Trà chiều

Lợi ích của những mối hiểm nguy trong truyện cổ tích

Vì đôi khi, những con sói vẫn không mời mà tới.

Published

on

THE USEFUL DANGERS OF FAIRY TALES
Amber Sparks

Một ngày nào đó, con gái tôi sẽ hỏi tôi rằng tại sao lại có quá ít bà mẹ trong truyện cổ tích như vậy.

Hay nói cách khác, tại sao lại có quá ít bà mẹ còn sống. Trong truyện cổ tích, những bà mẹ không ở đâu cả hoặc là ở khắp mọi nơi: đã qua đời hoặc là linh hồn, hiện diện trong những giọng nói nội tâm hoặc như những bà tiên đỡ đầu, hóa thân thành những quái thú hoang dã hoặc thông thái. Phụ nữ tự kể rất nhiều câu chuyện cổ tích để chia sẻ với con gái họ. Nhưng tại sao lại viết rất nhiều câu chuyện mà trong đó, bạn chỉ được đóng vai trò là một con ma?

Đó là một câu hỏi phức tạp xứng đáng với một câu trả lời phức tạp, nhưng thực chất là: Tôi ngờ rằng những người mẹ đang chuẩn bị cho con gái mình một cuộc sống không có họ.

Rất, rất lâu rồi, khi mà những câu chuyện cổ tích đầu tiên vừa mới được sáng tác, những người mẹ đã luôn ở bên bờ vực biến mất. Trở thành một người phụ nữ trưởng thành là sống một cuộc đời bấp bênh – trong trường hợp khả quan nhất. Ngay từ sớm bạn có thể chắc chắn về bạo lực, bị hãm hiếp hoặc đánh đập, thậm chí là bị giết. Ngay từ sớm bạn có thể chắc chắn về bệnh tật hoặc chết khi đang chuyển dạ. Ngay từ sớm bạn có thể biến mất, được thay thế bởi một phụ nữ trẻ trung và mắn đẻ khác, có khả năng nuôi nấng đứa con của bạn. (Câu chuyện về những người mẹ kế là cả một chủ đề khác.) Thời bấy giờ, bạn phải tạo ra một cái gì đó mà bạn có thể để lại, để thắp sáng con đường, để tiếp tục rải những mẩu vụn bánh mì, để dọn sạch những gai góc từ bụi cây. Một cái cây, một con ma, một con gấu hay là một bà tiên tốt bụng – dù là gì đi nữa, cũng là một thứ gì đó kéo dài sự tồn tại của bạn.

Một người mẹ phải truyền lại một món quà, một câu chuyện. Và cô con gái phải sẵn sàng. Cho sự ra đi của mẹ cô ấy – và cũng cho sự ra đi của chính bản thân cô ấy.

*

Con gái tôi mới chỉ hai tuổi, nhưng tôi đã lo lắng về tình trạng được trao quyền của bé. Tôi mua những cuốn sách về những người phụ nữ nổi tiếng, những nhà khoa học và những họa sĩ, những chính trị gia. Một bìa sách đã ghi rằng: “Đây là những câu chuyện cổ tích, được thêu dệt lại và kể lại. Đánh thức những cô gái trẻ và phụ nữ mọi lứa tuổi”. Tôi không thể chờ đến lúc cô bé gặp gỡ công chúa Leia và đặc biệt (cuối cùng!) là Rey. Chúng tôi còn xem những chương trình nơi những cô gái mạnh mẽ tỏa sáng.

Và bây giờ, cô bé sẽ đọc những câu chuyện cổ tích vui vẻ, không có mối đe dọa nào. Nhưng khi cô bé lớn thêm một chút, chúng tôi sẽ đi sâu vào những điều thực tế, không thêu dệt. Khi mà cô bé sẵn sàng, tôi muốn cô bé đọc Cô bé lọ lem (Cinderella) với những cô chị kế tự cắt xẻo thân thể mình, Người đẹp ngủ trong rừng (Sleeping Beauty) với kẻ hiếp dâm và những đứa trẻ, Tấm da lừa (Donkey Skin) với người cha loạn luân tâm tưởng. Tôi muốn cô bé đọc Cô bé quàng khăn đỏ (Little Red Riding Hood) với con sói sát nhân nấp sau cánh cửa.

Không phải là tôi muốn con gái mình bị chấn thương tâm lý. (Cô bé cũng sẽ không bị, như bất kì ai từng đọc Bruno Bettelheim đều biết; trong The Uses of Enchantment (tạm dịch Tác dụng của Phù phép), ông viết: “Trẻ con đều hiểu theo trực giác rằng mặc dù những câu chuyện này không có thực, nhưng chúng cũng không phải là không đúng”.) Nhưng tôi muốn chúng ta ngừng giả vờ rằng nếu chúng ta tuyên bố một điều là như vậy, thì nó phải là như vậy. Chúng ta có thể viết vô số những cuốn sách chúng ta muốn về các công chúa anh hùng chinh phục thế giới – và tôi luôn chào đón chúng – nhưng điều đó không ngăn ngừa việc phụ nữ bị bám đuôi, bị quấy rối, bị bịt miệng, bị hãm hiếp, bị cưỡng ép kết hôn, bị nhắm đến, bị ngăn cản đấu tranh cho quyền sinh nở. Việc giúp cho con gái chúng ta hiểu rằng chúng có sức mạnh nội tại để trở nên thông minh, trở nên cứng rắn, để tiếp nhận thế giới theo cách riêng của chúng là một chuyện. Nhưng việc tẩy trắng những khó khăn rất thực tế mà chúng (và mẹ của chúng) gần như chắc chắn phải đối mặt, bất kể chúng được tiếp sức mạnh mẽ đến thế nào lại là một chuyện hoàn toàn khác. Chúng ta được sinh ra trong một thế giới nhất định, và cách chúng ta tồn tại trong thế giới một phần nhờ can đảm và một phần, thẳng thắn mà nói, là nhờ thận trọng và nghe theo các cảnh báo.

Vâng, con gái tôi sẽ xem Wonder WomanTangled. Nhưng cuối cùng, chúng tôi cũng sẽ tìm hiểu về Boko Haram, về những gia đình đa thê người Mormon, về các cô dâu của ISIS, rằng có một điều khó tin rằng cứ một trong ba phụ nữ trên thế giới sẽ trải qua bạo lực giới tính trong suốt cuộc đời của họ. Cô bé sẽ hiểu rằng thế giới này vẫn chưa dành cho phụ nữ. Cô bé sẽ học được rằng mặc dù được sinh ra trong thời đại này, trên mảnh đất này, cô vẫn không phải là một người đàn ông. Cô vẫn phải – kể cả thông qua thứ nữ quyền quả quyết, hân hoan của mình – học được một kĩ năng sắc bén nhất định. Cô bé có thể nhảy nhót theo cách của mình cả ngày, nhưng cô bé phải đi nhanh, chìa khóa sẵn sàng trên tay, khi trời đã mờ tối.

*

Tôi đã được hỏi trong các cuộc phỏng vấn, trong các lớp học và bởi các khán giả, liệu tôi có nghĩ rằng những câu chuyện cổ tích mang tính nữ quyền hay không. Tôi nghĩ là có, những không phải đúng cái định nghĩa hiện đại của chúng ta về nữ quyền. Những câu chuyện cổ tích truyền thống đã được tạo ra từ lâu trước khi có bất kì khái niệm nào như vậy tồn tại, và tôi sẽ nói rằng chúng hỗ trợ phụ nữ, thay vì nâng đỡ họ. Chúng cảnh báo, thay vì ca ngợi. Chúng có ích, và đó là một loại nữ quyền lâu đời hơn nhiều.

Tuy vậy, nhiều nhà văn hiện đại đã lấy những truyện cổ tích truyền thống và tạo ra một phiên bản nữ quyền rõ ràng hơn, một phần bằng cách đơn giản là đảo ngược các kì vọng. Angela Carter và Kelly Link là những ví dụ tôi nhớ, cũng như Helen Oyeyemi, Molly Gaudry, Kate Bernehimer và Matt Bell. Những nhà văn này không tạo ra những câu chuyện cổ tích nữ quyền rõ ràng theo cách như, ví dụ, của bộ phim Frozen. Thay vào đó, họ nhìn kĩ vào bản chất nan giải của những câu chuyện đặt trước mắt họ, và cho chúng ta những góc nhìn mới, cách thức mới để xem. Thường thì phiên bản kể lại của họ còn đen tối hơn cả bản gốc, một phần bởi vì họ mời gọi một ánh nhìn nữ quyền hiện đại, đồng thời vén bức màn tiết lộ sự thiếu thốn kinh khủng các lựa chọn mà những nhân vật chính của chúng ta phải đối mặt. Không hề có những cái đòn bẩy hay nút nhấn nào; chỉ có những độc giả hiện đại, nhìn thấy rõ ràng (và không thoải mái) sự tương đồng giữa cuộc sống những nhân vật chính và phụ nữ trong thời đại của chúng ta.

“Chúng cảnh báo, thay vì ca ngợi. Chúng có ích, và đó là một loại nữ quyền lâu đời hơn nhiều”

Gần đây, Hilary Mantel đã chỉ trích các nhà văn đã trao quyền sai cách cho những người phụ nữ của lịch sử, nói rằng, “Đây là một khó khăn dai dẳng cho các nhà văn nữ, những người muốn viết về phụ nữ trong quá khứ, nhưng không thế cưỡng lại lại việc ‘trao quyền’ họ. Điều đó là sai lầm.”

Tôi nghĩ rằng tôi đồng ý với Mantel ở một mức độ nào đó. Bạn không thể trao quyền cho các nhân vật khi mà sự thiếu quyền của họ là điều dẫn dắt câu chuyện ngay từ đầu. Nhưng luôn luôn có một điều gì đó mà nhà văn có thể đưa cho nữ nhân vật bị vây khốn trong truyện cổ tích của họ – kể cả khi đó chỉ là một con dao lớn sắc bén. Hay là những kĩ năng để dụ con sói lên giường.

*

Cha sinh mẹ đẻ của một số trong những câu chuyện cổ tích này đã thêu dệt từ rất, rất lâu – trong một số trường hợp, đến hàng ngàn năm. Cuộc sống thật khó khăn, ngắn ngủi, tàn bạo, đặc biệt là đối với phụ nữ. Và ngay cả khoảnh khắc này trong lịch sử, phụ nữ và các cô gái trẻ vẫn còn phải làm bạn với bóng tối, nơi mà những câu chuyện cổ tích thể hiện tốt nhất.

Những cảnh báo vẫn vang lên đúng đắn.

Trong Người đẹp và quái vật (Beauty and the Beast), con gái của thương gia cuối cùng cũng phải lòng chính kẻ bắt cóc nàng, hoặc ít nhất là nàng giả vờ. Trong Chú lính chì dũng cảm (The Steadfast Tin Solider), cô vũ công ba lê – vì phớt lờ người lính nhỏ yêu cô – nên đã bị trừng phạt bằng việc bị đốt cháy trong bếp lò cùng với anh ta. Trong Những chú thiên nga hoang dã (The Wild Swans), Những viên kim cương và những chú cóc (Diamonds and Toads), Nàng tiên cá (The Little Mermaid), và một số lượng lớn những câu chuyện cổ tích khác, nhân vật nữ chính bị mất đi khả năng nói, và do đó cô ấy mất đi khả năng kiểm soát số phận của chính mình.

Và chẳng phải là chúng ta vẫn luôn có những phụ nữ mắc kẹt trong những cuộc hôn nhân và gia đình lạm dụng, phụ nữ bị trừng phạt (đôi khi là bị giết) bởi vì họ không thể đáp trả tình yêu của một người đàn ông, phụ nữ đã ép phải im lặng theo vô số cách? Một báo cáo mới của CDC tiết lộ rằng, phần lớn các vụ giết người với nạn nhân là phụ nữ Mỹ liên quan đến bạo lực gia đình. Làm sao chúng ta có thể không nhìn thấy lời cảnh báo trong những câu chuyện cổ tích, đối với con gái chúng ta và ngay cả chính chúng ta, vẫn còn ở trong mối đe dọa bây giờ và cả ngày mai?

*

Một điều cứ xuất hiện liên tục trong các cuộc trò chuyện và đánh giá trực tuyến: một số độc giả trẻ nhất định cảm thấy rằng câu chuyện cổ tích trong bộ sưu tập gần đây nhất của tôi, một phiên bản của Những chú thiên nga hoang dã, làm họ nôn nao khó chịu. Có một cảnh cưỡng hiếp – mang tính ám chỉ nhiều hơn là mô tả trực diện, nhưng họ vẫn cảm thấy như bị đánh úp. Và tôi hiểu cùng đồng cảm với sự sầu muộn đa cảm của họ. Là một người mới làm mẹ, tôi cảm thấy choáng ngợp với những nhu cầu gần như là bản năng cần thiết để bảo vệ tất cả những người phụ nữ trẻ tôi biết.

Nhưng đồng thời, tôi nghĩ rằng những cảm xúc đau khổ có thể có ích. Tôi nghĩ nó rất quan trọng. Vì hiếp dâm, lạm dụng, quấy rối – những điều đó CÓ đánh úp phụ nữ. Chúng ta không thể được trao quyền nếu chúng ta không sẵn sàng, nếu chúng ta không chuẩn bị, nếu chúng ta không biết tại sao những người mẹ và các cô con gái biến mất. Đôi khi, những con sói không mời mà đến.

“Nhưng luôn luôn có một điều gì đó mà nhà văn có thể đưa cho nữ nhân vật bị vây khốn trong truyện cổ tích của họ – kể cả khi đó chỉ là một con dao lớn sắc bén.”

Tôi chưa bao giờ tin rằng những người trẻ bây giờ bị cưng chiều hay là những kẻ hèn nhát theo một cách nào đó. Điều này hoàn toàn là vớ vẩn, và, thẳng thắn mà nói, cái sự thật rằng lời buộc tội này nhắm đến một thế hệ trưởng thành trong cái bóng của biến đổi khí hậu và vụ 11/9 cùng khoản nợ vay vốn sinh viên khổng lồ thật tởm lợm. Nhưng một cách tôi muốn bảo vệ họ, và cũng là để bảo vệ con gái của tôi và thế hệ của nó, là vẽ nên khuôn mặt của những cái ác để họ có thể nhận ra nó, ngay lúc này và không hề cách đây lâu.

Và tôi cho rằng đó là những điều mà các bà mẹ ấy đang làm – những người viết nên những câu chuyện này. Tôi không cho rằng họ muốn dọa dẫm con gái hay cháu gái của họ giống như tôi không muốn dọa con gái tôi. Nhưng họ biết những điều mà các cô gái cần biết về thế giới rộng lớn và độc ác. Kể cả khi họ cần phải phát minh ra một cái cây hay một con cáo hay một nàng tiên để kể về nó.

*

Một ngày nào đó, con gái của tôi sẽ hỏi tôi rằng tại sao lại không có những người mẹ trong những câu chuyện cổ tích, và tôi sẽ nói với cô bé rằng thế giới là một nơi nguy hiểm cho phụ nữ thời đó.

Thời đó, tôi sẽ nói vậy, và tôi sẽ truyền tải thông điệp đó với nhiều ý nghĩa nhất có thể. Tôi sẽ không thêm vào “và bây giờ”. Tôi sẽ để cô bé tự đi đến kết luận đó giống như tôi đã từng làm, giống như những người đọc truyện cổ tích trước tôi đã làm, cả quãng đường đi ngược tìm về khởi nguyên của chính những câu chuyện ấy. Cô bé sẽ không sợ hãi, tôi hi vọng là như vậy – và cô bé sẽ được trao quyền, tôi hi vọng vậy – nhưng cũng sẵn sàng nghiêm túc để đi vào thế giới và chiến đấu với tất cả những gì cô bé nhìn thấy. Vua và hoàng hậu, phù thủy và những tấm gương ma thuật, mẹ kế và những người cha nhu nhược, kẻ cải trang và thợ săn, vâng, – cả những con sói xinh đẹp và nguy hiểm.

Hết.

Natsukashii Ame dịch.

Bản gốc được thực hiện bởi Amber Sparks, đăng tại Literary Hub.


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích



1 Comment

1 Bình luận

  1. Pingback: Truyện cổ tích: Minh chứng cho sự khác biệt trong cách các nền văn hóa nhìn nhận thế giới – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Vì sao chúng ta lập bản cam kết đầu năm? (và vì sao ta thường thất bại trong việc thực hiện chúng)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Published

on

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)
Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái bị chàng phụ bạc đã chết - phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton - người bảo trợ của Dorian - đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm, ông kết luận có hơn 50% người Mỹ đặt ra những lời cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman - nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina - được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” - những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại: “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt - những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất - 82% so với mức sàn - diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất - 150% so với mức trung bình - được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng - là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 7 – Ngạo mạn: Nhân sư thành Thebes (Hy Lạp)

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Ngạo mạn.


Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx «sfihngks» - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực. Với người dân Ai Cập, nhân sư đóng vai trò như một biểu tượng hơn là một thực thể độc lập. Nó là thần bảo vệ, người canh giữa các kim tự tháp, là kẻ giáng đòn trừng phạt lên kẻ thù của thần mặt trời Ra. Nó cũng đại diện cho các pharaoh và sức mạnh thần thánh của họ. Đôi khi, khuôn mặt của tượng nhân sư được chạm khắc hoặc sơn vẽ giống với một vị pharaoh cụ thể.

Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực.

Hình tượng nhân sư có xuất xứ từ Ai Cập hoặc Ethiopia; nhưng sau khi “đặt chân” đến Hy Lạp cổ đại, hình dáng và tính cách của sphinx có nhiều biến đổi. Vào những năm 1.600 TCN, tượng nhân sư lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp nói riêng và văn hóa Hy Lạp nói chung. Sphinx được miêu tả là loài quái vật với thân hình sư tử, đầu và ngực của một người phụ nữ, đôi cánh của đại bàng và (theo một số người) đuôi rắn.

Trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật sphinx nổi tiếng nhất xuất hiện tại thành Thebes. Một ngày nọ, nó bay lên đỉnh tường thành và ngạo nghễ hỏi toàn thể thanh niên Thebes một câu đố: “Cái gì buổi sáng đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân, tối đi bằng ba chân?”. Bất cứ ai trả lời sai đều hóa thành bữa ăn trong bụng sphinx. Con đường dẫn tới nơi ở của nhân sư rải đầy xương của những kẻ xấu số.

Thời điểm bấy giờ, sau cái chết của vua Laius, Creon đang tạm thời nhiếp chính. Vẫn chưa một ai trả lời đúng câu hỏi, và người dân thành Thebes đang chết dần. Mong muốn tống khứ được con quái vật này đi bằng mọi giá, Creon tuyên bố trao vương quyền và gả vị hoàng hậu đang góa bụa Jocasta cho người anh hùng giải được câu đố của sphinx.

Cuối cùng, Oedipus - người đang chạy trốn khỏi Corinth - đã giải được câu đố. Đáp án của chàng là một con người:

Giai đoạn bình minh cuộc đời, một đứa trẻ phải bò bằng bốn chân (tay và đầu gối).

Khi trưởng thành như mặt trời ban trưa, con người đi bằng hai chân.

Nhưng vào buổi hoàng hôn của cuộc đời, người già phải chống gậy, đi bằng ba chân.

Oedipus đã giải được câu đố.của nhân sư thành Thebes.

Sau khi nghe câu trả lời của Oedipus, sphinx đã gieo mình từ bức tường thành Thebes và chết trong tuyệt vọng và nhục nhã.

Hình tượng nhân sư rất phổ biến trong nghệ thuật thời Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp thường tạc đầu nhân sư lên các bia mộ để xua đuổi những kẻ trộm mộ. Chúng cũng xuất hiện trên bình gốm, tranh khắc. Nhìn chung, tồn tại khá nhiều diễn giải về hình tượng nhân sư: trong khi một số người coi chúng là biểu tượng của sự hung hãn và bạo lực, một số khác lại xem nhân sư là đại diện của tri thức toàn năng và túi khôn của thời cổ đại.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 6 – Ghen tị: Quỷ sống Hashihime, đừng đùa bỡn với tình cảm của phụ nữ

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Kiêu ngạo.


Bị thiêu đốt bởi ghen tuông và oán hận, một người đàn bà đã dùng ý chí của mình để cầu xin thánh thần phù trợ, tự biến mình thành một con quỷ sống - nữ quỷ của thịnh nộ và chết chóc. Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Quay ngược về nước Nhật cổ đại - trước khi chữ viết xuất hiện, từ “Hashihime” từng được dùng để chỉ nữ thần bảo trợ những cây cầu bắc qua sông. Nhật Bản thời bấy giờ (và kể cả ngày nay) là nền văn hóa vật linh; những yếu tố thiên nhiên hiện thân thông qua các linh hồn thiện và ác. Các kỳ quan của thiên nhiên - như bách niên đại thụ hoặc chỏm đá kỳ dị - đều được bảo trợ bởi các vị thần gọi là Kami. Các con sông cũng vậy, đặc biệt là các con sông lớn, là nơi trú ngụ của thần linh.

Những cây cầu bắc qua sông lớn giống như con dao hai lưỡi. Chúng cho phép người dân di chuyển giữa hai bờ để giao thương buôn bán, nhưng cũng tạo điều kiện để kẻ thù tấn công. Vì thế, bất cứ cây cầu nào có kích thước đáng kể đều được cho là nơi sinh sống của thần hộ mệnh Hashihime. Nàng đóng vai trò như một người gác cổng, cho phép đồng minh đi qua và ngăn chặn kẻ thù xâm nhập.

Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Không ai biết rõ nguyên nhân vì sao hình tượng nữ thần Hashihime lại biến thành nữ quỷ Hashihime. Một trong những lý giải là sự ra đời của thiên sử thi “Heike Monogatari” (Chuyện kể về Heike). “Heike Monogatari” - tương tự những câu chuyện được sáng tạo và truyền miệng qua nhiều thế hệ trước khi ngôn ngữ viết ra đời - có rất nhiều dị bản. Nhân vật chính là nàng Hashihime vùng Uji. Nàng là một tiểu thư xuất thân cao quý, nhưng chẳng may bị người chồng trăng hoa lừa dối (một số dị bản kể rằng nàng bị bỏ bê khi chồng nàng lấy được người vợ thứ hai)1. Trong cơn tị hiềm mù quáng, Hashihime đã cầu viện đến sự trợ giúp của thánh thần đền Kifune, tự biến mình thành một con quỷ sống để trả thù.

“Bị vây hãm trong đố kỵ, nàng đã hành hương đến ngôi đền Kifune và toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Trong bảy ngày liên tục, nàng chỉ ước một điều duy nhất: 'Hỡi vị Kami vĩ đại và quyền uy của đền Kifune, xin ngài ban cho tôi sức mạnh của ác quỷ khi tôi vẫn là con người bằng xương bằng thịt. Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.'

Vị Kami đền Kifune đã chú ý đến tâm nguyện của Hashihime và thấu hiểu mong muốn của nàng. 'Ta đã bị cảm hóa bởi sự chân thành trong lời ước của ngươi. Nếu ngươi muốn trở thành một con quỷ sống và hóa thân thành giống loài hung ác, hãy đi đến sông Kawase ở Uji. Thực hiện nghi lễ ta dạy cho ngươi, và sau đó ngâm mình trong làn nước sông. Hãy làm điều này trong 21 ngày.'

Vị nữ quý tộc này đã nghe thấy lời đáp của thánh thần. Nàng tìm được một nơi vắng vẻ, nơi nàng làm theo đúng chỉ dẫn của Kami. Đầu tiên, nàng xoắn những lọn tóc dài của mình thành năm chiếc sừng. Sau đó, nàng mài chu sa thoa lên mặt và dùng màu vẽ đỏ tươi thoa lên cơ thể mình, cho đến khi nàng trở nên đỏ rực như quỷ dữ trong truyền thuyết. Cuối cùng, nàng đội lên đầu một chiếc đinh ba chạc, và cắm vào đó ba ngọn đuốc bằng gỗ thông cháy phừng phực. Giữa hai hàm răng, nàng nghiến chặt thêm hai ngọn đuốc.

'Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.' - Trích lời cầu nguyện của Hashihime.

Quá trình chuẩn bị đã hoàn tất. Với ngọn đuốc sáng rực trong đêm thâu, nước da đỏ rực và trên đầu đội vương miện bằng sắt, nàng xuôi về phía nam đến Yamato-oojidori. Ngoại hình của nàng chẳng khác quỷ quái là bao; ai ai nhìn thấy nàng cũng đều gục xuống, chết khiếp trước cảnh tượng kinh hoàng này. Cuối con đường là con sông Kawase, nơi người phụ nữ ngoan ngoãn ngâm mình dưới làn nước. Như lời Kami đền Kifune hứa hẹn, sau 21 ngày, nàng đã hoàn toàn biến đổi thành một con quỷ sống trong thân xác phàm trần.

Bằng cách này, Hashihime đã trả thù gã đàn ông phụ bạc, cùng tất cả họ hàng thân thích và gia nhân của hắn. Cơn thịnh nộ của nàng không có ranh giới. Khi nàng giết đàn ông, nàng hóa thân thành phụ nữ. Khi nàng giết phụ nữ, nàng lấy dung mạo là đàn ông. Nàng trở thành nỗi kinh hoàng của người dân thị trấn; không một ai dám bước chân ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.”

*

Trong “Heike Monogatari”, điểm khiến Hashihime trở nên đặc biệt là nàng trở thành quỷ khi vẫn đang “còn sống”. Nàng không cần cái chết hay sự tái sinh để biến thành một sinh vật siêu nhiên. Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, cái chết có tác dụng biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến motif nhân vật chính trả thù sau khi bị hại chết. Vì vậy, việc nàng Hashihime vùng Uji là một con quỷ “sống” đã tăng thêm mức độ ghê rợn của câu chuyện và hình tượng này.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Chú thích:

  1. Trong một số dị bản, nguồn cơn sự ghen tị Hashihime dành cho một nữ quý tộc khác không đến từ mâu thuẫn tình cảm.
Đọc bài viết

Cafe sáng