Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Tại sao ta không nên đọc mọi thứ và không nên tin mọi thứ ta đọc?

Đăng từ

on

Con người là một loài có tính xã hội. Mỗi buổi sớm thức dậy, trước cả ánh bình minh, chúng ta bị đánh thức bởi chính hào quang của đồng loại mình. Rồi ta lao từ ổ nhỏ tới hang to, từ thị thành đến nông thôn, từ bất kỳ nơi nao nhanh chóng gia nhập vào bầy đàn ngày càng khổng lồ của xã hội. Chẳng một ai biết đích xác khởi nguyên của các đặc tính xã hội loài người, chỉ biết nó sẽ tồn tại cho đến khi nào chúng ta chưa diệt vong. Các đặc tính xã hội ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của đời sống, sự đọc cũng không ngoại lệ.

Về review

Tôi bắt đầu với chuyện đọc review. Review một cuốn sách có thể hiểu đơn giản là sự phê bình cuốn sách đó bởi một hoặc nhiều người đã đọc qua nó mà không nhằm các mục đích thương mại. Tính thương mại là một điểm rất quan trọng ảnh hưởng đến sự đọc mà tôi sẽ trình bày ở phần sau. Trên lý thuyết, review hoàn toàn có ích khi giúp chúng ta được nhìn nhận cuốn sách mà chưa cần phải đọc. Song trên thực tế, mọi chuyện lại không đơn giản đến thế. Xét về bản chất, review là thứ có tính xã hội: bạn không thể chỉ đọc duy nhất một review được và review sẽ sinh ra sự định hướng chuyện đọc của bạn. Nhưng khi đọc nhiều review thì lại không khác gì tạo ra một thống kê xã hội: khảo sát nhiều đối tượng rồi tập hợp những kết quả tương đồng vào một nhóm dưới dạng phần trăm. Và thống kê xã hội, như tên gọi của nó, sẽ có ý nghĩa xã hội: đồng nghĩa với việc tính cá nhân của nó gần như bằng 0. Vậy nên, khi đọc review, một mặt bạn bị số đông dẫn dắt đi theo thiên hướng cá nhân của họ, mặt khác bạn lại làm cho sự dẫn dắt đó ngày càng nặng nề và càng làm cho cái sự đọc sách mất đi tính cá nhân vốn có của nó. Thế thì có nên đọc review hay không?

Để trả lời câu hỏi này chúng ta hãy quay ngược lại điểm xuất phát. Bạn đọc review để làm gì: để biết cuốn sách trước mắt liệu có đáng đọc? Và ngạc nhiên chưa, khi bạn đang phân vân có nên đọc hay không thì đồng nghĩa với bạn đang muốn đọc nó. Đến lúc này, trong bạn sẽ hình thành hai luồng suy nghĩ: hoặc kiếm tìm một review thúc đẩy cái mong muốn đọc của bạn hoặc dập tắt cái mong muốn ấy, cũng lắm khi là cả hai cùng lúc. Dù lựa chọn theo cách nào thì ngay từ đầu nó đã phụ thuộc vào cách nghĩ của bạn, bạn đọc review chỉ để tìm một cái cớ hợp lý hóa cách nghĩ của mình. Câu chuyện đánh lừa bản thân này không có hại, dĩ nhiên, nhưng cũng không hề có lợi. Chẳng có gì trôi qua ngoài thời gian cả.

Tôi tin rằng bạn đang nghĩ tôi cự tuyệt review. Không, không hẳn đâu. Có một thời điểm review sẽ phát huy tác dụng của nó, đó là khi trong đầu bạn rỗng tuếch, hoàn toàn không có bất cứ một ý niệm gì ngay cả sự phân vân chần chừ đối với cuốn sách vô cùng lạ lẫm trước mắt bạn. Tôi gọi chúng là những review tình cờ, hay qua đường, hay bất chợt. Những review này xuất hiện ngẫu nhiên và vô tình bạn đọc được nó. Nhưng như đã nói ở trên, dù là tình cờ review nó vẫn mang thiên hướng cá nhân của người viết, và hơn nữa sự tình cờ thì lại thi thoảng mới xuất hiện. Để dung hòa mâu thuẫn này coi bộ không đơn giản song cũng không phải là vô phương cứu chữa. Trước hết thiên hướng cá nhân của người viết review mặc nhiên luôn luôn tồn tại, bạn không thể thay đổi hoặc làm nó biến mất. Do đó, bạn hãy chọn lựa những cá nhân có thiên hướng – hay lối suy nghĩ, cách nhìn nhận – càng giống bạn càng tốt, khi ấy những review sẽ càng trở nên tiệm cận với thế giới quan của bạn. Một sự sao chép như vậy giữ cho bạn vừa đủ cho bạn có cái nhìn từ xa về cuốn sách đồng thời không bị hút về tâm của review. Dù vậy, giống như đường tiệm cận chỉ gặp nhau ở vô cực, sẽ vẫn tồn tại những điểm khác biệt nhất định giữa review với bạn. Song vẫn tồn tại một cách cứu vãn tình thế, một đáp án mở ở ngay trước mắt. Lúc này có lẽ bạn đã nhận ra tôi muốn nói điều gì. Phải, chỉ có chính bạn mới là người review tốt nhất cho bản thân. Việc bạn cần làm không gì đơn giản hơn: hãy bắt đầu đọc cuốn sách đó. Đọc càng nhiều thì phản xạ review, nói cách khác cảm giác giống như review sẽ trở nên rõ nét hơn. Trong tương lai không xa, bạn hoàn toàn có thể biết được cuốn sách trước mặt có nên đọc hay không mà chẳng cần đến review!

Câu chuyện review thoạt nhìn trông rối rắm nhưng không khó nắm bắt. Trong khi đó tính thương mại lại âm thầm lặng lẽ ảnh hưởng đến sự đọc mà nhiều lúc chúng ta chẳng thể nhận ra được. Từ góc nhìn review, có thể quan sát phần nào những hình dáng cụ thể của đồng tiền đối với chuyện đọc sách. Đó là những bài review thương mại, những bài điểm sách thương mại, những bài pr hoặc marketing mà tôi gọi chung là những bài quảng cáo sách. Quảng cáo có đầy đủ tính chất của một bài review sách đồng thời sở hữu một cái đuôi mở rộng đáng ngờ đến mức không thể tin được. Từ ngàn xưa đến ngàn sau, từ những tiên dược trị bách bệnh của lang băm thuật sĩ cho đến cống phẩm hoàng cung, từ mớ rau răm ngoài chợ cho đến bitcoin sàn chứng khoán, tất tần tật những lời quảng cáo đều vô cùng đáng ngờ. Đặc điểm cốt tủy để nhận ra quảng cáo giữa một rừng review điểm sách chính là hình ảnh minh họa.Giống như trên bao bì gói mỳ Hảo Hảo hay chai C2, đó đều không phải giá trị thực của sản phẩm – ở đây là sách. Trong thời đại mọi thứ được định giá thì giá trị là cái khó nắm bắt nhất. Nội dung quyển sách bị che mờ bởi những lời hoa ngôn mị ngữ, nếu để ý kĩ sẽ thấy hầu như chúng chẳng hề liên quan. Tinh vi hơn là những quảng cáo sử dụng chính những thứ lấy từ trong sách: những câu trích dẫn quen gọi là quote mà khi bị tách khỏi ngữ cảnh chung sẽ thay đổi ý nghĩa theo hướng có lợi cho người quảng cáo và một thứ quen thuộc không kém chính là bìa sách. Không nói đâu xa, tôi khẳng định nhiều bạn đang đọc bài tôi viết đây chính là do đã thấy tôi giật tít đó thôi. Như vậy, bằng cách sử dụng văn hóa nghe nhìn, quảng cáo gián tiếp tác động tới văn hóa đọc. Văn hóa đọc, hay gần gũi hơn là những thói quen đọc sách của bạn bị ảnh hưởng một cách từ từ, chầm chậm mà bạn không hề hay biết. Bìa sách đẹp, những câu quote hay, tôi chắc không dưới một lần bạn đã chọn sách theo tiêu chí đó. Về cơ bản, hẳn bạn cho rằng nó chẳng ảnh hưởng là bao tới sự đọc của bạn. Tôi không phủ nhận điều đó, song nếu bạn nhìn nhận một cách tổng quan và lâu dài, thì chính thói quen này sẽ cướp đi khỏi bạn cơ hội được đọc những cuốn sách phù hợp với bạn hơn tuy bìa sách không bắt mắt, quote không hấp dẫn hoặc là ít được quảng cáo. Quảng cáo bản thân nó mang tính xã hội dù khả năng định hướng cá nhân không mạnh mẽ được như review. Có một thứ khác nằm ở đỉnh cao của tính thương mại và tác động sâu sắc tới văn hóa đọc: đó chính là best-seller.

Về best-seller

Best-seller hay nôm na sách bán chạy là thứ đậm đặc tính xã hội. Karl Marx từng nói “con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”. Riêng trong sự đọc, cái tổng hòa đó không đâu rõ nét bằng best-seller. Từ cái tên sách bán chạy đã cho thấy nó là những cuốn sách được viết cho một số đông người đọc, và viết về đời sống của số đông người đọc đó. Ngay từ đầu, tác giả đã nhắm vào lượng độc giả đông đảo ấy, nói cách khác best-seller không phải những cuốn sách bán chạy mà là những cuốn sách được viết ra để bán chạy. Ồ có lẽ bạn sẽ cho rằng tôi cứ quanh quẩn bài toán con gà và quả trứng, chẳng có ý nghĩa gì mà cứ thích vòng vo. Nhưng không, hiểu về loại tiền trảm hậu tấu kiểu best-seller này khá quan trọng để tránh bị truyền thông dắt mũi. Trở lại với câu nói của Marx, nếu xã hội có một cái chuẩn cho việc đọc thì best-seller chính là cái trung bình cộng ấy. Cứ tưởng tượng mà xem, sẽ nhàm chán biết bao nếu đó cũng là cái chuẩn của bạn. Xã hội là 1 thì bạn cũng 1, là A thì bạn cũng A, là asdfgh thì bạn cũng asdfgh theo. Bạn suy nghĩ theo cách xã hội suy nghĩ rồi tới lượt cách nghĩ của bạn cũng chính là cách nghĩ xã hội. Một xã hội vận hành lòng vòng như thế, nói theo ngôn ngữ di truyền thì một xã hội giao phối cận huyết như thế sớm muộn sẽ nhanh chóng tới hồi thoái hóa rồi lụi tàn. Sự đa dạng mới là cái giữ cho văn hóa đọc tồn tại và phát triển, tính chất cá nhân trong sự đọc của bạn là điều quan trọng nhất để giữ sự đa dạng này. Bạn cần tạo ra một độ lệch chuẩn cho riêng mình, một mức độ lệch nhất định mang hình ảnh vệ tinh viễn thám, sẽ giữ cho bạn vừa đủ ở ngoài để nhìn rõ mọi chuyện vừa giúp bạn không mất liên lạc với những thứ ở trong. Vậy nên, có những thứ tuyệt nhiên không được tin tưởng, tỉ dụ như là: 12 cuốn sách mà ai cũng phải đọc ít nhất một lần trong đời1, 3 cuốn sách đã làm thay cuộc đời tôi2, 20 cuốn sách bạn phải đọc khi còn trẻ3, 6 cuốn sách con gái nhất định phải đọc4, vân vân và mây mây, ở đây tôi chỉ đề cập đến vài trường hợp làm ví dụ.

Trường hợp 1: Ai cũng đọc rồi làm đúng như 12 cuốn sách thì mọi người đều suy nghĩ giống nhau theo cùng lối mòn.

Trường hợp 2: Đó là những cuốn sách thay đổi đời “tôi” và nhiều khả năng sẽ chẳng làm đổi thay đời bạn vì đơn giản: “tôi” và bạn không giống nhau.

Trường hợp 3: Một sự ngụy biện rõ rành rành, nó không hơn gì một sự áp đặt rằng tuổi tác quyết định trí tuệ và sự thành công.

Trường hợp 4: Về cơ  bản cũng giống trường hợp 1, nhưng vô hình chung nó lại đặt tính nữ cao hơn tính cá nhân và làm mất sự bình đẳng trước việc đọc của nam và nữ.

Những trường hợp trên đều là những cách thức hô biến best-seller điển hình cũng như chung quy chỉ muốn xóa bỏ cái riêng để trở về cái chung. Trong khi chúng ta dành hàng ngàn năm chỉ để đạt tới tiếng nói riêng thì những từ mang hàm ý bắt buộc như “phải”, “nhất định”,… là không thể chấp nhận được. Đáng buồn thay những loại sách khuyến khích sự giống nhau như thế lại lan tràn chiếm cứ một vùng không gian đọc rộng lớn nhất dưới vô vàn lớp vỏ bọc khác nhau. Trong phần kế tiếp, tôi sẽ đi bàn sâu vào chi tiết một số đầu sách kiểu như vậy.

Về self-help

Tôi đang muốn nói tới dòng sách giúp tự phát triển bản thân và các kỹ năng, được biến đến nhiều hơn dưới tên gọi self-help. Vậy thì tại sao self-help lại có sức hút lớn như thế, đến mức gần như bất kỳ ai trong đời cũng đọc ít nhất vài ba cuốn? Tôi nghĩ mình nên dạo qua bản chất của self-help một chút. Nếu suy xét đến tận cùng, self-help rất gần với best-seller, có nghĩa là nó được và phải được viết ra dành cho số đông người đọc. Căn kẽ hơn nữa, những cuốn sách self-help tồn tại dựa trên các đặc tính xã hội, mà đặc tính xã hội là những gì tôi đã đề cập: là review, là quảng cáo, là best-seller. Từ các nhà sách siêu to khổng lồ đến những cửa hiệu nhỏ mang dáng vẻ bao cấp, từ thư viện công cộng cho đến tủ sách gia đình, từ chồng cuốn sách mới kính coong đến mớ sách cũ phủ bụi, mọi lúc mọi nơi, rất dễ để nhận ra một cuốn sách self-help. Chúng được quảng cáo rất rầm rộ mà đa phần là theo những cách trong bốn ví dụ tôi nêu ở trên. Và chúng được quảng cáo, được marketing ngay từ cái tên cuốn sách. Các tác giả self-help không ngần ngại phô diễn ý định của mình từ trang bìa với những cái tên rất kêu đánh trực tiếp vào tâm lý của người đọc: những từ như “làm giàu”, “thông minh”, “đọc vị”, “tâm hồn”,  “nghĩ như X”, “làm như Y”, “sống như Z”,… ngập tràn các mặt sách. Lòng ham muốn, óc tò mò của chúng ta bị kích thích sẽ trỗi dậy, vô hình chung bước vào con đường các tác giả đã vạch sẵn. Vậy là ngay từ khi bắt đầu, các cuốn sách self-help đã muốn kiểm soát chúng ta chứ chẳng phải là chúng ta kiểm soát mọi thứ như tiêu đề của chúng. Không dừng lại ở đó, các cuốn sách self-help mê hoặc người ta với cái bút pháp viết sao cho cái gì cũng trở nên đúng đắn. Để tạo ra sự đúng đắn giả hiệu đó, các tác giả self-help khai thác đến mức tối đa, gần như đào sâu đến mức cạn kiệt những ý nghĩ chung – những ý nghĩ mang tính xã hội mà ai ai cũng từng thoáng qua ít nhất một lần. Cứ như thế, bằng việc viết về những thứ mà ai cũng nghĩ đến, những điều ai cũng dễ dàng chấp nhận mà không cần do dự, các cuốn sách self-help tự biến mình thành chân lý. Từ khởi nguồn là những chân lý sẵn có của xã hội ấy, các tác giả không ngừng mở rộng dòng trường giang đại hải dài dằng dặc thêm những chân lý khác theo phương pháp suy luận cộng dồn theo kiểu 1 cộng 1 bằng 2, còn bạn thì không ngừng thấy cuốn sách sao mà nói gì cũng đúng. Hãy cứ tưởng tượng thế giới là một hệ tọa độ không gian vô hạn về mọi hướng, bạn, các bạn của bạn, các độc giả cùng tác giả là những điểm xác định trên hệ tọa độ đó. Sẽ luôn tồn tại một đường thẳng đưa tác giả đến bạn và luôn có một mặt phẳng được tạo ra giữa tác giả và các độc giả. Bằng cách lợi dụng những nét tương đồng giữa các độc giả, tác giả self-help ngày càng mở rộng mặt phẳng mong muốn của mình. Một khi đã bị hút vào cái mặt phẳng ấy, bạn khó lòng mà không thấy… thế giới phẳng trong khi thực tế lại muôn hình vạn trạng hơn nhiều. Tình cảnh này nom bi đát hệt câu chuyện chú ếch ở dưới đáy giếng. Để tái phát hiện ra thế giới quan của riêng bạn đã bị cái chung làm mờ mịt, tôi cho rằng một vụ phóng thử phi thuyền mang tên BẠN.01 ra khỏi hành tinh self-help, ít nhất ra là khỏi cái mặt phẳng bạn đang sống là việc làm cần thiết. Sau khi ở phía bên trong một thời gian dài, cái nhìn từ phía bên ngoài hẳn sẽ làm bạn choáng ngợp. Bạn sẽ nhận ra từ vũ trụ, Vạn Lý Trường Thành không thể thấy rõ được như người ta từng huênh hoang, hay đỉnh cao chói lọi của self-help Đắc nhân tâm chỉ là cái chấm bé tí xíu. Dale Carnegie còn nhỏ hơn, điều đúng đắn nhất ông từng nói có lẽ là “có thể thay đổi thái độ của người khác khi thay đổi sự đối xử của ta với họ”. Song những tác giả sau ông lại bám vào câu nói đó mà hô biến ra ngàn lẻ một câu chuyện self-help. Trong câu chuyện hô biến này có thể kể ra Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? như là một ví dụ điển hình: tác giả gần như xây dựng toàn bộ cuốn sách của mình dựa trên các nền tảng của Đắc nhân tâm và những sách khác cùng thời. Đơn giản với việc chuyển những công trình nghiên cứu tâm lý hành vi đã được thực tế chứng minh của các tác giả đi trước sang ngôn ngữ hiện đại hợp thị hiếu của thế hệ trẻ tuổi – thế hệ trụ cột của sự đọc hiện nay – nghiễm nhiên Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? trở thành best-seller bán chạy hàng đầu. Theo tôi, thành công của cuốn sách chỉ gói gọn trong phương diện thương mại, còn về mặt nội dung nó cũng giống như một góc nhỏ xíu trong hàng vạn tiếng nói giống hệt nhau cho cùng một vấn đề đơn giản, quá phí phạm thời gian và công sức.

Review là người bạn đồng hành của self-help: rất dễ để người ta truyền tai nhau những điều họ vốn luôn nghĩ nay bỗng dung xuất hiện trong một cuốn sách, còn gì đáng nói hơn thế nữa. Và thế là tam sao thất bản, lan tỏa theo cấp số nhân những điều đã biết. Từ review nhanh chóng tự diễn biến, tự chuyển hóa thành best-seller lúc nào không hay. Nhà giả kim là một ví dụ điển hình cho bộ ba quảng cáo – review – best-seller ấy, đặc biệt là ở Việt Nam. Bây giờ nếu bạn thử hỏi ai đó cho bạn một gợi ý đọc sách, thì tôi đoán sẽ có 1/3 trong đó là Nhà giả kim. Người người làm nhà giả kim, nhà nhà học giả kim thuật trong khi phần đa chẳng có tí tố chất nào của giả kim thuật cả. Tại sao bạn không sử dụng tiếng nói pháp sư, phù thủy, kiếm sĩ, du hành giả… của chính bạn mà lại cứ phải dùng tiếng nói của nhà giả kim. Như vậy thành ra rất thừa mà cũng rất thiếu, thừa giống nhau và thiếu khác biệt. Về phương diện thừa thiếu này thì không đâu sánh bằng các loại sách chiêm tinh. Chỉ từ 12 cung hoàng đạo hay 88 chòm sao mà định đoạt cuộc sống của hơn 7 tỷ người đang sống và hơn 100 tỷ người đã từng sống thì thậm chí còn diệu kỳ hơn cả việc trường pháp thuật Hogwarts phân chia học viên vào 4 nhà. Đặt niềm tin vào những thứ hư vô như thế chỉ làm cho sự đọc trở nên nhàm chán, đi vào lối mòn và mất dần ý nghĩa.

Nghe một bản nhạc, xem một bộ phim, hay đọc một cuốn sách đều hỗ trợ và làm cuộc sống thêm phần thú vị chứ hoàn toàn không quyết định được cuộc đời bạn. Vì thế, ta không nên đọc tất cả mọi thứ và không nên tin tất cả mọi thứ đọc được, bài tôi viết đây cũng không ngoại lệ. Hãy để sự đọc tựa như là đang ngồi dưới gốc cây táo buổi đầu hè, có cơn gió thổi qua làm quả táo rụng trên trang sách, ta nhặt lên và cắn một miếng, thế thôi.

Hết.

3V

Xem tất cả những bài viết của 3V tại đây.


Những bài viết có cùng chủ đề



6 bình luận

6 Bình luận

  1. Hương Nguyễn

    Tháng Tám 23, 2019 at 10:23 sáng

    Cảm ơn bạn đã viết bài này.Như vậy tôi mới có thể nhìn rộng ra và suy ngẫm vào điều.😘

  2. Thiên An

    Tháng Tám 24, 2019 at 4:25 chiều

    Tại sao chúng ta không nên đọc mọi thứ? Thật ra thì đọc xong câu hỏi này mình có cười, tại sao ư? Chúng ta làm gì có thể đọc được mọi thứ trên cuộc đời này. Nhưng “chúng ta không nên tin mọi thứ” thì mình đồng ý với bạn viết bài, góc nhìn và ” tư tưởng” của bạn tôi cũng thấy hợp lí. Về vấn đề self- help, một câu chuyện mà lúc bắt đầu nói thường sẽ tạo thành hai phe. Đắc nhân tâm, nói về cơ sở khoa học thì có thể có nhiều thứ không có căn cứ khoa học nhưng áp dụng nó khá là hợp lý.

  3. Người Giao Bánh

    Tháng Tám 27, 2019 at 6:07 sáng

    Không thể phủ nhận lợi ích của việc đọc đối với mỗi một người trong dòng chảy vận hành và phát triển không ngừng của xã hội. Nhưng để nói rằng cái lợi đó sâu sắc tới đâu thì còn tùy thuộc vào trình độ nhận thức, đánh giá, thẩm thấu của mỗi một người nữa. Vì có những cuốn sách rõ ràng trên thực tế, đối với người này rất thiết thực, đưa sang người khác lại chỉ mang ý nghĩa mơ hồ.

    Sách có câu chuyện và nội dung thông điệp của riêng mình, bởi thế mà nó được nhân rộng. Một người đọc sách chính là để phát hiện ra hình ảnh của chính mình trong những câu chuyện như vậy, thông qua văn chương lẫn cuộc đời một ai đó.

    Mình cho là, đến cùng ý nghĩa của việc đọc không chỉ dừng lại ở việc bạn đọc một tác phẩm, nghị luận về nó đơn thuần giống năm xưa học văn. Văn học phổ thông có người dẫn dắt bạn xâu chuỗi diễn biến tâm lý nhân vật, có thang điểm hỗ trợ bạn nếu bạn cảm thấy hồ nghi ; nhưng văn học sau khi bạn quyết đinh tự chinh phục hoặc tìm tòi nó lại đòi hỏi bạn phải tự định hướng con đường của riêng bản thân. Bạn học được gì, tìm thấy gì, tin vào giá trị gì…tất cả các lý thuyết đó đều nằm ở cái tầm mà bạn có thể nhận thức.

    Albert Einstein nói một câu rất hay rằng: “Người đọc quá nhiều và dùng tới bộ óc quá ít sẽ rơi vào thói quen suy nghĩ lười biếng.” Câu nói này nếu đem ứng đối với một số các mọt mình tin là sẽ thể hiện được khá nhiều các cung bậc trong nếp sống đọc nói chung. Chẳng hạn, có những người vì đọc quá nhiều mà trở nên cứng nhắc, lý thuyết, giáo điều; lại có một số khác chỉ cần cảm thấy có chút bấp bênh liền tìm đến sách như chiếc phao cứu sinh của cuộc đời mình. Nhà văn trước khi viết ra một tác phẩm, cũng giống như một con ong thợ cần mẫn, họ cũng đọc, quan sát và chiêm nghiệm mọi điều. Văn chương chỉ phản ánh một phần thôi cái mà chúng ta luôn tìm kiếm, phần còn lại, buộc chúng ta kiên nhẫn lắng nghe, để ý và thấu đáo nhiều hơn.

    Vậy nên sách không phải tất cả, tất cả nằm ở nơi bản thân mỗi người. Cái lợi sâu sắc của người biết tìm đến sách và đọc nó, trước hết thứ người đó có được là sự khiêm nhường, biết mình biết ta. Sách tuy không nói anh còn hạn chế ở những mặt này, nhưng nó đánh thức anh rằng anh phải tỉnh dậy và sáng suốt bởi những điều rộng lớn vẫn hiện diện quanh anh. Một người chỉ cần hiểu được mình nhỏ bé, sự nhỏ bé ấy chắc chắn sẽ nuôi dưỡng trái tim họ lớn lên.

    Mình không hay đọc trước review một phần cũng vì vậy, mình chỉ tin đến cùng những thứ đọng lại sẽ không nhiều. Mỗi lần mình bắt đầu với quyển sách bất kỳ nào đó, mình cố gắng đầu tiên là đọc nó kỹ nhất có thể. Cho tới khi đã hoàn thành xong tác phẩm, việc chọn làm thứ hai là đọc chậm phần nhận xét hoặc tóm gọn nội dung cuốn sách ở những trang bìa. Nếu có phần nào sâu sắc nhất giúp bạn hệ thống hóa lại và củng cố toàn bộ các chương, hồi, đoạn…bạn đã đi qua thì phần này sẽ là một phần không thể bỏ sót. Cuối cùng, trong trường hợp thật sự tò mò muốn tìm hiểu sâu hơn, mình tìm đọc review tổng hợp mọi người viết.

    Sách best seller hoặc self help không hẳn là lựa chọn phổ thông, nhưng đối với một người đọc sau khi đã định hình được cái mình muốn khám phá, biết rõ đâu mới là thể loại của mình, mình tin là trong list sách có sẵn tự họ sẽ chọn ra được cuốn sách thiết thực với mình nhất. Kể cả trong trường hợp một quyển sách không phù hợp chẳng hạn, quyển sách đó chắc chắn cũng sẽ chứa đựng một số thông điệp áp dụng được vô những mảng đời sống thường ngày. Bởi vậy nên không có cuốn sách nào thật sự vô giá trị. Sách luôn đem lại giá trị ít hoặc nhiều cho mỗi một cá nhân. Chỉ là tùy vào từng thời điểm mà bạn đọc nó, nó sẽ để lại trong bạn những dấu ấn khác nhau. Theo thời gian, thứ thay đổi không phải câu chữ có trong sách mà là cái tôi đã lớn khôn hơn và dần trưởng thành.

    Tựu chung, quan điểm của mình về vấn đề này là cái gì cũng chỉ mang tính chất tương đối. Đọc sách tuy nói rằng rất quan trọng nhưng không quan trọng bằng việc bạn đọc nó thế nào? Bạn có để cuộc đời mình bị lệ thuộc hoàn toàn vào trong đó hay không? Bạn đang tỉnh táo hay mộng mị?

  4. Pingback: Mọt sách chả phải là một loại cá tính đâu – Bookish

  5. Pingback: Đằng sau một cuốn sách là con người và cuộc sống – Bookish

  6. Pingback: Fiction vs Non-fiction từ góc nhìn kinh tế – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Từ Sách đến Phim: 1 lít nước mắt (2005)

Gửi đến những bạn đã hoặc đang có suy nghĩ bi quan giống tôi. Hãy yêu đời nhé.

Đăng từ

on

Người đăng

Tôi đã khóc thật nhiều khi xem bộ phim 1 Litre of Tears. Khóc bắt đầu từ tập 8 cho đến cuối tập 11. Có lẽ, tập khiến tôi khóc nhiều nhất là tập 11. Tôi khóc hầu như suốt 45 phút. Lần đầu tiên, tôi coi phim mà phải bấm nút pause nhiều đến như vậy. Không phải bấm pause để dò từ điển mà là bấm pause để tôi có thể… khóc. Tôi khóc lúc nào mà chẳng hay…đến khi biết được thì nước mắt đã tràn ra quá nhiều làm nhòe cái mắt kiếng. Tôi phải dừng lại cũng là để lau mắt kiếng, lau những giọt nước mắt đang chảy dài trên khoé mắt.

Khóc… khóc nhiều đến nỗi tôi có cảm giác chưa bao giờ tôi được khóc thoải mái như thế. Đã một năm rồi tôi không khóc. Tôi còn nhớ lần cuối cùng tôi khóc đó là khi tôi ở ngay trước ghế đá của văn phòng đoàn trường mình. Trước đó, tôi đã đứng ở ngoài sân một vài phút để khóc trong mưa, để nước mưa có thể lau đi những giọt nước mắt của tôi. Ừ… thì đúng là nó đã lau thật. Nhưng rồi chỉ một vài phút sau khi ngồi vào băng ghế đá… tôi lại khóc tiếp tục.

Lần đó… tôi cứ ngỡ là mình sẽ không bao giờ khóc được nữa. Cho dù từ đó tới nay, đã có rất nhiều chuyện buồn xảy đến với tôi, tôi cũng đã đọc… đã coi thêm rất nhiều câu chuyện buồn nhưng…vẫn không khóc. Thật là một lời cảm ơn kì lạ nhưng… tôi vẫn muốn cảm ơn 1 Litre of Tears vì đã cho tôi khóc, cho tôi những giọt nước mắt để tôi biết hóa ra những nỗi đau mà mình đã gánh chịu còn nhẹ hơn mây trời…

Chọn một con đường dài cũng không phải là một việc quá ngốc

Nếu như tôi có thể làm một bông hoa, tôi sẽ chọn làm một nụ hoa trước tiên. Tôi sẽ quí trọng tất cả mọi giây phút bắt đầu của tuổi trẻ…

Khi xem 7 tập đầu, tôi cứ ngỡ mình là người cứng rắn vì tôi đã không khóc một chút gì cả trong khi tôi nghe dân tình trên mạng nói là họ khóc suốt bộ phim. Nhưng rồi… không ngờ… cuối cùng nó cũng đã đánh gục tôi ở tập 8.

Tuy những tập trước đó tôi không khóc nhưng mà khi xem vẫn cảm thấy rất buồn. Ngay từ tập 1 đã thế.

Aya cùng với Haruto được phân công làm người đại diện cho lớp (có thể hiểu nôm na là lớp trưởng, lớp phó). Có một buổi lễ của trường mà mỗi lớp phải chọn ra một bài nhạc để trình diễn. Đương nhiên là Aya và Haruto phải có trách nhiện về việc này nhưng khi Aya hỏi ý kiến,  ai trong lớp cũng từ chối việc tham gia.

Khi xem đến đoạn đó, tôi như thấy được hình ảnh của mình trong đó. Mà không phải chỉ mình tôi, tôi nghĩ hầu hết (không phải là toàn bộ) các học sinh đều không mấy nhiệt tình khi tham gia vào các phong trào chung của lớp. Đặc biệt là khi học cấp III, do bận bịu việc học, ai cũng sợ rằng tham gia vào các hoạt động như thế thì sẽ mất đi quỹ thời gian học tập quí báu của mình. Hậu quả là mỗi khi lớp có phong trào gì thì cũng chỉ có một thành phần nhất định trong lớp năng nổ tham gia. Đó là một thực tế mà lớp nào cũng có, trường nào cũng có. Đặc biệt với Nhật lại càng đúng khi có thành ngữ “ 4 đậu, 5 rớt” dành cho các học sinh cấp III. Nghĩa là một học sinh nếu một ngày chỉ ngủ 4 tiếng thì sẽ đậu đại học còn nếu như ngủ từ 5 tiếng trở lên thì sẽ rớt đại học.

Đáng lẽ ra, Aya chỉ cần ôm công việc một mình nếu như cả lớp không chịu làm. Nhưng…cô vẫn đứng trước lớp cố thuyết phục mọi người, không phải vì cô sợ làm một mình, cô chỉ là muốn cả lớp cùng làm. Tôi đã rất xúc động khi nghe những lời nói đó:

“Ba của tớ hiện đang mở cửa tiệm là đậu phụ…  ừm… nhưng trước đó ba đã không muốn làm công việc này chút nào dù đây là nghề mà bà nội tớ đã làm và luôn bắt ba tớ phải làm như thế. Ba đã chọn làm một công việc trong văn phòng. Nhưng dường như việc cứ ngồi một chỗ không thích hợp với ba. Rồi ba lại làm cho một tiệm đồng hồ, sau đó ông lại bỏ và đi làm cho một tiệm sửa quần áo… ba tớ đã làm rất nhiều công việc nhưng rồi cuối cùng ông lại quay trở về làm đậu phụ và thành công làm cho tới bây giờ. Có thể nói là ba tớ đã đi một con đường vòng khá dài nhưng bây giờ những công việc ngày xưa mà ông làm chẳng hề lãng phí chút nào cả. Ông làm cho tớ một cái đồng hồ… những bộ quần áo mà mọi người bảo rằng lỗi thời…nhưng mà… tớ… tớ chỉ nghĩ rằng đi một con đường dài như thế cũng không hẳn là một điều ngu ngốc. Chúng ta vẫn còn nhiều thời gian mà. Tại sao chúng ta không thử làm những việc mà chúng ta nghĩ rằng chúng ta sẽ không bao giờ làm. Tớ chỉ muốn cả lớp có thể tham gia cùng nhau thôi chứ không muốn một cá nhân riêng lẻ nào…”

Tôi đã rất xúc động khi nghe những lời nói đó. Ai cũng muốn chọn cho mình một con đường ngắn nhất, dễ đi nhất. Ai cũng sợ đường dài, đường vòng dù họ cũng biết là hầu như không thể đi một con đường đời bằng phẳng nhưng vẫn cố gắng trốn tránh việc đó… Tại sao chúng ta không nghĩ rằng trong khi chúng ta tránh đi những con đường dài thì bản thân chúng ta cũng đang mất thời gian vì phải trốn tránh? Tôi nghe đắng nơi cổ họng vì biết mình luôn trốn tránh. Tôi cũng đã trốn tránh ước mơ của chính bản thân mình vì tôi sợ con đường của tôi đi quá dài…

Nhưng mà… khi Aya nói câu: chúng ta vẫn còn rất nhiều thời gian thì lúc đó phim lại chiếu tới đoạn mẹ của Aya nhe bác sĩ nói rằng cô bị mắc bệnh  Spinocerebellar Degenaration. Căn bệnh quái ác này không làm người ta chết ngay mà dần dần giết đi các khả năng của người bệnh: đầu tiên sẽ là đi không vững, rồi sau đó sẽ gặp khó kăn trong việc nói nhìn… rồi phải ngồi xe lăn… rồi không đi được nữa… nói cũng không được… mất dần… mất dần… cuối cùng là…

… chết!…

Đối với mọi người thì thời gian còn rất dài nhưng với Aya, chỉ có một tương lai duy nhất đang đợi cô ở phía trước vì căn bệnh này là không thể chữa khỏi được.

Nếu tôi có thể là một bông hoa, tôi sẽ chọn là một nụ hoa trước tiên. Tôi sẽ quí trọng tất cả mọi giây phút bắt đầu của tuổi trẻ…

Chỉ cần yêu thương và được yêu thương đã là một việc đáng tự hào

Trong 1 Litre of Tears, không chỉ có tình yêu mà tất cả mọi tình cảm giữa người và người đều được thể hiện một cách xúc động. Tôi thật sự xúc động với tình cảm gia đình của Aya.

Khi Aya bắt đầu không thể đi lại một cách bình thường, những bước đi của cô luôn chậm chạp và trông giống như một con chim cánh cụt. Mọi người đều nhìn cô bằng ánh mắt thương hại. Bạn nghĩ sao khi có một người chị như thế? Tự hào hay xấu hổ?

Hiroki là em trai của Aya. Cậu rất thích chơi đá banh ở vị trí tiền đạo nhưng có điều… cậu vẫn chưa được vào đội tuyển. Khi thấy em trai mình tập đá ngoài bãi sân trống không khung thành, Aya đã chỉ phương pháp để tập luyện hiệu quả hơn: đó là lấy phấn vẽ một khung thành giả lên bức tường, cậu chỉ cần luyện tập bằng việc đá banh vào khung thành ấy. Aya bảo:

“Em không thể đá mà không có mục tiêu cụ thể nào được. Bằng việc làm như thế này, em sẽ tập luyện hiệu quả hơn.”

Kết quả là trình độ đá bóng của cậu tiến bộ hẳn và cậu được chọn vào đội tuyển. Lúc đó, đám bạn của câụ đã rất ngạc nhiên vì đó là lần đầu tiên Hiroki được chọn. Khi được bạn bè hỏi tại sao lại tiến bộ nhanh như thế, cậu đã tự hào mà trả lời rằng:

“Là chị Aya của tớ đã chỉ tớ phương pháp tập luyện. Chị ấy rất xinh, thông minh, học giỏi và cả chơi thể thao cũng giỏi nữa.”
“Ngưỡng mộ quá. Cậu có thể cho chúng ta gặp chị ấy một lần được không?”

Một khoảng lặng vì đó là hình ảnh của chị cậu ngày xưa. Bây giờ chị cậu đã không còn được như thế nữa. Điều đó làm cậu cảm thấy xấu hổ, không muốn cho bạn bè của mình gặp chị.

Nhưng một đám bạn của cậu cũng đã tình cờ gặp được Aya. Và thế là chúng dè bỉu chị cậu trước mặt cậu…cậu cố chịu đựng vì cho rằng không còn sự lựa chọn nào khác.

“Cậu là đồ nói láo. Chị của cậu không được như câu đã nói. Đi đứng còn không vững, cứ như chim cánh cụt ấy thì làm sao mà chơi thể thao giỏi cho được.”

Nhưng Ako-chị của cậu và là em của Aya thì lại không thể chịu đựng như thế:

“Tại sao em lại im lặng? Tại sao lại để cho chúng xỉ vả chị Aya trước mặt em như thế. Chẳng lẽ em không hề có một chút tức giận gì sao?”
“Bởi vì em không có sự lựa chọn nào khác.”

“Không có à… Nếu là chị thì chắc chị sẽ hét toáng lên mất… Em… thật ngốc đấy. Chị Aya của chúng ta rất đáng ngưỡng mộ. Chị tự hỏi nếu là chị mắc căn bệnh giống như chị Aya, chị thậm chí sẽ không dám đi ra ngoài đường… sẽ không thể mỉm cười khi có một ai nói những lời trêu chọc mình…và em biết gì nữa không, chị Aya đã khâu tên của em lên chiếc áo em sẽ bận để thi đấu vào ngày chủ nhật này đấy. Chị ấy rất khó khăn để làm việc đó nhưng vẫn cố gắng làm vì em…vì chị ấy nói làm như thế coi như để tập trị liệu cho ngón tay. Vì làm chậm nên chị ấy đã phải hi sinh cả khoảng thời gian ngủ của mình, thức trắng đêm để khâu cho em… vậy mà… tại sao em lại nỡ đối xử với chị ấy như thế?”

Và Aya đã tình cờ nghe hết mọi chuyện. Cô vốn dĩ rất muốn xem em mình thi đấu nhưng khi biết em mình xấu hổ về mình, Aya không trách em mà chỉ trách bản thân mình đã làm gánh nặng cho em, trách mình vì sao chỉ nghĩ đến cảm xúc của mình là rất muốn đi xem mà không nghĩ đến cảm xúc của em.

“Chủ Nhật này chị tình cờ có việc bận nên sẽ không thể đi coi em thi đấu được đâu. Chị phải đi xem phim với Mari.”

Nhưng buổi sáng chủ nhật ấy, Hiroki đã viết một mẩu giấy để lại trên bàn cho Aya:

Em rất muốn chị xem em chơi bóng. Chị Aya hãy đi xem em chơi bóng. Chị nhất định phải đi đấy. Nhất định

“Con…con có thể đi xem em thi đấu được hả mẹ..?”
“Được mà. Nó đã cảm thấy hối hận rồi và  không phải nó đã để lại mẩu giấy viết nó muốn như thế rồi còn gì…?”

Lúc này, khi Aya đến xem thì cậu đã không còn xấu hổ nữa mà tự hào giới thiệu với tất cả mọi người trong đội bóng:

“Đây là chị Aya của tớ-người đã chỉ tớ cách tập bóng.”

Tôi chợt hiểu ra sự khác nhau trước và sau khi Hiroki nghe những lời nói của Ako có lẽ là sự nhận thức của cậu về tình yêu thương mà Aya dành cho mình và.…có lẽ chỉ cần yêu thương  và được yêu thương cũng là một việc đáng tự hào rồi…

Tôi biết rằng cuộc sống của tôi bây giờ đã khác trước rất nhiều nhưng tôi vẫn muốn tin trong hàng ngàn con mắt nhìn tôi soi mói…vẫn có những người quan tâm và luôn dõi theo tôi.

Hạnh phúc là khi giúp đỡ được những người xung quanh

“Se..nsei…sắ..p.. đ..i kh..ỏi bệ..nh v..iện nà..y?”
“Đâu có.”
“Vậ..y l..à se..nsei vẫ..n.. ở lạ..i?…T..hậ..t… t…ốt q..uá…”
“Ừ. Tôi sẽ ở lại đây mãi.”
“Vậ…y s…ensei… có t…hể …lấ…y …em.. r…a …cho… v…iệc.. ng..hiên …cứ…u củ…a …sen..sei… đư…ợc… khôn…g?”

“Ý em là tôi có thể sử dụng cơ thể của em để nghiên cứu phương pháp trị liệu à?”
“Ừm….V…ì e…m mu..ốn.. ma..u …ch…óng… giúp… n…hững… ng…ười… c…ũng …mắ…c …că…n …bệ..nh …giố…ng… nh…ư …mì…nh… c…ó ..th…ể ch…ữa.. k…hỏi… ..E..m …cũ…ng …m..uốn… g..iúp… se…nsei… n..ữa …vì.. se..ns..ei đã.. t…ận.. t..âm …cứ…u c..hữ..a …ch..o.. e..m ..nh…ưn..g ch..ưa ba…o gi..ờ e…m ..cả…i th…iện đư…ợc s…ức …kh…ỏe.. c..ủa.. m..ìn..h ..cả…”

Đó là đoạn gần cuối phim khiến tôi khóc nhiều nhất. Aya lúc đó đã không còn có thể nói chuyện một cách rõ ràng nữa. Cô cứ bập bẹ từng tiếng một cách thật khó khăn nhưng vẫn cố gắng nói ý nguyện của mình. Vì cô luôn cảm thấy mình có lỗi với mọi người, là gánh nặng của mọi người. Trong khi mọi người luôn giúp đõ cô thì cô chẳng thể làm được vì để giúp đỡ lại họ cả.

“Mẹ à… con sống là để làm gì hả mẹ?”
“Con không thấy sao… đây là những cuốn nhật kí mà con đã viết. Con vẫn còn có thể làm công việc này mà. Hãy cố gắng viết đi con.”

Và thế là, dù ngay cả đôi tay bây giờ cũng không còn dễ dàng cho việc cầm bút, ngày ngày cô vẫn cặm cụi bên giường bệnh viết nhật kí. Có hôm viết đến quên nỗi ngồi ngủ gục. Tôi thương lắm những con chữ to đùng, nguệch ngoạc mà Aya đã viết. Có thể nó xấu xí nhưng người chủ nhân viết nó có một tâm hồn thật đẹp…

Cuốn nhật kí 1 littoru no namida đã được liệt vào hàng sách best-seller của Nhật Bản. Dù đã được xuất bản hơn chục năm nay nhưng đến bây giờ vẫn còn ăn khách. Phim dựa trên chuyện có thật của một cô gái tên là Kito Aya. Dù bị căn bệnh hành hạ từ năm 15 tuổi nhưng cô vẫn cố gắng sống cho đến năm 25 tuổi.

Xin kết lại bài viết của tôi bằng lời bài hát cuối phim có tên là Only Human do K trình bày:

Bên kia nỗi buồn là nụ cười

Phía bên kia nỗi buồn có những điều được gọi tên bằng nụ cười…
Nhưng trước khi chúng ta có thể đến được đó, điều gì sẽ chờ đợi ta ở phía trước?

Để theo đuổi ước mơ của mình, chúng ta  không có quyền chạy trốn
Chúng ta đã bước qua, quá xa rồi những ngày hè ấy…

Nếu đợi đến ngày mai mới nhận ra, chúng ta sẽ thở dài
Bởi vì như chiếc xuống trên dòng suối
Chúng ta phải đi thẳng về phía trước

Ở một nơi bị bao trùm bởi đau buồn
Vẫn còn điều gì đó gọi là kì tích, là chờ đợi…
Phải! Chúng ta vẫn đang tìm kiếm
Bông hoa hướng dương nở vào cuối xuân
Như một người chiến sĩ chờ đợi ánh nắng mặt trời
Trước khi anh ta có thể ôm những tia nắng đó, nước mắt anh long lanh rơi…

Dù chúng ta đã trưởng thành từ cô đơn
Chỉ cần dựa vào ánh sáng của mặt trăng
Chúng ta phải bay xa với một đôi cánh không có lông…
Chỉ cần đi về phía trước, dù chỉ đi xa hơn được một chút

Khi những đám mây mang cơn mưa tan đi
Những con đường loang loáng nước
Dù có lẽ nó chỉ đem lại bóng tối
Một nguồn sáng đang lớn dần…lớn dần…
Sẽ soi sáng đường chúng ta đi.

Hết.

Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Từ Sách đến Phim: You Are the Apple of My Eye (2011)

Đăng từ

on

Người đăng

Giải quyết xong You Are the Apple of My Eye rồi…
Không nghĩ là tôi có thể khóc…

Vì đơn giản là phim 1 tiếng 49 phút thì xem đến 1 tiếng 40 phút tôi vẫn còn thấy rất bình thường, chưa lần nào quá buồn cả. Vậy mà đoạn gần kết thúc, tình huống đó bất ngờ với tôi quá… Khi nhìn anh ấy hôn chú rể của cô dâu với sự say mê mãnh liệt như thế, và tưởng tượng rằng đó là người con gái anh yêu… chính lúc đó tôi hơi ngỡ ngàng chứ cũng chưa khóc. Rồi phim kết thúc. Màn hình đen, dòng chữ credit đoàn làm phim hiện ra cũng chưa khóc. Tưởng thế là xong. Vậy mà không hiểu sao, cuối cùng cũng khóc cho được. Lại còn khóc rất nhiều. Giống như đó là nỗi buồn của tôi vậy. Lạ quá. Lần đầu tiên tôi mới khóc kiểu như thế. Trước đây chưa bao giờ như vậy. Nghĩa là, nếu phim buồn, thì tôi thường khóc ngay cảnh buồn đó, ngay khi bộ phim còn đang diễn ra chứ chẳng đợi nó hết rồi mới ngồi ôm chân một mình khóc sướt mướt như vậy. Lại cảm thấy ghét bản thân tôi vì dạo này dễ khóc quá. Nước mắt đâu mà nhiều thế. Chắc khóc luôn cho những năm tháng trước đây đã không khóc. Phải rồi, hồi cấp một, cấp hai vào trường bị bắt nạt, tôi muốn khóc lắm chứ. Nhưng tôi không thể khóc. Vì tôi chỉ có một mình. Tôi biết mình mà khóc là lại càng bị bắt nạt nhiều hơn. Do đó, tôi phải làm mặt lạnh lùng như không có gì, trò bắt nạt đó không ảnh hưởng đến tôi để mà sống, mà tiếp tục học. Nghĩ lại, không hiểu sao tôi có thể học suốt 9 năm trời trong môi trường như vậy nữa…

Trong phim, có một cảnh có lẽ với nhiều người nó là bình thường, nhưng nó làm tôi chạnh lòng. Đó là cảnh ngày lễ tốt nghiệp cuối năm, mọi người ghi đầy trên áo nhau những dòng chữ kỉ niệm. Hồi xưa, trường cấp một, hai và ba của tôi cũng như vậy. Nhưng năm nào thì những chiếc áo của tôi cũng sạch sẽ, trống trơn. Cấp một, ba cũng không có gì… Nhưng đến giờ tôi vẫn còn nhớ những ngày cuối cùng của năm cấp hai là tồi tệ nhất. Cảm giác bơ vơ, lạc lõng. Không biết phải đứng ở đâu, làm gì, đi đâu. Mọi người đem bút lông, hăm hở viết vào áo nhau. Còn tôi, chẳng có lấy một người bạn. Thế là trong giờ ra chơi thì tôi… dựa cột. Đi hết từ cột bê tông này đến cột bê tông khác trong hành lang. Chỉ như một cái mốc đánh dấu nơi đi qua. Rồi trong giờ học thì đọc truyện tranh. Còn nhớ bộ truyện tôi đọc lúc đó là Kindaichi. Cô giáo chủ nhiệm của những năm cấp hai lúc nào cũng ghi vào sổ liên lạc, hoặc nói trực tiếp với tôi rằng sao không mở lòng với bạn bè, sống như thế làm sao mà sống. Tôi chỉ im lặng. Bởi vì các cô không biết tôi bị bắt nạt. Tôi cũng không hiểu tại sao tôi lại bị bắt nạt. Ý tôi là, tôi im lặng, không nói chuyện với mọi người. Vậy thì có gì đâu? Tại sao mọi người không thể chỉ đơn giản là để cho cái đứa im lặng đó tự sống một mình lặng lẽ trong thế giới của nó mà cứ thấy nó im lặng quá rồi đi bắt nạt? Thà lờ đi sự tồn tại của tôi trong lớp còn hơn là cứ bắt nạt tôi như thế. Tôi mệt mỏi lắm… Mỗi lần mà bị cô giáo nói chuyện với tôi cuối giờ, tôi thật sự rất muốn hỏi ngược lại cô là phải làm sao đây, em phải làm sao. Đâu phải lúc nào chuyện cũng đơn giản rằng em nghĩ em muốn mở lòng là mọi người sẽ đón nhận, em nói chuyện là sẽ có người nghe? Tại sao cô không nghĩ rằng em đã từng thử? Em cũng đã từng thử rồi cô ạ… Và đã thất bại. Nên em mệt mỏi và không muốn bắt chuyện với ai nữa. Em chỉ muốn ở yên trong thế giới của em. Và viết, và viết mà thôi. Vì em khó nói nên những năm tháng đó, em mới siêng viết như thế.

Những năm tháng đó của tôi, đã chẳng có chuyện giống như những năm tháng trong phim. Chỉ là một chuỗi ngày lo sợ mai vào trường sẽ như thế nào, có bị bắt nạt nữa không, có bị bạn bè giễu cợt gì nữa không. Và một ngày trôi qua với tôi là thêm một niềm vui. Vì rằng ồ tôi đã qua được ngày hôm đó rồi sao. Và chỉ cần cố gắng qua được từng ngày, rồi sẽ đến từng tháng. Và cuối cùng là hè đến, chỉ việc ở nhà xem phim, đọc sách, viết truyện. Chẳng có một cuộc gặp gỡ với bất kì ai.

Nhưng tôi vẫn cảm nhận được, những năm tháng đó trong phim rất thật. Nó thật đơn giản bởi vì nó thật. Tôi biết đó không phải là những năm tháng của tôi nhưng lại là những năm tháng của nhiều người khác khi còn là học sinh.

Ngoài ra, tôi còn thích một chi tiết nữa. Đó là cách Kha Cảnh Đằng nói rằng: “Tớ thích hình ảnh của tớ những năm tháng ấy khi thích cậu.” Phải rồi. Thật lòng mà nói, tôi cũng có cảm giác đó. Vì vậy, tính ra là khi thích một người, thực ra người ta đang thích cả hai con người: một là chính đối tượng mình thích, hai là con người của bản thân mình khi thích người đó. Tôi nghĩ rằng đó là tình yêu lí tưởng. Yêu một người đồng thời tình yêu đó quá lớn, đến nỗi chính bản thân mình cũng thấy rằng nó đẹp, để rồi tự chính mình lại đi yêu hình ảnh của mình khi yêu người đó. Dù  sao, trong tình yêu dành cho một người nhiều như thế nào, cũng sẽ có chút phần tự yêu bản thân mà.

Tôi luôn biết một điều đơn giản rằng: chuyện gì xảy ra trong đời, dù có vẻ vô lí như thế nào, cũng đều có ý nghĩa của nó. Thế nhưng, mỗi khi gặp một chuyện buồn, một sự mất mát, không khi nào tôi có đủ bình tĩnh để nhìn ra được ý nghĩa của nó. Tất cả những gì tôi đã làm chỉ là chìm sâu hơn vào nó, đau, tiếc nuối, khóc cho những ngày đã qua.

Tôi vẫn chưa tìm ra được ý nghĩa cho sự trống rỗng hiện tại…

Nhưng, những năm tháng đó, những năm tháng đó thì tôi đã có câu trả lời rồi. Việc tôi bị bắt nạt như thế giúp tôi sau này dễ đồng cảm với nỗi đau của người khác hơn. Đó là một điều không phải dễ gì có được. Và chính vì những năm tháng đó, tôi đã luôn im lặng, không thể nói được nên tôi mới có thôi thúc viết. Chính vì khó nói lên suy nghĩ của mình nên khi viết, tôi lại càng dễ dàng diễn tả được điều tôi suy nghĩ hơn. Chính vì đã không thể sống thật là tôi, làm những gì tôi muốn ở ngoài đời thực nên tôi làm tất cả những điều đó trong thế giới do tôi tạo ra khi viết: sống thực với tôi, nói những điều tôi nghĩ và… nổi loạn. Đã luôn muốn nổi loạn nhưng ở ngoài đời chẳng có can đảm. Với tôi, viết chỉ đơn giản là thực hiện những điều tôi đã không thể làm được trong đời sống hiện thực.

Xem hơn phân nửa phim, ban đầu tôi có suy nghĩ: phim này cũng khá bình thường, hay thì có hay nhưng sao được nhiều người thích và thành công như vậy? Tôi biết, không khí phim tạo ra khá hay. Một không gian trầm mặc, điềm tĩnh, đúng chất hoài niệm và tự sự. Điều đặc biệt mà không khí phim tạo ra là cả hai mặt cảm giác về thời gian: vừa nhanh vừa chậm. Người ta vừa cảm giác được sự chậm chạp như kiểu một người bình thản kể câu chuyện đã qua của cuộc đời mình, vì nó đã qua rồi nên chẳng việc gì phải kể vội vàng. Đồng thời, đôi khi người ta cũng cảm giác thời gian trôi qua quá nhanh. Đó là do sự mất mát ở những điểm chuyển giao trong cuộc đời của các nhân vật. Có điều gì đó luôn mất mát, nhẹ nhàng, nho nhỏ thôi, khó nhận ra nhưng chắc chắn là có.

Tôi thích một đoạn nữa mà tôi nghĩ với nhiều người, có lẽ nó cũng bình thường, thậm chí với một số người có thể nó còn hơi dung tục. Đó là đoạn cả phòng kí túc xá thủ dâm khi xem phim con heo của Nhật. Mọi người đều đổ mồ hôi và lên đỉnh. Nhưng một người nói: “Cuối cùng, chúng ta làm tất cả chuyện này để làm gì…” Suy nghĩ đó cũng đã chợt đến với tôi đôi lần. Tại sao con người ta lại phải thủ dâm? Nếu không có một ai đó, tại sao không thể đơn thuần chỉ cần chờ đợi người đó đến rồi có thể từ từ làm sau cũng được, cần gì phải luôn làm trước như thế? Ngày còn bé, đương nhiên tôi không hiểu và không ủng hộ chuyện này. Lúc đó, chỉ nghĩ tại sao dục tính con người cao quá, chỉ cần yêu bằng tâm hồn cũng được mà. Nhưng sau này lớn lên dần hiểu, chỉ đơn giản thôi đó là bởi vì họ đã quá cô đơn. Vì cô đơn nên không thể chờ đợi, chờ đợi ai đó đến và chạm vào cơ thể mình. Khoảng thời gian ấy dường như quá dài… nên người ta chỉ còn cách tự chạm vào cơ thể để giải khuây. Đơn giản là vậy thôi. Tôi không hối hận vì đã xem bản uncut. Bản uncut chẳng qua chỉ đơn giản là có thêm khoảng chừng năm, sáu phút đoạn các bạn nam thủ dâm. Tôi thấy cảnh này chẳng có gì phải ghê gớm để cut cả. Cũng chẳng có gì ghê gớm để các bạn nam upload phim trên forum phải khuyên nhau rằng khi xem phim này với bạn gái, nên xem bản cut, đừng xem uncut.

Nụ hôn cuối phim, hay nhỉ…

Nếu như cô ấy muốn nghĩ đó là trò đùa trẻ con thì nó là trò đùa trẻ con. Còn nếu như nghĩ đó là tình cảm thật của anh ấy thì thêm một lần nữa, cô lại nhận ra anh ấy yêu mình nhiều như thế nào, đã muốn chạm vào mình như thế nào…

Kết thúc phim, tôi nhận ra một điều nữa: điểm đặc biệt của phim là có thể khiến người ta khóc mà không cần phải làm bất cứ một cảnh nào quá buồn hay quá cao trào. Mọi thứ cứ nhẹ nhàng diễn ra như cuộc sống. Cuộc sống thực ra cũng vốn có ít kịch tính. Nếu như cuộc sống có nhiều kịch tính thì có lẽ nó đã không khiến người ta phải đau như thế. Vì kịch tính nghĩa là cái gì cũng được đẩy lên quá mức, mà khi đẩy lên quá mức như thế người ta rất dễ dàng nhận ra mình đang buồn vì điều gì, đang mất mát đi điều gì. Còn cuộc sống ngoài đời thực thì cứ nhẹ nhàng trôi đi trên bề mặt nhưng là những nỗi buồn, những mất mát ẩn sâu bên trong, người ta khó nhận ra, không thể nhận ra được trước. Chính vì vậy, khi nó đến mới đau như thế, buồn như thế. Người ta thường dễ đau vì những điều mình đã nghĩ rằng lẽ ra nó vẫn còn tồn tại chứ không phải là mất đi như thế hơn những điều vốn ngay từ đầu đã cảm nhận được là sẽ sớm mất đi… Chính cảm giác mất mát mà không biết mình đã mất nó từ khi nào mới là thứ khiến người ta đau lòng nhất chứ không phải là chính bản thân sự mất mát. You Are the Apple of My Eye làm được điều đó. Mọi thứ thực và nhẹ nhàng nhưng lại chứa đựng sự mất mát ẩn sâu như cuộc sống.

“Khi bạn rất rất yêu một người nào đó thì bạn sẽ hạnh phúc khi thấy người đó có một người yêu thương và đang hạnh phúc…”

Phải rồi. Nếu yêu một ai đó thực sự thì tình yêu đó có thể chiến thắng được nỗi sợ hãi bị lãng quên trong mắt người mình yêu. Chỉ cần người đó được hạnh phúc là đủ rồi.

For lonely night missing the one who was always by my side…
You’re the apple of my eye.

Hết.

Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Vì sao chúng ta luôn đặt ra những cam kết đầu năm? (và vì sao ta luôn thất bại)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Đăng từ

on

Người đăng

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)

Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái từng bị chàng hắt hủi đã chết – phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton, người bảo trợ của Dorian, đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm (New Year’s resolution), ông thấy rằng hơn 50% người Mỹ đều đưa ra những dạng cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman, nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina, được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” – những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại, “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt – những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất – 82% so với mức sàn – diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất – 150% so với mức trung bình – được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng – là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

Xem tất cả những bài viết của Aki-ten tại đây.


Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!