Trà chiều

Xuân, Hạ, Thu, Đông: Bốn mùa Phương Nam tại Đường Sách TP. HCM

Kỉ niệm Đường Sách tròn 5 năm tuổi, mời bạn cùng tôi đếm lại bốn mùa của Phương Nam tại Đường Sách.

Published

on

Ngày 09.01.2021 vừa qua đánh dấu sinh nhật 5 năm của Đường Sách TP. HCM (2016-2021). Trong 5 năm qua, giữa muôn vàn những địa điểm tụ tập vui chơi, có một cộng đồng người Sài Thành vẫn lựa chọn dành những ngày cuối tuần cho con đường dài chưa đến 150 mét, nhưng ẩn chứa trong đó là cả một thế giới sách mầu nhiệm. Và cũng trong 5 năm này, Nhà Sách Phương Nam vẫn bền bỉ song hành cùng Đường Sách, chứng kiến sự ra đời, những thay đổi và phát triển của con đường đầy lá me bay.

Hôm nay, kỉ niệm Đường Sách tròn 5 năm tuổi, mời bạn cùng tôi đếm lại bốn mùa của Phương Nam tại Đường Sách, lắng nghe câu chuyện xuân, hạ, thu, đông,… rồi lại xuân này.

Nhà Sách Phương Nam vẫn bền bỉ song hành cùng Đường Sách, chứng kiến sự ra đời, những thay đổi và phát triển của con đường đầy lá me bay.

Xuân

Một năm bắt đầu bằng mùa xuân, và mùa xuân ở Sài Gòn bắt đầu khi thành phố thay áo đượm hương: đường hoa Tết trên phố đi bộ, pháo bông đì đùng trên góc trời rộng đêm giao thừa; và đặc biệt không thể không nhắc tới Hội Sách Tết – thú chơi Tết thanh tao của riêng người Sài Thành. Những mùa xuân qua, bắt đầu từ 21, 22 tháng Chạp, bạn bè đã khấp khởi hẹn nhau đi ngắm Hội Sách Tết. Và cái sự hoan hỉ ấy kéo dài mãi đến những ngày mùng 4, mùng 5 Tết Nguyên Đán.

Hội Sách Tết có chi hay mà ai cũng ngóng trông mỗi dịp xuân về?

Hội Sách Tết – thú chơi Tết thanh tao của riêng người Sài Thành.
Ảnh: Hội Sách Tết 2018

Đường Sách 5 tuổi là cũng bấy nhiêu mùa xuân Phương Nam đồng hành và tổ chức Hội Sách Tết tại Đường Sách. Và trong 5 mùa xuân ấy, xuyên suốt quá trình khai sinh nên Hội Sách Tết, từng khâu một – từ bản vẽ thiết kế sơ khai, đến dàn dựng thành hình, sắp xếp và trang trí – Phương Nam tâm nguyện rằng, đây không đơn thuần là địa điểm để dạo phố và mua sắm, mà thu nhỏ vào đó là một không gian văn hóa cổ truyền đậm chất Việt.

Vẫy chào khách tham quan là cổng chào được xây từ những chất liệu quen thuộc với làng quê như tre nứa, bắp, cành mai, cành đào. Từng gia đình, nhiều tốp bạn, đôi người thương trong tà áo dài đỏ vàng, tíu tít dắt nhau dạo phố ngắm hoa, thưởng sách, hái lộc đầu xuân, xin chữ ông đồ, bói toán cầu duyên và tận hưởng những trò chơi dân gian được tái hiện trong lễ hội đặc biệt. Và thật hiển nhiên, khi chơi Hội Sách, ai cũng gửi gắm hy vọng “mua con chữ lấy may” trong dịp khai niên, mong rằng những tác phẩm sách xuân chọn lọc sẽ mang đến trí tuệ, sự sáng suốt đến cho bản thân và cả nhà.

Vẫy chào khách tham quan là cổng chào được xây từ những chất liệu quen thuộc với làng quê.
Ảnh: Hội Sách Tết 2020

Từng gia đình, nhiều tốp bạn, đôi người thương trong tà áo dài đỏ vàng, tíu tít dắt nhau dạo phố ngắm hoa, thưởng sách.
Ảnh: Hội Sách Tết 2020

Ai cũng gửi gắm hy vọng “mua con chữ lấy may” trong dịp khai niên, mong rằng những tác phẩm sách xuân chọn lọc sẽ mang đến trí tuệ, sự sáng suốt đến cho bản thân và cả nhà.
Ảnh: Hội Sách Tết 2020

Hội Sách Tết cũng là một ngày lễ để hành hương tìm về những di sản văn hóa truyền thống.
Ảnh: Hội Sách Tết 2020

Người Việt ta luôn cầu chúc vạn điều may mắn, an lành trong những ngày đầu năm và mong muốn tìm lại một không khi Tết cổ truyền. Hội Sách Tết cũng là một ngày lễ để hành hương tìm về những di sản văn hóa truyền thống ấy, để trải nghiệm một không khí Tết xưa giữa hòn ngọc Viễn Đông hiện đại này.

Hạ

Mùa hè về bằng tiếng ve, và bằng một ngày hội khác – ngày Quốc tế Thiếu nhi 01.06, cũng là ngày bắt đầu kỳ nghỉ hè của học sinh. Mùa hè ở thành phố, nếu có ai chưa kịp đặt một chuyến du lịch đến những miền đất xa khác mà vô tình “kẹt” lại ở Sài Gòn, đừng buồn chi mà hãy dạo bước tới Đường Sách – vì con đường này chính là dành cho thiếu nhi, dành cho những cô bé, cậu bé yêu mến con chữ, yêu mến những niềm vui nho nhỏ thú vị.

Chào đón các em tham dự Hội sách Thiếu nhi Thành phố, đại diện là triển lãm sách thiếu nhi với ý tưởng: sách thiếu nhi cũng là một “bảo tàng” để chiêm ngưỡng và ngắm nghía. Những cuốn sách thiếu nhi chọn lọc, trong đó có tác phẩm đến từ Phương Nam Book được trưng bày trong tủ kính tại Đường Sách, như xây nên đường hoa chào các em đến nghe những câu chuyện thần kỳ. Từ những cuộc phiêu lưu của cô bảo mẫu thần kỳ Mary Poppins, tới những câu chuyện trong veo nâng đỡ tâm hồn bé trong Tủ Sách Chồi Non. Đây là một cách mới để các bậc phụ huynh hướng dẫn bé lựa chọn sách hay, bổ ích và chủ động tạo dựng thói quen đọc sách cho bé từ tuổi còn nhỏ.

Sách thiếu nhi cũng là một “bảo tàng” để chiêm ngưỡng và ngắm nghía.

Mùa hè, Phương Nam cũng mang đến các buổi giao lưu họp mặt, workshop để các bé trải nghiệm những hoạt động bổ ích. Như là thử tài vẽ nón: nơi các bé được khoe tài hội họa với năm ngón tay vương đầy màu nước, tô tô nghịch nghịch mà chẳng mấy chốc một thế giới tưởng tượng của trẻ con đã thành hình dưới dạng những chiếc mũ vải xinh đẹp. Hoặc học cách gấp giấy origami để vừa luyện tay, luyện kĩ năng tập trung. Hoặc như giao lưu với anh Long Journey để nghe những câu chuyện “giải cứu” động vật hoang dã, để em có thêm ý thức trách nhiệm với thiên nhiên và môi trường.

Mùa hè, Phương Nam mang đến các buổi giao lưu họp mặt, workshop để các bé trải nghiệm những hoạt động bổ ích.

Thu

Thu sang là khi tiết trời Sài Gòn không còn nóng bức, mùa mưa vẫn còn nấn ná cho tới cuối tháng 10. Mùa thu mưa bay như thế, con người ta cũng…. lười đi ít nhiều mà chỉ muốn tấp vào Phương Nam Book Café để đóng ổ đọc sách. Book Café đã “hạ cánh” nơi Đường Sách rất lâu rồi – từ những ngày đầu Đường Sách ghi tên mình lên bản đồ đọc của Sài Thành, nhưng chẳng bao giờ hết mới mẻ, đặc biệt là với giới văn nghệ sĩ và cộng đồng yêu sách.

Book Café như một trạm dừng chân quảng giao mà thân thiết mời chào mọi người nghỉ ngơi, để âm thầm đọc sách mình chọn nhưng không tách rời khỏi cảm quan cộng đồng.

Tọa lạc ở đầu Đường Sách, Book Café như một trạm dừng chân quảng giao mà thân thiết mời chào mọi người nghỉ ngơi, để âm thầm đọc sách mình chọn nhưng không tách rời khỏi cảm quan cộng đồng, chẳng rõ là đang thưởng cà phê, thưởng sách hay là thưởng ngoạn nhịp điệu của Sài Gòn trong một ngày bình thường.

Nhà văn, nhà báo Phạm Công Luận đã dành những lời trân trọng cho Phương Nam Book Café, rằng “Là nơi đậm đà niềm vui, khi ngồi giữa bạn bè thanh cảnh thích đọc và thích sống nhẹ nhàng như mình. Là nơi nhìn người đẹp đi lại. Nơi thỉnh thoảng nhận ra vài người Sài Gòn xưa qua phong thái, giọng nói, cách nói chuyện và ăn mặc. Là nơi uống ly cà phê ấm trong không khí lạnh buổi sáng, như ông cha ta trăm năm trước bên ly xây chừng ở chợ cũ, quán cà phê Nguyễn Văn Đắc bên hông chợ Bến Thành hay trên vỉa hè khách sạn Continental”.

Đến Book Café, dẫu là đi một mình hay đi nhiều mình thì cũng chẳng bao giờ thấy cô đơn hay gượng gạo. Vì thế giới của sách tri kỷ mà rộng lớn lắm!

Khi những chiếc đèn lồng mang ánh sáng lấp lánh trải dài Đường Sách, cũng là khi Trung Thu về…

Đông

Đông về, Đường Sách trở về với nguyên bản giá trị cốt lõi của mình, là con đường chứa đầy sách, là nơi để thỏa lòng đam mê sách cho người Sài Thành và những du khách đường xa.

Đường Sách là con đường chứa đầy sách, là nơi để thỏa lòng đam mê sách cho người Sài Thành và những du khách đường xa.

Người Sài Gòn thường đùa với nhau rằng, cái thành phố này chỉ có hai mùa: mùa nóng và mùa… rất nóng. Sài Gòn không có mùa đông, nhưng vài đợt gió lạnh hiếm hoi trong những tháng cuối năm lại làm cho nhiều người Sài Gòn mừng vui, chẳng chấp nhặt mà coi như “đông đã về”. Và cũng thật lạ thay, mùa đông ở Sài Gòn cũng là mùa nhộn nhịp nhất năm, nhà nhà người người khuyến mãi, thi nhau… sale sập sàn.

Một mùa rộn ràng như thế, làm sao người ta quên cái thú chọn sách khi đến chơi Đường Sách được?

Cuối năm 2020, mặc cho những thay đổi thất thường trong năm, thế giới sách vẫn rộn ràng như bù đắp, thổi thêm sức sống cho năm mới. Những tác phẩm ấp ủ cả năm nay được trình làng với đủ thể loại và hình thức: từ văn học, sách tâm lý – giáo dục, kỹ năng, sách viết về thiên nhiên – môi trường,… nhận được sự đón nhận nhiệt thành của cộng đồng yêu sách. Không ít tác phẩm lọt vào danh sách sách hay và bán chạy cả năm, từng đạt được những giải thưởng lớn trên văn đàn quốc tế. Không giới hạn ở đó, ngành sách còn rộn ràng những ngày gặp mặt, ra mắt sách, là dịp để những độc giả trao đổi, giao lưu với tác giả mình yêu mến tại Đường Sách.

Buổi giao lưu & ký tặng sách Hồi ký Nghệ sĩ Kim Cương: Sống cho người – Sống cho mình.

Buổi giao lưu cùng kiến trúc sư – tác giả Nguyễn Ngọc Dũng và giới thiệu chuỗi tác phẩm tranh & ký họa Lang thang phố thị.

Giao lưu ra mắt sách Thức dậy anh vẫn là mơ của tác giả – ca sĩ Jun Phạm.

Những ký ức về mùa Giáng Sinh 2018 tại Đường Sách.

Rồi lại xuân…

Chẳng mấy chốc lại sang năm 2021.

Tiết trời xoay vẫn, một năm mới lại đến. Không ai biết được sẽ có điều gì chờ đón ta trong năm nay. Thế nhưng, tôi mạnh dạn nghĩ rằng, sự tồn tại của Đường Sách trong lòng bạn đọc vẫn thế, vẫn sẽ vững chắc, cũng như mối dây gắn kết bền lâu giữa thương hiệu Phương Nam và bản thân Đường Sách. Bởi lẽ, Đường Sách ra đời, là sự hòa hợp tự nhiên của văn hóa đọc Sài Gòn cùng dòng chảy năng động luôn tồn tại trong lòng thành phố.

Nghe đâu, đã gần đến Hội Sách Tết Tân Sửu rồi nhỉ?

Hết.

Ảnh đầu bài: Tác phẩm Cảnh sắc phố thị Sài Gòn – Chợ Lớn (Tranh & Ký họa), tác giả Phạm Công Luận & Phạm Công Tâm

Trà chiều

Bãi biển rực nắng ngày hôm đó có em

Nhân vật “tôi” trong tác phẩm “Đêm trắng” của Dostoevsky chỉ có năm đêm để trò chuyện cùng người chàng thương nhưng kí ức về năm đêm ấy đã khiến chàng cảm thấy đủ sưởi ấm bản thân trong suốt những năm dài cô quạnh phía trước của cuộc đời – tôi cũng có một cảm giác như thế khi nghĩ về em.

Published

on

By

Tôi luôn muốn cảm ơn em vì đã dành thời gian quý báu của em cho tôi trong những ngày tháng ấy. Lời cảm ơn này tôi đã nói với em nhiều lần, chỉ là dù có nói bao nhiêu lần chăng nữa, vẫn không đủ để diễn tả sự biết ơn trong lòng.

Tôi vẫn nhớ em, vẫn thường hay nằm mơ thấy em nhiều lắm. Có những giấc mơ rất thật đến nỗi tôi chẳng muốn tỉnh dậy. Tôi nhớ nụ cười rực nắng của em. Khung cảnh bãi biển ngày hôm đó, khi em nắm tay tôi rồi chạy về phía trước, ngoái đầu nhìn lại tôi ở phía sau, gió thổi tóc em bay, tôi đã thấy chúng ta như đang ở trong MV West Coast của Lana, chỉ đơn thuần là sắc đen trắng mộc mạc, chẳng phải là thế giới muôn màu rực rỡ trong tâm trí kẻ đang yêu như cách mọi người vẫn thường ví von. Ngược lại, sắc màu đa tạp hằng ngày đã khiến tôi mệt mỏi, khi ở bên em ngày hôm đó, việc mọi màu sắc chuyển thành đen trắng lại khiến tôi cảm thấy cuộc đời thật đơn giản, dễ chịu giống như lời bài hát của Binz: “Có em ngồi phía sau, đi đâu cũng được.” Ngày hôm đó và nhiều ngày khác nữa, khi chở em, khi biết có em ngồi phía sau xe, tôi đã luôn có cảm giác ấy.

Tôi nhớ cái ôm chặt của em từ phía sau, nhớ cảm giác đầu em gục trên vai tôi khi em đã quá mệt mỏi và ngủ quên, khi ấy tôi chỉ ước rằng đôi vai của mình rộng hơn để làm chiếc gối thật êm cho em, tôi đã cố gắng chạy chậm hết mức có thể, giữ cùng một vận tốc đều đều, tránh những ổ gà phía trước để em không giật mình. Cảm ơn em vì đã đến vào những ngày cuối cùng năm tôi 26 tuổi và đã quay lại lần nữa vào năm tôi 28 tuổi. Tôi nhớ cách em gọi tôi là “nhà văn nghèo của em ơi” trong một lần mình gặp nhau. Nhà văn nghèo của em vẫn ở đây, vẫn nhớ về em. Hai năm qua, không có quá nhiều thay đổi xáo trộn dù đôi lúc, tôi cũng cố gắng tìm kiếm hạnh phúc như lời em từng dặn dò, nhưng dường như tôi chưa bao giờ có thể thực sự quên em.

Năm ngoái, tôi đã dành cả một mùa hè để xem Game of Thrones, Black Mirror… và lần nào xem tôi cũng nhớ đến em, tự hỏi nếu là em, khi xem đến những phân đoạn tôi đang xem lúc này, em sẽ có cảm nghĩ gì. Đến nay, tôi vẫn chưa xem hết Black Mirror, vẫn còn sót hai tập cuối trong S5. Vào tháng 9 năm ngoái, khi bắt đầu tập được vài điệu guitar đệm hát cơ bản là tôi lao vào tập ngay Wish you were gay của Billie Eilish và Anyone who knows what love is will understand. Những khi tập hai bài này, tôi luôn nghĩ về em. Tôi tập được khoảng một tháng, các ngón tay bắt đầu chai sạn và đỡ đau thì có chuyến công tác một tuần ra Đà Nẵng. Nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng phải thú nhận rằng đó là lần đầu tiên trong đời tôi đi máy bay một mình mà không có người thân lẫn đồng nghiệp; đến nơi lại cũng sẽ chỉ có một mình, vẫn không có đồng nghiệp. Chuyện đó không phải to tát gì nhưng ở tuổi 29 mà mới lần đầu thực hiện thì có vẻ muộn màng quá em nhỉ. Trên máy bay và rồi trên taxi di chuyển từ Đà Nẵng ra Hội An, tôi luôn nghe những bản nhạc có thể khiến tôi nhớ đến em – khi những giai điệu ấy phát lên một cách thân mật ở hai bên tai, tôi cảm thấy vững tâm, tự nhủ rằng mọi điều sẽ ổn thôi. Và cuối cùng thì mọi thứ cũng ổn thỏa thật.

Vẫn như tôi đã từng nói với em về Đêm trắng của Dostoevsky, nhân vật “tôi” trong tác phẩm ấy chỉ có năm đêm để trò chuyện cùng người chàng thương nhưng kí ức về năm đêm ấy đã khiến chàng cảm thấy đủ sưởi ấm bản thân trong suốt những năm dài cô quạnh phía trước của cuộc đời – tôi cũng có một cảm giác như thế khi nghĩ về em. Vẫn là cảm giác ấm áp ấy, sự biết ơn ấy, niềm vui khi một lần nữa được sống lại tuổi trẻ ấy. Tôi không hề hối tiếc bất kì điều gì đã xảy ra giữa chúng mình. Tôi cảm thấy biết ơn mình của ngày ấy đã có thể mạnh dạn nói hết với em tình cảm này. Và chúng mình đã có những kỉ niệm đáng nhớ – tuy không nhiều nhưng tất thảy đều là báu vật vô giá với tôi. Thực sự, đến bây giờ tôi vẫn không thể tưởng tượng được tại sao lúc ấy mình có thể bạo dạn như thế. Có lẽ, vì tôi đã quá mệt mỏi với những tình cảm không thể nói ra được trước đây. Có lẽ, chỉ đơn giản vì tôi không thể kiềm chế được việc nói cho em biết rằng em tuyệt vời như thế nào, gặp được em là một trong những điều quan trọng nhất đã xảy ra ở giai đoạn cuối cùng tuổi đôi mươi của tôi. Cảm ơn em đã cho tôi cơ hội được trải qua những cung bậc cảm xúc của một thứ tình cảm đẹp như vậy dù rằng tôi không còn trẻ nữa và giờ đây đã bước đến ngưỡng trung niên. Nếu thực sự có kiếp sau giống như người bạn theo đạo Phật của tôi nói, tôi chỉ ước rằng chúng mình sẽ không cách biệt tuổi tác quá nhiều, mình gặp nhau sớm hơn để có thể là một phần trong tuổi trẻ của nhau. 

Tôi muốn viết về em để em biết rằng bản thân em quí giá và đáng trân trọng như thế nào, em luôn xứng đáng có được hạnh phúc và những điều tốt đẹp nhất. Tôi mong rằng dù có điều gì xảy ra trong cuộc sống, em vẫn luôn yêu thương bản thân, biết giá trị của chính mình, và sẽ tìm được hạnh phúc khi theo đuổi con đường, lí tưởng của riêng em. Tuổi đôi mươi của tôi đã qua đi nhưng tuổi đôi mươi của em chỉ vừa chớm bắt đầu. Tôi mong rằng em sẽ không có những trải nghiệm đau buồn giống như tôi. Lẽ đương nhiên, nỗi buồn là điều tất yếu trong cuộc sống, không ai có thể tránh được nhưng tôi mong và cầu chúc những trải nghiệm của em sẽ đa dạng hơn, phong phú hơn, tất cả đều bừng sáng rực rỡ như chính nụ cười em; em sẽ đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, và thế giới của em không ngừng rộng mở mỗi ngày, nhiều sắc màu khác nhau tuôn trào cho đến khi tất cả hòa quyện thành một màu duy nhất theo sự pha chế và làm chủ cuộc đời với phong cách rất riêng của em, để sau đó em có thể bước qua ngưỡng trung niên với tuổi 30 thật vững vàng và bình tâm. Tôi mong như thế.

Hạnh phúc em nhé.

K.

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

The Lobster – Cô đơn hay không cô đơn?

Published

on

By

The Lobster thuộc dòng phim dystopian pha trộn với black comedy. Trình bày một thế giới giả tưởng với nhiều qui luật riêng, The Lobster thoạt tiên khiến người xem dễ có chút choáng ngợp và bỡ ngỡ ở những bước đầu làm quen với nó. Trong thế giới chủ lưu của The Lobster, không ai được phép cô đơn, không ai có quyền cô đơn, việc tìm người phối ngẫu trở thành nhiệm vụ xã hội mà nếu như ai đó cố tình vi phạm hay phớt lờ sẽ bị trừng phạt. Những người cô đơn sẽ được đưa đến khách sạn. Tại đây, trong vòng 45 ngày, họ phải tìm cho mình một người bạn đời, nếu không, họ sẽ bị biến thành loài vật mà họ đã chọn. Những sự kiện đầu tiên tuần tự diễn ra với rất ít điểm nhấn cảm xúc dành cho nhân vật tựa như lối kể chuyện chỉ có những đoạn tường thuật khách quan mà không có những đoạn miêu tả nội tâm chi tiết. Lối kể chuyện ấy phần nào gợi nhớ đến cách kể chuyện cổ tích với những nhân vật được miêu tả chung chung, có thể có tên hoặc không có tên, tập trung vào tình tiết hơn là nhân vật. Phân nửa đầu tiên của The Lobster – tức là khi David còn ở trong khách sạn đã chọn lối kể chuyện gần giống như vậy với rất nhiều nhân vật không được đặt tên nhằm tạo ra sự biểu trưng hay cảm giác về sự đại diện tập thể, sự không chú trọng vào cá thể đạt mức cao nhất. Điều này cũng thích hợp với không khí ngột ngạt trong môi trường toàn trị, độc tài ở khách sạn.

The Lobster có thể được chia thành ba hồi với: hồi một là màn làm quen thế giới khách sạn cho đến khi David bỏ đi, hồi hai là màn làm quen thế giới trong rừng cho đến khi David lại muốn bỏ đi lần nữa nhưng lần này là với người con gái anh yêu, hồi ba tập trung vào giải quyết vấn đề ở cuối hồi hai. Tuy nhiên, tôi vẫn thích liệt The Lobster vào phim cấu trúc hai hồi chung với một phim kinh điển của loại cấu trúc này mà tôi đã từng xem là Muholland Drive. Nếu như Muholland Drive là sự phản chiếu hai mặt của thế giới tưởng tượng và thế giới thực, xoay quanh giữa cái đã-có-thể-là và cái đã-thực-sự-là thì The Lobster là sự phản chiếu giữa hai thế giới đều thực như nhau và đều phi lí như nhau, xoay quanh giữa cái phải-là và cái không-thể-là. Thế giới ở khách sạn và thế giới ở rừng dường như đối nghịch nhau một cách triệt để: một nơi hầu như bị bó buộc trong không gian nội thất với những căn phòng, những dãy hành lang và một nơi với không gian mở rộng là những cánh rừng, con sông; một nơi cấm người ta độc thân và một nơi cấm người ta yêu. David đã đến với thế giới ở rừng như một sự cứu rỗi nhưng rồi anh cũng sớm nhận ra nơi ấy chẳng khác gì ở khách sạn, nó chỉ là dạng thức khác của khách sạn. Cả hai nơi đều tồn tại dựa trên một điều cấm lớn nhất mà thoạt tiên, người ta tưởng mình sẽ nhận được quyền lợi từ điều được phép của cái ngược lại với điều cấm. Trong những buổi họp mặt, theo chỉ thị của người quản lí, các nhân viên khách sạn nhấn mạnh đến ích lợi của một mối quan hệ, của hôn nhân, của việc luôn có một người bên cạnh, họ đưa ra những tình huống cho thấy rằng ở một mình rất bất lợi. Tuy nhiên, khi tình trạng độc thân trở thành điều gần như tội lỗi thì điều ngược lại với nó – tình trạng hôn nhân cũng không thể khiến người ta thực sự vui vẻ, bình yên như nó vốn là nữa. Ngược lại, thế giới ở rừng cũng đi theo hướng tương tự như thế. Có thể nói, thế giới trong The Lobster được vận hành theo thuyết nhị nguyên mà ở đó, con người bị buộc phải chọn một người bạn hay một nhóm, một tập thể để đứng ở phía cực họ tin là đúng và cùng nhau chống lại phía cực họ tin là sai. Đó là thế giới không cổ vũ cho sự đơn lẻ cá nhân dù tập thể có phi lí đến đâu chăng nữa. Wai Chee Dimock viết trên tờ Los Angeles Review of Books đã có ý so sánh The Lobster với những tác phẩm của Samuel Beckett. Tuy nhiên, khi xem The Lobster, tôi lại nhớ đến không khí phi lí kiểu Kafka. Cụ thể là, phim khiến tôi nhớ đến The Castle.

Như bất kì tác phẩm điện ảnh nào có khuynh hướng văn học, The Lobster sử dụng voice over ở mật độ dày đặc để kể chuyện. Phim không tiết lộ thân phận người kể chuyện ngay từ đầu khiến hồi một của phim (theo cách chia hai hồi của tôi) chìm trong tính trần thuật và không khí hư cấu rõ rệt. Ta có cảm giác những sự kiện trên phim nằm ở thì quá khứ rất xa và David là nhân vật từ sản phẩm tưởng tượng của một cô gái nào đó. Chính cảm giác này đã phần nào khiến tôi bồi hồi khi biết được cô gái kể chuyện từ đầu phim chính là người yêu David, đồng thời cũng là người David yêu. Vậy là, trong thế giới ấy, David có thực, cô gái có thực, họ không cô đơn, họ đã tìm thấy nhau – điều này như một phát kiến mới mẻ, lớn lao khiến tôi cảm thấy ấm áp. Như thế, cũng có thể chia phim thành hai hồi với hồi một là quá khứ gần, hồi hai là hiện tại. Bắt đầu từ hồi hai, chúng ta không còn nhân vật kể chuyện theo kiểu nhà tiên tri nữa. Từ lúc ấy, cả nhân vật lẫn ta đều không biết điều gì sắp xảy ra. Ta nhập cuộc trở lại với sự hồi hộp và lo lắng hơn cho họ.  

The Lobster sử dụng tông màu teal and orange nhưng không theo lối giống những phim bom tấn. Tông màu teal của phim nghiêng về green hơn là cyan và được dùng kèm ánh sáng đánh theo kiểu high-key khiến tông màu xanh bàng bạc như có lẫn chút màu vàng chanh. Dù cảnh nội hay cảnh ngoại, ngày hay đêm, phim đều cố gắng duy trì tông màu xanh ấy khiến cho cảm giác về một thế giới phi lí trở nên rõ rệt hơn. Hơn nữa, chính vì màu background không được thay đổi nhiều, người xem có thể dễ dàng thâm nhập vào sự buồn chán, đơn điệu, khắc nghiệt của thế giới ấy. Green vốn luôn là màu gợi cảm giác quái dị, u buồn như làn da xanh xao của một cô gái ốm nặng vì bệnh và trong The Lobster, màu xanh ấy đã phát huy triệt để tác dụng của nó. Bản thân bộ phim cũng như một con người yếu ớt đang bị bệnh, không thể tìm được phương thuốc cứu chữa cho mình. David có lẽ đã nghĩ rằng chỉ cần thoát khỏi khách sạn là ổn. Nhưng trên thực tế, anh chỉ thoát từ màu xanh nhạt sang màu xanh đậm đặc hơn của khu rừng. Khi một lần nữa, anh cùng người con gái anh yêu tìm cách thoát khỏi khu rừng, hai người băng qua cánh đồng cỏ lau vàng, đi trên một xa lộ vắng người với con đường mở rộng trước mắt, màu xanh buồn bã ấy vẫn đuổi theo họ. Rồi họ vào một quán cà phê, trong không gian bị nhốt kín, khi họ ngồi ở chiếc bàn bên khung cửa sổ lớn đến mức có thể thấy được gần như toàn bộ cảnh vật bên ngoài, một lần nữa, màu xanh buồn bã như lời nhắc nhở về thế giới phi lí vẫn vây lấy họ. Cả hai đã không thể vượt qua sức mạnh quyền năng của nó. Tất cả chỉ là sự lặp lại.  

The Lobster kết thúc bằng sự chờ đợi. Cái chờ ban đầu dường như có vẻ điềm nhiên của cô gái bị cắt ngay lúc ta có cảm tưởng cô đang bắt đầu bồn chồn, lo lắng rằng liệu người cô chờ đợi có quay trở lại với cô hay không. Câu trả lời sẽ là có hoặc không tùy mỗi người. Với tôi, tôi nghĩ rằng anh sẽ không quay trở lại, anh sẽ chạy trốn và cả hai lại tiếp tục đơn độc. Tuy nhiên, cho dẫu anh quay trở lại, liệu rằng khi đôi mắt cả hai không còn đón nhận ánh sáng nữa, họ có thể ở bên nhau lâu dài trong thế giới khắc nghiệt, tàn nhẫn như thế hay không? Vậy nên, dù câu trả lời là thế nào, tương lai phía trước của họ vẫn khó thoát khỏi thứ nỗi buồn kéo dài dằng dặc năm này qua tháng nọ. Những viễn cảnh gợi lên từ kết thúc ấy khiến tôi xót xa. Cùng với Léon: The professional, The Lobster trở thành một trong số những phim hiếm hoi mà tôi đặc biệt thích kết thúc phim. Một bộ phim hay không phải lúc nào cũng sẽ có một cảnh kết thúc gợi mở nhiều cảm xúc và suy nghĩ như thế. Với tôi, The Lobster là viên ngọc quí của điện ảnh đương đại những năm gần đây. Sau The Lobster, tôi sẽ cố gắng tìm thời gian để xem những phim còn lại của đạo diễn Yorgos Lanthimos.

Điểm đánh giá: 9/10

Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Ngọn lửa của tôi

Published

on

By

Ngọn lửa. Ngọn lửa. Ngọn lửa.

Đột nhiên tôi chẳng nghĩ được điều gì ngoài hình ảnh đó. Hay là trong đầu tôi có nhiều suy nghĩ về những sự vụ khác nhau nhưng xét theo tần suất xuất hiện thì hình ảnh đó lặp đi lặp lại nhiều lần. Thế là tôi vớ đại nó theo cơ chế ngẫu nhiên. Ờ, ngẫu nhiên mà thôi. Đáng lẽ tôi phải suy nghĩ một hình ảnh nào đó nghiêm túc hơn chẳng hạn, có tính toán và ý đồ hơn chẳng hạn. Dù gì hôm nay cũng là sinh nhật tôi, dù gì tôi cũng muốn viết một cái gì đó cho hôm nay, dù gì tôi cũng muốn nó phải là thứ gì đó có ý nghĩa, dù gì nó cũng là một cái cột mốc 20 năm, dù gì… Khi suy nghĩ về tất cả những cái dù gì đó, sự bội thực vì cái dù gì đó… tôi lại nhận thấy dường như chẳng có gì là quan trọng cả. Thật kì lạ. Cách vài phút, à không, cách đây vài giờ, vài ngày, vài tháng trước, vài năm trước, vài những giờ khắc mà tôi không còn nhớ nó hoạt động ra sao, tôi đã từng nghĩ rằng có nhiều thứ quan trọng và mình đã xác quyết được thứ quan trọng đó. Nhưng rồi đột nhiên tất cả giống như một khoảnh khắc những đám mây che hờ hờ xung quanh bầu trời vụt tan biến mất, và một luồng ánh sáng xung quanh chói lóa, mọi thứ xóa nhòa trong ánh nắng đó, mọi vật chìm lấp trong khoảng sáng đó, không cái gì được nhìn rõ nữa. Khoảnh khắc đó nhanh thôi. Nhưng có thật. Và thế là tôi quên mất thứ quan trọng với mình là gì. Giống như nó đã chìm đi cùng cơn sáng đó. Hay là giống như nó vốn thể là thứ ngay từ đầu đã chẳng tồn tại.

Đâu phải chỉ trong bóng đêm mọi thứ mới biến mất. Ánh sáng cũng là một thứ hủy diệt những tồn lưu của các sự vật/sự vụ chung quanh nó một cách ghê gớm. Mà thật ra, sự tiêu hủy của ánh sáng còn kinh khủng hơn là bóng đêm. Đơn giản vì khi một thứ nào đó biến mất trong bóng tối, người ta còn có thể dùng ánh sáng để tìm lại nó được. Nhưng một thứ biến mất trong ánh sáng thì không thể lấy một thứ sáng hơn mà thắp lên tìm nó. Theo cơ chế suy luận nghịch thì đơn giản là người ta có thể lấy một thứ tối hơn mà đốt lên. Đốt, đốt, đốt. Đốt cái thứ tối ấy lên để tìm vật đã mất. Nhưng không ai đốt lên cả. Không phải vì chất tối để đốt cháy không tồn tại. Đơn thuần là vì nếu có một người nào đó đốt chất tối lên để tìm kiếm, họ sẽ lập tức bị đám đông dị nghị. Nó là một cách khác của sự thừa nhận rằng: “Tôi có mang bóng tối trong mình”. Mà ở thế giới này, dường như chẳng có ai dám thừa nhận điều đó. Thế nên mọi người để những thứ mình đã mất chìm trong ánh sáng, ánh sáng của những điều đẹp đẽ nhưng làm người ta mê mị, mu muội, ánh sáng của những tầng không vốn chứa trong nó sự giả dối. Vậy cái gì là thật đây?

Ờ. Đại loại thì tôi nhẫn tâm, độc ác. Chẳng ai ném thẳng những lời đó cho tôi như nàng. Nàng cho tôi cái chất có thế đốt lên bóng tối ấy. Chỉ có nàng là nhận ra sự ác độc của tôi. Hoặc giả mọi người cũng nhận ra nhưng họ không nói. Và như thế, tôi yêu nàng. Nàng đã nhận ra bản chất của tôi.

Sao nhỉ? Sao nhỉ? Sao nhỉ?

Đại loại khi viết những câu hỏi đó, trong lòng tôi thực sự chẳng nghi vấn điều gì cả. Nó chỉ là những tiếng đệm vô nghĩa. Nó giống như một trạm dừng chân cho sự hụt hơi của tôi trong việc đuổi bắt suy nghĩ của mình. Khi viết nghiêm túc, tôi viết rất chậm. Tôi đánh mất thói quen viết nhanh đã từ lâu. Tôi làm mọi thứ trong sự chậm rãi của mình. Đôi lúc, sự chậm rãi đó khiến chính bản thân tôi phát bực. Tôi vừa muốn ở trong sự chậm đó. Nó có thú vị của riêng nó. Đồng thời tôi vừa muốn thoát khỏi nó. Vậy nên khi xác định không phải viết một cái gì đó nghiêm túc, một cái gì đó chỉ viết để thỏa hiệp với khao khát muốn viết đơn thuần giữa đôi tay và tâm thức thì tôi sẽ viết nhanh. Viết để đạt được sự đồng thuận cho bản thân thì không nên viết chậm tự hành hạ mình nữa làm gì. À, cái trạm dừng chân của tôi. Chắc là tôi đã nghỉ ngơi ở đó xong rồi. Nãy giờ là bao nhiêu phút nhỉ?

Phút à. Cái đồng hồ của tôi đã biến mất trên tay tôi ngày hôm nay. Nó nằm trong phòng thi của kì tuyển sinh cao đẳng. Có lẽ nó lướt qua một vài thí sinh, rồi lướt qua một vài hạt bụi. Bụi màu trắng, vàng, đỏ gì đó… trên nền bảng trắng, đen, xanh gì đó… để ghi. Ghi chính cái trạng thái đang hiển hiện của nó. À, đơn giản là em gái tôi mượn tôi đồng hồ để đi coi thi thôi mà. Nhưng cảm giác hôm nay lạ nhỉ. Tôi không đeo đồng hồ một ngày và nhận thấy sự lệ thuộc của mình vào nó. Tôi cứ liếc vào khoảng da sáng trên cổ tay của mình – nơi mà đáng lẽ thường khi vẫn có chiếc đồng hồ ở đó. Màu nâu, lớp kính mặt trước đã bị nứt vỡ, vòng tròn để giữ dây thì bị đứt và mất đi, bản thân sợi dây cũng nhàu nhĩ, những lỗ trên dây thì tưa ra, thành một khoảng trống lớn hơn sự tồn tại vốn có của nó ban đầu. May quá. Chiếc kim vẫn chạy. Thế giới vẫn xoay tròn trong đó. Và hôm nay nó tạm nghỉ việc trên tay tôi. Tay tôi cảm thấy trống. Cứ như thể là cái đồng hồ ấy đã truyền cả chức năng của nó cho cái tay. Cái tay bé mọn lại. Cái tay có thể làm nhiều chức năng hơn viết, cầm nắm một thứ gì đó, một điều gì đó, một cơn điên loạn nào đó, và làm vụt mất một điều gì đó. Nhưng mất một điểm tựa, mất thời gian, nó như chỉ còn mỗi chức năng là có ở đó để được cái đồng hồ quấn quanh. Cái tay tôi hôm nay sao ấy nhỉ. Sao tự nhiên nó lại có cái suy nghĩ thật ra nó chỉ là một thứ để đặt bên cạnh đồng hồ. Cái tay có trước mà. Nhưng đồng hồ là thời gian. Và thời gian thì có trước cái tay. Hay là cái tay có trước thời gian. Thời gian vô nghĩa. Và dường như khi đánh mất ý nghĩa của nó, mọi thứ cũng vô nghĩa. Nghĩa là… nghĩa là… con người ta cần một điểm tựa. Nhưng thời gian thì không cần họ. Nó giống như một đồng minh lúc thì đồng thuận, lúc thì phản nghịch. Không phải lúc nào thời gian cũng đứng về phía con người. Việc đặt ra những cột mốc giúp người ta làm việc, nhưng thật ra đôi lúc việc hạn định những cột mốc đó làm người ta lại khó kiểm soát bản thân hơn, phải làm những thứ mà não trạng đã hoạch địch trong đầu. Đại loại thì vào thời điểm đó phải làm những việc đó, vào khoảng thời gian nào đó trong ngày, tôi phải làm việc này, việc kia. Tôi không thể làm việc đó cho đến khi… Đại khái thì không thể muốn là hành động. Mà thật ra việc có thể muốn rồi làm bất cứ lúc nào cũng không phải là thứ quan trọng. Đại loại người ta sống trong nó và cố gắng hòa nhập với nó hay vờ như hòa nhập với nó chứ không phải bản chất vốn là hòa nhập và hòa nhập với thời gian. Đại loại, đại loại vậy.

Năm ngoái. À không. Lâu lắm rồi. Năm kia. Không. Chưa tới. Kia nữa. Là cách đây mấy sự kia kia của năm. Đại loại, cột mốc thì không còn quan trọng nữa. A! Tôi mới phát hiện ra hôm nay mình thích chữ đại loại. Nó biểu hiện một sự vừa thỏa hiệp mà vừa không thỏa hiệp thì phải. Đã đồng thuận rồi đó nhưng còn phải xét thêm. Là chữ mang tính chất trung tính và hơi vô trách nhiệm. A ha, nó còn là chữ chứa trong mình sự mâu thuẫn nữa chứ. Nói chung là thích đó.

Quay lại với cái kia kia. Sao nhỉ? (Ồ, giờ thì tôi thấy là hôm nay mình cũng thích chữ sao nhỉ rồi). Ờ thì vào thời điểm của cái kia kia. Sự tàn nhẫn của tôi bộc lộ rõ. Tại sao tôi lại ghi nhớ nó và cứ lặp đi lặp lại mãi. Khoảng thời gian đó tôi cứ muốn đọc sách. Tôi cứ muốn có một luồng suy nghĩ chạy qua đầu mình để mình đỡ phải mất công suy nghĩ, hoài nghi, tự vấn… vân vân và vân vân  các công đoạn tư duy của nó. Và khoảng thời gian đó thì ông ngoại tôi bị bệnh. Điều tàn nhẫn nhất là hôm đó, khi nghe kết quả về bệnh của ông, mọi người trong nhà lo lắng. Chị tôi đã khóc khi biết bệnh của ông không còn phương cách nào cứu chữa. Hôm đó, tôi vẫn đang ngồi nhà đọc sách. Khoảng thời gian đó không hiểu sao tôi lại thích ngồi trong cửa phòng bấm chốt, tách ly với mọi thứ ngoài kia và đọc, không muốn bị ai làm phiền, kể cả là người nhà, kể cả là bất cứ thứ tin tức nào. Chị tôi gõ cửa. Phải gõ cửa nhiều lần tôi mới ra mở. Đơn thuần là tôi đang đọc dở một trang. Tôi còn một hai đoạn. Tôi còn một hai dòng. Tôi còn một vài chữ. Tôi phải đọc cho hết trọn một trang hay trọn một ý. Rồi tôi đánh dấu trang lại bằng một kẹp sách. Gấp cuốn sách lại và ra phòng mở cửa cho chị. Tôi làm tất cả các công đoạn đó một cách qui củ từng bước từng bước một với cái sự không có một điều gì có thể hối thúc tôi trong đầu. Chị tôi khóc rồi trách tôi vì sao không khóc, rồi trách tôi không khóc cũng được nhưng sao không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào, rồi trách tôi không khóc, không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào cũng được nhưng sao có thể để lộ cái vẻ mặt bình thản như thế, rồi trách tôi không khóc, không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào, đề lộ cái vẻ mặt bình thản như thế cũng được nhưng sao có thể giờ phút này mà vẫn còn tâm trí mà đọc sách, rồi trách tôi không khóc, không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào, để lộ cái vẻ mặt bình thản như thế, giờ phút này mà vẫn còn tâm trí đọc sách cũng được nhưng sao có thể vẫn chú tâm để làm một việc gì đó ngoài sự lo lắng chung của mọi người…Tại sao và tại sao? Tại sao hồi đó lại như thế? Tại sao tôi cứ muốn phải lặp lại những điều này, những chi tiết này? Chính tôi cũng không biết. “Cái gì được lặp lại nhiều lần nghĩa là cái đó là thứ thật sự quan trọng với mình,” nàng nói với tôi như thế.

Hôm nay cũng là một ngày tương tự như vậy nhưng mức độ nhẹ hơn. Tôi không ngờ và cũng không muốn cái cảm giác cách đây ba năm đó lặp lại, vào chính ngày này. Không có điều gì là giống nhau, mọi việc sẽ khác đi. Sẽ khác đi. Nếu nó trở thành một điều gì đó kinh khủng hơn, tôi chỉ mong một cơ chế nào đó bòn rút sức khỏe và nguồn sống của mình chia bớt cho mẹ. Tôi không muốn mình nhẫn tâm một cách vô trách nhiệm như thế nữa. Sự nhẫn tâm cũng là thứ cần phải có trách nhiệm.

Tôi không khóc.

Khi ông ngoại mất. Khi nhiều điều cứ lần lượt trôi tuột khỏi tay tôi, mọi thứ tình cảm, con người, những thứ mà tôi đặt cho nó cái tên quan trọng…

Vậy mà tôi lại khóc vì nàng, khóc khi nghe nàng nói có thể vứt bỏ tôi một cách dễ dàng, tôi chẳng là gì quan trọng với nàng cả. Tại sao vậy nhỉ? Tôi sợ mất nàng đến như thế ư? Tôi quen với cảm giác mất mát rồi mà. Có những lúc càng mất mát tôi càng thấy hưng phấn. Giống như cách người ta mang balô, đi đường trường rồi trên đường đi mệt mỏi quá mà cứ dần bỏ bớt những thứ mình mang theo để đi nhẹ nhàng hơn. Đó cũng là thứ mất mát làm người ta buồn, không, rất đau. Đôi lúc người ta cố làm cho mình trống đi mà, đôi lúc sự trống đi là cần thiết mà.

Sao nhỉ…
Tôi mâu thuẫn quá.
Nhưng, tôi yêu nàng. Tôi muốn thét lớn lên điều đó. Đó có phải là điều quan trọng không?

Tôi yêu cái cách nàng ngủ. Thi thoảng trán nàng lại nhăn như đang suy nghĩ, trông khuôn mặt của nàng lúc đó rất khó chịu. Có khi lại gợi cho tôi cảm giác hoang mang từ đôi mắt đang nhắm ấy. Tôi yêu cái cách những ngón tay nàng còn đập vào nhau trong lúc ngủ. Tôi yêu hơi thở nhè nhẹ đó. Yêu nó ấm nóng, phả vào ngực tôi đều đặn. Để tôi biết sự tồn tại của nàng. Nàng đang ở ngay đây, bên cạnh tôi. Và tôi sợ nàng biến mất.

Một đôi lúc tôi thoáng nghĩ, dường như tất cả những việc tôi làm ở tuổi 20, hay là cả ở những tuổi trước đó, tất cả đều nằm trong chuỗi nguyên nhân để dẫn đến việc tôi có thể gặp nàng, tôi được nàng yêu. Tôi yêu nàng. Và tôi biết nàng cũng yêu tôi. Điều đó khiến tôi hạnh phúc. Hạnh phúc kinh khủng. Nó là một cái gì đó thật tuyệt vời. Nàng như một ngọn lửa với tôi. Đôi lúc, tôi ôm nàng, tôi ở bên nàng mà cái tiếng nói trong đầu tôi: hãy đốt cháy tôi đi, đốt cháy tôi đi, làm cho tôi nổi loạn, tôi cười, tôi vui, tôi khóc, tôi buồn, tôi đi đứng, tôi chạy nhảy, tôi viết, tôi làm điều này điều kia, tôi chứng kiến sự vụ này sự vụ nọ với một cái gì đó nóng khủng khiếp, cái nóng của sự tiêu hủy và muốn phá hoại đi tất cả. Hãy cứ làm tôi đau. Chẳng sao cả. Vì tôi yêu em.

Ngọn lửa.
Nó là thứ tiêu hủy.
Nhưng đồng thời cũng là thứ mang lại ánh sáng.

Fretto Frek

Đọc bài viết

Cafe sáng