Trà chiều

Ngưng giả vờ như thể chúng ta không biết rằng tận thế do biến đổi khí hậu đang đến

Ngày tận thế do biến đổi khí hậu đang đến. Để chuẩn bị cho nó, chúng ta cần thừa nhận rằng chúng ta chẳng thể ngăn chặn nó được.

Published

on

WHAT IF WE STOPPED PRETENDING?
Jonathan Franzen

Kafka từng nói rằng, “Lúc nào cũng tồn tại vô vàn hy vọng, chỉ là nó không dành cho chúng ta.” Đây là một vần thơ trào phúng huyền ảo (nhưng lại rất phù hợp) đến từ một nhà văn chuyên tạo ra những nhân vật luôn phấn đấu vì các mục tiêu có vẻ nằm trong tầm với. Bất hạnh thay (hay buồn cười thay), những nhân vật của ông không bao giờ tiến đến gần mục tiêu dù chỉ một chút. Nhưng với tôi, trong thế giới đang ngày càng tăm tối này, đảo đề của câu nói chua cay từ Kafka đúng tương đương: Chẳng còn chút hy vọng nào nữa, trừ là với chúng ta.

Tất nhiên là tôi đang nói về biến đổi khí hậu. Cuộc tranh đấu để kiểm soát khí thải carbon toàn cầu và ngăn trái đất nóng lên cũng có cảm giác giống như tiểu thuyết của Kafka vậy. Trong ba mươi năm qua mục tiêu luôn rõ ràng, nhưng bất chấp những nỗ lực sốt sắng của loài người, về cơ bản chẳng có gì tiến triển cả. Ngày nay, bằng chứng khoa học đã tiến gần đến mức không thể bác bỏ. Nếu bạn trẻ hơn tuổi sáu mươi, bạn có nhiều khả năng sẽ được chứng kiến quá trình bất ổn sự sống triệt để trên khắp hành tinh: mùa màng thất thu trên diện rộng, những vụ hỏa hoạn khải huyền, sự sụp đổ kinh tế, ngập lụt chấn động, hàng trăm triệu người di cư trốn chạy khỏi các khu vực không thể sinh sống do sức nóng tột bậc hoặc hạn hán vĩnh viễn. Nếu bạn dưới ba mươi tuổi, bạn chắc chắn sẽ được chứng kiến những thảm họa trên.

Nếu bạn quan tâm tới Trái đất, tới con người và động vật đang định cư nơi đây, có hai cách tiếp cận vấn đề. Một là bạn có thể tiếp tục hy vọng rằng thảm họa sẽ được ngăn chặn, để rồi cảm thấy thất vọng hoặc nổi giận với sự thờ ơ của thế giới. Hoặc bạn có thể chấp nhận rằng thảm họa sẽ tới, và tái cân nhắc liệu cái gì mới mang nghĩa nắm giữ hy vọng.

Ngay cả bây giờ, những ngôn luận về một hy vọng viễn vông vẫn còn đầy rẫy. Hàng ngày, bạn mở mắt ra và đọc được những bài báo kiểu như “hãy xắn tay áo lên” và “cứu Trái đất”; kiểu như vấn đề về biến đổi khí hậu có thể được “giải quyết” nếu chúng ta kêu gọi được ý chí tập thể. Thông điệp này có lẽ còn đúng vào năm 1988, khi khoa học khẳng định mười mươi rằng trong ba mươi năm vừa qua, chúng ta đã thải ra lượng carbon vào khí quyển gấp đối tổng lượng gộp trong hai thế kỉ công nghiệp hóa. Thực tế đã thay đổi, nhưng vì lý do gì đó thông điệp vẫn giậm chân tại chỗ.

Về mặt tâm lý học, sự chối bỏ nhận thức này cũng dễ hiểu. Bất chấp cái sự thật tàn nhẫn rằng sớm thôi tôi sẽ nhắm mắt vĩnh viễn, tôi vẫn sống ở hiện tại, đâu phải ở tương lai. Lựa chọn giữa một cái viễn cảnh trừu tượng đáng sợ (cái chết) và những thứ an lành hiển hiện trước mắt (bữa sáng nay chẳng hạn), đầu óc tôi thích tập trung vào cái sau hơn. Hành tinh cũng vẫn còn đây, đại khái vẫn bình thường – giao mùa, lại một năm bầu cử sắp tới, chương trình phim hài mới trên Netflix – và nghĩ tới Trái đất sắp sụp đổ thì còn khó tưởng tượng hơn cả nghĩ tới cái chết của bản thân. Những kiểu tận thế khác, cho dù là về tôn giáo hay nổ nhà máy hạt nhân hay thiên thạch va vào Trái đất, ít nhất là có hai giai đoạn tử vong nhị phân gọn ghẽ: một phút trước thế giới còn ở đó, một phút sau nó đã biến mất mãi mãi. Tận thế do biến đổi khí hậu thì ngược lại: nó lộn xộn. Nó sẽ xuất hiện dưới dạng các khủng hoảng nghiêm trọng ngày càng gia tăng và ngày càng hỗn loạn, cho đến khi nền văn minh bắt đầu sứt mẻ. Mọi thứ sẽ trở nên rất tệ, những có lẽ không quá sớm, và có lẽ không phải với tất cả mọi người. Có lẽ không phải với tôi.

Tuy nhiên, một vài sự chối bỏ là do ngoan cố. Sự thâm độc của Đảng Cộng hòa Mỹ đối với khoa học khí hậu là điều ai cũng biết, nhưng sự chối bỏ cũng tìm được đường vào với Đảng Cấp tiến, hay ít ra là với hệ lý luận của nó. Chính sách Tăng Trưởng Xanh Mới (The Green New Deal) – khung sườn của một số đề xuất trọng yếu nhất được đưa ra liên quan đến vấn đề này – vẫn được định hình là cơ hội cuối cùng của chúng ta để ngăn chặn thảm họa và cứu lấy hành tinh, bằng các dự án năng lượng tái tạo khổng lồ. Rất nhiều nhóm ủng hộ những đề xuất trên sử dụng những ngôn từ như “dừng” biến đổi khí hậu, hay ám chỉ rằng vẫn còn thời gian để phòng ngừa nó. Không giống như cánh hữu, cánh tả tự hào vì đã lắng nghe các nhà khoa học khí hậu – những người thật sự chấp nhận rằng, trên lý thuyết, thảm họa có thể được ngăn chặn. Nhưng không phải ai cũng dỏng tai nghe kĩ càng. Sức nặng rơi vào ba chữ trên lý thuyết.

Đại dương và khí quyển chỉ có thể hấp thụ một lượng nhiệt nhất định trước khi biến đổi khí hậu – càng thêm trầm trọng bởi những vòng lặp liên hồi – hoàn toàn vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Các nhà khoa học và các nhà làm luật có nhận thức chung rằng chúng ta sẽ vượt ngưỡng không thể vãn hồi nếu nhiệt độ trung bình Trái Đất tăng thêm hai độ C (có thể cao hơn một chút, nhưng cũng có thể thấp hơn một chút). I.P.C.C. (Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu) khẳng định với chúng ta rằng, để hạn chế mức độ tăng ít hơn hai độ C, không những chúng ta cần phải đảo ngược tiến trình của ba thập niên trước mà lượng chất thải carbon ròng trên toàn thế giới còn phải đạt mức 0 trong vòng ba thập niên tiếp theo.

Đây là một nhiệm vụ khó nhằn, gần như là bất khả thi – trong trường hợp bạn tin tưởng những tính toán của I.P.C.C. là chính xác. Các nghiên cứu mới, được mô tả tháng trước trong tờ Scientific American, giải thích rằng các nhà khoa học khí hậu không những không hề phóng đại mối đe dọa của biến đổi khí hậu mà còn đánh giá thấp tiến độ và mức độ nghiêm trọng của nó. Để tìm ra được mức tăng nhiệt độ trung bình Trái đất, các nhà nghiên cứu phụ thuộc vào các mô hình khí quyển phức tạp. Họ lấy một nhóm các biến và sử dụng siêu máy tính để tính toán và dựng nên mười nghìn mô phỏng khác nhau cho thế kỉ tới, nhằm mục đích tạo ra những dự đoán “chính xác nhất” của mức gia tăng nhiệt độ. Khi một nhà khoa học dự đoán tăng hai độ C, cô ấy chỉ đang đơn thuần nêu ra một con số mà cô ấy rất tự tin: nó sẽ tăng ít nhất hai độ C. Trên thực tế, nhiệt độ có thể tăng cao hơn nhiều.

Dù không phải là nhà khoa học nhưng tôi cũng có những mô hình cho riêng mình. Tôi dùng não bộ để tính toán rất nhiều những viễn cảnh tương lai, áp dụng những giới hạn của tâm lý con người và thực tế chính trị, ghi nhận sự gia tăng không khoan nhượng trong lượng tiêu thụ năng lượng toàn thế giới (cho tới bây giờ, carbon tiết kiệm được do sử dụng năng lượng tái tạo đã “được” bù đắp lại bởi lượng cầu tiêu dùng gia tăng), và đong đếm cái viễn cảnh mà hành động tập thể có thể ngăn chặn thảm họa. Viễn cảnh này, tôi hình dung ra được từ sự hướng dẫn của các nhà làm luật và các nhà hoạt động xã hội, có một số điều kiện chung cần thiết như sau:

Điều kiện đầu tiên là tất cả các quốc gia gây ô nhiễm hàng đầu trên thế giới phải tiến hành các biện pháp bảo tồn hà khắc, đóng cửa đa số các cơ sở hạ tầng phục vụ cho công nghiệp năng lượng và vận tải, và phải hoàn toàn tái cơ cấu nền kinh tế. Theo như một bài luận gần đây trên tờ Nature, lượng khí thải carbon từ những cơ sở hạ tầng hiện có sẽ vượt mức “cho phép” nếu chúng tiếp tục hoạt động cho đến khi hết công suất – với mức cho phép đã bao gồm hàng tỷ tấn khí carbon có thể thải ra môi trường mà không vượt ngưỡng thảm họa. (Ước tính này không bao gồm hàng ngàn dự án năng lượng và vận tải mới đã được lên kế hoạch hoặc đang thi công.) Để giữ lượng khí thải ở dưới mức cho phép, cần có sự can thiệp từ trên xuống không chỉ ở mỗi quốc gia mà còn phải ở khắp mọi nơi trong cả nước. Xây dựng thành phố New York thành một utopia xanh cũng chẳng có ích lợi gì nếu Texas vẫn ngoan cố khai thác dầu mỏ và sử dụng xe bán tải.

Hành động của những nước này cũng phải đúng đắn. Phần lớn lượng tiền của chính phủ phải được dùng không phí phạm và không rơi vào tay sai người. Khá hữu dụng khi nhớ lại trò cười kiểu Kafka về chỉ thị dùng nhiên liệu sinh học của EU, dẫn tới sự gia tăng nạn phá rừng ở Indonesia để trồng cọ lấy dầu cũng như chính sách trợ giá cho nhiên liệu ethanol chẳng lợi lộc cho ai ngoài nông dân trồng ngô.

Cuối cùng, một lượng áp đảo người dân trên thế giới, bao gồm hàng triệu người chống đối chính phủ Mĩ, cần phải yên ổn chấp nhận mức thuế cao và sự cắt xén đáng kể cái lối sống mà họ quen thuộc. Họ phải chấp nhận thực tế là khí hậu đang thay đổi và giữ lòng tin vào những biện pháp cực đoan được thực hiện để chiến đấu với tình trạng này. Họ không thể cứ lấp liếm rằng những tin tức họ không thích là fake news (tin giả). Họ phải gác chủ nghĩa dân tộc, sự oán hận giai cấp và chủng tộc sang một bên. Họ phải chấp nhận hy sinh cho những mối đe dọa còn ở khá xa, cho những thế hệ ở tương lai xa. Họ cần phải sống với nỗi lo sợ thường trực về những mùa hè nóng lên và những thiên tai ghé thăm thường xuyên hơn, hơn là tập làm quen với chúng. Mỗi ngày, thay vì nghĩ về bữa sáng ngon lành, họ phải nghĩ về cái chết.

“Mỗi ngày, thay vì nghĩ về bữa sáng ngon lành, họ phải nghĩ về cái chết.”

*

Gọi tôi là người bi quan hay người theo chủ nghĩa nhân văn đều được, nhưng tôi không cho rằng bản chất con người sẽ thay đổi trong thời gian ngắn. Tôi có thể tính toán mười nghìn viễn cảnh bằng mô hình trong đầu, nhưng lại chẳng có viễn cảnh nào mà tôi thấy rằng mục tiêu hai độ C của chúng ta có thể đạt được.

Đánh giá từ cuộc khảo sát ý kiến gần đây, phần lớn người Mỹ (rất nhiều người trong số đó thuộc Đảng Cộng hòa) rất bi quan về tương lai của hành tinh, và từ sự thành công của một quyển sách u ám như The Uninhabitable Earth (tạm dịch Hành tinh chết) của David Wallace-Wells được phát hành năm ngoái, tôi không phải là người duy nhất đi đến kết luận đó. Nhưng người ta vẫn không sẵn lòng truyền thông về tình thế này. Một số nhà hoạt động vì môi trường tranh luận rằng nếu chúng ta công khai thừa nhận rằng vấn đề này không thể được giải quyết, nó sẽ khiến con người không muốn làm bất kì điều gì để cải thiện vấn đề nữa. Theo tôi, cái kết luận này không những kẻ cả mà còn cho thấy sự bất lực, khi chúng ta đã và đang làm được quá ít cho môi trường. Những nhà hoạt động môi trường đưa ra kết luận này gợi tôi nhớ đến những nhà lãnh đạo tôn giáo – những người kinh sợ rằng nếu không có hứa hẹn về sự cứu rỗi vĩnh hằng, mọi người sẽ không thèm cư xử đức hạnh. Theo kinh nghiệm của tôi, không có người vô thần nào ít thương yêu hàng xóm hơn người theo tôn giáo. Và vì vậy, tôi cũng tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đối mặt với sự thật thay vì chối bỏ nó.

Đầu tiên, thậm chí nếu chúng ta không có chút hy vọng được cứu rỗi nào từ hai độ C kia, vẫn có một lập luận đúng thực tế và hợp đạo đức cho việc giảm khí thải carbon. Trong dài hạn, có lẽ cũng chẳng có gì khác biệt nếu chúng ta vượt qua mức hai độ xa bao nhiêu. Một khi đã vượt ngưỡng không thể quay đầu, thế giới sẽ tự chuyển mình. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, biện pháp có tác dụng một nửa còn tốt hơn là không áp dụng biện pháp nào. Cắt giảm một nửa lượng khí thải sẽ tạo ra tác dụng tức thời, khiến tình trạng Trái đất nóng lên đỡ nghiêm trọng, và phần nào sẽ trì hoãn cái ngưỡng không thể cứu vãn. Điều đáng sợ nhất về sự thay đổi khí hậu là tốc độ phát triển của nó, gần như mỗi tháng lại phá vỡ kỉ lục nhiệt độ. Nếu hành động tập thể dẫn tới ít trận siêu bão có sức công phá khủng khiếp hơn hoặc chỉ một vài năm ổn định tương đối, nó hẳn là một mục tiêu đáng theo đuổi.

“Và vì vậy, tôi cũng tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đối mặt với sự thật thay vì chối bỏ nó.”

Thực tế, nó cũng đáng theo đuổi thậm chí nếu nó chẳng có chút tác dụng nào. Việc không bảo tồn một nguồn lực có hạn khi các biện pháp bảo tồn đã có sẵn và xả thêm carbon vào không khí một cách thừa thãi khi chúng ta hiểu rõ chúng có hại như thế nào, những việc như vậy đơn thuần là sai trái. Mặc dù hành động của một cá nhân không có tác động gì đến khí hậu, điều này không có nghĩa rằng việc làm của họ là vô nghĩa. Mỗi chúng ta cần phải đưa ra một lựa chọn về đạo đức. Trong cuộc Cải cách Kháng nghị (Protestant Reformation), khi “ngày tận thế” chỉ đơn thuần là một ý niệm chứ không phải là cái thực tế đáng sợ như ngày nay, một câu hỏi học thuyết cốt lõi chính là liệu ta nên làm việc tốt vì nó sẽ giúp ta lên Thiên đường, hay liệu ta nên làm việc tốt bởi vì chúng là điều tốt. Bởi vì, dẫu Thiên đường vẫn còn là dấu chấm hỏi, bạn biết rằng thế giới này sẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu tất cả mọi người đều làm như vậy. Tôi có thể tôn trọng hành tinh và quan tâm đến những người cùng chia sẻ hành tinh này mà không cần tin rằng hành động của tôi sẽ cứu giúp chính mình.

Hơn thế nữa, hy vọng sai lầm về sự cứu rỗi có thể rất có hại. Nếu bạn khăng khăng tin rằng thảm họa có thể được ngăn chặn, bạn trói buộc bản thân mình vào chuyện giải quyết một vấn đề quá sức to lớn đến nỗi nó cần tất cả mọi người phải cân nhắc nó là ưu tiên hàng đầu. Một kết quả kì lạ là người ta rơi vào tình trạng tự mãn: bằng cách bầu cử cho một ứng viên ủng hộ công nghiệp xanh, lái xe đạp đi làm, tránh đi đường hàng không, bạn có lẽ cảm thấy rằng bạn đã làm mọi thứ có thể cho điều duy nhất đáng làm. Ngược lại, nếu bạn chấp nhận thực tế rằng Trái đất sẽ nhanh chóng nóng đến mức không thể cứu vãn và đe dọa nền văn minh, còn rất rất nhiều điều bạn phải nên làm.

Nguồn tài nguyên của chúng ta không phải vô hạn. Thậm chí nếu chúng ta đầu tư phần lớn trong số chúng vào ván cá cược dài hạn nhất, giảm lượng carbon thải ra với hy vọng rằng nó sẽ cứu vớt loài người, thật không khôn ngoan khi dốc hết vốn. Cứ mỗi một tỷ đô đầu tư vào tàu cao tốc – dự án chưa biết rằng có thích hợp với Bắc Mĩ không – là một tỷ đô thiếu hụt cho công tác chuẩn bị cho thiên tai, công tác sửa chữa những quốc gia bị ngập, hay công cuộc cứu trợ nhân đạo trong tương lai. Mỗi siêu dự án năng lượng xanh nhưng phá hủy một hệ sinh thái sẵn có – như là dự án phát triển năng lượng “xanh” hiện đang diễn ra tại vườn quốc gia Kenya, dự án thủy điện khổng lồ ở Braxin, công trình xây dựng cánh đồng pin năng lượng mặt trời diễn ra ở không gian ngoài trời chứ không phải khu dân cư – làm xói mòn khả năng chống cự của một thế giới tự nhiên vốn đã đang vật lộn để sống sót. Sự cạn kiệt nguồn đất và nước, lạm dụng thuốc trừ sâu, sự càn quét của ngành công nghiệp đánh bắt thủy hải sản, chỉ có sức mạnh đám đông mới cần thiết cho những vấn đề này, và – không giống vấn đề khí thải carbon – nó nằm trong tầm tay giải quyết của chúng ta. Điểm cộng là, thậm chí cả những biện pháp công nghệ thấp để bảo tồn tự nhiên (trồng rừng, giữ gìn đồng cỏ, ăn ít thịt hơn) cũng có hiệu quả giảm lượng thải carbon ngang ngửa với những thay đổi công nghiệp quy mô lớn.

Dốc toàn lực đấu tranh chống lại biến đổi khí hậu chỉ có ý nghĩa khi chúng ta có khả năng chiến thắng. Một khi bạn chấp nhận rằng chúng ta đã thua cuộc, những loại hành động khác có ý nghĩa còn cao cả hơn. Chuẩn bị cho những trận hỏa hạn, ngập lụt và những người tị nạn là một ví dụ thích đáng trực diện. Nhưng những thảm họa treo lơ lửng trên đầu đã tăng cường tính cấp bách của bất cứ hành động cải thiện thế giới nào. Vào kỷ nguyên của hỗn loạn gia tăng, người ta tìm kiếm sự che chở từ cuộc sống bộ lạc hoặc các lực lượng vũ trang hơn là từ pháp luật, và hàng phòng ngự tốt nhất của chúng ta chống lại tình trạng dystopia này là phải duy trì chế độ dân chủ có hiệu lực, hệ thống pháp luật có hiệu lực và một cộng đồng có hiệu lực. Riêng về khía cạnh này, bất cứ động thái nào hướng về một xã hội văn minh và công bằng hơn đều được xem là một động thái có ý nghĩa về mặt khí hậu. Đảm bảo được cuộc bầu cử công bằng là một hành động khí hậu. Đấu tranh chống lại sự chênh lệch giàu nghèo tột bậc là một hành động khí hậu. Dẹp bỏ những mưu toan ghét bỏ nhau trên mạng xã hội là một hành động khí hậu. Tiến hành các chính sách nhập cư nhân đạo, chủ trương ủng hộ công bằng giới tính và chủng tộc, cổ vũ việc tôn trọng luật pháp và lực lượng chức năng, ủng hộ báo chí tự do và độc lập, loại bỏ vũ trang sát thương khỏi đất nước – đây đều là những hành động có ý nghĩa cho khí hậu. Để tồn tại được khi nhiệt độ gia tăng, mỗi một hệ thống – cho dù là tự nhiên hay là của thế giới con người – đều cần trở nên kiên cố và lành mạnh hết mức có thể.

“Riêng về khía cạnh này, bất cứ động thái nào hướng về một xã hội văn minh và công bằng hơn đều được xem là một động thái có ý nghĩa về mặt khí hậu.”

Và sau đó là vấn đề của hy vọng. Nếu hy vọng của bạn về tương lai phụ thuộc vào một viễn cảnh lạc quan đến khó tin thì trong mười năm tới, bạn sẽ làm gì, khi mà viễn cảnh đó trở nên bất khả, ngay cả trên lý thuyết? Hoàn toàn từ bỏ hành tinh này? Mượn lời khuyên từ một nhà hoạch định tài chính, tôi sẽ đề xuất một bộ hy vọng cân bằng hơn: một vài trong số chúng là dài hạn, phần lớn là ngắn hạn. Sẽ chẳng sao cả nếu bạn vật lộn trong vòng ràng buộc bởi bản năng con người, hy vọng làm dịu bớt cái viễn cảnh tồi tệ nhất sắp tới, tuy nhiên, việc đấu tranh cho những vấn đề nhỏ hơn, hạn hẹp hơn cũng rất quan trọng, giống như chuyện bạn phải giữ một hy vọng chân thực về khả năng chiến thắng. Đúng, hãy cứ tiếp tục làm những điều đúng đắn cho hành tinh này, nhưng cũng hãy cố gắng bảo vệ những thứ bạn đặc biệt yêu quý – một cộng đồng, một tổ chức, một vùng hoang dã, một loài đang gặp nguy cơ – và đạt được sự hài lòng từ các thành công nho nhỏ. Bất cứ việc tốt nào bạn làm bây giờ cũng sẽ góp phần chống lại tương lai nóng lên của Trái đất, nhưng điều thực sự ý nghĩa là nó chỉ tốt trong hôm nay. Miễn là bạn có thứ để đặt tình yêu vào, bạn sẽ có thứ gì đó để đặt hy vọng.

Ở nơi tôi sống, Santa Cruz, có một tổ chức tên là Dự án Vườn Vô Gia Cư (Homeless Garden Project). Tại một nông trại ở rìa Tây thành phố, người ra tạo việc làm, khóa đào tạo, sự hỗ trợ và tinh thần cộng đồng dành cho dân vô gia cư trong thành phố. Nó không thể “giải quyết” vấn đề vô gia cư, nhưng nó đã thay đổi cuộc sống của nhiều người, từng người một, trong gần ba mươi năm. Tự duy trì sự tồn tại của tổ chức một phần bằng cách bán các sản phẩm hữu cơ, nó đóng góp – trên diện rộng – cho một cuộc cách mạng ý thức về cách chúng ta nghĩ về những người khó khăn, về mảnh đất mà chúng ta phụ thuộc vào, và về thế giới tự nhiên quanh ta. Mỗi mùa hè, như một thành viên của chương trình C.S.A. của Dự án, tôi rất thích mua rau cải xoăn và dâu tây từ họ, và vào mùa thu, vì đất đai vẫn còn tươi mới và không bị ô nhiễm, những loài chim di cư nhỏ sẽ tìm được thực phẩm trong bụi cây.

Sẽ đến một lúc nào đó, có lẽ là sớm hơn bất kì ai trong chúng ta dự đoán, khi mà hệ thống công-nông nghiệp và giao thương toàn cầu sụp đổ và người vô gia cư thì nhiều hơn người có nhà. Vào lúc đó, ngành nông nghiệp truyền thống tại địa phương và những cộng đồng vững mạnh sẽ không chỉ là những từ thông dụng của Đảng Tự do. Đối xử tử tế với hàng xóm và tôn trọng thiên nhiên – mảnh đất đầy dinh dưỡng và lành mạnh, những nguồn nước được quản lý khôn ngoan, quan tâm đến sâu bọ giúp thụ phấn – những việc làm này sẽ trở nên thiết yếu giữa khủng hoảng và những cộng đồng tồn tại qua cuộc khủng hoảng đó. Một dự án như Vườn Vô Gia Cư trao cho tôi hy vọng rằng trong tương lai, mặc dù chắc chắn sẽ tệ hơn hiện tại, có lẽ vẫn sẽ tốt hơn theo một cách nào đó. Hơn hết, nó cho tôi hy vọng cho ngày hôm nay.

“Miễn là bạn có thứ để đặt tình yêu vào, bạn sẽ có thứ gì đó để đặt hy vọng.”

Hết.

Emma Đẹp Thần Thánh dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Jonathan Franzen, đăng tại The New Yorker.

*

Những bài viết có cùng chủ đề môi trường & thiên nhiên




Từ Sách đến Phim

What Happened to Monday: Sự chật chội của một danh tính

Sẽ ra sao nếu trong một tương lai không xa, vì sự bùng nổ dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con và nếu sinh dư, những đứa còn lại bị chính phủ ép phải đưa vào buồng ngủ đông không biết khi nào mới được đánh thức?

Published

on

By

What Happened to Monday là một phim mà tôi chắc rằng khi đọc qua logline, bất kì nhà sản xuất hay khán giả đại chúng nào cũng thấy ngay sự mới mẻ, hấp dẫn của nó. Sẽ ra sao nếu trong một tương lai không xa, vì sự bùng nổ dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con và nếu sinh dư, những đứa còn lại bị chính phủ ép phải đưa vào buồng ngủ đông không biết khi nào mới được đánh thức? Thế thì, một gia đình có bảy chị em sẽ xoay sở ra sao để cùng nhau tồn tại? Hoặc ngắn gọn hơn nữa, ngay từ câu tagline của bộ phim cũng đã gợi nhiều suy ngẫm kích thích người xem: “Bảy chị em, một danh tính.”

Cái hay trong ý tưởng kịch bản phim nằm ở việc nó đồng thời vừa mới mẻ lại vừa gần gũi. Tình trạng dân số thế giới ngày càng gia tăng là vấn nạn có thật và ở những nước đông dân, người ta cũng đã quá quen với những khuyến nghị về việc hạn chế số lượng con trong mỗi hộ gia đình. What Happened to Monday chỉ đẩy chuyện này lên mức cực đoan để Max Botkin – tác giả kịch bản gốc trình bày những quan điểm của mình về con người và xã hội. Ý tưởng kịch bản phim phần nào đó có nét giống với truyện ngắn 2BR02B của Kurt Vonnegut. Cả hai đều đặt câu chuyện trong bối cảnh một xã hội kiểm soát dân số bằng những biện pháp ngặt nghèo, chỉ khác ở cách thức kiểm soát. Cách thức kiểm soát dân số trong What Happened to Monday đã được đề cập ở trên, còn cách thức kiểm soát dân số trong 2BR02B lại là: để một người được sinh ra, trước tiên phải có một người tình nguyện chết. Do đó, tuy có một chút trùng lặp với 2BR02B nhưng nhờ sự khác biệt trong cách thức kiểm soát, What Happened to Monday vẫn có thể xem là ý tưởng kịch bản độc đáo. Tôi nghĩ rằng có thể xếp kịch bản phim vào dạng high-concept – đây là miếng mồi ngon cho các nhà làm phim Hollywood. Kịch bản What Happened to Monday hoàn toàn có thể được viết lại với những nhân vật khác, tình tiết khác mà vẫn cho ra câu chuyện thú vị như cách các nhà làm phim đã xào nấu ý tưởng kịch bản Groundhog Day (1993) thành nhiều câu chuyện về vòng lặp thời gian ra đời sau này như: About Time (2013), Edge of Tomorrow (2014), Before I Fall (2017), hay bộ phim kinh dị sắp sửa ra mắt là Happy Death Day (Sinh nhật chết chóc).Có thể trong tương lai, nhiều bộ phim lấy tiền đề tương tự như What Happened to Monday cũng sẽ được ra đời.

Tuy nhiên, What Happened to Monday lại cócách triển khai câu chuyện quá cũ kĩ mặc dù tiền đề là một ý tưởng high-concept mới mẻ. What Happened to Monday được xếp vào thể loại dystopian sci-fi, thế nhưng tôi cảm thấy gần hai phần ba phim lại giống thể loại hành động hơn. Mọi tình tiết trong phim gần như được thúc đẩy bằng những cảnh hành động và cả cách nhân vật giải quyết vấn đề cũng khiến người xem dễ cảm thấy bạo lực là thứ chính yếu để chiến thắng. Tình trạng này khiến tôi nhớ đến phim In Time (2011). In Time cũng có một ý tưởng tiền đề rất hay đến mức tôi nghĩ ai đọc qua logline của phim hẳn đều sẽ muốn xem phim ngay. Thế nhưng, cách triển khai câu chuyện của In Time cũng lại qui về những cảnh hành động đậm chất Hollywood quen thuộc khiến bộ phim trở nên nhàm chán. Cả In Time lẫn What Happened to Monday đều thuộc thể loại sci-fi và đều mắc tình trạng rốt cuộc sci-fi chỉ để làm nền cho action. Trong một bộ phim sci-fi kể về thế giới dystopia (thế giới trở nên tồi tệ hơn chứ không phải tốt đẹp hơn ở thì tương lai) như What Happened to Monday, tôi nghĩ nếu câu chuyện được xử lí theo hướng thiên về tâm lí nhân vật như The Lobster (2015) thì có thể phim sẽ để lại ấn tượng sâu sắc hơn về mặt thông điệp khi đặt ra câu hỏi muôn thưở của Hamlet: “Tồn tại hay không tồn tại?” Còn ở bộ phim này, có lẽ câu hỏi chỉ dừng lại ở mức đơn giản là What Happened to Monday? như chính tiêu đề phim. Và do đó, chí ít ta cũng được hưởng chút thú vị của thể loại trinh thám – vốn là nơi hay đặt ra câu hỏi dạng này.  

Điểm đánh giá: 6.5/10

Kodaki

Đọc bài viết

Giai điệu dẫn lối suy tư

Chuyện học đàn guitar của tôi

Tôi thích ngửi mùi gỗ trên cây đàn, chạm vào một lượt những đường cong mềm mại nơi thùng đàn, ngồi ôm nó vào lòng và bắt đầu đệm lên những giai điệu.

Published

on

By

Tôi ít khi nào viết bằng tiếng Việt để được buông xả cảm xúc thoải mái nhất có thể. Dù buồn cách mấy, tôi luôn cố gắng viết bằng tiếng Anh để làm dịu bớt đi sự kịch tính hóa nỗi buồn vốn chẳng có gì nghiêm trọng mà tôi thường có xu hướng sẽ viết quá lên khi dùng tiếng Việt. Thế nhưng, khoảng hai năm gần đây, tôi bắt đầu đặt lại câu hỏi, liệu mình có thật sự buông hết cảm xúc thoải mái khi viết tiếng Việt và giản lược hóa tối đa những suy nghĩ phức tạp bên trong khi viết bằng tiếng Anh không? Dường như, câu trả lời “có” không còn bật ra đơn giản như ngày xưa nữa. Đôi khi, viết bằng tiếng Việt, vì biết rằng sẽ có nhiều người dễ dàng đọc được, tôi lại tự kiềm nén cảm xúc của mình trong vô thức nhiều hơn. Dù sao, tôi vẫn muốn viết những dòng này bằng tiếng Việt. Dù sao, tôi vẫn là một dòng nước yếu ớt nếu thừa nhận thẳng thắn, tôi không phải là lửa dù lửa hừng hực cháy bên trong tôi, tôi không phải là đất dù thoạt nhìn bề ngoài có vẻ lí tính, tôi cũng không phải là khí dù lí tưởng cuộc đời tôi tản mác như khí. Tôi vẫn là nước. Và một cung nước hướng nội có lẽ cũng chẳng dễ dàng chia sẻ những điều này nơi chốn công cộng – lí do thỉnh thoảng tôi tự cho phép mình làm điều này có lẽ do có sự tác động của một chút lửa và một chút khí trong phạm trù giao tiếp. Nhưng đến đây, sự sa đà vào chi tiết lại đích thị là của nước – như Frozen 2 cứ lặp đi lặp lại ý này: nước lưu giữ mọi kí ức. Trong tiểu thuyết Mưa ở kiếp sau – có lẽ là tác phẩm gần nhất tôi đọc được, Đoàn Minh Phượng cũng có luận điểm tương tự như thế. Và chẳng phải Masaru Emoto có viết hẳn hai cuốn sách về điều này còn gì. Nên tôi cố gắng dừng lại việc lan man ở đây, mào đầu dài dòng thế này là đủ. Cái tật đi vòng bụi rậm vẫn cứ không tha cho tôi.

Năm vừa rồi, một trong những điều khiến tôi biết ơn nhất có lẽ là việc xem được phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Tôi có cảm tình với bộ phim này ngay từ tựa phim, đó là hoàn cảnh tôi thường xuyên trải qua những năm học đại học và một vài năm đầu sau khi vừa tốt nghiệp. Tôi không được biết về thông tin phim trước đó. Đơn thuần trước thời điểm phim sắp chiếu hai - ba tuần, trong một lần đi xem phim, tôi thấy poster của phim đã được dán ở phần phim sắp chiếu từ lúc nào. Ngay giây phút nhìn thấy tấm poster và tên phim như thế, tôi đã quyết định khi nào phim ra, chắc chắn sẽ đi xem, bất kể nội dung thế nào, trailer ra sao, diễn viên và ekip gồm những ai, tôi chỉ có một linh cảm mơ hồ trong đầu rằng phim sẽ hay. Đương nhiên sau đó, trước khi vào rạp, tôi đã có thời gian nắm hết những thông tin cơ bản. Tuy vậy, khoảnh khắc những dòng chữ cuối cùng trên credit chạy hết, tôi vẫn ngỡ ngàng vì hạnh phúc khi được xem một phim Việt Nam hay đến thế, duyên dáng đến thế, dễ thương đến thế. Đã lâu rồi tôi không có cảm xúc này khi xem phim Việt từ lần xem Chàng vợ của em (cũng là một phim ban đầu tôi không kì vọng nhiều nhưng xem thì thấy nó hay đến ngỡ ngàng, chạm vào cảm xúc của tôi một cách kì lạ) cách đó đúng một năm. Tôi thường ít khi thú nhận mình thích phim Việt nào, nhưng Chàng vợ của emTrời sáng rồi, ta ngủ đi thôi có lẽ nằm trong số ít ỏi phim Việt sản xuất những năm gần đây tôi có thể hăng hái đi khoe khắp chốn để mong chí ít là những người xung quanh mình có thể bớt đi chút thành kiến dành cho phim Việt; đặc biệt là với trường hợp Chàng vợ của em. Thế nhưng, Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi có lẽ mới chính là bộ phim mang đến cho tôi nhiều giá trị hơn bất cứ phim nào tôi từng xem trong đời. Nếu như thời điểm phim đang chiếu nhằm vào lúc tôi đã mở lại Facebook, chắc chắn tôi sẽ viết một bài khen phim đăng ở đây. Tôi vẫn nhớ vào thời điểm phim gặp khó khăn về doanh thu vì được xếp quá ít suất chiếu, tôi đã luôn băn khoăn việc mở lại Facebook để thể hiện sự ủng hộ của mình dành cho đoàn phim, để dụ dỗ thêm được người bạn nào xem thì hay chừng ấy. Nhưng rốt cuộc, tôi vẫn không mở lại Facebook. Đó là thời điểm tôi vẫn còn quá mệt mỏi. Thời gian này không hẳn mọi thứ đã tốt đẹp hơn nhưng về cơ bản có lẽ tôi đã học cách kiểm soát được cơn mệt mỏi một chút. Tất cả có lẽ là nhờ việc tôi đã tập guitar sau khi xem Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Đó là một việc rất quan trọng với tôi năm nay, đủ quan trọng để tôi nghĩ rằng nên viết nó trong bài note này, để khi trí nhớ trở nên kém cỏi hơn, tôi vẫn có thể tri ân bộ phim và khoảng thời gian ấy.

Ngày còn học đại học năm nhất, bộ phim nhạc kịch đầu tiên tôi phải lòng là Moulin Rouge! – đây là một câu chuyện đã trở nên quá cũ kĩ, nhàm chán với những người quen biết tôi nhưng tôi vẫn muốn nhắc lại ở đây. Sau đó, tôi đắm chìm trong một loạt các phim nhạc kịch khác: The sound of music, West Side Story… Vẫn còn rất nhiều phim nhạc kịch tôi chưa xem, tôi cũng không nhớ cơ sự vì đâu mà chuyện xem phim nhạc kịch của mình bị gãy đổ. Nhưng tóm lại, với tôi, một phim nhạc kịch hay là điều gì đó rất tuyệt vời, kiểu tuyệt vời thật hiển nhiên không cần phải chứng minh. Tôi cứ ngỡ ai cũng sẽ dễ dàng thích phim nhạc kịch giống tôi. Nhưng quả là nếu con số đó đông đảo thì phim nhạc kịch đâu chết yểu, thỉnh thoảng chỉ tìm lại được chút vinh quang trong vài phim lẻ tẻ chứ không rầm rộ cả một dòng như siêu anh hùng. Sau này, khi ra rạp xem phim nhiều rồi, chấm dứt chuỗi ngày chỉ xem trên màn hình máy tính nhỏ xíu ở nhà, tôi mới biết nguyên nhân người ta không thích xem phim nhạc kịch. Đó là một câu trả lời chung quen thuộc mà có lẽ mọi người đã nghe quá nhiều rồi: “Không hiểu sao đang nói chuyện bình thường tự nhiên hát, sao mà cứ hát suốt…” Trong một vài lần đầu tiên nghe những lời bình luận này, tôi có chút bực tức. Họ không nhận ra vẻ đẹp quá đỗi hiển nhiên của nhạc kịch hay sao? Nhưng lâu dần tôi cũng quen và chấp nhận, chỉ là đôi khi cảm thấy chút cô đơn. Việc người ta khó khăn để thích một phim nhạc kịch đến vậy rốt cuộc khiến tôi hiểu ra vỉ sao ngày xưa, thưở bé tí lúc tôi còn ôm nhiều mộng mơ với âm nhạc, tranh thủ hát mọi lúc mọi nơi, bất cứ khi nào có thể: trên đường lên xuống cầu thang, lúc tắm, lúc ngồi chờ mẹ nấu ăn, lúc làm những công việc tay chân lặt vặt… tôi đã bị mắng là khùng, điên, sao cứ suốt ngày hát như thế. Ngẫm lại thì việc đó cũng nào khác gì cách các nhân vật trong phim nhạc kịch hát mọi lúc mọi nơi. Nhưng tôi nghĩ, khi người ta còn hát được dù trong hoàn cảnh nào thì điều đó thật đẹp, thật đáng trân trọng. Tuy vậy, khi lên đại học, tôi khởi sự đọc sách nhiều hơn, mải mê theo đuổi những suy nghĩ trong đầu, từ lúc nào đó không còn hát nhiều nữa, tôi dần trở thành một nhân vật bình thường trong một bộ phim drama bình thường nào đó về cuộc sống, nơi mọi người không giải quyết vấn đề của mình bằng cách hát hò mà cứ chau mày, đi qua đi lại, vò đầu bứt tóc, máy động tay chân để nghĩ ra giải pháp. Vì vậy, tôi càng trân quý hơn khoảng thời gian được thưởng thức một phim nhạc kịch tuyệt vời nào đó đang chiếu rạp. Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi là một trong những phim như thế.

Tôi nhớ rằng trước khi bước vào rạp xem Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi, có chuyện gì đó đang khiến tôi rất buồn bã. Vậy mà khi xem xong phim, tôi bỗng nhiên cảm thấy mọi thứ có thể trở nên nhẹ nhàng hơn chỉ bằng cách ta cầm một cây đàn, tấu lên giai điệu nào đó và nhẹ nhàng hát vang. Vừa trở về nhà, tôi tức tốc vớ lấy cây ukulele đã lâu không đàn chỉnh lại dây rồi hát vu vơ. Không phải hát những bài hit đã được ai đó sáng tác trước đây, chỉ đơn thuần là ngay khoảnh khắc đó, tôi nghĩ gì trong đầu thì hát ra ngoài cũng như thế, còn hợp âm thì chọn vòng đệm rất cơ bản là C – F – G – Am hoặc C – Am – F – G, đôi khi có pha thêm Em, Dm – tóm lại là những hợp âm cơ bản trong giọng C. Cứ đàn hú họa và hát hú họa, ban đầu chẳng có gì ăn khớp với nhau, nhưng tôi chỉ hát cho một mình tôi, nào có ai lắng nghe mà tôi phải sợ hãi và đòi hỏi sự hoàn hảo nơi bản thân. Dần dà, tôi tự điều chỉnh lời, giai điệu đang hát cho khớp một chút với vòng hợp âm đang đệm, rồi trong lúc hát bậy hát bạ như thế, cũng có khi một vài giai điệu hay ca từ nảy ra khiến tôi khá hài lòng. Nhưng tôi đều không thu âm cũng như ghi chép lại lời. Tôi muốn những gì hát trong đêm đó sẽ ở lại trong đêm đó, sẽ chỉ là những thanh âm phù du như gió thoảng qua một vùng đất xa lạ. Bởi vì tôi biết chỉ cần cố gắng ghi âm lại, tôi sẽ bắt đầu vòng luẩn quẩn như trước đây, cảm thấy không hài lòng về chính bản thân mình, và lại chỉnh chỉnh sửa sửa, nó trở thành một công việc cực nhọc, toát mồ hôi hột, không còn niềm vui nữa, trong khi lúc ấy tôi đã quá mệt mỏi nhưng lại không muốn làm phiền ai, chỉ cần giãi bày trong âm nhạc là đủ. Hôm ấy, rốt cuộc tôi đã đàn đến bốn giờ sáng. Vào hôm sau đi làm, tôi rất mệt mỏi về mặt thể chất, người nóng ran vì ngủ không đủ giấc, mắt cứ lờ đờ, nhưng tinh thần tôi thì sảng khoái, vui tươi, không còn mỏi mệt nữa. Tôi bắt đầu cảm thấy mình có thể làm được rất nhiều việc. Hôm ấy làm xong tôi không đi la cà đây đó nữa, tôi chạy ngay về nhà đề tiếp tục đàn. Nhưng qua một đêm đàn ukulele từ mười hai giờ đêm đến bốn giờ sáng, tôi đã lại chán tiếng đàn quá vui vẻ của ukulele. Tuy nhiên, tôi cũng không thể đàn piano – nó đã bị hư ở thời điểm ấy. Tôi trộm nghĩ đến guitar – một nhạc cụ tôi đã từ bỏ rất lâu. Khi bắt đầu học guitar trong một tháng vào năm 2009, tôi đã nghĩ nó không hợp với mình, tôi chẳng đàn được bài nào cả vì đặt mục tiêu là đàn classic (lẽ ra lúc ấy tôi nên học đệm hát thì cơ sự ngày nay đã khác đi nhiều), thế nên tôi bỏ học guitar để quay lại chuyên tâm với piano. Nhưng guitar là một nhạc cụ tôi đã mơ ước có thể cầm đàn và hát từ hồi còn rất nhỏ, có lẽ từ cấp một hay cấp hai. Tuy nhiên, khi có cơ hội học đàn vào năm lớp Tám, tôi đã chọn piano. Tôi nghĩ mình phải tiếp xúc với âm nhạc một cách bài bản nhất qua piano rồi guitar thì có thể chờ lên đại học cũng được. Tôi đã không thất hứa với mình. Vừa đậu đại học, tôi lập tức làm hai điều: ghi danh học tiếng Nhật ở trường Đông Du và đăng kí học đàn guitar. Điều đầu tiên tôi đã kiên trì thực hiện đến cùng và tạm đạt được một cái đích, điều thứ hai tôi lại bỏ dở dang. Và điều thứ hai luôn khiến tôi canh cánh bên lòng. Trong suốt mười năm qua, có nhiều lúc hơi chán piano một chút, thi thoảng tôi lại cầm guitar lên, nhưng rồi lại buông xuống. Khi biết đàn ukulele một chút, tôi đã nghĩ như vậy là đủ rồi, giải tỏa được nỗi buồn vì không thể tập guitar được rồi. Nhưng ukulele là ukulele, guitar là guitar. Chỉ cách nhau số lượng có hai dây nhưng không cái nào thay thế được cái nào. Ukulele không có những quãng âm trầm, đục, buồn như guitar. Nếu như không có Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi, có lẽ đến giờ này, cây classic guitar mà chị hai đã mua tặng tôi năm 18 tuổi vẫn còn xếp xó ở một góc khuất đằng sau tủ quần áo, không được ai cầm lên, nâng niu, vuốt ve, cùng nó phiêu lưu vào thế giới âm nhạc. Dư âm của buổi tối hôm trước khi thức đến bốn giờ sáng ôm đàn ukulele hát ca vẫn còn đọng lại nhiều năng lượng tích cực trong tôi, khiến tôi nghĩ hay là hôm nay mình cứ thử cầm guitar lên và làm điều tương tự xem thế nào, dẫu sao cũng chỉ có mình tôi, không cần phải e ngại, ngượng ngùng sự thiếu hoàn hảo. Cầm guitar lên, tôi nhận ra mình chẳng nhớ một chút hợp âm nào ngày xưa từng được học, cho dù chỉ là hợp âm đơn giản. Tôi chỉ nhớ duy nhất thế bấm cơ bản của C. Dù ở piano hay guitar, C luôn là hợp âm đơn giản nhất, dễ nhớ nhất, là kim chỉ nam để tôi nhớ ra cấu trúc của một hợp âm trưởng, là thứ giữ cho ta khỏi đi lạc khi sắp xếp lại một quãng giọng trong trường hợp trí nhớ đã trở nên quá lẩn thẩn. Đôi khi, tôi ước gì mình cũng tìm được C cho cuộc đời mình. Nhưng không có C, cuộc đời tôi chỉ là những nốt nhạc cách nhau một cung rồi nửa cung hơi lộn xộn mà nhiều khi tôi phải cố gắng sắp xếp cho ra một trật tự nào đó.

Một người bạn từng nói với tôi rằng, khi bắt đầu tập guitar đệm hát, bài đầu tiên nên tập là Diễm xưa của Trịnh Công Sơn vì bài ấy vừa đơn giản, giai điệu vừa hợp với guitar, chưa kể điệu slow rock có thể giúp cả bốn ngón tay móc đều đặn và khi tập thì sẽ dần học cách nhớ dây bass của từng hợp âm. Khi đã tập được Diễm xưa rồi thì cứ thế tiến tới những bài khác của Trịnh Công Sơn mà cũng dùng điệu slow rock. Tôi đã từng thích nhạc Trịnh những năm cuối cấp hai rồi có một quãng thời gian bị ngắt giữa chừng ở năm cấp ba, đến khi học đại học, có thời gian tôi từng nghĩ mình không thích nhạc ông nữa vì một lí do có phần hơi trẻ trâu: Trịnh cứ dùng một số vòng hợp âm quen thuộc lặp đi lặp lại đến mức nhàm chán nên nếu bỏ đi phần lời rất thơ thì giai điệu của nhiều bài cứ na ná nhau. Tôi cho rằng đó là lười biếng nhưng khi ấy lại không chịu tìm hiểu kĩ hơn rằng cũng có rất nhiều người thường lặp lại vòng hợp âm mình yêu thích. Giờ đây tôi mới hiểu rằng lặp lại vòng hợp âm thì đã sao, quan trọng là sự biến tấu trong giai điệu, nhiều khi chỉ cần một chỉnh sửa nho nhỏ, một thay đổi trật tự đâu đó trong vòng hợp âm quen thuộc là ta đã có chút cảm giác khác biệt. Tôi có xem một video Taylor Swift hát live trên Youtube và phía dưới video đó có rất nhiều bình luận đem lại cho tôi cảm giác những con người ấy cũng giống hệt mình ngày xưa, họ mỉa mai rằng Taylor có một vòng hợp âm cứ dùng đi dùng lại mãi là G – D – Em – C.  Tôi lên Ultimate – Guitar xem qua một loạt hợp âm các bài của Taylor để kiểm tra sự tình thì quả là cũng đúng thật như vậy. Nhưng tôi lại có một cảm nhận khác, giống như bộ phận khán giả ở phía ngược lại với nhóm người chê bai: nếu chỉ dùng một số vòng hợp âm quen thuộc lặp đi lặp lại mà Taylor có thể sáng tác được rất nhiều bài hát thì cũng rất tài tình. Vậy nên, tôi trở lại bình thường với việc Trịnh Công Sơn cứ dùng đi dùng lại những hợp âm buồn quen thuộc như: Am, Em, Dm.

Tôi nhớ rằng năm lớp Tám, lúc bắt đầu học organ, ngay từ những ngày đầu tôi cũng đã có cảm tình với Am, Em, Dm khi chúng vang lên những âm điệu buồn da diết. Thực ra thì hợp âm thứ nào cũng sẽ như vậy thôi. Nhưng khi pha trộn giữa hợp âm trưởng và các hợp âm màu đúng nơi đúng lúc, chúng sẽ lại càng tỏa sáng hơn nữa những nỗi buồn rực rỡ. Tuy vậy, cũng là Am, Em, Dm nhưng khi đàn trên guitar lại cho cảm giác còn buồn hơn cả khi đàn chúng trên piano. Trong một lần lang thang một forum chỉ dẫn kinh nghiệm về đàn guitar, tôi nhớ có một bạn từng nêu ý kiến rằng hợp âm Am, Em là hai hợp âm sẽ vang lên đẹp nhất khi đàn trên guitar. Theo cảm nhận của riêng cá nhân mình ở thời điểm hiện tại, tôi cũng đồng tình với ý kiến ấy. Vậy nên, chả trách sao Trịnh Công Sơn cứ viết những bản tình ca buồn với Am, Em khi ôm đàn guitar. Vào buổi tối khởi sự tập Diễm xưa, tôi cũng mê mẩn thanh âm của Am khi rải điệu slow rock. Tôi không nhớ mình đã đàn Diễm xưa bao nhiêu lần nhưng khi chưa thuần thục lắm, tôi đã vội chuyển sang một bài khác của Trịnh Công Sơn, rồi một bài khác nữa, một bài khác nữa vẫn của ông. Rốt cuộc, hôm đó tôi cũng đàn đến tầm ba bốn giờ sáng. Hôm sau cũng vậy, hôm sau nữa cũng vậy. Việc không tập đi tập lại một bài hát trong cùng một buổi khiến tôi không chán dù có một giai đoạn tôi cảm tưởng như bài nào cũng hơi đàn được một ít nhưng rốt cuộc không đàn được bài nào ra hồn. Tuy nhiên, chính đặc điểm cứ dùng một vòng hợp âm quen thuộc của Trịnh Công Sơn hóa ra lại giúp ích cho tôi rất nhiều. Dù tôi đàn nhiều bài khác nhau của ông nhưng thực chất chỉ dịch chuyển tay trái chừng ấy hợp âm. Sau khoảng gần một tuần, tôi bắt đầu quen với cách dịch chuyển những hợp âm cơ bản đó và “bùm”, bỗng nhiên tôi đàn được cùng lúc rất nhiều bài của ông, chưa kể là còn những bài pop của nhiều người khác cũng dùng hợp âm tương tự như thế. Khi đó, tôi tạm biệt ông với sự biết ơn trong lòng và bắt đầu tập những bài tôi thích trong phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Tôi không nhớ đã tập những bài trong phim mất bao lâu nhưng suốt cả tháng Mười, gần như hôm nào tôi cũng thức đến hai ba giờ sáng để tập đàn lung tung bất cứ bài nào chợt nghĩ đến, và trong bất kì buổi tập nào, bao giờ tôi cũng đàn trước nhất những bài hát trong Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi như một nghi thức, một lễ chào cờ, một sự tri ân rồi mới bắt đầu những bài khác.

Khi đàn được hơn một tuần, những ngón tay trái của tôi bắt đầu xuất hiện những vết chai. Càng đàn, chúng càng trở nên dày hơn và bắt đầu bong tróc, nhìn có vẻ ghê ghê nhưng trong lòng tôi lại thấy rất vui, đó là bằng chứng tôi đã luyện tập tích cực dù rằng có một hôm, khi phải gõ bàn phím để viết một bài review sách thật dài, tôi cảm thấy rất đau ngón tay, mỗi một kí tự được gõ ra là một lần đau. Tôi nhớ rằng khi tập đàn piano rồi hôm sau có gõ bàn phím, tôi cũng không đau tay như thế. Piano không làm đau những đầu ngón tay mà chỉ làm mỏi cổ tay khi tập lâu nhưng qua một giấc ngủ là tiêu biến. Tuy nhiên, cảm giác đau đó quá nhỏ nhoi so với niềm vui mà guitar mang lại cho tôi. Tôi thích ngửi mùi gỗ trên cây đàn, chạm vào một lượt những đường cong mềm mại nơi thùng đàn, ngồi ôm nó vào lòng và bắt đầu đệm lên những giai điệu. Khi đàn guitar nhiều hơn, tôi mới phát hiện ra những động tác để đàn nó tạo ra sự tiếp xúc thân mật hơn so với piano: dù đàn đứng hay ngồi thì thân thể bạn cũng tiếp xúc với guitar nhiều hơn. Trong khi đó, piano lại khá tách biệt so với người đàn: ta chỉ tiếp xúc nó qua mười đầu ngón tay và một bàn chân để giậm pedal. Với guitar, tay bấm hợp âm của bạn trước tiên phải nắm chặt cần đàn; như vậy, so với piano là được thêm phần tiếp xúc ở lòng bàn tay; và tay còn lại để rải hay quạt dây thì cũng phải tì thêm một phần khuỷu tay vào thùng đàn; nếu như ngồi đàn thì phần thùng đàn còn tiếp xúc với đùi của ta nữa. Biết rằng so sánh như thế này thì có hơi khập khiễng nhưng tôi nghĩ rằng xét về độ quấn người thì guitar giống như một chú chó thân thiện luôn muốn được ôm ấp, còn piano thì giống như một cô mèo kiêu kì, đòi hỏi sự tiếp xúc ở mức độ tinh tế, nhẹ nhàng vừa phải. Thời điểm ấy, tôi đã quá mệt mỏi nên guitar cho tôi cảm giác thân tình hơn là piano và tôi cứ thế bấu víu vào nó. Nhưng tôi vẫn dùng piano để dò hợp âm và nó cho tôi cảm giác tự do, thoải mái hơn guitar rất nhiều. Nhạc cụ nào cũng có một loại cảm giác đặc thù riêng.

Đầu tháng Mười một, tôi phải tạm gián đoạn việc tập guitar trong chín ngày. Tôi nhớ rằng khi ngồi một mình trên chuyến bay ra Đà Nẵng, với nhạc Billie Eilish vang lên trong tai, mắt nhìn ra khung cửa sổ ngập mây nhuộm vàng trong buổi chiều, đầu ngón tay cái của tôi đã liên tục chạm vào bốn ngón tay trái bị chai đi rất nhiều khi tập đàn. Tôi cứ chạm mãi và phát hiện rằng mình nhớ cảm giác khi đàn guitar rất nhiều, nhiều hơn tôi tưởng. Bốn đầu ngón tay cứng ngắc như được dán keo sắt đó tựa thể vết tích của một cuộc tình. Tôi không muốn nó biến mất. Và rồi, tôi bắt đầu lo sợ sau khi kết thúc chuyến đi thì bốn ngón tay này đã mềm lại. Tôi cứ quẩn quanh trong những suy nghĩ đó, về guitar, âm nhạc, những bài hát tôi viết từ năm cấp hai từng khao khát một lúc nào đó thu âm có beat đàng hoàng mà đến nay vẫn chưa thực hiện chỉ vì tôi lười, và những chuyện khác nữa… Tôi nhớ rằng mỗi sáng tỉnh dậy, tôi đều chạm vào bồn đầu ngón tay đó. Và bây giờ thì tôi biết rõ hơn mình muốn làm gì rồi. Không phải cho một tương lai quá xa. Chỉ trong một năm trước mắt này thôi. Tôi muốn dành thời gian để thực hiện điều bản thân đã luôn khao khát được làm từ những năm cấp hai. Tôi muốn lại một lần nữa nghe theo điều trái tim mách bảo và thật chuyên tâm thực hiện nó. Xét theo lí trí, tôi biết đây không phải là điều mình giỏi nhất, như nhiều người cũng từng nói, nó không dành cho tôi, tôi nên tập trung làm việc từ trước đến giờ tôi vẫn luôn làm tốt nhất. Khi tự vấn bản thân, tôi biết rằng sâu thẳm trong lòng, tôi vẫn muốn một lúc nào đó còn có thể viết thêm một tiểu thuyết nữa, nhiều nhiều tiểu thuyết nữa tôi đã ấp ủ từ lâu. Tôi vẫn nhớ cảm giác say sưa khi miệt mài theo đuổi một câu chuyện trong suốt quãng thời gian dài, tỉ mẩn viết ra nó là như thế nào dù nó đã lùi quá xa trong kí ức của tôi, đã bảy năm rồi tôi không viết thêm được một tiểu thuyết nào nữa, nhưng tôi vẫn nhớ cảm giác khi hoàn thành tuyệt vời như thế nào. Giống như trong lời bài hát They can’t take that away from me. Đó là một thứ cảm xúc tinh khôi như mối tình đầu khó quên mà tôi nghĩ rằng dù có mắc bệnh Alzheimer, tôi vẫn nhớ nó với một sự tiếc nuối mơ hồ khôn ngần đâu đó trong tiềm thức. Nhưng tôi đã quá mệt mỏi rồi. Hiện tại tôi không còn đủ trí lực để xây dựng những câu chuyện dài hơi nữa. Nghĩ đến việc viết tiểu thuyết đã trở thành một điều gì đó thật sự mệt mỏi, đau đớn dù đầu năm nay tôi đã cố gắng xốc lại tinh thần, lập ra danh sách những tác phẩm cần phải đọc để lấy tư liệu, tham khảo trước khi viết, lại còn đã nghĩ ra gần xong cả dàn ý sơ lược nữa. Nhưng cuối cùng, ngay cả việc đơn giản hơn việc viết là đọc tư liệu mình đã lập danh sách chuẩn bị tôi còn không làm nổi thì huống gì là viết. Cuối cùng, đến mùa thu năm nay, tôi đã quyết định sẽ không cố gắng cho việc viết nữa. Tạm thời trong năm sắp tới đây là như thế. Nói vậy không có nghĩa là tôi chọn âm nhạc như một cách để thoát li việc viết. Bản thân hai việc này tách biệt nhau hoàn toàn. Dù tôi có mệt mỏi, chán nản với việc viết hay không thì sớm muộn gì, tôi cũng muốn thực hiện điều tôi của năm cấp hai ngày đó đã luôn khao khát. Huống hồ, bây giờ cũng không còn là sớm nữa, gần như đã có chút hơi muộn. Nhưng không sao, muộn còn hơn là không bao giờ. Tôi không muốn phụ lòng tôi của ngày đó khi tôi của ngày nay đã tạm có đủ chút ít phương tiện, kiến thức ở mức cơ bản để làm điều tôi của ngày đó luôn muốn làm. Có thể những gì tôi sắp làm trong thời gian tới sẽ không cho ra một sản phẩm hoàn chỉnh đúng nghĩa, nhưng tối thiểu tôi sẽ cố gắng để nó trở thành những bản ghi âm nghe tạm ổn, ít tạp âm như vật chứng cho một thời tôi đã từng viết nhạc say sưa đến vậy dù không biết gì về nhạc lí; và mai này, lỡ có chuyện gì xảy ra, tôi cũng sẽ không hối tiếc vì đã hoàn thành được ý nguyện ngày xưa rồi.

Cuối cùng của cuối cùng: mỗi lần sử dụng Facebook, lướt qua News Feed của mọi người, cảm giác là một loser lại hiện diện lên rõ rệt trong tôi. Khi không dùng Facebook, trong đời sống thường nhật, tôi đã có cảm giác loser. Dùng Facebook chỉ càng khuấy đậm hơn cảm giác đó. Vậy nên, tôi biết rằng để lại Facebook sẽ không thể nào tập trung làm việc được vì còn phải mất thời gian đấu tranh với sự tự ti trỗi dậy bên trong. Tôi sẽ lại deactive thêm một thời gian dài nữa. Hi vọng lần tới, khi reactive Facebook, lúc đó, tôi đã hoàn thành được kha khá sản phẩm. Tôi không muốn đây lại là một dự định dở dang. Trời ơi, tôi muốn làm nhạc.

Một lần nữa, cảm ơn đoàn làm phim Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi. Cảm ơn vì đã truyền cảm hứng cho tôi rất nhiều. Với tôi, việc biết đàn guitar đệm hát trong năm nay thật sự là một món quà quý giá, một sự cứu rỗi.

Ngoài ra, việc tôi có thể tiếp tục đàn, sắp tới là làm beat và thu âm những bài sáng tác ngày xưa, là một phần rất lớn nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình, vô vị lợi của T. và K. Cảm ơn hai bạn rất nhiều. Tôi không biết phải viết gì để diễn tả sự biết ơn trong lòng mình. Mọi lời hoa mĩ đều là thừa thãi và đều không đủ. Tôi nghĩ việc đáp trả thiết thực nhất mà tôi có thể làm là cố gắng viết nhạc tốt hơn để không uổng công hai bạn đã dành thời gian dạy nhạc cho tôi. Cảm ơn rất nhiều, thật lòng cảm ơn…

Tôi cũng muốn cảm ơn tất cả những người bạn, những anh chị em, đồng nghiệp… đã dành cho tôi nhiều sự chân thành, tử tế trong năm qua và những năm trước đây.

Cảm ơn vì tất cả.

Kodaki   

Đọc bài viết

Từ Sách đến Phim

Destruction Babies – Sự đơn sắc của gam màu hủy hoại

Họ – những destruction babies, đều có màn ra mắt khán giả bằng một hành vi tồi tệ đã thành thói quen. Theo tiến trình của bộ phim, mức độ tồi tệ ngày càng gia tăng, và khi đạt đến đỉnh điểm, bộ phim kết thúc.

Published

on

By

Destruction Babies (có nơi dịch tiêu đề tiếng Anh của phim là Distraction Babies, ở bài viết này, tôi sử dụng tiêu đề Destruction Babies) là một trong số ít phim những năm gần đây khiến tôi rất băn khoăn về nội dung dù rằng tình tiết phim không khó hiểu, không có những yếu tố thường dễ đánh đố người xem như: thời gian đa tuyến, gián điệp, điều tra, giấc mơ trong giấc mơ, những sự kiện phi tuyến tính… Không, Destruction Babies không có những yếu tố ấy. Ngược lại, phim dễ hiểu một cách đáng ngờ. Câu chuyện của phim đơn giản đến mức có thể sẽ khiến bạn phải ngẩn ngơ tự hỏi “chỉ có thế thôi ư” sau khi phim kết phúc.

Toàn bộ phim có thể dễ dàng tóm gọn như sau: một thanh niên manh động thích lấy chuyện bạo lực làm trò vui. Chỉ đơn giản như thế. Tôi nghĩ rằng phim sẽ lí giải vì sao Ashihara Taira – cậu thanh niên mới mười tám tuổi ấy lại thích đánh nhau như vậy. Tôi thậm chí còn tưởng tượng một cốt truyện kiểu như Chí Phèo của Nam Cao lúc chỉ mới thoạt xem qua trailer. Nhưng Destruction Babies không đưa ra bất cứ lời giải thích nào, cũng như Taira không hề có bất cứ khoảnh khắc nào hành động khác đi ngoài sự phá hủy, ở anh không hề có chút dịu dàng hay yêu thương. Chuyện đánh người vô cớ của Taira khiến tôi nhớ đến tiêu đề một bộ phim có sự tham gia của James Dean: Rebel Without a Cause. Tôi không còn nhớ nội dung của Rebel Without a Cause nhưng quả thực, hành động của Taira đúng là nổi loạn vô cớ. Điều ấy khiến tôi tự hỏi đạo diễn Mariko Tetsuya làm phim này với mục đích gì? Vì không trả lời được câu hỏi ấy, tôi cảm thấy mình không thể hòa hợp với Destruction Babies. Hay nói cách khác, tôi cảm thấy mình không thể thích nó. Dù vậy, tôi vẫn muốn viết vài dòng về phim để lưu lại những suy nghĩ của mình trong lúc này.

Destruction Babies có khá nhiều cảnh long take và những cảnh long take này thường nằm ở vị trí quan trọng trong câu chuyện. Tuy vậy, những cảnh long take trong phim không phải thuộc dạng có chuyển động máy phức tạp khiến khán giả dễ trầm trồ về kĩ thuật của người quay. Phần lớn các cảnh long take của Destruction Babies đều giữ máy ở một góc cố định hoặc chỉ di chuyển khung hình đôi chút: những cảnh Taira đánh người thường được quay theo kiểu này. Tôi nhận thấy việc giữ long take thay vì cắt ghép liên tục trong cảnh chiến đấu đã tạo ra không khí phảng phất cảm giác tài liệu, nó cho phép người xem quan sát những khoảnh khắc yếu ớt của nhân vật trong nhịp điệu thong thả, nó không tách rời chủ thể với bối cảnh xung quanh là những căn nhà, những người đi đường nán lại nhìn – điều này lại càng khiến ta cảm thấy những cuộc đánh nhau của Taira là vô nghĩa như bất kì cuộc đánh nhau nào ta đã có dịp chứng kiến trên đường phố. Vì thế, các cảnh đánh nhau trong phim không mang màu sắc thường thấy như những cảnh tương tự trong phim hành động.

Tôi không rõ kịch bản Destruction Babies tuân theo kiểu cấu trúc nào. Chắc chắn, phim không theo cấu trúc ba hồi, lại càng không thể là cấu trúc hai hồi. Trong tầm hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi tạm xếp phim vào cấu trúc một hồi (có thể phim thuộc dạng cấu trúc nào đó đã được phân loại nhưng tôi không biết) với kiểu câu chuyện về sự suy thoái (thuật ngữ là fall down hoặc descending story – nếu tôi nhớ không nhầm). Tuy nhiên, kiểu câu chuyện suy thoái theo truyền thống thường sẽ cho nhân vật ở một điểm xuất phát tốt đẹp và càng đi đến kết thúc, nhân vật càng tồi tệ hơn; tương tự, kiểu câu chuyện về sự vươn lên (rise up hoặc ascending story) sẽ vận hành theo hướng ngược lại. Thế nhưng, trong Destruction Babies, ngay từ khởi điểm, Taira đã luôn là một người thích đánh đấm, Yuya đã luôn là một người thích trêu đùa kẻ khác, Nana thì lại luôn ăn cắp vặt... Họ - những destruction babies, đều có màn ra mắt khán giả bằng một hành vi tồi tệ đã thành thói quen. Theo tiến trình của bộ phim, mức độ tồi tệ ngày càng gia tăng, và khi đạt đến đỉnh điểm, bộ phim kết thúc. Vì vậy, xét Destruction Babies vào kiểu câu chuyện suy thoái sẽ có phần đúng và sẽ có phần sai: đúng ở chiều vận động theo hướng đi xuống của nhân vật, sai ở sắc thái đối nghịch lẽ ra phải có của một câu chuyện suy thoái thì trong Destruction Babies lạichỉ có sự đơn sắc của gam màu hủy hoại. Sự đơn sắc vốn là điều các nhà kể chuyện thường tránh nhưng ở Destruction Babies dường như đây lại là thứ đạo diễn Mariko Tetsuya cố tình tạo ra. Với Destruction Babies, quá khứ và tương lai của nhân vật đã bị loại bỏ, trở thành thứ không quan trọng, chỉ có hiện tại mục rữa là điều duy nhất hiện diện.

Một trong những cảnh tôi thích nhất phim chỉ đơn giản là cảnh long take góc toàn từ trên cao cho thấy hình ảnh chiếc xe chạy qua một khúc cua trong đêm tối. Khi ấy, nhạc nền lại là bản nhạc đã được sử dụng trong cảnh toàn long take đầu phim giới thiệu quang cảnh ban ngày của thành phố cảng nơi Taira sinh sống. Khúc nhạc có tiết tấu hỗn loạn ấy được sử dụng cho điểm bắt đầu của cả hai cuộc hành trình: một khởi sự vào ban ngày, một khởi sự vào đêm tối, dường như đang có ý thực hiện phép so sánh thông qua điểm chung giữa góc máy và âm nhạc. Tuy nhiên, cảnh trong đêm tối lại gợi cảm giác buồn bã nhiều hơn. Không hiểu sao nó khiến tôi nghĩ đến On the road dù rằng tôi cũng chẳng còn nhớ nội dung cụ thể của quyển sách ấy. Có lẽ là tinh thần tuổi trẻ cứ miệt mài lao đi trong đêm tối, ngỡ rằng có thể đến bất cứ nơi đâu cho đến khi dừng chân lại mới phát hiện mình vẫn đang ở một điểm chẳng khác biệt mấy so với điểm khởi đầu. Cũng giống như ánh sáng phát ra từ chiếc xe khi mờ khi tỏ qua những hàng cây, cho đến một góc khuất nào đó, luồng sáng của nó hoàn toàn tắt ngúm trong tầm mắt người quan sát.

Tôi rất thích diễn xuất của Yagira Yuya trong phim này. Tôi có thể thấy được sự điên dại trong ánh mắt, nụ cười của anh. Vai diễn của Suda Masaki trong Destruction Babies không có nhiều điểm khác biệt so với vai diễn của cậu trong Drowning Love (cùng sản xuất năm 2016); vì vậy, tôi không đặc biệt ấn tượng lắm với cậu trong phim này. Komatsu Nana vẫn hoàn thành tốt vai diễn của em. Destruction Babies khiến tôi nhớ đến một phim ngắn em từng tham gia: There Is No Tomorrow (2016). There Is No Tomorrow cũng nói về sự nổi loạn. Trong phim ấy, Julien Levy định nghĩa sự nổi loạn là “mong muốn có được thứ gì đó lớn lao hơn sự tồn tại” (This insurrection is about expecting more from existence). Tôi tự hỏi, những bạn trẻ trong Destruction Babies liệu có mong muốn điều gì đó tương tự như thế không. 

Điểm đánh giá: 5/10
Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng