Trà chiều

Bảng xếp hạng các nữ quỷ trong văn hóa dân gian Nhật Bản

Published

on

Aoko Matsuda, tác giả cuốn sách “Where the Wild Ladies Are” (tạm dịch “Ở nơi ma nữ hiện hồn”) sẽ chia sẻ về những nhân vật nữ quỷ, ma nữ đáng sợ trong những truyền thuyết mà bà yêu thích nhất.

Những linh hồn ma nữ đi chệch hướng hoàn toàn so với những chuẩn mực mà phụ nữ Nhật Bản phải tuân theo, và chính sự khác biệt đó đã thu hút tôi. Cũng như cảm giác ngạc nhiên về sự khác thường của họ, họ gợi dậy trong tôi một cảm giác thân thuộc – như thể những thứ mà họ đại diện cũng là một phần trong con người tôi. Như thể tôi có một phần ngông cuồng trong thâm tâm, như thể chính bản thân tôi cũng là một ma nữ hoang dại – những suy nghĩ này làm tôi vui sướng khi phát giác ra một điều mới mẻ. Nó cũng khiến tôi cân nhắc lại về phụ nữ Nhật Bản (bao gồm cả bản thân tôi), những người mà – miễn họ chưa chết hay không bị tráo đổi thành một dạng hình hài hoàn toàn khác – mãi chẳng thể tiết lộ bản chất thật của mình.

Những câu chuyện dân gian và cổ tích có rất nhiều điểm khác biệt vùng miền, và tồn tại nhiều dị bản được thêm bớt bởi những nghệ sĩ nhất định. Phiên bản của những câu chuyện được tôi thuật lại dưới đây là những phiên bản mà tôi đã đọc và nghe trong khoảng thời gian trải dài từ nhỏ đến lớn. Ngoài ra (dù thừa nhận điều này có thể khiến tôi gặp rắc rối với giới học thuật), tôi không phân biệt rạch ròi giữa ma, quái vật, yêu quái (yokai). Tôi thường gộp chung tất cả họ lại thành những nàng ma nữ hoang dại.

1. Nàng Okiku

Như nhân vật Kikue trong Where the Wild Ladies Are, tôi trưởng thành tại thành phố Himeji, nơi Lâu đài Himeji tọa lạc. Trong những chuyến đi thực tế của trường hoặc khi có họ hàng ghé thăm, tôi sẽ đi tới lâu đài, và bên trong khuôn viên lâu đài là Giếng Okiku.

Sau khi bị lôi kéo vào âm mưu của những gã người đàn ông bên cạnh nàng, nàng Okiku oan ức bị buộc tội làm mất một trong mười bộ đĩa quý giá của gia chủ. Nàng bị giết và ném xuống giết. Khi đã thành oan hồn, cứ mỗi đêm nàng lại nổi lên khỏi giếng với vẻ ngoài ghê rợn và đếm mãi số đĩa: “Một, hai, ba…” Đến cái thứ chín, nàng thốt lên, “Ôi, thật sự thiếu một cái!” Nhưng biết rõ sự thật rằng mình vô tội, nàng đếm lại từ đầu. Còn những kẻ âm mưu hãm hại nàng, cảnh tượng này hẳn là một nhắc nhở ray rứt về hành động của họ.

Khi bàn về những siêu năng lực, việc trở thành một con ma và đếm đĩa có vẻ tương đối nhạt nhẽo, nhưng có điều gì đó trong sự đơn giản này đã truyền tải được nỗi oán hận sâu đậm của Okiku. Sống trong một căn biệt thự vang vọng những tiếng đếm của Okiku và tiếng đĩa vỡ, những kẻ đã hủy hoại nàng sẽ không thể tránh khỏi kết thúc tồi tệ, như thể bị nuốt chửng bởi thứ lố bịch mà họ tạo ra.

Ở Nhật Bản, mùa kể chuyện ma là mùa hè, nên đó cũng là thời điểm các bộ phim chuyển thể từ truyện ma được chiếu trên TV. Tôi đã xem bộ phim truyền hình chuyển thể từ câu chuyện của Okiku lúc còn nhỏ. Khi chứng kiến Giếng Okiku – thứ thật sự tồn tại ở thành phố nơi tôi sống – được trình chiếu trên TV như một sự việc hư cấu, cảm giác của tôi rất kỳ lạ, như thể thực tế và giả tưởng đã chạm trán. Đồng thời tôi cảm thấy tự hào về Okiku. Vài năm trước, khi chắp bút Where the Wild Ladies Are, tôi đã viếng thăm Lâu đài Himeji và lại được chiêm ngưỡng Giếng Okiku sau một thập kỷ xa cách. Sau đợt tu bổ gần đây, Lâu đài Himeji với có màu trắng toát lạ thường, nhưng Giếng Okiku vẫn nguyên vẹn như trong hồi ức. Tại đó, tôi bắt gặp bóng hình một cậu bé đến tham quan cùng mẹ. Cậu nhìn xuống giếng, bắt chước giọng của Okiku và đếm đĩa: “Một, hai, ba…” Điều đó làm tôi cảm thấy vui sướng khi những di sản của nàng Okiku vẫn còn tồn tại, dẫu đã bước vào thế kỷ 21.

Okiku đã gieo vào trong tôi sự nhận thức về những điều kinh dị luôn hiện hữu quanh ta trong cuộc sống – và nó không chỉ đáng sợ, mà còn tạo ra cảm giác thân thuộc và thậm chí là sức mạnh. Trong tất cả những hồn ma sống trong tôi, Okiku sẽ luôn là số một.

2. Osakabehime

Khi trưởng thành, tôi phát hiện ra sự tồn tại của một quỷ sứ khác trong Lâu đài Himeji: Osakabehime, một yêu quái trú ngụ bên trong lâu đài. Trên thực tế, có một ngôi đền nhỏ dành riêng cho nàng ấy. Nàng cũng xuất hiện trong vở kịch Tenshu Monogatari của Izumi Kyōka. Nàng có một đoàn thuộc hạ – cũng là những linh hồn giống nàng – và họ đang bất hòa với “hạ giới” – tức là thế giới của loài người. Nàng điềm tĩnh, tàn nhẫn và hùng mạnh.

Trong Tenshu Monogatari, Zushonosuke là một nhân vật có thể di chuyển qua lại giữa hai thế giới, vươn lên đến thành quách lâu đài. Cuối cùng, anh lựa chọn thế giới có Osakabehime. Osakabehime có một người em gái tên Kamehime, và hai người họ thay phiên đến thăm nhau trong lâu đài đối phương sống. Gần đây tôi chợt nhận ra rằng họ có mối quan hệ giống Virginia Woof và Vanessa Bell, qua lại giữa Nhà Monk và nhà Charleston.

Nhìn xuống từ Lâu đài Himeji, bạn sẽ thấy chiếc Giếng Okiku ngay bên dưới. Có vẻ như Okiku và Osakabehime không thể không biết về sự tồn tại của nhau, vì vậy khi viết Where the Wild Ladies Are, tôi quyết định đưa vào một câu chuyện miêu tả tình chị em xa cách giữa hai người họ. Với những nàng quỷ sứ cả tồn tại bên trên lẫn bên dưới, tôi không thể không nghĩ rằng Lâu đài Himeji quả thật là một nơi đặc biệt.

3. Kuwazu nyobo (Người vợ biếng ăn)

Những câu chuyện cổ tích và truyện ma Nhật Bản thường xuất hiện nhiều linh hồn nữ nhân. Vì mang hình hài con người, những ma nữ này hiểu rất rõ về hình mẫu phụ nữ Nhật Bản lí tưởng: họ phải đẹp, trầm lặng, nhạy bén, chăm chỉ và tận tụy với chồng mình. Những kẻ sống cạnh “người phụ nữ lí tưởng” này khai thác những đặc điểm trên để lợi dụng và lừa dối nàng. Tuy nhiên, khi sự thật được phanh phui và ma nữ hiện nguyên hình, hóa ra nàng chẳng hề giống với hình mẫu phụ nữ lí tưởng. Sau khi đã bại lộ hoàn toàn, những linh hồn nữ nhân này sẽ lao vào con người với nanh vuốt lột trần.

Người ta miêu tả nguyên hình của họ là rất đáng sợ (và đôi khi, là một loại đáng sợ chỉ có ở phụ nữ), nhưng nếu chỉ thế thì những câu chuyện này đã không có sức mê hoặc như vậy. Công chúng muốn biết nhiều hơn về bản chất của những ma nữ này. Từ rất lâu, chúng ta đã học từ các câu chuyện rằng luôn có một mặt khác của người phụ nữ lí tưởng. Tuy nhiên, trong thế giới thật, chúng ta vẫn tiếp tục yêu cầu phụ nữ đáp ứng lí tưởng này. Tôi cảm thấy điều này ngu ngốc đến không thể tin được. Thôi nào, chúng ta đều biết rằng đó là điều thực sự không thể!

Kuwazu nyobo, hay “người vợ biếng ăn”, là một yêu quái có cái miệng thứ hai ở bên đầu. Nàng xuất hiện trước mặt một người đàn ông – kẻ luôn oang oang những lời lẽ keo kiệt và nực cười, rằng “Nếu tôi lấy vợ, tiền ăn của tôi sẽ tăng lên, nên tôi muốn một người vợ chăm chỉ và ăn ít”. Cả hai nhanh chóng kết hôn. Người vợ biếng ăn làm việc chăm chỉ và không bao giờ ăn dù chỉ một miếng khi ở trước mặt chồng, nên trong mắt người đàn ông ích kỉ này, nàng là một người phụ nữ lí tưởng. Thế nhưng, gạo và các nguyên liệu nấu ăn cứ biến mất. Hắn bắt đầu nghi ngờ vợ mình đang lén lút ăn vụng nên đã theo dõi nàng. Hắn phát hiện ra khi người vợ nghĩ rằng không có ai ở nhà, nàng sẽ nấu rất nhiều cơm, sau đó nặn thành cơm nắm và ném từng cái từng cái một vào chiếc miệng phía bên đầu của mình. Khi người đàn ông thông báo rằng hắn muốn ly dị, người phụ nữ lộ rõ bản chất thật và toan bắt cóc hắn ta. Hắn ta trốn thoát trong gang tấc bằng cách ẩn náu trong một đầm lầy mọc rất nhiều cây diên vĩ – loài cây được biết đến với sức mạnh xua đuổi tà ma.

Điều tuyệt vời ở người vợ biếng ăn là dáng vẻ điềm đạm trên khuôn mặt nàng, trong khi chiếc miệng khác của nàng đang ngấu nghiến một lượng lớn thức ăn. Tôi hoàn toàn có thể đồng cảm, và tôi chắc chắn là có rất nhiều người khác cũng thế.

4. Tsurara-onna (Băng nữ)

Đây là một yêu quái xuất hiện ở những vùng lạnh giá của đất nước vào mùa đông khi băng bắt đầu hình thành, và biến mất khi xuân đến, khi thời tiết bắt đầu trở nên ấm hơn. Nàng rất trắng trẻo và xinh đẹp.

Vào một đêm khi bão tuyết đang hoành hành, một người phụ nữ trẻ đẹp xuất hiện tại ngôi nhà của một cặp vợ chồng, xin được qua đêm vì thời tiết trở xấu nên nàng không thể về nhà. Cặp đôi chấp nhận để người phụ nữ ở lại, nhưng cơn bão cứ kéo dài và nàng cuối cùng phải ở tạm nhà của họ trong nhiều ngày. Một đêm nọ. họ mời nàng đi tắm, nhưng nàng từ chối. Tuy nhiên, cặp vợ chồng cứ khăng khăng nên cuối cùng người phụ nữ cũng đành ưng thuận. Nàng ở trong phòng tắm lâu đến nỗi cặp vợ chồng phải đi vào kiểm tra, và phát hiện ra nàng đã biến mất. Dấu vết duy nhất còn sót lại là một trụ băng treo trên trần nhà.

Trong một câu chuyện khác, một người đàn ông trở thành người tình của một phụ nữ xinh đẹp, người xuất hiện như thể từ hư không và hai người kết hôn. Nhưng khi mùa xuân đến, người phụ nữ biến mất. Tin rằng nàng đã bỏ trốn, người đàn ông lấy một người vợ khác. Nhưng khi mùa đông lại đến, người phụ nữ trở lại và giận dữ buộc tội người đàn ông, chất vấn tại sao anh ta lại lấy người khác. “Bởi vì cô đã biến mất!”, người đàn ông trả lời, “Đừng có quay lại nữa!” Nghe vậy, người phụ nữ biến thành cột băng và đâm xuyên qua ngực của anh ta, giết chết anh ngay tức khắc.

Tôi thích câu chuyện thứ hai. Qua đánh giá của con người, hành vi của người phụ nữ thoạt nhìn ích kỉ. Nhưng từ góc độ của nàng, biến mất khi mùa xuân đến là chuyện hiển nhiên, và tương tự, việc buộc tội chồng mình là vấn đề quan trọng. Dường như điều đó, với tôi, luôn rất bi kịch. Và sau đó, trong nháy mắt, nàng đã trở về với con người thật của mình và đâm người đàn ông bằng chính cơ thể mình. Trong mắt tôi, điều này đại diện cho bản chất thật của băng: đơn thuần, giản dị và tuyệt vời.

Băng nữ có thể không nổi tiếng bằng tuyết nữ (yuki-onna), nhưng có điều gì đó về sự ít phổ biến và cảm giác kiểm chế tổng thể của nàng đã thu hút tôi. Câu chuyện của nàng nhắc nhở ta rằng bất cứ thứ gì cũng có thể có một linh hồn.

5. Người phụ nữ biến thành rồng

Khi tôi còn nhỏ, tôi rất thích sách của Miyoko Matsutani Taro, the Dragon Boy (tạm dịch Taro, cậu bé rồng). Matsutani lấy cảm hứng từ một cậu chuyện dân gian: có một cậu bé trèo lên lưng rồng mẹ và san bằng ngọn núi để tạo đất trồng trọt. Sách của Matsutani mở đầu khi Taro phiêu lưu đến một cái hồ ở xa phía Bắc để tìm mẹ cậu, người đã biến thành rồng. Khi cậu cuối cùng cũng đến được với mẹ, bà kể cho cậu nghe câu chuyện về quá trình bà hóa thân thành rồng

Giống như Taro, bà cũng lớn lên trên mảnh đất cằn cỗi không phù hợp để trồng trọt lúa mạch. Sau khi mất chồng, bà phải cùng dân làng làm lụng suốt thời kì mang thai trên núi. Khi họ làm việc, bà được nhờ vả chuẩn bị thức ăn cho họ. Bà bắt được ba con cá hồi chấm hồng, nướng chúng và đợi dân làng trở lại, nhưng họ mãi chưa thấy về. Cuối cùng, không chịu nổi cơn đói nữa, bà đã ăn hết cả ba con cá và biến đổi. Bà đã quên điều mê tín cổ xưa ở địa phương, rằng ai ăn ba con cá sẽ trở thành rồng.

Khi đọc lại câu chuyện để viết bảng xếp hạng này, tôi ngạc nhiên khi bắt gặp những khắc họa sống động về khó khăn trong thời kì mang thai. Tôi đồ rằng mình không thể nhận ra những điều ấy khi còn quá nhỏ. Rõ ràng là bị ốm nghén, người phụ nữ cảm thấy buồn nôn mỗi khi ăn, ba con cá hồi nằm trước mặt là thứ đầu tiên bà thực sự thèm ăn sau một khoảng thời gian dài, và vì vậy bà đã không thể cưỡng lại cám dỗ. Sau khi biến thành một con rồng, người mẹ đã giao đứa trẻ sơ sinh cho mẹ mình chăm sóc. Con trai của bà là Taro bú bằng những viên cầu pha lê và lớn lên khỏe mạnh. Sau đó, hóa ra những viên cầu pha lê đó là mắt của mẹ cậu – bà đã chấp nhận trở thành người mù để nuôi dưỡng con trai mình, đi đến hồ phía Bắc tìm kiếm nơi sống qua ngày.

Phát hiện ra mọi chuyện, Taro không trách mẹ mình vì đã một mình ăn hết cá. Thay vì đó, cậu khẳng định vấn đề nằm ở việc lượng thực phẩm không đủ để nuôi sống dân làng. Mượn sức mạnh từ mẹ mình và những động vật, con người và ác quỷ mà cậu gặp trong suốt cuộc hành trình, cậu đã san bằng những ngọn núi, từ đó tạo ra đất đai màu mỡ để trồng trọt. Qua dòng nước mắt của cậu con trai cảm thông với mẹ mình, người phụ nữ biến thành rồng đã có thể trở lại làm người, và lấy lại được thị giác của mình.

Phiên bản hoạt hình chuyển thể từ Taro, the Dragon Boy (năm 1979).

Matsutani viết câu chuyện này khi đang cho con bú, và cốt lõi của nó tồn tại một lòng nhân ái – lòng nhân ái khi nêu lên rằng nếu một môi trường hay chế độ khiến con người bất hạnh, thì nó phải được thay đổi. Lòng nhân ái này vô cùng mạnh mẽ và có năng lực để cứu vớt – không chỉ những người phải chịu đựng nhiều khó khăn – mà cả người phụ nữ đã biến thành một sinh vật hoàn toàn khác.

Giải đặc biệt: Tomie từ tác phẩm cùng tên của Junji Ito

Tomie, nhân vật nữ được tạo ra bởi họa sĩ truyện tranh kinh dị Junji Ito, là một cô gái trẻ đẹp. Tất cả đàn ông nhìn thấy cô đều bị sắc đẹp của cô cầm tù, để rồi không thể cưỡng lại khát vọng giết chết cô. Và đúng thế, họ đã giết cô bằng nhiều phương pháp tàn nhẫn và đẫm máu (cảnh báo nội dung: truyện tranh này thật sự rất ghê rợn), nhưng cô không chết. Nếu cơ thể của cô bị phanh thây, cô sẽ nhân bản ra những thân thể mới, mỗi bộ phận đứt lìa sẽ phát triển thành một Tomie hoàn toàn mới. Cô có sức mạnh hồi phục đủ để sống sót ngay cả khi bị ngâm trong axit; bất chấp những điều xảy ra với cô, Tomie có sức mạnh để hồi sinh. Cô coi đàn ông là công cụ để lợi dụng và chỉ yêu bản thân – tới mức đôi khi có những trận đấu sinh tử giữa các phiên bản khác nhau của cô: Tomie VS. Tomie.

Tomie là nhân vật nữ được tạo ra bởi họa sĩ truyện tranh kinh dị Junji Ito.

Điều khiến Tomie trở nên độc đáo không chỉ là sức mạnh của cô, mà còn ở cách cô bộc lộ bản chất ngay từ đầu: chửi tục, khó chịu với người khác, và trung thành một cách đáng báo động với dục vọng của mình. Đối với những người xung quanh cô, đó tuyệt đối là một cơn ác mộng. Tuy nhiên, những gã đàn ông vẫn say mê Tomie, để rồi giết cô, để rồi cô lại nhân bản – chu kỳ này lặp đi lặp lại không ngừng. Tomie là một sự hiện diện hoàn toàn đặc biệt, và chân thật với bản thân đến nỗi tôi không thể không ngưỡng mộ cô.

*

Về tác giả Aoko Matsuda:

Aoko Matsuda là một nhà văn và dịch giả. Năm 2013, cuốn sách ra mắt của bà, Stackable, được đề cử giải Yukio Mishima và giải Noma Literary New Face. Cuốn tiểu thuyết ngắn, The Girl Who Is Getting Married, được xuất bản bởi Stranger’s Press ở Anh vào năm 2016. Năm 2019, truyện ngắn của bà The Woman Dies đã lọt vào danh sách rút gọn cho giải thưởng Shirley Jackson. Bà đã dịch các tác phẩm của Karen Russell, Amelia Gray, và Carmen Maria Machado sang tiếng Nhật.

Hết.

Lalijade

Bài gốc được thực hiện bởi Aoko Matsuda, đăng tại Electric Literature.

*

Có thể bạn sẽ thích



Trà chiều

Bãi biển rực nắng ngày hôm đó có em

Nhân vật “tôi” trong tác phẩm “Đêm trắng” của Dostoevsky chỉ có năm đêm để trò chuyện cùng người chàng thương nhưng kí ức về năm đêm ấy đã khiến chàng cảm thấy đủ sưởi ấm bản thân trong suốt những năm dài cô quạnh phía trước của cuộc đời – tôi cũng có một cảm giác như thế khi nghĩ về em.

Published

on

By

Tôi luôn muốn cảm ơn em vì đã dành thời gian quý báu của em cho tôi trong những ngày tháng ấy. Lời cảm ơn này tôi đã nói với em nhiều lần, chỉ là dù có nói bao nhiêu lần chăng nữa, vẫn không đủ để diễn tả sự biết ơn trong lòng.

Tôi vẫn nhớ em, vẫn thường hay nằm mơ thấy em nhiều lắm. Có những giấc mơ rất thật đến nỗi tôi chẳng muốn tỉnh dậy. Tôi nhớ nụ cười rực nắng của em. Khung cảnh bãi biển ngày hôm đó, khi em nắm tay tôi rồi chạy về phía trước, ngoái đầu nhìn lại tôi ở phía sau, gió thổi tóc em bay, tôi đã thấy chúng ta như đang ở trong MV West Coast của Lana, chỉ đơn thuần là sắc đen trắng mộc mạc, chẳng phải là thế giới muôn màu rực rỡ trong tâm trí kẻ đang yêu như cách mọi người vẫn thường ví von. Ngược lại, sắc màu đa tạp hằng ngày đã khiến tôi mệt mỏi, khi ở bên em ngày hôm đó, việc mọi màu sắc chuyển thành đen trắng lại khiến tôi cảm thấy cuộc đời thật đơn giản, dễ chịu giống như lời bài hát của Binz: “Có em ngồi phía sau, đi đâu cũng được.” Ngày hôm đó và nhiều ngày khác nữa, khi chở em, khi biết có em ngồi phía sau xe, tôi đã luôn có cảm giác ấy.

Tôi nhớ cái ôm chặt của em từ phía sau, nhớ cảm giác đầu em gục trên vai tôi khi em đã quá mệt mỏi và ngủ quên, khi ấy tôi chỉ ước rằng đôi vai của mình rộng hơn để làm chiếc gối thật êm cho em, tôi đã cố gắng chạy chậm hết mức có thể, giữ cùng một vận tốc đều đều, tránh những ổ gà phía trước để em không giật mình. Cảm ơn em vì đã đến vào những ngày cuối cùng năm tôi 26 tuổi và đã quay lại lần nữa vào năm tôi 28 tuổi. Tôi nhớ cách em gọi tôi là “nhà văn nghèo của em ơi” trong một lần mình gặp nhau. Nhà văn nghèo của em vẫn ở đây, vẫn nhớ về em. Hai năm qua, không có quá nhiều thay đổi xáo trộn dù đôi lúc, tôi cũng cố gắng tìm kiếm hạnh phúc như lời em từng dặn dò, nhưng dường như tôi chưa bao giờ có thể thực sự quên em.

Năm ngoái, tôi đã dành cả một mùa hè để xem Game of Thrones, Black Mirror… và lần nào xem tôi cũng nhớ đến em, tự hỏi nếu là em, khi xem đến những phân đoạn tôi đang xem lúc này, em sẽ có cảm nghĩ gì. Đến nay, tôi vẫn chưa xem hết Black Mirror, vẫn còn sót hai tập cuối trong S5. Vào tháng 9 năm ngoái, khi bắt đầu tập được vài điệu guitar đệm hát cơ bản là tôi lao vào tập ngay Wish you were gay của Billie Eilish và Anyone who knows what love is will understand. Những khi tập hai bài này, tôi luôn nghĩ về em. Tôi tập được khoảng một tháng, các ngón tay bắt đầu chai sạn và đỡ đau thì có chuyến công tác một tuần ra Đà Nẵng. Nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng phải thú nhận rằng đó là lần đầu tiên trong đời tôi đi máy bay một mình mà không có người thân lẫn đồng nghiệp; đến nơi lại cũng sẽ chỉ có một mình, vẫn không có đồng nghiệp. Chuyện đó không phải to tát gì nhưng ở tuổi 29 mà mới lần đầu thực hiện thì có vẻ muộn màng quá em nhỉ. Trên máy bay và rồi trên taxi di chuyển từ Đà Nẵng ra Hội An, tôi luôn nghe những bản nhạc có thể khiến tôi nhớ đến em – khi những giai điệu ấy phát lên một cách thân mật ở hai bên tai, tôi cảm thấy vững tâm, tự nhủ rằng mọi điều sẽ ổn thôi. Và cuối cùng thì mọi thứ cũng ổn thỏa thật.

Vẫn như tôi đã từng nói với em về Đêm trắng của Dostoevsky, nhân vật “tôi” trong tác phẩm ấy chỉ có năm đêm để trò chuyện cùng người chàng thương nhưng kí ức về năm đêm ấy đã khiến chàng cảm thấy đủ sưởi ấm bản thân trong suốt những năm dài cô quạnh phía trước của cuộc đời – tôi cũng có một cảm giác như thế khi nghĩ về em. Vẫn là cảm giác ấm áp ấy, sự biết ơn ấy, niềm vui khi một lần nữa được sống lại tuổi trẻ ấy. Tôi không hề hối tiếc bất kì điều gì đã xảy ra giữa chúng mình. Tôi cảm thấy biết ơn mình của ngày ấy đã có thể mạnh dạn nói hết với em tình cảm này. Và chúng mình đã có những kỉ niệm đáng nhớ – tuy không nhiều nhưng tất thảy đều là báu vật vô giá với tôi. Thực sự, đến bây giờ tôi vẫn không thể tưởng tượng được tại sao lúc ấy mình có thể bạo dạn như thế. Có lẽ, vì tôi đã quá mệt mỏi với những tình cảm không thể nói ra được trước đây. Có lẽ, chỉ đơn giản vì tôi không thể kiềm chế được việc nói cho em biết rằng em tuyệt vời như thế nào, gặp được em là một trong những điều quan trọng nhất đã xảy ra ở giai đoạn cuối cùng tuổi đôi mươi của tôi. Cảm ơn em đã cho tôi cơ hội được trải qua những cung bậc cảm xúc của một thứ tình cảm đẹp như vậy dù rằng tôi không còn trẻ nữa và giờ đây đã bước đến ngưỡng trung niên. Nếu thực sự có kiếp sau giống như người bạn theo đạo Phật của tôi nói, tôi chỉ ước rằng chúng mình sẽ không cách biệt tuổi tác quá nhiều, mình gặp nhau sớm hơn để có thể là một phần trong tuổi trẻ của nhau. 

Tôi muốn viết về em để em biết rằng bản thân em quí giá và đáng trân trọng như thế nào, em luôn xứng đáng có được hạnh phúc và những điều tốt đẹp nhất. Tôi mong rằng dù có điều gì xảy ra trong cuộc sống, em vẫn luôn yêu thương bản thân, biết giá trị của chính mình, và sẽ tìm được hạnh phúc khi theo đuổi con đường, lí tưởng của riêng em. Tuổi đôi mươi của tôi đã qua đi nhưng tuổi đôi mươi của em chỉ vừa chớm bắt đầu. Tôi mong rằng em sẽ không có những trải nghiệm đau buồn giống như tôi. Lẽ đương nhiên, nỗi buồn là điều tất yếu trong cuộc sống, không ai có thể tránh được nhưng tôi mong và cầu chúc những trải nghiệm của em sẽ đa dạng hơn, phong phú hơn, tất cả đều bừng sáng rực rỡ như chính nụ cười em; em sẽ đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, và thế giới của em không ngừng rộng mở mỗi ngày, nhiều sắc màu khác nhau tuôn trào cho đến khi tất cả hòa quyện thành một màu duy nhất theo sự pha chế và làm chủ cuộc đời với phong cách rất riêng của em, để sau đó em có thể bước qua ngưỡng trung niên với tuổi 30 thật vững vàng và bình tâm. Tôi mong như thế.

Hạnh phúc em nhé.

K.

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

The Lobster – Cô đơn hay không cô đơn?

Published

on

By

The Lobster thuộc dòng phim dystopian pha trộn với black comedy. Trình bày một thế giới giả tưởng với nhiều qui luật riêng, The Lobster thoạt tiên khiến người xem dễ có chút choáng ngợp và bỡ ngỡ ở những bước đầu làm quen với nó. Trong thế giới chủ lưu của The Lobster, không ai được phép cô đơn, không ai có quyền cô đơn, việc tìm người phối ngẫu trở thành nhiệm vụ xã hội mà nếu như ai đó cố tình vi phạm hay phớt lờ sẽ bị trừng phạt. Những người cô đơn sẽ được đưa đến khách sạn. Tại đây, trong vòng 45 ngày, họ phải tìm cho mình một người bạn đời, nếu không, họ sẽ bị biến thành loài vật mà họ đã chọn. Những sự kiện đầu tiên tuần tự diễn ra với rất ít điểm nhấn cảm xúc dành cho nhân vật tựa như lối kể chuyện chỉ có những đoạn tường thuật khách quan mà không có những đoạn miêu tả nội tâm chi tiết. Lối kể chuyện ấy phần nào gợi nhớ đến cách kể chuyện cổ tích với những nhân vật được miêu tả chung chung, có thể có tên hoặc không có tên, tập trung vào tình tiết hơn là nhân vật. Phân nửa đầu tiên của The Lobster – tức là khi David còn ở trong khách sạn đã chọn lối kể chuyện gần giống như vậy với rất nhiều nhân vật không được đặt tên nhằm tạo ra sự biểu trưng hay cảm giác về sự đại diện tập thể, sự không chú trọng vào cá thể đạt mức cao nhất. Điều này cũng thích hợp với không khí ngột ngạt trong môi trường toàn trị, độc tài ở khách sạn.

The Lobster có thể được chia thành ba hồi với: hồi một là màn làm quen thế giới khách sạn cho đến khi David bỏ đi, hồi hai là màn làm quen thế giới trong rừng cho đến khi David lại muốn bỏ đi lần nữa nhưng lần này là với người con gái anh yêu, hồi ba tập trung vào giải quyết vấn đề ở cuối hồi hai. Tuy nhiên, tôi vẫn thích liệt The Lobster vào phim cấu trúc hai hồi chung với một phim kinh điển của loại cấu trúc này mà tôi đã từng xem là Muholland Drive. Nếu như Muholland Drive là sự phản chiếu hai mặt của thế giới tưởng tượng và thế giới thực, xoay quanh giữa cái đã-có-thể-là và cái đã-thực-sự-là thì The Lobster là sự phản chiếu giữa hai thế giới đều thực như nhau và đều phi lí như nhau, xoay quanh giữa cái phải-là và cái không-thể-là. Thế giới ở khách sạn và thế giới ở rừng dường như đối nghịch nhau một cách triệt để: một nơi hầu như bị bó buộc trong không gian nội thất với những căn phòng, những dãy hành lang và một nơi với không gian mở rộng là những cánh rừng, con sông; một nơi cấm người ta độc thân và một nơi cấm người ta yêu. David đã đến với thế giới ở rừng như một sự cứu rỗi nhưng rồi anh cũng sớm nhận ra nơi ấy chẳng khác gì ở khách sạn, nó chỉ là dạng thức khác của khách sạn. Cả hai nơi đều tồn tại dựa trên một điều cấm lớn nhất mà thoạt tiên, người ta tưởng mình sẽ nhận được quyền lợi từ điều được phép của cái ngược lại với điều cấm. Trong những buổi họp mặt, theo chỉ thị của người quản lí, các nhân viên khách sạn nhấn mạnh đến ích lợi của một mối quan hệ, của hôn nhân, của việc luôn có một người bên cạnh, họ đưa ra những tình huống cho thấy rằng ở một mình rất bất lợi. Tuy nhiên, khi tình trạng độc thân trở thành điều gần như tội lỗi thì điều ngược lại với nó – tình trạng hôn nhân cũng không thể khiến người ta thực sự vui vẻ, bình yên như nó vốn là nữa. Ngược lại, thế giới ở rừng cũng đi theo hướng tương tự như thế. Có thể nói, thế giới trong The Lobster được vận hành theo thuyết nhị nguyên mà ở đó, con người bị buộc phải chọn một người bạn hay một nhóm, một tập thể để đứng ở phía cực họ tin là đúng và cùng nhau chống lại phía cực họ tin là sai. Đó là thế giới không cổ vũ cho sự đơn lẻ cá nhân dù tập thể có phi lí đến đâu chăng nữa. Wai Chee Dimock viết trên tờ Los Angeles Review of Books đã có ý so sánh The Lobster với những tác phẩm của Samuel Beckett. Tuy nhiên, khi xem The Lobster, tôi lại nhớ đến không khí phi lí kiểu Kafka. Cụ thể là, phim khiến tôi nhớ đến The Castle.

Như bất kì tác phẩm điện ảnh nào có khuynh hướng văn học, The Lobster sử dụng voice over ở mật độ dày đặc để kể chuyện. Phim không tiết lộ thân phận người kể chuyện ngay từ đầu khiến hồi một của phim (theo cách chia hai hồi của tôi) chìm trong tính trần thuật và không khí hư cấu rõ rệt. Ta có cảm giác những sự kiện trên phim nằm ở thì quá khứ rất xa và David là nhân vật từ sản phẩm tưởng tượng của một cô gái nào đó. Chính cảm giác này đã phần nào khiến tôi bồi hồi khi biết được cô gái kể chuyện từ đầu phim chính là người yêu David, đồng thời cũng là người David yêu. Vậy là, trong thế giới ấy, David có thực, cô gái có thực, họ không cô đơn, họ đã tìm thấy nhau – điều này như một phát kiến mới mẻ, lớn lao khiến tôi cảm thấy ấm áp. Như thế, cũng có thể chia phim thành hai hồi với hồi một là quá khứ gần, hồi hai là hiện tại. Bắt đầu từ hồi hai, chúng ta không còn nhân vật kể chuyện theo kiểu nhà tiên tri nữa. Từ lúc ấy, cả nhân vật lẫn ta đều không biết điều gì sắp xảy ra. Ta nhập cuộc trở lại với sự hồi hộp và lo lắng hơn cho họ.  

The Lobster sử dụng tông màu teal and orange nhưng không theo lối giống những phim bom tấn. Tông màu teal của phim nghiêng về green hơn là cyan và được dùng kèm ánh sáng đánh theo kiểu high-key khiến tông màu xanh bàng bạc như có lẫn chút màu vàng chanh. Dù cảnh nội hay cảnh ngoại, ngày hay đêm, phim đều cố gắng duy trì tông màu xanh ấy khiến cho cảm giác về một thế giới phi lí trở nên rõ rệt hơn. Hơn nữa, chính vì màu background không được thay đổi nhiều, người xem có thể dễ dàng thâm nhập vào sự buồn chán, đơn điệu, khắc nghiệt của thế giới ấy. Green vốn luôn là màu gợi cảm giác quái dị, u buồn như làn da xanh xao của một cô gái ốm nặng vì bệnh và trong The Lobster, màu xanh ấy đã phát huy triệt để tác dụng của nó. Bản thân bộ phim cũng như một con người yếu ớt đang bị bệnh, không thể tìm được phương thuốc cứu chữa cho mình. David có lẽ đã nghĩ rằng chỉ cần thoát khỏi khách sạn là ổn. Nhưng trên thực tế, anh chỉ thoát từ màu xanh nhạt sang màu xanh đậm đặc hơn của khu rừng. Khi một lần nữa, anh cùng người con gái anh yêu tìm cách thoát khỏi khu rừng, hai người băng qua cánh đồng cỏ lau vàng, đi trên một xa lộ vắng người với con đường mở rộng trước mắt, màu xanh buồn bã ấy vẫn đuổi theo họ. Rồi họ vào một quán cà phê, trong không gian bị nhốt kín, khi họ ngồi ở chiếc bàn bên khung cửa sổ lớn đến mức có thể thấy được gần như toàn bộ cảnh vật bên ngoài, một lần nữa, màu xanh buồn bã như lời nhắc nhở về thế giới phi lí vẫn vây lấy họ. Cả hai đã không thể vượt qua sức mạnh quyền năng của nó. Tất cả chỉ là sự lặp lại.  

The Lobster kết thúc bằng sự chờ đợi. Cái chờ ban đầu dường như có vẻ điềm nhiên của cô gái bị cắt ngay lúc ta có cảm tưởng cô đang bắt đầu bồn chồn, lo lắng rằng liệu người cô chờ đợi có quay trở lại với cô hay không. Câu trả lời sẽ là có hoặc không tùy mỗi người. Với tôi, tôi nghĩ rằng anh sẽ không quay trở lại, anh sẽ chạy trốn và cả hai lại tiếp tục đơn độc. Tuy nhiên, cho dẫu anh quay trở lại, liệu rằng khi đôi mắt cả hai không còn đón nhận ánh sáng nữa, họ có thể ở bên nhau lâu dài trong thế giới khắc nghiệt, tàn nhẫn như thế hay không? Vậy nên, dù câu trả lời là thế nào, tương lai phía trước của họ vẫn khó thoát khỏi thứ nỗi buồn kéo dài dằng dặc năm này qua tháng nọ. Những viễn cảnh gợi lên từ kết thúc ấy khiến tôi xót xa. Cùng với Léon: The professional, The Lobster trở thành một trong số những phim hiếm hoi mà tôi đặc biệt thích kết thúc phim. Một bộ phim hay không phải lúc nào cũng sẽ có một cảnh kết thúc gợi mở nhiều cảm xúc và suy nghĩ như thế. Với tôi, The Lobster là viên ngọc quí của điện ảnh đương đại những năm gần đây. Sau The Lobster, tôi sẽ cố gắng tìm thời gian để xem những phim còn lại của đạo diễn Yorgos Lanthimos.

Điểm đánh giá: 9/10

Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Ngọn lửa của tôi

Published

on

By

Ngọn lửa. Ngọn lửa. Ngọn lửa.

Đột nhiên tôi chẳng nghĩ được điều gì ngoài hình ảnh đó. Hay là trong đầu tôi có nhiều suy nghĩ về những sự vụ khác nhau nhưng xét theo tần suất xuất hiện thì hình ảnh đó lặp đi lặp lại nhiều lần. Thế là tôi vớ đại nó theo cơ chế ngẫu nhiên. Ờ, ngẫu nhiên mà thôi. Đáng lẽ tôi phải suy nghĩ một hình ảnh nào đó nghiêm túc hơn chẳng hạn, có tính toán và ý đồ hơn chẳng hạn. Dù gì hôm nay cũng là sinh nhật tôi, dù gì tôi cũng muốn viết một cái gì đó cho hôm nay, dù gì tôi cũng muốn nó phải là thứ gì đó có ý nghĩa, dù gì nó cũng là một cái cột mốc 20 năm, dù gì… Khi suy nghĩ về tất cả những cái dù gì đó, sự bội thực vì cái dù gì đó… tôi lại nhận thấy dường như chẳng có gì là quan trọng cả. Thật kì lạ. Cách vài phút, à không, cách đây vài giờ, vài ngày, vài tháng trước, vài năm trước, vài những giờ khắc mà tôi không còn nhớ nó hoạt động ra sao, tôi đã từng nghĩ rằng có nhiều thứ quan trọng và mình đã xác quyết được thứ quan trọng đó. Nhưng rồi đột nhiên tất cả giống như một khoảnh khắc những đám mây che hờ hờ xung quanh bầu trời vụt tan biến mất, và một luồng ánh sáng xung quanh chói lóa, mọi thứ xóa nhòa trong ánh nắng đó, mọi vật chìm lấp trong khoảng sáng đó, không cái gì được nhìn rõ nữa. Khoảnh khắc đó nhanh thôi. Nhưng có thật. Và thế là tôi quên mất thứ quan trọng với mình là gì. Giống như nó đã chìm đi cùng cơn sáng đó. Hay là giống như nó vốn thể là thứ ngay từ đầu đã chẳng tồn tại.

Đâu phải chỉ trong bóng đêm mọi thứ mới biến mất. Ánh sáng cũng là một thứ hủy diệt những tồn lưu của các sự vật/sự vụ chung quanh nó một cách ghê gớm. Mà thật ra, sự tiêu hủy của ánh sáng còn kinh khủng hơn là bóng đêm. Đơn giản vì khi một thứ nào đó biến mất trong bóng tối, người ta còn có thể dùng ánh sáng để tìm lại nó được. Nhưng một thứ biến mất trong ánh sáng thì không thể lấy một thứ sáng hơn mà thắp lên tìm nó. Theo cơ chế suy luận nghịch thì đơn giản là người ta có thể lấy một thứ tối hơn mà đốt lên. Đốt, đốt, đốt. Đốt cái thứ tối ấy lên để tìm vật đã mất. Nhưng không ai đốt lên cả. Không phải vì chất tối để đốt cháy không tồn tại. Đơn thuần là vì nếu có một người nào đó đốt chất tối lên để tìm kiếm, họ sẽ lập tức bị đám đông dị nghị. Nó là một cách khác của sự thừa nhận rằng: “Tôi có mang bóng tối trong mình”. Mà ở thế giới này, dường như chẳng có ai dám thừa nhận điều đó. Thế nên mọi người để những thứ mình đã mất chìm trong ánh sáng, ánh sáng của những điều đẹp đẽ nhưng làm người ta mê mị, mu muội, ánh sáng của những tầng không vốn chứa trong nó sự giả dối. Vậy cái gì là thật đây?

Ờ. Đại loại thì tôi nhẫn tâm, độc ác. Chẳng ai ném thẳng những lời đó cho tôi như nàng. Nàng cho tôi cái chất có thế đốt lên bóng tối ấy. Chỉ có nàng là nhận ra sự ác độc của tôi. Hoặc giả mọi người cũng nhận ra nhưng họ không nói. Và như thế, tôi yêu nàng. Nàng đã nhận ra bản chất của tôi.

Sao nhỉ? Sao nhỉ? Sao nhỉ?

Đại loại khi viết những câu hỏi đó, trong lòng tôi thực sự chẳng nghi vấn điều gì cả. Nó chỉ là những tiếng đệm vô nghĩa. Nó giống như một trạm dừng chân cho sự hụt hơi của tôi trong việc đuổi bắt suy nghĩ của mình. Khi viết nghiêm túc, tôi viết rất chậm. Tôi đánh mất thói quen viết nhanh đã từ lâu. Tôi làm mọi thứ trong sự chậm rãi của mình. Đôi lúc, sự chậm rãi đó khiến chính bản thân tôi phát bực. Tôi vừa muốn ở trong sự chậm đó. Nó có thú vị của riêng nó. Đồng thời tôi vừa muốn thoát khỏi nó. Vậy nên khi xác định không phải viết một cái gì đó nghiêm túc, một cái gì đó chỉ viết để thỏa hiệp với khao khát muốn viết đơn thuần giữa đôi tay và tâm thức thì tôi sẽ viết nhanh. Viết để đạt được sự đồng thuận cho bản thân thì không nên viết chậm tự hành hạ mình nữa làm gì. À, cái trạm dừng chân của tôi. Chắc là tôi đã nghỉ ngơi ở đó xong rồi. Nãy giờ là bao nhiêu phút nhỉ?

Phút à. Cái đồng hồ của tôi đã biến mất trên tay tôi ngày hôm nay. Nó nằm trong phòng thi của kì tuyển sinh cao đẳng. Có lẽ nó lướt qua một vài thí sinh, rồi lướt qua một vài hạt bụi. Bụi màu trắng, vàng, đỏ gì đó… trên nền bảng trắng, đen, xanh gì đó… để ghi. Ghi chính cái trạng thái đang hiển hiện của nó. À, đơn giản là em gái tôi mượn tôi đồng hồ để đi coi thi thôi mà. Nhưng cảm giác hôm nay lạ nhỉ. Tôi không đeo đồng hồ một ngày và nhận thấy sự lệ thuộc của mình vào nó. Tôi cứ liếc vào khoảng da sáng trên cổ tay của mình – nơi mà đáng lẽ thường khi vẫn có chiếc đồng hồ ở đó. Màu nâu, lớp kính mặt trước đã bị nứt vỡ, vòng tròn để giữ dây thì bị đứt và mất đi, bản thân sợi dây cũng nhàu nhĩ, những lỗ trên dây thì tưa ra, thành một khoảng trống lớn hơn sự tồn tại vốn có của nó ban đầu. May quá. Chiếc kim vẫn chạy. Thế giới vẫn xoay tròn trong đó. Và hôm nay nó tạm nghỉ việc trên tay tôi. Tay tôi cảm thấy trống. Cứ như thể là cái đồng hồ ấy đã truyền cả chức năng của nó cho cái tay. Cái tay bé mọn lại. Cái tay có thể làm nhiều chức năng hơn viết, cầm nắm một thứ gì đó, một điều gì đó, một cơn điên loạn nào đó, và làm vụt mất một điều gì đó. Nhưng mất một điểm tựa, mất thời gian, nó như chỉ còn mỗi chức năng là có ở đó để được cái đồng hồ quấn quanh. Cái tay tôi hôm nay sao ấy nhỉ. Sao tự nhiên nó lại có cái suy nghĩ thật ra nó chỉ là một thứ để đặt bên cạnh đồng hồ. Cái tay có trước mà. Nhưng đồng hồ là thời gian. Và thời gian thì có trước cái tay. Hay là cái tay có trước thời gian. Thời gian vô nghĩa. Và dường như khi đánh mất ý nghĩa của nó, mọi thứ cũng vô nghĩa. Nghĩa là… nghĩa là… con người ta cần một điểm tựa. Nhưng thời gian thì không cần họ. Nó giống như một đồng minh lúc thì đồng thuận, lúc thì phản nghịch. Không phải lúc nào thời gian cũng đứng về phía con người. Việc đặt ra những cột mốc giúp người ta làm việc, nhưng thật ra đôi lúc việc hạn định những cột mốc đó làm người ta lại khó kiểm soát bản thân hơn, phải làm những thứ mà não trạng đã hoạch địch trong đầu. Đại loại thì vào thời điểm đó phải làm những việc đó, vào khoảng thời gian nào đó trong ngày, tôi phải làm việc này, việc kia. Tôi không thể làm việc đó cho đến khi… Đại khái thì không thể muốn là hành động. Mà thật ra việc có thể muốn rồi làm bất cứ lúc nào cũng không phải là thứ quan trọng. Đại loại người ta sống trong nó và cố gắng hòa nhập với nó hay vờ như hòa nhập với nó chứ không phải bản chất vốn là hòa nhập và hòa nhập với thời gian. Đại loại, đại loại vậy.

Năm ngoái. À không. Lâu lắm rồi. Năm kia. Không. Chưa tới. Kia nữa. Là cách đây mấy sự kia kia của năm. Đại loại, cột mốc thì không còn quan trọng nữa. A! Tôi mới phát hiện ra hôm nay mình thích chữ đại loại. Nó biểu hiện một sự vừa thỏa hiệp mà vừa không thỏa hiệp thì phải. Đã đồng thuận rồi đó nhưng còn phải xét thêm. Là chữ mang tính chất trung tính và hơi vô trách nhiệm. A ha, nó còn là chữ chứa trong mình sự mâu thuẫn nữa chứ. Nói chung là thích đó.

Quay lại với cái kia kia. Sao nhỉ? (Ồ, giờ thì tôi thấy là hôm nay mình cũng thích chữ sao nhỉ rồi). Ờ thì vào thời điểm của cái kia kia. Sự tàn nhẫn của tôi bộc lộ rõ. Tại sao tôi lại ghi nhớ nó và cứ lặp đi lặp lại mãi. Khoảng thời gian đó tôi cứ muốn đọc sách. Tôi cứ muốn có một luồng suy nghĩ chạy qua đầu mình để mình đỡ phải mất công suy nghĩ, hoài nghi, tự vấn… vân vân và vân vân  các công đoạn tư duy của nó. Và khoảng thời gian đó thì ông ngoại tôi bị bệnh. Điều tàn nhẫn nhất là hôm đó, khi nghe kết quả về bệnh của ông, mọi người trong nhà lo lắng. Chị tôi đã khóc khi biết bệnh của ông không còn phương cách nào cứu chữa. Hôm đó, tôi vẫn đang ngồi nhà đọc sách. Khoảng thời gian đó không hiểu sao tôi lại thích ngồi trong cửa phòng bấm chốt, tách ly với mọi thứ ngoài kia và đọc, không muốn bị ai làm phiền, kể cả là người nhà, kể cả là bất cứ thứ tin tức nào. Chị tôi gõ cửa. Phải gõ cửa nhiều lần tôi mới ra mở. Đơn thuần là tôi đang đọc dở một trang. Tôi còn một hai đoạn. Tôi còn một hai dòng. Tôi còn một vài chữ. Tôi phải đọc cho hết trọn một trang hay trọn một ý. Rồi tôi đánh dấu trang lại bằng một kẹp sách. Gấp cuốn sách lại và ra phòng mở cửa cho chị. Tôi làm tất cả các công đoạn đó một cách qui củ từng bước từng bước một với cái sự không có một điều gì có thể hối thúc tôi trong đầu. Chị tôi khóc rồi trách tôi vì sao không khóc, rồi trách tôi không khóc cũng được nhưng sao không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào, rồi trách tôi không khóc, không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào cũng được nhưng sao có thể để lộ cái vẻ mặt bình thản như thế, rồi trách tôi không khóc, không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào, đề lộ cái vẻ mặt bình thản như thế cũng được nhưng sao có thể giờ phút này mà vẫn còn tâm trí mà đọc sách, rồi trách tôi không khóc, không biểu lộ chút lo lắng hay buồn bã nào, để lộ cái vẻ mặt bình thản như thế, giờ phút này mà vẫn còn tâm trí đọc sách cũng được nhưng sao có thể vẫn chú tâm để làm một việc gì đó ngoài sự lo lắng chung của mọi người…Tại sao và tại sao? Tại sao hồi đó lại như thế? Tại sao tôi cứ muốn phải lặp lại những điều này, những chi tiết này? Chính tôi cũng không biết. “Cái gì được lặp lại nhiều lần nghĩa là cái đó là thứ thật sự quan trọng với mình,” nàng nói với tôi như thế.

Hôm nay cũng là một ngày tương tự như vậy nhưng mức độ nhẹ hơn. Tôi không ngờ và cũng không muốn cái cảm giác cách đây ba năm đó lặp lại, vào chính ngày này. Không có điều gì là giống nhau, mọi việc sẽ khác đi. Sẽ khác đi. Nếu nó trở thành một điều gì đó kinh khủng hơn, tôi chỉ mong một cơ chế nào đó bòn rút sức khỏe và nguồn sống của mình chia bớt cho mẹ. Tôi không muốn mình nhẫn tâm một cách vô trách nhiệm như thế nữa. Sự nhẫn tâm cũng là thứ cần phải có trách nhiệm.

Tôi không khóc.

Khi ông ngoại mất. Khi nhiều điều cứ lần lượt trôi tuột khỏi tay tôi, mọi thứ tình cảm, con người, những thứ mà tôi đặt cho nó cái tên quan trọng…

Vậy mà tôi lại khóc vì nàng, khóc khi nghe nàng nói có thể vứt bỏ tôi một cách dễ dàng, tôi chẳng là gì quan trọng với nàng cả. Tại sao vậy nhỉ? Tôi sợ mất nàng đến như thế ư? Tôi quen với cảm giác mất mát rồi mà. Có những lúc càng mất mát tôi càng thấy hưng phấn. Giống như cách người ta mang balô, đi đường trường rồi trên đường đi mệt mỏi quá mà cứ dần bỏ bớt những thứ mình mang theo để đi nhẹ nhàng hơn. Đó cũng là thứ mất mát làm người ta buồn, không, rất đau. Đôi lúc người ta cố làm cho mình trống đi mà, đôi lúc sự trống đi là cần thiết mà.

Sao nhỉ…
Tôi mâu thuẫn quá.
Nhưng, tôi yêu nàng. Tôi muốn thét lớn lên điều đó. Đó có phải là điều quan trọng không?

Tôi yêu cái cách nàng ngủ. Thi thoảng trán nàng lại nhăn như đang suy nghĩ, trông khuôn mặt của nàng lúc đó rất khó chịu. Có khi lại gợi cho tôi cảm giác hoang mang từ đôi mắt đang nhắm ấy. Tôi yêu cái cách những ngón tay nàng còn đập vào nhau trong lúc ngủ. Tôi yêu hơi thở nhè nhẹ đó. Yêu nó ấm nóng, phả vào ngực tôi đều đặn. Để tôi biết sự tồn tại của nàng. Nàng đang ở ngay đây, bên cạnh tôi. Và tôi sợ nàng biến mất.

Một đôi lúc tôi thoáng nghĩ, dường như tất cả những việc tôi làm ở tuổi 20, hay là cả ở những tuổi trước đó, tất cả đều nằm trong chuỗi nguyên nhân để dẫn đến việc tôi có thể gặp nàng, tôi được nàng yêu. Tôi yêu nàng. Và tôi biết nàng cũng yêu tôi. Điều đó khiến tôi hạnh phúc. Hạnh phúc kinh khủng. Nó là một cái gì đó thật tuyệt vời. Nàng như một ngọn lửa với tôi. Đôi lúc, tôi ôm nàng, tôi ở bên nàng mà cái tiếng nói trong đầu tôi: hãy đốt cháy tôi đi, đốt cháy tôi đi, làm cho tôi nổi loạn, tôi cười, tôi vui, tôi khóc, tôi buồn, tôi đi đứng, tôi chạy nhảy, tôi viết, tôi làm điều này điều kia, tôi chứng kiến sự vụ này sự vụ nọ với một cái gì đó nóng khủng khiếp, cái nóng của sự tiêu hủy và muốn phá hoại đi tất cả. Hãy cứ làm tôi đau. Chẳng sao cả. Vì tôi yêu em.

Ngọn lửa.
Nó là thứ tiêu hủy.
Nhưng đồng thời cũng là thứ mang lại ánh sáng.

Fretto Frek

Đọc bài viết

Cafe sáng