gặm nhắm trong một năm vừa qua. Bốn cuốn sách với một điểm chung đều là phương tiện cho cuộc hành trình tìm lại bản thân, nguồn gốc, bản lai diện mục. Có cuốn dữ dội về mặt tâm tư (Con sẻ vàng, Lưỡng giới); có cuốn dậy sóng ở mặt phông nền; nhưng nhìn chung đều là những tiểu thuyết quan trọng. Những người nuôi giữ bồ câu viết về cuộc tàn sát người Do thái của quân La Mã, Nửa mặt trời vàng về cuộc nội chiến Biafra; và đây dường như là hai yếu tố góp phần làm nên thành công, là sự thú vị của tác phẩm này. Trong khi đó, Con sẻ vàng ngập tràn những tâm tư của Donna Tartt; Lưỡng giới lại khá dàn trải – hai điểm yếu khi những góc nhìn tác giả chiếm một phần lớn.

Văn chương Mỹ Latin năm nay cũng chiếm phần lớn trong danh sách đọc, với những tên tuổi nổi trội – Juan Rulfo, Marquéz, Carlos Fuentes và Alejo Carpetier. Như sự cộng hưởng của quá trình đọc, quá trình biến đổi nền kinh tế thảm họa của khu vực Nón phương Nam mà Naomi Klein phơi bày trong Sốc trở thành bệ đỡ chính cho những tiểu thuyết này. Vì thế với Pedro Páramo, Sự tráo trở của phương pháp hay những truyện ngắn Marquéz; ta vẫn thấy đâu đó dáng hình của chế độ độc tài, sự nổi dậy của khởi nghĩa nhân dân trong một lối viết vô cùng thân thuộc của hiện thực kỳ ảo – trào lưu được khởi đầu bởi Alejo Carpetier và được Juan Rulfo cũng như Gábriel Marquez hay Carlos Fuentes vận dụng một cách nhuần nhuyễn. Đọc văn chương Mỹ Latin ta không những hiểu được những vấn đề chính trị như trọng tâm của khuynh hướng văn học trước đó – văn học cách mạng; mà đồng thời còn là vẻ đẹp con người, thiên nhiên, phông nền văn hóa và bản sắc quốc gia. Những trải nghiệm vô cùng thú vị.

Phát hiện thú vị của năm nay (tuy trễ hơn gần thập kỉ so với thời đại) thuộc về Nhan sắc (Zadie Smith), Những nụ hôn điện ảnh (Éric Fottorio) và Nghiệt tử (Bạch Tiên Dũng). Những tưởng đây là những quyển sách đi theo lối mòn của nạn phân biệt đối xử, của cộng da màu và những lề thói xã hội, của tiểu thuyết tình yêu nhàm chán, của những con người đặc biệt long đong; nhưng không, cả ba tác giả đã tự làm khó khi quăng chính những xung đột vào trong xã hội nhiễu nhương, của những tình tiết và mối quan hệ tréo ngoe khó mà tưởng tượng nó xảy ra thật. Từng lớp từng lớp phơi bày như lớp vỏ của củ hành tây, vô cùng xứng đáng khi nói Zadie Smith như một cây viết bước ra từ củ hành tây (như thần Vệ nữ từ trong vỏ sò). Duyên dáng, thẳng thắn và phơi bày, Nhan sắc là một tiểu thuyết quan trọng như thế. Trong khi với Những nụ hôn điện ảnh, Éric Fottorio đã chứng tỏ cảm quan của mình bằng một vẻ đẹp rất La La Land. Và cuối cùng, Nghiệt tử như mở đầu câu chuyện về những con người đặc biệt trong văn chương châu Á, Bạch Tiên Dũng bằng cảm quan nhạy cảm đã mở cánh cửa của những thương đau đã từng như thế.

Bệnh nhân người Anh và lần thứ ba đọc lại vẫn đẹp đẽ trường tồn mặc sự phá nát của bản điện ảnh. Michael Ondaatje và cuốn tiểu thuyết này tỏ ra xứng đáng với double giải Man Booker danh giá, một tưởng đài khó có thể vượt qua. Giấc mơ Mỹ (Steven Millhauser) và Giữa lòng tăm tối (Joseph Conrad) như đại diện cho những ước mơ phi thường của dòng giống người, và dĩ nhiên, xuất hiện một chút không tưởng đâm ra khá thiếu thực tế.

Ở mảng trinh thám, năm nay lại là một năm thất bát với vỏn vẹn bốn cuốn tiểu thuyết: Hành khách bí ẩn (Georges Simenon), Đứa trẻ thứ 44 (Tom Rob Smith), Cú săn đêm (Samuel Bjørk) và Mùi Adam (Jean – Christophe Rufin). Georges Simenon vẫn thế, vẫn chứng tỏ mình ở mảng trinh thám xã hội. Trong khi Đứa trẻ thứ 44Cú săn đêm có cách xây dựng khá tương đồng nhau: Tom Rob Smith một cách hài hòa thêm thắt vào đó yếu tố hành động rất Mỹ; Samuel Bjørk lại bổ sung thêm yếu tố thần thoại đậm chất Bắc Âu. Nhưng việc cố tạo ra chồng chồng lớp lớp tình tiết đa góc nhìn, đảo ngược thời gian, sử dụng phương cách hòng làm rối trí người đọc; cả hai cuốn tiểu thuyết này đều để lộ ra chính cách sắp xếp trong từng bước đi. Còn với Mùi Adam, một sự thất vọng thảm hại so với những mong chờ trước đó từ tác giả của Brésil đỏ.

Ngoài ra, văn chương thiếu nhi (Con mèo trời, Wonder), thanh – thiếu niên (172 giờ trên mặt trăng, The curious charm of Aurthor Pepper) và văn học Việt Nam (Giông tố, Hai khối tình, Như núi như mây) cũng mang đến những trải nghiệm thú vị. Trong đó nổi bật hơn hết là 172 giờ trên mặt trăng – cuốn thriller fiction đã lâu mới có cảm giác hoảng sợ như thế và Con mèo trời với cách xây dựng đối ngẫu con người – đức tin tương tự Bên dòng sông Hằng vô cùng duyên dáng,… tất cả làm nên một bức tranh trọn vẹn của hành trình đọc sách năm nay.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Đọc những bài viết của Ngô Thuật Phát.


Tìm hiểu về những cuốn sách xuất hiện trong bài viết



Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Jane Eyre: Bức họa về ý chí và nghị lực vượt lên số phận của con người

Published

on

Có đôi ba lần thế kỉ trôi qua, những đóm sao đêm đã sáng rồi lại tắt, những cuộc đời nối dài rong ruổi và miên man, bể dâu và đổi khác, tưởng rằng sẽ làm phôi phai đi tất cả những gì từng gọi là đẹp đẽ của một quá khứ huy hoàng, ấy vậy mà, Jane Eyre - một biểu tượng vững chãi của sự kiên cường và bất khuất - vẫn hiện lên thật rạng ngời và rực rỡ qua từng trang sách chứa đầy những hồi ức tự sự thật thà - bất chấp rằng thời đại đã đổi dời, bất chấp rằng thời gian đã cuồng quay. Jane Eyre, hơn cả một cuốn tiểu thuyết đã bao lần làm thổn thức trái tim độc giả, đó còn là một bức họa tuyệt đẹp về ý chí và nghị lực vươn lên số phận của con người.

Thật kì lạ là dù cuốn sách đã được nữ sĩ Charlotte Bronte viết cách đây gần hai trăm năm, ấy vậy mà, những câu chuyện, những sự kiện, những niềm vui hoặc chăng là sự đau khổ của mỗi nhân vật đều thân thuộc và tương đồng với những gì đang vận hành và xảy ra xung quanh con người thời đại này. Đó như là một tấm gương phản chiếu những mảnh đời, những số phận, những biến cố và trở ngại trong suốt hành trình làm người - của từng con người. Vậy phải chăng, con người dù ở bất kì thời điểm nào trong suốt chiều dài lịch sử - đều phải gặp và trải qua những hỉ nộ ái ố muôn thuở như những bậc tiền nhân đã từng?

“Jane Eyre”

Khi nghĩ về cái tên này, dù chỉ là cái tên trong một cuốn tiểu thuyết (hư cấu), nhưng tôi lại bỗng thấy xót xa lạ kì. Cô gái này vì sao lại bất hạnh đến như vậy? Bất hạnh như thể mọi thứ tồi tệ nhất trên đời đều đổ dồn về phía cô. Cô không có gia đình, không có người thân, cũng không có bạn bè gì cả. Những người mà cô còn có thể bám víu được suốt cả thời thơ ấu của mình lại chính là những người không hề muốn nhìn thấy sự hiện diện của cô. Chỉ vì lời hứa với người chồng đã mất, người mợ cay nghiệt đành phải cưu mang cô trong sự oán hận. Bà ghét cô. Bà khinh bỉ cô. Bà trừng phạt cô. Đến cả những đứa con của bà cũng đều khiến cho cô cảm thấy đau đớn. Chưa bao giờ cô thôi sợ hãi. Chưa bao giờ cô có quyền nói lên tiếng lòng mình, hoặc cũng thật khó để có thể chống lại tất cả bọn họ. Thứ duy nhất cô có thể làm chính là chấp nhận sống trong những thù hằn của đám người kia.

Tại sao cô không chạy đi?

Chạy? Chạy đi đâu bây giờ, khi cô chỉ là một đứa trẻ chẳng hay biết gì về cuộc đời ở bên ngoài, và có muôn vàn câu hỏi rằng thế giới xa lạ này ra sao. Cô bé đáng thương tội nghiệp ấy chỉ là một hạt cát nhỏ nhoi giữa sa mạc, chẳng tiếng nói, chẳng sức mạnh, cũng chẳng có ai để dựa vào...

Nhưng!

Jane Eyre! Cô bé nhỏ như một ngọn cỏ ven đường. Nhưng ngọn cỏ không yếu đuối bao giờ. Khi bão giông ập đến hay có ai tàn nhẫn giày xéo lên tấm thân mỏng manh ấy, ngọn cỏ vẫn sống và kiên cường vươn lên. Ngọn cỏ âm ỉ một sức mạnh phi thường - sức mạnh của nghị lực và niềm tin về sự sống của chính bản thân mình. Và Jane cũng vậy. Ai ngờ đâu đằng sau một cô gái trầm lặng ấy lại chính là một ý chí vươn lên không bao giờ ngơi nghỉ. Ý chí rằng mình sẽ được hạnh phúc. Nhất định sẽ được hạnh phúc.

“Tôi không phải là chim, không có chiếc lồng nào có thể bẫy được tôi. Tôi là một người tự do, với ý chí độc lập.”

Không chấp nhận quẩn quanh trong một giới hạn bị người ta rào cản, Jane luôn khao khát được bay đi, tìm kiếm cho mình những lí tưởng sống mới. Trên hành trình đi tìm kiếm tự do và hạnh phúc ấy, lắm khi, Jane đau khổ và thất vọng thật nhiều. Cái cay nghiệt đâu chỉ mãi quẩn quanh trong gia đình bà Reed, nó còn xuất hiện và liên tục lặp đi lặp lại mãi suốt cả quãng đời sau này của Jane: từ khi còn là nữ sinh ở trường Lowood cho đến khi về làm việc tại nhà của ông Rochester. Khi đã tưởng được yên bình rồi, thì bão giông lại bất ngờ ập đến. Khi đã tưởng kiếm tìm được hạnh phúc, thì đau khổ lại bỗng chốc lên ngôi. Cô gái bé nhỏ ấy cứ liên tục gặp phải những chuyện đau lòng. Đã từng đi qua mùa dịch bệnh, đã từng đói, từng khát, từng trở thành người vô gia cư - không thức ăn, không tài sản, từng hi vọng và bị cướp mất đi hi vọng, từng hạnh phúc vô bờ rồi bỗng rơi xuống đáy của nỗi đau... Những điều ấy, những tưởng sẽ quật ngã và giết chết Jane Eyre. Nhưng lạ thường thay, càng khó khăn, Jane lại càng vươn lên mạnh mẽ. Jane không bao giờ cam chịu hay chấp nhận những uất ức cuộc đời. Jane học được nhiều điều từ chính những khó khăn ấy. Jane phản kháng quyết liệt với những bất công mà cuộc đời đem lại. Tại sao chứ? Sao lại cúi đầu để nghiệt ngã lên ngôi, trong khi chính mình phải trở nên hiên ngang mới đúng?

“Nếu người ta lúc nào cũng tử tế và vâng lời những kẻ độc ác bất công, thì chỉ tổ làm cho kẻ ác tha hồ được thể, chúng sẽ chẳng bao giờ e dè gì cả, và như vậy thì bao giờ mà chúng tay đổi được; trái lại, chúng sẽ ngày càng trở nên quá quắt.”

“Khi nào bị đánh đòn một cách vô lý, ta cần phải chống cự lại, thật táo bạo vào. Tôi cam đoan phải làm như thế, chống cự mạnh đến mức làm cho kẻ đánh đập chúng ta phải kệch hẳn.”

“Tôi phải kháng cự lại những kẻ phạt tôi một cách bất công. Điều đó cũng tự nhiên như tôi yêu một người nào tỏ ra yêu mến tôi, và phải chịu trừng phạt khi tôi thấy là đáng phạt.”

Vì đâu mà Jane lại có thể thốt ra những lý lẽ như vậy? Phải chăng là do đã bị chà đạp quá nhiều và dìm sâu xuống tận cùng sự khổ, cô ấy mới phải tự mình đứng dậy để tìm một lối thoát cho chính mình, và chống cự lại những kẻ đã luôn đay nghiến cô? Tức nước thì vỡ bờ. Cũng giống như câu chuyện của bao kẻ khốn cùng khác, khi không còn sự lựa chọn nào cho cuộc đời đau khổ của mình, họ đành chọn mạnh mẽ!

Jane mạnh mẽ để vượt qua sóng gió, nhưng sự mạnh mẽ đó không hề biến Jane trở thành một con người vô cảm và lạnh lùng. Jane vẫn là Jane, với trái tim nồng ấm yêu thương, biết cảm thông và chia sẻ, biết thấu hiểu và quên hết hận thù.

Giống như Jane từng nghĩ rằng mình sẽ căm ghét và thù hằn bà Reed đến cuối cuộc đời - sau những điều tồi tệ bà từng làm với mình, thế nhưng, khi gặp lại bà sau nhiều năm xa cách, Jane đã chẳng còn hận thù gì thêm nữa. Jane hiểu rằng quá khứ đã mãi mãi nằm lại ở phía sau, và hiện tại, những ân oán này đã không còn ý nghĩa gì hết. Jane bỗng muốn gọi bà Reed bằng tiếng gọi thân thương, “Mợ!”, để rồi sau đó, hận thù sẽ nhường chỗ cho yêu thương.

“Mợ Reed thân mến, mợ đừng nghĩ đến những chuyện cũ ấy làm gì nữa, xin mợ hãy quên đi...”

“Mợ ơi, giá mợ có thể quên những điều đó đi, và nhìn cháu với một lòng khoan dung thương mến...”

“Hồi còn bé, nhiều lần cháu rất muốn được yêu quý mợ nếu mợ cho phép. Và bây giờ cháu hết sức mong mỏi được làm lành với mợ, mợ ơi, mợ hôn cháu đi.”

Với Jane, yêu thương là một điều thiêng liêng mà cô đã dành cả tuổi trẻ của mình để tìm kiếm. Vậy nên, khi có được những yêu thương ấy từ người đàn ông mà cô có tình cảm, cô luôn biết ơn và trân trọng. Tuy vậy, Jane không bao giờ cho phép bản thân mình sở hữu thứ yêu thương “dễ dãi” và “tầm thường”, nếu hạnh phúc mà cô có được là điều không xứng đáng. Cô nào chấp nhận mình trở thành một người phụ nữ “rẻ tiền” khi kết hôn cùng một người đã có vợ, cùng làm chuyện bất hợp pháp và khinh thường đạo lí như vậy.

“Tôi càng cô độc, càng không bè bạn, càng không nơi nương tựa, thì tôi lại càng tự trọng.”

“Luật pháp và những nguyên tắc đạo đức đâu phải đặt ra cho lúc bình thường không có sự cám dỗ, mà là cho những lúc như thế này, khi thể xác và linh hồn nổi lên chống lại sự khe khắt của chúng. Chúng khe khắt, chúng sẽ không bị vi phạm. Nhưng vì thuận tiện cho mình mà tôi phá bỏ chúng thì chẳng hóa chúng không có giá trị gì ư?”

Thật xót xa ngay phút giây trong lễ đường, Jane đã phơi phới niềm tin về một hạnh phúc căng tràn trong lồng ngực, để rồi bỗng chốc, sự thật ập đến tai, hạnh phúc vỡ tan tành như bọt sóng giữa đại dương... Chính khoảnh khắc Jane Eyre quyết định rời đi khỏi căn biệt thự Thornfield sau khi biết người mình yêu thương đã có vợ, cũng là khi độc giả tìm thấy được hình ảnh của một con người can đảm, dũng cảm, và độc lập - dẫu đằng sau đó là những giọt nước mắt ê chề và đau khổ tận tâm can. Nhưng vì đã dũng cảm yêu thương, thì khi yêu thương không còn ý nghĩa nữa, chúng ta phải dũng cảm để từ bỏ mà thôi...

“Trên đời chưa ai có thể mong ước được yêu như tôi đã được yêu, và tôi tuyệt đối phụng thờ con người đã yêu tôi như vậy, ấy thế mà tôi phải từ bỏ tình yêu với thần tượng đó. Bổn phận khốc liệt của tôi nằm gọn trọng một chữ buồn rầu: Đi!”

“Vĩnh biệt”, đó là tiếng kêu của trái tim tôi lúc tôi rời ông. Sự tuyệt vọng nói: “Đời đời vĩnh biệt.”

Nhưng sẽ chẳng có đau khổ nào là mãi mãi, khi mà sau tất cả, cuối cùng thì hạnh phúc cũng đã đến bên Jane. Đó không phải là một điều may mắn. Đó là điều tất nhiên - phần thưởng dành cho những ai biết cố gắng, biết nỗ lực và vươn lên số phận. Biết sống không hoang phí - dẫu cuộc đời đầy rẫy nỗi trầm luân. Rồi khi giọt nắng đậu bên thềm, khi cơn bão qua đi và trời xanh trở lại, cũng là lúc hạnh phúc chạm đến. Sẽ có ai đó ở cạnh bên và lắng nghe những câu chuyện của Jane, sẽ lau khô giọt nước mắt đã bao lần cô từng khóc, sẽ an ủi và yêu thương cô. Sẽ đền đáp cho cô sau năm tháng khổ cực. Cuối cùng, và nhất định, hạnh phúc đã ghé qua!

Jane Eyre chính là tấm gương phản phất hình ảnh của một cô gái bé nhỏ với một nghị lực sống phi thường giữa muôn vàn trắc trở của cuộc đời. Dẫu bị xã hội đương thời ruồng rẫy hay ghét bỏ, thế nào, Jane vẫn kiên cường và bất khuất như một ngọn cỏ dại hiên ngang trước bão. Đọc Jane Eyre để tìm thấy những phẩm chất cao cả của một con người, để tự soi lại bản thân mình trong suốt hành trình sống, và để thấy, xen lẫn những chất liệu thi ca lãng mạn hay khắc tạc hiện thực khắc nghiệt, thì tình yêu vẫn đẹp biết bao: tình yêu nhân loại, và tình yêu giữa người với người...

Thật khó để có thể kể hết những điều thật sự có ý nghĩa với tôi trong cuốn sách này, bởi qua từng giai đoạn, từng chi tiết khác nhau, thì tôi lại cảm nhận được những giá trị riêng biệt cho riêng mình. Tôi học được từ Jane một ý chí mạnh mẽ vô cùng. Đã có lúc tôi nghĩ, nếu tôi là Jane, liệu rằng tôi có thể mạnh mẽ được như cô ấy, liệu rằng tôi có dám đương đầu vươn lên giông bão, liệu rằng tôi có vượt qua được cám dỗ để theo đuổi một niềm hạnh phúc thật sự của riêng mình. Tôi không biết tôi sẽ thế nào. Nhưng tôi biết, thứ tôi đang suy nghĩ là gì...

“Bạn đọc thân mến, cầu cho bạn đừng bao giờ cảm nghĩ như tôi lúc ấy! Cầu cho mắt bạn đừng bao giờ phải nhỏ những giọt lệ nóng hổi, tràn trề, xé ruột xé gan như tôi. Cầu cho bạn đừng bao giờ phải cầu xin Chúa một cách tuyệt vọng và đay khổ như tôi đã cầu xin trong giờ phút ấy, Cầu cho bạn đừng bao giờ lo sợ như tôi, phải trở thành nguồn đau khổ cho người mà mình yêu với tất cả tâm hồn.”

Jane Eyre!

Hết.

Lâm Lâm

*

Đọc tất cả bài viết của Lâm Lâm

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Louise Glück là ai mà đạt giải Nobel Văn chương 2020?

Cùng ba bài thơ trong tập “The Wild Iris” (1992)

Published

on

Louise Glück (1943) là một nhà thơ hiện đại Mỹ. Bà sinh ở New York và trải qua thời tấm bé ở Long Island. Bà là tác giả của nhiều tập thơ mang dáng dấp tự bạch, song, thơ của bà thường vượt ra ngoài những kiến trúc và sự bày trí hình thể để nói về những trải nghiệm cá nhân thật sự sâu sắc và cá biệt. Bởi vì thường đi tìm hiểu về những mất mát, tổn thương trong những câu chuyện gia đình, thần thoại (đặc biệt là hình ảnh của Odysseus và Penelope) mà thơ của bà thường được coi như là ảm đạm. Bon Bogen trên tờ Nation gọi “những mối quan tâm căn bản” của thơ bà là “bội phản, đạo đức, tình yêu và cảm giác cùng đồng hành. Một nhà thơ của thế giới tan vỡ.” Thế nhưng, ẩn sau trong những cảm xúc vượt ra ngoài biên giới, là một thế giới vật chất muôn màu, nhiều tác động, khiến cho ta cảm giác dễ chịu khi có cơ hội được bước qua cánh cửa hiện tại thậm phồn, trả đúng con người về đúng nỗi hỗn loạn tươi đẹp của Cioran từng mơ ước. Đó là những tập thơ The Triumph of Achilles (1985), The Wild Iris (1992), Meadowlands (1996) gần đây là Faithful and Virtuous Night (2014).

Mấy ngày trước, chúng ta lại được xem màn cua gắt của Viện và tất cả mọi suy đoán trôi đi như nước lụt. Tôi cũng thế. Tôi cứ nghĩ nếu gạt đi hết Ngũgĩ wa Thiong’o, Milan Kundera (vì vừa mới được giải Kafka tháng trước, tưởng một Handke thứ hai) hay đặc biệt “nặng ký” Haruki Murakami năm nào cũng toả khắp văn đàn để chửi cho bớt tức, thì tôi không bao giờ nghĩ Mỹ lại nhận lại một Nobel kể từ Toni (không tính Bob). Tôi luôn xem xét Mỹ đã là một địa hạt mà văn xuôi đã úa tàn từ lúc Toni Morrison mất, Stephen King được coi là bậc thầy,... (còn thơ thì tôi quan tâm đến Anne Carson, thế nhưng bà lại sinh ra ở Canada). Tôi bị cuốn vào dòng tranh luận và các bàn tròn rằng năm nay Viện sẽ cua bằng cách trở lại châu Âu, hoặc qua tận châu Phi để chọn Antjie Krog hay táo bạo hơn là tha cho Milan Kundera khoảng ngày đợi chờ ở tuổi 91. Thế mà, tôi lại nhận được kết quả từ fanpage của một một nhà xuất bản. Louise Glück đối với tôi cũng như hầu hết tất cả những ai khác, tôi chỉ nhớ từng đọc được vài bài thơ trên A Star Is Fading của Nguyễn Huy Hoàng và không có ấn tượng lắm. Thế nhưng, bằng một cách nào đó, với cái lý do mà Viện đưa ra năm nào cũng thật là huy hoàng: “cho một giọng thơ không thể nhầm lẫn trong việc đưa cái đẹp của sự khổ hạnh và tồn tại cá nhân ra thành cái toàn thế.” Quả thật, sức mạnh của Nobel đủ làm ta phải choáng mình, phải lụi bụi tìm xem liệu “cái đẹp”, “sự khổ hạnh” và “tồn tại cá nhân” đó thực sự là gì mà ghê gớm đến thế, mà đủ sức đánh bật soái ca Haruki mà ta thầm ngưỡng mộ dù giờ mua “Người tivi” hay “Ngày đẹp trời để xem kangoroo” cũng chẳng phải là điều mà fan-gơn fan-boy, fan-PhD, fan-only-for-Rừng Na-uy,... làm nổi.

Chi bằng ta tự mình chiêm nghiệm các bài thơ được tôi dịch tỉ mỉ dưới đây, cả ba bài đều năm trong tập thơ The Wild Iris, được xuất bản năm 1992 và ngay lập tức được truy tặng giải Pulitzer cho Thơ Ca vào năm sau. Những bài thơ tôi dịch chắc chắn sẽ không đảm bảo được những điều mà một bài thơ nguyên bản yêu cầu, song, dễ đọc, và gần với cách chúng ta tiếp cận hơn. Dù thế, bạn có thể dễ dàng tìm thấy các bản gốc (tiếng Anh, ơn trời!) trên poemhunter.com hoặc pinterest.com.

HẠNH PHÚC

Một người đàn ông và một người phụ nữ nằm trên chiếc giường màu trắng
Lúc đó tinh mơ. Tôi nghĩ là
Họ sẽ thức dậy sớm thôi.
Trên bàn đêm cạnh giường là một lọ hoa
cắm những bông hoa lưu ly; ánh mặt trời
đục lỗ trong cổ họng.
Tôi nhìn chàng quay về phía nàng
như thể để gọi tên nàng
nhưng khẽ khàng, sâu trong họng nàng—
Trên gờ cửa sổ,
một lần, hai lần,
một con chim gọi.
Và sau đó nàng trở người; thân thể nàng
ngập trong hơi thở của chàng.

Tôi mở mắt ra; cậu đang nhìn tôi.
Gần như khắp phòng
ánh sáng mặt trời trượt đi.
Nhìn vào mặt cậu, cậu nói
nâng gương mặt cậu lại gần tôi
để làm thành một tấm gương.
Cậu mới bình tĩnh làm sao. Và bánh xe cháy trong lửa
lướt nhẹ nhàng qua chúng mình.

*

KHÚC RU

Mẹ tôi giỏi nhất một chuyện:
đem những người bà thương qua một thế giới khác.
Những thứ bé bỏng, những đứa bé—chúng nó
nàng ru, thầm thì và khẽ hát. Tôi không thể nói được
bà đã làm những gì cho bố;
dù gì đi chăng nữa, tôi đồ rằng nó là điều phải.

Cũng giống như thế, thật đấy, gói ghém một người
cho giấc ngủ, cho cái chết. Những khúc ru—họ đều nói
đừng có sợ, đó là cách họ quẩn quanh về
nhịp đập trái tim của người mẹ.
Thế nên sự sống nảy ra bình tĩnh yên ắng; điều đó chỉ
những người sắp chết, những người không thể, những người chối từ.

Sắp chết giống như những đỉnh cao, như con quay hồi chuyển—
chúng quay thật nhanh chúng trông vẫn đứng yên.
Xong thì cất cánh bay đi: trong vòng tay mẹ tôi,
chị tôi là một đám mây nguyên tử, của những hạt—đó là sự khác biệt.
Khi một đứa bé say ngủ, nó vẫn tròn vẹn.

Mẹ tôi trông như cái chết; bà không nói về sự thánh thoát của linh hồn.
Bà ôm trên mình một đứa bé mới sinh, một lão già, như thể sự chênh lệch của màn đêm hoá đặc xung quanh họ, cuối cùng cũng thay đổi thế giới.

Linh hồn cũng như tất cả vật thể:
thế tại sao nó lại mãi không bị dấy đến, chung thuỷ mãi với hình bóng của nó,
trong khi có thể tự do?

*

QUYẾT ĐỊNH CỦA ODYSSEUS

Người đàn ông vĩ đại quay lưng mình về phía đảo.
Giờ thì chàng sẽ không chết ở thiên đàng
cũng không nghe lại
những tiếng đàn luýt trên thiên đàng len giữa những cây ô-liu,
cạnh những cái hồ trong vắt dưới những cây bách. Thời gian
bắt đầu từ bây giờ, nơi chàng được nghe lại
nhịp đập đó là biển cả được
nghe kể lại, vào buổi bình minh lúc lực hút của nó là mạnh nhất.
Thứ gì đem chúng ta đến đây
sẽ dẫn chúng ta rời đi; con thuyền của chúng ta
chòng chành trên vùng nước cảnh những sắc màu kẻ sọc.
Giờ giờ nghỉ chân đã hết.
Trả chàng lại với cuộc sống của chàng,
biển chỉ có thể tiến về phía trước.

Hết.

S

*

Chuyện Nobel Văn chương



Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Bước tới thảnh thơi: Tự do khởi nguồn trong khuôn khổ là tự do vững chãi

Published

on

By

Phải đọc Bước tới thảnh thơi, hay phải đi xuyên suốt các tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong cái tâm không chướng ngại, có như vậy mới đủ kiên nhẫn để cảm nhận từng ý nghĩa, từng lợi ích sâu xa từ một cuốn sách có vẻ dành cho người xuất sĩ (xuất gia), hơn là hướng về đại chúng.

Tạo năng lượng trong những điều thường ngày

Người đi tu tạo ra năng lượng thông qua các sinh hoạt thường nhật. Bước tới thảnh thơi có ba nội dung chính nhằm miêu tả cuộc sống thường ngày nên có của một vị xuất sĩ.

Đầu tiên là Thi kệ

Đánh răng
Đánh răng và súc miệng
Cho sạch nghiệp nói năng
Miệng thơm lời chánh ngữ
Hoa nở tự vườn tâm

Đầu tiên là Thi kệ, công cụ giúp khởi tâm đúng đắn trước khi sinh hoạt, để duy trì chánh niệm được lâu hơn.

Chánh niệm là khả năng tập trung vào một hành động đang diễn ra, mà không suy nghĩ vẩn vơ bên này, bên kia. Giỏi hơn thì người duy trì chánh niệm nên có khả năng quán niệm về hành động mình đang làm, để có thể hoàn thành nó một cách đúng đắn và tạo tác được niềm vui trong quá trình sinh hoạt.

Đơn cử như việc đánh răng, mục đích là để làm sạch bộ hàm và giúp khởi động một ngày mới tỉnh táo, thì nên đánh sao cho kĩ, cho nhẹ nhàng, cho ân cần; dành hết sự trân quý cho bộ hàm đã giúp mình nhai nhỏ thức ăn mỗi ngày, giúp mình cười duyên, cho cái lưỡi đã giúp mình nói những lời ái ngữ; thay vì suy nghĩ lan man như sau khi đánh răng thì nên ăn gì, hoặc sáng nay có cuộc họp nào không.

Hãy dành hết tâm trí để thực hiện những sinh hoạt này như lúc bản thân dành hết tâm trí khi ở bên người mình thương vậy. Bởi nếu thực sự tập trung và hiểu được ý nghĩa việc mình cần làm, thì làm sao nghĩ đến việc khác được.

Đó gọi là chánh niệm. Năng lượng an lạc khởi nguồn từ đây.

Có gần 100 bài thi kệ trong Bước tới thảnh thơi, bổ trợ cho người xuất sĩ khởi niệm về một sinh hoạt thường ngày một cách đúng đắn.

Thứ hai là Mười giới mà một vị Sa di (xuất sĩ) bắt buộc phải giữ gìn. 

Hãy xem về giới thứ tư: Thực tập chánh ngữ và lắng nghe

Vì lời nói thiếu chánh niệm sẽ gây khổ đau cho nhiều người, gây đổ vỡ, gây chia rẽ, gây căm thù, bạo động nên nguyện không nói dối, không phê bình, lên án, cũng không kể ra lỗi lầm của ai. Người xuất gia sẽ nguyện thực tập lắng nghe với tâm từ bi, tôi hiện diện ở đây là vì bạn, chỉ để mang đi những buồn phiền, trăn trở đang tồn tại trong lời người nói.

Giúp người khác thức tỉnh là một quá trình của duyên hội tụ, nên lời nói thẳng thắn, xát muối thường chỉ để lại nhiều day dứt mà không có tác dụng chữa lành ngay tức khắc.

Khi nói về đạo Phật thực hành, ta sẽ nói về sự hiểu biết đi kèm với sự thực tập bằng tâm từ bi. Khi phát nguyện giữ giới, người xuất sĩ từ đầu đã quán triệt triết lý duyên sinh duyên khởi và nguyện giữ giới để thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn đó hoặc không vẽ cái vòng đó cho người khác. Hiểu về nguồn gốc của khổ đau nên nguyện không sinh ra khổ đau cho chúng sanh. Công dụng của đạo Phật thực hành nằm ở đây.

Cho nên người ta mới thấy tự do mà chịu đưa mình vào khuôn khổ.

Tu tập cao hơn thì có thể thực tập chỉ trì. Nghĩa là khi sắp phạm giới đến nơi rồi, thì biết dừng lại và tiếp tục hành trì. Khả năng ý thức tập khí bên trong trỗi dậy và chuẩn bị tác động vào lời nói của mình, sau đó bình tĩnh dừng lại và duy trì việc lắng nghe người kia là một kiểu tay nghề điêu luyện của người chọn giữ giới. Phải kiên tâm tập hành thiền, tập giữ chánh niệm một thời gian dài.

Thứ ba là Bốn mươi mốt thiên uy nghi dành cho vị xuất sĩ thọ giới Sa di.

Nếu ngồi ăn một quả quýt trong chánh niệm, thì đâu là sự khác biệt giữa người có tu học và người chưa tu học? Vì đâu đó trong số đại chúng, vẫn có nhiều người ăn quýt chỉ để ăn quýt mà thôi, tận hưởng, không suy nghĩ đến việc khác, cũng không cần học về đạo mới biết cách ăn như vậy. 

Tuy nhiên, giữa người ngồi ăn quýt trong tư thế lịch sự, vững chãi, khoan thai và người ngồi gác một chân lên ghế, thì dễ phân biệt rồi đúng không?

Thiên uy nghi là vẻ đẹp của chánh niệm, biểu hiện trong tư thế, động tác, ngôn từ, và cách xử sự. Người thực tập thiên uy nghi sẽ tạo tác thêm nhiều kiên cố và ung dung trong từng động tác chánh niệm. Bốn mươi mốt thiên uy nghi này không phải thứ bạn có thể “nuốt ngay” như kiểu mì ăn liền. Đây là kiểu công thức, tuyệt chiêu dành cho những lúc cần đến, thì giở ra mà học.

Thiên uy nghi thứ bốn mươi: Làm mới

Trong tiến trình của một mối quan hệ, hay là của vạn vật, sẽ có giai đoạn đóng băng trước khi thoái trào. Làm mới là một sự chủ động, khi người xuất sĩ nhận ra giữa mình và một vị sư muội/sư huynh kia đang có sự “lăn tăn” dẫn đến khó mà cùng nhau tu học.

Vậy mới nói rằng đời sống tu sĩ đóng khuôn trong giới luật và uy nghi, xa rời thú vui tiêu khiển, đâu có nghĩa là buồn chán và lạc hậu. Uy nghi thứ bốn mươi chỉ rằng, khi biết người bạn đồng tu của mình có chút giận hờn, hiểu lầm, hoặc làm sai quấy, thì người xuất sĩ nên tìm cách giãi bày ngay với người bạn này, trong vòng bảy ngày nếu sự việc vẫn chưa êm xuôi, cần thông báo đến tăng thân trong tu viện để có biện pháp kịp thời.

Vậy giãi bày như thế nào cho khéo léo? Giãi bày như thế nào để không tạo thêm sân si, đổ vỡ?

Người tu học sẽ dùng sự hiểu biết và phân tích sâu của mình để khởi tâm chân thành và từ bi để làm theo 3 bước như sau: Công nhận, khen ngợi người bạn kia - Tự kiểm điểm những thiếu sót của chính mình - Nói ra những khổ tâm mà mình đang chịu đựng. Rồi kết luận bằng cách đề nghị hoặc nhờ vả người kia tiếp tục tu tập có hợp tác cùng nhau.

Đời sống thế tục cần bạn tranh thủ nghỉ ngơi mỗi khi được ở một mình, tái tạo lại năng lượng đã tiêu hao cho những thời giờ giao tiếp với xã hội. Còn đời sống tu học sẽ dạy bạn cách phát triển và nuôi dưỡng năng lượng tâm linh trong từng thời khắc của cuộc sống; cách bảo toàn sự an lạc khi gặp phải những bực dọc, giận hờn, lo toan, si mê trong công việc và các mối quan hệ.

Có phải đại đa số chúng ta đều tìm được công việc mình yêu thích, để có thể sống trọn từng ngày? Hay đại đa số chúng ta, đều có thể tránh né được những điều kém may mắn, phật lòng? 

Người viết nghĩ lợi ích của Bước tới thảnh thơi chính là ở đây. “Cầm tay” chỉ ngay phương pháp tu tâm dưỡng tính mà bạn có thể áp dụng tại nhà. Và vì sao cuốn sách này nên được gọi là sách gối đầu giường của tất cả mọi người.

Lời khuyến khích dành cho người tu học

Người ta hay nói rằng

Nhất niên Phật hiện tiền
Nhị niên Phật ngoài hiên
Tam niên Phật thăng thiên

Ý chỉ việc học lúc nào bắt đầu cũng thật nhiều thôi thúc, nhiều sáng suốt nhưng về sau thì động lực càng vơi dần, kiến thức nhiều không biết vận dụng, tổng hợp cũng dẫn đến ngu muội. Lúc này nên quay về quán chiếu lại những hạt giống ban đầu, để soi rọi lại lý tưởng ban sơ, để xem đường mình đi đang là chính đạo hay rẽ lối nào rồi. Những lời khuyến khích của người đi trước là lời nhắc nhở về những cái cơ bản như vậy.

Trong số những vị xuất sĩ thọ giới Sa di, giới Tỳ kheo,... có bao nhiêu vị bị mắc kẹt trong cấp bậc, chức danh, địa vị, tuổi đạo? Có bao nhiêu vị giữ được tâm vô ngã khi đối tiếp bạn đồng tu và đại chúng? Kiến thức không phải là tuệ giác. Kiến thức không phải sự nghiệp của tu học.

Nếu bạn là một xuất sĩ, bạn sẽ đem lại hạnh phúc cho rất nhiều chúng sanh. Vô số chúng sanh được giải thoát sẽ là mục tiêu của bạn. Nếu bạn là cư sĩ (người tu tại gia), bạn sẽ là người con, người vợ, người chồng, cha, mẹ hoặc bất kỳ vai trò nào đem lại hòa khí và an lành cho gia đình bạn; tất cả bằng sự hiểu biết, tâm từ bi, khả năng lắng nghe và rất nhiều công phu tu tập khác. Tu dưỡng thân tâm cũng là tu dưỡng nguồn năng lượng yêu thương cho những người xung quanh.

Sơ tâm là tâm buổi ban đầu, là một trái tim tốt lành nguyên vẹn, và còn nóng hổi. Vạn vật rồi sẽ thay đổi, nhưng năng lượng chân thành của sơ tâm sẽ lắng đọng hoài trong từng khoảnh khắc yêu thương của cuộc sống. Nhiều vết thương xung đột được chữa lành nhờ sơ tâm, nhiều sai trái được uốn nắn trở lại cũng nhờ sơ tâm. Và đôi khi ta bám víu vào những điều dĩ vãng cũng vì sơ tâm lúc ấy quá mạnh mẽ, quá trong sáng. Trong đạo Phật, sơ tâm còn được gọi là tâm Bồ đề do người tu học phát nguyện gieo trồng và vun tưới tâm yêu thương dành cho mọi loài. Đây được xem là suối nguồn năng lượng, không bao giờ cạn kiệt. Và vì vậy cần phải được người tu học ra sức giữ gìn, chăm nom. Giữ gìn sao cho suối nguồn cứ chảy hoài, phải chảy mạnh hoài để cuốn trôi những tiêu cực, buồn phiền trong đời sống gây ra. Giữ gìn sao cho đầu nguồn không bị ô nhiễm, không vẩn đục để đời sống trong tăng đoàn nhờ mình mà được trong sạch.

Còn rất nhiều lời khuyến học khác mà người viết muốn người cầm sách có thể đọc chậm rãi, đọc mỗi ngày một chút, một ít, rồi ngẫm nghĩ để có thể soi ra cái sơ tâm mà Sư Ông - Thiền sư Thích Nhất Hạnh - người thầy của Tỉnh thức và Yêu thương dành cho đại chúng.

Bước tới thảnh thơi còn một số nội dung khác cũng rất hữu ích dành cho bạn nếu muốn tìm hiểu đầy đủ về đời sống người xuất sĩ, và xem thử mình có thể áp dụng tại nhà cái gì không.

Bài viết dành cho những ai đã cầm cuốn sách trên tay nhưng cảm thấy ngột ngạt hoặc khó hiểu vì những lớp từ ngữ của giới tu học, và cho những ai có ý định tìm hiểu nghiêm túc về dòng tu Tiếp Hiện của các chư tăng Làng Mai. Hy vọng mọi người sẽ thấy dễ dàng tiếp cận Bước tới thảnh thơi hơn, và chắt lọc nhiều điều bổ ích để ứng dụng ngay tại giây phút này.

Hết.

Anh Đào

*

Tắm mình trên dòng sông tuệ giác



*

Đối với các đệ tử của Thầy, cũng như những người yêu kính Thiền sư Nhất Hạnh, ngày 11 tháng 10 hằng năm không chỉ là ngày sinh nhật của Thầy mà còn được biết đến với tên gọi Ngày Tiếp Nối, với ý nghĩa tiếp tục lưu giữ và truyền lại những tư tưởng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh cho thế hệ sau.

Nhân Ngày Tiếp Nối, các tác phẩm sách của Thiền sư Thích Nhất Hạnh được trưng bày trang kính ở hệ thống Nhà Sách Phương Nam trên toàn quốc. Là đơn vị liên kết xuất bản, phát hành nhiều đầu sách của Thiền sư, Nhà Sách Phương Nam tự hào tiếp nối những giá trị tư tưởng của Thiền sư, từ đó trao truyền từng trang sách thấm đẫm những tư tưởng ấy đến với nhiều đối tượng bạn đọc.

Các tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh mà Phương Nam Book đã xuất bản.
Mỗi quyển sách là mỗi giá trị tư tưởng mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh trao truyền cho đại chúng.
Ảnh: Nhà Sách Phương Nam Phú Thọ
Đọc bài viết

Cafe sáng