Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Công thức của Rupi Kaur, “nhà thơ của thập niên”

Sau khi đọc “Rupi Kaur là nhà thơ của thập niên” trên tờ New Republic của Rumaan Alam.

Published

on

Mấy năm trước và gần đây, Milk and Honey (Bản dịch có nhan đề Sữa và Mật, NXB Nhã Nam, 2019) của Rupi Kaur nổi như cồn. Nổi về nhiều khía cạnh, những dòng thơ súc tích, ngắn gọn, cô đọng, không cần phải suy nghĩ nhiều mà vẫn có thể rút ra được những nhân sinh quan dễ hiểu và có thể coi là sâu sắc, bên cạnh đó, có thể bằng những bức sketch line-art thường đi kế cạnh, thơ ngắn, dễ vừa một khung hình chụp up story, bìa sách đẹp,… Để vắn tắt sự ảnh hưởng của nó, trước khi được dịch, năm 2018 và đầu năm nay, dân “chơi sách” từ lâu đã sống chết với những bản thơ cổ Trần Dần, Vi Thuỳ Linh, Hoàng Cầm giờ đây đổ đi mua bản tiếng Anh, tiếng Pháp. Bìa sách màu đen, deep xịt, thơ gọn ghẽ có thể dịch bằng Google đủ làm nên sức lan toả của nó.

Sữa và mật

Rupi Kaur, nếu như bạn là người mê sách đồng thời cuồng Instagram thì có thể thừa biết, cô sở hữu 3,8 triệu người theo dõi hiện tại, một con số khổng lồ cho một tác giả, gấp 30 lần Margaret Atwood, 15 lần John Green, là những tác giả đang còn hoạt động và sử dụng Instagram thường xuyên. Thơ của cô bán được ba triệu rưỡi bản, con số ấn tượng trong khi thơ thế giới, đang lụi tàn, với số lượng bản in trung bình chỉ là 500 bản in, với sự vận động bớt ế miệt mài từ người thân và người nhà. Người trẻ Mỹ, trong sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông và văn hoá pop cộng đồng, sẽ có thể không hề còn nhớ tới Merwin hay Milosz, nhưng nhắc tới rupi kaur (viết thường, như mọi bài đăng của cô) thì họ sẽ liên hồi nghĩ tới một bức hình vuông vức trắng xoá, góc cuối bên phải có hình vẽ cách điệu bằng những dây mực, bên góc trái xoã xuống những dòng thơ ngắn gọn, phông Times New Roman.

Hai năm sau khi “milk and honey”, “the sun and her flowers” ra đời không đánh dấu cho điều gì mới mẻ và ý nghĩa gì quan trọng lắm. Vẫn những cách trình bày và bìa sách cũ, đi qua hiệu ứng của những câu từ không bao giờ viết hoa thì bắt gặp những câu thơ ngắn gọn, phô trương, dễ đoán, những phép ẩn dụ tưởng chừng nhấn nhá đến vô phương thấu hiểu thật ra nhạt nhẽo và tầm thường, sự ngắt câu chểnh mảng và chỉ gây dấu ấn chứ không mang ý nghĩa về bất cứ nội dung gì. Thì làm thế nào, Rupi Kaur, một nhà thơ (nếu bạn đồng ý), trẻ, số lượng tác phẩm chưa đồ sộ và chưa có thành tích nào đặc biệt quan trọng, lại thay đổi bộ mặt thơ thế giới trong thập niên này, và có thể cô, những hậu duệ cô sẽ tiếp tục duy trì điều đó vào những thập niên tiếp nữa?

Nếu là một người đọc dễ tính, như các cô nàng tuổi teen đang chuếnh choáng cuộc đời, yêu đương, những người lạc lối (trong thế hệ này, số người đó vô số kể, hơn 3,8 triệu nhiều) thì thơ Kaur dễ dàng đánh động và thuyết phục bạn, đó là thể loại thơ mà những người sõi đời sẽ kể (thật ra không phải, ở dưới sẽ cho bạn biết vì sao), là Nam Cao sẽ viết, thể loại thơ người ta sẽ rất thích để đăng kèm caption. Sau đây là công thức của Kaur:

1. Tính đánh động bằng hình ảnh:

Một số câu thơ (verse) của Kaur giống như một câu nói trong bài phát biểu của bà hội trưởng ôn tồn giảng đạo cho bầy trẻ hơn. Nhưng vì thế, nó “mạnh mẽ” và “bộc trực”:

Một trong số đó:

bạn sợ hãi

giọng nói của tôi

tôi cũng thế

tôi cũng sợ hãi nó

Hay:

thật mạnh mẽ làm sao

trái tim con người

qua bao lần tan vỡ

vẫn sống

Đó là những dòng thơ mà người ta sẽ lấy để làm lyrics cho những bài hát thị trường, nó mang tính đánh động trực diện vào hai thái cực cảm xúc khác nhau, chỉ với những vần thơ vô cùng đơn điệu và tầm thường. Bài đầu tiên, ám chỉ lời nói độc hại, “lời nói giết người hơn dao”. Bài thứ hai, ca ngợi, tự mãn với sức mạnh của trái tim con người. Chấm hết, không gì nghĩ ngợi hơn nữa. Để làm rõ sự đơn giản của lớp ý thức của Kaur, xin đọc một bài thơ cũng ngắn như thế của Merwin có tên là “Tiết kiệm” (bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng):

Không cần phải đập tấm gương.

Đây là khuôn mặt tan vỡ,

Sẵn cho bảy năm buồn bã.

Đầu tiên, ở phương diện hình thức, thơ của Merwin không cố cắt các đoạn thơ ra khi không cần thiết, các đoạn thơ ngắt nhưng đầy đủ nghĩa, chững chạc, vững vàng. Và sau mỗi câu đều có dấu câu, không cố níu giữ sự liền mạch giữa các câu thơ sau khi xuống dòng. Còn thơ của Kaur, sự bẻ ngắt vô thức để tạo sự vỡ mạch, ấn tượng, hụt hẫng, trong khi cách viết thì mong muốn sự liền mạch trong câu thơ (verse) như thể một đoạn văn (prose), loại bỏ mọi sự cản trở lẫn hỗ trợ của dấu câu. Rõ ràng, thơ Kaur có mang tính biểu hiện, gây ấn tượng hơn so với thơ cũ. Đó là một nguyên liệu quan trọng trong công thức thành công của cô, sự ngắn gọn, vừa đủ một khung hình Instagram bởi vì người ta sẽ không bao giờ đọc những thứ quá dài, phô diễn sự sâu sắc, bởi ai cũng thích đọc những vần thơ sâu sắc nhưng quá lười để nghĩ, để bóc tách sự sâu sắc đó ra và thử nghiệm, thôi thì để nhà thơ nghĩ luôn tất cả, tiếp đó, đánh động, nội dung đề cập thường khơi dậy con người tính giác ngộ về tính ác sẵn có (phù hợp với những người nghi hoặc) hay là trân quý con người (phù hợp với những con người yêu đời, trẻ trung, bước qua tan vỡ). Kaur tự rước vào mình thiên chức người mang tiếng nói chung, đó là những tiếng nói ai cũng biết, một bó rau muống mà ai cũng có thể tậu được trong chặng đường sống, nhưng cô ta thổi vào đó hình ảnh, đem nó qua Mỹ, đặt cái tên thật mĩ miều, “morning glory”, trang hoàng bao bì và lấy lời gấp ba gấp bốn từ nó. Trong khi, “Tiết kiệm” của Merwin, chỉ nói về những cảm xúc cá nhân, không hề toàn thể, rất bất chợt mà có thể sẽ không thường trực hiện diện trong chính con người của tác giả nữa. Vậy thì, độc giả phải tự đi tìm đó là gì, nó tốn quá nhiều thời gian, để tìm hiểu “bảy năm buồn bã” đó là gì, và hình ảnh cái gương vỡ biểu đạt cho điều gì. Và người ta hiện đại không đủ thời gian và tâm huyết để đi tìm hiểu sự buồn bã của một người, thay vào đó, người ta sẽ đi tìm tính nhân bản hiện diện cạn hẹp trong thơ Kaur.

Nói về những tính cá nhân trong thơ của Kaur, không phải là không có. Đại loại là:

tôi là nước

mềm mại đủ

để cung hiến cho đời

mạnh mẽ đủ

để cuốn phăng chúng đi.

Câu thơ đầu tiên rõ ràng là một câu tự sự, và rõ ràng bài thơ là cách tự nhận mình là nước của cô. Và bắt đầu giải thích sự toàn diện của lời tự sự vô thưởng vô phạt ấy, đó là một kiểu viết cổ điển, mang tính kêu gọi và toàn thể. Ai cũng có những cảm xúc tương tự đó, vì nó quá hoàn hảo, những cách giải thích hoàn toàn thuyết phục, tự đưa mình ra thành thánh nữ và lôi kéo người đọc thành tông đồ của tín ngưỡng của mình.

2. Không quên những dài dòng ngắn gọn:

Những câu thơ ngắn không phải bao giờ cũng là đặc điểm của Kaur, để có chỗ cho những phép ẩn dụ đầy sâu sắc (có lẽ) và để cảm xúc trôi thành cuộn, cô cũng có cho mình những bài thơ dài dòng, nhưng cũng lại chỉ vừa đủ trong một khung hình trắng trơn đó.

mẹ bạn

có thói quen là

cho bạn nhiều tình thương

quá mức bạn có thể giữ

ba bạn đã vắng mặt

bạn là một trận chiến

giữa biên cương hai nước

những phá huỷ song song

những nghịch lý gắn nối hai nước

nhưng cũng chia rẽ tàn khốc chúng

Đề cập đến chủ đề gia đình, với sự bất hạnh của tuổi thơ, lối kể nhưng lại đánh tới người đọc, xưng “your” (ngôi hai), bài thơ không thể không gây xúc động đặc biệt. Đoạn đầu mềm mại, dịu dàng, dập dìu, nữ tính, sau câu ngăn cách thì lập tức chuyển sang cơ học với vô số từ chuyên ngành lý tính (colleteral, paradox). Bài thơ tập trung được nhiều cung bậc, đủ sự ẩn dụ và hình ảnh thì quá sức gợi cảm, chỉ cần người đọc ở mức trung bình thấp cũng có thể hiểu nổi và gật gù (I’m a war), chính vì sự khó hiểu đơn giản ấy, cô thu hút độc giả tiếp tục trong một trò chơi giải mã từ ngữ mà cô bịa ra, trò chơi rất cam go, nhưng đơn giản.

cô gái da nâu xinh xắn

mái tóc dày của cô như dòng sữa dê không lọ nào chứa hết

cô gái da nâu xinh xắn

da cô khôn kham chứa nhiều mặt trời nhất có thể

tôi biết cô ghét làm da mình đen thêm

nhưng cô như nam châm hút tất cả ánh sáng

chứa nó nhiều nhất có thể

cô như nam châm hút tất cả ánh sáng

đôi lông mày giao nhau – xây cầu nối liền hai thế giới

âm đạo – nơi tăm tối sâu thẳm nhất cơ thể

đang cố giấu những quặng vàng

cô sẽ có những quầng thâm thật sớm

ưa thích những quầng sáng

cô gái da nâu xinh xắn

cô kéo chúa ra bụng họ

Bỏ qua những phép tu từ và từ ngữ lạng xạng khó hiểu, bài thơ là bức tranh ca ngợi vẻ đẹp người phụ nữ, từ những thứ mà họ cố phô ra cho người đời thấy cho đến nơi sâu thẳm nhất, bằng những hình ảnh thơ đẹp, lạ, hoán dụ chuyển đổi cảm giác nhiều, và sau đó là đối tượng hướng tới, “cô gái da nâu”.

3. Tình yêu và tính nữ trong xã hội shared pop-culture

Khó mà một nhà thơ trẻ nào, dẫu có tư duy lỗi lạc như Kaur lại có thể làm lơ chủ đề tình yêu như một mảnh đất màu mỡ để cày xới vun trồng. Tình yêu của Kaur cũng mang tính nữ như bao ai, tan vỡ, tổn thưởng và cứu rỗi, cô đơn. Và một trong số đó, có hàng loạt bài có thể đủ thời gian để trích dẫn ra đây như sau:

sự trớ trêu của cô đơn

ta đều cảm nhận được

cùng nhau

Hay:

yêu

với nỗi cô đơn

của bạn

Và:

tôi muốn tuần trăng mật một mình

Thay vì những đau khổ đầy cảm tính của những chị gái xuân sắc dậy dà thì Kaur nói về tình yêu với những kiểu cảm xúc lấy lý tính và tricky. Bài thơ trích dẫn ban đầu ngay lần đầu đọc đã cho người ta thấy sự thú vị trong cách triển khai ý nghĩa của một tình yêu đang dần nhạt nhoà nhưng cả hai không ai muốn buông tay trước. Đó là loneliness, nhưng togetherat the same time. Đối chọi từ ngữ, đầy thông minh. Bài thứ hai cũng vậy, nói về sự cô đơn sau tình yêu nhưng lại đề cập đến tình yêu, tình yêu với nỗi cô đơn. Điều này thể hiện tính biểu hiện của trong thơ của cô, cô muốn cho người ta thấy sự thông minh trong cách dùng từ của cô, thu kéo độc giả để soi chiếu những đối chọi từ ngữ chứ không phải những cảm giác văn chương và trải nghiệm.

Ca thứ ba là một sự thú vị nữa, độc nhất một dòng, dòng mà Lana Del Rey sẽ viết trong những bài hát rất femalist, với chất giọng lãng mạn du dạt như một kẻ tự tình tổn thương. Nhưng ở đây, Kaur không thể có âm nhạc, cô ta dùng hình vẽ, đặt bên cạnh một câu thơ độc nhất có vẻ đớn đau và đầy yếu ớt là người phụ nữ đang thủ dâm với vẻ tự mãn. Lập tức biến chuyển câu thơ thành một cách nghĩ khác, đầy nữ quyền, không còn ướt át mà đầy sức mạnh, sức mạnh của “lòng tự yêu bản thân”, theo một bình luận trên bài đăng mà tôi thấy. Điều này chứng tỏ những bức line-art bên cạnh, cũng đầy súc tích và siêu thực góp phần bổ trợ cảm giác cho chúng ta rất nhiều, sự kết hợp siêu văn bản (hypertext) hài hoà, độc đáo và có tác dụng là công cụ hữu hiệu giúp cô định hình, quy chuẩn suy nghĩ của người đọc. Và người ta sẵn sàng đắm chiều trong đó.

Kết thúc thập niên với Kaur, tôi mong ít nhất nó cho chúng ta cái nhìn trực diện nhất về cái cách mà chúng ta đọc đã thay đổi bộ mặt thơ. Phương tiện truyền thông và nếp sống nhanh, vội, nhưng vẫn muốn hiểu hết các giá trị sâu sắc làm Kaur và sự thông minh của cô (cả gương mặt, hình thể, theo Rumaan Alan) có đất để diễn giải và chiếm sóng. Cô không cần quá nhiều trải nghiệm về cách mạng Ireland như W. B Yeats, trải nghiệm cuộc sống chính trị và lối sống toàn cầu như Pablo Neruda, hay đau đớn bởi các phức cảm và bất hạnh đè nén, nhạy cảm như Sylvia Plath để viết thơ, cô chỉ cần phóng tác lại những tư tưởng giờ đây quá dễ dàng để kiếm và hiểu lại theo ngôn ngữ, hình ảnh và lối dùng từ của mình. Các tên tuổi Whitman, Frost, Dickinson,… không còn phù hợp với lối sống của đại đa số giới trẻ nữa, thay vào đó sẽ là những bài thơ độc ngôn, ngắn gọn và ít phải suy nghĩ như thế. Kaur hiểu được người đọc đương thời muốn những nghịch lý gì, muốn sự phức tạp mà đơn giản, sự sâu sắc mà dễ hiểu, sự chảy tuôn trào cảm xúc nhưng tỉnh táo và lý tính, sự cuồng si và thẳm tối nhưng vẫn tricky và trào lộng. Có thể nói sự thành công lớn nhất của cô không phải ở chỗ thơ của cô đạt tới những tầm mức cao thế nào, mà chính tư duy trong cách làm thơ, cô đã dạy cho chúng ta, những người viết trong thế hệ trẻ, nếu muốn thoát khỏi bàn tròn của những chuyên gia, xâm nhập sâu vào đời sống cộng đồng thì phải làm thế nào, đó là công thức chung nhất của văn chương những ngày sau của thập niên kế tiếp, tôi đoán.

Hết.

Gia Bin

Ảnh: rupikaur_


Đọc tất cả những bài viết của Gia Bin.


Một năm nhìn lại



2 Comments

2 Bình luận

  1. Minh

    Tháng Mười Hai 31, 2019 at 10:09 sáng

    Không thể phủ nhận một điều là rupi kaur “rất thông minh” khi đón đầu được xu hướng và “rất nhạy bén” khi biết người khác cần gì. Thơ của cô mang tính tức thời, hệt như kiểu nhanh đến rồi nhanh quên. Nói một cách hình tượng hóa, rupi kaur và các tác phẩm của mình là 1 bức vẽ 2d – như những bức phác họa chì – nó có chiều dài, chiều rộng; nhưng thiếu đi chiều kích tâm hồn ở độ sâu như thơ của Wislawa Szymborska từng gây lên một hiệu ứng mạnh cho mình. Ở một thời đại nhanh chóng như thế này, đó không hẳn là một điều gì xấu hổ; chỉ đơn thuần nó cho thấy thơ đang phát triển theo xu hướng nào. Còn với những ai (còn) muốn khai phá bản thân, xin mời về thời quá vãng. Bài viết rất hay!

  2. Bùi Gia Bin

    Tháng Mười Hai 31, 2019 at 11:18 sáng

    Thơ của Wislawa và kaur giống nhau ở điểm đề cập đến cái toàn thể, nhưng cái điểm trào lộng, phản chiến và thông thái (trong chữ thơ, không phải trong những thứ ngoài chữ thơ) là thứ mà kaur không bao giờ đạt đến nỗi trong thời đại của chúng ta, một thứ mà cần phải được mài dũa trong thời đại văn học lãng mạn chiến tranh Ba Lan mới có thể lĩnh hội được sáng suốt như thế.
    Cảm ơn bạn đã cảm nhận nhé!

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Jane Eyre: Bức họa về ý chí và nghị lực vượt lên số phận của con người

Published

on

Có đôi ba lần thế kỉ trôi qua, những đóm sao đêm đã sáng rồi lại tắt, những cuộc đời nối dài rong ruổi và miên man, bể dâu và đổi khác, tưởng rằng sẽ làm phôi phai đi tất cả những gì từng gọi là đẹp đẽ của một quá khứ huy hoàng, ấy vậy mà, Jane Eyre - một biểu tượng vững chãi của sự kiên cường và bất khuất - vẫn hiện lên thật rạng ngời và rực rỡ qua từng trang sách chứa đầy những hồi ức tự sự thật thà - bất chấp rằng thời đại đã đổi dời, bất chấp rằng thời gian đã cuồng quay. Jane Eyre, hơn cả một cuốn tiểu thuyết đã bao lần làm thổn thức trái tim độc giả, đó còn là một bức họa tuyệt đẹp về ý chí và nghị lực vươn lên số phận của con người.

Thật kì lạ là dù cuốn sách đã được nữ sĩ Charlotte Bronte viết cách đây gần hai trăm năm, ấy vậy mà, những câu chuyện, những sự kiện, những niềm vui hoặc chăng là sự đau khổ của mỗi nhân vật đều thân thuộc và tương đồng với những gì đang vận hành và xảy ra xung quanh con người thời đại này. Đó như là một tấm gương phản chiếu những mảnh đời, những số phận, những biến cố và trở ngại trong suốt hành trình làm người - của từng con người. Vậy phải chăng, con người dù ở bất kì thời điểm nào trong suốt chiều dài lịch sử - đều phải gặp và trải qua những hỉ nộ ái ố muôn thuở như những bậc tiền nhân đã từng?

“Jane Eyre”

Khi nghĩ về cái tên này, dù chỉ là cái tên trong một cuốn tiểu thuyết (hư cấu), nhưng tôi lại bỗng thấy xót xa lạ kì. Cô gái này vì sao lại bất hạnh đến như vậy? Bất hạnh như thể mọi thứ tồi tệ nhất trên đời đều đổ dồn về phía cô. Cô không có gia đình, không có người thân, cũng không có bạn bè gì cả. Những người mà cô còn có thể bám víu được suốt cả thời thơ ấu của mình lại chính là những người không hề muốn nhìn thấy sự hiện diện của cô. Chỉ vì lời hứa với người chồng đã mất, người mợ cay nghiệt đành phải cưu mang cô trong sự oán hận. Bà ghét cô. Bà khinh bỉ cô. Bà trừng phạt cô. Đến cả những đứa con của bà cũng đều khiến cho cô cảm thấy đau đớn. Chưa bao giờ cô thôi sợ hãi. Chưa bao giờ cô có quyền nói lên tiếng lòng mình, hoặc cũng thật khó để có thể chống lại tất cả bọn họ. Thứ duy nhất cô có thể làm chính là chấp nhận sống trong những thù hằn của đám người kia.

Tại sao cô không chạy đi?

Chạy? Chạy đi đâu bây giờ, khi cô chỉ là một đứa trẻ chẳng hay biết gì về cuộc đời ở bên ngoài, và có muôn vàn câu hỏi rằng thế giới xa lạ này ra sao. Cô bé đáng thương tội nghiệp ấy chỉ là một hạt cát nhỏ nhoi giữa sa mạc, chẳng tiếng nói, chẳng sức mạnh, cũng chẳng có ai để dựa vào...

Nhưng!

Jane Eyre! Cô bé nhỏ như một ngọn cỏ ven đường. Nhưng ngọn cỏ không yếu đuối bao giờ. Khi bão giông ập đến hay có ai tàn nhẫn giày xéo lên tấm thân mỏng manh ấy, ngọn cỏ vẫn sống và kiên cường vươn lên. Ngọn cỏ âm ỉ một sức mạnh phi thường - sức mạnh của nghị lực và niềm tin về sự sống của chính bản thân mình. Và Jane cũng vậy. Ai ngờ đâu đằng sau một cô gái trầm lặng ấy lại chính là một ý chí vươn lên không bao giờ ngơi nghỉ. Ý chí rằng mình sẽ được hạnh phúc. Nhất định sẽ được hạnh phúc.

“Tôi không phải là chim, không có chiếc lồng nào có thể bẫy được tôi. Tôi là một người tự do, với ý chí độc lập.”

Không chấp nhận quẩn quanh trong một giới hạn bị người ta rào cản, Jane luôn khao khát được bay đi, tìm kiếm cho mình những lí tưởng sống mới. Trên hành trình đi tìm kiếm tự do và hạnh phúc ấy, lắm khi, Jane đau khổ và thất vọng thật nhiều. Cái cay nghiệt đâu chỉ mãi quẩn quanh trong gia đình bà Reed, nó còn xuất hiện và liên tục lặp đi lặp lại mãi suốt cả quãng đời sau này của Jane: từ khi còn là nữ sinh ở trường Lowood cho đến khi về làm việc tại nhà của ông Rochester. Khi đã tưởng được yên bình rồi, thì bão giông lại bất ngờ ập đến. Khi đã tưởng kiếm tìm được hạnh phúc, thì đau khổ lại bỗng chốc lên ngôi. Cô gái bé nhỏ ấy cứ liên tục gặp phải những chuyện đau lòng. Đã từng đi qua mùa dịch bệnh, đã từng đói, từng khát, từng trở thành người vô gia cư - không thức ăn, không tài sản, từng hi vọng và bị cướp mất đi hi vọng, từng hạnh phúc vô bờ rồi bỗng rơi xuống đáy của nỗi đau... Những điều ấy, những tưởng sẽ quật ngã và giết chết Jane Eyre. Nhưng lạ thường thay, càng khó khăn, Jane lại càng vươn lên mạnh mẽ. Jane không bao giờ cam chịu hay chấp nhận những uất ức cuộc đời. Jane học được nhiều điều từ chính những khó khăn ấy. Jane phản kháng quyết liệt với những bất công mà cuộc đời đem lại. Tại sao chứ? Sao lại cúi đầu để nghiệt ngã lên ngôi, trong khi chính mình phải trở nên hiên ngang mới đúng?

“Nếu người ta lúc nào cũng tử tế và vâng lời những kẻ độc ác bất công, thì chỉ tổ làm cho kẻ ác tha hồ được thể, chúng sẽ chẳng bao giờ e dè gì cả, và như vậy thì bao giờ mà chúng tay đổi được; trái lại, chúng sẽ ngày càng trở nên quá quắt.”

“Khi nào bị đánh đòn một cách vô lý, ta cần phải chống cự lại, thật táo bạo vào. Tôi cam đoan phải làm như thế, chống cự mạnh đến mức làm cho kẻ đánh đập chúng ta phải kệch hẳn.”

“Tôi phải kháng cự lại những kẻ phạt tôi một cách bất công. Điều đó cũng tự nhiên như tôi yêu một người nào tỏ ra yêu mến tôi, và phải chịu trừng phạt khi tôi thấy là đáng phạt.”

Vì đâu mà Jane lại có thể thốt ra những lý lẽ như vậy? Phải chăng là do đã bị chà đạp quá nhiều và dìm sâu xuống tận cùng sự khổ, cô ấy mới phải tự mình đứng dậy để tìm một lối thoát cho chính mình, và chống cự lại những kẻ đã luôn đay nghiến cô? Tức nước thì vỡ bờ. Cũng giống như câu chuyện của bao kẻ khốn cùng khác, khi không còn sự lựa chọn nào cho cuộc đời đau khổ của mình, họ đành chọn mạnh mẽ!

Jane mạnh mẽ để vượt qua sóng gió, nhưng sự mạnh mẽ đó không hề biến Jane trở thành một con người vô cảm và lạnh lùng. Jane vẫn là Jane, với trái tim nồng ấm yêu thương, biết cảm thông và chia sẻ, biết thấu hiểu và quên hết hận thù.

Giống như Jane từng nghĩ rằng mình sẽ căm ghét và thù hằn bà Reed đến cuối cuộc đời - sau những điều tồi tệ bà từng làm với mình, thế nhưng, khi gặp lại bà sau nhiều năm xa cách, Jane đã chẳng còn hận thù gì thêm nữa. Jane hiểu rằng quá khứ đã mãi mãi nằm lại ở phía sau, và hiện tại, những ân oán này đã không còn ý nghĩa gì hết. Jane bỗng muốn gọi bà Reed bằng tiếng gọi thân thương, “Mợ!”, để rồi sau đó, hận thù sẽ nhường chỗ cho yêu thương.

“Mợ Reed thân mến, mợ đừng nghĩ đến những chuyện cũ ấy làm gì nữa, xin mợ hãy quên đi...”

“Mợ ơi, giá mợ có thể quên những điều đó đi, và nhìn cháu với một lòng khoan dung thương mến...”

“Hồi còn bé, nhiều lần cháu rất muốn được yêu quý mợ nếu mợ cho phép. Và bây giờ cháu hết sức mong mỏi được làm lành với mợ, mợ ơi, mợ hôn cháu đi.”

Với Jane, yêu thương là một điều thiêng liêng mà cô đã dành cả tuổi trẻ của mình để tìm kiếm. Vậy nên, khi có được những yêu thương ấy từ người đàn ông mà cô có tình cảm, cô luôn biết ơn và trân trọng. Tuy vậy, Jane không bao giờ cho phép bản thân mình sở hữu thứ yêu thương “dễ dãi” và “tầm thường”, nếu hạnh phúc mà cô có được là điều không xứng đáng. Cô nào chấp nhận mình trở thành một người phụ nữ “rẻ tiền” khi kết hôn cùng một người đã có vợ, cùng làm chuyện bất hợp pháp và khinh thường đạo lí như vậy.

“Tôi càng cô độc, càng không bè bạn, càng không nơi nương tựa, thì tôi lại càng tự trọng.”

“Luật pháp và những nguyên tắc đạo đức đâu phải đặt ra cho lúc bình thường không có sự cám dỗ, mà là cho những lúc như thế này, khi thể xác và linh hồn nổi lên chống lại sự khe khắt của chúng. Chúng khe khắt, chúng sẽ không bị vi phạm. Nhưng vì thuận tiện cho mình mà tôi phá bỏ chúng thì chẳng hóa chúng không có giá trị gì ư?”

Thật xót xa ngay phút giây trong lễ đường, Jane đã phơi phới niềm tin về một hạnh phúc căng tràn trong lồng ngực, để rồi bỗng chốc, sự thật ập đến tai, hạnh phúc vỡ tan tành như bọt sóng giữa đại dương... Chính khoảnh khắc Jane Eyre quyết định rời đi khỏi căn biệt thự Thornfield sau khi biết người mình yêu thương đã có vợ, cũng là khi độc giả tìm thấy được hình ảnh của một con người can đảm, dũng cảm, và độc lập - dẫu đằng sau đó là những giọt nước mắt ê chề và đau khổ tận tâm can. Nhưng vì đã dũng cảm yêu thương, thì khi yêu thương không còn ý nghĩa nữa, chúng ta phải dũng cảm để từ bỏ mà thôi...

“Trên đời chưa ai có thể mong ước được yêu như tôi đã được yêu, và tôi tuyệt đối phụng thờ con người đã yêu tôi như vậy, ấy thế mà tôi phải từ bỏ tình yêu với thần tượng đó. Bổn phận khốc liệt của tôi nằm gọn trọng một chữ buồn rầu: Đi!”

“Vĩnh biệt”, đó là tiếng kêu của trái tim tôi lúc tôi rời ông. Sự tuyệt vọng nói: “Đời đời vĩnh biệt.”

Nhưng sẽ chẳng có đau khổ nào là mãi mãi, khi mà sau tất cả, cuối cùng thì hạnh phúc cũng đã đến bên Jane. Đó không phải là một điều may mắn. Đó là điều tất nhiên - phần thưởng dành cho những ai biết cố gắng, biết nỗ lực và vươn lên số phận. Biết sống không hoang phí - dẫu cuộc đời đầy rẫy nỗi trầm luân. Rồi khi giọt nắng đậu bên thềm, khi cơn bão qua đi và trời xanh trở lại, cũng là lúc hạnh phúc chạm đến. Sẽ có ai đó ở cạnh bên và lắng nghe những câu chuyện của Jane, sẽ lau khô giọt nước mắt đã bao lần cô từng khóc, sẽ an ủi và yêu thương cô. Sẽ đền đáp cho cô sau năm tháng khổ cực. Cuối cùng, và nhất định, hạnh phúc đã ghé qua!

Jane Eyre chính là tấm gương phản phất hình ảnh của một cô gái bé nhỏ với một nghị lực sống phi thường giữa muôn vàn trắc trở của cuộc đời. Dẫu bị xã hội đương thời ruồng rẫy hay ghét bỏ, thế nào, Jane vẫn kiên cường và bất khuất như một ngọn cỏ dại hiên ngang trước bão. Đọc Jane Eyre để tìm thấy những phẩm chất cao cả của một con người, để tự soi lại bản thân mình trong suốt hành trình sống, và để thấy, xen lẫn những chất liệu thi ca lãng mạn hay khắc tạc hiện thực khắc nghiệt, thì tình yêu vẫn đẹp biết bao: tình yêu nhân loại, và tình yêu giữa người với người...

Thật khó để có thể kể hết những điều thật sự có ý nghĩa với tôi trong cuốn sách này, bởi qua từng giai đoạn, từng chi tiết khác nhau, thì tôi lại cảm nhận được những giá trị riêng biệt cho riêng mình. Tôi học được từ Jane một ý chí mạnh mẽ vô cùng. Đã có lúc tôi nghĩ, nếu tôi là Jane, liệu rằng tôi có thể mạnh mẽ được như cô ấy, liệu rằng tôi có dám đương đầu vươn lên giông bão, liệu rằng tôi có vượt qua được cám dỗ để theo đuổi một niềm hạnh phúc thật sự của riêng mình. Tôi không biết tôi sẽ thế nào. Nhưng tôi biết, thứ tôi đang suy nghĩ là gì...

“Bạn đọc thân mến, cầu cho bạn đừng bao giờ cảm nghĩ như tôi lúc ấy! Cầu cho mắt bạn đừng bao giờ phải nhỏ những giọt lệ nóng hổi, tràn trề, xé ruột xé gan như tôi. Cầu cho bạn đừng bao giờ phải cầu xin Chúa một cách tuyệt vọng và đay khổ như tôi đã cầu xin trong giờ phút ấy, Cầu cho bạn đừng bao giờ lo sợ như tôi, phải trở thành nguồn đau khổ cho người mà mình yêu với tất cả tâm hồn.”

Jane Eyre!

Hết.

Lâm Lâm

*

Đọc tất cả bài viết của Lâm Lâm

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Louise Glück là ai mà đạt giải Nobel Văn chương 2020?

Cùng ba bài thơ trong tập “The Wild Iris” (1992)

Published

on

Louise Glück (1943) là một nhà thơ hiện đại Mỹ. Bà sinh ở New York và trải qua thời tấm bé ở Long Island. Bà là tác giả của nhiều tập thơ mang dáng dấp tự bạch, song, thơ của bà thường vượt ra ngoài những kiến trúc và sự bày trí hình thể để nói về những trải nghiệm cá nhân thật sự sâu sắc và cá biệt. Bởi vì thường đi tìm hiểu về những mất mát, tổn thương trong những câu chuyện gia đình, thần thoại (đặc biệt là hình ảnh của Odysseus và Penelope) mà thơ của bà thường được coi như là ảm đạm. Bon Bogen trên tờ Nation gọi “những mối quan tâm căn bản” của thơ bà là “bội phản, đạo đức, tình yêu và cảm giác cùng đồng hành. Một nhà thơ của thế giới tan vỡ.” Thế nhưng, ẩn sau trong những cảm xúc vượt ra ngoài biên giới, là một thế giới vật chất muôn màu, nhiều tác động, khiến cho ta cảm giác dễ chịu khi có cơ hội được bước qua cánh cửa hiện tại thậm phồn, trả đúng con người về đúng nỗi hỗn loạn tươi đẹp của Cioran từng mơ ước. Đó là những tập thơ The Triumph of Achilles (1985), The Wild Iris (1992), Meadowlands (1996) gần đây là Faithful and Virtuous Night (2014).

Mấy ngày trước, chúng ta lại được xem màn cua gắt của Viện và tất cả mọi suy đoán trôi đi như nước lụt. Tôi cũng thế. Tôi cứ nghĩ nếu gạt đi hết Ngũgĩ wa Thiong’o, Milan Kundera (vì vừa mới được giải Kafka tháng trước, tưởng một Handke thứ hai) hay đặc biệt “nặng ký” Haruki Murakami năm nào cũng toả khắp văn đàn để chửi cho bớt tức, thì tôi không bao giờ nghĩ Mỹ lại nhận lại một Nobel kể từ Toni (không tính Bob). Tôi luôn xem xét Mỹ đã là một địa hạt mà văn xuôi đã úa tàn từ lúc Toni Morrison mất, Stephen King được coi là bậc thầy,... (còn thơ thì tôi quan tâm đến Anne Carson, thế nhưng bà lại sinh ra ở Canada). Tôi bị cuốn vào dòng tranh luận và các bàn tròn rằng năm nay Viện sẽ cua bằng cách trở lại châu Âu, hoặc qua tận châu Phi để chọn Antjie Krog hay táo bạo hơn là tha cho Milan Kundera khoảng ngày đợi chờ ở tuổi 91. Thế mà, tôi lại nhận được kết quả từ fanpage của một một nhà xuất bản. Louise Glück đối với tôi cũng như hầu hết tất cả những ai khác, tôi chỉ nhớ từng đọc được vài bài thơ trên A Star Is Fading của Nguyễn Huy Hoàng và không có ấn tượng lắm. Thế nhưng, bằng một cách nào đó, với cái lý do mà Viện đưa ra năm nào cũng thật là huy hoàng: “cho một giọng thơ không thể nhầm lẫn trong việc đưa cái đẹp của sự khổ hạnh và tồn tại cá nhân ra thành cái toàn thế.” Quả thật, sức mạnh của Nobel đủ làm ta phải choáng mình, phải lụi bụi tìm xem liệu “cái đẹp”, “sự khổ hạnh” và “tồn tại cá nhân” đó thực sự là gì mà ghê gớm đến thế, mà đủ sức đánh bật soái ca Haruki mà ta thầm ngưỡng mộ dù giờ mua “Người tivi” hay “Ngày đẹp trời để xem kangoroo” cũng chẳng phải là điều mà fan-gơn fan-boy, fan-PhD, fan-only-for-Rừng Na-uy,... làm nổi.

Chi bằng ta tự mình chiêm nghiệm các bài thơ được tôi dịch tỉ mỉ dưới đây, cả ba bài đều năm trong tập thơ The Wild Iris, được xuất bản năm 1992 và ngay lập tức được truy tặng giải Pulitzer cho Thơ Ca vào năm sau. Những bài thơ tôi dịch chắc chắn sẽ không đảm bảo được những điều mà một bài thơ nguyên bản yêu cầu, song, dễ đọc, và gần với cách chúng ta tiếp cận hơn. Dù thế, bạn có thể dễ dàng tìm thấy các bản gốc (tiếng Anh, ơn trời!) trên poemhunter.com hoặc pinterest.com.

HẠNH PHÚC

Một người đàn ông và một người phụ nữ nằm trên chiếc giường màu trắng
Lúc đó tinh mơ. Tôi nghĩ là
Họ sẽ thức dậy sớm thôi.
Trên bàn đêm cạnh giường là một lọ hoa
cắm những bông hoa lưu ly; ánh mặt trời
đục lỗ trong cổ họng.
Tôi nhìn chàng quay về phía nàng
như thể để gọi tên nàng
nhưng khẽ khàng, sâu trong họng nàng—
Trên gờ cửa sổ,
một lần, hai lần,
một con chim gọi.
Và sau đó nàng trở người; thân thể nàng
ngập trong hơi thở của chàng.

Tôi mở mắt ra; cậu đang nhìn tôi.
Gần như khắp phòng
ánh sáng mặt trời trượt đi.
Nhìn vào mặt cậu, cậu nói
nâng gương mặt cậu lại gần tôi
để làm thành một tấm gương.
Cậu mới bình tĩnh làm sao. Và bánh xe cháy trong lửa
lướt nhẹ nhàng qua chúng mình.

*

KHÚC RU

Mẹ tôi giỏi nhất một chuyện:
đem những người bà thương qua một thế giới khác.
Những thứ bé bỏng, những đứa bé—chúng nó
nàng ru, thầm thì và khẽ hát. Tôi không thể nói được
bà đã làm những gì cho bố;
dù gì đi chăng nữa, tôi đồ rằng nó là điều phải.

Cũng giống như thế, thật đấy, gói ghém một người
cho giấc ngủ, cho cái chết. Những khúc ru—họ đều nói
đừng có sợ, đó là cách họ quẩn quanh về
nhịp đập trái tim của người mẹ.
Thế nên sự sống nảy ra bình tĩnh yên ắng; điều đó chỉ
những người sắp chết, những người không thể, những người chối từ.

Sắp chết giống như những đỉnh cao, như con quay hồi chuyển—
chúng quay thật nhanh chúng trông vẫn đứng yên.
Xong thì cất cánh bay đi: trong vòng tay mẹ tôi,
chị tôi là một đám mây nguyên tử, của những hạt—đó là sự khác biệt.
Khi một đứa bé say ngủ, nó vẫn tròn vẹn.

Mẹ tôi trông như cái chết; bà không nói về sự thánh thoát của linh hồn.
Bà ôm trên mình một đứa bé mới sinh, một lão già, như thể sự chênh lệch của màn đêm hoá đặc xung quanh họ, cuối cùng cũng thay đổi thế giới.

Linh hồn cũng như tất cả vật thể:
thế tại sao nó lại mãi không bị dấy đến, chung thuỷ mãi với hình bóng của nó,
trong khi có thể tự do?

*

QUYẾT ĐỊNH CỦA ODYSSEUS

Người đàn ông vĩ đại quay lưng mình về phía đảo.
Giờ thì chàng sẽ không chết ở thiên đàng
cũng không nghe lại
những tiếng đàn luýt trên thiên đàng len giữa những cây ô-liu,
cạnh những cái hồ trong vắt dưới những cây bách. Thời gian
bắt đầu từ bây giờ, nơi chàng được nghe lại
nhịp đập đó là biển cả được
nghe kể lại, vào buổi bình minh lúc lực hút của nó là mạnh nhất.
Thứ gì đem chúng ta đến đây
sẽ dẫn chúng ta rời đi; con thuyền của chúng ta
chòng chành trên vùng nước cảnh những sắc màu kẻ sọc.
Giờ giờ nghỉ chân đã hết.
Trả chàng lại với cuộc sống của chàng,
biển chỉ có thể tiến về phía trước.

Hết.

S

*

Chuyện Nobel Văn chương



Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Bước tới thảnh thơi: Tự do khởi nguồn trong khuôn khổ là tự do vững chãi

Published

on

By

Phải đọc Bước tới thảnh thơi, hay phải đi xuyên suốt các tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong cái tâm không chướng ngại, có như vậy mới đủ kiên nhẫn để cảm nhận từng ý nghĩa, từng lợi ích sâu xa từ một cuốn sách có vẻ dành cho người xuất sĩ (xuất gia), hơn là hướng về đại chúng.

Tạo năng lượng trong những điều thường ngày

Người đi tu tạo ra năng lượng thông qua các sinh hoạt thường nhật. Bước tới thảnh thơi có ba nội dung chính nhằm miêu tả cuộc sống thường ngày nên có của một vị xuất sĩ.

Đầu tiên là Thi kệ

Đánh răng
Đánh răng và súc miệng
Cho sạch nghiệp nói năng
Miệng thơm lời chánh ngữ
Hoa nở tự vườn tâm

Đầu tiên là Thi kệ, công cụ giúp khởi tâm đúng đắn trước khi sinh hoạt, để duy trì chánh niệm được lâu hơn.

Chánh niệm là khả năng tập trung vào một hành động đang diễn ra, mà không suy nghĩ vẩn vơ bên này, bên kia. Giỏi hơn thì người duy trì chánh niệm nên có khả năng quán niệm về hành động mình đang làm, để có thể hoàn thành nó một cách đúng đắn và tạo tác được niềm vui trong quá trình sinh hoạt.

Đơn cử như việc đánh răng, mục đích là để làm sạch bộ hàm và giúp khởi động một ngày mới tỉnh táo, thì nên đánh sao cho kĩ, cho nhẹ nhàng, cho ân cần; dành hết sự trân quý cho bộ hàm đã giúp mình nhai nhỏ thức ăn mỗi ngày, giúp mình cười duyên, cho cái lưỡi đã giúp mình nói những lời ái ngữ; thay vì suy nghĩ lan man như sau khi đánh răng thì nên ăn gì, hoặc sáng nay có cuộc họp nào không.

Hãy dành hết tâm trí để thực hiện những sinh hoạt này như lúc bản thân dành hết tâm trí khi ở bên người mình thương vậy. Bởi nếu thực sự tập trung và hiểu được ý nghĩa việc mình cần làm, thì làm sao nghĩ đến việc khác được.

Đó gọi là chánh niệm. Năng lượng an lạc khởi nguồn từ đây.

Có gần 100 bài thi kệ trong Bước tới thảnh thơi, bổ trợ cho người xuất sĩ khởi niệm về một sinh hoạt thường ngày một cách đúng đắn.

Thứ hai là Mười giới mà một vị Sa di (xuất sĩ) bắt buộc phải giữ gìn. 

Hãy xem về giới thứ tư: Thực tập chánh ngữ và lắng nghe

Vì lời nói thiếu chánh niệm sẽ gây khổ đau cho nhiều người, gây đổ vỡ, gây chia rẽ, gây căm thù, bạo động nên nguyện không nói dối, không phê bình, lên án, cũng không kể ra lỗi lầm của ai. Người xuất gia sẽ nguyện thực tập lắng nghe với tâm từ bi, tôi hiện diện ở đây là vì bạn, chỉ để mang đi những buồn phiền, trăn trở đang tồn tại trong lời người nói.

Giúp người khác thức tỉnh là một quá trình của duyên hội tụ, nên lời nói thẳng thắn, xát muối thường chỉ để lại nhiều day dứt mà không có tác dụng chữa lành ngay tức khắc.

Khi nói về đạo Phật thực hành, ta sẽ nói về sự hiểu biết đi kèm với sự thực tập bằng tâm từ bi. Khi phát nguyện giữ giới, người xuất sĩ từ đầu đã quán triệt triết lý duyên sinh duyên khởi và nguyện giữ giới để thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn đó hoặc không vẽ cái vòng đó cho người khác. Hiểu về nguồn gốc của khổ đau nên nguyện không sinh ra khổ đau cho chúng sanh. Công dụng của đạo Phật thực hành nằm ở đây.

Cho nên người ta mới thấy tự do mà chịu đưa mình vào khuôn khổ.

Tu tập cao hơn thì có thể thực tập chỉ trì. Nghĩa là khi sắp phạm giới đến nơi rồi, thì biết dừng lại và tiếp tục hành trì. Khả năng ý thức tập khí bên trong trỗi dậy và chuẩn bị tác động vào lời nói của mình, sau đó bình tĩnh dừng lại và duy trì việc lắng nghe người kia là một kiểu tay nghề điêu luyện của người chọn giữ giới. Phải kiên tâm tập hành thiền, tập giữ chánh niệm một thời gian dài.

Thứ ba là Bốn mươi mốt thiên uy nghi dành cho vị xuất sĩ thọ giới Sa di.

Nếu ngồi ăn một quả quýt trong chánh niệm, thì đâu là sự khác biệt giữa người có tu học và người chưa tu học? Vì đâu đó trong số đại chúng, vẫn có nhiều người ăn quýt chỉ để ăn quýt mà thôi, tận hưởng, không suy nghĩ đến việc khác, cũng không cần học về đạo mới biết cách ăn như vậy. 

Tuy nhiên, giữa người ngồi ăn quýt trong tư thế lịch sự, vững chãi, khoan thai và người ngồi gác một chân lên ghế, thì dễ phân biệt rồi đúng không?

Thiên uy nghi là vẻ đẹp của chánh niệm, biểu hiện trong tư thế, động tác, ngôn từ, và cách xử sự. Người thực tập thiên uy nghi sẽ tạo tác thêm nhiều kiên cố và ung dung trong từng động tác chánh niệm. Bốn mươi mốt thiên uy nghi này không phải thứ bạn có thể “nuốt ngay” như kiểu mì ăn liền. Đây là kiểu công thức, tuyệt chiêu dành cho những lúc cần đến, thì giở ra mà học.

Thiên uy nghi thứ bốn mươi: Làm mới

Trong tiến trình của một mối quan hệ, hay là của vạn vật, sẽ có giai đoạn đóng băng trước khi thoái trào. Làm mới là một sự chủ động, khi người xuất sĩ nhận ra giữa mình và một vị sư muội/sư huynh kia đang có sự “lăn tăn” dẫn đến khó mà cùng nhau tu học.

Vậy mới nói rằng đời sống tu sĩ đóng khuôn trong giới luật và uy nghi, xa rời thú vui tiêu khiển, đâu có nghĩa là buồn chán và lạc hậu. Uy nghi thứ bốn mươi chỉ rằng, khi biết người bạn đồng tu của mình có chút giận hờn, hiểu lầm, hoặc làm sai quấy, thì người xuất sĩ nên tìm cách giãi bày ngay với người bạn này, trong vòng bảy ngày nếu sự việc vẫn chưa êm xuôi, cần thông báo đến tăng thân trong tu viện để có biện pháp kịp thời.

Vậy giãi bày như thế nào cho khéo léo? Giãi bày như thế nào để không tạo thêm sân si, đổ vỡ?

Người tu học sẽ dùng sự hiểu biết và phân tích sâu của mình để khởi tâm chân thành và từ bi để làm theo 3 bước như sau: Công nhận, khen ngợi người bạn kia - Tự kiểm điểm những thiếu sót của chính mình - Nói ra những khổ tâm mà mình đang chịu đựng. Rồi kết luận bằng cách đề nghị hoặc nhờ vả người kia tiếp tục tu tập có hợp tác cùng nhau.

Đời sống thế tục cần bạn tranh thủ nghỉ ngơi mỗi khi được ở một mình, tái tạo lại năng lượng đã tiêu hao cho những thời giờ giao tiếp với xã hội. Còn đời sống tu học sẽ dạy bạn cách phát triển và nuôi dưỡng năng lượng tâm linh trong từng thời khắc của cuộc sống; cách bảo toàn sự an lạc khi gặp phải những bực dọc, giận hờn, lo toan, si mê trong công việc và các mối quan hệ.

Có phải đại đa số chúng ta đều tìm được công việc mình yêu thích, để có thể sống trọn từng ngày? Hay đại đa số chúng ta, đều có thể tránh né được những điều kém may mắn, phật lòng? 

Người viết nghĩ lợi ích của Bước tới thảnh thơi chính là ở đây. “Cầm tay” chỉ ngay phương pháp tu tâm dưỡng tính mà bạn có thể áp dụng tại nhà. Và vì sao cuốn sách này nên được gọi là sách gối đầu giường của tất cả mọi người.

Lời khuyến khích dành cho người tu học

Người ta hay nói rằng

Nhất niên Phật hiện tiền
Nhị niên Phật ngoài hiên
Tam niên Phật thăng thiên

Ý chỉ việc học lúc nào bắt đầu cũng thật nhiều thôi thúc, nhiều sáng suốt nhưng về sau thì động lực càng vơi dần, kiến thức nhiều không biết vận dụng, tổng hợp cũng dẫn đến ngu muội. Lúc này nên quay về quán chiếu lại những hạt giống ban đầu, để soi rọi lại lý tưởng ban sơ, để xem đường mình đi đang là chính đạo hay rẽ lối nào rồi. Những lời khuyến khích của người đi trước là lời nhắc nhở về những cái cơ bản như vậy.

Trong số những vị xuất sĩ thọ giới Sa di, giới Tỳ kheo,... có bao nhiêu vị bị mắc kẹt trong cấp bậc, chức danh, địa vị, tuổi đạo? Có bao nhiêu vị giữ được tâm vô ngã khi đối tiếp bạn đồng tu và đại chúng? Kiến thức không phải là tuệ giác. Kiến thức không phải sự nghiệp của tu học.

Nếu bạn là một xuất sĩ, bạn sẽ đem lại hạnh phúc cho rất nhiều chúng sanh. Vô số chúng sanh được giải thoát sẽ là mục tiêu của bạn. Nếu bạn là cư sĩ (người tu tại gia), bạn sẽ là người con, người vợ, người chồng, cha, mẹ hoặc bất kỳ vai trò nào đem lại hòa khí và an lành cho gia đình bạn; tất cả bằng sự hiểu biết, tâm từ bi, khả năng lắng nghe và rất nhiều công phu tu tập khác. Tu dưỡng thân tâm cũng là tu dưỡng nguồn năng lượng yêu thương cho những người xung quanh.

Sơ tâm là tâm buổi ban đầu, là một trái tim tốt lành nguyên vẹn, và còn nóng hổi. Vạn vật rồi sẽ thay đổi, nhưng năng lượng chân thành của sơ tâm sẽ lắng đọng hoài trong từng khoảnh khắc yêu thương của cuộc sống. Nhiều vết thương xung đột được chữa lành nhờ sơ tâm, nhiều sai trái được uốn nắn trở lại cũng nhờ sơ tâm. Và đôi khi ta bám víu vào những điều dĩ vãng cũng vì sơ tâm lúc ấy quá mạnh mẽ, quá trong sáng. Trong đạo Phật, sơ tâm còn được gọi là tâm Bồ đề do người tu học phát nguyện gieo trồng và vun tưới tâm yêu thương dành cho mọi loài. Đây được xem là suối nguồn năng lượng, không bao giờ cạn kiệt. Và vì vậy cần phải được người tu học ra sức giữ gìn, chăm nom. Giữ gìn sao cho suối nguồn cứ chảy hoài, phải chảy mạnh hoài để cuốn trôi những tiêu cực, buồn phiền trong đời sống gây ra. Giữ gìn sao cho đầu nguồn không bị ô nhiễm, không vẩn đục để đời sống trong tăng đoàn nhờ mình mà được trong sạch.

Còn rất nhiều lời khuyến học khác mà người viết muốn người cầm sách có thể đọc chậm rãi, đọc mỗi ngày một chút, một ít, rồi ngẫm nghĩ để có thể soi ra cái sơ tâm mà Sư Ông - Thiền sư Thích Nhất Hạnh - người thầy của Tỉnh thức và Yêu thương dành cho đại chúng.

Bước tới thảnh thơi còn một số nội dung khác cũng rất hữu ích dành cho bạn nếu muốn tìm hiểu đầy đủ về đời sống người xuất sĩ, và xem thử mình có thể áp dụng tại nhà cái gì không.

Bài viết dành cho những ai đã cầm cuốn sách trên tay nhưng cảm thấy ngột ngạt hoặc khó hiểu vì những lớp từ ngữ của giới tu học, và cho những ai có ý định tìm hiểu nghiêm túc về dòng tu Tiếp Hiện của các chư tăng Làng Mai. Hy vọng mọi người sẽ thấy dễ dàng tiếp cận Bước tới thảnh thơi hơn, và chắt lọc nhiều điều bổ ích để ứng dụng ngay tại giây phút này.

Hết.

Anh Đào

*

Tắm mình trên dòng sông tuệ giác



*

Đối với các đệ tử của Thầy, cũng như những người yêu kính Thiền sư Nhất Hạnh, ngày 11 tháng 10 hằng năm không chỉ là ngày sinh nhật của Thầy mà còn được biết đến với tên gọi Ngày Tiếp Nối, với ý nghĩa tiếp tục lưu giữ và truyền lại những tư tưởng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh cho thế hệ sau.

Nhân Ngày Tiếp Nối, các tác phẩm sách của Thiền sư Thích Nhất Hạnh được trưng bày trang kính ở hệ thống Nhà Sách Phương Nam trên toàn quốc. Là đơn vị liên kết xuất bản, phát hành nhiều đầu sách của Thiền sư, Nhà Sách Phương Nam tự hào tiếp nối những giá trị tư tưởng của Thiền sư, từ đó trao truyền từng trang sách thấm đẫm những tư tưởng ấy đến với nhiều đối tượng bạn đọc.

Các tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh mà Phương Nam Book đã xuất bản.
Mỗi quyển sách là mỗi giá trị tư tưởng mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh trao truyền cho đại chúng.
Ảnh: Nhà Sách Phương Nam Phú Thọ
Đọc bài viết

Cafe sáng