Trà chiều

Vai trò của bìa sách trong ngành xuất bản hiện đại

Vì mọi chuyện không đơn giản chỉ là gỗ và nước sơn.

Published

on

Là yếu tố hữu hình cấu thành nên một cuốn sách, bìa sách là một lớp da, một lớp màng bọc tế bào, và là tấm khiên bảo vệ: áo sách bảo vệ bìa cứng khỏi trầy xước và tác hại của ánh sáng mặt trời, trong khi lớp bìa mềm không chỉ kết nối các trang với nhau mà còn giữ giấy sạch sẽ và không bị rách. Trong quá khứ, áo sách chỉ là những tờ giấy gói đơn giản có chức năng bảo vệ phần gáy sách đã được trang trí; nhưng từ khoảng đầu thế kỷ XX, những tác phẩm minh họa đã được chuyển từ bìa cứng sang chính lớp áo sách.

Vai trò thoạt tiên của bìa sách

Dưới góc nhìn ẩn dụ, bìa sách là khung bao quanh văn bản và là cầu nối giữa văn bản và thế giới. Bìa sách đóng vai trò như lời mời đến những độc giả tiềm năng, một lối bước vào cái thế giới mà nhà văn đã tạo ra – cho dù là hư cấu, lịch sử, tự truyện hay thể loại khác. Hãy đến đây – bìa sách lên tiếng – hãy hòa mình vào bữa tiệc, hoặc ít nhất hãy lưu lại một cái hẹn.

Dưới tư cách một vật thể được thiết kế, bìa sách là cái nhìn đầu tiên về văn bản và là phương thức trực quan thể hiện những gì văn bản muốn nói: nó vừa là một sự diễn giải, vừa là một bản dịch từ ngôn ngữ viết sang ngôn ngữ hình ảnh. Mặc dù nhà thiết kế bìa có thể muốn truyền tải điều gì đó mới mẻ, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế trong quá trình thiết kế vì bìa sách còn phải là “quầy thông tin”: không chỉ cho biết tên tác giả, tên sách và nhà xuất bản, mà còn xác định thể loại cuốn sách.

Có rất nhiều hình ảnh rập khuôn tồn tại lâu đời khi thiết kế các thể loại như trinh thám tội phạm, khoa học viễn tưởng, giả tưởng và lãng mạn, nhưng mọi cuốn sách phải thể hiện cái tôi của mình trong sự tôn trọng các cuốn sách khác. Không ai thích quảng cáo sai sự thật.

Sách cũng cần phải tự bán, vì vậy trang bìa có thể được hiểu như là đoạn giới thiệu – tương tự teaser phim – cung cấp cho chúng ta vừa đủ thông tin, bao gồm nhận xét từ những độc giả khác, để lôi kéo chúng ta mua sách. Lời giới thiệu từ độc giả (“blurb”) là đặc trưng tiêu chuẩn của nhiều bìa sách, nhưng trong khoảng thời gian dài mà nó đã tồn tại, nó đã làm dấy lên nhiều nghi ngờ, chế giễu, và thậm chí là khinh miệt.

Blurb, hay những lời giới thiệu sách bị ghét bỏ

Vào năm 1936, George Orwell đã đổ lỗi sự thoái trào của tiểu thuyết là do “những dòng lằng nhằng kinh tởm được viết bởi đám phê bình chuyên đi viết giới thiệu”. Camille Paglia gọi những lời giới thiệu là “tuyệt đối tệ lậu” trong một bài phát biểu năm 1991. Truyền thống chống-lời-giới-thiệu (anti-blurb) bao gồm chính người phát minh ra cụm từ này, Gelett Burgess. Ông đã cho ra đời một thiết kế áo sách vào năm 1907 – trân trọng giới thiệu tác phẩm “Miss Melinda Blurb in the Act of Blurbing” (tạm dịch “Cô Melinda Mê Giới Thiệu đang Miệt Mài Giới Thiệu”) – để chế nhạo cái lệ thường đang càng trở nên phổ biến trong ngành xuất bản.

Burgess đã khai sinh ra thuật ngữ “blurb”, nhưng nhà thơ Walt Whitman mới là người sáng tạo nên bản thân hành động này. Ralph Waldo Emerson, sau khi đọc ấn bản đầu tiên của tập thơ Leaves of Grass (tạm dịch Lá cỏ, phát hành năm 1855), đã gửi cho Whitman một bức thư khen ngợi. Tại thời điểm đó, Emerson là một tri thức gia lỗi lạc, trong khi Whitman tương đối ít được biết đến ngoài phạm vi New York. Bức thư đáng lẽ chỉ là những lời động viên riêng tư. Nhưng Whitman đã đăng nó lên trên tờ New York Tribune.

Một năm sau, vào năm 1856, Whitman đã trích một dòng trong bức thư từ Emerson, rằng “Tôi gửi lời chào anh tại khởi đầu của một sự nghiệp vĩ đại” để in bằng lá vàng trên gáy của ấn bản Lá cỏ phát hành lần hai. Không có gì bất ngờ khi một nhà thơ, người từng bắt đầu tác phẩm nổi bật đầu tiên với câu “Tôi tự tán tụng mình”, có tài năng đặc biệt trong việc tự quảng cáo cho tên tuổi cá nhân.

Quả thật, Whitman hiểu rằng bìa sách không chỉ là quảng cáo cho bản thân cuốn sách mà còn là quảng cáo cho những thể loại độc giả mà chúng ta hằng mường tượng về bản thân mình, hoặc muốn trở thành. Có một mối liên hệ mật thiết giữa những gì chúng ta đọc và việc chúng ta là ai, giữa những giá sách và bản thân ta. Khi đọc xong một cuốn sách, bìa sách được xem là món quà kỷ niệm lưu lại trải nghiệm đọc xuyên suốt. Khi đọc xong một cuốn sách đặc biệt khó, bìa sách có chức năng như là huân chương trao thưởng lao động trí óc. Khi mang theo một cuốn sách ở nơi công cộng, bìa sách có thể tiết lộ những thông tin về bạn trước những người xa lạ, và họ sẽ đưa ra những phỏng đoán về bạn. Mặc dù cảm giác bị phơi bày có hơi mạo hiểm, nhưng đôi khi những phỏng đoán như thế lại được hoan nghênh, chẳng hạn như khi bìa sách – đột ngột bắt gặp trên toa tàu điện ngầm đông đúc – lại giống như cái bắt tay bí mật với một người khác đang đọc cùng thể loại.

Sau cùng, bìa sách là “phương tiện”, trung gian và nghệ thuật

Một tấm khiên bảo vệ, một cái khung, một cây cầu, một bản dịch, một sự diễn giải, một lời giới thiệu, một món quà lưu niệm, một chiếc huân chương, một cái bắt tay và hơn nữa – bìa sách là rất nhiều thứ. Và nó thực hiện nhiều chức năng. Chính vì lý do này mà chúng ta xem bìa sách như một phương tiện, mà thông qua nhiều nền tảng (ví dụ: áo sách, bìa mềm, hình ảnh kỹ thuật số) hoạt động cùng nhau để thể hiện văn bản một cách trực quan và giới thiệu cuốn sách với thế giới.

Thuật ngữ “phương tiện” (medium) có một số định nghĩa trùng lặp, cho phép nó thể hiện các đặc điểm nhận dạng và chức năng đa dạng của bìa sách trong thời đại của chúng ta.

Từ thế kỷ XVI, thuật ngữ “phương tiện” được sử dụng khi thảo luận về các nền tảng, phẩm chất, mức độ hoặc tình trạng trung gian: trạng thái ở giữa hai thứ. Đồng thời “phương tiện” cũng chỉ định bất kỳ sự can thiệp nào có thể truyền tải biểu hiện, cảm giác và tâm trạng. Song song với những định nghĩa này là hai khái niệm khác: khái niệm về hệ thống tiền tệ hoặc trao đổi trung gian, hoặc khái niệm về phương tiện trung gian với thế giới tâm linh. Khái niệm cuối cùng này không hề quá xa vời, vì công việc chính của bìa sách là cụ thể hóa cái trừu tượng, hình dung ra cái phù du và kết xuất cái siêu hình.

Sau đó, vào thế kỷ XIX, “phương tiện” bắt đầu mang những định nghĩa hiện đại hơn, gần giống với những gì ta hiểu ngày nay. Một mặt, tồn tại khái niệm về phương tiện giao tiếp: một kênh biểu đạt hoặc một hệ thống cung cấp thông tin mà qua đó các tín hiệu được trao đổi qua lại. Khái niệm này giao thoa với hình dung của ta về “các phương tiện truyền thông đại chúng” như một hệ thống báo chí và giải trí rộng lớn, bao gồm báo, tạp chí, truyền hình, radio và internet, cũng như nhiều người làm việc với tư cách là nhà sản xuất nội dung, biên tập viên, influencer và các học giả.

Mặt khác, tồn tại định nghĩa về “phương tiện nghệ thuật”: hội họa, điêu khắc, khiêu vũ, phim ảnh,… Trong nghệ thuật, thuật ngữ này đề cập đến cả chất liệuquá trình sáng tạo: đất sét hoặc đá cẩm thạch hoặc hỗn hợp papier-mâché có thể được xem là phương tiện của điêu khắc, nhưng bản thân việc điêu khắc cũng là một phương tiện. Và để nói đến điêu khắc với tư cách là một phương tiện không chỉ đơn thuần là thảo luận về chất liệu của nó, mà là đề cập đến một phong tục thẩm mỹ cổ xưa và đáng kính, mà ý nghĩa và giá trị của nó đã được các nghệ sĩ, triết gia và nhà phê bình tranh luận trong nhiều thiên niên kỷ. Khái niệm mở rộng về phương tiện này bao gồm cả lịch sử, lý thuyết và kỹ thuật sáng tạo của bất kỳ ngành nghệ thuật nào.

Vậy, việc xem bìa sách như một “phương tiện” có ý nghĩa gì? Đó là xem bìa sách như trung gian giữa văn bản và ngữ cảnh, một khu vực tương tác giữa tầm nhìn của nhà văn và phông nền văn hóa nơi cuốn sách được xuất bản.

Nhìn xa hơn, đó còn là việc xem bìa sách như một “người hòa giải” hoặc “trung gian” để chứng minh cho các khía cạnh xã hội của việc viết sách – vì dù một bản thảo là của tác giả riêng lẻ, một cuốn sách lại là nỗ lực tập thể. Bìa sách ra đời thông qua một quá trình có sự tham gia của nhiều bên liên quan, không chỉ tác giả và nhà thiết kế, mà còn cả biên tập viên, nhà xuất bản, giám đốc tiếp thị, nhà in,… và hơn thế nữa.

Những trang bìa cần sự kết hợp; quá trình thiết kế liên quan đến việc vòng lặp của phản hồi và sửa đổi. Kết quả cuối cùng là tạo ra một “phương tiện” giàu thông tin, và có lẽ cũng là một tác phẩm nghệ thuật.

Xin khẳng định lại, hầu hết các bìa sách không phải tác phẩm nghệ thuật, mà là các đóng gói thương mại. Tuy nhiên, gần như tất cả các bìa sách đều là tác phẩm đa phương tiện kết hợp các yếu tố lời nói và hình ảnh. Marshall McLuhan chia sẻ rằng, “nội dung của bất kỳ phương tiện nào luôn là một phương tiện khác” và tuyên bố này có vẻ đặc biệt phù hợp với bìa sách, nơi tái chế các bản vẽ, ảnh và văn bản từ các bài đánh giá sách và các nguồn khác.

Lấy trang bìa cuốn sách Homegoing (2016) của Yaa Gyasi làm ví dụ. Thiết kế ban đầu đã được sửa đổi để bổ sung những lời khen ngợi bất ngờ từ Ta-Nehisi Coates: “Homegoing là một nguồn cảm hứng.” Đây là ví dụ hoàn hảo cho câu nói của McLuhan, và nó cũng cho ta thấy cách mà bìa sách tồn tại như thế nào cả bên trong và bên cạnh môi trường kỹ thuật số ở thế kỉ XXI.

Một ví dụ khác là cuốn sách Citizen (2014) của Claudia Rankine, có trang bìa là bức ảnh chụp tác phẩm điêu khắc tường In the Hood (1993) của David Hammons – qua đó gợi lên lịch sử của tập tục hành hình tập thể trái phép (lynching). Tại đây, một tác phẩm nghệ thuật được hiển thị thông qua nhiếp ảnh như một phần của thiết kế tổng thể.

Bìa sách Citizen (2014) của Claudia Rankine.

Tuyên bố của McLuhan dẫn dắt sự chú ý của chúng tôi đến việc cải tạo – quá trình mà một phương tiện này “ăn thịt” một phương tiện khác – điều không bao giờ dừng lại trong văn hóa kỹ thuật số chia sẻ và kết hợp vô tận. Bìa sách đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, vừa là phương tiện vừa là đối tượng trong đó.

Là một tác phẩm nghệ thuật mang tính chính trị cao khi đề cập đến vấn nạn phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ, bản thân Citizen đã được “cải tạo” với mục đích bày tỏ chính kiến trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016. Lúc bấy giờ, tại một cuộc mít tinh vận động tranh cử ở Illinois, vì bất mãn trước lời nhận xét của ứng cử viên Donald Trump, một phụ nữ người da màu lặng lẽ mở cuốn sách Citizen và bắt đầu đọc, ôm cuốn sách ngang tầm mắt và phơi bày trực tiếp bìa sách trước máy quay truyền hình. Khi bị một người đàn ông da trắng lớn tuổi khiển trách, bà từ chối đặt cuốn sách xuống. Video quay lại cuộc nói chuyện giữa họ được lan truyền nhanh chóng, và sau đó được “cải tạo” thành một GIF động.

Hết.

Lalijade lược dịch.

Bài viết gốc What a Book Cover Can Do được thực hiện bởi Peter MendelsundDavid J. Alworth, đăng tại Literary Hub.

Trà chiều

Vì sao chúng ta lập bản cam kết đầu năm? (và vì sao ta thường thất bại trong việc thực hiện chúng)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Published

on

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)
Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái bị chàng phụ bạc đã chết - phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton - người bảo trợ của Dorian - đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm, ông kết luận có hơn 50% người Mỹ đặt ra những lời cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman - nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina - được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” - những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại: “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt - những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất - 82% so với mức sàn - diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất - 150% so với mức trung bình - được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng - là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 7 – Ngạo mạn: Nhân sư thành Thebes (Hy Lạp)

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Ngạo mạn.


Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx «sfihngks» - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực. Với người dân Ai Cập, nhân sư đóng vai trò như một biểu tượng hơn là một thực thể độc lập. Nó là thần bảo vệ, người canh giữa các kim tự tháp, là kẻ giáng đòn trừng phạt lên kẻ thù của thần mặt trời Ra. Nó cũng đại diện cho các pharaoh và sức mạnh thần thánh của họ. Đôi khi, khuôn mặt của tượng nhân sư được chạm khắc hoặc sơn vẽ giống với một vị pharaoh cụ thể.

Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực.

Hình tượng nhân sư có xuất xứ từ Ai Cập hoặc Ethiopia; nhưng sau khi “đặt chân” đến Hy Lạp cổ đại, hình dáng và tính cách của sphinx có nhiều biến đổi. Vào những năm 1.600 TCN, tượng nhân sư lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp nói riêng và văn hóa Hy Lạp nói chung. Sphinx được miêu tả là loài quái vật với thân hình sư tử, đầu và ngực của một người phụ nữ, đôi cánh của đại bàng và (theo một số người) đuôi rắn.

Trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật sphinx nổi tiếng nhất xuất hiện tại thành Thebes. Một ngày nọ, nó bay lên đỉnh tường thành và ngạo nghễ hỏi toàn thể thanh niên Thebes một câu đố: “Cái gì buổi sáng đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân, tối đi bằng ba chân?”. Bất cứ ai trả lời sai đều hóa thành bữa ăn trong bụng sphinx. Con đường dẫn tới nơi ở của nhân sư rải đầy xương của những kẻ xấu số.

Thời điểm bấy giờ, sau cái chết của vua Laius, Creon đang tạm thời nhiếp chính. Vẫn chưa một ai trả lời đúng câu hỏi, và người dân thành Thebes đang chết dần. Mong muốn tống khứ được con quái vật này đi bằng mọi giá, Creon tuyên bố trao vương quyền và gả vị hoàng hậu đang góa bụa Jocasta cho người anh hùng giải được câu đố của sphinx.

Cuối cùng, Oedipus - người đang chạy trốn khỏi Corinth - đã giải được câu đố. Đáp án của chàng là một con người:

Giai đoạn bình minh cuộc đời, một đứa trẻ phải bò bằng bốn chân (tay và đầu gối).

Khi trưởng thành như mặt trời ban trưa, con người đi bằng hai chân.

Nhưng vào buổi hoàng hôn của cuộc đời, người già phải chống gậy, đi bằng ba chân.

Oedipus đã giải được câu đố.của nhân sư thành Thebes.

Sau khi nghe câu trả lời của Oedipus, sphinx đã gieo mình từ bức tường thành Thebes và chết trong tuyệt vọng và nhục nhã.

Hình tượng nhân sư rất phổ biến trong nghệ thuật thời Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp thường tạc đầu nhân sư lên các bia mộ để xua đuổi những kẻ trộm mộ. Chúng cũng xuất hiện trên bình gốm, tranh khắc. Nhìn chung, tồn tại khá nhiều diễn giải về hình tượng nhân sư: trong khi một số người coi chúng là biểu tượng của sự hung hãn và bạo lực, một số khác lại xem nhân sư là đại diện của tri thức toàn năng và túi khôn của thời cổ đại.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 6 – Ghen tị: Quỷ sống Hashihime, đừng đùa bỡn với tình cảm của phụ nữ

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Kiêu ngạo.


Bị thiêu đốt bởi ghen tuông và oán hận, một người đàn bà đã dùng ý chí của mình để cầu xin thánh thần phù trợ, tự biến mình thành một con quỷ sống - nữ quỷ của thịnh nộ và chết chóc. Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Quay ngược về nước Nhật cổ đại - trước khi chữ viết xuất hiện, từ “Hashihime” từng được dùng để chỉ nữ thần bảo trợ những cây cầu bắc qua sông. Nhật Bản thời bấy giờ (và kể cả ngày nay) là nền văn hóa vật linh; những yếu tố thiên nhiên hiện thân thông qua các linh hồn thiện và ác. Các kỳ quan của thiên nhiên - như bách niên đại thụ hoặc chỏm đá kỳ dị - đều được bảo trợ bởi các vị thần gọi là Kami. Các con sông cũng vậy, đặc biệt là các con sông lớn, là nơi trú ngụ của thần linh.

Những cây cầu bắc qua sông lớn giống như con dao hai lưỡi. Chúng cho phép người dân di chuyển giữa hai bờ để giao thương buôn bán, nhưng cũng tạo điều kiện để kẻ thù tấn công. Vì thế, bất cứ cây cầu nào có kích thước đáng kể đều được cho là nơi sinh sống của thần hộ mệnh Hashihime. Nàng đóng vai trò như một người gác cổng, cho phép đồng minh đi qua và ngăn chặn kẻ thù xâm nhập.

Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Không ai biết rõ nguyên nhân vì sao hình tượng nữ thần Hashihime lại biến thành nữ quỷ Hashihime. Một trong những lý giải là sự ra đời của thiên sử thi “Heike Monogatari” (Chuyện kể về Heike). “Heike Monogatari” - tương tự những câu chuyện được sáng tạo và truyền miệng qua nhiều thế hệ trước khi ngôn ngữ viết ra đời - có rất nhiều dị bản. Nhân vật chính là nàng Hashihime vùng Uji. Nàng là một tiểu thư xuất thân cao quý, nhưng chẳng may bị người chồng trăng hoa lừa dối (một số dị bản kể rằng nàng bị bỏ bê khi chồng nàng lấy được người vợ thứ hai)1. Trong cơn tị hiềm mù quáng, Hashihime đã cầu viện đến sự trợ giúp của thánh thần đền Kifune, tự biến mình thành một con quỷ sống để trả thù.

“Bị vây hãm trong đố kỵ, nàng đã hành hương đến ngôi đền Kifune và toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Trong bảy ngày liên tục, nàng chỉ ước một điều duy nhất: 'Hỡi vị Kami vĩ đại và quyền uy của đền Kifune, xin ngài ban cho tôi sức mạnh của ác quỷ khi tôi vẫn là con người bằng xương bằng thịt. Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.'

Vị Kami đền Kifune đã chú ý đến tâm nguyện của Hashihime và thấu hiểu mong muốn của nàng. 'Ta đã bị cảm hóa bởi sự chân thành trong lời ước của ngươi. Nếu ngươi muốn trở thành một con quỷ sống và hóa thân thành giống loài hung ác, hãy đi đến sông Kawase ở Uji. Thực hiện nghi lễ ta dạy cho ngươi, và sau đó ngâm mình trong làn nước sông. Hãy làm điều này trong 21 ngày.'

Vị nữ quý tộc này đã nghe thấy lời đáp của thánh thần. Nàng tìm được một nơi vắng vẻ, nơi nàng làm theo đúng chỉ dẫn của Kami. Đầu tiên, nàng xoắn những lọn tóc dài của mình thành năm chiếc sừng. Sau đó, nàng mài chu sa thoa lên mặt và dùng màu vẽ đỏ tươi thoa lên cơ thể mình, cho đến khi nàng trở nên đỏ rực như quỷ dữ trong truyền thuyết. Cuối cùng, nàng đội lên đầu một chiếc đinh ba chạc, và cắm vào đó ba ngọn đuốc bằng gỗ thông cháy phừng phực. Giữa hai hàm răng, nàng nghiến chặt thêm hai ngọn đuốc.

'Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.' - Trích lời cầu nguyện của Hashihime.

Quá trình chuẩn bị đã hoàn tất. Với ngọn đuốc sáng rực trong đêm thâu, nước da đỏ rực và trên đầu đội vương miện bằng sắt, nàng xuôi về phía nam đến Yamato-oojidori. Ngoại hình của nàng chẳng khác quỷ quái là bao; ai ai nhìn thấy nàng cũng đều gục xuống, chết khiếp trước cảnh tượng kinh hoàng này. Cuối con đường là con sông Kawase, nơi người phụ nữ ngoan ngoãn ngâm mình dưới làn nước. Như lời Kami đền Kifune hứa hẹn, sau 21 ngày, nàng đã hoàn toàn biến đổi thành một con quỷ sống trong thân xác phàm trần.

Bằng cách này, Hashihime đã trả thù gã đàn ông phụ bạc, cùng tất cả họ hàng thân thích và gia nhân của hắn. Cơn thịnh nộ của nàng không có ranh giới. Khi nàng giết đàn ông, nàng hóa thân thành phụ nữ. Khi nàng giết phụ nữ, nàng lấy dung mạo là đàn ông. Nàng trở thành nỗi kinh hoàng của người dân thị trấn; không một ai dám bước chân ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.”

*

Trong “Heike Monogatari”, điểm khiến Hashihime trở nên đặc biệt là nàng trở thành quỷ khi vẫn đang “còn sống”. Nàng không cần cái chết hay sự tái sinh để biến thành một sinh vật siêu nhiên. Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, cái chết có tác dụng biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến motif nhân vật chính trả thù sau khi bị hại chết. Vì vậy, việc nàng Hashihime vùng Uji là một con quỷ “sống” đã tăng thêm mức độ ghê rợn của câu chuyện và hình tượng này.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Chú thích:

  1. Trong một số dị bản, nguồn cơn sự ghen tị Hashihime dành cho một nữ quý tộc khác không đến từ mâu thuẫn tình cảm.
Đọc bài viết

Cafe sáng