Trà chiều

Sách và Chuyện Đọc Sách: 8 xu hướng nổi bật trong thập niên vừa qua

Ta hãy nhìn lại 8 xu hướng và đổi thay quan trọng diễn ra trong ngành xuất bản và trong thị hiếu độc giả thập kỷ qua.

Published

on

Đã có lúc người ta tiên đoán rằng sách sẽ đi vào dĩ vãng. Thế kỷ mới đã đến, cuộc đời ta đang được số hóa và chẳng có lý do gì để mang theo những bản ép bột giấy đi khắp mọi nơi. Thế mà trong thập niên qua, rõ ràng sự ra đi của sách đã bị phóng đại. Khi thập niên 2020 sắp đến, có nhiều lý do để ăn mừng sự trỗi dậy của sách – nhưng đồng thời nên ghi nhận rằng đường lộ dành cho những hình thức kể chuyện khác đang rộng mở, không chỉ trên thị trường mà còn trong tâm trí độc giả. Việc chúng ta dành nhiều thời gian trên mạng đâu đó có nghĩa là chúng ta càng ngày càng bị sao nhãng khỏi việc đọc… nhưng cũng có nghĩa rằng độc giả có nhiều lối đi để tìm kiếm những câu chuyện họ cần và muốn.

Ta hãy nhìn lại 8 xu hướng và đổi thay nổi bật diễn ra trong ngành xuất bản và trong thị hiếu độc giả thập niên qua.

1. Tốt nước sơn cũng quan trọng như tốt gỗ

Khi người ta tạm ngưng sử dụng thiết bị điện tử, họ sẽ tìm kiếm những cuốn sách xinh đẹp: các nhà xuất bản đã và đang ghi nhận việc người dùng sẵn sàng chi trả mức giá cao cho thứ gì đó đặc biệt. Hãy cân nhắc đến Visual Editions ra mắt năm 2010: Tôi tình cờ phát hiện những tác phẩm của họ khi thấy cuốn sách thứ hai họ xuất bản, Tree of Codes của tác giả người Mỹ Jonathan Safran Foer. Tree of Codes là một cuốn sách phi thường: phần văn bản được chuyển thể từ Street of Crocodiles của tác giả Ba Lan Bruno Schultz, những trang sách được cắt khuôn, một số từ ngữ của Schultz được dập bỏ cẩn thận để tạo nên câu chuyện của Foer. In đẹp đẽ bằng mực đỏ và đen, cuốn sách vừa là một hiện vật nghệ thuật, vừa là văn bản văn chương: một kỳ quan để chiêm ngưỡng và đọc hiểu.

Tree of Codes

Những nhà xuất bản truyền thống hơn cũng đã nhận ra độc giả muốn trở thành một phần của điều đặc biệt: năm 2015, Faber & Faber ra mắt phiên bản đóng gáy đặc biệt của tác phẩm The Buried Giant (Kazuo Ishiguro). Một vài năm sau, tập sách lộng lẫy The Lost World của Rober Macfarlane và Jackie Morris, tôn vinh thế giới tự nhiên thông qua ngôn ngữ và hình ảnh, lẳng lặng mà trở thành một hiện tượng, với những chiến dịch kêu gọi vốn tự phát để đưa sách vào trường học trong khu vực.

2. Tìm kiếm ẩn ý trong câu chữ

Nếu chúng ta học được điều gì đó trong thập niên qua, thì đó là ngoài kia tồn tại rất nhiều độc giả nghiêm túc. Cuốn sách đầu tiên của Visual Editions là ấn bản The Life and Opinions of Tristam Shandy, Gentleman của Laurence Sterne, nguyên bản được xuất bản chín tập từ năm 1759 đến 1767. Cuốn sách trở thành cảm hứng sáng lập Giải Goldsmiths vào năm 2013. Giải thưởng này lập ra để ghi nhận những tác phẩm hư cấu Anh và Ai-len mà – như Tristam Shandy đã làm trong quá khứ – mở ra những tiềm năng mới trong hình thái tiểu thuyết. Tác phẩm chiến thắng đầu tiên là A Girl is a Half-formed Thing. Tác phả Eimear McBride đã vật lộn nhiều năm trời để tìm kiếm người chịu xuất bản: về lý thuyết, những dòng-chảy-ý-thức trong cách kể chuyện khiến nó trở nên “khó đọc”. Tuy nhiên, sau khi chiến thắng Giải Goldsmiths, cuốn sách bán được mười nghìn bản, và chiến thắng Giải Phụ Nữ cho hạng mục Hư cấu (một giải thưởng “phổ biến” hơn). Tiết lộ: Tôi nằm trong hội đồng chấm Giải Goldsmith năm 2019 – Ducks, Newburyport là tác phẩm chiến thắng tuyệt vời được chắp bút bởi Lucy Ellman – và từ đó, tôi đã chướng kiến nó trở thành nền móng trong toàn cảnh văn chương. Đây là bằng chứng chứng minh việc độc giả cũng dạn dĩ và phiêu lưu như những tác gia xuất sắc: họ chỉ cần biết những tác phẩm họ muốn tồn tại.

A Girl Is a Half-formed Thing

3. Sách nói lên ngôi

Độc giả đang tìm kiếm những hình thức mới để tiếp cận với văn bản. Chẳng ai có thể không để tâm đến sự gia tăng đột biến trong doanh thu sách nói (audiobook). Doanh số của Audible, nhà bán lẻ và xuất bản sách nói, tăng đến 38 phần trăm năm 2018: năm trước đó, công ty đã công bố doanh số tăng 47 phần trăm. Nghiên cứu đề xuất rằng, tại Anh, doanh thu sách nói sẽ vượt lên sách in trong năm 2020. Lắng nghe sách nói có thể là một trải nghiệm bổ trợ tuyệt vời kể cả khi bạn thích đọc sách. Cuốn tiểu thuyết được giải Pulitzer 2017 Lincoln in the Bardo của George Sauders vốn được kể bằng hơn một trăm giọng khác nhau – những con ma chiếm đóng nghĩa trang mà Willie, cậu con trai 11 tuổi của Abraham Lincoln được chôn cất. Và vì thế, phiên bản sách nói cũng được thuật lại bằng một trăm giọng nói: hãy lắng nghe Susan Sarandon, Bradley Whitford, Don Cheadle, Bill Hader… cả một danh sách dài. Có lẽ bạn thích tiểu thuyết trinh thám của nhà văn người Na Uy Jo Nesbø – chà, vậy thì tại sao không lắng nghe Blood on Snow tường thuật bởi Patti Smith? Tôi chắc chắn rằng một trong những lý do giải thích cho sự phổ biến gia tăng của sách nói là vì quá trình số hóa và download không chỉ khiến việc nghe thuận tiện hơn, mà còn khiến người nghe bớt hoang mang trước độ dài của cuốn sách: Tôi nhớ việc từng nhận được phiên bản sách nói Moby Dick xuất bản bởi Naxos Audiobooks (tường thuật bởi William Hootkins) khi nó ra mắt năm 2005… Tôi thích mê tiểu thuyết này, nhưng cũng đồng thời có chút hết hồn bởi 19 cái CD.

4. Thơ Instagram

Nhưng dĩ nhiên, có thể ngắn gọn và ngọt ngào mới là gu đọc của bạn: trong trường hợp này, thơ Instagram hẳn là dành cho bạn. Có lẽ nổi tiếng nhất trong lĩnh vực này là nhà thơ người Canada-Punjab Rupi Kaur, người có gần 4 nghìn lượt follow trên nền tảng Instagram. Cuốn sách đầu tiên của cô, Sữa và mật, tự xuất bản năm 2015, chiễm chệ trên sách bán chạy của New York Times gần hai năm. Thơ của cô rõ ràng, tử tế và chân thật: cô cho rằng Instagram đã “dân chủ hóa nghệ thuật làm thơ” – mặc dù người khác có thể nói là tái-dân chủ hóa, vì thơ vốn là loại hình văn chương cổ xưa và dễ tiếp cận nhất (từ Homer đến thơ tập đánh vần). Mạng xã hội đã khiến một tác giả như Kaur tìm được giọng văn và đối tượng độc giả phù hợp mà không cần trung gian là những nhà xuất bản truyền thống. Đây hẳn là biến chuyển toàn cục lớn nhất trong thập niên vừa qua.

Rupi Kaur

5. Những “cô gái” giành quyền kiểm soát

Năm 2005, tiểu thuyết đầu tiên của tác giả người Thụy Điển Stieg Larsson vốn có tựa đề gốc là Man som hatar kvinnor (Những người đàn ông căm ghét đàn bà), nhưng khi nó xuất bản bằng tiếng Anh (và tiếng Việt), tiêu đề được đổi thành The Girl with the Dragon Tattoo (Cô gái có hình xăm rồng). Chỉnh sửa này là khởi nguyên cho xu hướng tiếp diễn trong những năm sau đó. Năm 2012, Cô gái mất tích của Gillian Flynn bán được hơn hai triệu bản. Paula Hawkin tiếp đà với Cô gái trên tàu, bán được hơn 15 nghìn bản tính đến năm 2016. Những thành công này thu hút hàng tá những bản sao. Nhưng hiện tượng “cô gái” không chỉ là một trường hợp bắt chước quá đà. Nó dẫn đường cho một lớp tác giả nữ tài năng tấn công vào câu lạc bộ trinh thám vốn đa số chứa toàn trai già và góp phần thay đổi luật chơi.

6. Đường hướng tiếp cận trực tiếp

Trong mười năm qua, chúng ta đã chứng kiến một thị trường đầy ắp cơ hội dành cho tác giả – nhưng không hề kém thách thức. Năm 2017, quái thú trực tuyến Amazon báo cáo rằng tại Hoa Kỳ, hơn 1.000 tác giả độc lập – xuất bản trên nền tảng Kindle – kiếm được hơn 100.000 đô la Mỹ tiền nhuận bút. Một trong những thành công lớn nhất trong thập niên vừa qua – dù đánh giá của bạn có tốt xấu ra sao – là 50 sắc thái của E. L. James. Xuất hiện lần đầu tiên như là fanfiction của Chạng vạng, viết dưới bút danh Snowqueens Icedragon, sê-ri 50 sắc thái vốn được xuất bản bởi một tờ báo nhỏ. Sau khi nó manh nha trở thành hiện tượng, sách được nhà xuất bản chính thống Vintage tiếp cận. Đến năm 2014, tập đầu tiên, phát hành năm 2011, đã bán được hơn 100 bản trên toàn thế giới.

7. Những thời khắc khó khăn

Nhưng cũng có mặt trái trong phi vụ béo bở ở trên: đa số tác giả càng ngày càng gặp khó khăn trong việc kiếm sống. Một cuộc khảo sát thực hiện năm ngoái bởi Hiệp hội Thu thập và Tác quyền Tác giả tiết lộ rằng thu nhập trung vị của các tác giả đang làm việc tại Anh hiện ở mức thấp hơn 10.000 bảng Anh, giảm 42 phần trăm từ năm 2005. Mức này thấp hơn cả mức thu nhập hàng năm tối thiểu (17.900 bảng Anh) mà Quỹ Joseph Rowntree khuyến cáo. Ngành xuất bản thỉnh thoảng gặp khó khăn trong việc bắt nhịp với thế kỷ 21. Mãi đến những năm gần đây, ta mới thấy những nỗ lực thật sự trong ngành để tìm kiếm những giọng kể đa dạng, đi tìm những tài năng mới với xuất thân hiếm gặp.

8. Cuộc chơi chuyển thể của nhà sản xuất truyền hình

Không như phương thức cũ khi tác giả hy vọng bán được bản quyền sách cho nhà sản xuất phim điện ảnh, sự phát triển nhanh chóng của nền tảng truyền hình trực tuyến trong thập niên này đã tạo ra hàng hà cơ hội mới cho tác gia hư cấu. Trò chơi vương quyền, Chuyện người tùy nữ, Outlander trở thành những chương trình truyền hình phải-xem đối với hàng triệu người. Những cuốn hồi ký như Orange Is The New Black của Piper Kerman và Shrill của Lindy West được tái sinh trên màn ảnh nhỏ. Người hâm mộ thể loại sci-fi và viễn tưởng được tưởng thưởng bởi một dải thiên hà những sê-ri mới, trong đó có The Expanse của James S. A. Corey, American Gods của Neil Gaiman, The Magicians của Lev Grossman. Xu hướng này tăng nhanh chóng mặt khi thập niên dần kết thúc, với thông báo rằng cuốn sách được Giải National Book Trust Exercise của Susan Choi và được Giải Booker Narrow Road to the Deep North của Richard Flanagan sẽ được chuyển thể thành sê-ri phim. Những đốm lửa lưu lạc, được Time bình chọn là một trong 10 tác phẩm hư cấu xuất sắc nhất thập niên, đã được Hulu mua bản quyền truyền hình và chuẩn bị lên sóng năm sau (với diễn xuất của Reese Whiterspoon và Kerry Washington). Điều đáng khích lệ hơn hẳn là cách mà chương trình truyền hình đã khiến người ta tìm đọc những cuốn sách gốc, tạo ra một vòng quay của xem phim và đọc sách.

Những đốm lửa lưu lạc đã được Hulu mua bản quyền truyền hình và chuẩn bị lên sóng năm sau.

Hết.

Mèo Heo biên dịch và tổng hợp.

Bài gốc được thực hiện bởi Erica Wagner (BBC) và Ron Charles (The Washington Post)


Những bài viết có cùng chủ đề




Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Vì sao chúng ta lập bản cam kết đầu năm? (và vì sao ta thường thất bại trong việc thực hiện chúng)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Published

on

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)
Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái bị chàng phụ bạc đã chết - phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton - người bảo trợ của Dorian - đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm, ông kết luận có hơn 50% người Mỹ đặt ra những lời cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman - nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina - được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” - những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại: “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt - những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất - 82% so với mức sàn - diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất - 150% so với mức trung bình - được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng - là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 7 – Ngạo mạn: Nhân sư thành Thebes (Hy Lạp)

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Ngạo mạn.


Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx «sfihngks» - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực. Với người dân Ai Cập, nhân sư đóng vai trò như một biểu tượng hơn là một thực thể độc lập. Nó là thần bảo vệ, người canh giữa các kim tự tháp, là kẻ giáng đòn trừng phạt lên kẻ thù của thần mặt trời Ra. Nó cũng đại diện cho các pharaoh và sức mạnh thần thánh của họ. Đôi khi, khuôn mặt của tượng nhân sư được chạm khắc hoặc sơn vẽ giống với một vị pharaoh cụ thể.

Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực.

Hình tượng nhân sư có xuất xứ từ Ai Cập hoặc Ethiopia; nhưng sau khi “đặt chân” đến Hy Lạp cổ đại, hình dáng và tính cách của sphinx có nhiều biến đổi. Vào những năm 1.600 TCN, tượng nhân sư lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp nói riêng và văn hóa Hy Lạp nói chung. Sphinx được miêu tả là loài quái vật với thân hình sư tử, đầu và ngực của một người phụ nữ, đôi cánh của đại bàng và (theo một số người) đuôi rắn.

Trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật sphinx nổi tiếng nhất xuất hiện tại thành Thebes. Một ngày nọ, nó bay lên đỉnh tường thành và ngạo nghễ hỏi toàn thể thanh niên Thebes một câu đố: “Cái gì buổi sáng đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân, tối đi bằng ba chân?”. Bất cứ ai trả lời sai đều hóa thành bữa ăn trong bụng sphinx. Con đường dẫn tới nơi ở của nhân sư rải đầy xương của những kẻ xấu số.

Thời điểm bấy giờ, sau cái chết của vua Laius, Creon đang tạm thời nhiếp chính. Vẫn chưa một ai trả lời đúng câu hỏi, và người dân thành Thebes đang chết dần. Mong muốn tống khứ được con quái vật này đi bằng mọi giá, Creon tuyên bố trao vương quyền và gả vị hoàng hậu đang góa bụa Jocasta cho người anh hùng giải được câu đố của sphinx.

Cuối cùng, Oedipus - người đang chạy trốn khỏi Corinth - đã giải được câu đố. Đáp án của chàng là một con người:

Giai đoạn bình minh cuộc đời, một đứa trẻ phải bò bằng bốn chân (tay và đầu gối).

Khi trưởng thành như mặt trời ban trưa, con người đi bằng hai chân.

Nhưng vào buổi hoàng hôn của cuộc đời, người già phải chống gậy, đi bằng ba chân.

Oedipus đã giải được câu đố.của nhân sư thành Thebes.

Sau khi nghe câu trả lời của Oedipus, sphinx đã gieo mình từ bức tường thành Thebes và chết trong tuyệt vọng và nhục nhã.

Hình tượng nhân sư rất phổ biến trong nghệ thuật thời Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp thường tạc đầu nhân sư lên các bia mộ để xua đuổi những kẻ trộm mộ. Chúng cũng xuất hiện trên bình gốm, tranh khắc. Nhìn chung, tồn tại khá nhiều diễn giải về hình tượng nhân sư: trong khi một số người coi chúng là biểu tượng của sự hung hãn và bạo lực, một số khác lại xem nhân sư là đại diện của tri thức toàn năng và túi khôn của thời cổ đại.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 6 – Ghen tị: Quỷ sống Hashihime, đừng đùa bỡn với tình cảm của phụ nữ

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Kiêu ngạo.


Bị thiêu đốt bởi ghen tuông và oán hận, một người đàn bà đã dùng ý chí của mình để cầu xin thánh thần phù trợ, tự biến mình thành một con quỷ sống - nữ quỷ của thịnh nộ và chết chóc. Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Quay ngược về nước Nhật cổ đại - trước khi chữ viết xuất hiện, từ “Hashihime” từng được dùng để chỉ nữ thần bảo trợ những cây cầu bắc qua sông. Nhật Bản thời bấy giờ (và kể cả ngày nay) là nền văn hóa vật linh; những yếu tố thiên nhiên hiện thân thông qua các linh hồn thiện và ác. Các kỳ quan của thiên nhiên - như bách niên đại thụ hoặc chỏm đá kỳ dị - đều được bảo trợ bởi các vị thần gọi là Kami. Các con sông cũng vậy, đặc biệt là các con sông lớn, là nơi trú ngụ của thần linh.

Những cây cầu bắc qua sông lớn giống như con dao hai lưỡi. Chúng cho phép người dân di chuyển giữa hai bờ để giao thương buôn bán, nhưng cũng tạo điều kiện để kẻ thù tấn công. Vì thế, bất cứ cây cầu nào có kích thước đáng kể đều được cho là nơi sinh sống của thần hộ mệnh Hashihime. Nàng đóng vai trò như một người gác cổng, cho phép đồng minh đi qua và ngăn chặn kẻ thù xâm nhập.

Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Không ai biết rõ nguyên nhân vì sao hình tượng nữ thần Hashihime lại biến thành nữ quỷ Hashihime. Một trong những lý giải là sự ra đời của thiên sử thi “Heike Monogatari” (Chuyện kể về Heike). “Heike Monogatari” - tương tự những câu chuyện được sáng tạo và truyền miệng qua nhiều thế hệ trước khi ngôn ngữ viết ra đời - có rất nhiều dị bản. Nhân vật chính là nàng Hashihime vùng Uji. Nàng là một tiểu thư xuất thân cao quý, nhưng chẳng may bị người chồng trăng hoa lừa dối (một số dị bản kể rằng nàng bị bỏ bê khi chồng nàng lấy được người vợ thứ hai)1. Trong cơn tị hiềm mù quáng, Hashihime đã cầu viện đến sự trợ giúp của thánh thần đền Kifune, tự biến mình thành một con quỷ sống để trả thù.

“Bị vây hãm trong đố kỵ, nàng đã hành hương đến ngôi đền Kifune và toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Trong bảy ngày liên tục, nàng chỉ ước một điều duy nhất: 'Hỡi vị Kami vĩ đại và quyền uy của đền Kifune, xin ngài ban cho tôi sức mạnh của ác quỷ khi tôi vẫn là con người bằng xương bằng thịt. Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.'

Vị Kami đền Kifune đã chú ý đến tâm nguyện của Hashihime và thấu hiểu mong muốn của nàng. 'Ta đã bị cảm hóa bởi sự chân thành trong lời ước của ngươi. Nếu ngươi muốn trở thành một con quỷ sống và hóa thân thành giống loài hung ác, hãy đi đến sông Kawase ở Uji. Thực hiện nghi lễ ta dạy cho ngươi, và sau đó ngâm mình trong làn nước sông. Hãy làm điều này trong 21 ngày.'

Vị nữ quý tộc này đã nghe thấy lời đáp của thánh thần. Nàng tìm được một nơi vắng vẻ, nơi nàng làm theo đúng chỉ dẫn của Kami. Đầu tiên, nàng xoắn những lọn tóc dài của mình thành năm chiếc sừng. Sau đó, nàng mài chu sa thoa lên mặt và dùng màu vẽ đỏ tươi thoa lên cơ thể mình, cho đến khi nàng trở nên đỏ rực như quỷ dữ trong truyền thuyết. Cuối cùng, nàng đội lên đầu một chiếc đinh ba chạc, và cắm vào đó ba ngọn đuốc bằng gỗ thông cháy phừng phực. Giữa hai hàm răng, nàng nghiến chặt thêm hai ngọn đuốc.

'Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.' - Trích lời cầu nguyện của Hashihime.

Quá trình chuẩn bị đã hoàn tất. Với ngọn đuốc sáng rực trong đêm thâu, nước da đỏ rực và trên đầu đội vương miện bằng sắt, nàng xuôi về phía nam đến Yamato-oojidori. Ngoại hình của nàng chẳng khác quỷ quái là bao; ai ai nhìn thấy nàng cũng đều gục xuống, chết khiếp trước cảnh tượng kinh hoàng này. Cuối con đường là con sông Kawase, nơi người phụ nữ ngoan ngoãn ngâm mình dưới làn nước. Như lời Kami đền Kifune hứa hẹn, sau 21 ngày, nàng đã hoàn toàn biến đổi thành một con quỷ sống trong thân xác phàm trần.

Bằng cách này, Hashihime đã trả thù gã đàn ông phụ bạc, cùng tất cả họ hàng thân thích và gia nhân của hắn. Cơn thịnh nộ của nàng không có ranh giới. Khi nàng giết đàn ông, nàng hóa thân thành phụ nữ. Khi nàng giết phụ nữ, nàng lấy dung mạo là đàn ông. Nàng trở thành nỗi kinh hoàng của người dân thị trấn; không một ai dám bước chân ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.”

*

Trong “Heike Monogatari”, điểm khiến Hashihime trở nên đặc biệt là nàng trở thành quỷ khi vẫn đang “còn sống”. Nàng không cần cái chết hay sự tái sinh để biến thành một sinh vật siêu nhiên. Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, cái chết có tác dụng biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến motif nhân vật chính trả thù sau khi bị hại chết. Vì vậy, việc nàng Hashihime vùng Uji là một con quỷ “sống” đã tăng thêm mức độ ghê rợn của câu chuyện và hình tượng này.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Chú thích:

  1. Trong một số dị bản, nguồn cơn sự ghen tị Hashihime dành cho một nữ quý tộc khác không đến từ mâu thuẫn tình cảm.
Đọc bài viết

Cafe sáng