Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Tại sao ta không nên đọc mọi thứ và không nên tin mọi thứ ta đọc?

Đăng từ

on

Con người là một loài có tính xã hội. Mỗi buổi sớm thức dậy, trước cả ánh bình minh, chúng ta bị đánh thức bởi chính hào quang của đồng loại mình. Rồi ta lao từ ổ nhỏ tới hang to, từ thị thành đến nông thôn, từ bất kỳ nơi nao nhanh chóng gia nhập vào bầy đàn ngày càng khổng lồ của xã hội. Chẳng một ai biết đích xác khởi nguyên của các đặc tính xã hội loài người, chỉ biết nó sẽ tồn tại cho đến khi nào chúng ta chưa diệt vong. Các đặc tính xã hội ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của đời sống, sự đọc cũng không ngoại lệ.

Về review

Tôi bắt đầu với chuyện đọc review. Review một cuốn sách có thể hiểu đơn giản là sự phê bình cuốn sách đó bởi một hoặc nhiều người đã đọc qua nó mà không nhằm các mục đích thương mại. Tính thương mại là một điểm rất quan trọng ảnh hưởng đến sự đọc mà tôi sẽ trình bày ở phần sau. Trên lý thuyết, review hoàn toàn có ích khi giúp chúng ta được nhìn nhận cuốn sách mà chưa cần phải đọc. Song trên thực tế, mọi chuyện lại không đơn giản đến thế. Xét về bản chất, review là thứ có tính xã hội: bạn không thể chỉ đọc duy nhất một review được và review sẽ sinh ra sự định hướng chuyện đọc của bạn. Nhưng khi đọc nhiều review thì lại không khác gì tạo ra một thống kê xã hội: khảo sát nhiều đối tượng rồi tập hợp những kết quả tương đồng vào một nhóm dưới dạng phần trăm. Và thống kê xã hội, như tên gọi của nó, sẽ có ý nghĩa xã hội: đồng nghĩa với việc tính cá nhân của nó gần như bằng 0. Vậy nên, khi đọc review, một mặt bạn bị số đông dẫn dắt đi theo thiên hướng cá nhân của họ, mặt khác bạn lại làm cho sự dẫn dắt đó ngày càng nặng nề và càng làm cho cái sự đọc sách mất đi tính cá nhân vốn có của nó. Thế thì có nên đọc review hay không?

Để trả lời câu hỏi này chúng ta hãy quay ngược lại điểm xuất phát. Bạn đọc review để làm gì: để biết cuốn sách trước mắt liệu có đáng đọc? Và ngạc nhiên chưa, khi bạn đang phân vân có nên đọc hay không thì đồng nghĩa với bạn đang muốn đọc nó. Đến lúc này, trong bạn sẽ hình thành hai luồng suy nghĩ: hoặc kiếm tìm một review thúc đẩy cái mong muốn đọc của bạn hoặc dập tắt cái mong muốn ấy, cũng lắm khi là cả hai cùng lúc. Dù lựa chọn theo cách nào thì ngay từ đầu nó đã phụ thuộc vào cách nghĩ của bạn, bạn đọc review chỉ để tìm một cái cớ hợp lý hóa cách nghĩ của mình. Câu chuyện đánh lừa bản thân này không có hại, dĩ nhiên, nhưng cũng không hề có lợi. Chẳng có gì trôi qua ngoài thời gian cả.

Tôi tin rằng bạn đang nghĩ tôi cự tuyệt review. Không, không hẳn đâu. Có một thời điểm review sẽ phát huy tác dụng của nó, đó là khi trong đầu bạn rỗng tuếch, hoàn toàn không có bất cứ một ý niệm gì ngay cả sự phân vân chần chừ đối với cuốn sách vô cùng lạ lẫm trước mắt bạn. Tôi gọi chúng là những review tình cờ, hay qua đường, hay bất chợt. Những review này xuất hiện ngẫu nhiên và vô tình bạn đọc được nó. Nhưng như đã nói ở trên, dù là tình cờ review nó vẫn mang thiên hướng cá nhân của người viết, và hơn nữa sự tình cờ thì lại thi thoảng mới xuất hiện. Để dung hòa mâu thuẫn này coi bộ không đơn giản song cũng không phải là vô phương cứu chữa. Trước hết thiên hướng cá nhân của người viết review mặc nhiên luôn luôn tồn tại, bạn không thể thay đổi hoặc làm nó biến mất. Do đó, bạn hãy chọn lựa những cá nhân có thiên hướng – hay lối suy nghĩ, cách nhìn nhận – càng giống bạn càng tốt, khi ấy những review sẽ càng trở nên tiệm cận với thế giới quan của bạn. Một sự sao chép như vậy giữ cho bạn vừa đủ cho bạn có cái nhìn từ xa về cuốn sách đồng thời không bị hút về tâm của review. Dù vậy, giống như đường tiệm cận chỉ gặp nhau ở vô cực, sẽ vẫn tồn tại những điểm khác biệt nhất định giữa review với bạn. Song vẫn tồn tại một cách cứu vãn tình thế, một đáp án mở ở ngay trước mắt. Lúc này có lẽ bạn đã nhận ra tôi muốn nói điều gì. Phải, chỉ có chính bạn mới là người review tốt nhất cho bản thân. Việc bạn cần làm không gì đơn giản hơn: hãy bắt đầu đọc cuốn sách đó. Đọc càng nhiều thì phản xạ review, nói cách khác cảm giác giống như review sẽ trở nên rõ nét hơn. Trong tương lai không xa, bạn hoàn toàn có thể biết được cuốn sách trước mặt có nên đọc hay không mà chẳng cần đến review!

Câu chuyện review thoạt nhìn trông rối rắm nhưng không khó nắm bắt. Trong khi đó tính thương mại lại âm thầm lặng lẽ ảnh hưởng đến sự đọc mà nhiều lúc chúng ta chẳng thể nhận ra được. Từ góc nhìn review, có thể quan sát phần nào những hình dáng cụ thể của đồng tiền đối với chuyện đọc sách. Đó là những bài review thương mại, những bài điểm sách thương mại, những bài pr hoặc marketing mà tôi gọi chung là những bài quảng cáo sách. Quảng cáo có đầy đủ tính chất của một bài review sách đồng thời sở hữu một cái đuôi mở rộng đáng ngờ đến mức không thể tin được. Từ ngàn xưa đến ngàn sau, từ những tiên dược trị bách bệnh của lang băm thuật sĩ cho đến cống phẩm hoàng cung, từ mớ rau răm ngoài chợ cho đến bitcoin sàn chứng khoán, tất tần tật những lời quảng cáo đều vô cùng đáng ngờ. Đặc điểm cốt tủy để nhận ra quảng cáo giữa một rừng review điểm sách chính là hình ảnh minh họa.Giống như trên bao bì gói mỳ Hảo Hảo hay chai C2, đó đều không phải giá trị thực của sản phẩm – ở đây là sách. Trong thời đại mọi thứ được định giá thì giá trị là cái khó nắm bắt nhất. Nội dung quyển sách bị che mờ bởi những lời hoa ngôn mị ngữ, nếu để ý kĩ sẽ thấy hầu như chúng chẳng hề liên quan. Tinh vi hơn là những quảng cáo sử dụng chính những thứ lấy từ trong sách: những câu trích dẫn quen gọi là quote mà khi bị tách khỏi ngữ cảnh chung sẽ thay đổi ý nghĩa theo hướng có lợi cho người quảng cáo và một thứ quen thuộc không kém chính là bìa sách. Không nói đâu xa, tôi khẳng định nhiều bạn đang đọc bài tôi viết đây chính là do đã thấy tôi giật tít đó thôi. Như vậy, bằng cách sử dụng văn hóa nghe nhìn, quảng cáo gián tiếp tác động tới văn hóa đọc. Văn hóa đọc, hay gần gũi hơn là những thói quen đọc sách của bạn bị ảnh hưởng một cách từ từ, chầm chậm mà bạn không hề hay biết. Bìa sách đẹp, những câu quote hay, tôi chắc không dưới một lần bạn đã chọn sách theo tiêu chí đó. Về cơ bản, hẳn bạn cho rằng nó chẳng ảnh hưởng là bao tới sự đọc của bạn. Tôi không phủ nhận điều đó, song nếu bạn nhìn nhận một cách tổng quan và lâu dài, thì chính thói quen này sẽ cướp đi khỏi bạn cơ hội được đọc những cuốn sách phù hợp với bạn hơn tuy bìa sách không bắt mắt, quote không hấp dẫn hoặc là ít được quảng cáo. Quảng cáo bản thân nó mang tính xã hội dù khả năng định hướng cá nhân không mạnh mẽ được như review. Có một thứ khác nằm ở đỉnh cao của tính thương mại và tác động sâu sắc tới văn hóa đọc: đó chính là best-seller.

Về best-seller

Best-seller hay nôm na sách bán chạy là thứ đậm đặc tính xã hội. Karl Marx từng nói “con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”. Riêng trong sự đọc, cái tổng hòa đó không đâu rõ nét bằng best-seller. Từ cái tên sách bán chạy đã cho thấy nó là những cuốn sách được viết cho một số đông người đọc, và viết về đời sống của số đông người đọc đó. Ngay từ đầu, tác giả đã nhắm vào lượng độc giả đông đảo ấy, nói cách khác best-seller không phải những cuốn sách bán chạy mà là những cuốn sách được viết ra để bán chạy. Ồ có lẽ bạn sẽ cho rằng tôi cứ quanh quẩn bài toán con gà và quả trứng, chẳng có ý nghĩa gì mà cứ thích vòng vo. Nhưng không, hiểu về loại tiền trảm hậu tấu kiểu best-seller này khá quan trọng để tránh bị truyền thông dắt mũi. Trở lại với câu nói của Marx, nếu xã hội có một cái chuẩn cho việc đọc thì best-seller chính là cái trung bình cộng ấy. Cứ tưởng tượng mà xem, sẽ nhàm chán biết bao nếu đó cũng là cái chuẩn của bạn. Xã hội là 1 thì bạn cũng 1, là A thì bạn cũng A, là asdfgh thì bạn cũng asdfgh theo. Bạn suy nghĩ theo cách xã hội suy nghĩ rồi tới lượt cách nghĩ của bạn cũng chính là cách nghĩ xã hội. Một xã hội vận hành lòng vòng như thế, nói theo ngôn ngữ di truyền thì một xã hội giao phối cận huyết như thế sớm muộn sẽ nhanh chóng tới hồi thoái hóa rồi lụi tàn. Sự đa dạng mới là cái giữ cho văn hóa đọc tồn tại và phát triển, tính chất cá nhân trong sự đọc của bạn là điều quan trọng nhất để giữ sự đa dạng này. Bạn cần tạo ra một độ lệch chuẩn cho riêng mình, một mức độ lệch nhất định mang hình ảnh vệ tinh viễn thám, sẽ giữ cho bạn vừa đủ ở ngoài để nhìn rõ mọi chuyện vừa giúp bạn không mất liên lạc với những thứ ở trong. Vậy nên, có những thứ tuyệt nhiên không được tin tưởng, tỉ dụ như là: 12 cuốn sách mà ai cũng phải đọc ít nhất một lần trong đời1, 3 cuốn sách đã làm thay cuộc đời tôi2, 20 cuốn sách bạn phải đọc khi còn trẻ3, 6 cuốn sách con gái nhất định phải đọc4, vân vân và mây mây, ở đây tôi chỉ đề cập đến vài trường hợp làm ví dụ.

Trường hợp 1: Ai cũng đọc rồi làm đúng như 12 cuốn sách thì mọi người đều suy nghĩ giống nhau theo cùng lối mòn.

Trường hợp 2: Đó là những cuốn sách thay đổi đời “tôi” và nhiều khả năng sẽ chẳng làm đổi thay đời bạn vì đơn giản: “tôi” và bạn không giống nhau.

Trường hợp 3: Một sự ngụy biện rõ rành rành, nó không hơn gì một sự áp đặt rằng tuổi tác quyết định trí tuệ và sự thành công.

Trường hợp 4: Về cơ  bản cũng giống trường hợp 1, nhưng vô hình chung nó lại đặt tính nữ cao hơn tính cá nhân và làm mất sự bình đẳng trước việc đọc của nam và nữ.

Những trường hợp trên đều là những cách thức hô biến best-seller điển hình cũng như chung quy chỉ muốn xóa bỏ cái riêng để trở về cái chung. Trong khi chúng ta dành hàng ngàn năm chỉ để đạt tới tiếng nói riêng thì những từ mang hàm ý bắt buộc như “phải”, “nhất định”,… là không thể chấp nhận được. Đáng buồn thay những loại sách khuyến khích sự giống nhau như thế lại lan tràn chiếm cứ một vùng không gian đọc rộng lớn nhất dưới vô vàn lớp vỏ bọc khác nhau. Trong phần kế tiếp, tôi sẽ đi bàn sâu vào chi tiết một số đầu sách kiểu như vậy.

Về self-help

Tôi đang muốn nói tới dòng sách giúp tự phát triển bản thân và các kỹ năng, được biến đến nhiều hơn dưới tên gọi self-help. Vậy thì tại sao self-help lại có sức hút lớn như thế, đến mức gần như bất kỳ ai trong đời cũng đọc ít nhất vài ba cuốn? Tôi nghĩ mình nên dạo qua bản chất của self-help một chút. Nếu suy xét đến tận cùng, self-help rất gần với best-seller, có nghĩa là nó được và phải được viết ra dành cho số đông người đọc. Căn kẽ hơn nữa, những cuốn sách self-help tồn tại dựa trên các đặc tính xã hội, mà đặc tính xã hội là những gì tôi đã đề cập: là review, là quảng cáo, là best-seller. Từ các nhà sách siêu to khổng lồ đến những cửa hiệu nhỏ mang dáng vẻ bao cấp, từ thư viện công cộng cho đến tủ sách gia đình, từ chồng cuốn sách mới kính coong đến mớ sách cũ phủ bụi, mọi lúc mọi nơi, rất dễ để nhận ra một cuốn sách self-help. Chúng được quảng cáo rất rầm rộ mà đa phần là theo những cách trong bốn ví dụ tôi nêu ở trên. Và chúng được quảng cáo, được marketing ngay từ cái tên cuốn sách. Các tác giả self-help không ngần ngại phô diễn ý định của mình từ trang bìa với những cái tên rất kêu đánh trực tiếp vào tâm lý của người đọc: những từ như “làm giàu”, “thông minh”, “đọc vị”, “tâm hồn”,  “nghĩ như X”, “làm như Y”, “sống như Z”,… ngập tràn các mặt sách. Lòng ham muốn, óc tò mò của chúng ta bị kích thích sẽ trỗi dậy, vô hình chung bước vào con đường các tác giả đã vạch sẵn. Vậy là ngay từ khi bắt đầu, các cuốn sách self-help đã muốn kiểm soát chúng ta chứ chẳng phải là chúng ta kiểm soát mọi thứ như tiêu đề của chúng. Không dừng lại ở đó, các cuốn sách self-help mê hoặc người ta với cái bút pháp viết sao cho cái gì cũng trở nên đúng đắn. Để tạo ra sự đúng đắn giả hiệu đó, các tác giả self-help khai thác đến mức tối đa, gần như đào sâu đến mức cạn kiệt những ý nghĩ chung – những ý nghĩ mang tính xã hội mà ai ai cũng từng thoáng qua ít nhất một lần. Cứ như thế, bằng việc viết về những thứ mà ai cũng nghĩ đến, những điều ai cũng dễ dàng chấp nhận mà không cần do dự, các cuốn sách self-help tự biến mình thành chân lý. Từ khởi nguồn là những chân lý sẵn có của xã hội ấy, các tác giả không ngừng mở rộng dòng trường giang đại hải dài dằng dặc thêm những chân lý khác theo phương pháp suy luận cộng dồn theo kiểu 1 cộng 1 bằng 2, còn bạn thì không ngừng thấy cuốn sách sao mà nói gì cũng đúng. Hãy cứ tưởng tượng thế giới là một hệ tọa độ không gian vô hạn về mọi hướng, bạn, các bạn của bạn, các độc giả cùng tác giả là những điểm xác định trên hệ tọa độ đó. Sẽ luôn tồn tại một đường thẳng đưa tác giả đến bạn và luôn có một mặt phẳng được tạo ra giữa tác giả và các độc giả. Bằng cách lợi dụng những nét tương đồng giữa các độc giả, tác giả self-help ngày càng mở rộng mặt phẳng mong muốn của mình. Một khi đã bị hút vào cái mặt phẳng ấy, bạn khó lòng mà không thấy… thế giới phẳng trong khi thực tế lại muôn hình vạn trạng hơn nhiều. Tình cảnh này nom bi đát hệt câu chuyện chú ếch ở dưới đáy giếng. Để tái phát hiện ra thế giới quan của riêng bạn đã bị cái chung làm mờ mịt, tôi cho rằng một vụ phóng thử phi thuyền mang tên BẠN.01 ra khỏi hành tinh self-help, ít nhất ra là khỏi cái mặt phẳng bạn đang sống là việc làm cần thiết. Sau khi ở phía bên trong một thời gian dài, cái nhìn từ phía bên ngoài hẳn sẽ làm bạn choáng ngợp. Bạn sẽ nhận ra từ vũ trụ, Vạn Lý Trường Thành không thể thấy rõ được như người ta từng huênh hoang, hay đỉnh cao chói lọi của self-help Đắc nhân tâm chỉ là cái chấm bé tí xíu. Dale Carnegie còn nhỏ hơn, điều đúng đắn nhất ông từng nói có lẽ là “có thể thay đổi thái độ của người khác khi thay đổi sự đối xử của ta với họ”. Song những tác giả sau ông lại bám vào câu nói đó mà hô biến ra ngàn lẻ một câu chuyện self-help. Trong câu chuyện hô biến này có thể kể ra Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? như là một ví dụ điển hình: tác giả gần như xây dựng toàn bộ cuốn sách của mình dựa trên các nền tảng của Đắc nhân tâm và những sách khác cùng thời. Đơn giản với việc chuyển những công trình nghiên cứu tâm lý hành vi đã được thực tế chứng minh của các tác giả đi trước sang ngôn ngữ hiện đại hợp thị hiếu của thế hệ trẻ tuổi – thế hệ trụ cột của sự đọc hiện nay – nghiễm nhiên Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? trở thành best-seller bán chạy hàng đầu. Theo tôi, thành công của cuốn sách chỉ gói gọn trong phương diện thương mại, còn về mặt nội dung nó cũng giống như một góc nhỏ xíu trong hàng vạn tiếng nói giống hệt nhau cho cùng một vấn đề đơn giản, quá phí phạm thời gian và công sức.

Review là người bạn đồng hành của self-help: rất dễ để người ta truyền tai nhau những điều họ vốn luôn nghĩ nay bỗng dung xuất hiện trong một cuốn sách, còn gì đáng nói hơn thế nữa. Và thế là tam sao thất bản, lan tỏa theo cấp số nhân những điều đã biết. Từ review nhanh chóng tự diễn biến, tự chuyển hóa thành best-seller lúc nào không hay. Nhà giả kim là một ví dụ điển hình cho bộ ba quảng cáo – review – best-seller ấy, đặc biệt là ở Việt Nam. Bây giờ nếu bạn thử hỏi ai đó cho bạn một gợi ý đọc sách, thì tôi đoán sẽ có 1/3 trong đó là Nhà giả kim. Người người làm nhà giả kim, nhà nhà học giả kim thuật trong khi phần đa chẳng có tí tố chất nào của giả kim thuật cả. Tại sao bạn không sử dụng tiếng nói pháp sư, phù thủy, kiếm sĩ, du hành giả… của chính bạn mà lại cứ phải dùng tiếng nói của nhà giả kim. Như vậy thành ra rất thừa mà cũng rất thiếu, thừa giống nhau và thiếu khác biệt. Về phương diện thừa thiếu này thì không đâu sánh bằng các loại sách chiêm tinh. Chỉ từ 12 cung hoàng đạo hay 88 chòm sao mà định đoạt cuộc sống của hơn 7 tỷ người đang sống và hơn 100 tỷ người đã từng sống thì thậm chí còn diệu kỳ hơn cả việc trường pháp thuật Hogwarts phân chia học viên vào 4 nhà. Đặt niềm tin vào những thứ hư vô như thế chỉ làm cho sự đọc trở nên nhàm chán, đi vào lối mòn và mất dần ý nghĩa.

Nghe một bản nhạc, xem một bộ phim, hay đọc một cuốn sách đều hỗ trợ và làm cuộc sống thêm phần thú vị chứ hoàn toàn không quyết định được cuộc đời bạn. Vì thế, ta không nên đọc tất cả mọi thứ và không nên tin tất cả mọi thứ đọc được, bài tôi viết đây cũng không ngoại lệ. Hãy để sự đọc tựa như là đang ngồi dưới gốc cây táo buổi đầu hè, có cơn gió thổi qua làm quả táo rụng trên trang sách, ta nhặt lên và cắn một miếng, thế thôi.

Hết.

3V

Xem tất cả những bài viết của 3V tại đây.


Những bài viết có cùng chủ đề



8 bình luận

8 Bình luận

  1. Hương Nguyễn

    Tháng Tám 23, 2019 at 10:23 sáng

    Cảm ơn bạn đã viết bài này.Như vậy tôi mới có thể nhìn rộng ra và suy ngẫm vào điều.😘

  2. Thiên An

    Tháng Tám 24, 2019 at 4:25 chiều

    Tại sao chúng ta không nên đọc mọi thứ? Thật ra thì đọc xong câu hỏi này mình có cười, tại sao ư? Chúng ta làm gì có thể đọc được mọi thứ trên cuộc đời này. Nhưng “chúng ta không nên tin mọi thứ” thì mình đồng ý với bạn viết bài, góc nhìn và ” tư tưởng” của bạn tôi cũng thấy hợp lí. Về vấn đề self- help, một câu chuyện mà lúc bắt đầu nói thường sẽ tạo thành hai phe. Đắc nhân tâm, nói về cơ sở khoa học thì có thể có nhiều thứ không có căn cứ khoa học nhưng áp dụng nó khá là hợp lý.

  3. Người Giao Bánh

    Tháng Tám 27, 2019 at 6:07 sáng

    Không thể phủ nhận lợi ích của việc đọc đối với mỗi một người trong dòng chảy vận hành và phát triển không ngừng của xã hội. Nhưng để nói rằng cái lợi đó sâu sắc tới đâu thì còn tùy thuộc vào trình độ nhận thức, đánh giá, thẩm thấu của mỗi một người nữa. Vì có những cuốn sách rõ ràng trên thực tế, đối với người này rất thiết thực, đưa sang người khác lại chỉ mang ý nghĩa mơ hồ.

    Sách có câu chuyện và nội dung thông điệp của riêng mình, bởi thế mà nó được nhân rộng. Một người đọc sách chính là để phát hiện ra hình ảnh của chính mình trong những câu chuyện như vậy, thông qua văn chương lẫn cuộc đời một ai đó.

    Mình cho là, đến cùng ý nghĩa của việc đọc không chỉ dừng lại ở việc bạn đọc một tác phẩm, nghị luận về nó đơn thuần giống năm xưa học văn. Văn học phổ thông có người dẫn dắt bạn xâu chuỗi diễn biến tâm lý nhân vật, có thang điểm hỗ trợ bạn nếu bạn cảm thấy hồ nghi ; nhưng văn học sau khi bạn quyết đinh tự chinh phục hoặc tìm tòi nó lại đòi hỏi bạn phải tự định hướng con đường của riêng bản thân. Bạn học được gì, tìm thấy gì, tin vào giá trị gì…tất cả các lý thuyết đó đều nằm ở cái tầm mà bạn có thể nhận thức.

    Albert Einstein nói một câu rất hay rằng: “Người đọc quá nhiều và dùng tới bộ óc quá ít sẽ rơi vào thói quen suy nghĩ lười biếng.” Câu nói này nếu đem ứng đối với một số các mọt mình tin là sẽ thể hiện được khá nhiều các cung bậc trong nếp sống đọc nói chung. Chẳng hạn, có những người vì đọc quá nhiều mà trở nên cứng nhắc, lý thuyết, giáo điều; lại có một số khác chỉ cần cảm thấy có chút bấp bênh liền tìm đến sách như chiếc phao cứu sinh của cuộc đời mình. Nhà văn trước khi viết ra một tác phẩm, cũng giống như một con ong thợ cần mẫn, họ cũng đọc, quan sát và chiêm nghiệm mọi điều. Văn chương chỉ phản ánh một phần thôi cái mà chúng ta luôn tìm kiếm, phần còn lại, buộc chúng ta kiên nhẫn lắng nghe, để ý và thấu đáo nhiều hơn.

    Vậy nên sách không phải tất cả, tất cả nằm ở nơi bản thân mỗi người. Cái lợi sâu sắc của người biết tìm đến sách và đọc nó, trước hết thứ người đó có được là sự khiêm nhường, biết mình biết ta. Sách tuy không nói anh còn hạn chế ở những mặt này, nhưng nó đánh thức anh rằng anh phải tỉnh dậy và sáng suốt bởi những điều rộng lớn vẫn hiện diện quanh anh. Một người chỉ cần hiểu được mình nhỏ bé, sự nhỏ bé ấy chắc chắn sẽ nuôi dưỡng trái tim họ lớn lên.

    Mình không hay đọc trước review một phần cũng vì vậy, mình chỉ tin đến cùng những thứ đọng lại sẽ không nhiều. Mỗi lần mình bắt đầu với quyển sách bất kỳ nào đó, mình cố gắng đầu tiên là đọc nó kỹ nhất có thể. Cho tới khi đã hoàn thành xong tác phẩm, việc chọn làm thứ hai là đọc chậm phần nhận xét hoặc tóm gọn nội dung cuốn sách ở những trang bìa. Nếu có phần nào sâu sắc nhất giúp bạn hệ thống hóa lại và củng cố toàn bộ các chương, hồi, đoạn…bạn đã đi qua thì phần này sẽ là một phần không thể bỏ sót. Cuối cùng, trong trường hợp thật sự tò mò muốn tìm hiểu sâu hơn, mình tìm đọc review tổng hợp mọi người viết.

    Sách best seller hoặc self help không hẳn là lựa chọn phổ thông, nhưng đối với một người đọc sau khi đã định hình được cái mình muốn khám phá, biết rõ đâu mới là thể loại của mình, mình tin là trong list sách có sẵn tự họ sẽ chọn ra được cuốn sách thiết thực với mình nhất. Kể cả trong trường hợp một quyển sách không phù hợp chẳng hạn, quyển sách đó chắc chắn cũng sẽ chứa đựng một số thông điệp áp dụng được vô những mảng đời sống thường ngày. Bởi vậy nên không có cuốn sách nào thật sự vô giá trị. Sách luôn đem lại giá trị ít hoặc nhiều cho mỗi một cá nhân. Chỉ là tùy vào từng thời điểm mà bạn đọc nó, nó sẽ để lại trong bạn những dấu ấn khác nhau. Theo thời gian, thứ thay đổi không phải câu chữ có trong sách mà là cái tôi đã lớn khôn hơn và dần trưởng thành.

    Tựu chung, quan điểm của mình về vấn đề này là cái gì cũng chỉ mang tính chất tương đối. Đọc sách tuy nói rằng rất quan trọng nhưng không quan trọng bằng việc bạn đọc nó thế nào? Bạn có để cuộc đời mình bị lệ thuộc hoàn toàn vào trong đó hay không? Bạn đang tỉnh táo hay mộng mị?

    • Cháo đậu đỏ

      Tháng Ba 21, 2020 at 8:12 sáng

      Đầu tiên thực sự rất cảm ơn tác giả 3V Hiện em cũng đang cảm thấy bối rối khi những cuốn sách em thích thì lại có ít người đọc, em sợ là em sẽ bị tụt hậu và tự mình cô lập trong thế giới của riêng em. Bởi cái tập tính sống bầy đàn từ nhỏ nên khi lớn lên và đi ngược với số đông, em cảm thấy bất an và nghi ngờ bản thân mình. Nhưng nay đọc được bài viết này, em đã thở phào nhẹ nhõm. Có lẽ phủ định cái đúng đắn “hằng số” của đường mòn là cái tất yếu cho sự phát triển.
      Còn về review, nói thật là em không thích đọc tí nào. Em sợ sau khi đọc xong, tâm lý của em sẽ mặc định sẵn kiểu như người ta hiểu, em cũng phải cố hiểu và bỏ quên những cái em có thể hiểu mà chưa chắc người khác hiểu được. Em thích đọc sách với một trang giấy trắng hơn là vẽ trước một cái khung rồi áp cuốn sách ấy vào.

  4. Pingback: Mọt sách chả phải là một loại cá tính đâu – Bookish

  5. Pingback: Đằng sau một cuốn sách là con người và cuộc sống – Bookish

  6. Pingback: Fiction vs Non-fiction từ góc nhìn kinh tế – Bookish

  7. 3V

    Tháng Ba 30, 2020 at 5:00 sáng

    Cảm ơn các bạn đã góp ý 😀

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Từ sách đến phim: Tản mạn về tiểu thuyết “Mắt biếc” và chuyển thể điện ảnh

Đăng từ

on

Người đăng

Mắt biếc là tiểu thuyết thành công của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, ra mắt vào năm 1990 và đã đi vào lòng nhiều thế hệ người đọc ở cả Việt Nam và quốc tế. Cuối năm 2019, độc giả yêu mến nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã được mãn nhãn với sự ra mắt của bộ phim Mắt biếc được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên. Theo cá nhân tôi đánh giá, đây là một bộ phim thành công trong việc cụ thể hóa hình tượng các nhân vật trong nguyên tác một cách khá hợp lý; bối cảnh và kỹ thuật quay phim cũng rất ấn tượng… Tuy nhiên, đối với những người đã đọc và yêu mến nguyên tác thì bộ phim vẫn còn nhiều vấn đề cần phải bàn luận lại.

Hà Lan có từng yêu Ngạn hay không?

Trong chuyển thể điện ảnh, tình cảm của Hà Lan đối với Ngạn đã được đoàn làm phim khẳng định rõ ràng qua phân cảnh trong rừng sim, trước lúc mà Hà Lan lên thành phố. Cụ thể hơn, nhân vật Hà Lan trong phim đã có những biểu cảm ngại ngùng, chờ mong, thất vọng… trong cái khoảnh khắc mà Ngạn “suýt” hôn mình. Điều đó chứng minh rằng Hà Lan chắc chắn đã từng yêu Ngạn. Vậy còn trong nguyên tác, khi mà những biểu cảm đó chưa từng xuất hiện thì sao? Hãy cùng phân tích tiểu thuyết gốc để trả lời câu hỏi này nhé.

Cũng như trong phim, Hà Lan và Ngạn trong tiểu thuyết có một tuổi thơ êm đềm và gắn bó. Chưa biết giữa họ có tình yêu hay không, nhưng phải khẳng định rằng Hà Lan và Ngạn có một tình bạn thân thiết, và tình bạn đó đã tiến thêm một bước nhỏ nữa bằng những lời hát nồng nàn của Ngạn. Giữa Hà Lan và Ngạn đã manh nha tồn tại một chút gì đó “trên tình bạn nhưng dưới tình yêu”; họ đã biết tìm những khoảng không gian cho riêng nhau, cảm thụ tình cảm của nhau…

“Tôi về làng với Hà Lan. Tất nhiên chúng tôi đi chung với cả một đám bạn. Nhưng dọc đường, hai đứa tôi cố tình đi tụt lại phía sau. Thoạt đầu, bạn bè còn dừng xe lại chờ. Về sau, thấy chúng tôi không có vẻ gì muốn tiến lên phía trước, tụi nó chán quá, liền vọt thẳng. Còn lại hai đứa, tôi với Hà Lan thong thả đạp xe đi. Sau một tuần lễ vùi đầu vào học tập, ngày thứ bảy là một ngày thảnh thơi tuyệt diệu. Chiều loang nắng, chúng tôi lặng lẽ đi bên nhau, lòng êm đềm và thanh thản.”

Sỡ dĩ tôi cho rằng mối quan hệ này “trên tình bạn, dưới tình yêu” là dựa vào phân tích các phản ứng của của nhân vật Hà Lan trong nguyên tác. Cụ thể hơn, Hà Lan trả lời rằng cô đã biết những bài hát mình được nghe là của Ngạn sáng tác, nhưng biểu cảm lúc đó lại là hờ hững, là “tỉnh khô”. Hơn nữa, Hà Lan còn có phản ứng trốn chạy vào nhà khi Ngạn hát những câu từ yêu thương “rõ ràng” hơn bình thường.

“Một mình anh đang ngồi

Không dưng em bước tới

Anh bỗng thành song đôi.”

Nếu nói Hà Lan trốn vì ngại ngùng thì quá gượng ép. Rõ ràng Hà Lan tuy đã hiểu tình cảm của Ngạn, nhưng cô chỉ muốn tình cảm đó dừng ở một mức độ mập mờ và không muốn Ngạn tiến xa hơn nữa. Phản ứng của Hà Lan có thể là biểu hiện của một phức cảm rất nguyên thủy và thường thấy ở con người, cái cảm giác thỏa mãn khi được người khác giới yêu thương hay khi được nghe những ngôn từ chỉ thuộc về bản thân mình, cho dù bản thân chưa chắc đã có thể đáp lại tình cảm đó.

Dựa vào những phân tích trên, cá nhân tôi cho rằng Hà Lan vẫn chưa từng yêu Ngạn trong nguyên tác. Tình cảm của Hà Lan đối với Ngạn tuy vẫn có tồn tại, nhưng chỉ ở một mức độ mông lung, không rõ ràng, không đến mức độ của tình yêu. Tâm lý Hà Lan trong nguyên tác hoàn toàn phù hợp với tâm lý thực tế của một cô bé mới lớn và vẫn còn lạ lẫm với chuyện yêu đương. Đó là phản ứng nên có ở một thiếu nữ thích thú khi lần đầu nếm được tình yêu từ một người khác giới, và chính việc tình cảm của Hà Lan thay đổi quá nhanh từ khi gặp Dũng đã chứng minh tình cảm của cô dành cho Ngạn là ở mức độ nào rồi.

Về tình cảm giữa Trà Long và Ngạn

Theo tôi, Trà Long và Ngạn là hai nhân vật ít có sự thay đổi giữa chuyển thể điện ảnh với nguyên tác nhất. Dưới góc nhìn của một độc giả yêu mến nguyên tác, tôi đánh giá cao khi đoàn làm phim đã truyền tải khá chính xác tình cảm của hai nhân vật này. Vậy nên ở phần tản mạn này tôi xin phép phân tích chung về tình cảm của hai nhân vật, không có sự so sánh, đối chiếu giữa hai phiên bản.

Như chúng ta đã biết, Trà Long là con gái của Hà Lan với Dũng, cô bé được gửi về quê từ lúc còn tấm bé. Không chỉ vì hoàn cảnh kinh tế, mà còn vì Hà Lan lúc này rất muốn quên Dũng. Làm sao Hà Lan có thể quên đi khi luôn giữ kết tinh máu thịt của Dũng bên mình? Vậy nên cô đã chọn cách rời xa con và dùng công việc để quên dần những lầm lỡ của tuổi thanh xuân. Còn Ngạn, anh đã chọn quê hương từ rất lâu và thời điểm này Ngạn đã chứng minh điều đó. Ngạn trở về ngôi làng Đo Đo yên bình và thân thuộc, nơi có những kỷ niệm đẹp nhất của riêng anh, và cũng ở nơi này, Ngạn tìm thấy một hình ảnh nho nhỏ để bám víu vào – đó chính là Trà Long.

Ban đầu, tình cảm của Ngạn đối với Trà Long rất gần với tình cảm cha con. Hay nói đúng hơn, Ngạn mong muốn được thay Dũng làm cha của cô bé Trà Long tội nghiệp. Cái hi vọng nhỏ nhoi về một gia đình ba người đã nhen nhóm trong Ngạn từ lúc mà Trà Long được sinh ra, và Ngạn đã thực sự cố gắng để điều đó thành hiện thực. Ngạn đã ở bên cạnh, đã yêu thương và chăm lo cho Trà Long như với đứa con ruột của chính mình, và có lẽ Trà Long cũng từng rất muốn Ngạn làm được điều đó.

Từ lúc lên lớp năm, Trà Long đã đủ thông minh và tò mò để tìm hiểu về người cha ruột và không ai có thể trả lời cho cô bé. Với sự thông minh của mình, Trà Long có lẽ đã hiểu rằng cha ruột mình là một người cha không xứng đáng, thế nên mỗi khi Hà Lan về thăm, Trà Long đều cố gắng để cả ba người Hà Lan-Ngạn-Trà Long được ở bên nhau. Hành động của Trà Long đã chứng minh cho mong muốn của cô bé, mong muốn Ngạn trở thành một người cha thực thụ của mình.

Mọi thứ thay đổi từ lúc Trà Long lớn lên thành thiếu nữ. Cô bé ngày càng giống mẹ “như hai giọt nước”, giống đến mức khiến Ngạn đôi lúc lầm lẫn giữa cả hai. Khi ngắm nhìn một khung cảnh quen thuộc đầy kỷ niệm sẽ thường kích động tâm trí hồi tưởng về những ký ức liên quan, trường hợp của Ngạn chính là như vậy. Hơn thế nữa, bên cạnh Ngạn còn có một bản sao của Hà Lan. Như vậy làm sao mà Ngạn có thể dằn lại được sự rung động của trái tim? Làm sao còn có thể coi Trà Long là cô con gái nhỏ bé của mình? Đúng vậy, Ngạn đã yêu Trà Long dưới cái bóng của Hà Lan và chắc chắn anh đã hoảng sợ khi nhận ra điều đó. Tình cảm này là không đúng đắn đối với Ngạn và anh buộc phải bỏ chạy để bản thân không phải phạm sai lầm.

Với Trà Long, cô bé yêu thương Ngạn vì một mặc cảm tội lỗi. Trà Long đã quá hiểu tình cảm của Ngạn dành cho mẹ mình và còn hiểu hơn nữa việc tình cảm đó sẽ không có kết quả. Cô bé chỉ muốn bù đắp cho Ngạn những tổn thương mà Hà Lan mang lại chứ không hẳn là tình yêu. Có lẽ, Ngạn đã nhận ra điều đó khi quyết định trốn chạy Trà Long – cũng chính là trốn chạy chính bản thân mình.

Tại sao đoàn làm phim lại thêm nhân vật Hồng?

Hồng là nhân vật không hề tồn tại trong tiểu thuyết gốc của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Đoàn làm phim muốn nhấn mạnh một điều gì đó, một ý nghĩa nào đó khi thêm nhân vật nữ phụ này vào bộ phim – vậy ý nghĩa tồn tại của nhân vật này là gì? Nó có đủ lớn để nhân vật tồn tại hay không?

Như Xuân Diệu đã từng than thở:

“Yêu, là chết ở trong lòng một ít

Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?”

Trong tình yêu ai mà chẳng một lần đơn phương. Không có ai bắt buộc Ngạn phải yêu thương Hà Lan và cũng không có sức mạnh nào có thể làm điều ngược lại. Đối với Hồng cũng vậy, Hồng chỉ tồn tại như một phần của chuyến tàu tình yêu trái ngang, nơi mà những toa tàu nối đuôi nhau trong một hành trình vô định. Hà Lan mãi chạy theo bóng hình của Dũng, Ngạn nối đuôi theo mắt biếc của đời mình trong nỗi khổ đau, Hồng dõi theo Ngạn… và những người mà cô đã từ chối là những toa tàu ở đằng sau, sau nữa, kéo dài nỗi khổ đau đến một điểm vô cùng.

Có ai đã từng tưởng tượng một viễn cảnh khác, khi mà Ngạn có thể từ bỏ tình yêu với ngôi làng Đo Đo để làm việc ở thành phố, để ở bên cạnh Hà Lan cái lúc mà cô đang dùng công việc để quên đi nỗi đau của mình. Nếu Ngạn có thể làm như vậy thì liệu Hà Lan có chấp nhận anh hay không? Câu trả lời đã được đoàn làm phim đáp lại bằng nhân vật Hồng, khi mà Hồng đã có thể từ bỏ tương lai để quay về Đo Đo cùng Ngạn. Hồng không yêu ngôi làng của mình quá nhiều như Ngạn và cô trở về chỉ vì có Ngạn ở đó (điều này được chứng minh qua lời bộc bạch cuối cùng của Hồng trước khi ra đi). Cuối cùng, Ngạn không thể chấp nhận Hồng, và có lẽ nếu Ngạn làm theo cách của Hồng thì Hà Lan cũng sẽ không chấp nhận Ngạn.

Như vậy, có thể thấy mục đích mà đoàn làm phim thêm nhân vật Hồng vào chuyển thể điện ảnh là để nâng cao, để nhấn mạnh phần nào giá trị ý nghĩa của nhân vật Ngạn. Hơn thế nữa, nhân vật Hồng là một nhân vật cần thiết để hiển thị rõ cái thứ được coi là nghịch lý của tình yêu, cái thứ mà chúng ta vẫn thường gọi là “đơn phương” một cách đầy đớn đau, đầy ảm đạm.

Tản mạn về cái kết

Cái kết là phần mà cá nhân tôi không thích nhất trong chuyển thể điện ảnh. Đoàn làm phim “không cho” Hà Lan lấy chồng như nguyên tác và dẫn đến tình tiết nhân vật này bỗng nhiên chấp nhận tình cảm của Ngạn ngay lúc biết tin anh lên tàu quyết định ra đi. Ý tưởng của đoàn làm phim có thể là người ta chỉ biết trân trọng khi đã mất đi, đây là một ý tưởng hay – nhưng không phù hợp và phần nào đã làm giảm giá trị mà nguyên tác muốn truyền tải.

Với một chuyển thể điện ảnh dạng chiếu rạp thì đây vẫn là một đoạn kết hợp lý, nó phù hợp với phần lớn những người yêu thích phim và chưa đọc qua nguyên tác. Cái kết không quá buồn và tuyệt vọng, lại phần nào tạo ra một cái kết mở để người xem có thể tự dự đoán tương lai của Ngạn và Hà Lan. Có thể Hà Lan sẽ đi theo và tìm được Ngạn, có thể là một ngày nào đó Ngạn quay về thăm và thấy Hà Lan vẫn chờ, cũng có thể cả hai sẽ liên lạc được với nhau qua thư từ để rồi tìm về với nhau… rất nhiều chuyện “có thể” xảy ra khiến cái kết giảm đi nhiều sự hụt hẫng và đến gần với nhiều người xem hơn là cái kết theo đúng nguyên tác mang lại.

Việc thay đổi cái kết tỷ lệ cao là sẽ mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho nhà làm phim. Thế nhưng, cái mất đi ở đây là giá trị cốt lõi của nguyên bản, cái giá trị khiến cho độc giả phải đọc đi đọc lại, cái cảm giác buồn rười rượi và day dứt khó quên sẽ khó mà đạt được ở phiên bản điện ảnh này. Dĩ nhiên, chuyển thể điện ảnh của đạo diễn Victor Vũ vẫn là một sản phẩm nghệ thuật đáng khen trên nhiều phương diện, việc ấn phẩm đưa nguyên tác đến rộng rãi người xem hơn cũng là một điểm thành công rất đáng để những độc giả yêu mến nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đón nhận phiên bản chuyển thể này.

Hết.

Nguyễn Đình Duy Lộc


Nếu bạn yêu tác giả Nguyễn Nhật Ánh…


Đọc bài viết

Trà chiều

Quan điểm của một nhà nhân khẩu học về đại dịch Corona: Hồ sơ tuổi tác, hiệu quả của các biện pháp và dòng chảy lây nhiễm

Một cuộc thảo luận về hiệu quả của việc đóng cửa trường học, lịch sử bùng phát dịch bệnh, ảnh hưởng không cân xứng đến các nhóm tuổi khác nhau và những gì mà các nhà nhân khẩu học biết được về dân số đang già hóa.

Đăng từ

on

Người đăng

A DEMOGRAPHER’S VIEW OF THE CORONAVIRUS PANDEMIC

Isaac Chotiner phỏng vấn C. Jessica Metcalf

C. Jessica Metcalf, giáo sư sinh thái học, sinh học tiến hóa và phụ trách quan hệ công chúng tại Đại học Princeton, là một nhà nhân khẩu học chuyên nghiên cứu về sự lây lan của bệnh truyền nhiễm. Liên quan đến các chính sách y tế, công việc của cô hiện nay có vai trò đặc biệt quan trọng khi các nhà khoa học và quan chức chính phủ đang tìm mọi cách để ngăn chặn sự lây lan của COVID-19, chủng mới của virus Corona.

Gần đây, tôi đã hai lần trò chuyện điện thoại1 với Metcalf về công việc của cô và cách các nhà nhân khẩu học đối phó với sự lây lan chóng mặt của dịch bệnh này. Cuộc thảo luận xoay quanh lý giải liên quan đến hiệu quả việc đóng cửa trường học, lịch sử bùng phát dịch bệnh, ảnh hưởng không cân xứng đến các nhóm tuổi khác nhau và những gì mà các nhà nhân khẩu học biết được về dân số đang già hóa.

Isaac Chotiner (I. C.): Với tư cách là một nhà nhân khẩu học, điều gì chủ yếu làm quan tâm đến virus Corona?

C. Jessica Metcalf (J. M.): Có rất nhiều yếu tố rủi ro gắn liền với virus Corona, và tôi cảm thấy dường như chúng ta biết thêm những điều mới mẻ và khác biệt về nó mỗi ngày. Nhưng một dấu hiệu rõ rệt có vẻ đang xuất hiện là quỹ đạo tuổi tác liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong. Người già dường như có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Với tư cách là một nhà nhân khẩu học, điều này cho tôi đòn bẩy để thử nghiệm và dự đoán hậu quả sẽ xảy đến khi virus càn quét qua nhiều quốc gia khác nhau, vì một trong những điểm khác biệt nhất giữa các quốc gia trên thế giới là hồ sơ tuổi tác. Dĩ nhiên là cũng có hàng triệu điểm khác biệt khác. Năng lực vận hành của hệ thống y tế thường đi theo hướng khác, nhưng nó cung cấp cho bạn một phép chiếu. Ý tôi là, các nước có độ tuổi trung bình lớn hơn thường là các nước phát triển hơn, cũng có hệ thống y tế hoạt động tốt hơn, vì vậy, mặc dù gánh nặng có thể lớn hơn, họ sẽ có khả năng đáp ứng tốt hơn.

I. C.: Nhân khẩu học có thể đem đến chỉ dẫn gì trong cách thức chống lại virus? Làm cách nào mà nhân khẩu học giúp phòng chống sự lây lan?

J. M.: Nhân khẩu học là một chiếc ô rất rộng. Tự gọi mình là nhà nhân khẩu học cũng có nghĩa là bạn có thể làm bất cứ điều gì – đúng, bởi vì mọi thứ đều sinh ra và chết đi. Có thể nói, rất nhiều công cụ được dùng để nắm bắt và mô tả những biến đổi của bệnh truyền nhiễm, ở quy mô nào đó, là công cụ nhân khẩu học. Ví dụ, tôi không biết liệu rằng anh đã từng nghe nói về mô hình nổi tiếng – rất nổi tiếng ở trong một cộng đồng rất nhỏ – là mô hình có thể nhiễm bệnh – đã nhiễm bệnh – hồi phục chưa.

I. C.: Đúng là tôi chưa từng nghe thấy.

J. M.: Một trong những cách cổ điển mà ta có thể dùng để mô tả sự bùng phát đại dịch là bạn lấy thế giới và bạn chia tách nó thành các “lớp” chứa nhiều cá nhân. Đặc biệt đối với dịch bệnh quy mô lớn và mới mẻ như lần này, hầu hết các cá nhân trên thế giới đều nằm trong lớp dễ mắc bệnh. Sau đó, theo thời gian, nếu họ tiếp xúc với cá nhân đã nhiễm bệnh và họ cũng bị lây, họ sẽ chuyển vào lớp bị nhiễm. Sau một khoảng thời gian, họ sẽ hồi phục. Chỉ cần định nghĩa đơn giản này (mà từ đó ta có thể viết thành mô hình toán học) mô tả dòng chảy của các cá nhân giữa các lớp khác nhau, bạn có thể nhìn nhận chuyên sâu về tốc độ lây lan của dịch bệnh và những gì bạn có thể trông đợi trong tương lai. Từ đó, bạn cũng có thể đánh giá những thứ như hồ sơ tuổi tác bị nhiễm bệnh.

I. C.: Cô có thể miêu tả một chút về công việc của mình, và sự tương tác của với các chuyên gia y tế là như thế nào không?

J. M.: Tôi chủ yếu là người thống kê và dựng mô hình toán học, vì vậy những gì tôi làm là làm việc với dữ liệu mà người khác đã thu thập, sau đó xử lý dữ liệu đó thông qua các lý thuyết và mô hình chúng tôi có, để thử nghiệm và hiểu rõ hơn các quy trình mà chúng tôi thấy. Ví dụ, trận đại dịch xảy ra ở Vũ Hán cho thấy sự tăng trưởng theo cấp số nhân ở giai đoạn đầu, và các mô hình mà chúng tôi tạo lập cho phép xác định các đặc điểm chủ chốt của đợt bùng phát, chẳng hạn như số ca nhiễm mới tính trên mỗi cá nhân truyền nhiễm, và cả khoảng thời gian nối tiếp hoặc thời gian ngăn cách các cá nhân lây bệnh cho nhau. Về cơ bản, chúng tôi cố gắng kết nối các bằng chứng hiện hữu, với giả thiết rằng cơ chế mà chúng tôi nghi ngờ đang diễn ra là đúng.

Tôi cũng làm một số công việc ngoài văn phòng nhất định. Có một khoảng thời gian tôi trưởng thành ở Madagascar, vì vậy tôi làm việc chặt chẽ với các sinh viên hệ sau tiến sĩ và thạc sĩ, những người làm rất nhiều việc, ví dụ như nghiên cứu cách thức bệnh dại lây truyền khắp Madagascar, hoặc hiểu cách mầm bệnh gia cầm lây lan trong quần thể dân số này.

I. C.: Có điều cụ thể về đại dịch này đặc biệt gây chú ý trong vài tuần qua không?

J. M.: Dường như quy luật “tiiếp xúc theo tuổi tác” là một trong những yếu tố quyết định người bị nhiễm bệnh thường nằm trong độ tuổi nào. Nguyên nhân là vì chúng ta có xu hướng tiếp xúc với những người cùng độ tuổi, và điều đó dẫn đến tập trung truyền nhiễm trong các nhóm tuổi cụ thể. Thường thì bạn có xu hướng nói chuyện với người bằng tuổi, và khi bạn khoảng hai mươi hay ba mươi tuổi, bạn bắt đầu nói chuyện với những người nhỏ tuổi hơn vì mọi người bắt đầu có con. Nếu bạn định lượng mức độ tiếp xúc, bạn cũng thấy rằng trẻ em dường như có mức tiếp xúc với nhau cao hơn nhiều so với bất kỳ nhóm tuổi nào khác. Và điều đó có nghĩa chúng là một trung tâm “truyền dẫn” bệnh quan trọng.

Đó là kết luận thường gặp, nhưng không phải là những gì chúng ta thấy hiện nay. Chúng tôi không biết chắc tất cả mọi thứ vì dữ liệu vẫn đang được cập nhật. Chúng tôi không biết liệu có phải trẻ em, dù hoàn toàn không xuất hiện triệu chứng, nhưng vẫn có khả năng truyền bệnh hay không. Tôi nghĩ vẫn còn rất nhiều câu hỏi thú vị ở ngoài kia, nhưng điều đó thực sự ảnh hưởng đến cách chúng ta nghĩ về những việc như đóng cửa trường học để kiểm soát dịch bệnh.

I. C.: Việc đóng cửa trường học nói riêng khiến cô có suy nghĩ gì?

J. M.: Trong đại dịch cúm năm 2009, một trong những biện pháp được thực thi là đóng cửa trường học. Nó có khả năng giảm lây nhiễm, có thể làm giảm rủi ro trong dân số nói chung. Và một trong những điểm nhấn tuyệt đối trong tình thế như vậy là cố gắng “làm phẳng đường cong”2, vì một trong những mối quan ngại thực sự là áp lực khổng lồ lên hệ thống y tế. Nếu chúng ta nghĩ rằng trẻ em là một trung tâm truyền nhiễm quan trọng, thì có một cách để giảm thiểu lây nhiễm là đóng cửa trường học. Nhưng, nếu trẻ em không phải là một trung tâm truyền nhiễm, thì đây không phải là một chiến lược hiệu quả. Vì vậy, nó là một câu hỏi quan trọng. Và tôi nghĩ việc tính toán những điều này là vô cùng khó khăn, bởi việc đóng cửa các trường học áp đặt rất nhiều lên chi phí kinh tế và ảnh hưởng đến xã hội, những chi phi này có tác động mang hướng giới tính. Đó là việc những bà mẹ phải ở nhà để chăm sóc những đứa trẻ. Có rất nhiều chi phí đi kèm với lựa chọn đóng cửa trường học.

I. C.: Còn luận điểm rằng chúng ta nên áp dụng bất kỳ hình thức cách ly xã hội khả dĩ vì bất kỳ loại tụ tập đông người nào đều vô cùng tồi tệ trong thời điểm hiện tại, điều gì đưa ra kết luận đó?

J. M.: Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta nên cân nhắc việc cách ly xã hội trong thời điểm hiện tại; chúng ta nên cố gắng giảm bớt sự lây lan càng nhiều càng tốt. Tôi không biết bạn bao nhiêu tuổi, nhưng bạn và tôi có lẽ không thuộc nhóm có nguy cơ cao. Nhưng nó không phải là về rủi ro cá nhân – mà là về giảm thiểu rủi ro trong dân số. Tôi nghĩ, chắc chắn là bạn nên rửa tay nhiều hơn trước đây, rửa tay trong hai mươi giây thật cẩn thận, và sau đó suy nghĩ về việc bạn sử dụng bao nhiêu phương tiện giao thông công cộng, mức độ mà bạn có thể giữ cho mình một chút khoảng cách xã hội, có lẽ là một điều thực sự tốt. Càng kéo dài thời gian càng tốt. Rất nhiều hội thảo khoa học mà tôi đang cân nhắc tham dự vừa bị hủy bỏ tại miền Bắc nước Ý, và tôi nghĩ rằng đó là bước đi đúng đắn.

I. C.: Quay lại lịch sử trong một phút, bạn có thể nghĩ ra một ví dụ nào đó mà người già đặc biệt dễ bị tổn thương như lần này không?

J. M.: Có một ví dụ về bệnh giun chỉ hay còn gọi là bệnh mù lòa đường sông3. Tôi lớn lên ở nhiều nơi ở Châu Phi, và căn bệnh này là một thứ gì đó xuất hiện từ từ theo tuổi tác. Điều đó có nghĩa là, ở một số vùng, hầu hết người lớn tuổi cần các cậu bé hoặc trẻ em dẫn đường vì họ không thể nhìn thấy nữa, họ đã bị mù. Tôi nghĩ rằng đó là hình mẫu của bức tượng trước trụ sở Tổ chức Y tế Thế giới. Việc kiểm soát được bệnh mù lòa đường sông ở nhiều nơi trên thế giới là một chiến thắng đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, nó vẫn tồn tại ở một số nơi.

Ảnh: The Lancet

I. C.: Ngành nhân khẩu học có cách nào để giúp ngăn chặn dịch bệnh trong tương lai không?

J. M.: Đó là một câu hỏi thú vị. Tôi nghĩ rằng, liên quan đến cách thức nhìn nhận thế giới, nhân khẩu học khiến ta nhận ra dân số đang ngày càng già hóa, đi kèm là một loạt các thách thức trong mọi phương diện, từ hệ thống y tế đến hồ sơ bảo hiểm. Tôi không nghĩ rằng đây sẽ là đại dịch cuối cùng. Một trong những điều đáng sợ về đại dịch cúm năm 1918 là nó ảnh hưởng đến những người trẻ tuổi hơn, những người dường như chịu tỷ lệ tử vong cao hơn. Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu cách thức và dấu vết mà đại dịch sẽ giao với quỹ đạo tuổi tác của dân số. Theo thời gian, hầu hết các quốc gia sẽ chuyển từ tình trạng các ca tử vong đa số do bệnh truyền nhiễm gây ra (thường xuất hiện ở độ tuổi rất trẻ), sang viễn cảnh các ca tử vong đa số do những “bệnh tuổi già” gây ra như đột quỵ, bệnh tim hoặc những bệnh tương tự (xuất hiện ở những năm cuối đời). Các quốc gia khác nhau đang ở những giai đoạn khác nhau trong bước chuyển ấy. Thật khó để nói trước điều gì sẽ xảy ra khi ta đối mặt với đại dịch tiếp theo; chúng ta không thể phỏng đoán được. Mỗi một đại dịch mà ta từng đối mặt thật sự đã làm ta ngạc nhiên. Vì vậy, tôi không chắc chắn lắm, nhưng tôi biết rằng những đại dịch tiếp theo sẽ tương tác với bước chuyển giao nhân khẩu học của từng quốc gia theo những phương thức thú vị.

I. C.: Trong quá khứ, có những đại dịch nào đặc biệt ảnh hưởng những người trẻ tuổi?

J. M.: Bệnh sởi có tỷ lệ tử vong trên số ca nhiễm bệnh là hai mươi phần trăm ở những vùng lãnh thổ có tình trạng suy dinh dưỡng hoặc tương tự. Chúng ta đã có loại vắc-xin thực sự rẻ tiền và hiệu quả, mang lại cho bạn khả năng miễn dịch suốt đời, thường được coi là giao dịch “hời” nhất trong lĩnh vực y tế công cộng. Một khi bạn đã tiêm vắc-xin, bạn sẽ không bao giờ bị nhiễm bệnh. Nhưng nếu bạn đang bị bệnh, bạn sẽ không bao giờ bị tái nhiễm vì nó bảo vệ bạn suốt đời. Và điều đó có nghĩa là tất cả các ca nhiễm đều tập trung ở độ tuổi nhỏ, và tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh thực sự rất đáng kinh ngạc.

I. C.: Chúng ta đã và đang chứng kiến một loạt các phản ứng trước chủng mới của virus Corona trên toàn thế giới. Có phản ứng nào đặc biệt làm cho bạn lo lắng (với tư cách một nhà nhân khẩu học) không? 

J. M.: Điều làm tôi vô cùng lo lắng là tình trạng quá tải của hệ thống y tế. Bạn có thể ước tính số lượng giường bệnh trên cả nước tương quan với độ tuổi trung bình của quốc gia đó, và phép tính này, ít nhất là ở châu Âu, đang gia tăng – rất hợp lý phải không? Nếu dân số già chiếm tỉ lệ lớn tại quốc gia bạn, bạn có thể cần thêm giường bệnh. Có lẽ là bạn vốn đã có số lượng giường bệnh lớn, nhưng liệu chúng chỉ đơn thuần làm gia tăng chi phí hay sẽ khiến yêu cầu về nguồn lực vượt khỏi tầm kiểm soát, đây vẫn là một câu hỏi mở, đặc biệt khi ta đang trải qua một sự kiện tàn khốc như vậy.

Hết.

Chú thích:

  1. Những cuộc đối thoại của chúng tôi đã được chỉnh sửa để đảm bảo yêu cầu về độ dài và sự rõ ràng.
  2. Nguyên văn “flatten the curve”, được dùng để đề cập các biện pháp làm chậm tỉ lệ lây lan của virus. Điều này không có nghĩa là tổng số lượng người bị nhiễm bệnh nhất thiết phải giảm xuống, nhưng các ca bệnh sẽ không xuất hiện cùng một lúc.
  3. Nguyên bản văn “onchocerciasis or river blindness” là bệnh suy giảm thị lực hoặc mù vĩnh viễn do giun xoắn Onchocerca.

Vũ Phương Thùy lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Isaac Chotiner, đăng tại The New Yorker

Ảnh đầu bài: Chris McGrath / Getty


Bài viết có thể bạn sẽ thích



Đọc bài viết

Trà chiều

Một lít nước mắt: Những khác biệt giữa phim và đời thực

Trong phim, Aya không bị mất ba cái răng. Khi ngã xuống đất, Aya chỉ bị trầy trán. Khuôn mặt cô vẫn xinh tươi. Nếu trong phim làm thực tế hơn, khi nhìn thấy cảnh Aya mất ba cái răng có lẽ tôi sẽ khóc rất nhiều.

Đăng từ

on

Người đăng

Hôm qua lại tiếp tục hủy hoại sức khỏe. Thức trắng đêm để đọc cho hết 44 trang A4 quyển nhật kí 1 Litre of Tears của Aya. Nhức đầu gần chết. Hôm nay tỉnh dậy, tôi vẫn còn thấy mệt mỏi. Nhưng bản dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh của Kiwi rất truyền cảm. Dù sao, bản tiếng Anh cũng mới đi được đến gần cuối chương ba của cuốn nhật kí thôi. Còn đến những năm chương mà các fan chưa dịch xong. Ôi! Muốn đọc tiếp quá. Trong thời gian chờ đợi các fan quốc tế dịch, tôi sẽ dịch ra tiếng Việt trước những gì đã có trong tiếng Anh cho mọi người đọc và tranh thủ xem một vài phim Sawajiri Erika đóng.

Chị hai đã quá khinh thường trình độ đọc của tôi. Hôm qua, lúc thấy tôi cầm xấp giấy chị mới in xong để tôi dịch, chị đã nói:

“Sao em không đọc trực tiếp trên máy tính luôn?”
“Để chi? Đọc trên máy tính nhức mắt lắm. Giờ in ra giấy rồi, em đọc cái này đỡ hơn chứ.”
“Nhưng mà trên máy tính thì dò từ điển cũng tiện lợi hơn. Chứ còn đọc như vậy mà cầm cuốn từ điển dò thì mệt lắm đó.”
“Òa. Chị khinh thường em quá à. Em tự biết lượng sức mình. Em sẽ đọc một mạch luôn, không dò gì cả đâu vì những từ trong này chủ đề chính cũng chỉ xoay quanh cuộc sống hằng ngày thôi. Đâu phải từ chuyên môn về một lĩnh vực nào đó hay là từ cổ. Cỡ như Angel Sanctuary thì mới khiến em phải bó tay và ngồi dò chứ cái này thì em sẽ đọc ngon ơ cho mà xem.”

Nói là làm. Hôm qua, tôi ngồi đọc một mạch hết 44 trang A4 luôn. Tính ra A5 là 88 trang. Không ngờ tôi đã đọc nhiều như thế. Đó là lần đầu tiên tôi đọc được chừng đó trang tiếng Anh trong vòng ba tiếng đồng hồ. Hơi chậm hơn so với đọc tiếng Việt. Nếu đọc tiếng Việt mà trong ba tiếng đồng hồ thì chắc sẽ nhiều hơn. Dù sao, tôi cũng vui vì như thế là đã cải thiện hơn được rất nhiều về trình độ đọc so với một năm trước đây. Phải cố gắng hơn nữa. Phấn đấu để làm dịch giả mà. Vậy nên, tôi đã cố gắng để không cần dò từ điển dù cũng có một vài từ không hiểu nhưng nhìn chung tôi vẫn nắm được nội dung. Và tôi thật sự sốc sau khi đọc ba chương đầu tiên. Phim hư cấu nhiều chi tiết không có trong nhật kí. Khi phát hiện ra điều đó, tôi lại càng thương Aya hơn. Tội nghiệp Aya quá. Dưới đây là một số điểm khác biệt mà tôi đã lưu ý:

1

Không hề có Asou Haruto. Lúc xem phim, tôi thấy chuyện tình của hai người thật đẹp. Nhưng thực ra, chuyện này tôi cũng đã phát hiện ngay từ khi xem phim rồi. Vì trong phim có đoạn trích lại nhật kí Aya:

“Nếu như không có căn bệnh này thì tôi đã biết được tình yêu như thế nào rồi. Tôi chỉ muốn yêu và được yêu một ai đó. Tôi muốn có một ai đó để dựa vào. Chẳng lẽ tôi lại không có cả quyền tự do để yêu thương sao?”

Nếu như Asou-kun là có thật thì sao Aya phải viết như thế. Các nhà làm phim tạo ra Asou như một sự an ủi cho Aya. Nếu có thật thì đỡ khổ cho Aya nhiều hơn vì trước khi chết đã biết được cảm giác yêu một người là như thế nào. Nhưng tiếc rằng… đó chỉ là hư cấu. Tội nghiệp Aya quá. Trong phim, nghe cách hai người gọi tên nhau cũng đau lòng. Lúc đầu thì Asou gọi Aya là Ikeuchi còn Aya gọi Asou là Asou-kun. Gọi bằng họ thật khách sáo. Lúc sau, khi đã thân nhau rồi thì Asou gọi Aya là Aya nhưng Aya vẫn mặc cảm, vẫn gọi Asou là Asou-kun mà không dám gọi là Haruto. Thật đau lòng. Đến khi gần chết, cô vẫn cương quyết giữ khoảng cách như thế.

2

Không hề có Kawamoto-senpai. Chuyện này không biết là vui hay buồn. Theo cảm nhận cá nhân của tôi thì có lẽ sẽ đỡ đau lòng hơn cho Aya rất nhiều. Kawamoto là senpai kiểu gì kì cục quá. Lúc Aya bị ngã cứ trơ mắt ra mà nhìn. Đáng lẽ chỉ cần một cái ôm là xong chuyện. Đã vậy, hẹn người ta đi chơi mà sau khi biết người ta bị bệnh thì thất hứa.

3

Aya không hề giỏi bóng rổ. Điểm này trong phim cố tình sửa lại có lẽ là để khán giả cảm thấy bi đát hơn khi Aya bị bệnh. Aya vốn học rất yếu môn thể dục. Điểm thể dục trong lớp luôn bị tụt. Năm lớp 8 thì B, lớp 9 thì C và lớp 10 là D. Nhưng trong phim không đề cập đến điều này: Aya thích môn Anh Văn. Thực tế, vì không giỏi thể thao nên Aya rất chăm học và có tiếng là thông minh. Điểm môn Nhật ngữ và Anh văn bao giờ cũng đứng đầu lớp.

4

Aya thích đọc sách. Điểm này trong phim cũng không đề cập đến. Và Aya có ước mơ trở thành nhà văn. Nhưng tội nghiệp Aya quá khi phải thốt lên câu: “Con muốn làm nhà văn nhưng vốn kiến thức của con về xã hội ít quá thì làm sao con có thể viết một cuốn tiểu thuyết được hả mẹ?” Khi đọc đến đoạn ấy, tôi tự nhủ với lòng là vì tôi có sức khỏe nên sẽ cố gắng chăm chỉ tìm hiểu cuộc đời này, cố gắng để thực hiện ước mơ của tôi và của cả Aya nữa.

Sau đó, mẹ Aya mới bảo: “Con hãy nghĩ đến những công việc nào có thể làm ngay tại nhà được. Chẳng hạn như dịch thuật.” Càng đọc, tôi càng phát hiện nhiều điểm giống nhau giữa tôi và Aya. Do đó, phần nào tôi cảm thấy tội lỗi, trong khi Aya cầm bút còn khó khăn, tôi thì gõ máy lia lịa… thế mà cũng lười viết. Từ sau khi viết xong truyện dài gần đây nhất, tôi cảm thấy hơi nản một chút. Tôi đã nói với mọi người là sẽ gác bút để thi đại học, sau đó nếu thi đậu, tôi sẽ viết tiếp. Tôi đã nghĩ ra được thêm nhiều cốt truyện lắm rồi, có nhiều cảm hứng lắm rồi, nhưng lại lười. Một phần nữa cũng vì tôi cảm thấy còn phải đọc thêm nhiều sách để cải thiện trình độ viết văn và truyền tải tư tưởng đến người đọc. Nói chung, tôi nghĩ là mình cần phải học hỏi thêm nhiều nữa rồi hẵng viết. Bên cạnh đó, bây giờ tôi cũng muốn chuyển qua viết review phim, truyện để rèn luyện cách cảm nhận, cách nhập tâm vào cảm xúc cùng nhân vật. Có như vậy thì khi viết truyện chính thức tôi mới thấu hiểu được cảm xúc của nhân vật do tôi tạo ra chứ không chỉ đơn thuần là lớp vỏ bề ngoài. Sẵn đây, tôi cũng giải thích với mọi người luôn vì cũng có nhiều người hỏi tôi rằng: “Sao em siêng viết blog thế?” Thực ra, không phải là tôi thích blog hay thích viết blog. Tôi cũng không tâm niệm blog là để liên kết tâm tư mọi người lại với nhau. Chỉ đơn thuần là tôi xem blog giống như nơi lưu trữ lại những gì mình đã viết.

5

Không hề có buổi hoà nhạc chung với cả lớp, buổi Aya đi xem Hiroki đá bóng… rất nhiều thứ phim đã hư cấu thêm. Đọc nhật kí rồi mới thấy, phim dựng từ nhật kí như thế là quá hay. Tuy những tình tiết trong phim không có thực nhưng rất cảm động, rất hợp lí. Yêu các nhà làm phim của 1 Litre of Tears quá. Ở đây, hư cấu nhưng không bóp méo sự thật mà là để an ủi và tôn vinh sự thật.

6

Có một chi tiết rất quan trọng trong nhật kí nhưng các nhà làm phim đã không đưa vào. Lúc đọc nhật kí, tôi đã bàng hoàng. Đó là chi tiết Aya bị mất ba cái răng lớn ở đằng trước. Thử nghĩ xem, một cô gái khi đang băng qua đường, đập mặt trực tiếp xuống đất, máu chảy từ trên trán rất nhiều mà không bị gãy cái răng nào mới là chuyện lạ. Lúc phát hiện mình đã vĩnh viễn mất ba cái răng, Aya buồn vô cùng:

“Căn bệnh của tôi còn tệ hại hơn cả ung thư nữa.
Nó hủy hoại đi sắc đẹp tuổi trẻ của tôi.
Tôi muốn nhanh chóng quay trở lại là Aya trước kia. Tôi cất gương soi vẫn thường hay để trên bàn. Như vậy thì tôi sẽ không nhìn thấy tôi xấu xí của bây giờ nữa…”

Người con gái nào lại chẳng tự soi gương để chăm sóc vẻ đẹp của mình. Thế mà… Aya phải cất gương đi để trốn tránh sự thật khi cô mới 16 tuổi – cái tuổi còn quá trẻ mà thân thể đã như một “người già 50 tuổi” (theo lời Aya).

Trong phim, Aya không bị mất ba cái răng. Khi ngã xuống đất, Aya chỉ bị trầy trán. Khuôn mặt cô vẫn xinh tươi. Nếu trong phim làm thực tế hơn, khi nhìn thấy cảnh Aya mất ba cái răng có lẽ tôi sẽ khóc rất nhiều.

Hết.

Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!