Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Bảng xếp hạng các nữ quỷ trong văn hóa dân gian Nhật Bản

Published

on

Aoko Matsuda, tác giả cuốn sách “Where the Wild Ladies Are” (tạm dịch “Ở nơi ma nữ hiện hồn”) sẽ chia sẻ về những nhân vật nữ quỷ, ma nữ đáng sợ trong những truyền thuyết mà bà yêu thích nhất.

Những câu chuyện dân gian và cổ tích Nhật Bản xưa tồn tại nhiều nữ quỷ và hồn ma nữ, và tôi đã bị họ mê hoặc từ thuở còn bé. Khi trưởng thành, tôi nhận ra điều đã thu hút mình đến với những hồn ma nữ này là cách họ phơi bày bản chất của những người bình thường trong xã hội và những điều họ vốn che giấu mà không cần suy nghĩ. Đối với tôi, những hồn ma nữ đơn giản là thú vị và đầy cá tính hơn.

Những linh hồn ma nữ đi chệch hướng hoàn toàn so với những chuẩn mực mà phụ nữ Nhật Bản phải tuân theo, và chính sự khác biệt đó đã thu hút tôi. Cũng như cảm giác ngạc nhiên về sự khác thường của họ, họ gợi dậy trong tôi một cảm giác thân thuộc – như thể những thứ mà họ đại diện cũng là một phần trong con người tôi. Như thể tôi có một phần ngông cuồng trong thâm tâm, như thể chính bản thân tôi cũng là một ma nữ hoang dại – những suy nghĩ này làm tôi vui sướng khi phát giác ra một điều mới mẻ. Nó cũng khiến tôi cân nhắc lại về phụ nữ Nhật Bản (bao gồm cả bản thân tôi), những người mà – miễn họ chưa chết hay không bị tráo đổi thành một dạng hình hài hoàn toàn khác – mãi chẳng thể tiết lộ bản chất thật của mình.

Những câu chuyện dân gian và cổ tích có rất nhiều điểm khác biệt vùng miền, và tồn tại nhiều dị bản được thêm bớt bởi những nghệ sĩ nhất định. Phiên bản của những câu chuyện được tôi thuật lại dưới đây là những phiên bản mà tôi đã đọc và nghe trong khoảng thời gian trải dài từ nhỏ đến lớn. Ngoài ra (dù thừa nhận điều này có thể khiến tôi gặp rắc rối với giới học thuật), tôi không phân biệt rạch ròi giữa ma, quái vật, yêu quái (yokai). Tôi thường gộp chung tất cả họ lại thành những nàng ma nữ hoang dại.

1. Nàng Okiku

Như nhân vật Kikue trong Where the Wild Ladies Are, tôi trưởng thành tại thành phố Himeji, nơi Lâu đài Himeji tọa lạc. Trong những chuyến đi thực tế của trường hoặc khi có họ hàng ghé thăm, tôi sẽ đi tới lâu đài, và bên trong khuôn viên lâu đài là Giếng Okiku.

Sau khi bị lôi kéo vào âm mưu của những gã người đàn ông bên cạnh nàng, nàng Okiku oan ức bị buộc tội đánh mất một trong mười bộ đĩa quý giá của gia chủ. Nàng bị giết và ném xuống giết. Khi đã thành oan hồn, cứ mỗi đêm nàng lại nổi lên khỏi giếng với vẻ ngoài ghê rợn và đếm mãi số đĩa: “Một, hai, ba…” Đến cái thứ chín, nàng thốt lên, “Ôi, thật sự thiếu một cái!” Nhưng biết rõ sự thật rằng mình vô tội, nàng đếm lại từ đầu. Còn những kẻ âm mưu hãm hại nàng, cảnh tượng này hẳn là một nhắc nhở ray rứt về hành động của họ.

Khi bàn về những siêu năng lực, việc trở thành một con ma và đếm đĩa có vẻ tương đối nhạt nhẽo, nhưng có điều gì đó trong sự đơn giản này đã truyền tải được nỗi oán hận sâu đậm của Okiku. Sống trong một căn biệt thự vang vọng những tiếng đếm của Okiku và tiếng đĩa vỡ, những kẻ đã hủy hoại nàng sẽ không thể tránh khỏi kết thúc tồi tệ, như thể bị nuốt chửng bởi thứ lố bịch mà họ tạo ra.

Ở Nhật Bản, mùa kể chuyện ma là mùa hè, nên đó cũng là thời điểm các bộ phim chuyển thể từ truyện ma được chiếu trên TV. Tôi đã xem bộ phim truyền hình chuyển thể từ câu chuyện của Okiku lúc còn nhỏ. Khi chứng kiến Giếng Okiku – thứ thật sự tồn tại ở thành phố nơi tôi sống – được trình chiếu trên TV như một sự việc hư cấu, cảm giác của tôi rất kỳ lạ, như thể thực tế và giả tưởng đã chạm trán. Đồng thời tôi cảm thấy tự hào về Okiku. Vài năm trước, khi chắp bút Where the Wild Ladies Are, tôi đã viếng thăm Lâu đài Himeji và lại được chiêm ngưỡng Giếng Okiku sau một thập kỷ xa cách. Sau đợt tu bổ gần đây, Lâu đài Himeji với có màu trắng toát lạ thường, nhưng Giếng Okiku vẫn nguyên vẹn như trong hồi ức. Tại đó, tôi bắt gặp bóng hình một cậu bé đến tham quan cùng mẹ. Cậu nhìn xuống giếng, bắt chước giọng của Okiku và đếm đĩa: “Một, hai, ba…” Điều đó làm tôi cảm thấy vui sướng khi những di sản của nàng Okiku vẫn còn tồn tại, dẫu đã bước vào thế kỷ 21.

Okiku đã gieo vào trong tôi sự nhận thức về những điều kinh dị luôn hiện hữu quanh ta trong cuộc sống – và nó không chỉ đáng sợ, mà còn tạo ra cảm giác thân thuộc và thậm chí là sức mạnh. Trong tất cả những hồn ma sống trong tôi, Okiku sẽ luôn là số một.

2. Osakabehime

Khi trưởng thành, tôi phát hiện ra sự tồn tại của một quỷ sứ khác trong Lâu đài Himeji: Osakabehime, một yêu quái trú ngụ bên trong lâu đài. Trên thực tế, có một ngôi đền nhỏ dành riêng cho nàng ấy. Nàng cũng xuất hiện trong vở kịch Tenshu Monogatari của Izumi Kyōka. Nàng có một đoàn thuộc hạ – cũng là những linh hồn giống nàng – và họ đang bất hòa với “hạ giới” – tức là thế giới của loài người. Nàng điềm tĩnh, tàn nhẫn và hùng mạnh.

Trong Tenshu Monogatari, Zushonosuke là một nhân vật có thể di chuyển qua lại giữa hai thế giới, vươn lên đến thành quách lâu đài. Cuối cùng, anh lựa chọn thế giới có Osakabehime. Osakabehime có một người em gái tên Kamehime, và hai người họ thay phiên đến thăm nhau trong lâu đài đối phương sống. Gần đây tôi chợt nhận ra rằng họ có mối quan hệ giống Virginia Woof và Vanessa Bell, qua lại giữa Nhà Monk và nhà Charleston.

Nhìn xuống từ Lâu đài Himeji, bạn sẽ thấy chiếc Giếng Okiku ngay bên dưới. Có vẻ như Okiku và Osakabehime không thể không biết về sự tồn tại của nhau, vì vậy khi viết Where the Wild Ladies Are, tôi quyết định đưa vào một câu chuyện miêu tả tình chị em xa cách giữa hai người họ. Với những nàng quỷ sứ cả tồn tại bên trên lẫn bên dưới, tôi không thể không nghĩ rằng Lâu đài Himeji quả thật là một nơi đặc biệt.

3. Kuwazu nyobo (Người vợ biếng ăn)

Những câu chuyện cổ tích và truyện ma Nhật Bản thường xuất hiện nhiều linh hồn nữ nhân. Vì mang hình hài con người, những ma nữ này hiểu rất rõ về hình mẫu phụ nữ Nhật Bản lí tưởng: họ phải đẹp, trầm lặng, nhạy bén, chăm chỉ và tận tụy với chồng mình. Những kẻ sống cạnh “người phụ nữ lí tưởng” này khai thác những đặc điểm trên để lợi dụng và lừa dối nàng. Tuy nhiên, khi sự thật được phanh phui và ma nữ hiện nguyên hình, hóa ra nàng chẳng hề giống với hình mẫu phụ nữ lí tưởng. Sau khi đã bại lộ hoàn toàn, những linh hồn nữ nhân này sẽ lao vào con người với nanh vuốt lột trần.

Người ta miêu tả nguyên hình của họ là rất đáng sợ (và đôi khi, là một loại đáng sợ chỉ có ở phụ nữ), nhưng nếu chỉ thế thì những câu chuyện này đã không có sức mê hoặc như vậy. Công chúng muốn biết nhiều hơn về bản chất của những ma nữ này. Từ rất lâu, chúng ta đã học từ các câu chuyện rằng luôn có một mặt khác của người phụ nữ lí tưởng. Tuy nhiên, trong thế giới thật, chúng ta vẫn tiếp tục yêu cầu phụ nữ đáp ứng lí tưởng này. Tôi cảm thấy điều này ngu ngốc đến không thể tin được. Thôi nào, chúng ta đều biết rằng đó là điều thực sự không thể!

Kuwazu nyobo, hay “người vợ biếng ăn”, là một yêu quái có cái miệng thứ hai ở bên đầu. Nàng xuất hiện trước mặt một người đàn ông – kẻ luôn oang oang những lời lẽ keo kiệt và nực cười, rằng “Nếu tôi lấy vợ, tiền ăn của tôi sẽ tăng lên, nên tôi muốn một người vợ chăm chỉ và ăn ít”. Cả hai nhanh chóng kết hôn. Người vợ biếng ăn làm việc chăm chỉ và không bao giờ ăn dù chỉ một miếng khi ở trước mặt chồng, nên trong mắt người đàn ông ích kỉ này, nàng là một người phụ nữ lí tưởng. Thế nhưng, gạo và các nguyên liệu nấu ăn cứ biến mất. Hắn bắt đầu nghi ngờ vợ mình đang lén lút ăn vụng nên đã theo dõi nàng. Hắn phát hiện ra khi người vợ nghĩ rằng không có ai ở nhà, nàng sẽ nấu rất nhiều cơm, sau đó nặn thành cơm nắm và ném từng cái từng cái một vào chiếc miệng phía bên đầu của mình. Khi người đàn ông thông báo rằng hắn muốn ly dị, người phụ nữ lộ rõ bản chất thật và toan bắt cóc hắn ta. Hắn ta trốn thoát trong gang tấc bằng cách ẩn náu trong một đầm lầy mọc rất nhiều cây diên vĩ – loài cây được biết đến với sức mạnh xua đuổi tà ma.

Điều tuyệt vời ở người vợ biếng ăn là dáng vẻ điềm đạm trên khuôn mặt nàng, trong khi chiếc miệng khác của nàng đang ngấu nghiến một lượng lớn thức ăn. Tôi hoàn toàn có thể đồng cảm, và tôi chắc chắn là có rất nhiều người khác cũng thế.

4. Tsurara-onna (Băng nữ)

Đây là một yêu quái xuất hiện ở những vùng lạnh giá của đất nước vào mùa đông khi băng bắt đầu hình thành, và biến mất khi xuân đến, khi thời tiết bắt đầu trở nên ấm hơn. Nàng rất trắng trẻo và xinh đẹp.

Vào một đêm khi bão tuyết đang hoành hành, một người phụ nữ trẻ đẹp xuất hiện tại ngôi nhà của một cặp vợ chồng, xin được qua đêm vì thời tiết trở xấu nên nàng không thể về nhà. Cặp đôi chấp nhận để người phụ nữ ở lại, nhưng cơn bão cứ kéo dài và nàng cuối cùng phải ở tạm nhà của họ trong nhiều ngày. Một đêm nọ. họ mời nàng đi tắm, nhưng nàng từ chối. Tuy nhiên, cặp vợ chồng cứ khăng khăng nên cuối cùng người phụ nữ cũng đành ưng thuận. Nàng ở trong phòng tắm lâu đến nỗi cặp vợ chồng phải đi vào kiểm tra, và phát hiện ra nàng đã biến mất. Dấu vết duy nhất còn sót lại là một trụ băng treo trên trần nhà.

Trong một câu chuyện khác, một người đàn ông trở thành người tình của một phụ nữ xinh đẹp, người xuất hiện như thể từ hư không và hai người kết hôn. Nhưng khi mùa xuân đến, người phụ nữ biến mất. Tin rằng nàng đã bỏ trốn, người đàn ông lấy một người vợ khác. Nhưng khi mùa đông lại đến, người phụ nữ trở lại và giận dữ buộc tội người đàn ông, chất vấn tại sao anh ta lại lấy người khác. “Bởi vì cô đã biến mất!”, người đàn ông trả lời, “Đừng có quay lại nữa!” Nghe vậy, người phụ nữ biến thành cột băng và đâm xuyên qua ngực của anh ta, giết chết anh ngay tức khắc.

Tôi thích câu chuyện thứ hai. Qua đánh giá của con người, hành vi của người phụ nữ thoạt nhìn ích kỉ. Nhưng từ góc độ của nàng, biến mất khi mùa xuân đến là chuyện hiển nhiên, và tương tự, việc buộc tội chồng mình là vấn đề quan trọng. Dường như điều đó, với tôi, luôn rất bi kịch. Và sau đó, trong nháy mắt, nàng đã trở về với con người thật của mình và đâm người đàn ông bằng chính cơ thể mình. Trong mắt tôi, điều này đại diện cho bản chất thật của băng: đơn thuần, giản dị và tuyệt vời.

Băng nữ có thể không nổi tiếng bằng tuyết nữ (yuki-onna), nhưng có điều gì đó về sự ít phổ biến và cảm giác kiểm chế tổng thể của nàng đã thu hút tôi. Câu chuyện của nàng nhắc nhở ta rằng bất cứ thứ gì cũng có thể có một linh hồn.

5. Người phụ nữ biến thành rồng

Khi tôi còn nhỏ, tôi rất thích sách của Miyoko Matsutani Taro, the Dragon Boy (tạm dịch Taro, cậu bé rồng). Matsutani lấy cảm hứng từ một cậu chuyện dân gian: có một cậu bé trèo lên lưng rồng mẹ và san bằng ngọn núi để tạo đất trồng trọt. Sách của Matsutani mở đầu khi Taro phiêu lưu đến một cái hồ ở xa phía Bắc để tìm mẹ cậu, người đã biến thành rồng. Khi cậu cuối cùng cũng đến được với mẹ, bà kể cho cậu nghe câu chuyện về quá trình bà hóa thân thành rồng

Giống như Taro, bà cũng lớn lên trên mảnh đất cằn cỗi không phù hợp để trồng trọt lúa mạch. Sau khi mất chồng, bà phải cùng dân làng làm lụng suốt thời kì mang thai trên núi. Khi họ làm việc, bà được nhờ vả chuẩn bị thức ăn cho họ. Bà bắt được ba con cá hồi chấm hồng, nướng chúng và đợi dân làng trở lại, nhưng họ mãi chưa thấy về. Cuối cùng, không chịu nổi cơn đói nữa, bà đã ăn hết cả ba con cá và biến đổi. Bà đã quên điều mê tín cổ xưa ở địa phương, rằng ai ăn ba con cá sẽ trở thành rồng.

Khi đọc lại câu chuyện để viết bảng xếp hạng này, tôi ngạc nhiên khi bắt gặp những khắc họa sống động về khó khăn trong thời kì mang thai. Tôi đồ rằng mình không thể nhận ra những điều ấy khi còn quá nhỏ. Rõ ràng là bị ốm nghén, người phụ nữ cảm thấy buồn nôn mỗi khi ăn, ba con cá hồi nằm trước mặt là thứ đầu tiên bà thực sự thèm ăn sau một khoảng thời gian dài, và vì vậy bà đã không thể cưỡng lại cám dỗ. Sau khi biến thành một con rồng, người mẹ đã giao đứa trẻ sơ sinh cho mẹ mình chăm sóc. Con trai của bà là Taro bú bằng những viên cầu pha lê và lớn lên khỏe mạnh. Sau đó, hóa ra những viên cầu pha lê đó là mắt của mẹ cậu – bà đã chấp nhận trở thành người mù để nuôi dưỡng con trai mình, đi đến hồ phía Bắc tìm kiếm nơi sống qua ngày.

Phát hiện ra mọi chuyện, Taro không trách mẹ mình vì đã một mình ăn hết cá. Thay vì đó, cậu khẳng định vấn đề nằm ở việc lượng thực phẩm không đủ để nuôi sống dân làng. Mượn sức mạnh từ mẹ mình và những động vật, con người và ác quỷ mà cậu gặp trong suốt cuộc hành trình, cậu đã san bằng những ngọn núi, từ đó tạo ra đất đai màu mỡ để trồng trọt. Qua dòng nước mắt của cậu con trai cảm thông với mẹ mình, người phụ nữ biến thành rồng đã có thể trở lại làm người, và lấy lại được thị giác của mình.

Phiên bản hoạt hình chuyển thể từ Taro, the Dragon Boy (năm 1979).

Matsutani viết câu chuyện này khi đang cho con bú, và cốt lõi của nó tồn tại một lòng nhân ái – lòng nhân ái khi nêu lên rằng nếu một môi trường hay chế độ khiến con người bất hạnh, thì nó phải được thay đổi. Lòng nhân ái này vô cùng mạnh mẽ và có năng lực để cứu vớt – không chỉ những người phải chịu đựng nhiều khó khăn – mà cả người phụ nữ đã biến thành một sinh vật hoàn toàn khác.

Giải đặc biệt: Tomie từ tác phẩm cùng tên của Junji Ito

Tomie, nhân vật nữ được tạo ra bởi họa sĩ truyện tranh kinh dị Junji Ito, là một cô gái trẻ đẹp. Tất cả đàn ông nhìn thấy cô đều bị sắc đẹp của cô cầm tù, để rồi không thể cưỡng lại khát vọng giết chết cô. Và đúng thế, họ đã giết cô bằng nhiều phương pháp tàn nhẫn và đẫm máu (cảnh báo nội dung: truyện tranh này thật sự rất ghê rợn), nhưng cô không chết. Nếu cơ thể của cô bị phanh thây, cô sẽ nhân bản ra những thân thể mới, mỗi bộ phận đứt lìa sẽ phát triển thành một Tomie hoàn toàn mới. Cô có sức mạnh hồi phục đủ để sống sót ngay cả khi bị ngâm trong axit; bất chấp những điều xảy ra với cô, Tomie có sức mạnh để hồi sinh. Cô coi đàn ông là công cụ để lợi dụng và chỉ yêu bản thân – tới mức đôi khi có những trận đấu sinh tử giữa các phiên bản khác nhau của cô: Tomie VS. Tomie.

Tomie là nhân vật nữ được tạo ra bởi họa sĩ truyện tranh kinh dị Junji Ito.

Điều khiến Tomie trở nên độc đáo không chỉ là sức mạnh của cô, mà còn ở cách cô bộc lộ bản chất ngay từ đầu: chửi tục, khó chịu với người khác, và trung thành một cách đáng báo động với dục vọng của mình. Đối với những người xung quanh cô, đó tuyệt đối là một cơn ác mộng. Tuy nhiên, những gã đàn ông vẫn say mê Tomie, để rồi giết cô, để rồi cô lại nhân bản – chu kỳ này lặp đi lặp lại không ngừng. Tomie là một sự hiện diện hoàn toàn đặc biệt, và chân thật với bản thân đến nỗi tôi không thể không ngưỡng mộ cô.

*

Về tác giả Aoko Matsuda:

Aoko Matsuda là một nhà văn và dịch giả. Năm 2013, cuốn sách ra mắt của bà, Stackable, được đề cử giải Yukio Mishima và giải Noma Literary New Face. Cuốn tiểu thuyết ngắn, The Girl Who Is Getting Married, được xuất bản bởi Stranger’s Press ở Anh vào năm 2016. Năm 2019, truyện ngắn của bà The Woman Dies đã lọt vào danh sách rút gọn cho giải thưởng Shirley Jackson. Bà đã dịch các tác phẩm của Karen Russell, Amelia Gray, và Carmen Maria Machado sang tiếng Nhật.

Hết.

Lalijade

Bài gốc được thực hiện bởi Aoko Matsuda, đăng tại Electric Literature.

*

Có thể bạn sẽ thích



Trà chiều

Chấm xanh mang tên Phương Nam trong 39 năm lịch sử vàng son của Sài Gòn

Published

on

39 năm làm bạn với Sài Gòn cũng là 39 năm nhìn thời cuộc thay đổi, bao biến động trôi qua và chứng kiến ba lớp thế hệ người ta trưởng thành.

Khởi điểm bằng cách “xé rào văn hóa” thời bao cấp 

Tua ngược trở về thời điểm 40 năm trước, Sài Gòn của thời bao cấp hoàn toàn khác với một Sài Gòn phóng khoáng của bây giờ.

“Nhà sách tự chọn” từng là một khái niệm không tồn tại.

Thời bao cấp, việc xuất bản sách có một hệ thống phát hành riêng. Không ai được phép xuất bản trật đường ray khỏi quy trình phân phối của Đảng. Có thể hiểu là, các nhà xuất bản sau khi in sách xong thì phải giao cho Công ty Phát hành sách Trung ương hoặc Thành phố. Người đọc nhận sách từ các cô mậu dịch viên với gương mặt lạnh tanh cùng biểu cảm “như sắp ban ơn cho người khác”. Hơn nữa, trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, sách và tập học sinh thường sử dụng giấy tái chế, dẫn đến chất lượng giấy và chất lượng in đều rất kém.

Không hài lòng với cung cách phân phối lưu thông cũ kỹ này, một nhóm những sinh viên và tri thức trẻ “khát sách” thời bấy giờ đã vận động kêu gọi sự “xé rào trong văn hóa”, cụ thể là thay đổi quá trình xuất bản và phân phối sách. Họ đã không ngần ngại cày xe cuốc bộ đến các nhà xuất bản xin phép liên kết phát hành – một việc chưa hề có tiền lệ tại Sài Gòn! May mắn thay, họ đã nhận được sự ủng hộ của Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh (mà sau này là Thủ tướng Chính phủ) Võ Văn Kiệt.

Ngày khai trương Nhà Sách Phương Nam - Đại Thế Giới (Quận 5)

Cửa hàng sách đầu tiên của Công ty Văn hóa Tổng hợp Quận 11 (một cái tên đúng điệu thập niên 90!) ra đời với diện tích rộng 300-400 mét vuông, để khách hàng có thể thoải mái xem sách, lựa chọn và tính tiền. So với thời nay thì chẳng có chi mới mẻ và độc đáo, nhưng mô hình “nhà sách tự chọn” đầu tiên đã gây nên cơn sốt tại Sài Gòn vào năm 1982.

Không còn hình ảnh các cô mậu dịch viên “khó ở trong truyền thuyết”, nay ta được ngắm các cô nhân viên nhà sách trẻ trung, nền nã, duyên dáng trong tà áo dài thoăn thoắt phục vụ khách. Đội ngũ nhân viên ấy là một phần không thể thiếu trong việc trao gửi những cuốn sách chất lượng đến tay nam thanh nữ tú yêu sách, yêu văn hóa đọc. Họ cũng trở thành một biểu tượng của nhà sách thuở ấy, làm biết bao trái tim nam thanh niên Sài Thành rung động.

Nhà Sách Phương Nam - Phú Thọ (Quận 11)

Năm 1999, Công ty Văn hóa Tổng hợp Quận 11 đổi tên thành Nhà Sách Phương Nam. Lấy trọng tâm là Sài Gòn, lan tỏa tri thức khắp miền Nam (và xa hơn nữa).

Trưởng thành cùng Gen X, Millennial và Gen Z

Là "nhà sách tự chọn" tiên phong tại Sài Gòn, nhưng khi thời cuộc thay đổi, Phương Nam có giữ vững được vị thế của người đi đầu không?

Sài Gòn từ thập niên 90 đến khi bước sang thiên niên kỷ mới đã trải qua nhiều biến chuyển, không chỉ về vật chất mà còn về tinh thần. 30 năm, Nhà Sách Phương Nam chứng kiến sự ra đời và “trỗi dậy” của Gen X, Millennial và sắp tới là Gen Z. Hiện nay, những thế hệ này chiếm đa số trong tệp khách hàng của Nhà Sách Phuơng Nam, càng ngày càng tự tin và khẳng định mình chính là lực lượng cốt yếu tô vẽ nên tấm phông nền độc đáo mang tên văn hóa Sài Gòn.

Thời bao cấp trôi qua, Gen X - những người con trưởng thành trong bối cảnh xã hội mới có đầy đủ điều kiện học tập, với nguồn tài chính dồi dào và nhu cầu văn hóa nâng cao. Lúc này, nhà sách không chỉ đơn thuần là nơi đến, lựa sách và mang về đọc, mà cần phát huy tiềm lực trở thành một địa điểm tham quan và giải trí cho giới trẻ sau 8 tiếng học tập và làm việc.

Nhà Sách Phương Nam quyết định đưa mô hình nhà sách vào các Trung tâm thương mại lớn, khởi đầu là Vincom Lê Thánh Tôn (quận 1). Thời điểm bấy giờ, đây là một quyết định liều lĩnh, nhiều ý kiến cho rằng Phương Nam “chơi trội”. Liệu nhà sách có tồn tại được trên một năm không? Tuy nhiên, sự thật đã chứng minh: đưa sách trở thành một sản phẩm sang trọng là quyết định đúng đắn.

Nhà Sách Phương Nam - Vincom Lê Thánh Tôn (Quận 1)

Thế hệ Millennial (Gen Y) và Gen Z tại Sài Gòn may mắn chứng kiến những tác động đầu tiên và sự lan tỏa mạnh mẽ của Internet. Đời sống của họ gắn chặt với công nghệ; điện thoại và máy tính trở thành công cụ không-thể-tách-rời trong cuộc sống, cùng những suy nghĩ độc lập hoàn toàn so với ông bà cha mẹ. Một thế hệ mới, với túi tiền rủng rỉnh hơn và nhạy bén với xu hướng toàn cầu hơn - không giới hạn trong thời trang, điện ảnh và còn cả mảng thông tin sách báo.

Nhà Sách Phương Nam - Đường sách Nguyễn Văn Bình (Quận 1)

Sách - với Milennial và Gen Z - không chỉ là “tập hợp rất nhiều chữ”, mà là một phong cách và lối sống cần sẻ chia. Sự phát triển của các cộng đồng đọc sách, các tạp chí sách online, #bookstagram và các trào lưu văn hóa tương tự liên tục được sinh ra và cập nhật mới thúc đẩy Phương Nam không được phép dậm chân tại chỗ, mà phải “trưởng thành” cùng thế hệ trẻ.

Học hỏi những mô hình thành phố sách cả ngàn mét vuông từ trên thế giới, Nhà Sách Phương Nam khai sinh 3 Book City tại Sài Gòn, mỗi nơi lại được cộp mác đóng mộc một phong cách thời thượng riêng để làm hài lòng các độc giả sành điệu, đồng thời không quên tái định hướng và cách tân thương hiệu “Nhà Sách Phương Nam” một cách tổng thể.

Phương Nam Book City - Vạn Hạnh Mall (Quận 10)

Phương Nam Book City - Hồng Bàng (Quận 5)

Và không thể nhắc đến lợi thế ngoại ngữ - một trong những mũi nhọn để các 8X, 9X có được tấm hộ chiếu công dân toàn cầu. Mà thông thạo ngoại ngữ không chưa đủ, người trẻ hiện nay có nhu cầu mạnh mẽ được hòa mình vào các làn sóng văn hóa, học thuật của thế giới, thông qua cây cầu là các sản phẩm văn hóa nhập ngoại với chất lượng đã được kiểm chứng. Các sản phẩm sách báo ngoại văn của Phương Nam xuất hiện, như một chất xúc tác cho quá trình tiếp cận này.

Phương Nam liên tục cập nhật các tác phẩm văn học mới phát hành trên thế giới, được công nhận bởi hội đồng và giải thưởng văn học lớn như Pulitzer, Man Booker,... cùng những cuốn sách phát hành cùng thời điểm với thế giới. Lồng ghép những tiện ích mới vào tấm phông nền văn hóa truyền thống, Nhà Sách Phương Nam đã trở thành “món ngon tinh thần” của giới trẻ Sài Thành. 

Nhà Sách Phương Nam - Estella Place (Quận 2)

Phương Nam chống dịch cùng Sài Gòn!

Để tôi kể cho bạn nghe, câu chuyện về cách Phương Nam linh hoạt chống dịch cùng Sài Gòn!

Dịch Covid trong năm 2020-2021 chắc chắn là sự kiện “độc đáo” và có tác động to lớn nhất đến xã hội Việt Nam trong thập niên 2020.

Hai năm trôi qua, đến bây giờ chắc bản thân người Sài Gòn cũng chẳng thể nhớ chính xác được số lần thành phố nhà mình đã bị dịch bệnh “xâm lấn”. Hiển nhiên Nhà Sách Phương Nam cũng không nằm ngoài vòng ảnh hưởng. Với 20 chi nhánh nhà sách tại Sài Gòn, Phương Nam vội vàng "gồng gánh" chống dịch. Nghiêm túc thực hiện những quy định vệ sinh và giãn cách của Thủ tướng Chính phủ chỉ là bước khởi đầu, Phương Nam không ngại thay đổi mình để đồng hành cùng thành phố.

Hội Sách Tết Canh Tý 2020

Khoảnh khắc khiến rất nhiều khách hàng Phương Nam giật mình kinh ngạc là khi họ phát hiện, giữa tầng tầng sách báo là sự hiện diện hiên ngang của... gạo thơm lài, dầu ăn Tường An cùng 101 chủng loại mì tôm, thịt hộp, mắm muối.

Phương Nam dành không gian để nhập về mặt hàng nhu yếu phẩm và sản phẩm vệ sinh - kháng khuẩn. Giải thích cho sự xuất hiện không hề được dự đoán trước này, ban lãnh đạo của Nhà Sách Phương cười xòa đáp: Đất nước chống dịch, thì mình linh hoạt hỗ trợ thôi!

Và khi đất nước cần, Phương Nam cũng sẵn sàng đóng cửa một số nhà sách để hạn chế tụ tập đông người và “di chuyển địa bàn” lên mặt trận online: website nhasachphuongnam.com rục rịch thay áo và xác lập vị thế thiết yếu của mình trong hệ sinh thái Phương Nam, để chắc chắn rằng đời sống văn hóa tinh thần của người Sài Gòn vẫn phong phú và giàu có, hệt như cái thời chúng ta chưa hề biết Covid là gì!

Phương Nam Book City - Saigon Center (Quận 1)

39 năm đồng hành cùng Sài Gòn, trong đó có 2 năm lịch sử đại dịch Covid. Cũng như những cư dân thành phố, Nhà Sách Phương Nam bắt đầu bằng lo lắng, ngạc nhiên,... cũng đã chuyển sang trạng thái tập làm quen và vững vàng chống dịch.

Sài Gòn vẫn chưa thất thủ! Lịch sử của thành phố vẫn đang chờ những cư dân hiện tại và thế hệ tương lại viết tiếp, và mong rằng những trang vàng son ấy vẫn có sự hiện diện của một nét bút xanh mang tên Phương Nam.

Đọc bài viết

Trà chiều

Cách Gudetama, một chiếc trứng lười có mông, trở thành hiện tượng văn hoá

Ôi, Gudetama! Ôi, loài người!

Published

on

Nhìn sơ qua thì khó có thể nhận ra, nhưng Gudetama là một chiếc lòng đỏ trứng có mông. Nó là nhân vật hư cấu: một nhân vật có tứ chi nhưng không có ngón tay hay ngón chân. Nó có miệng nhưng không có răng. Nó có đùi nhưng không thấy khớp, có đầu nhưng không có cổ. Đôi mắt nó trông giống như hai hạt vừng. Nó không có giới tính cụ thể.

Nhìn bằng mắt thường, chiếc trứng lười có thể bị nhầm thành một hạt đậu vàng, một hạt ngô, hay một giọt mật ong chẳng mấy bắt mắt. Nhưng Gudetama không phải là bất kì thứ gì trong số đó – bởi vì điều đó sẽ mang sức nặng quá lớn, đặc biệt khi đây là một câu chuyện thành công mà thoạt hình thì chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt cả.

Gudetama là nhân vật được sinh sau đẻ muộn trong vũ trụ Sanrio – thế giới nhân vật hư cấu mà cho đến gần đây vẫn xoay quanh Hello Kitty. Những năm gần đây, Gudetama là nhân vật nổi tiếng nhất của Sanrio, mặc dù cái ngoại hình lõng bõng của nó đi ngược với định nghĩa của công ty về khái niệm “dễ thương”.

Nếu Hello Kitty và những nhân vật đồng hương như chú ếch Keroppi nổi tiếng với khả năng “hóa phép” các vật dụng như hộp cơm, hành lý, áo phông, bàn chải đánh răng,... thêm phần dễ thương và cuốn hút, đồng thời gợi lên sự ấm áp nơi những trái tim lạnh giá nhất; Gudetama - chào đời vào năm 2013 – lại được sinh ra trong một thế giới mà có lẽ nó sẽ muốn chối bỏ và trốn tránh.

Chú ếch Keroppi.

Gudetama trông giống như một thiết kế nhân vật dang dở, thế nhưng mọi người không thể ngừng yêu thích nó. Vẻ ngoài của Gudetama chỉ là một phần nhỏ trong sức hấp dẫn của nó. Điểm thu hút nhất chính là tính cách lãnh đạm và thờ ơ của nó. Gudetama có thể nói chuyện (bằng những câu ngắn), di chuyển (nhưng giống như ngọ nguậy hơn), thể hiện cảm xúc (chỉ có đau đớn) và thở (đặc biệt là khi nó ngủ). Mặc dù nó có thể làm những điều này và có tiềm năng làm nhiều thứ hơn thế, nhưng nó không muốn làm. Mỗi ngày mới là một cơ hội để Gudetama trải nghiệm cuộc sống với mức năng lượng thấp nhất, và điều khiến nó sung sướng nhất là không làm gì cả.

Thật kỳ lạ khi một quả trứng lười biếng lại có thể thu hút sự yêu mến rộng rãi như vậy. Sự yêu mến này bắt nguồn từ tính cách gần gũi của nhân vật, nhu cầu được chăm sóc của nó và cách nó thách thức ta, khiến ta phải suy nghĩ lại về những gì ta thường coi là dễ thương. Gudetama và sự nổi tiếng của nó là một phần của phong trào văn hoá mở rộng – đây là phản lực hướng tới cuộc sống vốn đã bị chọt thủng bởi sự nghi ngờ, sóng gió và phẫn nộ.

Sự ra đời của Gudetama: một sản phẩm “về nhì” nhưng vẫn cứ phát triển mạnh mẽ

Từ khoảnh khắc chào đời, Gudetama đã luôn là kẻ thua cuộc.

Năm 2013, Sanrio tổ chức cuộc thi sáng tạo nhân vật dựa trên thực phẩm. Những cuộc thi như vậy được tạo ra vì hai mục đích: giúp nhà thiết kế của công ty nghĩ ra ý tưởng để sáng tạo, và đóng vai trò như một cuộc thử nghiệm cho các gương mặt mới tiềm năng trước khi Sanrio đổ tiền vào hàng hoá tương ứng. Fan bỏ phiếu, và Gudetama đứng thứ hai, thua một miếng cá hồi phi lê vui vẻ tên là Kirimichan.

Lát cá hồi vui vẻ Kirimichan.

Dave Marchi, phó chủ tịch tiếp thị và quản lý thương hiệu của Sanrio chia sẻ với tôi rằng: “Ban đầu, chúng tôi ra mắt các sản phẩm dựa trên nhân vật cá hồi phi lê và bạn bè. Quả trứng lười Gudetama đứng thứ hai, nhưng chúng tôi [vẫn] phát hành những sản phẩm dựa trên Gudetama, và chúng thực sự, thực sự rất thành công.”

Marchi đang khiêm tốn. Hãy nhìn cái góc nhỏ đáng buồn trên trang web của Sanrio - nơi mà Kirimichan và nụ cười bất diệt của nó tồn tại trong cô độc - khi chỉ có hai món đồ in hình Kirimichan được rao bán. Gudetama lại có tới 115 sản phẩm, bao gồm ván trượt, quạt bàn và hộp đựng khăn giấy biết nói, ngoài ra còn có nhiều trang phục thường ngày và thú nhung. Để so sánh thì Hello Kitty - nhân vật hàng đầu của Sanrio - có 226 sản phẩm.

Mặc dù Sanrio chưa tiết lộ doanh thu bán hàng chính xác, Marchi cũng nhận thấy rằng những khách hàng quan tâm đến Gudetama “chắc chắn thiên về nhóm người trưởng thành, nhưng cũng có những đứa trẻ 7 tuổi sở hữu một con thú nhung Gudetama bởi vì chúng nghĩ nó là một chiếc trứng dễ thương và vui nhộn.”

Khi cân nhắc về hình tượng Gudetama, chiến thắng từ tốn và lượng fan trưởng thành hoàn toàn dễ hiểu. Trong một cuộc thi thuần túy dựa trên sự "dễ thương", Kirimichan giành chiến thắng vì đó là tất cả những gì Kirimichan có – một miếng cá hồi phi lê dễ thương, tươi cười và tự xưng là “ngôi sao trong thế giới thực phẩm thái lát”.

Nhưng Gudetama đại diện cho nhiều, nhiều điều hơn thế.

Sức hấp dẫn thực sự của Gudetama là tính cách của nó.

Điều khiến Gudetama khác biệt với các nhân vật còn lại của Sanrio là mối liên kết cá nhân mà nhiều người hâm mộ cảm thấy với nhân vật. Có thể bạn sẽ không hiểu được này nếu bạn mới chỉ nhìn thấy hình vẽ Gudetama. Kết nối đó đến từ các video của Gudetama, trong đó nó, chà, chẳng làm gì cả. Sanrio đã tạo một chuỗi video mà bạn có thể xem trên YouTube - gồm các đoạn ngắn ghi lại cuộc sống đáng chán của Gudetama. Các video cho thấy sự thiếu nhiệt tình của Gudetama theo những cách mà hình ảnh tĩnh không thể nắm bắt được.

“Tôi nghĩ đặc biệt với Gudetama và thái độ mà chúng ta thấy từ nó, nó có một chút khác biệt,” Marchi nói. “Nó hơi lười biếng, nó hơi u sầu, nó có một chút chả quan tâm, thái độ hơi mệt mỏi, buồn ngủ, lười biếng, sao cũng được, mà điều đó có thể được đồng cảm bởi nhiều người, cho dù là bạn 14 tuổi, 34 tuổi hay 50 tuổi.”

Cái tên “Gudetama” kết hợp cụm từ tiếng Nhật “gude gude”, có nghĩa là lười biếng, với “tama”, một dạng viết tắt của “tamago”, tiếng Nhật có nghĩa là trứng. Dùng từ “lười biếng” để miêu tả Gudetama có một chút nói giảm nói tránh, giống như việc dùng từ “mưa” mô tả một trận đại hồng thuỷ vậy.

Gudetama luôn mệt mỏi. Nó (theo Sanrio, Gudetama không được thụ tinh và không có giới tính) quá mệt mỏi để hắt hơi, quá mệt mỏi để bị ăn, quá mệt mỏi để bị rán lên, và rất nhiều lúc, rất mệt mỏi để chui ra khỏi vỏ trứng. Nó sử dụng một dải thịt xông khói làm chăn và dùng bít tết để làm gối. Nó luôn nói về việc trở về nhà, nhưng không bao giờ nói rõ nhà là đâu. Cuộc sống đối với Gudetama, chủ yếu là nằm trên đĩa, phần lớn là không thể chịu đựng được.

Dùng từ “lười biếng” để miêu tả Gudetama có một chút nói giảm nói tránh, giống như việc dùng từ “mưa” mô tả một trận đại hồng thuỷ vậy.

Bất kỳ nỗ lực nào cũng đồng nghĩa với đau đớn. Điều duy nhất tồi tệ hơn nỗ lực là nỗ lực cần thiết để phàn nàn về những nỗ lực trên. Bạn có thể lười trong mọi việc, chỉ cần bạn quyết tâm là được.

Trong sự không muốn làm bất cứ việc gì, Gudetama đã luyện thành một nhân cách từ chứng “suy nhược hành động”. Thái độ không có động lực này đã mang lại cho nó nhiều danh hiệu khác nhau, từ “Hello Kitty dành cho thế hệ Millennials” cho đến cái tên chung chung hơn là “anh hùng”.

Gudetama cho thấy văn hoá “kawaii” của Nhật Bản đã trở nên phức tạp - đối lập với định nghĩa “dễ thương” của người Mỹ

Để hiểu Gudetama, bạn phải hiểu rằng khái niệm “dễ thương” của người Mỹ rất đơn giản. Ở Mỹ, những gì bạn thấy, về cơ bản, là những gì bạn có.

Theo lời Aya Kakeda, một chuyên gia hoạt hình và giảng viên tại trường Visual Arts (Nghệ thuật thị giác) tại New York: “Văn hoá nhân vật tại Mỹ và phương Tây vẫn rất trắng đen rõ ràng. Vai ác là vai ác, và anh hùng là anh hùng. Nhân vật dễ thương là biểu tượng của sự ngọt ngào và những điều tốt lành. Bạn có thể nhận thấy điều đó thông qua diện mạo của họ. Điều đó cũng tương tự với các nhân vật ‘ác’.”

Ví dụ kinh điển: hầu hết các bộ phim cũ của Disney. Có thể dễ dàng phân biệt được đâu là nhân vật phản diện vì họ thường xấu xí (Evil Queen trong Bạch Tuyết và 7 chú lùn), kinh tởm (Phù thuỷ biển Ursula của Nàng tiên cá), và/hoặc hoà mình với bóng đêm và những gam màu tối (Scar trong The Lion King). Những kẻ “xấu” trong phim Disney được xem là kẻ ác, lúc nào cũng xấu xa, và không bao giờ dễ thương.

Nhân vật phù thủy biển - đại diện cho cái "xấu" và tàn ác, mưu mẹo và Ariel - đại diện cho sự "đáng yêu", tốt bụng trong phim hoạt hình Disney Nàng tiên cá (1989).

Nhưng ở Nhật Bản, khái niệm dễ thương có nhiều vùng xám hơn, và nó chậm rãi phát triển trong nhiều năm. Khi thảo luận về sự dễ thương ở Nhật Bản, cụm từ được mọi người sử dụng là “kawaii”, một thuật ngữ xuất hiện vào những năm 1970 (theo Sharon Kinsella thuộc Đại học Manchester).

Nguyên lí cơ bản của kawaii là cảm giác dễ thương như trẻ con. Alissa Freedman, giáo sư về văn học và điện ảnh Nhật Bản tại Đại học Oregon nói với tôi rằng: “Kawaii không chỉ là một kiểu dễ thương. Đó là một kiểu dễ thương rất mong manh. Kiểu như là, bạn quá dễ thương nên mọi người muốn chăm sóc bạn. Nó khiến chúng ta muốn quan tâm đến họ.”

Gần đây, theo Kakeda, khái niệm kawaii đã trở nên rời rạc hơn, dẫn đến việc phân mảnh thành nhiều nhóm kawaii khác nhau. “Ví dụ như, kimo-kawaii [đôi khi còn gọi là gro-kawaii] – kimo có nghĩa là kì cục. Có điều gì đó đáng sợ và kỳ lạ về [một nhân vật kimo-kawaii], nhưng đồng thời nó cũng mang vẻ kawaii tương tự.”

Một nhân vật kimo-kawaii của văn hóa Mỹ mà Kakeda đưa ra là Spongebob Squarepants, với đôi mắt lồi và làn da đầy lỗ. Kakeda cũng đưa ra các nhân vật của Nhật gọi là “Kobito Zukan”, trông giống như những người lùn hay thần lùn. Nhân vật này, theo như trang web chính thức của Kobitos thì thích hút đường từ những quả đào.

Kakeda chỉ ra rằng: Khái niệm kimo-kawaii không chỉ xoay quanh ngoại hình. Một trong những nhân vật kimo-kawaii nổi tiếng hơn cả ở Nhật Bản là “Gloomy Bear”. Được tạo ra bởi nghệ sĩ Mori Chack, ngoại hình Gloomy Bear giống bạn bè của Hello Kitty và các nhân vật còn lại của vũ trụ Sanrio. Nhưng khi nhìn vào bộ móng vuốt đẫm máu của nó, bạn sẽ nhận ra rằng nhân vật này rất bạo lực, mà đích nhắm của sự bạo lực thường là chủ của nó, một cậu bé tên Pitty.

Nhân vật kimo-kawaii Gloomy Bear.

Sự kết hợp giữa đẫm máu và dễ thương của Gloomy Bear là những gì Kakeda nhận ra được khi cô miêu tả những gì còn thiếu sót trong văn hoá nhân vật Mỹ, nơi những sinh vật dễ thương thường không có khả năng trở thành bất cứ điều gì ngoài tốt bụng và sinh vật xấu xí thì, dĩ nhiên, phải đi cùng với sự xấu xa. Nó cũng cho thấy mức độ rộng và hẹp xen kẽ nhau của văn hoá kawaii như thế nào.

Gudetama thể hiện các yếu tố của kimo-kawaii. Nó không dễ thương theo kiểu truyền thống, và vẻ bề ngoài của nó nghiêng về Spongebob hơn là Hello Kitty. Thái độ của nó không giống như trẻ con và cũng không được vui vẻ lắm. Ngoài ra, Gudetama còn thể hiện những đặc điểm của một nhóm kawaii nhỏ khác là yuru-kawaii.

Theo Kakeda, “Yuru có nghĩa là buông thả, thoải mái và bình tĩnh, thể loại này trở nên nổi tiếng vì cuộc sống căng thẳng trong xã hội hiện đại. Mọi người luôn tìm kiếm điều gì đó để khiến họ bình tĩnh và thư giãn. Ở Mỹ, có lẽ mọi người sẽ đi tìm kiếm các tiệm spa hay các lớp học thiền. Ở Nhật Bản, có những nhân vật Yuru khiến bạn bình tĩnh và thư giãn chỉ bằng cách nhìn vào chúng.”

Điển hình của yuru-kawaii là một chú gấu được biết đến với cái tên Rilakkuma, một nhân vật được do công ty đối thủ của Sanrio - công ty văn phòng phẩm San-X tạo ra. Tên của Rilakkuma có nghĩa là “có tâm trạng thoải mái” và nhân vật này có một cuộc sống không căng thẳng.

Nhân vậy yuru-kawaii Rilakkuma.

Hình ảnh không nói dối. Tôi chỉ mất khoảng 14 giây để phải lòng cái sự đáng yêu này. Nhịp tim của tôi chậm hơn. Hơi thở của tôi sâu hơn. Tôi quên mất việc giặt giũ và rửa chén của mình. Tôi trút bỏ sự lo lắng liên quan đến công việc của mình. Tôi tưởng tượng mình là chú chim nhỏ màu vàng, mặc bộ quần áo nhỏ xíu, đi chơi với hai người bạn gấu của tôi và tận hưởng một cuộc sống ấm cúng. Nhìn chằm chằm vào con gấu này khiến tôi dễ chịu hơn.

Khi Kakeda giải thích sự khác biệt giữa Rilakkuma và Gudetama, cô ấy sử dụng từ “tiêu cực” để phân biệt hai nhân vật. Đó là một đặc điểm phân biệt phù hợp. Rilakkuma là thư giãn theo mặt tích cực. Gudetama không nghiêng nhiều về sự thư giãn mà là về sự khó chịu đối với thế giới xung quanh nó. Gudetama, màu vàng và mang bộ dạng trần trụi, tự nghi ngờ về ý nghĩa cuộc sống.

Gudetama hỏi: “Nếu nhàn rỗi là hạnh phúc thật sự, thì làm những gì khác chẳng phải là đau khổ sao?”

Sự ra đời của thế hệ nhân vật sau này – một thế hệ giống Gudetama hơn là Hello Kitty

Có một sự khác biệt lớn giữa Gudetama và Hello Kitty: Hello Kitty vừa dễ thương hơn Gudetama - theo phong cách cũ - nhưng đồng thời cũng vô cảm – Hello Kitty thậm chí còn không có miệng để cười hay cau mày. Điều này khiến nó trông như một bức phông trống: Hello Kitty có thể là bất cứ điều gì mà chúng ta muốn cô nàng trở thành. Nhưng nhiều người đặc biệt cảm thấy kết nối với Gudetama vì tính cách của nó.

Và Sanrio bắt đầu tận dụng sự nổi tiếng này.

Năm ngoái, công ty đã giới thiệu Aggretsuko – từ “agrressive” (hung hăng) kết hợp với tên riêng là Retsuko – hướng đến khách hàng quốc tế (những người nói tiếng Anh). Aggretsuko là một cô gấu trúc đỏ làm việc trong văn phòng toàn những đồng nghiệp phiền phức. Để thư giãn, cô dành cả đêm để uống rượu và hát nhạc death metal tại quán karaoke.

Nhân vật Aggretsuko.

Theo Freedman, Aggretsuko hay ở chỗ, cô là một là một dạng parody nhẹ nhàng của nhóm phụ nữ Nhật “OL”, hay “office lady” (phụ nữ văn phòng), họ xuất hiện vào những những năm 80. OL là những nhân viên nữ làm việc trong những ngành nghề thiên hướng “nữ tính”, hoặc những công viêc dịch vụ với phong cách mặc định là lịch sự, đoan trang. Aggretsuko đã xoá bỏ định kiến đó, cho chúng ta thấy cô không chỉ biết “lịch sự”. Thật vậy, cô hoàn toàn thành thật về mức độ khó khăn của công việc, khi mà cô phải chịu đựng những người đồng nghiệp khó ưa của mình.

Nếu chuyện Aggretsko đang thách thức cái hình tượng ngoan ngoãn, hoài cổ của phụ nữ Nhật là một vấn đề xa lạ với người Mỹ, thì những nỗi bức bối của cô và sự khác biệt giữa cái tôi nơi công sở và cái tôi thật lại là vấn đề chung toàn thế giới.

Mặc dù tính cách của cô không giống Gudetama, Aggretsuko cũng thuộc một nhóm nhân vật kì lạ nhưng mang ý nghĩa quan trọng. Chiếc trứng lười có mông kia đã thay đổi khái niệm dễ thương của Sanrio, cũng như phản ứng của mọi người đối với nó.

Dễ thương không chỉ là vẻ bề ngoài. Nó có sức mạnh để thay đổi chúng ta, là cứu cánh cho những nỗi bức bối và sợ hãi lớn nhất của chúng ta, và có lẽ cho chúng ta thấy điều gì đó trong bản thân mà chúng ta không biết là mình cần – đặc biệt nếu cái tôi thật của bạn là một quả trứng có mông và chán ghét cuộc sống.

Hết.

Alex Abad-Santos
Lalijade lược dịch.

Bài viết gốc How Gudetama, a lazy egg yolk with a butt, became an unstoppable cultural phenomenon đăng tại Vox.

Đọc bài viết

Trà chiều

Bài học đạo đức thâm sâu trong truyện cổ tích: Khi các cô gái kết hôn với quái vật

Published

on

Beauty and the Beast (Người đẹp và Quái vật) là cuốn sách vừa ra mắt, tập hợp những câu chuyện cổ tích từ khắp nơi trên thế giới, khám phá sự khác lạ của mối quan hệ vượt ranh giới giống loài.

Trong cả hai phiên bản Người đẹp và Quái vật của Disney, giữa khung cảnh bộ đồ dùng làm bếp nhảy múa, nhạc đệm lãng mạn và điệu waltz ngất ngây, thật dễ dàng bỏ qua việc câu chuyện này kỳ lạ như thế nào. Đây là một câu chuyện - được kể lại bởi tập đoàn hùng mạnh nhất trong lĩnh vực giải trí dành cho thiếu nhi - về một cô gái phải lòng một con quái vật. Trong bản hoạt hình năm 1991, biểu cảm ngốc nghếch của Quái vật khiến hắn ta trông giống con người và đáng yêu hơn hẳn, giảm bớt sự kỳ quặc trên. Nhưng trong bản live-action năm 2017, tạo hình Quái vật lại vô cùng giống… một con quái thú.

Người đẹp và Quái vật bản hoạt hình năm 1991.

Người đẹp và Quái vật bản live-action năm 2017.

Trong bản gốc Người đẹp và Quái vật được phát hành năm 1740 bởi tiểu thuyết gia người Pháp Gabrielle-Suzanne Barbot de Villeneuve, Quái vật được mô tả là một loài lai tạp giữa voi và cá, với “vòi voi quấn quanh cổ”, “cơ thể nặng nề”, “tiếng loảng xoảng khủng khiếp phát ra từ bộ vảy” mỗi khi hắn di chuyển. Nhưng trong phiên bản chuyển thể nổi tiếng nhất - một phiên bản cô đọng dành cho trẻ em từ cựu giáo viên Jeanne-Marie Leprince de Beaumont, ngoại hình của Quái vật được nhường lại cho trí tưởng tượng của độc giả. De Beaumont chỉ nói rằng hắn ta trông “đáng sợ”, và Người đẹp đã phải run rẩy “trước ngoại hình kinh khủng của sinh vật này”. Quái vật có thể trông giống một con trâu nước, hoặc một con gấu, hay một con hổ; hắn ta cũng có thể được miêu tả như một ông già tầm thường, bản chất tốt bụng nhưng ngoại hình thì cực kỳ xấu xí. Đó chính là mục đích của câu chuyện.

De Beaumont luôn lồng ghép các bài học đạo đức mạnh mẽ vào đa số những câu chuyện của mình, và xuất bản chúng như một bản hướng dẫn giáo dục dành cho trẻ nhỏ. Bà không phải là người duy nhất làm vậy. Jack Zipes viết trong cuốn sách Fairy Tale as Myth/Myth as Fairy Tale năm 1983: “Truyện cổ tích không thể trở nên phổ cập, trừ khi chúng hoàn toàn nhất quán với các nguyên tắc cơ bản về cách nam giới trong xã hội tìm cách sắp xếp mối quan hệ để thoả mãn mong muốn và nhu cầu của họ.” Thật vậy, như Maria Tatar đã chỉ ra trong phần giới thiệu tuyệt vời về tuyển tập mới Beauty and the Beast: Classic Tales About Animal Brides and Grooms From Around the World (Người đẹp và Quái vật: Những câu chuyện kinh điển về những cô dâu và chú rể động vật trên khắp thế giới), câu chuyện về Người đẹp và Quái vật vốn dành cho những cô gái có thể bị áp đặt vào những cuộc hôn nhân sắp đặt. Người đẹp bị cha mình trao đổi để nhận lại sự an toàn và của cải, và bị gửi đến sống với một người lạ đáng sợ. Tatar giải thích câu chuyện của De Beaumont nhấn mạnh sự cao quý trong hành động hy sinh thân mình của Người đẹp, đồng thời khiến độc giả phấn khích “vì một mối quan hệ đòi hỏi sự đè nén mong muốn của bản thân và phục tùng ý chí của một con quái vật.”

Nhưng Người đẹp và Quái vật cũng là một bổ sung tương đối hiện đại cho nhiều điển tích có từ hàng ngàn năm trước: những câu chuyện về con người phải lòng động vật. Những ví dụ đặc trưng đến từ Ấn Độ, Iran, Na Uy và Ireland; Tatar liệt kê những câu chuyện về vua ếch, công chúa chim, cô dâu chó, và chồng là chuột muskrat. Về cơ bản, mỗi câu chuyện là một biểu hiện cho sự lo ngại về hôn nhân và các mối quan hệ - về tính thú của các giới, và sự xa lạ giữa đàn ông và phụ nữ. Có một số câu chuyện, như Người đẹp và Quái vật, cảnh báo về sự phù phiếm hoặc độc ác. Nhưng nhiều câu chuyện chỉ đơn giản minh hoạ cho sự thôi thúc cơ bản của con người – phổ biến trong các nền văn minh – là sử dụng các câu chuyện để giải nghĩa cuộc sống.

*

Tatar viết: “Người đẹp và Quái vật là câu chuyện về sức mạnh của sự đồng cảm”, nhưng là một câu chuyện tăm tối và xạ lạ. Ngấm ngầm bên trong nó là nhiều quan ngại liên quan đến cấu trúc xã hội và cảm xúc hôn nhân: sợ hãi đối phương, không muốn rời xa gia đình, sợ thay đổi bản thân trong một mối quan hệ mới. Câu chuyện của De Beaumont “phản ánh mong muốn chuyển đổi những câu chuyện cổ tích từ vai trò giải trí thành những câu chuyện ngụ ngôn về hành vi tốt, là phương tiện để truyền dạy và khai sáng cho trẻ em về các đức tính tốt và giáo dục tốt.” Ngoại hình quyến rũ của Người đẹp kết hợp hoàn hảo với đức hạnh và lòng vị tha của cô, điều này tương phản với sự phù phiếm, tham lam và gian ác của các chị em cô.

Khi bố của Người đẹp lên đường để bắt kịp chuyến tàu vừa cập cảng, ông hỏi các cô con gái của mình muốn quà gì. Những người chị em của Người đẹp yêu cầu quần áo và đồ trang sức khác; Người đẹp, vì không muốn gây phiền hà cho cha mình hay làm xấu mặt các chị em mình, chỉ yêu cầu duy nhất một bông hoa hồng - thứ sẽ định hình số phận của cô. Cha của cô bị ngã ngựa và được dẫn lối vào ngôi nhà bí ẩn không người ở, nơi ông được cho ăn và nghỉ ngơi. Vào buổi sáng, ông nhớ tới việc phải ngắt một bông hồng cho Người đẹp, nhưng hành động không kiêng nể của ông đã triệu hồi Quái vật, kẻ đã kết án tử hình cho ông, nhưng lại cho phép cha của Người đẹp gửi một trong những cô con gái của mình đến chết thay.

Người đẹp, dĩ nhiên, hy sinh bản thân mình. “Con thà bị con quái vật đó nuốt chửng còn hơn chết vì đau buồn khi phải mất cha.” Hành động của cô đã nói với độc giả rằng việc “cứu” gia đình mình bằng cách bước vào một hôn nhân sắp đặt là hành vi cao cả, đồng thời chuẩn bị cho họ tinh thần hy sinh chính bản thân mình trong một viễn cảnh tương tự. Tatar viết: “Khát khao vật chất và leo thang xã hội thúc đẩy các bậc cha mẹ giao con gái của họ cho loài cầm thú, và các câu chuyện phản ánh hành vi này như là tập quán xã hội của thời kỳ xa xưa. Nhiều cuộc hôn nhân sắp đặt khiến ta có cảm giác như bị trói vào tay một con quái vật.”

Tương tự, nhiều câu chuyện trong tuyển tập của Tatar là “huyền thoại khởi đầu” – các câu chuyện kể về những nghi lễ đa dạng khi bước vào tuổi trưởng thành, cho dù bằng cách giết rồng, hành trình qua các quốc gia hay giao ước với những linh hồn kỳ lạ và không đáng tin cậy. Trong Cupid và Psyche, Psyche bị ép kết hôn với một con quái vật, và nàng bị cấm nhìn thấy gương mặt hắn ta. Hàng đêm, hắn ta làm tình với nàng trong bóng tối. Nhưng các chị em của nàng (cũng là những kẻ nhiều chuyện quỷ quyệt) thuyết phục nàng dùng một ngọn đèn để nhìn trộm, lúc đó nàng phát hiện hóa ra đó là thần Cupid, “người đẹp trai và quyến rũ nhất trong các vị thần”. Tuy nhiên, hậu quả của việc bất chấp quy tắc của nàng thật là thảm khốc. Thần Cupid biến mất, và Psyche phải vượt qua những nhiệm vụ bất khả thi để chứng minh giá trị của mình với Venus, người mẹ độc đoán của Cupid.

Amore e Psiche bởi Giuseppe Crespi, cảnh Psyche dùng ngọn đèn để nhìn trộm Cupid.

Trong một câu chuyện của người Ghana, Tale of the Girl and the Hyena-Man (Câu chuyện về cô gái và chàng linh cẩu), một cô gái trẻ tuyên bố cô sẽ không lấy người chồng mà cha mẹ đã chọn. Thay vào đó, cô ấy chọn một người lạ, “một chàng trai trẻ, có sức mạnh và vẻ đẹp tuyệt vời”. Thật không may, anh ta hoá ra là một con linh cẩu giả dạng - gã đã đuổi theo vợ mình khi cô biến mình thành một cái cây, sau đó là một vũng nước, sau đó là một hòn đá. Câu chuyện kết thúc ngắn gọn: “Truyền thuyết về cuộc phiêu lưu của cô được truyền lại cho tất cả mọi người, và đó là lý do tại sao cho đến ngày nay phụ nữ không được phép tự chọn chồng cho mình và đó cũng là lý do tại sao trẻ em cần học cách vâng lời người lớn tuổi.”

Những câu chuyện cảnh báo phụ nữ về hiểm nguy của quyền tự quyết và hậu quả của sự tò mò không kiểm soát cũng phổ biến tương tự những câu chuyện khuyên răn các chàng trai về thói hoang dại hiển nhiên của đàn bà. Khi cô dâu là động vật, họ biến thành người nội trợ đảm đang và có năng lực, nhưng thú tính vẫn còn trong họ. Trong The Swan Maidens (Tiên nữ thiên nga), một thợ săn bắt gặp một nhóm phụ nữ trẻ đang tắm trong hồ sau khi trút bỏ áo choàng làm từ lông vũ. Anh ta giấu đi một chiếc áo choàng, khiến một trong những thiếu nữ bị mắc kẹt trong hình dạng con người, bất lực nhìn những người chị em của mình hóa thiên nga bay về trời. Người thợ săn kết hôn với cô; họ có hai đứa con và sống hạnh phúc bên nhau, nhưng một ngày nọ, khi cô tìm thấy chiếc áo choàng lông vũ bị giấu đi, cô lập tức mặc nó vào và trở lại hình dạng thiên nga, bay đi và bỏ rơi chồng con mình.

Tiên nữ thiên nga dường như nói lên mong muốn bẩm sinh của phụ nữ, cũng như cảm giác trung thành và tình thân đối với bộ tộc nguyên thuỷ của một người. Nó cảnh báo độc giả nam về sự khác biệt tiềm ẩn trong phụ nữ, những người từ lâu được quy là quá gần gũi với thiên nhiên, quá hoang dã. Nhưng nó cũng làm sáng tỏ những gì Tatar miêu tả là “bản chất áp bức bí mật của hôn nhân, với nhiệm vụ trong nom và nuôi dạy con cái. Những cô dâu động vật là những người bạn đời tuyệt vời khi đảm nhận nhiệm vụ trong gia đình, nhưng có một cái giá phải trả: Họ không được phép nắm giữ chìa khoá tự do của mình.

*

Rất nhiều yếu tố nguyên sơ và cảnh báo trong truyện cổ tích được Angela Carter đề cập hoặc lật tẩy trong The Bloody Chamber (Căn hầm đẫm máu), một tuyển tập truyện năm 1979 lấy cảm hứng từ truyện dân gian. Trong tiêu đề câu chuyện, nhân vật nữ chính bán mình cho cuộc hôn nhân, bỏ qua những nghi ngờ của mẹ cô; sau đó cô “rời đi Paris, rời xa thời con gái, rời xa không gian yên tĩnh trắng muốt trong căn hộ của mẹ tôi để đến đất nước không thể đoán được về hôn nhân.” Cuối hành trình là người chồng người mà thực sự là một con quái vật – không phải một con thú mà là một kẻ sát hại phụ nữ hàng loạt. Cuối cùng nhân vật nữ chính không phải được cứu bởi một người đàn ông mà bởi người mẹ liều lĩnh, dũng cảm và nổi loạn của cô.

Những cạm bẫy đạo đức trong truyện cổ tích tràn ngập trong các câu chuyện của Carter, nhưng bà từ chối tuân theo các quy ước của họ. Trong Căn hầm đẫm máu, Carter đã tạo nên một câu chuyện ngụ ngôn nữ quyền, riêng biệt và chứng minh rằng ngay cả những mô hình kể chuyện lâu đời nhất cũng có thể được điều chỉnh để phù hợp với những trải nghiệm vào lo lắng đương thời.

Hết.

Lalijade lược dịch.

Bài viết gốc The Dark Morality of Fairy-Tale Animal Brides được thực hiện bởi Sophie Gilbert, đăng tại The Atlantic.

Ảnh đầu bài: Minh họa Người đẹp và Quái vật, 1913 bởi Warwick Goble

*

Có thể bạn sẽ thích



Đọc bài viết

Cafe sáng