Trà chiều

Pom Poko, một ngoại lệ của đạo diễn Takahata Isao (Studio Ghibli)

“Pom Poko” là bức tranh môi trường vừa cảm thương vừa hài hước, vừa tang tóc vừa lạc quan đến đáng ngạc nhiên của đạo diễn Takahata Isao.

Published

on

Trong vũ trụ Ghibli, nếu ví đạo diễn Miyazaki Hayao như mặt trời rạng rỡ thì đạo diễn Takahata Isao lại là ánh trăng uy huyền. Mỗi người một vẻ, có lúc cách biệt đến gần như đối lập. Miyazaki là bậc thầy của thế giới tưởng tượng kỳ ảo, công thần kiến tạo nên những tác phẩm đầu tiên giúp Studio Ghibli tỏa sáng trên trường quốc tế. Ngược lại, con đường của Takahata chân thực và đậm đà bản sắc Nhật Bản hơn, dường như không hề lay chuyển trước sự xâm nhập của văn hóa Tây phương. Hai vị đạo diễn thoạt trông không có điểm nào chung, vậy mà đã kề vai sát cánh qua hơn 30 năm cho đến tận lúc Takahata lìa trần. Tình đồng nghiệp trở thành tri âm tri kỷ, bởi dù khác biệt cách mấy, cuối cùng Miyazaki và Takahata vẫn đồng lòng chia sẻ những giá trị tư tưởng cốt lõi. Trong số đó, lời tự vấn về trách nhiệm của con người đương thời trước thiên nhiên chính là nỗi niềm đau đáu nhất.

Từ trái qua: Đạo diễn Miyazaki Hayao và đạo diễn Takahata Isao (1990).

Công chúng có thể dễ dàng nhận ra sự trân trọng và tận tâm hai ông dành cho môi trường xuyên suốt cuộc đời làm phim. Yếu tố thiên nhiên được cài cắm thường trực và dày đặc trong mọi tác phẩm Ghibli, bất chấp phong cách kể truyện khác biệt của hai nhà sáng lập. Ngay từ thuở ban đầu, Miyazaki đã khiến khán giả phải trầm trồ trước khung cảnh ngút ngàn và xanh mướt của bìa rừng mùa Hạ trong My Neighbour Totoro (Hàng xóm tôi là Totoro). Dù vậy lúc bấy giờ, thông điệp sinh thái chưa hẳn là linh hồn tác phẩm của ông, cũng chưa phải đề tài chủ điểm của Ghibli. Sáu năm sau, Takahata Isao mang đến một trải nghiệm hoàn toàn mới – Pom Poko (平成狸合戦ぽんぽこ). Đây mới thực sự là dấu mốc cho thấy Ghibli đã bước hẳn hai chân vào chủ nghĩa môi trường. Bộ phim có sự tham gia đóng góp ý tưởng của Miyazaki, là tiền đề và hình mẫu để ông xây dựng Princess Mononoke (Công chúa Mononoke) về sau.

Cảnh báo: Nội dung dưới đây tiết lộ một phần nội dung phim.

Một cách nghĩ khác về mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người

Gần một thập kỷ kể từ ngày thành lập Studio Ghibli, Takahata Isao làm mới kho tàng điện ảnh của mình với tác phẩm Pom Poko. Dù ra mắt vào năm 1994, truyện phim tái hiện bối cảnh nước Nhật trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế thần kỳ từ 20 năm trước đó. Pom Poko bắt đầu với phong cách phim tài liệu nhằm tăng tính hiện thực, vai trò dẫn truyện do bầy tanuki1 được nhân cách hóa đảm nhiệm. Bằng vài câu tóm lược, tanuki cho biết giống loài chúng đang chịu sự đe dọa trực tiếp từ dự án mở rộng độ thị lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản:

“Những ngày này, nhu cầu về nhà ở cận Tokyo bùng nổ. Rất nhiều đất nông nghiệp, lâm nghiệp biến mất trong làn sóng không thể kiểm soát được. Tokyo lớn dần, ăn mòn đất đai như một con côn trùng khổng lồ. Vào năm 1967, hội đồng thành phố nảy ra ý tưởng xây dựng khu ngoại ô Tokyo mới với tên gọi Tama New Town. Hơn 300.000 người định cư trên diện tích 3.000 hecta. Rừng bị xóa sổ, đồi bị san phẳng và các thung lũng bị lấp đầy; các đồn điền, cánh đồng biến mất, trang trại cũ bị dỡ bỏ. Đồi Tama biến thành một công trường xây dựng khổng lồ.”

Nhu cầu nhà cận Tokyo tăng cao dẫn đến đất rừng bị lấn chiếm, đe dọa sự sinh tồn của động vật hoang dã mà tanuki là một trong số đó.

Vốn yêu thích cách cắt dựng cô đọng và tối giản, hiện trạng này được Takahata Isao khắc họa qua những hình ảnh giàu tính ẩn dụ: một chiếc máy xúc đất khổng lồ trong cảnh toàn đang nuốt chửng nửa quả đồi Tama; chiếc lá cây bị những con sâu mọt do máy móc xây dựng cách điệu ăn mòn; Đức Phật Thích Ca cùng các tiểu tăng đang xây cất thành phố tí hon như một trò chơi mô hình.

Trong mắt bầy tanuki, con người từ chỗ là “đồng loại” thú vật nay đã tiến hóa thành một thế lực khủng khiếp. Tuy nhiên, Takahata không liên hệ loài người với quỷ dữ mà qua màng lọc ngây thơ của tanuki, nhân loại “có lẽ còn quyền lực hơn cả thần Phật.”

Vậy nên bầy tanuki vẫn dành sự tôn trọng nhất định cho loài người trong Pom Poko. Chúng luôn sống gần gũi, bắt chước triệt để cách con người sinh hoạt (xem ti vi, ăn bánh kem sinh nhật, uống nước tăng lực…). Khi xung đột nổ ra, để bảo vệ nòi giống và lãnh thổ, chúng kháng cự lại theo đúng bản năng. Dẫu vậy, mọi cấp độ của cuộc chiến kéo dài này đều giống một trò chơi cười ra nước mắt hơn là cách mạng thật sự.

Sau trận đánh du kích đầu tiên khiến con người mất mạng, bầy tanuki tụ họp để làm lễ tưởng niệm cho chính kẻ thù của mình. Ở hồi cao trào, khi ba vị sư phụ tanuki xuất hiện để giải cứu Shikoku, phép thuật thượng đẳng của các ngài cũng không phải để tấn công trên diện rộng. Thay vào đó, bầy tanuki chỉ đơn thuần muốn dọa nạt loài người bằng cách tái hiện mọi loại hình văn hóa ma quái cổ truyền.

Ba vị sư phụ tanuki cũng mang trong mình nét giao hòa độc đáo giữa tính hiện đại và cổ truyền, đúng như cách hiểu của thế giới về con người Nhật Bản.

Ngay cả nhân vật tanuki hiếu chiến và nóng nảy nhất (Gonta) cũng phải thừa nhận không thể hủy diệt toàn bộ loài người. Bởi lẽ nếu con người chết hết, nền ẩm thực Đông Tây giao hòa dọ họ sáng tạo cũng sẽ biến mất. Tanuki sẽ không còn được ăn pizza, hamburger hay tempura nữa!

Nhiều hoạt cảnh dí dỏm và sinh động là điểm nhấn thú vị mà phải đến Pom Poko, Takahata Isao mới có cơ hội thể hiện.

Từ góc nhìn phúng dụ và hóm hỉnh như vậy, Takahata cho khán giả thấy được quan điểm của ông về nhiệm vụ bảo tồn sinh thái. Ông giữ thái độ khách quan, tiết chế; trình bày chuỗi sự kiện một cách trung lập, không phán xét. Con người trong Pom Poko dù là đại diện cho chủ nghĩa tư bản hiện đại đang ồ ạt xâm lấn, tàn phá môi sinh nhưng vẫn có nét đáng cảm thông. Công bằng mà nói, trong bánh xe tiến hóa, loài người cũng đơn giản là đang cố làm điều họ thấy tốt nhất cho sự sinh tồn của giống loài mình.

Phải nhắc lại rằng, thời điểm bộ phim ra mắt là khi nền kinh tế bong bóng sau Thế Chiến II của Nhật Bản vừa tan vỡ. Văn minh phương Tây tràn vào, thay đổi hoàn toàn cuộc sống của cư dân xứ Phù Tang từ cả bên ngoài và bên trong. Họ phải lao động vất vả để phục hồi tài chính gia đình, đồng thời chao đảo trên ranh giới nhận thức giữa hai thời kỳ lịch sử quan trọng. Trưởng thành ở giai đoạn này, Takahata Isao thấu hiểu lựa chọn khó khăn mà đồng bào mình phải đưa ra – hủy diệt thiên nhiên để phục hưng kinh tế, tái kiến thiết đất nước. Ông đã dùng lời của tanuki Shokichi để thể hiện sự đồng cảm: “Cuộc sống thành thị khiến hầu hết tanuki căng thẳng và mơ ước được trở về rừng. Con người làm tôi không khỏi ấn tượng. Chắc họ phải có sức chịu đựng ghê gớm lắm.”

Takahata Isao không cổ xúy nhưng cố gắng nhìn nhận người dân Tokyo lúc ấy bằng con mắt nhân văn. Ta có thể thấy rõ điều này qua một phân đoạn cảm động ở hồi kết phim: Trong nỗ lực cứu vãn tình thế cuối cùng, bầy tanuki xếp thẳng hàng trên chiếc máy xúc, dồn hết năng lượng để biến vùng đồi hoang Shikoku thành cánh rừng bạt ngàn của ngày xưa. Những tòa chung cư sụp đổ, những cánh đồng trở lại. Trẻ con lại xách vợt cùng nhau đi bắt bướm. Mái nhà cổ hiện ra giữa khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Con người chứng kiến ảo ảnh về thời xa vắng, khi họ thơ bé và cha mẹ vẫn còn tại thế. Quá khứ cũng được tái hiện với cả bầy tanuki. Chúng òa khóc vì nhận ra hình ảnh bản thân thuở nhỏ, khi rừng xanh chưa biến mất và cuộc sống còn tốt đẹp. Tanuki cuống cuồng lao xuống, nhưng ảo ảnh tan biến. Ở đây có một chi tiết rất đẹp: chúng không tìm lại được ngày xưa mà chỉ thấy lũ trẻ loài người đang vẫy tay chào. Dù bấy giờ đã bị đánh cho tan tác, bầy chồn vẫn gập mình chào đáp lễ con người một cách nhã nhặn trước khi quay đầu chạy về rừng.

Trong mỹ học cổ truyền Nhật Bản có khái niệm wabi-sabi (侘寂), một thái độ chấp nhận sự bất toàn, gồ ghề và nhiễu loạn của cuộc sống như nó vốn thế. Ở đoạn kết của cuộc chiến chống lại con người, những chú tanuki của chúng ta đã đạt đến wabi-sabi. Chúng hiểu rằng thế giới hạnh phúc xưa cũ đã bị con người phá vỡ, không thể vãn hồi. Tanuki cuối cùng chọn cách hoán dạng, hòa mình vào xã hội loài người, cố gắng chung sống với họ trong hòa bình. Ngược lại, dù muộn màng, con người cũng bắt đầu lo bảo tồn thiên nhiên qua việc lắng nghe nỗi khổ của tanuki, chừa đất làm công viên cho chúng sinh sống. Đó là sự nhượng bộ lẫn nhau, dòng luân chuyển linh hoạt cho phép đôi bên cùng phát triển, cũng là thông điệp chủ đạo của nhà làm phim.

Nếu không cách nào cản được bánh xe công nghiệp hóa, chúng ta sẽ làm gì?

Bộ phim kết thúc với cảnh bầy tanuki ít ỏi còn lại tụ tập trong công viên, vẫn cùng nhau nhảy múa hát ca dù cuộc sống nhiều khó khăn. Tanuki Ponkichi đã nhìn trực diện vào ống kính máy quay và đối thoại với người xem: “Bạn thường nghe bản tin nói rằng cáo và tanuki đang dần biến mất vì sự phát triển đô thị phải không? Tôi mong đến lúc nào đó, loài người các bạn sẽ không phải nói vậy nữa.”

Khi nói về Takahata Isao, nhiều người ắt sẽ hình dung ngay đến một nghệ sĩ nghiêm cẩn, bảo thủ, yêu thiên nhiên và say mê bản sắc truyền thống Nhật Bản. Vậy nên quan điểm ông thể hiện trong Pom Poko chắc chắn đã gây bất ngờ. Ai mà tin được Takahata lại có thái độ cởi mở với các học thuyết bảo tồn sinh thái đậm chất phương Tây đến thế! Năm 2003, tác giả Alex Steffen2 lần đầu mang đến ba định nghĩa về thái độ bảo vệ môi trường: Light Greens, Dark GreensBright Greens. Trong đó, Bright Greens là nhóm có tư tưởng lạc quan về tương lai nhất; họ xem những thay đổi cấp tiến trong kinh tế và chính trị là cần thiết để hướng tới phát triển bền vững. Tuy nhiên, sự phát triển này cần dựa trên nền tảng các thiết kế và công nghệ thân thiện với môi trường. Năm 1994, có lẽ Takahata Isao không thể tưởng tượng được rằng ông đã tự kết nạp bản thân vào cộng đồng Bright Greens thông qua câu chuyện Pom Poko.

Sau này, tinh thần trung lập và cởi mở với vấn đề môi trường được Miyazaki tiếp nhận, tái hiện trong Princess Mononoke. Cách nhìn của hai vị đạo diễn đại diện cho tư tưởng chung của Studio Ghibli từ đó trở đi, nhất quán rằng con người và thiên nhiên là yếu tố hòa quyện, không thể tách rời. Họ chọn hy vọng và cảm thông thay vì bài xích gay gắt. Họ chọn tin khi văn minh nhân loại phát triển đến mức bão hòa, con người sẽ tự động nhận ra hủy hoại thiên nhiên là giết chết chính mình. Hai bên không còn đối địch mà sẽ nâng đỡ lẫn nhau.

Những biển báo “chú ý thú hoang” kèm minh họa tanuki được dựng lên sau nhiều vụ chúng bị cán chết dọc đường đi kiếm ăn.

Sự lạc quan và trìu mến ấy chính là điểm đặc biệt làm nên thương hiệu Ghibli, cũng là biến đổi đáng kể trong tư tưởng của đạo diễn Takahata Isao kể từ sau tấn bi kịch Grave of the Fireflies (Mộ đom đóm) (1988). Thay vì gồng lên thể hiện theo cách đao to búa lớn, Takahata khắc sâu nỗi cảm thương về sự mất mát của thiên nhiên mà tanuki là đại diện qua dàn cảnh đẹp mắt, tỉ mỉ. Từng mùa trôi qua mang theo những cảnh sắc tuyệt mỹ mới, mỗi cành cây, mỗi cánh hoa trên phông nền đều được khắc họa sao cho chân thực nhất. Tổng thể câu chuyện gói gọn trong bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông và bốn nguyên tố Đất – Nước – Lửa – Khí, không thừa không thiếu. Chính bởi lẽ đó, Pom Poko dễ dàng làm lay động trái tim của không chỉ trẻ em mà cả những khán giả lớn tuổi giàu trải nghiệm nhân sinh.

Từ thời kỳ Duy Tân, bộ máy cầm quyền của Nhật Bản đã hiểu rằng nếu muốn thay đổi vận mệnh quốc gia, tất cả phải bắt đầu từ giáo dục. Khi Ghibli sản xuất Pom Poko, có lẽ đây cũng là một trong những tiêu chí quan trọng nhất. Bộ phim phải truyền tải được thông điệp hai chiều về môi trường, giúp công chúng Nhật Bản có cái nhìn toàn diện về cái giá phải trả cho nền công nghiệp hóa, đô thị hóa. Chẳng cách giáo dục nhận thức nào hiệu quả hơn phương pháp tiếp cận vào xúc cảm chân thành, mộc mạc; không khiên cưỡng, không màu mè. Với Pom Poko, Takahata đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ấy.

Pom Poko – Một ngoại lệ không xa lạ

Trong gia tài điện ảnh của Takahata Isao, Pom Poko có lẽ là tác phẩm vừa lạ vừa quen. Lạ bởi đây là lần đầu tiên và cũng là duy nhất Takahata làm phim từ góc nhìn của động vật chứ không phải con người. Mặt khác, Pom Poko cũng hội tụ nhiều yếu tố giả tưởng, kỳ ảo hơn toàn bộ số phim còn lại của ông. Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ chủ nghĩa Tân hiện thực Ý, Takahata vốn nổi tiếng với cách kể truyện trần trụi, chi tiết và sắc lạnh đến mức tàn nhẫn. Grave of the Fireflies theo đuổi đề tài phản chiến có thể khiến những trái tim băng giá nhất cũng phải rung động; trong khi Only Yesterday (Chỉ còn ngày hôm qua) (1991) khắc họa chân thực nội tâm và những hồi ức tế vi của người phụ nữ trong xã hội Nhật Bản đầu thập niên 1990. Hầu hết phim của Takahata đều được nhận xét là dễ dàng chuyển thành live-action3 vì rất giàu tính hiện thực. Pom Poko rõ ràng là một ngoại lệ, có thể khiến khán giả phải hoài nghi rằng: “Đây rút cục là Takahata hay Miyazaki trá hình?”

Thế nhưng nếu chiêm nghiệm bộ phim đủ kỹ lưỡng, ta vẫn nhận ra được bản sắc Takahata Isao không thể nhầm lẫn. Bởi trong số các thành viên gạo cội của Studio Ghibli, ông là người nặng lòng với văn hóa Nhật Bản nhất. Pom Poko từ phút đầu tiên cho đến cuối cùng, rất rõ ràng, chính là xứ Phù Tang thu nhỏ của riêng Takahata. Gần như mọi đặc trưng văn hóa cổ truyền Nhật đều được khai thác trong phim, không theo cách này thì cách khác.

Pom Poko dễ bị đánh giá sai, đặc biệt là trong mắt những người không quen “tiêu hóa” các giá trị thuần túy Nhật Bản. Bộ phim mở màn bằng bài dân ca về tanuki, sau đó không lâu thì dàn ra ngay một trận đấu hội tụ đủ các yếu tố võ thuật điển hình nhất của Nhật như Kendo, Sumo, Judo,…

Xuyên suốt hơn 100 phút tiếp theo, khán giả được thưởng lãm mọi loại hình nghệ thuật cổ đại. Những lễ hội tổ chức theo nghi thức Thần đạo với màu sắc sặc sỡ; đàn dây Shamisen, chuông, trống rộn ràng; đoàn người nườm nượp nhảy múa với quạt giấy sensu và mặt nạ kịch Noh; lồng đèn cá chép bốn con bay phấp phới trong gió. Hàng loạt điển cố nổi tiếng được kể lại, từ cung thủ Nasu no Yoichi4 đến sự tích loài cáo – đệ tử trông coi ngôi đền của các vị thần; tượng Jiro rải rác trên đường rừng, bao quanh vô số miếu thờ thần núi. Các nhân vật trong tác phẩm của họa sĩ Utagawa Kuniyoshi5 và vô số các nhân vật ma quỷ, thần linh trong truyền thuyết,…

Khi thiên nhiên bị hủy hoại, không chỉ mình bầy tanuki gặp nguy hiểm. Thế nhưng chúng gần như là loài vật duy nhất được Takahata chọn để gửi gắm diễn ngôn điện ảnh. Khác loài cáo vốn đã rất quen mặt trong nền văn hóa đại chúng, tanuki gắn liền với những sự tích chỉ thuộc về nước Nhật. Chúng ăn tạp, lém lỉnh và nghịch ngợm, thích trêu đùa con người bằng phép hoán dạng. Vào thế kỷ 17, tanuki thường xuyên xuất hiện trong tranh của các họa sĩ trường phái Ukiyo-e với dấu hiệu nhận dạng là cặp tinh hoàn cỡ bự, có thể giãn rộng bằng diện tích của tám chiếc chiếu tatami!

Takahata Isao nhiều lần nhắc đến đặc tính sinh dục nổi tiếng của loài tanuki bằng góc nhìn vừa nghiêm túc vừa hóm hỉnh trong phim.

Đặc tính thú vị này cũng được Takahata khai thác triệt để trong Pom Poko. Tuy nhiên, nếu các nghệ sĩ sau thời Edo thường né tránh bàn tới khía cạnh sinh dục và liên hệ “hòn bi” tanuki tới việc cầu tài nhiều hơn, thì vị đạo diễn lại đề cập trực diện mà không ngại ngần. Takahata tổ chức cho chúng hệ thống sinh hoạt mô phỏng chính xác xã hội loài người, mặt khác cũng cố gắng giữ lại mọi yếu tố hoang dã. Tanuki ngoài đời thật được ghi nhận là loài sinh nở tốt, có thể đẻ tới tám con trong một lứa.

Trận chiến tại Yashima là trận cảm tử lớn nhất của tanuki, được sư phụ tanuki Tazaburo Hage chứng kiến và khóc thương cho những chiến binh tử trận. 999 tuổi, đã chứng kiến đủ những vui buồn trên đời, ngài tanuki quyết định làm một buổi lễ để giã từ thế giới. Ngài biến tinh hoàn mình thành một con thuyền khổng lồ, phủ đầy châu báu để linh hồn tanuki có nơi neo đậu.

Con thuyền trôi về phía hạ lưu trên dòng sông Tama, tan biến dần dưới ánh trăng, đưa lũ chồn về cõi Niết Bàn trong tưởng tượng. Cánh buồm họa chữ Bảo (宝) kiêu hãnh giương mình trong gió, chở theo những vong linh tanuki đang ca múa tưng bừng. Bầy tanuki còn sống vội vã chạy tới bờ sông tiễn biệt và cầu nguyện. Chúng dõi mắt theo để mong được thấy Đức Phật vẫy tay gọi từ Niết Bàn.

Oái ăm thay, đó là lý do Pom Poko thắng lớn tại quê nhà, nhưng lại không tạo được tiếng vang với công chúng quốc tế. Tác phẩm đã được gửi đi tranh giải Oscar cho phim nước ngoài xuất sắc nhất năm 1995 nhưng không giành nổi suất đề cử. Chỉ khi Spirited Away (Vùng đất linh hồn) của ông bạn già Miyazaki ẵm giải Oscar cho Phim hoạt hình xuất sắc nhất vào năm 2003, người ta mới sực nhớ Ghibli vẫn còn một tuyệt tác khác từng xuất hiện tại đây. Ngôn ngữ điện ảnh bảo thủ và chậm rãi của Takahata Isao đã trở thành giai thoại trong xưởng phim, khiến những người cộng tác lâu năm nhất cũng phải nhức đầu. Thái độ làm nghề khắc kỷ qua mấy mươi năm là cách Takahata Isao tuyên bố chắc nịch với khán giả rằng: Tôi không cần nổi tiếng mà cũng không cần giải thưởng! Tất nhiên ở đây có mặt lợi, cũng có mặt hại. Với Pom Poko, nếu cách tiếp cận mềm mại hơn một chút, lẽ ra thông điệp mới mẻ của ông về mối quan hệ giữa con người với môi trường đã lan tỏa được xa hơn thế.

Lời kết của người viết:

Ngày bác Takahata Isao mất, điều mình tiếc nuối nhất là vẫn chưa đủ khả năng viết bài phân tích phim Pom Poko. Hẳn nhắc tới phim bác thì ai cũng bật ra Grave of the Fireflies hay The Tale of the Princess Kaguya (Câu chuyện về công chúa Kaguya), nhưng với riêng mình, Pom Poko mãi mãi là di sản trù phú nhất mà Takahata Isao đã để lại.

Mình xem Pom Poko lần đầu từ 10 năm trước cùng chị gái, người đã nhận định: “Lý do duy nhất khiến Pom Poko không có vị thế xứng đáng ở tầm quốc tế là vì phim quá Nhật Bản.” Từ ấy, mình đã xem đi xem lại Pom Poko tổng cộng năm lần. Mỗi lần lại có thêm nhiều trải nghiệm mới. Năm 20 tuổi, mình chỉ thấy Pom Poko là một bộ phim hay. Năm 25 tuổi, mình biết đây là một kiệt tác. Mình hăm hở muốn viết về phim nhưng vẫn rén tay. Pom Poko đơn giản mà phức tạp, dễ yêu mà khó hiểu. Quả thực là cái Đẹp khiến ta e dè mổ xẻ. Sau đó, mình học lớp phê bình phim của TS Đào Lê Na. Bài tập tốt nghiệp rất ngắn gọn: “Phân tích một bộ phim Nhật Bản hoặc Việt Nam đương đại yêu thích.” Có câu trả lời nào rõ ràng hơn không? Mình đã trì hoãn nguyện vọng này trong nhiều năm. Bây giờ mình tham gia cả một lớp học để thực hiện, mình phải làm được chứ!

Mình đã làm được thật, dù là phiên bản còn nhiều thiếu sót. Thật ra mình muốn tỏ ra hóm hỉnh hơn cho khớp với tinh thần của bác Takahata Isao trong phim, nhưng càng viết càng thấy không thể đùa được. Mình cũng muốn có thể viết sâu hơn nữa, vì cứ đến ẩn dụ nào thú vị là lại bị cuốn đi không dừng được, mà Pom Poko lại có thừa ẩn dụ như thế. Chôn cả năm rồi, chắc cũng đã đến lúc mang ra đây để cảm ơn cô Na rất nhiều vì không chỉ tận tình hướng dẫn mà còn tạo động lực để em tự hoàn thành lời hứa với mình. Điện ảnh rất vui ạ!

Hết.

Chú thích:

  1. Tanuki (狸) – Người viết giữ lại cách gọi này vì tanuki là động vật đặc thù của Nhật Bản, không có tên gọi riêng chính xác ở các ngôn ngữ khác. Mặc dù có hình thức tương đối giống chồn, lửng chó, gấu chó và đôi khi được gọi là gấu trúc Nhật Bản, tanuki là một loài riêng biệt. Trong truyền thuyết cổ đại của Nhật, một số tanuki có thể làm phép hoán dạng, thích trêu ghẹo con người bằng khả năng này.
  2. Alex Steffen (1968): Nhà vận động và tác giả bảo vệ môi trường theo thuyết vị lai người Mỹ.
  3. Live-action: Thể loại phim người đóng.
  4. Nasu no Yoichi (1169 – 1232) là một samurai đặc biệt nổi tiếng với tài thiện xạ trong trận Yashima vào năm 1184.
  5. Utagawa Kuniyoshi (1797 – 1861) là một trong những bậc thầy vĩ đại cuối cùng của nghệ thuật in khắc gỗ theo phong cách Ukiyo-e Nhật Bản.

Hải Âu

Bài viết được xuất bản trong sách Điện ảnh Nhật Bản và Việt Nam đương đại: Giao lưu văn hóa và ảnh hưởng, do TS Đào Lê Na hướng dẫn.

Ảnh: Studio Ghibli, Japan Times, Filmmisery.


Có thể bạn sẽ thích?





2 Comments

2 Bình luận

  1. Pingback: Ngưng giả vờ như thể chúng ta không biết rằng tận thế do biến đổi khí hậu đang đến – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Vì sao chúng ta lập bản cam kết đầu năm? (và vì sao ta thường thất bại trong việc thực hiện chúng)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Published

on

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)
Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái bị chàng phụ bạc đã chết - phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton - người bảo trợ của Dorian - đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm, ông kết luận có hơn 50% người Mỹ đặt ra những lời cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman - nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina - được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” - những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại: “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt - những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất - 82% so với mức sàn - diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất - 150% so với mức trung bình - được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng - là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 7 – Ngạo mạn: Nhân sư thành Thebes (Hy Lạp)

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Ngạo mạn.


Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx «sfihngks» - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực. Với người dân Ai Cập, nhân sư đóng vai trò như một biểu tượng hơn là một thực thể độc lập. Nó là thần bảo vệ, người canh giữa các kim tự tháp, là kẻ giáng đòn trừng phạt lên kẻ thù của thần mặt trời Ra. Nó cũng đại diện cho các pharaoh và sức mạnh thần thánh của họ. Đôi khi, khuôn mặt của tượng nhân sư được chạm khắc hoặc sơn vẽ giống với một vị pharaoh cụ thể.

Trong văn minh Ai Cập cổ đại, sphinx - hay nhân sư - là sinh vật thần thoại với phần thân sư tử và đầu người, chim ưng hoặc cừu đực.

Hình tượng nhân sư có xuất xứ từ Ai Cập hoặc Ethiopia; nhưng sau khi “đặt chân” đến Hy Lạp cổ đại, hình dáng và tính cách của sphinx có nhiều biến đổi. Vào những năm 1.600 TCN, tượng nhân sư lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp nói riêng và văn hóa Hy Lạp nói chung. Sphinx được miêu tả là loài quái vật với thân hình sư tử, đầu và ngực của một người phụ nữ, đôi cánh của đại bàng và (theo một số người) đuôi rắn.

Trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật sphinx nổi tiếng nhất xuất hiện tại thành Thebes. Một ngày nọ, nó bay lên đỉnh tường thành và ngạo nghễ hỏi toàn thể thanh niên Thebes một câu đố: “Cái gì buổi sáng đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân, tối đi bằng ba chân?”. Bất cứ ai trả lời sai đều hóa thành bữa ăn trong bụng sphinx. Con đường dẫn tới nơi ở của nhân sư rải đầy xương của những kẻ xấu số.

Thời điểm bấy giờ, sau cái chết của vua Laius, Creon đang tạm thời nhiếp chính. Vẫn chưa một ai trả lời đúng câu hỏi, và người dân thành Thebes đang chết dần. Mong muốn tống khứ được con quái vật này đi bằng mọi giá, Creon tuyên bố trao vương quyền và gả vị hoàng hậu đang góa bụa Jocasta cho người anh hùng giải được câu đố của sphinx.

Cuối cùng, Oedipus - người đang chạy trốn khỏi Corinth - đã giải được câu đố. Đáp án của chàng là một con người:

Giai đoạn bình minh cuộc đời, một đứa trẻ phải bò bằng bốn chân (tay và đầu gối).

Khi trưởng thành như mặt trời ban trưa, con người đi bằng hai chân.

Nhưng vào buổi hoàng hôn của cuộc đời, người già phải chống gậy, đi bằng ba chân.

Oedipus đã giải được câu đố.của nhân sư thành Thebes.

Sau khi nghe câu trả lời của Oedipus, sphinx đã gieo mình từ bức tường thành Thebes và chết trong tuyệt vọng và nhục nhã.

Hình tượng nhân sư rất phổ biến trong nghệ thuật thời Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp thường tạc đầu nhân sư lên các bia mộ để xua đuổi những kẻ trộm mộ. Chúng cũng xuất hiện trên bình gốm, tranh khắc. Nhìn chung, tồn tại khá nhiều diễn giải về hình tượng nhân sư: trong khi một số người coi chúng là biểu tượng của sự hung hãn và bạo lực, một số khác lại xem nhân sư là đại diện của tri thức toàn năng và túi khôn của thời cổ đại.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Đọc bài viết

Trà chiều

Kỳ 6 – Ghen tị: Quỷ sống Hashihime, đừng đùa bỡn với tình cảm của phụ nữ

Published

on

Tuần Halloween này, hãy cùng Bookish tìm hiểu 7 “sinh vật huyền bí” với nguồn gốc và hình tượng minh họa cho Thất Đại Tội (Seven Deadly Sins): Tham lam, Thù hằn, Tham ăn, Lười biếng, Trụy lạc, Ghen tị và Kiêu ngạo.


Bị thiêu đốt bởi ghen tuông và oán hận, một người đàn bà đã dùng ý chí của mình để cầu xin thánh thần phù trợ, tự biến mình thành một con quỷ sống - nữ quỷ của thịnh nộ và chết chóc. Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Quay ngược về nước Nhật cổ đại - trước khi chữ viết xuất hiện, từ “Hashihime” từng được dùng để chỉ nữ thần bảo trợ những cây cầu bắc qua sông. Nhật Bản thời bấy giờ (và kể cả ngày nay) là nền văn hóa vật linh; những yếu tố thiên nhiên hiện thân thông qua các linh hồn thiện và ác. Các kỳ quan của thiên nhiên - như bách niên đại thụ hoặc chỏm đá kỳ dị - đều được bảo trợ bởi các vị thần gọi là Kami. Các con sông cũng vậy, đặc biệt là các con sông lớn, là nơi trú ngụ của thần linh.

Những cây cầu bắc qua sông lớn giống như con dao hai lưỡi. Chúng cho phép người dân di chuyển giữa hai bờ để giao thương buôn bán, nhưng cũng tạo điều kiện để kẻ thù tấn công. Vì thế, bất cứ cây cầu nào có kích thước đáng kể đều được cho là nơi sinh sống của thần hộ mệnh Hashihime. Nàng đóng vai trò như một người gác cổng, cho phép đồng minh đi qua và ngăn chặn kẻ thù xâm nhập.

Hình tượng “yokai” Hashihime tồn tại từ thời Heian, là một trong những sinh vật bạo ngược và quyền năng nhất trong gia tài thần thoại Nhật Bản.

Không ai biết rõ nguyên nhân vì sao hình tượng nữ thần Hashihime lại biến thành nữ quỷ Hashihime. Một trong những lý giải là sự ra đời của thiên sử thi “Heike Monogatari” (Chuyện kể về Heike). “Heike Monogatari” - tương tự những câu chuyện được sáng tạo và truyền miệng qua nhiều thế hệ trước khi ngôn ngữ viết ra đời - có rất nhiều dị bản. Nhân vật chính là nàng Hashihime vùng Uji. Nàng là một tiểu thư xuất thân cao quý, nhưng chẳng may bị người chồng trăng hoa lừa dối (một số dị bản kể rằng nàng bị bỏ bê khi chồng nàng lấy được người vợ thứ hai)1. Trong cơn tị hiềm mù quáng, Hashihime đã cầu viện đến sự trợ giúp của thánh thần đền Kifune, tự biến mình thành một con quỷ sống để trả thù.

“Bị vây hãm trong đố kỵ, nàng đã hành hương đến ngôi đền Kifune và toàn tâm toàn ý cầu nguyện. Trong bảy ngày liên tục, nàng chỉ ước một điều duy nhất: 'Hỡi vị Kami vĩ đại và quyền uy của đền Kifune, xin ngài ban cho tôi sức mạnh của ác quỷ khi tôi vẫn là con người bằng xương bằng thịt. Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.'

Vị Kami đền Kifune đã chú ý đến tâm nguyện của Hashihime và thấu hiểu mong muốn của nàng. 'Ta đã bị cảm hóa bởi sự chân thành trong lời ước của ngươi. Nếu ngươi muốn trở thành một con quỷ sống và hóa thân thành giống loài hung ác, hãy đi đến sông Kawase ở Uji. Thực hiện nghi lễ ta dạy cho ngươi, và sau đó ngâm mình trong làn nước sông. Hãy làm điều này trong 21 ngày.'

Vị nữ quý tộc này đã nghe thấy lời đáp của thánh thần. Nàng tìm được một nơi vắng vẻ, nơi nàng làm theo đúng chỉ dẫn của Kami. Đầu tiên, nàng xoắn những lọn tóc dài của mình thành năm chiếc sừng. Sau đó, nàng mài chu sa thoa lên mặt và dùng màu vẽ đỏ tươi thoa lên cơ thể mình, cho đến khi nàng trở nên đỏ rực như quỷ dữ trong truyền thuyết. Cuối cùng, nàng đội lên đầu một chiếc đinh ba chạc, và cắm vào đó ba ngọn đuốc bằng gỗ thông cháy phừng phực. Giữa hai hàm răng, nàng nghiến chặt thêm hai ngọn đuốc.

'Xin cho tôi trở thành một sinh vật ác liệt, để bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng vặn vẹo trong nỗi kinh sợ. Xin cho da thịt tôi đỏ rực tựa như ngọn lửa ghen tuông đang phập phùng trong tim tôi. Hãy để tôi được tàn sát.' - Trích lời cầu nguyện của Hashihime.

Quá trình chuẩn bị đã hoàn tất. Với ngọn đuốc sáng rực trong đêm thâu, nước da đỏ rực và trên đầu đội vương miện bằng sắt, nàng xuôi về phía nam đến Yamato-oojidori. Ngoại hình của nàng chẳng khác quỷ quái là bao; ai ai nhìn thấy nàng cũng đều gục xuống, chết khiếp trước cảnh tượng kinh hoàng này. Cuối con đường là con sông Kawase, nơi người phụ nữ ngoan ngoãn ngâm mình dưới làn nước. Như lời Kami đền Kifune hứa hẹn, sau 21 ngày, nàng đã hoàn toàn biến đổi thành một con quỷ sống trong thân xác phàm trần.

Bằng cách này, Hashihime đã trả thù gã đàn ông phụ bạc, cùng tất cả họ hàng thân thích và gia nhân của hắn. Cơn thịnh nộ của nàng không có ranh giới. Khi nàng giết đàn ông, nàng hóa thân thành phụ nữ. Khi nàng giết phụ nữ, nàng lấy dung mạo là đàn ông. Nàng trở thành nỗi kinh hoàng của người dân thị trấn; không một ai dám bước chân ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.”

*

Trong “Heike Monogatari”, điểm khiến Hashihime trở nên đặc biệt là nàng trở thành quỷ khi vẫn đang “còn sống”. Nàng không cần cái chết hay sự tái sinh để biến thành một sinh vật siêu nhiên. Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, cái chết có tác dụng biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến motif nhân vật chính trả thù sau khi bị hại chết. Vì vậy, việc nàng Hashihime vùng Uji là một con quỷ “sống” đã tăng thêm mức độ ghê rợn của câu chuyện và hình tượng này.

Hết.

Mèo Heo dịch và tổng hợp.

Chú thích:

  1. Trong một số dị bản, nguồn cơn sự ghen tị Hashihime dành cho một nữ quý tộc khác không đến từ mâu thuẫn tình cảm.
Đọc bài viết

Cafe sáng