Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Tại sao ta không nên đọc mọi thứ và không nên tin mọi thứ ta đọc?

Đăng từ

on

Con người là một loài có tính xã hội. Mỗi buổi sớm thức dậy, trước cả ánh bình minh, chúng ta bị đánh thức bởi chính hào quang của đồng loại mình. Rồi ta lao từ ổ nhỏ tới hang to, từ thị thành đến nông thôn, từ bất kỳ nơi nao nhanh chóng gia nhập vào bầy đàn ngày càng khổng lồ của xã hội. Chẳng một ai biết đích xác khởi nguyên của các đặc tính xã hội loài người, chỉ biết nó sẽ tồn tại cho đến khi nào chúng ta chưa diệt vong. Các đặc tính xã hội ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của đời sống, sự đọc cũng không ngoại lệ.

Về review

Tôi bắt đầu với chuyện đọc review. Review một cuốn sách có thể hiểu đơn giản là sự phê bình cuốn sách đó bởi một hoặc nhiều người đã đọc qua nó mà không nhằm các mục đích thương mại. Tính thương mại là một điểm rất quan trọng ảnh hưởng đến sự đọc mà tôi sẽ trình bày ở phần sau. Trên lý thuyết, review hoàn toàn có ích khi giúp chúng ta được nhìn nhận cuốn sách mà chưa cần phải đọc. Song trên thực tế, mọi chuyện lại không đơn giản đến thế. Xét về bản chất, review là thứ có tính xã hội: bạn không thể chỉ đọc duy nhất một review được và review sẽ sinh ra sự định hướng chuyện đọc của bạn. Nhưng khi đọc nhiều review thì lại không khác gì tạo ra một thống kê xã hội: khảo sát nhiều đối tượng rồi tập hợp những kết quả tương đồng vào một nhóm dưới dạng phần trăm. Và thống kê xã hội, như tên gọi của nó, sẽ có ý nghĩa xã hội: đồng nghĩa với việc tính cá nhân của nó gần như bằng 0. Vậy nên, khi đọc review, một mặt bạn bị số đông dẫn dắt đi theo thiên hướng cá nhân của họ, mặt khác bạn lại làm cho sự dẫn dắt đó ngày càng nặng nề và càng làm cho cái sự đọc sách mất đi tính cá nhân vốn có của nó. Thế thì có nên đọc review hay không?

Để trả lời câu hỏi này chúng ta hãy quay ngược lại điểm xuất phát. Bạn đọc review để làm gì: để biết cuốn sách trước mắt liệu có đáng đọc? Và ngạc nhiên chưa, khi bạn đang phân vân có nên đọc hay không thì đồng nghĩa với bạn đang muốn đọc nó. Đến lúc này, trong bạn sẽ hình thành hai luồng suy nghĩ: hoặc kiếm tìm một review thúc đẩy cái mong muốn đọc của bạn hoặc dập tắt cái mong muốn ấy, cũng lắm khi là cả hai cùng lúc. Dù lựa chọn theo cách nào thì ngay từ đầu nó đã phụ thuộc vào cách nghĩ của bạn, bạn đọc review chỉ để tìm một cái cớ hợp lý hóa cách nghĩ của mình. Câu chuyện đánh lừa bản thân này không có hại, dĩ nhiên, nhưng cũng không hề có lợi. Chẳng có gì trôi qua ngoài thời gian cả.

Tôi tin rằng bạn đang nghĩ tôi cự tuyệt review. Không, không hẳn đâu. Có một thời điểm review sẽ phát huy tác dụng của nó, đó là khi trong đầu bạn rỗng tuếch, hoàn toàn không có bất cứ một ý niệm gì ngay cả sự phân vân chần chừ đối với cuốn sách vô cùng lạ lẫm trước mắt bạn. Tôi gọi chúng là những review tình cờ, hay qua đường, hay bất chợt. Những review này xuất hiện ngẫu nhiên và vô tình bạn đọc được nó. Nhưng như đã nói ở trên, dù là tình cờ review nó vẫn mang thiên hướng cá nhân của người viết, và hơn nữa sự tình cờ thì lại thi thoảng mới xuất hiện. Để dung hòa mâu thuẫn này coi bộ không đơn giản song cũng không phải là vô phương cứu chữa. Trước hết thiên hướng cá nhân của người viết review mặc nhiên luôn luôn tồn tại, bạn không thể thay đổi hoặc làm nó biến mất. Do đó, bạn hãy chọn lựa những cá nhân có thiên hướng – hay lối suy nghĩ, cách nhìn nhận – càng giống bạn càng tốt, khi ấy những review sẽ càng trở nên tiệm cận với thế giới quan của bạn. Một sự sao chép như vậy giữ cho bạn vừa đủ cho bạn có cái nhìn từ xa về cuốn sách đồng thời không bị hút về tâm của review. Dù vậy, giống như đường tiệm cận chỉ gặp nhau ở vô cực, sẽ vẫn tồn tại những điểm khác biệt nhất định giữa review với bạn. Song vẫn tồn tại một cách cứu vãn tình thế, một đáp án mở ở ngay trước mắt. Lúc này có lẽ bạn đã nhận ra tôi muốn nói điều gì. Phải, chỉ có chính bạn mới là người review tốt nhất cho bản thân. Việc bạn cần làm không gì đơn giản hơn: hãy bắt đầu đọc cuốn sách đó. Đọc càng nhiều thì phản xạ review, nói cách khác cảm giác giống như review sẽ trở nên rõ nét hơn. Trong tương lai không xa, bạn hoàn toàn có thể biết được cuốn sách trước mặt có nên đọc hay không mà chẳng cần đến review!

Câu chuyện review thoạt nhìn trông rối rắm nhưng không khó nắm bắt. Trong khi đó tính thương mại lại âm thầm lặng lẽ ảnh hưởng đến sự đọc mà nhiều lúc chúng ta chẳng thể nhận ra được. Từ góc nhìn review, có thể quan sát phần nào những hình dáng cụ thể của đồng tiền đối với chuyện đọc sách. Đó là những bài review thương mại, những bài điểm sách thương mại, những bài PR hoặc marketing mà tôi gọi chung là những bài quảng cáo sách. Quảng cáo có đầy đủ tính chất của một bài review sách đồng thời sở hữu một cái đuôi mở rộng đáng ngờ đến mức không thể tin được. Từ ngàn xưa đến ngàn sau, từ những tiên dược trị bách bệnh của lang băm thuật sĩ cho đến cống phẩm hoàng cung, từ mớ rau răm ngoài chợ cho đến bitcoin sàn chứng khoán, tất tần tật những lời quảng cáo đều vô cùng đáng ngờ. Đặc điểm cốt tủy để nhận ra quảng cáo giữa một rừng review điểm sách chính là hình ảnh minh họa. Giống như trên bao bì gói mì Hảo Hảo hay chai C2, đó đều không phải giá trị thực của sản phẩm – ở đây là sách. Trong thời đại mọi thứ được định giá thì giá trị là cái khó nắm bắt nhất. Nội dung quyển sách bị che mờ bởi những lời hoa ngôn mị ngữ, nếu để ý kĩ sẽ thấy hầu như chúng chẳng hề liên quan. Tinh vi hơn là những quảng cáo sử dụng chính những thứ lấy từ trong sách: những câu trích dẫn quen gọi là quote mà khi bị tách khỏi ngữ cảnh chung sẽ thay đổi ý nghĩa theo hướng có lợi cho người quảng cáo và một thứ quen thuộc không kém chính là bìa sách. Không nói đâu xa, tôi khẳng định nhiều bạn đang đọc bài tôi viết đây chính là do đã thấy tôi giật tít đó thôi. Như vậy, bằng cách sử dụng văn hóa nghe nhìn, quảng cáo gián tiếp tác động tới văn hóa đọc. Văn hóa đọc, hay gần gũi hơn là những thói quen đọc sách của bạn bị ảnh hưởng một cách từ từ, chầm chậm mà bạn không hề hay biết. Bìa sách đẹp, những câu quote hay, tôi chắc không dưới một lần bạn đã chọn sách theo tiêu chí đó. Về cơ bản, hẳn bạn cho rằng nó chẳng ảnh hưởng là bao tới sự đọc của bạn. Tôi không phủ nhận điều đó, song nếu bạn nhìn nhận một cách tổng quan và lâu dài, thì chính thói quen này sẽ cướp đi khỏi bạn cơ hội được đọc những cuốn sách phù hợp với bạn hơn tuy bìa sách không bắt mắt, quote không hấp dẫn hoặc là ít được quảng cáo. Quảng cáo bản thân nó mang tính xã hội dù khả năng định hướng cá nhân không mạnh mẽ được như review. Có một thứ khác nằm ở đỉnh cao của tính thương mại và tác động sâu sắc tới văn hóa đọc: đó chính là best-seller.

Về best-seller

Best-seller hay nôm na sách bán chạy là thứ đậm đặc tính xã hội. Karl Marx từng nói “con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”. Riêng trong sự đọc, cái tổng hòa đó không đâu rõ nét bằng best-seller. Từ cái tên sách bán chạy đã cho thấy nó là những cuốn sách được viết cho một số đông người đọc, và viết về đời sống của số đông người đọc đó. Ngay từ đầu, tác giả đã nhắm vào lượng độc giả đông đảo ấy, nói cách khác best-seller không phải những cuốn sách bán chạy mà là những cuốn sách được viết ra để bán chạy. Ồ có lẽ bạn sẽ cho rằng tôi cứ quanh quẩn bài toán con gà và quả trứng, chẳng có ý nghĩa gì mà cứ thích vòng vo. Nhưng không, hiểu về loại tiền trảm hậu tấu kiểu best-seller này khá quan trọng để tránh bị truyền thông dắt mũi. Trở lại với câu nói của Marx, nếu xã hội có một cái chuẩn cho việc đọc thì best-seller chính là cái trung bình cộng ấy. Cứ tưởng tượng mà xem, sẽ nhàm chán biết bao nếu đó cũng là cái chuẩn của bạn. Xã hội là 1 thì bạn cũng 1, là A thì bạn cũng A, là asdfgh thì bạn cũng asdfgh theo. Bạn suy nghĩ theo cách xã hội suy nghĩ rồi tới lượt cách nghĩ của bạn cũng chính là cách nghĩ của xã hội. Một xã hội vận hành lòng vòng như thế, nói theo ngôn ngữ di truyền thì một xã hội giao phối cận huyết như thế sớm muộn sẽ nhanh chóng tới hồi thoái hóa rồi lụi tàn. Sự đa dạng mới là cái giữ cho văn hóa đọc tồn tại và phát triển, tính chất cá nhân trong sự đọc của bạn là điều quan trọng nhất để giữ sự đa dạng này. Bạn cần tạo ra một độ lệch chuẩn cho riêng mình, một mức độ lệch nhất định mang hình ảnh vệ tinh viễn thám, sẽ giữ cho bạn vừa đủ ở ngoài để nhìn rõ mọi chuyện vừa giúp bạn không mất liên lạc với những thứ ở trong. Vậy nên, có những thứ tuyệt nhiên không được tin tưởng, tỉ dụ như là: 12 cuốn sách mà ai cũng phải đọc ít nhất một lần trong đời1, 3 cuốn sách đã làm thay cuộc đời tôi2, 20 cuốn sách bạn phải đọc khi còn trẻ3, 6 cuốn sách con gái nhất định phải đọc4, vân vân và mây mây, ở đây tôi chỉ đề cập đến vài trường hợp làm ví dụ.

Trường hợp 1: Ai cũng đọc rồi làm đúng như 12 cuốn sách thì mọi người đều suy nghĩ giống nhau theo cùng lối mòn.

Trường hợp 2: Đó là những cuốn sách thay đổi đời “tôi” và nhiều khả năng sẽ chẳng làm đổi thay đời bạn vì đơn giản: “tôi” và bạn không giống nhau.

Trường hợp 3: Một sự ngụy biện rõ rành rành, nó không hơn gì một sự áp đặt rằng tuổi tác quyết định trí tuệ và sự thành công.

Trường hợp 4: Về cơ bản cũng giống trường hợp 1, nhưng vô hình chung nó lại đặt tính nữ cao hơn tính cá nhân và làm mất sự bình đẳng trước việc đọc của nam và nữ.

Những trường hợp trên đều là những cách thức hô biến best-seller điển hình cũng như chung quy chỉ muốn xóa bỏ cái riêng để trở về cái chung. Trong khi chúng ta dành hàng ngàn năm chỉ để đạt tới tiếng nói riêng thì những từ mang hàm ý bắt buộc như “phải”, “nhất định”,… là không thể chấp nhận được. Đáng buồn thay những loại sách khuyến khích sự giống nhau như thế lại lan tràn chiếm cứ một vùng không gian đọc rộng lớn nhất dưới vô vàn lớp vỏ bọc khác nhau. Trong phần kế tiếp, tôi sẽ đi bàn sâu vào chi tiết một số đầu sách kiểu như vậy.

Về self-help

Tôi đang muốn nói tới dòng sách giúp tự phát triển bản thân và các kỹ năng, được biến đến nhiều hơn dưới tên gọi self-help. Vậy thì tại sao self-help lại có sức hút lớn như thế, đến mức gần như bất kỳ ai trong đời cũng đọc ít nhất vài ba cuốn? Tôi nghĩ mình nên dạo qua bản chất của self-help một chút. Nếu suy xét đến tận cùng, self-help rất gần với best-seller, có nghĩa là nó được và phải được viết ra dành cho số đông người đọc. Cặn kẽ hơn nữa, những cuốn sách self-help tồn tại dựa trên các đặc tính xã hội, mà đặc tính xã hội là những gì tôi đã đề cập: là review, là quảng cáo, là best-seller. Từ các nhà sách siêu to khổng lồ đến những cửa hiệu nhỏ mang dáng vẻ bao cấp, từ thư viện công cộng cho đến tủ sách gia đình, từ chồng cuốn sách mới kính coong đến mớ sách cũ phủ bụi, mọi lúc mọi nơi, rất dễ để nhận ra một cuốn sách self-help. Chúng được quảng cáo rất rầm rộ mà đa phần là theo những cách trong bốn ví dụ tôi nêu ở trên. Và chúng được quảng cáo, được marketing ngay từ cái tên cuốn sách. Các tác giả self-help không ngần ngại phô diễn ý định của mình từ trang bìa với những cái tên rất kêu đánh trực tiếp vào tâm lý của người đọc: những từ như “làm giàu”, “thông minh”, “đọc vị”, “tâm hồn”,  “nghĩ như X”, “làm như Y”, “sống như Z”,… ngập tràn các mặt sách. Lòng ham muốn, óc tò mò của chúng ta bị kích thích sẽ trỗi dậy, vô hình trung bước vào con đường các tác giả đã vạch sẵn. Vậy là ngay từ khi bắt đầu, các cuốn sách self-help đã muốn kiểm soát chúng ta chứ chẳng phải là chúng ta kiểm soát mọi thứ như tiêu đề của chúng. Không dừng lại ở đó, các cuốn sách self-help mê hoặc người ta với cái bút pháp viết sao cho cái gì cũng trở nên đúng đắn. Để tạo ra sự đúng đắn giả hiệu đó, các tác giả self-help khai thác đến mức tối đa, gần như đào sâu đến mức cạn kiệt những ý nghĩ chung – những ý nghĩ mang tính xã hội mà ai ai cũng từng thoáng qua ít nhất một lần. Cứ như thế, bằng việc viết về những thứ mà ai cũng nghĩ đến, những điều ai cũng dễ dàng chấp nhận mà không cần do dự, các cuốn sách self-help tự biến mình thành chân lý. Từ khởi nguồn là những chân lý sẵn có của xã hội ấy, các tác giả không ngừng mở rộng dòng trường giang đại hải dài dằng dặc thêm những chân lý khác theo phương pháp suy luận cộng dồn theo kiểu 1 cộng 1 bằng 2, còn bạn thì không ngừng thấy cuốn sách sao mà nói gì cũng đúng. Hãy cứ tưởng tượng thế giới là một hệ tọa độ không gian vô hạn về mọi hướng, bạn, các bạn của bạn, các độc giả cùng tác giả là những điểm xác định trên hệ tọa độ đó. Sẽ luôn tồn tại một đường thẳng đưa tác giả đến bạn và luôn có một mặt phẳng được tạo ra giữa tác giả và các độc giả. Bằng cách lợi dụng những nét tương đồng giữa các độc giả, tác giả self-help ngày càng mở rộng mặt phẳng mong muốn của mình. Một khi đã bị hút vào cái mặt phẳng ấy, bạn khó lòng mà không thấy… thế giới phẳng trong khi thực tế lại muôn hình vạn trạng hơn nhiều. Tình cảnh này nom bi đát hệt câu chuyện chú ếch ở dưới đáy giếng. Để tái phát hiện ra thế giới quan của riêng bạn đã bị cái chung làm mờ mịt, tôi cho rằng một vụ phóng thử phi thuyền mang tên BẠN.01 ra khỏi hành tinh self-help, ít nhất ra là khỏi cái mặt phẳng bạn đang sống là việc làm cần thiết. Sau khi ở phía bên trong một thời gian dài, cái nhìn từ phía bên ngoài hẳn sẽ làm bạn choáng ngợp. Bạn sẽ nhận ra từ vũ trụ, Vạn Lý Trường Thành không thể thấy rõ được như người ta từng huênh hoang, hay đỉnh cao chói lọi của self-help Đắc nhân tâm chỉ là cái chấm bé tí xíu. Dale Carnegie còn nhỏ hơn, điều đúng đắn nhất ông từng nói có lẽ là “có thể thay đổi thái độ của người khác khi thay đổi sự đối xử của ta với họ”. Song những tác giả sau ông lại bám vào câu nói đó mà hô biến ra ngàn lẻ một câu chuyện self-help. Trong câu chuyện hô biến này có thể kể ra Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? như là một ví dụ điển hình: tác giả gần như xây dựng toàn bộ cuốn sách của mình dựa trên các nền tảng của Đắc nhân tâm và những sách khác cùng thời. Đơn giản với việc chuyển những công trình nghiên cứu tâm lý hành vi đã được thực tế chứng minh của các tác giả đi trước sang ngôn ngữ hiện đại hợp thị hiếu của thế hệ trẻ tuổi – thế hệ trụ cột của sự đọc hiện nay – nghiễm nhiên Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? trở thành best-seller bán chạy hàng đầu. Theo tôi, thành công của cuốn sách chỉ gói gọn trong phương diện thương mại, còn về mặt nội dung nó cũng giống như một góc nhỏ xíu trong hàng vạn tiếng nói giống hệt nhau cho cùng một vấn đề đơn giản, quá phí phạm thời gian và công sức.

Review là người bạn đồng hành của self-help: rất dễ để người ta truyền tai nhau những điều họ vốn luôn nghĩ nay bỗng dưng xuất hiện trong một cuốn sách, còn gì đáng nói hơn thế nữa. Và thế là tam sao thất bản, lan tỏa theo cấp số nhân những điều đã biết. Từ review nhanh chóng tự diễn biến, tự chuyển hóa thành best-seller lúc nào không hay. Nhà giả kim là một ví dụ điển hình cho bộ ba quảng cáo – review – best-seller ấy, đặc biệt là ở Việt Nam. Bây giờ nếu bạn thử hỏi ai đó cho bạn một gợi ý đọc sách, thì tôi đoán sẽ có một phần ba trong đó là Nhà giả kim. Người người làm nhà giả kim, nhà nhà học giả kim thuật trong khi phần đa chẳng có tí tố chất nào của giả kim thuật cả. Tại sao bạn không sử dụng tiếng nói pháp sư, phù thủy, kiếm sĩ, du hành giả… của chính bạn mà lại cứ phải dùng tiếng nói của nhà giả kim. Như vậy thành ra rất thừa mà cũng rất thiếu, thừa giống nhau và thiếu khác biệt. Về phương diện thừa thiếu này thì không đâu sánh bằng các loại sách chiêm tinh. Chỉ từ 12 cung hoàng đạo hay 88 chòm sao mà định đoạt cuộc sống của hơn 7 tỷ người đang sống và hơn 100 tỷ người đã từng sống thì thậm chí còn diệu kỳ hơn cả việc trường pháp thuật Hogwarts phân chia học viên vào 4 nhà. Đặt niềm tin vào những thứ hư vô như thế chỉ làm cho sự đọc trở nên nhàm chán, đi vào lối mòn và mất dần ý nghĩa.

Nghe một bản nhạc, xem một bộ phim, hay đọc một cuốn sách đều hỗ trợ và làm cuộc sống thêm phần thú vị chứ hoàn toàn không quyết định được cuộc đời bạn. Vì thế, ta không nên đọc tất cả mọi thứ và không nên tin tất cả mọi thứ đọc được, bài tôi viết đây cũng không ngoại lệ. Hãy để sự đọc tựa như là đang ngồi dưới gốc cây táo buổi đầu hè, có cơn gió thổi qua làm quả táo rụng trên trang sách, ta nhặt lên và cắn một miếng, thế thôi.

Hết.

3V

Xem tất cả những bài viết của 3V tại đây.


Những bài viết có cùng chủ đề



8 bình luận

8 Bình luận

  1. Hương Nguyễn

    Tháng Tám 23, 2019 at 10:23 sáng

    Cảm ơn bạn đã viết bài này.Như vậy tôi mới có thể nhìn rộng ra và suy ngẫm vào điều.😘

  2. Thiên An

    Tháng Tám 24, 2019 at 4:25 chiều

    Tại sao chúng ta không nên đọc mọi thứ? Thật ra thì đọc xong câu hỏi này mình có cười, tại sao ư? Chúng ta làm gì có thể đọc được mọi thứ trên cuộc đời này. Nhưng “chúng ta không nên tin mọi thứ” thì mình đồng ý với bạn viết bài, góc nhìn và ” tư tưởng” của bạn tôi cũng thấy hợp lí. Về vấn đề self- help, một câu chuyện mà lúc bắt đầu nói thường sẽ tạo thành hai phe. Đắc nhân tâm, nói về cơ sở khoa học thì có thể có nhiều thứ không có căn cứ khoa học nhưng áp dụng nó khá là hợp lý.

  3. Người Giao Bánh

    Tháng Tám 27, 2019 at 6:07 sáng

    Không thể phủ nhận lợi ích của việc đọc đối với mỗi một người trong dòng chảy vận hành và phát triển không ngừng của xã hội. Nhưng để nói rằng cái lợi đó sâu sắc tới đâu thì còn tùy thuộc vào trình độ nhận thức, đánh giá, thẩm thấu của mỗi một người nữa. Vì có những cuốn sách rõ ràng trên thực tế, đối với người này rất thiết thực, đưa sang người khác lại chỉ mang ý nghĩa mơ hồ.

    Sách có câu chuyện và nội dung thông điệp của riêng mình, bởi thế mà nó được nhân rộng. Một người đọc sách chính là để phát hiện ra hình ảnh của chính mình trong những câu chuyện như vậy, thông qua văn chương lẫn cuộc đời một ai đó.

    Mình cho là, đến cùng ý nghĩa của việc đọc không chỉ dừng lại ở việc bạn đọc một tác phẩm, nghị luận về nó đơn thuần giống năm xưa học văn. Văn học phổ thông có người dẫn dắt bạn xâu chuỗi diễn biến tâm lý nhân vật, có thang điểm hỗ trợ bạn nếu bạn cảm thấy hồ nghi ; nhưng văn học sau khi bạn quyết đinh tự chinh phục hoặc tìm tòi nó lại đòi hỏi bạn phải tự định hướng con đường của riêng bản thân. Bạn học được gì, tìm thấy gì, tin vào giá trị gì…tất cả các lý thuyết đó đều nằm ở cái tầm mà bạn có thể nhận thức.

    Albert Einstein nói một câu rất hay rằng: “Người đọc quá nhiều và dùng tới bộ óc quá ít sẽ rơi vào thói quen suy nghĩ lười biếng.” Câu nói này nếu đem ứng đối với một số các mọt mình tin là sẽ thể hiện được khá nhiều các cung bậc trong nếp sống đọc nói chung. Chẳng hạn, có những người vì đọc quá nhiều mà trở nên cứng nhắc, lý thuyết, giáo điều; lại có một số khác chỉ cần cảm thấy có chút bấp bênh liền tìm đến sách như chiếc phao cứu sinh của cuộc đời mình. Nhà văn trước khi viết ra một tác phẩm, cũng giống như một con ong thợ cần mẫn, họ cũng đọc, quan sát và chiêm nghiệm mọi điều. Văn chương chỉ phản ánh một phần thôi cái mà chúng ta luôn tìm kiếm, phần còn lại, buộc chúng ta kiên nhẫn lắng nghe, để ý và thấu đáo nhiều hơn.

    Vậy nên sách không phải tất cả, tất cả nằm ở nơi bản thân mỗi người. Cái lợi sâu sắc của người biết tìm đến sách và đọc nó, trước hết thứ người đó có được là sự khiêm nhường, biết mình biết ta. Sách tuy không nói anh còn hạn chế ở những mặt này, nhưng nó đánh thức anh rằng anh phải tỉnh dậy và sáng suốt bởi những điều rộng lớn vẫn hiện diện quanh anh. Một người chỉ cần hiểu được mình nhỏ bé, sự nhỏ bé ấy chắc chắn sẽ nuôi dưỡng trái tim họ lớn lên.

    Mình không hay đọc trước review một phần cũng vì vậy, mình chỉ tin đến cùng những thứ đọng lại sẽ không nhiều. Mỗi lần mình bắt đầu với quyển sách bất kỳ nào đó, mình cố gắng đầu tiên là đọc nó kỹ nhất có thể. Cho tới khi đã hoàn thành xong tác phẩm, việc chọn làm thứ hai là đọc chậm phần nhận xét hoặc tóm gọn nội dung cuốn sách ở những trang bìa. Nếu có phần nào sâu sắc nhất giúp bạn hệ thống hóa lại và củng cố toàn bộ các chương, hồi, đoạn…bạn đã đi qua thì phần này sẽ là một phần không thể bỏ sót. Cuối cùng, trong trường hợp thật sự tò mò muốn tìm hiểu sâu hơn, mình tìm đọc review tổng hợp mọi người viết.

    Sách best seller hoặc self help không hẳn là lựa chọn phổ thông, nhưng đối với một người đọc sau khi đã định hình được cái mình muốn khám phá, biết rõ đâu mới là thể loại của mình, mình tin là trong list sách có sẵn tự họ sẽ chọn ra được cuốn sách thiết thực với mình nhất. Kể cả trong trường hợp một quyển sách không phù hợp chẳng hạn, quyển sách đó chắc chắn cũng sẽ chứa đựng một số thông điệp áp dụng được vô những mảng đời sống thường ngày. Bởi vậy nên không có cuốn sách nào thật sự vô giá trị. Sách luôn đem lại giá trị ít hoặc nhiều cho mỗi một cá nhân. Chỉ là tùy vào từng thời điểm mà bạn đọc nó, nó sẽ để lại trong bạn những dấu ấn khác nhau. Theo thời gian, thứ thay đổi không phải câu chữ có trong sách mà là cái tôi đã lớn khôn hơn và dần trưởng thành.

    Tựu chung, quan điểm của mình về vấn đề này là cái gì cũng chỉ mang tính chất tương đối. Đọc sách tuy nói rằng rất quan trọng nhưng không quan trọng bằng việc bạn đọc nó thế nào? Bạn có để cuộc đời mình bị lệ thuộc hoàn toàn vào trong đó hay không? Bạn đang tỉnh táo hay mộng mị?

    • Cháo đậu đỏ

      Tháng Ba 21, 2020 at 8:12 sáng

      Đầu tiên thực sự rất cảm ơn tác giả 3V Hiện em cũng đang cảm thấy bối rối khi những cuốn sách em thích thì lại có ít người đọc, em sợ là em sẽ bị tụt hậu và tự mình cô lập trong thế giới của riêng em. Bởi cái tập tính sống bầy đàn từ nhỏ nên khi lớn lên và đi ngược với số đông, em cảm thấy bất an và nghi ngờ bản thân mình. Nhưng nay đọc được bài viết này, em đã thở phào nhẹ nhõm. Có lẽ phủ định cái đúng đắn “hằng số” của đường mòn là cái tất yếu cho sự phát triển.
      Còn về review, nói thật là em không thích đọc tí nào. Em sợ sau khi đọc xong, tâm lý của em sẽ mặc định sẵn kiểu như người ta hiểu, em cũng phải cố hiểu và bỏ quên những cái em có thể hiểu mà chưa chắc người khác hiểu được. Em thích đọc sách với một trang giấy trắng hơn là vẽ trước một cái khung rồi áp cuốn sách ấy vào.

  4. Pingback: Mọt sách chả phải là một loại cá tính đâu – Bookish

  5. Pingback: Đằng sau một cuốn sách là con người và cuộc sống – Bookish

  6. Pingback: Fiction vs Non-fiction từ góc nhìn kinh tế – Bookish

  7. 3V

    Tháng Ba 30, 2020 at 5:00 sáng

    Cảm ơn các bạn đã góp ý 😀

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Nỗi hổ thẹn trong văn học

Marina Endicott về lịch sử giáo dục cưỡng chế với những người Canada bản địa

Đăng từ

on

Người đăng

THE FUNCTION OF SHAME IN LITERATURE
Marina Endicott

Tại sao chúng ta nhớ mãi về một câu chuyện, hay một ký ức? Chúng ta thường ghi nhớ một cách tự nhiên những khung cảnh và hình ảnh ấn tượng bày ra ngay trước mắt, ghi dấu trên tảng băng nổi của ký ức. Tuy nhiên, một số khác lại ấn giấu sâu hơn trong những lớp nghĩa và sau đó, chúng mới từ từ trồi lên, như một miếng bạc cổ lấp lánh đang tự tìm cách bước ra ánh sáng. 

Đó là cái cách mà giáo viên piano thời thơ ấu của tôi kể câu chuyện của cô ấy. Những câu chuyện về tuổi thơ của mình, được chu du vòng quanh thế giới trên chiếc thuyền buồm của gia đình. Cảm giác hân hoan khi được nghe kể chuyện đến với tôi mỗi khi tôi được thưởng vì đã chơi tốt hay được dỗ dành sau mỗi lần cô giáo tức giận. Lúc tôi lười tập luyện (một việc xảy ra rất thường xuyên), việc đòi nghe kể chuyện về chiếc sừng kỳ lân biển đặt trên cây piano, hay về cây quạt Trăm Mặt1 nổi tiếng mà cha mẹ cô giáo được tặng trong chuyến hành trình trăng mật tới Trung Quốc là một cách hiệu quả để kéo dài thời gian tới lúc kết thúc buổi học.

Chân dung những con tàu được treo trên tường: con thuyền Belmont – Ánh rạng đông. Nhà của cô giáo giống như ngôi đền tôn thờ kỷ nguyên của những cánh buồm, được đong đầy những món đồ quý hiếm, những món đồ gốm sứ hay những vỏ sò vô giá, được mua hoặc thu thập trong suốt quãng thời gian phiêu lưu trên biển. Câu chuyện về đại dương của cô giáo tôi diễn ra chậm rãi theo từng nhịp tích tắc của thời gian trong căn phòng khách tối tăm, yên tĩnh.

Thế nhưng, cô giáo không kể với tôi chuyện mẹ cô đã mua một cậu bé tại vùng biển phía nam với giá 4 pao thuốc lá2. Tôi không biết về câu chuyện trên cho tới những năm 1990, khi mà (trong lúc đang mất tập trung vào công việc) tôi tra google tên cô giáo và trên màn hình máy tính hiện lên biểu tượng cái loa, vang lên ngắt quãng giọng nói quen thuộc của cô Ladd (tên của cô giáo) – một đoạn băng phỏng vấn trước khi cô mất tại Yarmouth, Nova Scotia.

Không biết bao nhiêu buổi chiều thứ ba tôi cùng cô luyện tập. Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy, người ta thường nói vậy; tuy nhiên với tôi, cô là một trong những giáo viên tuyệt vời nhất và giọng nói ấy của cô sao mà yêu thương, sao mà thân thuộc vậy.

Cho đến tôi được biết về câu chuyện của cô ấy, về chuyến hành trình trăng mật của cha mẹ cô:

“Trên hành trình cập cảng Trung Quốc… họ đã đi tới hòn đảo này và một chiếc xuồng tiến tới gần chiếc thuyền buồm. Những người trên xuồng là dân bản xứ với vẻ ngoài đáng thương và cha cho phép hai người trong số họ lên thuyền. Những thủy thủ đã thủ sẵn gậy gộc. Họ lên tàu, đi cùng họ có một cậu bé. Mẹ đã quá phấn khích và muốn cậu bé đó, bà nghĩ rằng sẽ có thêm nhiều điều thú vị cho chuyến đi. Và cha mẹ tôi đã mua cậu bé đó với 4 pao thuốc lá. Cậu bé không hiểu gì cả. Khi cậu thấy chiếc cầu thang, cậu ngồi cúi gằm đầu xuống và khoanh tay qua đầu gối. Và đương nhiên, cậu bé cũng không biết cách cư xử! Cậu cần được dạy dỗ.”

Mẹ của cô giáo dạy cho cậu bé đọc và viết tiếng Anh cùng một chút tiếng Latin; đầu bếp trên thuyền dạy cậu chữ tượng hình Trung Quốc. Cậu bé hẳn là một học sinh tiếp thu nhanh. Thật khó để nhớ chính xác cậu đã ở trên con tàu bao lâu – khoảng một năm; đoạn ghi âm chỉ nói rằng ở Thượng Hải, cậu bị cảm lạnh và bệnh tình trở nên nghiêm trọng hơn khi đi qua Horn. Khi họ tới New York, cậu bé đã nhiễm bệnh lao.

“Cậu bé ao ước có một quả dừa. Cha tôi cập cảng ở New York và tìm thấy một quả. Cậu bé chết vì bệnh lao, khi vẫn ôm chặt lấy quả dừa của cậu.”

Lắng nghe câu chuyện buồn này qua lời kể của cô Ladd thật sự là một cú sốc, hay là không: giọng đọc bình thản của cô dường như không cho rằng hành động của cha mẹ cô là sai trái, không có bi kịch nào ở đây – như thể cô chỉ kể câu chuyện về một con thú cưng mà họ từng nuôi.

Tài năng, quyết đoán nhưng mù quáng và ngạo mạn3, cô Ladd là sản phẩm của quá trình giáo dục và trưởng thành; mẹ cô ấy cũng thế, không có gì phải bàn cãi. Tôi cũng vậy. Câu chuyện đó khiến tôi cảm thấy xấu hổ, ẩn trong đó là mối tương đồng giữa tôi và những người đã bắt cóc cậu bé và để mặc cậu ấy chết.

Điều này thật sự quá quen thuộc. Nó khiến tôi cảm thấy hổ thẹn khi tôi sống với tư cách là một người Canada da trắng, hổ thẹn với những sai lầm mà lịch sử đã gây ra cho các em bé người bản địa.

*

Ở Canada, chúng tôi phải vật lộn nhiều năm để phơi bày và chấp nhận lịch sử của những trường học nội trú. Trong những hiệp ước ban đầu giữa người Canada bản địa và Hoàng gia (Chính phủ, hầu hết là người của Nữ hoàng Elizabeth), những lời lẽ được ghi ra thật ấm áp, pha trộn giữa niềm tin và tình yêu thương; các tù trưởng ký tên đã bị thuyết phục bởi niềm tin về sự quan tâm như từ mẫu của Nữ hoàng dành cho họ, bởi những hiểu biết và sự kính trọng mà các vị sĩ quan đàm phán dành cho Nữ hoàng. Thật khó để diễn tả chính xác nội dung hiệp ước, vì những chủ trương thể hiện qua ngôn ngữ yêu thương ấy bị xem thường bởi chính phủ Canada, cả khi đó tới tận bây giờ.

Một trong những thỏa thuận bị phá vỡ là trẻ em sẽ được hưởng sự giáo dục “bất cứ khi nào người da đỏ trong khu vực mong muốn được đi học”4 tại bất cứ trường học nào trong khu vực đó. Nhưng thay vì để họ được quyền lựa chọn, chính phủ Canada đã tập trung các em bé bản địa và giam giữ ép buộc tất cả trong những ngôi trường nội trú cách rất xa khu vực bộ lạc của bọn trẻ.

Đây là sự thực, theo ngài John A. Macdonald (nói trước Nghị viện năm 1883), việc phá vỡ nguồn gốc văn hóa và bản sắc của những đứa trẻ sẽ khiến chúng có những thói quen và phương thức suy nghĩ của người da trắng. Hệ thống trường học nội trú tại Canada đã tồn tại hơn 100 năm, và sự ảnh hưởng của nó đã tàn phá nhiều thế hệ.

Câu chuyện của cô Ladd ám ảnh tôi, như một vết sẹo bên dưới da. Tôi cố kiềm nén nó, rất thận trọng khi đối mặt với một câu chuyện nhiều đau buồn mà cũng quá nhiều sai trái. Và tôi không tin tưởng vào cái kết với “quả dừa” như thế.

Một vài năm sau, tôi tới New Zealand cùng với Tổ chức Thịnh vượng chung dành cho các nhà văn để phát biểu và làm hội thảo tại Tonga. Trong chuyến thăm, tôi đã gặp hàng trăm học sinh và làm quen với một vài em. Câu chuyện của cô Ladd một lần nữa hiện ra trong tâm trí tôi và lần này sẽ thật là hèn nhát nếu tiếp tục không nghĩ về nó.

Tháng trước, tôi có đọc câu chuyện về sáu cậu bé người Tonga bị bỏ mặc trên đảo ‘Ata trong 15 tháng vào năm 1965 – những đứa trẻ hoàn toàn không phải là “những Chúa ruồi trong đời thật”, như cái cách tờ báo The Guardian đã đặt tiêu đề. Những cậu bé Tonga này biết cách tồn tại ngay cả trong môi trường khắc nghiệt nhất, không có nước như đảo ‘Ata. Không giống Piggy và những người bạn, chúng hiện thực hóa định nghĩa về nền văn minh của Margaret Mead5 bằng cách cố định xương và băng bó thành công cho một cậu bạn bị gãy chân.

Sự sụp đổ của nền văn minh được xây dựng trong Chúa ruồi không hề xuất hiện trong cuộc sinh tồn của các cậu bé Tonga – điều này vốn là một giả định sai lầm. Bất cứ ai kể lại một câu truyện đều dựa trên những trải nghiệm của cá nhân, và đây là lý do quan trọng tại sao bạn không nên độc chiếm cái micro, không nên cố chiếm hữu mạch truyện: câu chuyện sẽ hay hơn nếu được tự kể bởi chủ nhân của chúng.

Thế mà, ôi thế mà, tôi lại bị thúc đẩy để kể về câu chuyện của Kay (chị gái của cậu bé người bản địa được mua với giá 4 pao thuốc bởi gia đình cô Ladd) và người em trai đã bị mua hay bị chiếm đoạt của cô, để kiểm chứng thông qua thực tế hoang đường về lý do một người phụ nữ tốt bụng (theo định nghĩa truyền thống) quyết định cướp đoạt cậu bé ấy khỏi gia đình, khỏi ngôi nhà của cậu; phải chăng những chuẩn mực đạo đức trong Kinh thánh hay niềm khát khao làm mẹ đột ngột thúc đẩy bà cướp đoạt một đứa trẻ với niềm tin mù quáng rằng bà đang thực hiện một hành động nhân từ. Với chủng tộc, giới tính, niềm tin và bổn phận làm mẹ của mình, có thể tôi sẽ làm một điều giống hệt nếu được sinh ra vào một thời điểm khác.

Tôi chọn nhìn vào đôi mắt của hai người phụ nữ, một già, một trẻ; một người phấn khích vì sự ngộ nhận đúng đắn trong hành động của mình, người còn lại bối rối vô định với những cảm giác về sự sai trái, tủi hổ. Tôi muốn phản bác lại những luận điểm của trường học nội trú – luận điểm vì tương lai tốt đẹp của lũ trẻ, vì những ý định tốt đẹp và nhân từ, và bởi giáo dục là cần thiết – để kiểm chứng những lý lẽ của người da trắng, những người tự nhận mình nhân từ và để bác bỏ chúng.

Đó là sai lầm nghiêm trọng, không thể tha thứ khi mang một đứa trẻ ra khỏi gia đình và đưa chúng tới những trường nội trú. Để tới được kết luận này, như tôi đã cố gắng, không thể có sự bao dung. Chỉ có sự bù đắp và hòa giải.

Sự hòa giải là như thế nào? Đối với Kay, hòa giải có nghĩa là đặt mọi thứ trở lại nơi chúng được tìm thấy. Thật cẩn thận sửa chữa lại những điều bị vi phạm. Cô ấy nghĩ vậy vì hai lý do: cô ấy hiểu được cô ấy cần phải hành động và cô ấy còn trẻ, còn ngây thơ. Có thể tôi cũng thế: nhưng tôi chắc chắn rằng chúng ta phải làm gì đó. Nó sẽ không bao giờ đủ nếu chúng ta chỉ ngồi im trong sự xấu hổ mà không hành động vì một điều tốt đẹp hơn.

Một hành động mà tôi cho rằng sẽ hữu ích là xem xét các sự kiện được cho là lịch sử. Một trong những giả định sai lầm của tôi, khi bắt đầu viết cuốn sách này, đó là cho rằng những ghi chép lịch sử này có cơ sở vững chắc. Đó quả là một cú sốc cần thiết để tôi nhận ra, dù muộn màng, rằng “ghi chép lịch sử” chẳng có gì hơn những ý kiến cá nhân của hai hoặc ba người, và chẳng có cơ sở nào cả.

Ngay cả khi chúng ta nhìn lại thời điểm khi mà cậu bé bị đem ra trao đổi với thuốc lá, chẳng có ai giải thích được làm sao người dân bản địa họ hiểu và diễn dịch giao dịch đó, làm sao họ có thể giải thích nó bởi rào cản ngôn ngữ và phong tục địa phương – và cả những khái niệm cơ bản về một cuộc trao đổi.

Ký ức là một nguyên liệu quan trọng cho những câu chuyện hư cấu, nhưng nó có thể bị thay đổi. Ký ức của tôi về phòng khách của cô Ladd, về hai cây đàn piano được bao quanh bởi những di vật vô giá và hào nhoáng, bởi sự im lặng và âm nhạc, đã bị ghi đè lên bởi vẻ đẹp nguyên thủy của vùng Thái Bình Dương và bởi những cậu bé Tonga mà tôi được gặp, được chào hỏi và được cười đùa cùng. Khi viết những tiểu thuyết lịch sử, nếu không được trải nghiệm thực tế, chúng ta có thể tạo ra ký ức không chỉ bằng những văn bản (nhật ký, ghi chú, thư từ, danh sách hay hải trình của thuyền) mà còn bằng cách lắp ráp những chi tiết nhỏ có ý nghĩa: những bức ảnh hay bức vẽ, bản thiết kế, quần áo, các mảnh vụn từ thân cây, tủ chén hay gác mái của các căn nhà cổ.

Ở một khía cạnh nào đó, câu chuyện của cô Ladd đã thật sự thuộc về tôi, vì tôi biết rõ những món hiện vật của cô ấy, nhờ bảy năm thời gian ngồi trong phòng khách của cô, hay nhìn chằm chằm vào chiếc sừng kỳ lân biển trong khi cô Ladd đang say mê với câu chuyện mà tôi đã cố gắng kéo dài hết mức có thể, để tránh phải học nhạc Barcarolle6, thể loại mà tôi chưa từng tập luyện bao giờ.

Cuốn sách của tác giả: Hành trình trên chiếc thuyền Ánh Rạng Đông

Hết.

Bún Cứng dịch

Bài viết gốc được thực hiện bởi Marina Endicott, đăng tại Literary Hub

Chú thích:

  1. Nguyên văn “Hundred Faces” – Nhăc tới nghệ thuật Biến diện/thay mặt nạ vốn rất nổi tiếng của Trung Quốc.
  2. Khoảng 2kg.
  3. Nguyên văn “superior” – Dịch giả hiểu là sự tự cho mình là bề trên, là đẳng cấp cao hơn bình thường.
  4. Nguyên văn “whenever the Indians of the reserve shall desire it” – trích trong quy tắc số 6 trong hiệp ước giữa người bản địa Canada, bao gồm người da đỏ Anh điêng, và Hoàng gia năm 1876; quy định về quyền được đi học của người dân bản xứ
  5. Margaret Mead (1901-1978) – nhà nhân chủng học nổi tiếng người Mỹ, nổi tiếng với nhiều nghiên cứu, nhiều học thuyết về nhân chủng học, văn hóa.
  6. Một phong cách nhạc dân ca hay được hát bởi những người chèo thuyền đáy bằng tại Venice, Ý.

Đọc bài viết

Trà chiều

Ba bước đơn giản để luận bàn về một tác phẩm văn chương theo kiểu nouveau riche

Đăng từ

on

Người đăng

Cả thế giới đang hướng về một thế giới với những binh đoàn hợp chủng quốc nouveau riche ngang tàn và bạo sát và giương cờ khởi nghĩa. Họ quét qua những nẻo đường miễn là nơi đó có tri thức, họ đánh sập những hệ thống giáo điều và nghiên cứu dài lâu của Friedrich Nietzsche, Martin Heidegger,… để thốt lên những điều thâm sâu, có khi vô lý nhưng rất thuyết phục (với đại đa số chúng ta, nên họ được tung hê ở mọi nơi mọi lúc, nhất là trên phiếc-búc lúc chờ trà hãm), về cuộc đời, về tồn tại và lời nào là hiện sinh lời đó. Lời nào là thấy cảm động đến tận tâm can lời đó, khiến ai nấy cũng đều vỗ tay thán ngạc không thôi, ai nấy cũng đều thấy mình cần phải làm gì đó để sánh vai với những đại nouveau riche đó. Thế là họ quên thân cống hiến cho đội quân bằng những triết lý và lời lẽ riêng (mới lượm lặt được) của mình như ngày ấy sử ta viết ông Nguyễn Trãi dâng Bình Ngô sách, còn bây giờ họ không cần nhiều nhời như thế, chỉ cần like, share, subscribe là đã thật dụng công rồi. Những diễn ngôn của họ làm lay động hàng triệu thính giả (nhất là những nouveau riche khác) bằng cách như thế đấy, điều mà Carl Jung có mãi thăm dò trong tiềm thức hay Albert Camus tìm hết đời mình xem liệu cuộc đời vô lý đến chừng nào thì cũng chẳng thế nào có được số lượng tín đồ hùng cường đến thế.

Đến đây, có lẽ quý vị độc giả không hiểu rằng liệu tên nhãi tác giả đang huyên thuyên về cái gì thế này, nươ-vồ rít-che là gì mà ghê gớm? Có phải là tên một bọn buôn thịt bán người lai phối cùng hội giải cứu niềm tin đổ vỡ tuổi mười nhăm hay không. Thưa rằng, chẳng được huy hoàng như thế. “Nouveau riche” tiếng Pháp dịch ra tiếng ta chỉ một tầng lớp quý tộc mới nổi với xuất thân là nhà nghèo, nhờ các biến chuyển xã hội thời đại mà giàu có lên. Hiểu nôm na, một cái thùng rỗng, một ông-nghè-chưa-đỗ-đã-đe-hàng-tổng, một trưởng giả, một nhân vật hát dở tuồng lâu. Nghe có vẻ chướng tai gai mắt, thế thì tại sao nhiều người lại cố gắng đi theo dòng chảy của nouveau riche đến như vậy? Câu trả lời nằm trong chính định nghĩa mà tôi đã sơ sài kể cùng quý bạn, những biến chuyển thời đại. Ta đang sống trong một thời đại tri thức kiệt cùng, tri thức khắp mọi nơi nài nỉ người tri nhận, tri thức có mặt trong tất cả những gì quý bạn thấy, ăn, ngửi, thậm chí là cảm giác sâu thẳm nhất trong con người của chúng ta, từ thời hang đá ở lùm đến ở skycraperspenthouse. Ta được “văn học” và văn hóa đại chúng quét qua người từng giây từng phút, tâm hồn ta rộn rã và tràn ngập tiếng chim ca như thi sĩ Tố Hữu. “Văn học” đó đến với ta dưới nhiều dạng thức: những tản mạn, tùy bút, tùy tiện bút, bán phóng sự bán tự sự,… của những nhân vật thành đạt post lên trang cá nhân của mình, những chia sẻ tuổi thầm kín của một cô ca sỹ nhạc dance về nhân sinh quan, của một f-boy về hoa và nhà chùa. Điều đó kết nối những tâm hồn nhạy cảm với nhau, trên cái sân chơi cyber-world, với ước muốn đem những cảm xúc riêng tư của mình sục sạo tìm những tâm hồn đồng điệu (nếu đồng điệu hãy like, thả tim, bình luận). Làm nouveau riche đồng nghĩa với việc hóa bản thân mình thành một tập đoàn tảo lục hùng mạnh, chăm chút cho sự thông minh có hạn của nhau, cùng nhau thỏa mãn với kiến thức của mình, đặc biệt, phù phiếm cảm xúc cùng với nhau.

Bao nhiêu đặc quyền của việc trở thành một nouveau riche tôi chỉ nói được có thế, trong dung lượng của bài. Vậy, nếu đủ mẫn cán và dụng công, quý bạn sẽ có cơ hội trở thành một quý tộc mới ngay trong những status tới trên wall nhà mình. Sau đây, trong khuôn khổ của một trang tin về sách báo chí, tôi xin mạn phép giới thiệu những bí quyết vỡ lòng để trở thành một nhân vật bất hủ trong thời đại hôm nay chỉ với những phương pháp viết luận những tác phẩm văn chương (điểm sách, review sách, PR sách, tham gia thi cảm thụ sách,… thậm chí rất hữu dụng để viết nghị luận văn học trong chương trình phổ thông từ lớp 6 đến lớp 12) mà bạn có thể áp dụng ngay trong lần tới.

1. Trích dẫn những tác phẩm – tác giả thật hàn lâm và xa rời chủ đề

Đừng bao giờ quên rằng, cách để mọi người biết mình là một nouveau riche qua những bài luận là có những kiến thức thâm sâu và uyên bác bậc nhất về văn học, nền văn học, tác giả, phong cách sáng tác,… Nhưng chẳng có ai dư dả thời gian để tới nghe bạn trình chiếu powerpoint về Vladimir Nabokov hay một cái ông đã chết lẩu lâu. Trích dẫn không ngừng nghỉ vào trong bài viết của quý bạn là một giải pháp toàn vẹn cả đôi đường. Nhiều khi bạn không cần đọc Ulysses để trích dẫn James Joyce, hãy search chúng, và đặt cốt truyện cùng những chương văn xuôi cách điệu và sáng tạo của văn hào Ireland kia vào trong bài của bạn. Thật sáng tạo và nhiều tri thức làm sao! Bạn đã tạo ra trong tác phẩm của bạn những gương mặt có máu có me trong làng văn và chắc chắn ai ai cũng ngưỡng mộ, dù phần lớn, sẽ tra xem đó là ai, ngoài tác phẩm được trích còn có gì, hoặc tra thêm bút pháp, rút gọn nhất có thể, vừa thời gian uống một cốc latte.

Cũng đừng ngần ngại rằng liệu những tác phẩm mà quý bạn đem vào thực sự nó có giúp ích, nâng cao hay thậm chí, chỉ là minh hoạ cho chủ đề, cuốn sách bạn đang nói về hay không. Tin tôi rằng, nếu ngoan tay một tí, tất cả những cuốn sách trong cuộc đời này đều liên quan tới nhau, đều là những câu chuyện phiếm không đầu không cuối góp trong một lần nhiều chuyện trong chợ lúc giã giề. Hãy dùng Paulo Coelho mà nói về Finnegans Wake (nhân tiện, thì Happy Bloomsday!), một người thật mainstream và một văn nhân thập cổ lai hi chẳng ai thèm đọc ư? Chẳng sao cả.

Hãy sưu tập những cái tên nổi tiếng ngay bây giờ để trích dẫn vào bài viết của mình, dù chỉ sẽ dùng như là những cái tên sau ngàn dấu phẩy liệt kê để dẫn nhập vào tác giả mà mình muốn nói. Giả dụ, Mỹ-La tinh sao có thể bỏ qua Jorge Luis Borges, Gabriel Garcia Marquez. Đông Âu làm sao quên László Krasznahorkai, Bruno Schulz,… Ứng với đó, Borges có Cuốn sách cát, Khu vườn những lối đi phân nhánh, Mê hồn trận; Marquez làm sao quên Trăm năm cô đơn, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, Tình yêu thời thổ tả; László Krasznahorkai rối rắm với Nỗi buồn kháng cự (thêm phim của Bela Tarr nữa thì còn gì bằng), Chiến tranh và chiến tranh trong khi Schulz có Những cửa hiệu quếPhố cá sấu.

Nhưng hãy chú ý rằng, đừng bao giờ đem những cái tên mà những người khác đã đem vào hàng trăm lần rồi, nhưng cũng đừng vận công vào những nhà văn chẳng có ai biết. Ernest Hemingway, Lev Tolstoy, Honore de Balzac, Truyện Kiều, Vội vàng là lựa chọn phù hợp, nhưng không phải lúc nào cũng an toàn.

2. Rước cho mình một giọng văn như nhà phê bình chán đời và khó tính

Dù quý bạn khó tính hay không khó tính, dù quý bạn có nhìn đời bằng màu hồng hay màu mực, khi muốn tỏ ra là một người giàu kinh nghiệm, hãy tỏ ra khó nhằn. Tại sao lại như thế, việc tung hê ai đó một cách sỗ sàng thường được gán cho vài tính từ hạ bệ kinh khủng đối với người viết: bợ đít, níu váy,… Và dĩ nhiên các nhà nouveau riche không hề thích thú làm gì việc đó. Nên dù khi đối mặt với một trang văn không tì vết và hợp gu đến lạ lùng (đó là tôi khi đọc Friedrich Durrenmatt) thì đừng có mà suồng sã khen một cách tới tấp. Hãy học cách Joseph Conrad giải mã chậm và ẩn ý, bằng việc phân tích một cách lớp lang: tổng, phân, tích, kết. Hãy chê bai thứ gì đó, ví dụ chê đời sống tình dục và phàm ăn tục uống của ông Balzac khi chẳng còn gì để chê (hoặc sợ chê sai), hoặc nếu khó khăn để bới móc, hãy lôi ai đó vào, và chê bai chép miệng, như một người bạn thân thiết biết rõ từng tính nết của gã ta (nhà văn, nhà thơ,…).

3. Dùng những ngôn ngữ lạ lùng

Đó không phải là những dạng thức teencode vung vãi trên từng dòng tin nhắn của quý bạn trên mạng xã hội khi muốn người khác nhìn bạn với tất cả sự dễ thương và hóm hỉnh, đó chính là những thuật ngữ khoa học chính cống và rất mang sức đánh động. Dù có hơi khó khăn để nhớ vì rối rắm, hãy rước cho mình những câu từ quý phái để làm một nhà bình phẩm chính cống: sự nới lỏng tổ chức (looseness of association), hiện thực thậm phồn (hyperreality), rễ chùm (rhizone),… Có vô vàn thuật ngữ sang trọng để quý bạn cho vào trong bài viết của chính mình để mà tô điểm. Dù đó là một công trình nghiên cứu rất cật lực và từ ngữ mang nhiều sắc thái và luận đề, hãy cứ bỏ nó vào một tình tiết hay nghệ thuật nào đó bất kỳ, vì thật may mắn làm sao, tất cả những ngôn từ, bình dân đến bác học, mới phù phiếm và tự do vận động đến bất ngờ. Một số cuốn sách nên đọc với lượng từ khổng lồ để sưu tầm là Văn học hậu hiện đại (Lê Huy Bắc), Cấu trúc thơ (Thụy Khuê), Triết học của tự do (Nikolai Alexandrovich Berdyaev),…

Không chỉ thế, thật ấn tượng làm sao nếu bạn đã đọc bản gốc của tác phẩm và trích nó lại bằng chính ngôn ngữ của nó. Thậm chí trích luôn D. H Lawrence, T.S Eliot hay Charles Dickens bằng tiếng Pháp thì chẳng ai phàn nàn gì, mà chỉ thấy ôi, sao mà giỏi thế!

Có rất nhiều bí kíp để thực hành làm một nouveau riche đúng điệu qua từng lời nói và bài viết của bạn, về văn học nói riêng và cuộc đời nói riêng. Việc mua những cuốn sách của Paul Valery hay Wittgestein và chẳng hiểu gì thật là trác tuyệt, việc cặp kè Franz Kafka và thảo luận liên hồi về kafkaesque, iceberg theory, lost generation,… mới hiểu biết làm sao, việc coi Bắt trẻ đồng xanh (J. D. Salinger) và Bay trên tổ chim cúc cu (Ken Kesey) là tuyên ngôn đi tìm chính mình của quý bạn thật sâu sắc nhường nào. Đó là lúc bạn đã trở thành một nouveau riche vang dội.

(Bài viết vận dụng những bí kíp chia sẻ, dù tác giả chẳng mặn mà gì mấy.)

Hết.

Gia Bin


Xem tất cả những bài viết của Gia Bin tại đây.


Đọc bài viết

Trà chiều

Thật tâm mà nói, cổ tích là một dạng tiểu thuyết trinh thám

Khám phá thế giới tăm tối và dị dạng trong những câu chuyện cổ tích kinh điển.

Đăng từ

on

Người đăng

FAIRY TALES ARE REALLY JUST HARD-BOILED CRIME
Steph Post

Những điều tồi tệ vẫn luôn xảy ra trong truyện cổ tích. Cho người tốt. Cho kẻ xấu. Cho bọn rồng, lũ phù thủy, các cô công chúa và những đứa trẻ bẳn tính. Thông thường, những câu chuyện này sẽ có kết cục viên mãn: chàng trai lấy cô gái, cô gái trả được thù, vương quốc bỗng choàng tỉnh, người nông dân không bị xơi tái mà tiếp tục sống cuộc đời khốn khổ của mình. Nhưng để có được cái kết đầy viên mãn trên, trước tiên một số tội ác phải diễn ra. Đó có thể là sự bội phản đầy tính sử thi, chẳng hạn như ngoại tình hay tội giết trẻ con; nhưng cũng có thể là những tội nhỏ: xâm nhập trái phép, trộm cắp vặt hay các hành vi gây rối trật tự. Và sau đó là những kẻ biến thái, những trường hợp loạn dâm với súc vật, ái tử thi và những thứ tương tự như thế.

Tiểu thuyết trinh thám thời nay không thể so bì với sự tài tình, tàn bạo và đơn giản chỉ là kỳ quái của những hành vi phạm tội trong các câu chuyện cổ tích thời xưa. Hơn thế, cổ tích thường tàn nhẫn. Tiểu thuyết trinh thám hiện đại độc chiếm tình thế nước đôi về mặt đạo đức, trong khi cổ tích không hề có chút nhân từ với kẻ ác và cũng không ban phát sự cứu chuộc. Khoan dung không phải là điều thường thấy trong dòng văn học này, và thậm chí nàng hầu gái tử tế nhất – một khi đã lột xác thành công chúa – thì cũng chẳng ngại ngần loại bỏ bà mẹ kế độc ác của mình.

Gạt sang một bên các bà tiên đỡ đầu, những chú yêu tinh tốt bụng, những cái cây ma thuật và bộ xương biết hát, tất cả những gì còn lại là một loạt các tội ác tàn nhẫn như thể chúng ra đời từ tiểu thuyết của Raymond Chandler hay Patricia Highsmith, của Agatha Christie hay Michael Connelly và những tác giả tương tự. Dưới đây là một trong số những câu chuyện yêu thích mà tôi thu thập từ khắp thế giới.

“Cô con gái giết chết cả nhà bằng hộp sọ rực lửa nhưng không bị bỏ tù

Gần đây, tôi đã khám phá ra gia tài cổ tích dân gian xứ Slavic và bị ám ảnh bởi những câu chuyện về Baba Yaga. Trong số đó, phổ biến nhất là câu chuyện Nàng Vasilisa xinh đẹp. Trung thành với khuôn mẫu cổ tích, Vasilisa là người tuyệt đẹp, cần cù và là cái gai trong mắt nhân vật mẹ kế và con gái riêng của mụ. Họ cố trù dập nàng bằng cách sai nàng đến nhà Baba Yaga, mụ phù thủy trong rừng sâu, để tìm một ngọn đèn. Vasilisa hoàn hảo đến mức Baba Yaga không thể làm gì được nàng, và thay vì hãm hại bằng cách nhai ngấu nghiến nàng, bà đã gửi nàng trở về nhà cùng với một hộp sọ đầy lửa. Khi Vasilisa chìa “ngọn đèn” như người mẹ kế yêu cầu, nó đã thiêu sống mụ ta và cả hai đứa con gái riêng, thiêu rụi luôn cả ngôi nhà. Mặc dù vậy, giống như cách Daenerys Targaryen đã thoát khỏi giàn hỏa thiêu với rồng thiêng, Vasilisa sống sót qua trận hỏa hoạn, bình an vô sự và cuối cùng kết hôn với một vị vua.

“Đứa trẻ bị bỏ rơi giết một bà già bằng cách nướng sống bà ta”

Tất nhiên, đây là câu chuyện Hansel và Gretel từ tuyển tập truyện kể của anh em nhà Grimm. Câu chuyện này có tất cả mọi thứ: từ người mẹ kế ác độc, những đứa trẻ bị vứt bỏ rồi vì lòng tham mà lạc trong rừng, ngôi nhà làm từ bánh kẹo ăn được, và mụ phù thủy không-được-sáng-trí-lắm cuối cùng cũng bị trừng trị. Trong truyện cổ tích, phụ nữ ít khi nhận được tiếng thơm; họ thường bị phán xét là thụ động, một thứ huân chương vô tri để nam giới rước về nhà, và thường thì phán xét trên là đúng. Nhưng những cô gái chưa kết hôn lại có một số lượng đáng kinh ngạc những ý tưởng. Họ sống sót nhờ trí thông minh, và Hansel và Gretel là ví dụ hoàn hảo cho sự xảo quyệt của những cô gái trong truyện cổ tích. Trong khi Hansel bị nhốt trong cũi chờ vỗ béo cho bữa ăn tối của mụ phù thủy, Gretel đã lừa được mụ vào trong lò, nơi mụ bị thiêu cháy thành than ngay lập tức. Gretel có những ngày đầy hạnh phúc trong ngôi nhà đầy kẹo.

“Nàng công chúa mất ngai lợi dụng ngựa chết để trả thù tình địch”

Sẽ rất khó để chọn ra câu chuyện cổ tích Grimm nào được tôi yêu thích nhất, vì có đến hơn hai trăm lựa chọn, nhưng nếu bắt buộc phải lựa chọn, tôi sẽ chọn Cô gái chăn ngỗng (The Goose Girl). Nó vừa bệnh hoạn lại vừa kỳ dị đến đáng sợ, và chắc chắn không phù hợp cho trẻ em. Chứng tự hại, lời tiên tri bằng giọt máu, con ngựa bị chặt đầu và các hình thức tra tấn thời trung cổ đầy rẫy từ đầu đến cuối. Nó là một câu chuyện quanh co, nhưng về bản chất, nó kể lại những thử thách của một nàng công chúa bị ả hầu gái ép buộc phải đổi chỗ với ả trên đường đến lễ cưới của mình. Vua cha bị lừa, nàng công chúa thật cuối cùng biến thành người chăn ngỗng và tâm sự với một cái đầu ngựa đã chết. Bất ngờ thay, cái đầu ngựa đáp lời cô và cuối cùng tiết lộ về kế hoạch đào mỏ của ả hầu. Sau đó, ả công chúa giả mắc mưu nhà vua và vô tình chọn hình phạt cho chính mình – bị lột trần truồng, bị nhồi vào một cái thùng rượu đính đầy đinh và lăn lông lốc xuống một ngọn đồi – trong khi đó nàng công chúa thật nhận lấy vị trí xứng đáng của mình và trở thành nữ hoàng của vương quốc. Nếu đây không phải là một câu chuyện lá cải phù hợp với một cuốn tiểu thuyết trinh phám, thì tôi không còn biết nó còn có thể là gì nữa.

“Tay nghiện cờ bạc tham gia bắt cóc trẻ con với gã khổng lồ đáng sợ

Trong truyền thuyết của người Nepal, Gurumapa là một gã khổng lồ nanh nọc gớm ghiếc, thu thập những đứa trẻ không vâng lời cha mẹ. Trong câu chuyện Kesh Chandra, ta bắt gặp một lão già bị đuổi khỏi nhà chị gái mình sau khi lão không thể ngừng đánh bạc, đến mức lão đánh cắp dao nĩa của bà để bán và nuôi thói quen đánh bạc. Lão lang thang ở Kathmandu một thời gian, cho đến khi một vài con chim bồ câu thương hại và biến chất thải của chúng thành vàng. Cái loài chim này vốn khoái ị nên dĩ nhiên, có rất nhiều vàng. Kesh trở nên tham lam và đòi hỏi phải có tất cả số vàng trước mắt. Ông ta thuyết phục Gurumapa – một gã khổng lồ hung dữ, chuyên ăn thịt người đang tình cờ lang thang gần đó – khiêng tất cả chỗ vàng hộ lão và hứa sẽ tổ chức cho y một bữa tiệc thịnh soạn. Kesh Chandra cũng nói với người khổng lồ rằng y được phép bắt cóc bất cứ đứa trẻ bất tuân nào trong làng. Kẻ nghiện cờ bạc ấy được Gurumapa cho vào nhà và sống trong căn gác mái khổng lồ, miễn là lão đặt điều cho những bậc cha mẹ trong làng khi bọn trẻ đi học và không trở về. Đó là một giao kèo không tưởng và hai bọn ấy trở thành cặp đôi hoàn hảo: Kesh tha hồ tận hưởng đống vàng và thói nghiện cờ bạc, trong khi Gurumapa đánh chén đám trẻ con thỏa thê.

“Bà mẹ tự tử sau khi con gái riêng được ban phước bởi những cái đầu biết nói, thất vọng về chính đứa con ruột của mình

Chết vì tự tử là tội ác thực sự duy nhất trong câu chuyện kỳ ​​lạ Ba cái đầu bên giếng nước (The Three Heads of the Well), nhưng trong thời đại hiện nay, khi tồn tại rất nhiều bậc cha mẹ quá tham vọng, tôi nghĩ câu chuyện này vừa thích hợp mà vừa lạ lùng đến khoái chá. Đúng như dự đoán, trong câu chuyện có một vị Vua cha, một bà mẹ kế, một cô em kế và dĩ nhiên là một cô con gái với bà mẹ đã mất – cô sẽ bước chân hòa nhập với thế giới để tìm kiếm vận may, tránh xa khỏi cái gia đình phiền toái này. Cô đối xử tử tế với một ông lão, và để đáp lại ân huệ này, ông khuyên cô đến thăm một cái giếng nơi có ba cái đầu, vâng, đang chờ đợi ai đó gội đầu chải tóc cho. Sau khi làm đúng như thế, ba cái đầu ban cho cô những món quà kì diệu: sắc đẹp, giọng nói tuyệt vời và ngôi vị hoàng hậu. Khi rời khỏi giếng, cô tình cờ chạm mặt đứa Vua xứ khác. Bị quyến rũ bởi vẻ đẹp và giọng nói của cô, chàng ngay lập tức kết hôn với cô. Bấy giờ, người mẹ kế khi nghe tin này đã gửi con gái của mình đi và đinh ninh rằng cô ta sẽ phù hợp với đức Vua hơn. Cô gái này tuy thế lại thô lỗ với ông già và ba cái đầu; từ đó họ khiến cho cô bị hủi, giọng nói khiếp đảm và kết hôn với một anh thợ sửa giày. Người mẹ kế tị hiềm khi nghe tin này liền phát điên và cuối cùng treo cổ tự vẫn. Câu chuyện kết thúc với việc Vua cha ăn mừng cái chết của người vợ tàn độc và sự xấu xí của con gái riêng. Eo ôi.

“Người đàn ông ăn cắp vịt, mọc lông và bỗng dưng thích bị ngược”

Câu chuyện kỳ lạ này đến từ Trung Quốc, ngắn gọn và xoay quanh một tội ác đơn giản. Trong Tên trộm vịt (Theft of a Duck), một người đàn ông đã ăn cắp một con vịt từ người nông dân nọ. Sáng hôm sau, y thức dậy và phát hiện ra mình đã mọc lông khắp người trong đêm. Nó ngứa kinh khủng nhưng trong đêm kế tiếp, y mơ thấy mình sẽ được cứu rỗi nếu y sang nhà người nông dân và nhờ anh ta gọi mình bằng từ ngữ miêu tả đúng những gì y đã làm: một “tên trộm bẩn thỉu”. Ngày hôm sau, y đến gặp người nông dân và cố gắng lừa anh gọi một người hàng xóm khác là một “tên trộm bẩn thỉu”. Thế nhưng mánh lới này thất bại vì người nông dân không muốn trở nên xấu tính như vậy. Cuối cùng, gần như tuyệt vọng, tên trộm xé áo phô ra lông vũ và cầu xin người nông dân gọi anh ta là một tên trộm bẩn thỉu. Người nông dân là một người tốt, thương hại và mắng mỏ cho đến khi đám lông biến mất.

“Kẻ mắc chứng nói dối phản bội cha, trở thành nạn nhân của nạn buôn người và giả chết

Pinocchio. Khi còn là một đứa trẻ, tôi không chắc giữa PinocchioDumbo, bộ phim Disney nào làm tôi kinh hoàng hơn. Tôi nghĩ tôi đã cố ý xóa bỏ phần lớn ký ức về phiên bản của Disney, nhưng khi trưởng thành và đọc nguyên bản tiểu thuyết dài kỳ Pinocchio, tôi mới nhận ra rằng câu chuyện cổ tích Ý này thực sự đáng lo ngại đến mức nào. Chúng ta đều biết cốt truyện cơ bản từ bản hoạt hình: con rối gỗ, người cha tốt bụng, nàng tiên xanh và dế Jiminy, những mong muốn hão huyền. Nhưng sau đó, tôi lại thấy Pinocchio nói dối, giết chết chú-dế-kiêm-người-dẫn-đường, chạy trốn khỏi nhà, bị lừa và nhốt vào một chương trình múa rối kỳ cục tại một “hòn đảo khoái lạc”, bị một con cá voi nuốt chửng, phát hiện ra người cha từng bị cá voi nuốt chửng, cuối cùng chết và sau đó sống lại như một bé trai thực sự. Và đó là phiên bản của Disney! Trong bản gốc, Pinocchio thậm chí còn giống một tên đần hơn. Con rối độc ác không chỉ nói dối, lừa gạt, lừa đảo; mà còn hành hạ động vật, bạo hành thể xác Geppeto, và là một thằng khốn toàn diện – ngay cả khi mọi người tiếp tục cho hắn cơ hội lần hai. Pinocchio sau chót là kẻ trơ tráo: giả chết, chơi trò con rối để có được sự đồng cảm, đam mê mọi thứ từ uống rượu đến đánh bạc để lừa những con rối khác. Nói tóm lại, Pinocchio là hỏa ngục của tội ác và tội lỗi. Nhưng đặc biệt là cuối cùng, Pinocchio hoàn toàn không phải chịu hậu quả cho những hành vi của mình.

*

Và sau đó, ta còn có có Bạch Tuyết và bảy chú lùn (hiếp dâm), Rapunzel (giam giữ trái phép), Công chúa ngủ trong rừng (đột nhập và xâm nhập), Râu xanh (giết người hàng loạt), Cô bé quàng khăn đỏ (bạo hành động vật), Chàng rể tương lai (ăn thịt đồng loại) và Cây đỗ tùng (lạm dụng trẻ em) – và tất cả đều chỉ giới hạn trong những câu chuyện của anh em nhà Grimm. Hỡi các nhà văn, nếu bạn có bao giờ cần cảm hứng cho cốt truyện trinh thám thì không cần tìm đâu xa ngoài những câu chuyện cổ tích mà tất cả chúng ta đều lớn lên cùng. Tất cả những tội ác muốn có sẽ luôn ở đó, ngay sau những cái kết hạnh phúc viên mãn nhất.

Hết.

minh. dịch

Bản gốc được thực hiện bởi Steph Post và đăng tại CrimeReads.


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích




Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!