Phía sau trang sách

Lời thì thầm của cây

“Hãy bước ra ngoài kia, cầm cuốc xẻng lên để trồng một mầm non cho mai sau.”

Published

on

WHAT THE TREES SAY

Thomas Pakenham

Vào năm 1664, John Evelyn – nhà biên khảo, chủ đồn điền và cao ủy viên dưới thời vua Charles II đã xuất bản một cuốn sách phi thường về các loài cây: Sylva, or a Discourse of Forest Trees (Tạm dịch: Sylva, hay cuộc luận bàn về các rừng cây), một trong những cuốn sách được quan tâm bậc nhất thế kỷ 17. Evelyn thật sự là đứa con chính tông của thời Phục Hưng khi đó là cuốn sách đầy uyên thâm, sắc sảo, thực tế và nồng nhiệt dù ở khía cạnh nào; để rồi sau này không một tác phẩm nào viết về thực vật lại có sức ảnh hưởng lên công luận nước Anh như thế. Thông điệp của ông? Một thông điệp thức thời: Chúng ta đang cần ghê gớm các loài cây; vì thế, hãy ra khỏi nhà, cầm xẻng lên, và bắt đầu gieo một mầm non.

Sylva, or a Discourse of Forest Trees
Ảnh: AbeBooks.com

Mặc cho những thảm họa đã khiến London tê liệt hai năm sau đó – trận đại dịch và đại hỏa hoạn – Evelyn vẫn sống sót để chứng kiến cuốn sách của mình được in lại đến bốn lần. Một thế kỷ sau, nó được tái bản và bổ sung thêm những minh họa chạm khắc mạ đồng thanh lịch cùng nhiều bình luận thấu đáo để cập nhật với thời đại hơn. Tiếp đến là những phiên bản gần đây nhất (rút gọn tên thành Sylva). Rất nhiều cây bút hiện đại cố gắng viết với tinh thần của Evelyn. Nhưng bằng một cách nào đó, Sylva vẫn nghiễm nhiên đứng đấy với một vị thế khó ai sánh kịp. Cứ như thế cho đến hiện tại. Hai cuốn sách mới nhất về các loài cây được đánh giá cao là The long, long life of trees (Tạm dịch: Một cuộc đời dài, rất dài của các loài cây)The hidden life of trees (Phương Nam Book đã dịch và phát hành tại Việt Nam với tựa đề Đời sống bí ẩn của cây). Với những phương thức khác nhau, chúng vẫn mang đậm “phẩm chất” Evelyn.

Một cuộc đời dài, rất dài của các loài cây viết bởi Fiona Stafford được đánh giá là tiệm cận nhất với tư tưởng Sylva. Đúng là Evelyn có sự mạo hiểm hơn trong việc chọn lựa giống loài cây để đi sâu khai thác miêu tả. Ông bao hàm một phạm vi rộng đáng kinh ngạc lên đến hơn 31 chi: từ những loài mới ở Bờ Đông Mỹ như sồi đỏ và thông Weymouth, cho đến những loài ngoại lai ở Anh như tuyết tùng Leban hay cây dâu tây Ireland. Trong khi đó, với cuốn sách của mình, Stafford khoanh vùng trong phạm vi an toàn hơn với chỉ 17 chi đại diện phổ biến trong các khu vườn, rừng cây và trên các bờ giậu rộng khắp Tây Âu và Bắc Mỹ như sồi, sung dâu, dẻ ngựa, sơn trà và nhiều loài khác. Nhưng thật may, những diễn giải của cô không phải là những luận điệu nhàm chán.

Stafford là giáo sư ngôn ngữ và văn chương Anh tại Đại học Oxford, cô thể nghiệm đa thể loại: từ tiểu thuyết, thơ ca, nghệ thuật cho đến môi trường. Bằng cách riêng mình, cô cũng là một học giả thông thái như Evelyn, và cô là một cây bút tiềm năng. Với cô, cây cối có ý nghĩa như thế nào? Theo lời Stafford, cuốn sách ra đời nhờ vào “cảm giác diệu kỳ” của cô hướng về cây cối. Cô ngưỡng mộ vẻ đẹp hình thể của chúng. Cô kinh ngạc bởi cách thức chúng sinh tồn. Và trên hết, có lẽ cô bị hút vào bởi nền văn hóa tổ chức lớp lang của chúng. Cô nhắc chúng ta nhớ rằng thật dễ dàng để coi nhẹ sự tồn tại của cây cối. Thế nhưng chúng ta phải làm nhiều hơn là chỉ đơn thuần ngưỡng mộ. “Hãy bước ra ngoài kia”, cô tiếp lời với thứ ngôn ngữ phảng phất âm điệu Evelyn, “cầm cuốc xẻng lên để trồng một mầm non cho mai sau.”

*

The long, long life of trees
Ảnh: GoodReads

Nếu trồng một cái cây mới, tôi tin chắc rằng lựa chọn đầu tiên của Stafford hẳn là một cây sồi. Hầu hết những người khôn ngoan đều không thể khước từ sức hấp dẫn của loài sồi thường gặp tại châu Âu, Quercus robur. Có bao giờ bạn bước chân vào Royal Oak? Stafford đang ám chỉ đến những quán bar Anh Quốc chứ không phải cây sồi nổi tiếng vùng Boscobel mà ở đó vua Charles II từng ẩn nấp sau trong trận thua Worcester năm 1651 trước cơn cuồng nộ của toán quân “kẻ đầu tròn”. Dĩ nhiên chuyện này dẫn đến chuyện khác, và ngày nay, số lượng quán bar Royal Oak hơn hẳn số lượng những quán bar khác, ngoại trừ Crown và Red Lion.

Trong chương viết về cây sồi, Stafford mở ra một lịch sử phức tạp về sự mê đắm của nước Anh dành cho loài cây này. Từ rất lâu trước cuộc trốn thoát nhiệm mầu của nhà vua ở Boscobel, sồi vốn đã là biểu tượng của quyền lực và sức mạnh xa xưa. Đó là loài cây của Zeus – vua của những vị thần. Đó là loài cây tiên tri xứ Dodona miền Hy Lạp, có thể đoán định trước tương lai. Augustus Caesar, người rất ý thức về hình ảnh của mình, cũng từng đối mặt đội quân La Mã khi mang trên đầu vương miện dân chủ lá sồi. Phẩm chất “nam tính” của cây sồi khiến nó là lựa chọn phù hợp cho biểu tượng của bất kỳ quốc gia nào, như Anh chẳng hạn, và tạo ấn tượng lấn át những người xóm giềng. Không quá khó để nó trở thành quốc thụ của đất nước này, mặc dù lời khẳng định trên không hẳn là chưa bao giờ bị thách thức. (Nhiều người dân yêu nước tại Anh chắc hẳn sẽ rất bất ngờ khi biết rằng từng có đến mười hai nước châu Âu khác và Mỹ xem nó như quốc thụ của họ.)

“Mạnh mẽ, kiên định và ngang tàng”, Stafford viết, “cây sồi luôn được ngưỡng mộ bởi nguồn năng lượng nội tại bền bỉ…. Không một loài cây nào bền lòng vững chí và hòa làm một với thế giới như nó. Không giống giẽ gai, dẻ ngựa hay sung dâu – những loài mà cành cây vươn đến bầu trời – thân sồi trưởng thành vững chắc, lởm chởm tỏa ra như vòng tay mở bán cầu dày lá.”

Những vòm lá trùng trùng điệp điệp này là nhà cho những sinh thể nhỏ hơn với số lượng đáng kinh ngạc: côn trùng, chim chóc, động vật, địa y, dương xỉ và nấm. Nếu ta tìm kiếm giữa những nhánh cây bám đầy địa y hoặc dương xỉ, ta cũng có thể bắt gặp cả chim ruồi, chim cổ đỏ và chim oanh tìm kiếm côn trùng; trong khi gõ kiến và cú nhỏ xây tổ trong những hốc rỗng trên thân. Một thân sồi lớn chứa đựng cả thế giới bên trong nó. “Sồi là Vua của các Loài Cây”, Stafford hào hứng viết, “là tinh thần, thể xác và môi trường sống của cả một nền văn minh”.

Một cây sồi lớn có thể tồn tại bao lâu? Không có khả năng đoán định chính xác, vì những cây sồi cổ xưa nhất thân đã bị rỗng, các đường vân gỗ cũng theo đó biến mất. Theo những ước tính khinh suất nào đấy (có cả của riêng tôi), nó nằm trong khoảng từ sáu trăm đến một nghìn năm. May thay, những cá thể sồi cổ tại Anh Quốc đã được ghi lại và miêu tả bởi Jacob Strutt trong cuốn sách tiên phong của ông, Sylva Britannica, được ấn hành lần đầu vào năm 1826. (Ông đã mượn một nửa tiêu đề từ John Evelyn.) Như một lẽ thường, phần nhiều loài cây cổ như sồi Yardley1, sồi Bull2 hay Cowthorpe3 – tất cả đã gục ngã hay đơn giản hơn, trở về tro bụi. Một vài trong số khác, như sồi Major4 ở khu rừng Hoàng gia Sherwood Forest, số phận của chúng đã cam chịu thành một kẻ tàn tật, được chống đỡ bởi những thanh nạng thép. Nhưng một vài trong số những cá thể nổi tiếng vẫn còn tồn tại.

Sồi “Majesty” ở công viên Fredville hạt Kent vẫn còn đứng vững, qua khoảng năm hay hay sáu trăm năm. Sồi Panshanger ở Hertfordshire mà Winston Churchill từng ngắm nhìn một thế kỷ trước vẫn còn hùng vĩ. Vĩ đại hơn cả là Sồi Bowthorpe5 ở Lincolnshire. Stafford miêu tả một cuộc viếng thăm của cô tới tạo vật ngàn tuổi này: “Tôi đồ rằng nó không dưới bảy trăm tuổi. Theo tính toán thì từ thế kỷ 18, thân cây đã rỗng đến mức không gian nội thất có thể dùng để đãi tiệc thịnh soạn cho tầm mười bảy người. Hiện nay, nó chỉ là nhà của một chú ngựa con và vài con gà. Nhưng người chủ sở hữu hào phóng vẫn mở cửa cho du khách viếng thăm.” Stafford tả lại những trải nghiệm ấy “như dời bước từ đời sống tầm thường để đắm chìm trong sự hiện diện của một tồn tại bất tử cổ xưa, gồ ghề nhưng lạ lùng thay, lại rất ấm áp.”

Quiver Tree Forest, Namibia; photograph by Beth Moon from her book Ancient Trees: Portraits of Time (2014). A collection of her color photographs, Ancient Skies, Ancient Trees, has just been published by Abbeville.

*

Một trong những chương hay nhất nói về một loài phổ biến và thường bị sỉ vả tại châu Âu – cây sung dâu. Stafford trích đăng một nhận định nổi tiếng của William Blake: “Không có ai nhìn thấy một sự việc theo cách thức giống nhau: Nếu một cái cây có thể khiến vài người nhỏ Lệ Cảm Động, thì với một số người khác, nó chỉ là một thứ màu xanh ngáng đường.” Liệu Black có nhớ tới loài sung dâu khi ông viết những dòng ấy? Tai tiếng của loài cây này chính bởi thói quen rụng thứ lá nhớp dính ngay trên vỉa hè hoặc đường ray, gây ra trì hoãn và tai nạn. Trong thực tế, “dịch ngọt” phủ trên lá sung dâu là một hỗn hợp sáp đậm đặc, giàu đường cùng chất thải của loài rệp vừng mà nó nuôi dưỡng. Danh sách những việc làm được cho là xấu xa của loài cây này chưa dừng ở đó. Stafford cho rằng, sung dâu là loài cây của sự “thừa mứa”.

“Vì nhiều lý do, sung dâu nhìn chung là một loài cây quá phóng khoáng. Nó phá hoại nhận thức tỉ lệ của con người, thậm chí dường như phơi bày sự lo âu đạo đức tiềm ẩn vì cái lối thừa mứa quá mức. Nó là loài cây đậm chất hoang phí: quá nhiều sáp, quá nhiều lá. Quá nhiều sung dâu, thật vậy.”

Hạt giống hình cánh cánh quạt của nó là cực hình với người làm vườn. Nó phá hoại thảm cỏ và cả khóm hồng. Tệ hại nhất, nó là loài “tầm gửi”, là một sinh vật ngoại lại xâm lấn, là kẻ xâm lược tàn độc từ Âu châu.

Stafford điềm tĩnh quan sát những cáo buộc trên và đưa ra những lập luận mạnh mẽ để bảo vệ chúng. Cô chỉ ra rằng loài sung dâu đã nhuộm sắc Anh quốc cả trăm năm trước, và trái ngược với thứ ảo danh huênh hoang này, số lượng của chúng vẫn không hề tăng trong nửa thế kỷ qua. Thật thế, chúng nằm gọn trong hệ sinh thái, khéo léo điều chỉnh số lượng và chiếm giữ không gian nơi các loài khác không phát triển mạnh. Chúng hào phóng theo cách tốt nhất. Chúng thêm nét thanh tao và sự an tĩnh cho bờ biển Yorkshire ảm đạm hay đảo đá Scotland. Để phản bác với những nhận định rằng chúng là những kẻ xâm lược ngoại lai, Stafford chỉ ra rằng đền thờ Thánh Frideswide tại giáo đường Oxford từ thế kỷ 13 đã khắc hình lá sung dâu năm thùy trên khối đá lớn mặt trước ngôi mộ. Điều này cho thấy, ở thời Trung Cổ, lá sung dâu là một biểu tượng của đạo Thiên Chúa, và có lẽ nó đại diện cho Thánh tích hay Năm Vết Thương của Chúa. Đánh giá từ những nghiên cứu hiện đại về phấn hoa hóa thạch cho thấy, có khả năng sau tất cả những lời đồn đoán, sung dâu là một loài bản địa.

Stafford tiếp tục chỉ ra rằng các nhà thơ mau mắn hơn người làm vườn trong việc coi trọng những phẩm hạnh của loài cây này. Cô trích dẫn một khảo cứu thi vị của John Clare về loài “sung dâu lộng lẫy” với tầng tầng những tán lá xanh đầy nắng. Những chiếc lá dinh dính, ông viết, là món quà to lớn của tạo hóa. Chúng ta phải lắng nghe những vần thơ “Những con ong hoan hỉ với đôi cánh háo hức,/ Dùng bữa trên những chiếc lá rộng cùng dịch ngọt phủ phê.” Stafford cũng đồng thời gợi nhắc chúng ta về bài thơ đắng cay ngọt bùi của Shelley Khúc ca gửi ngọn gió tây được viết dựa trên trải nghiệm của ông vào mùa thu năm 1819 khi lang thang trong những khu rừng sung dâu vùng Florence. Shelley ngập chìm trong cơn bĩ cực vì hai đứa con đã mất; và mùa thu năm ấy, chiếc lá sung dâu rơi đã gợi liên tưởng cho ông. Những chiếc lá khô bị đưa đẩy bởi ngọn gió tây – “Vàng hay đen, nhạt mờ hay đỏ thắm,/ Cả một bầy ôn dịch: ôi ngươi/ Kẻ đã đem những hạt giống trên trời”6. Nhưng những cái cây, ông hy vọng, sẽ sớm “tỉnh thức để tái sinh”. Ngọn gió tây đồng thời được coi như người phân phát hạt giống hồi sinh, nhưng cũng là bàn tay què quặt lấy đi lá rớt. Những chiếc lá úa hứa hẹn một cuộc hồi sinh: “Nếu Đông về, Xuân có ở sau chăng?”.

The Amorous Baobabs (Tạm dịch: Cây Baobab si tình), gần Morondava, Madagascar; được chụp bởi Thomas Pakenham trong quyển Những dấu mốc Thực vật (2002).

*

Trong chương về loài tần bì và cây dẻ ngựa, Stafford đưa ra những ghi chú ảm đạm hơn. Cả hai đều là loài châu Âu của chi toàn cầu, có tên khoa học lần lượt là Fraxinus excelsior và Aesculus hippocastanu, và đang bị đe dọa bởi hai căn bệnh chết chóc đến từ phương Đông. Trong thực tế, những cá thể phổ biến nhất tại châu Âu và Bắc Mỹ cũng đang đương đầu với những mầm mống diệt chủng Á châu này. Năm mươi năm qua, chúng ta đã mất rất nhiều cây du do loài nấm Trung Hoa được gieo rắc bởi bọ cánh cứng đẻ trứng nhiễm mầm bệnh dưới lớp vỏ cây. (Cái tên bệnh gỗ du “Hà Lan” dễ gây hiểu lầm – thực chất căn nguyên đến từ châu Á chứ không phải châu Âu.) Ngày nay những kẻ thù mới – gây bệnh sồi chết đột ngột, suy giảm gỗ sồi cấp tính, giẽ gai khô héo, cây dẻ ngựa ngọt tàn lụi – đang phá hủy phần lớn những công viên và khu rừng của chúng ta.

Vấn đề cấp bách nhất của châu Âu ngày nay là nấm Chalara, một loài gây bệnh khô ngược – khô cành và héo lá – ở cây tần bì, được cho là bắt nguồn từ châu Á vào thập niên 1990 trong những thùng gỗ hay gỗ lát pallet nhiễm nấm. Ở Đan Mạch, hơn 80% cây tần bì đã chết. Thảm kịch này đang vươn tay bao trùm Anh và Ireland và được dự đoán là sẽ gây ra mức độ tàn phá tương tự. Stafford chẳng có hi vọng nhiều nhặn gì để đối phó với Chalara. Có lẽ đã quá trễ để kiềm hãm chúng. Những biện pháp khống chế nên được áp dụng từ khi Chalara mới được phát hiện lần đầu ở Đông Âu. Và thậm chí nếu những biện pháp kịp thời phát huy tác dụng thì vẫn còn đó những nguy cơ tàn nhẫn hơn đến từ châu Á ẩn mình đằng sau Chalara – sâu đục thân ngọc lục bảo, Agrilus planipennis, một loài bọ cánh cứng xanh sáng Trung Hoa đã gậm nhấm nhiều khu rừng Bắc Mỹ. Vì thế Stafford để lại kết luận ảm đạm rằng không còn cách nào khác, và dù làm gì đi nữa chúng ta cũng sẽ phải mất gần như những cây tần bì và nhiều hơn nữa những “con đường lát gỗ thân quen, công viên cây xanh và những thị trấn không còn mái nhà, trơ trọi và trống rỗng.

Về cây dẻ ngựa, người ta tin rằng hơn nửa số loài ở châu Âu đã bị nhiễm vi khuẩn chảy máu hạt – một loại bệnh nhiễm gây ra dịch nhớt tiết quanh những vết thâm trên thân, và dần dần giết hại cả cây. Stafford đưa ra một góc nhìn tích cực đáng ngạc nhiên về mối nguy này. Cô cho rằng “bệnh chảy máu hạt dẻ ngựa giống như… một sự sợ hãi tâm lý hơn là một căn bệnh bằng xương bằng thịt. Giả chết dường như là một trò lừa gạt mà đám dẻ ngựa hẳn sẽ rất thích thú…” Tôi ước gì tôi có thể tin cô ấy. Ở Ireland, nơi tôi đang sống, những cá thể khỏe mạnh nhất trong công viên và những khu vườn đều đã ngã quỵ. Mỗi năm chúng tôi lại mất từ hai đến ba những cây lớn và kỳ vĩ nhất trong công viên. Không thể kháng cự, không một giải pháp.

Nhưng một tin tốt có thể đến tai và an ủi Stafford là sau tất cả đã xuất hiện cách giảm thiếu những hiểm họa này. Nếu tham vọng của chúng ta là phục sinh những loài cây đã mất, chúng ta có thể chọn những cá thể có cùng chi Trung Quốc, Nhật Bản hay Ấn Độ. Điều này có nghĩa ta sẽ có dẻ ngựa Himalaya, cây du Trung Hoa, tần bì Trung Quốc, cây sồi Nhật Bản và còn nhiều nữa. Những cá thể châu Á này tiến hóa song hành hàng triệu năm cùng những mối nguy có chung nguồn gốc. Ngày nay những cá thể này được cho là miễn dịch với nguồn bệnh – dựa theo ý kiến những chuyên gia tôi đã trò chuyện. Và tôi hy vọng rằng họ đúng. Dù sao đi nữa, tất cả sẽ thật rõ ràng chỉ trong vòng một trăm năm tới.

*

Đời sống bí ẩn của cây
Ảnh: Nhà sách Phương Nam Phú Xuân, Thừa Thiên Huế

Đời sống bí ẩn của cây từ Peter Wohlleben lại khai phá một lĩnh vực hoàn toàn mới, và John Evelyn chắc hẳn sẽ vô cùng hứng thú với những phát kiến này. Wohlleben là chuyên gia về rừng, đang làm việc tại cộng đồng địa phương ở Hümmel – một ngôi làng nhỏ trong rặng núi Eifel phía tây nước Đức. Trong nhiều năm dài, ông vốn làm quản lý những rừng giẽ gai, sồi, thông và vân sam với những dây chuyền hiện đại: chặt cây lấy gỗ khi chúng trưởng thành và khai thác gỗ bằng máy móc công nghiệp. Như ông nói, ông “biết nhiều về đời sống bí ẩn của cây tựa như một người đồ tể hiểu rõ đời sống tình cảm của động vật.” Nhưng dần dần, ông bắt đầu có một cái nhìn mới về những loài cây. Ông để ý thấy, những du khách thường sẽ ngưỡng mộ một cái cây mà theo ông là không có giá trị nào về mặt thương mại: cái cây càng vặn vẹo hay càng thô ráp, người ta lại càng thích chúng. Tình yêu riêng biệt ông dành cho tự nhiên – vết tích từ thời thơ ấu – lại được thắp sáng. Ông bắt đầu lưu tâm đến những dạng rễ kỳ quái và kiểu mẫu tăng trưởng khác thường. Ông viết, “Bất thình lình tôi nhận ra vô số điều diệu kỳ mà tôi khó có thể giải thích với chính bản thân mình.”

Trong khi đó một thế hệ khoa học gia mới cũng đang nghiên cứu về khu rừng địa phương của ông, bao gồm một nhóm từ đại học Aachen. Ở đó và ở Đại học Vancouver cách đó hơn năm ngàn dặm từ tỉnh lỵ British Columbia, những khám phá mới đã khiến Wohlleben kinh ngạc.

Cả hai nhóm đều phát hiện ra một hệ thống mạng lưới kết nối ngầm rộng lớn được gọi là một mycorrhiza, mà ở đó những loài nấm kết nối những giống loài khác nhau bằng những tín hiệu hóa học và xung điện trên những rễ cây. Đó là một mạng Internet truyền thông “wood wide web”. Thực vật có thể thật sự giao tiếp với nhau bằng cách chuyển đổi carbon thông qua rễ của chúng, sự trao đổi này dẫn đến một mối tương hỗ. Carbon là thức ăn của thực vật, được tạo ra từ quang hợp bằng cách sử dụng lá cây như một tấm pin mặt trời. Đôi khi cái cây nào đó sẽ đóng vai trò cai trị khu dân cư và phân phát cho những hộ khác nhiều carbon hơn số lượng chúng nhận lại, và sau đó vai trò sẽ được luân chuyển cho cá thể khác, cứ thế tiếp tục.

Khi sự tinh vi của mạng lưới ngầm vừa được khám phá, các nhà khoa học nhận thấy rõ ràng rằng thực vật không chỉ thu lợi bởi sự trao đổi thức ăn trong mạng lưới này. Chúng còn trao đổi các thông tin sống còn, cảnh báo những cây lân cận (và những cây con) những mối hiểm họa để rồi đưa ra giải pháp giảm thiểu mất mát. Lấy một ví dụ, nếu một lá cây bị ăn bởi một chú sâu bướm thì cá thể cây này sẽ gửi thông điệp thông qua mạng lưới mycorrhiza và cảnh báo các cây khác trong mạng lưới tiết ra những chất hóa học đẩy lùi loài sâu.

Về phía Wohlleben, những phát kiến này cũng đã xác nhận những điều trăn trở của ông, rằng: Bằng cách riêng mình, thực vật cũng có cảm xúc và chúng biết cách làm cách nào để giao tiếp với các cây khác, một kiểu lá lành đùm lá rách. Nhưng làm thế nào để đồng nhất điều này với thứ công việc đồ tể rừng xanh? May mắn thay, những cộng sự của ông – dân làng Hümmel, đều có bản chất yêu mến thiên nhiên như ông. Họ đồng ý từ bỏ nguồn thu nhập từ việc bán gỗ và xây dựng lên một khu bảo tồn thực vật trong rừng. Tất cả máy móc hạng nặng đều bị cấm. Khi một cái cây cần được đốn ngã, chỉ ngựa mới được cho phép sử dụng chuyên chở những khúc gỗ này. Khu rừng lại phát triển xanh tươi nhờ những quy luật hào phóng mới, và du khách đổ xô đến khám phá những phép màu này. Có lẽ chính nhờ nhận thức cao mà làng Hümmel tự mình tạo ra một thương vụ béo bở.

Đến nay Wohlleben vẫn tiếp tục làm việc với rừng. Mỗi ngày ông đều khám phá một điều mới mẻ: hiểu nhiều về cách chúng tồn tại và tàn lụi đi, về cách chúng sống đời thuận hòa với láng giềng xung quanh và với cả hệ sinh thái. Dĩ nhiên bây giờ ông là vị thần bảo hộ của khu từng hơn là một vị quản lý. Ông sáng lập những tour cứu hộ và sắp xếp một phần khu rừng như một địa mộ. Bây giờ, cuốn sách mới này làm ông thêm phần nổi tiếng một cách xứng đáng. Phiên bản tiếng Đức của nó nằm trong danh sách bán chạy nhất. Hơn hai mươi năm, những nhà khoa học đã luôn khám phá những điều bí ẩn bên dưới rễ cây và đi tìm cách chúng chia nguồn sống. Peter Wohlleben là người đầu tiên giải thích và phơi bày những phát kiến này. Ông lắng nghe cây, giải mã ngôn ngữ của chúng. Và bây giờ, ông đã thay mặt chúng lên tiếng cùng thế giới.

Hết.

Chú thích:

  1. Cây sồi trong bài thơ cùng tên của thi sĩ nước Anh William Cowper.
  2. Cây sồi vang danh trong công viên Wedgnock nước Anh, bị cháy rụi hơn 100 năm trước và được đoán định có tuổi thọ hơn một thế kỷ.
  3. Cây sồi khổng lồ có đường kính hơn 18 mét, bị bật gốc vào năm 1718 bởi một cơn bão và chết hẳn vào năm 1950.
  4. Cây sồi lớn ở làng Edwinstowe, tương truyền là nơi Robin Hood đã nghỉ ngơi.
  5. Được xem là cây sồi cổ nhất nước Anh với tuổi thọ hơn một thế kỷ và chu vi thân 12,3 mét.
  6. Bài thơ Ode to the West Wind, tạm dịch Khúc ca của ngọn gió tây được viết bởi Percy Bysshe Shelley, lời dịch Phan Cẩm Thịnh.

Ngô Thuận Phát dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Thomas Pakenham, đăng tại The New York Review of Books.

Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Những bài viết có cùng chủ đề môi trường & thiên nhiên




Phía sau trang sách

Những tháng năm rực rỡ: Người quan sát già cỗi hồn nhiên

Published

on

Để nói về “Những tháng năm rực rỡ” của tác giả Ae-ran Kim, tôi sẽ không bắt đầu bằng “Đây là câu chuyện kể về cặp cha mẹ trẻ nhất và đứa con già nhất…”, bởi nội dung chứa đựng trong sách còn hơn thế rất nhiều. Chắc chắn, tôi sẽ giới thiệu rằng đây là một câu chuyện kì lạ, về những nhân vật kì lạ, những đoạn hội thoại kì lạ bao trùm trong bầu không khí huyền ảo đan xen giữa mơ và thực, giữa quá khứ và hiện tại. Nơi đó, cậu bé Han Ah Reum đang tận hưởng mùa hè đầy nắng gió với chiếc bạt lò xo của mình. Những cú tung người của cậu làm lay động hoa cỏ, lay động cả những tán cây đậm màu xanh lục, dòng suối trong veo nơi bố mẹ cậu gặp nhau lần đầu, hòa vào tiếng ồn ã của đám ve sầu và chuồn chuồn ở đó. Khi Ah Reum bật nhảy, trái tim cậu ngân lên những rung cảm sâu sắc với cuộc đời, và bằng sóng rung ấy, cậu gửi đến bố mẹ những lời thì thầm, thấu hiểu và yêu thương như một người bạn. Ah Reum đang tiếp tục quan sát tất cả mọi người từ nơi của cậu, hết sức chăm chú với trái tim hiếu kỳ và tươi mới đón nhận mọi sự việc mà không phán xét của cậu bé 17 tuổi, cùng đôi mắt từng trải, thấu suốt nhân gian của một ông lão 80. Và ở đó, nơi mùa hè miên viễn của tuổi trẻ, cậu đang viết tiếp những câu chuyện về cuộc đời bằng một ngôn ngữ vô thanh. Ah Reum chẳng còn cảm thấy vốn từ vựng của mình bị xáo trộn khi cơn gió thổi qua nữa, bởi bây giờ cậu là gió, là không gian bao quanh và cứ rộng ra mãi…

Vẻ đẹp thiên nhiên trong cuộc sống của Ah Reum và mọi người thật sống động. Lấy bốn mùa làm những cột mốc để người ta nhìn lại một năm, bốn mùa cuối cùng của Ah Reum đã trôi qua thật rực rỡ. Mùa xuân đến một cách lặng lẽ âm thầm, nhưng có khả năng thay đổi cảnh vật chỉ trong chớp mắt với những màu sắc sặc sỡ như quần áo, đồ chơi trẻ con của một gia đình vừa chào đón đứa con đầu lòng. Rồi khi mùa hè đến, không khí ban đêm nặng nề và ngột ngạt đưa mùi hương thức ăn nhanh hỏng, chóng thiu đến những người khó ngủ. Mùa hè cũng là mùa nóng nực và công bằng, dù có lông hay không thì con người vẫn vã mồ hôi như tắm. Nhưng đó cũng là mùa thích hợp nhất để ăn món đá bào đậu đỏ và sữa theo kiểu truyền thống. Khi thu sang, đi đến đâu bạn cũng có thể nghe tiếng gió vi vu, vì ở nơi đâu cũng có gió. Màu vàng thay dần sắc xanh, rồi lại bị đẩy lùi bởi sắc đỏ. Gió như đang trút bỏ từng chút một chiếc áo mùa hè và kéo bật ngay cả những gốc rễ mùa hè đang ẩn sâu dưới lòng đất. Bầu không khí trong lành, se sắt được Ah Reum ví như hơi thở của Chúa. Những cơn gió liên tục thay đổi diện mạo để không ai có thể nắm bắt được. Vào những ngày nắng đẹp, mùa thu còn là hương cà phê ngọt ngào và êm dịu mà Ah Reum chưa từng được nhấp môi. Cậu ngồi đó ngắm nhìn những bệnh nhân sưởi nắng với chiếc áo len mỏng bên ngoài bộ đồng phục bệnh viện. Ngoài ra, khi phân tích một từ đồng nghĩa, Ah Reum còn khám phá ra rằng, mùa thu còn là mùa “liếc mắt đưa tình”, khoảng thời gian mọi vật phải thu hút sự quan tâm của kẻ khác giới trước khi cái giá rét của mùa đông kéo đến. Và cuối cùng, mùa đông cằn cỗi khiến cây rụng hết lá, nhường chỗ cho sự hiện diện của những bông tuyết. Bông tuyết có cấu tạo thật đẹp. Dù chỉ rơi lặng lẽ rồi tan ra ngay khi chạm đất, và không ai thấy được vẻ đẹp của chúng bằng mắt thường, nhưng chúng vẫn thật đẹp như thế đấy. Như Ah Reum vậy, cậu vẫn sống thật đẹp ngay cả khi biết mình phải sớm nói lời chào tạm biệt cuộc sống.

Ah Reum yêu quý sự biến đổi theo mùa, và hơn ai hết cậu hiểu rõ sức mạnh to lớn của quy luật tự nhiên ẩn sau những ngày tháng nối tiếp bình yên và tẻ nhạt. Chỉ khi không dễ dàng có được một điều gì đó, người ta mới biết rằng mình đã xem nhẹ những phúc lành ấy đến nhường nào. “Ở cái tuổi mà chúng ta điềm nhiên hút cạn sinh khí của những tạo vật bung nở rồi lụi tàn, ngạo nghễ tưởng rằng mình như không bao giờ chết, thì cũng là đã lao đến đỉnh cao của khoảnh khắc huy hoàng ngắn ngủi ấy”.

Cũng như thiên nhiên và cuộc sống, Ah Reum tha thiết yêu thương bố mẹ mình. Bởi ngoài đặc ân được bố mẹ mang đến cuộc đời, qua việc viết lại câu chuyện của bố mẹ, cậu còn hiểu hơn về chính mình và sống tiếp cuộc đời mình sau tuổi 17.

Cậu được khoác vào cơ thể khỏe mạnh cường tráng và những khao khát tuổi mới lớn của bố Han Dae Soo; được chạm trán với những rắc rối của tuổi thiếu niên và chịu đựng những áp lực, bất công đầu đời. Cậu được phạm sai lầm và trả giá cho sai lầm đó. Cậu được phép thất bại, đau đớn và vượt qua nỗi đau. Cậu có nhiều thời gian để băn khoăn và bất an về tương lai vô định phía trước. Cậu nhận được một cô bạn gái trời ban và trở thành bố khi chưa hiểu hết về cuộc đời, phải học những thứ mới tinh để chăm nom một đứa trẻ và dù vất vả đến thế nào đi nữa, khi ngắm nhìn con trẻ, mọi mỏi mệt dường như tan biến khi cậu nảy ra muôn vàn thắc mắc về đứa bé. Khi con trẻ lớn, cậu cũng được lớn lên theo mà vẫn giữ lại tâm hồn của tuổi 17. Ngay giây phút nó bệnh, cậu vẫn cảm thấy hạnh phúc, may mắn vì cả gia đình được ngồi cạnh nhau yên bình và cùng ăn một bát canh cá.

Cậu cũng có thể hiểu nỗi lòng của người mẹ thiếu nữ Choi Mi Ra. Dường như má cậu cũng ấm nóng hơn khi mẹ thẹn thùng trong những buổi giao lưu gặp mặt người khác phái. Cậu cũng thất thểu bước đi khi ước mơ trở thành ca sĩ của mẹ tan tành vì gia đình còn nhiều định kiến. Cũng như bố, mẹ cậu cũng mông lung không biết cuộc sống sắp tới sẽ như thế nào. Rồi mẹ bước vào chuyến phiêu lưu không thể quay đầu lại với một người con trai đồng cảnh ngộ, dũng cảm bỏ lại sau lưng tiếng cười khúc khích vô tư thời con gái để trở thành một người mẹ tận tâm, cố gắng ngẩng cao đầu tự hào về đứa con đang mang cho đến khi niềm tự hào ấy trở thành sự thật. Có lẽ nhờ sự tự hào của mẹ truyền sang khi còn trong bụng mà Ah Reum có thể lạc quan đến thế. Dù thế nào đi nữa, cậu cũng không oán trách cuộc đời mà ngược lại, vẫn ngắm nhìn cuộc sống với góc nhìn dí dỏm và tràn đầy biết ơn.

Cứ thế, cậu được sống tiếp qua cuộc sống của người khác, sống đến khi già cỗi và thông thái mà vẫn còn bố, người thậm chí còn già cỗi và thông thái hơn như ông Jang lớn và ông Jang bé. Cậu có thể trải nghiệm lòng dũng cảm của việc tỏ tình và sức mạnh tự tin của một anh chàng không mấy sắc vóc như chú Seung Chan. Cậu được giận dữ và bất mãn trước một người nhẫn tâm lợi dụng đứa trẻ bệnh tật để lấy chất liệu viết văn. Và hơn hết, cậu có thể nếm trải trọn vẹn hương vị tình yêu, dù là đang chớm nở như nụ hoa, chín đỏ mọng như trái hồng, hoặc cả khi nó không có thật và đắng chát như một ngụm rượu Soju trên đầu lưỡi. Cậu đã trải nghiệm tất cả những điều đó qua từng câu chữ và vô cùng mãn nguyện.

Hình ảnh khu phố, bệnh viện, ngôi nhà làm phông nền cho câu chuyện của nhân vật hiện lên thật nhẹ nhàng và ấm áp. Những vất vả và khó khăn diễn ra trong suốt quá trình từ khi Ah Reum hoài thai cho đến khi cậu chào đời, khi bố mẹ vật lộn với mưu sinh và cả nhà cùng nhau chiến đấu với căn bệnh của cậu, đặc biệt là những cơn đau thể xác và nỗi cô đơn cùng cực mà Ah Reum phải một mình chịu đựng đều không thể nào diễn tả. Nhưng tất cả đều trở nên nhẹ bẫng dưới góc nhìn trong trẻo của Ah Reum. Hoặc cũng có thể, cậu đã vận dụng sức mạnh từ tâm hồn chững chạc của mình để xóa đi mọi cảm xúc bi lụy và viết lại cuộc sống thành một câu chuyện nên thơ, mộc mạc, không nặng nề nhưng vẫn dễ dàng chạm đến trái tim.

Ah Reum là biểu tượng của lòng ham sống và tình yêu cuộc sống. Chỉ khi đứng ở vị trí của một người khao khát được trải nghiệm nhưng phải rời đi quá sớm, chúng ta mới thấy rằng cuộc sống này tươi đẹp và đáng sống biết bao. Nơi ấy, mọi thứ đều là phước lành, kể cả những vấp ngã, sai lầm đáng thất vọng và thậm chí trở thành nỗi buồn của ai đó là điều không phải người nào cũng có cơ hội trải nghiệm. Tận hưởng từng khoảnh khắc được sống, trân trọng bản thân không hoàn hảo, yêu thương và tha thứ cho sự chưa sẵn sàng của bố mẹ... đó là cách mà Ah Reum đã sống. Vừa tách mình ra như một đài quan sát để nhìn sự việc như chính nó là, cậu vừa hòa mình bằng thân phận của một mảnh đời nhỏ xíu, tưởng như chẳng đáng kể nhưng lại góp phần điểm tô cho cuộc sống tươi đẹp và đa dạng hơn.

Dáng hình nhỏ bé nhưng mạnh mẽ của Ah Reum như một lời nhắn nhủ, động viên chúng ta rằng: Hãy thêm yêu cuộc sống và sống trọn vẹn đời mình! Đừng chán ghét cơ thể mình vì nó chưa hoàn hảo, hãy tạ ơn vì chúng vẫn lành lặn và hoạt động tốt. Đừng thoái chí trước những thất bại và lầm lỡ, hãy hân hoan vì có thể bắt đầu lại vào ngày mai. Đừng lo âu trước tương lai vô định, hãy trân trọng vì điều đó cho thấy chúng ta vẫn còn nhiều thời gian. Đừng ủ dột vì những điều nhỏ nhặt chưa vừa ý, ngoài kia chẳng phải còn rất nhiều vẻ đẹp đang chờ bạn ngắm nhìn sao? Đừng thổi phồng những khó khăn, đừng bi quan trước nghịch cảnh, đừng chờ đợi, băn khoăn mà hãy thực hiện ngay những mơ ước của mình. Hãy thức dậy khoan khoái và tràn đầy năng lượng, hãy quan sát cảnh vật và con người với thật nhiều yêu thương, hãy làm mọi việc với lòng say mê và tâm huyết, hãy tận hưởng mọi thứ nhỏ nhoi như thể đó là món quà tuyệt vời nhất.

Cuộc sống không định nghĩa con người bạn, ngược lại, chính bạn là người lựa chọn gam màu cho bức tranh cuộc sống của mình. Như cách Ah Reum cố gắng thu nhặt thật nhiều hình ảnh và cảm xúc trong từng phút giây được sống từ lời kể của họ hàng, sách vở và từ góc nhìn của cậu đối với thế giới xung quanh, những hình ảnh và cảm xúc ấy cũng đã cô đặc lại và tạo nên danh tính của riêng cậu. Nếu các cô cậu học trò trạc tuổi Ah Reum có chiếc thẻ tên gắn trên bộ đồng phục học sinh cấp ba, cậu cũng có cho mình một chiếc thẻ như thế. Trên đó sẽ ghi rằng “Trường học cuộc đời, Han Ah Reum, lớp Tận hưởng mỹ vị cuộc sống”.

Về tác giả

Ae-ran Kim sinh năm 1980 tại Chungnam, Hàn Quốc, tốt nghiệp khoa Biên kịch Đại học Quốc gia Seoul. Từ khi còn trẻ, tác giả đã giành được nhiều giải thưởng văn học danh giá cho cả hạng mục tiểu thuyết và truyện ngắn, được đánh giá là cây viết tài năng trong làng văn học Hàn Quốc. Tác phẩm của Ae-ran Kim tập trung vào hình ảnh con người trong cuộc sống hiện đại, khéo léo đưa ra cái nhìn mới mẻ về xu hướng thay đổi của cuộc sống, trong đó nổi bật là câu chuyện của người trẻ Hàn Quốc trong quá trình đô thị hóa nông thôn.

Những tháng năm rực rỡ (Tựa gốc: My Brilliant Life) là cuốn tiểu thuyết Ae-ran Kim lấy cảm hứng từ truyện ngắn “Dị nhân Benjamin” (The Curious Case of Benjamin Button) của tác giả F. Scott Fitzgerald và thổi vào làn gió mới của yếu tố nội tâm, tình cảm gia đình đặc trưng của văn học Hàn Quốc. Cuốn sách đã trở thành tác phẩm bán chạy nhất tại Hàn Quốc và được dựng thành bộ phim cùng tên vào năm 2014.

Tự đánh giá Những tháng năm rực rỡ là mầm cây nảy từ những hạt giống đã gieo trồng trong những truyện ngắn trước đó, nữ nhà văn cho rằng đây là cột mốc đánh dấu thời khắc cô vượt lên khỏi câu chuyện của chính mình, quan tâm hơn đến những mảnh đời xung quanh. Điều đó được thể hiện rõ qua cái nhìn bao dung, cảm thông của tác giả về đôi vợ chồng trẻ con, đại diện cho những người đã đi lệch khỏi quỹ đạo được xem là đúng đắn của cuộc đời. Mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau, không có gì đúng hay sai bởi mọi thứ trong cuộc đời mỗi người là điều phải diễn ra và được sắp đặt để diễn ra.

Vào tháng 1 năm 2021, phiên bản tiếng Anh của cuốn sách đã phát hành tại Mỹ và được Tạp chí The Oprah Magazine bầu chọn là cuốn sách hay nhất trong tháng. Cũng như ở Châu Á, tác phẩm cũng để lại trong lòng người đọc phương Tây phong vị nhẹ nhàng, tinh tế, thấu hiểu và có sức mạnh lay động trái tim.

Hạ Nhiên

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Sự bất tử

Published

on

Tôi mất một năm để dịch xong cuốn sách ấy và nhiều năm sau để tiếp tục suy nghĩ về từng thông điệp mình đã nhận được.

Thậm chí lúc gõ ra những từ này, tôi vẫn chưa thực sự hiểu anh, Louis. Và đó là khoảng cuối năm 2018. Sau 3 năm, có lẽ bây giờ tôi đã gần điểm chạm hơn một chút.

Ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice hiếm khi chết do tác động ngoại cảnh, mà thường là tự kết liễu. Họ tồn tại hàng trăm năm, chứng kiến thế giới lột áo mới hết lần này đến lần khác. Giá trị văn hoá cũ mai một, giá trị tư tưởng cũ bị cười cợt. Gia đình, bạn bè lần lượt qua đời và sau đó là cả một thời đại xuống mồ. Những cỗ xe ngựa bị ô tô thay thế; đèn khí biến mất và đèn cao áp xuất hiện; những toà nhà lai tạp kiến trúc Pháp, Tây Ban Nha và Mỹ mọc lên trên khắp nẻo đường New Orleans.

Ma cà rồng trở thành những linh hồn già cỗi và thủ cựu, đầu óc chai sần vì phải nếm trải quá nhiều sự tàn độc từ chính mình lẫn loài người. Tình yêu nói riêng, cảm xúc nói chung đều chẳng có nghĩa lý gì cả. Con người không bất tử. Và cũng chẳng ma cà rồng nào chịu đựng được đồng loại cho đến ngày tàn của vũ trụ.

Tranh Vanitas Still Life with a Tulip, Skull and Hour-Glass của Champaigne, Philippe de

Tại sao phải hiểu cho nhau nếu ta còn hàng trăm ngàn năm để nhìn vào mâu thuẫn? Nếu không có sự chết thì lòng vị tha hay đạo đức đều chỉ là triết lý giẻ rách. Chẳng có gì là hiện sinh hay vị lai trong cuộc đời vô tận. Mọi giá trị vật chất chỉ là nắm đất mớ cát bởi không có khao khát hay dục vọng nào để trao đổi. Kiến thức tích lũy vài thế kỷ cũng là đồ bỏ khi mất đi mục đích sống. Ở đó, chỉ còn hư vô.

Có một tác giả cho rằng, mọi ma cà rồng đều tồn tại với tư tưởng của Friedrich Nietzsche, bởi vì họ bất tử và họ muốn trở nên bất bại. Nhưng tôi không đồng ý. Có thể ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice tồn tại với tư tưởng Nietzsche thật, nhưng đó là vì: “One has to take a somewhat bold and dangerous line with this existence: especially as, whatever happens, we are bound to lose it.” – (Nietzsche viết trong Untimely Meditations)

Sự sống đáng giá là bởi chúng ta có thể mất nó, bất cứ khi nào. Trong sự bất tử không có yếu tố then chốt này.

Vậy nên kết cục cho họ luôn luôn là như thế – như ma cà rồng Armand từ từ tiến về phía dòng sông và biến mất tựa phù du. Sự bất tử là hình phạt nặng nề nhất, bởi món quà đính kèm chính là trạng thái hữu tri vô giác, chỉ còn lại đúng một nỗi cô độc khủng khiếp như hố đen nuốt chửng những sinh vật này cho đến lúc lụi tàn.

Tôi đã lần hồi dò lại trong mỗi chương tiểu thuyết mình từng đi qua để chạm được vào tiềm thức của anh, Louis. Và chặng đường ấy diễn ra như thế này.

“Những người từng đến với New Orleans đều để lại nơi đây dấu ấn khó phai nhòa. Một số công trình kiến trúc bằng gạch, đá và cẩm thạch của thành phố xưa vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Ngay cả khi những ngọn đèn khí bị đèn điện thay thế, những chiếc máy bay xuất hiện và những tòa nhà chọc trời mọc lên chật kín đường Canal, vẻ đẹp một thời vang bóng của New Orleans vẫn còn đó. Tất nhiên, không phải con đường nào cũng còn dấu ấn cổ xưa. Nhưng đối với ta, mảnh đất đó luôn là New Orleans của trăm năm về trước. Mỗi lần dạo bước trên những con đường đêm đầy ánh sao của Quận Garden, ta lại thấy như thời gian chưa bao giờ trôi đi. Có lẽ đó là bản chất của cái gọi là di tích. Những dấu ấn để lại, bất kể chỉ là một ngôi nhà nhỏ hay một tòa lâu đài với những cột trụ Corinth khổng lồ và những mảng hoa văn tinh tế bằng sắt rèn, đều có thể khiến chúng ta có cảm giác như quá khứ vẫn đang tiếp tục chảy trôi trong thì hiện tại. Mặt trăng hôm nay vẫn rọi sáng bầu trời New Orleans như mặt trăng năm xưa. Chỉ cần những dấu tích đừng biến mất thì cảm xúc trong ta sẽ không thay đổi.”

2

"Ta sẽ đặt cuốn sách xuống và nhìn ra ngoài cửa sổ, cảm nhận từng nhịp đẩy đưa của đại dương, ngắm muôn vì tinh tú sáng rõ hơn trên đất liền nhiều lần đang sà xuống để chạm lên những con sóng. Khi ta đang ngồi một mình trong cabin tăm tối, dường như bầu trời đã hạ xuống để gặp đại dương và những bí mật lớn đã được tiết lộ trong cuộc hội ngộ đó, những hố sâu thăm thẳm sẽ vĩnh viễn khép lại một cách diệu kỳ. Nhưng khi trời và biển vẫn chưa phân biệt rạch ròi, cũng như khi trần gian còn trong thuở hỗn mang, ai đã tiết lộ bí mật vĩ đại đó? Chúa ư? Hay là Satan? Ta bỗng nghĩ đến niềm an ủi vĩ đại khi được gặp Satan, được nhìn thẳng lên khuôn mặt ngài, không cần biết khuôn mặt đó kinh dị tới mức nào. Nếu được biết mình hoàn toàn thuộc về ngài, ta sẽ được an ủi và giải thoát khỏi nỗi thống khổ vì sự ngu dốt của bản thân. Rồi ta có thể vén lên những bức màn đã chia cắt ta vĩnh viễn với cái gọi là nhân loại.

Ta cảm thấy con tàu đang tiến đến ngày một gần với bí mật đó. Bầu trời dường như không có điểm kết thúc, nó bao trùm lấy ta bằng vẻ đẹp huy hoàng và sự tĩnh lặng không cùng. Nhưng từ giải thoát nhanh chóng biến thành cơn ác mộng trong ta. Bởi làm gì có sự giải thoát nào cho kẻ đã bị nguyền rủa vĩnh viễn, làm gì có sự giải thoát nào. Ta tự hỏi nỗi đau khổ này có thể so sánh với những ngọn lửa vĩnh cửu của địa ngục hay không? Những con sóng cuồn cuộn dưới muôn vì tinh tú vĩnh hằng kia thì liên quan gì tới Satan? Khi chúng ta còn thơ dại, cảnh tượng hùng vĩ ấy chẳng có nghĩa lý gì bởi chúng ta còn đang mải mê vật lộn với những khát vọng cuồng điên khác. Khi ấy, chúng ta hiếm khi coi sự bình yên là điều đáng mơ ước: những thiên thần tối cao vĩnh viễn ngước nhìn lên khuôn mặt Chúa Trời và vẻ mặt ngài vĩnh viễn thanh thản. Trong quyền năng của ngài, chiếc nôi đại dương dịu dàng này chẳng qua chỉ là một lời hứa nhỏ nhoi mà thôi.

Nhưng ngay cả trong giây phút này, khi con tàu đang ngủ và cả trần gian đều đang say ngủ, những nghĩ suy về thiên đàng và địa ngục không còn là nỗi đọa đày của ta nữa. Nó đã trở thành hiểu biết, thành niềm tin, cả hai điều đó hoặc chỉ một trong hai thôi… có lẽ là sự cứu chuộc duy nhất mà ta dám mơ ước."

3

“Tôi không biết là một đứa con lại có quyền giải phóng cho cha mẹ nó. Tôi không biết là mình có thể không gắn bó với cô bé nữa, cho đến chừng nào… Ta ngừng lời. Ta đã định nói: Cho đến chừng nào cô bé vẫn còn sống trên đời. Nhưng ta nhận ra đó là một tuyên bố phàm tục vô nghĩa. Cô bé sẽ sống vĩnh viễn, cũng như ta vậy. Nhưng chẳng phải bất kỳ người cha nào trên đời này cũng phải trải nghiệm điều đó sao? Con gái họ sẽ sống vĩnh viễn vì họ sẽ là người chết trước. Đột nhiên ta bị mất phương hướng."

“‘Claudia là cả một thời đại đối với anh, một thời đại của cuộc đời anh. Nếu anh rời xa cô bé, anh sẽ rời xa người duy nhất còn sống đã cùng anh bước qua thời đại đó. Anh sẽ hoảng sợ trước sự cô độc, gánh nặng và phạm vi không thể đo đếm được của cuộc sống vĩnh hằng.’

‘Đúng, đó là sự thật, nhưng đó chỉ là một phần nhỏ của lý do mà thôi. Thời đại – điều này vốn không nghĩa lý gì lắm với tôi. Quả thực Claudia đã mang lại cho nó những ý nghĩa nhất định. Nhưng những ma cà rồng khác cũng đã trải nghiệm và sống sót qua quãng thời gian kéo dài hàng trăm thời đại đó rồi.

Nhưng họ không hề sống sót,’ Armand nói. ‘Thế giới này sẽ tràn ngập ma cà rồng nếu họ thực sự sống sót được. Anh nghĩ bằng cách nào mà tôi đã trở thành ma cà rồng già nhất ở đây cũng như trên khắp thế gian này?’

Ta ngẫm nghĩ về điều đó rồi đánh bạo nói, ‘Những ma cà rồng khác đã bị giết?’

‘Không, gần như là không bao giờ. Việc đó không cần thiết. Anh nghĩ có bao nhiêu ma cà rồng đủ sức chịu đựng sự bất tử? Không sớm thì muộn, họ sẽ bắt đầu có những ý niệm ảm đạm về cái giá phải trả cho cuộc sống vĩnh hằng. Trên con đường bất tử, họ muốn mọi thứ cũ trong đời họ vẫn phải được bảo toàn và không thể bị hủ hóa: những cỗ xe ngựa phải có thiết kế mà họ tin cậy, quần áo phải được cắt đo theo đúng tiêu chuẩn xưa cũ của họ, những người đàn ông phải ăn mặc cũng như trò chuyện theo đúng kiểu cách mà họ vẫn luôn hiểu và kính trọng. Khi mà, trên thực tế, mọi thứ đều thay đổi thì chỉ có ma cà rồng là vẫn như cũ. Mọi thứ đều thay đổi, chỉ có ma cà rồng là thực thể duy nhất vẫn mãi mục nát và méo mó. Chẳng mấy chốc, với một tâm trí không linh hoạt và kể cả với tâm trí linh hoạt nhất, sự bất tử này sẽ trở thành hình phạt ăn năn trong nhà thương điên của những hình hài vô cùng khó hiểu và vô giá trị. Trong đêm, một ma cà rồng sẽ thức dậy và nhận ra điều mình đã khiếp sợ có lẽ là trong hàng thập kỷ qua là gì. Hắn đơn giản là không cần cuộc sống này nữa, dù là với bất kỳ cái giá nào. Mọi nét đặc trưng, kiểu cách và dáng hình đã từng khiến sự bất tử hấp dẫn trong mắt hắn đều sẽ bị quét sạch khỏi mặt đất. Và không còn gì ở lại để giúp hắn thoát được khỏi cảm giác tuyệt vọng ngoài trừ việc giết chóc. Và ma cà rồng đó sẽ chết. Không ai sẽ đi tìm hài cốt của hắn. Không ai biết được hắn đã đi đâu. Và thường thì cũng không còn ai bên cạnh hắn – lẽ ra hắn vẫn nên tìm kiếm trong số các ma cà rồng khác một bạn đồng hành. Không ai biết được là hắn đang chìm trong tuyệt vọng. Hắn đã chấm dứt việc nói từ rất lâu rồi, cho dù là về bản thân hắn hay về bất cứ ai. Hắn sẽ biến mất.'”

Vậy mà sau câu chuyện rất dài, rất u tối, rất chi tiết (thậm chí quá chi tiết) của anh, khẩn cầu duy nhất của tay phóng viên vẫn là: “Xin hãy cho tôi một cơ hội trở thành ma cà rồng.”

Thật đáng buồn phải không, Louis?

Hải Âu

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đôi mắt trũng sâu và những tiên đoán kỳ lạ

Published

on

By

Trước khi Stephen King được khai thác bản quyền ồ ạt như hiện nay, thì một trong những “tiểu thuyết gia ly kỳ nổi tiếng” nổi tiếng nhất ở Việt Nam không ai khác ngoài Dean Koontz. Với hàng loạt tựa sách từ trinh thám đến kinh dị, dù là phái sinh từ cốt truyện có sẵn như Frankenstein hay tác phẩm hư cấu hoàn toàn mới, Koontz đều tạo nên dấu ấn bởi cốt truyện mới lạ, thu hút. Trong đó Đôi mắt trũng sâu gần đây được giới đọc sách quan tâm trở lại bởi có tính tiên tri kỳ lạ. 

Tiểu thuyết là câu chuyện xoay quanh hành trình tìm con của Tina Evans khi cô nhận được những dấu hiệu kì lạ. Đó là tấm bảng đề hai chữ CHƯA CHẾT, những giấc mơ bí ẩn, hay sự chuyển động đột ngột của các luồng khí… mà tất cả đều quy về Danny – con trai cô – vốn đã qua đời với thể xác biến dạng đến nỗi không còn nhận diện được trong lần thực hiện chuyến điền dã nơi vùng núi sâu. Đứng trước những hiện tượng có phần “siêu nhiên”, Tina tin vào bản năng người mẹ và tìm cách giải cứu cậu bé, nhưng cô không bao giờ ngờ tới việc đang vướng vào một hệ thống rộng lớn hơn với các âm mưu quyền lực quốc tế.

Như Dean Koontz thừa nhận, Đôi mắt trũng sâu là một phép thử khi ông pha trộn nhiều thể loại trong tiểu thuyết: hành động, hồi hộp, lãng mạn và đôi chút huyền bí. Do đó, phần lớn nội dung tác phẩm không có tính dữ dội bùng phát, cũng không đủ thời lượng khắc họa chiều sâu; thêm nữa là sự phức tạp trong chủ đề đã được tối giản cũng như độ căng đã được nới lỏng. Tuy nhiên, chính những yếu tố đó lại khiến cuốn sách này không chỉ là một tác phẩm trinh thám – kinh dị thông thường khi khai thác được rất nhiều góc khuất, từ sự mất mát cá nhân cho đến lớn hơn là các vấn đề địa chính trị thế giới.

Tác phẩm có kết cấu như tàu lượn siêu tốc khi Koontz rất tập trung khai thác hạ tầng cơ sở. Thay vì viết theo kiểu “dọa ma” thông thường, ông cố gắng làm rõ chi tiết để tác phẩm có giá trị, không rẻ tiền, mà ngược lại vô cùng hợp lý. Đó là cách khai thác tâm lý tế vi, qua những mô tả về cơn sang chấn hậu tang lễ mà Tina gặp phải, song song với mặc cảm tội lỗi là nỗi cay đắng cùng quyết tâm dứt khoát muốn quên đi quá khứ đau buồn. Thế nhưng, cái chấp niệm Danny còn sống luôn dày vò cô, một biểu hiện cụ thể là việc thường xuyên nhìn thấy hình ảnh cậu bé trong những khuôn mặt khác. Koontz cũng đồng thời khắc họa bi kịch gia đình – vốn là nguồn cơn cũng như áp lực đổ hết lên đầu phụ nữ.      

Dean Koontz | Ảnh: Rick Loomis

Tính lãng mạn cũng được tác giả khai thác khéo léo, khi xây dựng thân phận cựu điệp viên cho Elliot, hình tượng này gợi nhớ nhiều đến loạt truyện James Bond của Ian Fleming. Vẫn là motif người đàn ông hào hoa và mối tình cùng những giai nhân; kèm theo đó là các pha hành động kịch tích kích thích adrenaline – để làm được điều này, Koontz tạo ra một thế lực đối đầu có phần “biến thái” cùng hai con người đấu tranh cho chính nghĩa.

Trên hành trình cứu thoát Danny, hai người phát hiện ra Thảm kịch Sierra mà Danny vướng vào thực ra có nguồn cơn từ một dự án tên là Pandora – chính tên gọi này đã cho thấy tính bí mật của dự án với mạng lưới bảo vệ vô hình, các lực lượng ẩn danh được mô tả như những tổ chức nguy hiểm, quyền lực, vô pháp vô thiên. Từ thực tế này, Koontz đã xây dựng các thuyết âm mưu có tính tiên đoán, nhưng lạ thay lại trùng khớp với những vấn đề hiện nay.

Đó là vấn nạn tham nhũng trong bộ máy quyền lực khi chính phủ nuôi sống mạng lưới có phần “vô hình” chỉ để tư lợi. Việc này được thực hiện thông qua các cuộc dàn xếp bầu cử địa phương, với tài chính và các thế lực chính trị ủng hộ đằng sau. Hiện thực này không quá xa lạ, khi gần đây ta chứng kiến một nước Mỹ chia rẽ trong hai cuộc bầu cử liên tiếp. Đặc biệt hơn là những vấn đề chạy đua quyền lực cùng phát triển vũ khí sinh học. Loại virus cuối cùng mà Elliot cũng như Tina tìm được trùng hợp thay lại tên là Wuhan-400, có phần tương đồng với virus Corona.

Thế nhưng chính trong những giấc mơ hoang đường của tiến sĩ Tamaguchi, Koontz cũng gửi gắm một vài thông điệp nhân văn qua hình ảnh những kẻ hoang tưởng vĩ đại sản sinh ra sự bất tử và những công trình vĩ đại. Trong tập truyện Ngày mười tháng mười hai, George Saunders cũng có truyện ngắn Thoát khỏi đầu nhện, viết về chất hóa học VerbaluceTM có tác dụng chiếm hữu tâm trí – từ đó gây ra những tội ác không thể dung thứ. Hay Frank Herbert trong Xứ Cát cũng có Hương dược, và chẳng phải chính vì những thứ đó mà con người quay ra đối đầu với nhau?

*

Đôi mắt trũng sâu có thể nói là một tác phẩm mới lạ, thú vị. Do được kết cấu theo kiểu “tàu lượn siêu tốc” nên phần khởi đầu có đôi chút chậm chạp, thế nhưng khi vượt qua được đỉnh dốc ấy thì những pha hành động sẽ làm ta thót tim. Một lần nữa, tác phẩm này lại củng cố vị trí của một trong những nhà văn viết truyện ly kỳ nổi tiếng nhất nước Mỹ.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Cafe sáng