Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Lời thì thầm của cây

“Hãy bước ra ngoài kia, cầm cuốc xẻng lên để trồng một mầm non cho mai sau.”

Published

on

WHAT THE TREES SAY

Thomas Pakenham

Vào năm 1664, John Evelyn – nhà biên khảo, chủ đồn điền và cao ủy viên dưới thời vua Charles II đã xuất bản một cuốn sách phi thường về các loài cây: Sylva, or a Discourse of Forest Trees (Tạm dịch: Sylva, hay cuộc luận bàn về các rừng cây), một trong những cuốn sách được quan tâm bậc nhất thế kỷ 17. Evelyn thật sự là đứa con chính tông của thời Phục Hưng khi đó là cuốn sách đầy uyên thâm, sắc sảo, thực tế và nồng nhiệt dù ở khía cạnh nào; để rồi sau này không một tác phẩm nào viết về thực vật lại có sức ảnh hưởng lên công luận nước Anh như thế. Thông điệp của ông? Một thông điệp thức thời: Chúng ta đang cần ghê gớm các loài cây; vì thế, hãy ra khỏi nhà, cầm xẻng lên, và bắt đầu gieo một mầm non.

Sylva, or a Discourse of Forest Trees
Ảnh: AbeBooks.com

Mặc cho những thảm họa đã khiến London tê liệt hai năm sau đó – trận đại dịch và đại hỏa hoạn – Evelyn vẫn sống sót để chứng kiến cuốn sách của mình được in lại đến bốn lần. Một thế kỷ sau, nó được tái bản và bổ sung thêm những minh họa chạm khắc mạ đồng thanh lịch cùng nhiều bình luận thấu đáo để cập nhật với thời đại hơn. Tiếp đến là những phiên bản gần đây nhất (rút gọn tên thành Sylva). Rất nhiều cây bút hiện đại cố gắng viết với tinh thần của Evelyn. Nhưng bằng một cách nào đó, Sylva vẫn nghiễm nhiên đứng đấy với một vị thế khó ai sánh kịp. Cứ như thế cho đến hiện tại. Hai cuốn sách mới nhất về các loài cây được đánh giá cao là The long, long life of trees (Tạm dịch: Một cuộc đời dài, rất dài của các loài cây)The hidden life of trees (Phương Nam Book đã dịch và phát hành tại Việt Nam với tựa đề Đời sống bí ẩn của cây). Với những phương thức khác nhau, chúng vẫn mang đậm “phẩm chất” Evelyn.

Một cuộc đời dài, rất dài của các loài cây viết bởi Fiona Stafford được đánh giá là tiệm cận nhất với tư tưởng Sylva. Đúng là Evelyn có sự mạo hiểm hơn trong việc chọn lựa giống loài cây để đi sâu khai thác miêu tả. Ông bao hàm một phạm vi rộng đáng kinh ngạc lên đến hơn 31 chi: từ những loài mới ở Bờ Đông Mỹ như sồi đỏ và thông Weymouth, cho đến những loài ngoại lai ở Anh như tuyết tùng Leban hay cây dâu tây Ireland. Trong khi đó, với cuốn sách của mình, Stafford khoanh vùng trong phạm vi an toàn hơn với chỉ 17 chi đại diện phổ biến trong các khu vườn, rừng cây và trên các bờ giậu rộng khắp Tây Âu và Bắc Mỹ như sồi, sung dâu, dẻ ngựa, sơn trà và nhiều loài khác. Nhưng thật may, những diễn giải của cô không phải là những luận điệu nhàm chán.

Stafford là giáo sư ngôn ngữ và văn chương Anh tại Đại học Oxford, cô thể nghiệm đa thể loại: từ tiểu thuyết, thơ ca, nghệ thuật cho đến môi trường. Bằng cách riêng mình, cô cũng là một học giả thông thái như Evelyn, và cô là một cây bút tiềm năng. Với cô, cây cối có ý nghĩa như thế nào? Theo lời Stafford, cuốn sách ra đời nhờ vào “cảm giác diệu kỳ” của cô hướng về cây cối. Cô ngưỡng mộ vẻ đẹp hình thể của chúng. Cô kinh ngạc bởi cách thức chúng sinh tồn. Và trên hết, có lẽ cô bị hút vào bởi nền văn hóa tổ chức lớp lang của chúng. Cô nhắc chúng ta nhớ rằng thật dễ dàng để coi nhẹ sự tồn tại của cây cối. Thế nhưng chúng ta phải làm nhiều hơn là chỉ đơn thuần ngưỡng mộ. “Hãy bước ra ngoài kia”, cô tiếp lời với thứ ngôn ngữ phảng phất âm điệu Evelyn, “cầm cuốc xẻng lên để trồng một mầm non cho mai sau.”

*

The long, long life of trees
Ảnh: GoodReads

Nếu trồng một cái cây mới, tôi tin chắc rằng lựa chọn đầu tiên của Stafford hẳn là một cây sồi. Hầu hết những người khôn ngoan đều không thể khước từ sức hấp dẫn của loài sồi thường gặp tại châu Âu, Quercus robur. Có bao giờ bạn bước chân vào Royal Oak? Stafford đang ám chỉ đến những quán bar Anh Quốc chứ không phải cây sồi nổi tiếng vùng Boscobel mà ở đó vua Charles II từng ẩn nấp sau trong trận thua Worcester năm 1651 trước cơn cuồng nộ của toán quân “kẻ đầu tròn”. Dĩ nhiên chuyện này dẫn đến chuyện khác, và ngày nay, số lượng quán bar Royal Oak hơn hẳn số lượng những quán bar khác, ngoại trừ Crown và Red Lion.

Trong chương viết về cây sồi, Stafford mở ra một lịch sử phức tạp về sự mê đắm của nước Anh dành cho loài cây này. Từ rất lâu trước cuộc trốn thoát nhiệm mầu của nhà vua ở Boscobel, sồi vốn đã là biểu tượng của quyền lực và sức mạnh xa xưa. Đó là loài cây của Zeus – vua của những vị thần. Đó là loài cây tiên tri xứ Dodona miền Hy Lạp, có thể đoán định trước tương lai. Augustus Caesar, người rất ý thức về hình ảnh của mình, cũng từng đối mặt đội quân La Mã khi mang trên đầu vương miện dân chủ lá sồi. Phẩm chất “nam tính” của cây sồi khiến nó là lựa chọn phù hợp cho biểu tượng của bất kỳ quốc gia nào, như Anh chẳng hạn, và tạo ấn tượng lấn át những người xóm giềng. Không quá khó để nó trở thành quốc thụ của đất nước này, mặc dù lời khẳng định trên không hẳn là chưa bao giờ bị thách thức. (Nhiều người dân yêu nước tại Anh chắc hẳn sẽ rất bất ngờ khi biết rằng từng có đến mười hai nước châu Âu khác và Mỹ xem nó như quốc thụ của họ.)

“Mạnh mẽ, kiên định và ngang tàng”, Stafford viết, “cây sồi luôn được ngưỡng mộ bởi nguồn năng lượng nội tại bền bỉ…. Không một loài cây nào bền lòng vững chí và hòa làm một với thế giới như nó. Không giống giẽ gai, dẻ ngựa hay sung dâu – những loài mà cành cây vươn đến bầu trời – thân sồi trưởng thành vững chắc, lởm chởm tỏa ra như vòng tay mở bán cầu dày lá.”

Những vòm lá trùng trùng điệp điệp này là nhà cho những sinh thể nhỏ hơn với số lượng đáng kinh ngạc: côn trùng, chim chóc, động vật, địa y, dương xỉ và nấm. Nếu ta tìm kiếm giữa những nhánh cây bám đầy địa y hoặc dương xỉ, ta cũng có thể bắt gặp cả chim ruồi, chim cổ đỏ và chim oanh tìm kiếm côn trùng; trong khi gõ kiến và cú nhỏ xây tổ trong những hốc rỗng trên thân. Một thân sồi lớn chứa đựng cả thế giới bên trong nó. “Sồi là Vua của các Loài Cây”, Stafford hào hứng viết, “là tinh thần, thể xác và môi trường sống của cả một nền văn minh”.

Một cây sồi lớn có thể tồn tại bao lâu? Không có khả năng đoán định chính xác, vì những cây sồi cổ xưa nhất thân đã bị rỗng, các đường vân gỗ cũng theo đó biến mất. Theo những ước tính khinh suất nào đấy (có cả của riêng tôi), nó nằm trong khoảng từ sáu trăm đến một nghìn năm. May thay, những cá thể sồi cổ tại Anh Quốc đã được ghi lại và miêu tả bởi Jacob Strutt trong cuốn sách tiên phong của ông, Sylva Britannica, được ấn hành lần đầu vào năm 1826. (Ông đã mượn một nửa tiêu đề từ John Evelyn.) Như một lẽ thường, phần nhiều loài cây cổ như sồi Yardley1, sồi Bull2 hay Cowthorpe3 – tất cả đã gục ngã hay đơn giản hơn, trở về tro bụi. Một vài trong số khác, như sồi Major4 ở khu rừng Hoàng gia Sherwood Forest, số phận của chúng đã cam chịu thành một kẻ tàn tật, được chống đỡ bởi những thanh nạng thép. Nhưng một vài trong số những cá thể nổi tiếng vẫn còn tồn tại.

Sồi “Majesty” ở công viên Fredville hạt Kent vẫn còn đứng vững, qua khoảng năm hay hay sáu trăm năm. Sồi Panshanger ở Hertfordshire mà Winston Churchill từng ngắm nhìn một thế kỷ trước vẫn còn hùng vĩ. Vĩ đại hơn cả là Sồi Bowthorpe5 ở Lincolnshire. Stafford miêu tả một cuộc viếng thăm của cô tới tạo vật ngàn tuổi này: “Tôi đồ rằng nó không dưới bảy trăm tuổi. Theo tính toán thì từ thế kỷ 18, thân cây đã rỗng đến mức không gian nội thất có thể dùng để đãi tiệc thịnh soạn cho tầm mười bảy người. Hiện nay, nó chỉ là nhà của một chú ngựa con và vài con gà. Nhưng người chủ sở hữu hào phóng vẫn mở cửa cho du khách viếng thăm.” Stafford tả lại những trải nghiệm ấy “như dời bước từ đời sống tầm thường để đắm chìm trong sự hiện diện của một tồn tại bất tử cổ xưa, gồ ghề nhưng lạ lùng thay, lại rất ấm áp.”

Quiver Tree Forest, Namibia; photograph by Beth Moon from her book Ancient Trees: Portraits of Time (2014). A collection of her color photographs, Ancient Skies, Ancient Trees, has just been published by Abbeville.

*

Một trong những chương hay nhất nói về một loài phổ biến và thường bị sỉ vả tại châu Âu – cây sung dâu. Stafford trích đăng một nhận định nổi tiếng của William Blake: “Không có ai nhìn thấy một sự việc theo cách thức giống nhau: Nếu một cái cây có thể khiến vài người nhỏ Lệ Cảm Động, thì với một số người khác, nó chỉ là một thứ màu xanh ngáng đường.” Liệu Black có nhớ tới loài sung dâu khi ông viết những dòng ấy? Tai tiếng của loài cây này chính bởi thói quen rụng thứ lá nhớp dính ngay trên vỉa hè hoặc đường ray, gây ra trì hoãn và tai nạn. Trong thực tế, “dịch ngọt” phủ trên lá sung dâu là một hỗn hợp sáp đậm đặc, giàu đường cùng chất thải của loài rệp vừng mà nó nuôi dưỡng. Danh sách những việc làm được cho là xấu xa của loài cây này chưa dừng ở đó. Stafford cho rằng, sung dâu là loài cây của sự “thừa mứa”.

“Vì nhiều lý do, sung dâu nhìn chung là một loài cây quá phóng khoáng. Nó phá hoại nhận thức tỉ lệ của con người, thậm chí dường như phơi bày sự lo âu đạo đức tiềm ẩn vì cái lối thừa mứa quá mức. Nó là loài cây đậm chất hoang phí: quá nhiều sáp, quá nhiều lá. Quá nhiều sung dâu, thật vậy.”

Hạt giống hình cánh cánh quạt của nó là cực hình với người làm vườn. Nó phá hoại thảm cỏ và cả khóm hồng. Tệ hại nhất, nó là loài “tầm gửi”, là một sinh vật ngoại lại xâm lấn, là kẻ xâm lược tàn độc từ Âu châu.

Stafford điềm tĩnh quan sát những cáo buộc trên và đưa ra những lập luận mạnh mẽ để bảo vệ chúng. Cô chỉ ra rằng loài sung dâu đã nhuộm sắc Anh quốc cả trăm năm trước, và trái ngược với thứ ảo danh huênh hoang này, số lượng của chúng vẫn không hề tăng trong nửa thế kỷ qua. Thật thế, chúng nằm gọn trong hệ sinh thái, khéo léo điều chỉnh số lượng và chiếm giữ không gian nơi các loài khác không phát triển mạnh. Chúng hào phóng theo cách tốt nhất. Chúng thêm nét thanh tao và sự an tĩnh cho bờ biển Yorkshire ảm đạm hay đảo đá Scotland. Để phản bác với những nhận định rằng chúng là những kẻ xâm lược ngoại lai, Stafford chỉ ra rằng đền thờ Thánh Frideswide tại giáo đường Oxford từ thế kỷ 13 đã khắc hình lá sung dâu năm thùy trên khối đá lớn mặt trước ngôi mộ. Điều này cho thấy, ở thời Trung Cổ, lá sung dâu là một biểu tượng của đạo Thiên Chúa, và có lẽ nó đại diện cho Thánh tích hay Năm Vết Thương của Chúa. Đánh giá từ những nghiên cứu hiện đại về phấn hoa hóa thạch cho thấy, có khả năng sau tất cả những lời đồn đoán, sung dâu là một loài bản địa.

Stafford tiếp tục chỉ ra rằng các nhà thơ mau mắn hơn người làm vườn trong việc coi trọng những phẩm hạnh của loài cây này. Cô trích dẫn một khảo cứu thi vị của John Clare về loài “sung dâu lộng lẫy” với tầng tầng những tán lá xanh đầy nắng. Những chiếc lá dinh dính, ông viết, là món quà to lớn của tạo hóa. Chúng ta phải lắng nghe những vần thơ “Những con ong hoan hỉ với đôi cánh háo hức,/ Dùng bữa trên những chiếc lá rộng cùng dịch ngọt phủ phê.” Stafford cũng đồng thời gợi nhắc chúng ta về bài thơ đắng cay ngọt bùi của Shelley Khúc ca gửi ngọn gió tây được viết dựa trên trải nghiệm của ông vào mùa thu năm 1819 khi lang thang trong những khu rừng sung dâu vùng Florence. Shelley ngập chìm trong cơn bĩ cực vì hai đứa con đã mất; và mùa thu năm ấy, chiếc lá sung dâu rơi đã gợi liên tưởng cho ông. Những chiếc lá khô bị đưa đẩy bởi ngọn gió tây – “Vàng hay đen, nhạt mờ hay đỏ thắm,/ Cả một bầy ôn dịch: ôi ngươi/ Kẻ đã đem những hạt giống trên trời”6. Nhưng những cái cây, ông hy vọng, sẽ sớm “tỉnh thức để tái sinh”. Ngọn gió tây đồng thời được coi như người phân phát hạt giống hồi sinh, nhưng cũng là bàn tay què quặt lấy đi lá rớt. Những chiếc lá úa hứa hẹn một cuộc hồi sinh: “Nếu Đông về, Xuân có ở sau chăng?”.

The Amorous Baobabs (Tạm dịch: Cây Baobab si tình), gần Morondava, Madagascar; được chụp bởi Thomas Pakenham trong quyển Những dấu mốc Thực vật (2002).

*

Trong chương về loài tần bì và cây dẻ ngựa, Stafford đưa ra những ghi chú ảm đạm hơn. Cả hai đều là loài châu Âu của chi toàn cầu, có tên khoa học lần lượt là Fraxinus excelsior và Aesculus hippocastanu, và đang bị đe dọa bởi hai căn bệnh chết chóc đến từ phương Đông. Trong thực tế, những cá thể phổ biến nhất tại châu Âu và Bắc Mỹ cũng đang đương đầu với những mầm mống diệt chủng Á châu này. Năm mươi năm qua, chúng ta đã mất rất nhiều cây du do loài nấm Trung Hoa được gieo rắc bởi bọ cánh cứng đẻ trứng nhiễm mầm bệnh dưới lớp vỏ cây. (Cái tên bệnh gỗ du “Hà Lan” dễ gây hiểu lầm – thực chất căn nguyên đến từ châu Á chứ không phải châu Âu.) Ngày nay những kẻ thù mới – gây bệnh sồi chết đột ngột, suy giảm gỗ sồi cấp tính, giẽ gai khô héo, cây dẻ ngựa ngọt tàn lụi – đang phá hủy phần lớn những công viên và khu rừng của chúng ta.

Vấn đề cấp bách nhất của châu Âu ngày nay là nấm Chalara, một loài gây bệnh khô ngược – khô cành và héo lá – ở cây tần bì, được cho là bắt nguồn từ châu Á vào thập niên 1990 trong những thùng gỗ hay gỗ lát pallet nhiễm nấm. Ở Đan Mạch, hơn 80% cây tần bì đã chết. Thảm kịch này đang vươn tay bao trùm Anh và Ireland và được dự đoán là sẽ gây ra mức độ tàn phá tương tự. Stafford chẳng có hi vọng nhiều nhặn gì để đối phó với Chalara. Có lẽ đã quá trễ để kiềm hãm chúng. Những biện pháp khống chế nên được áp dụng từ khi Chalara mới được phát hiện lần đầu ở Đông Âu. Và thậm chí nếu những biện pháp kịp thời phát huy tác dụng thì vẫn còn đó những nguy cơ tàn nhẫn hơn đến từ châu Á ẩn mình đằng sau Chalara – sâu đục thân ngọc lục bảo, Agrilus planipennis, một loài bọ cánh cứng xanh sáng Trung Hoa đã gậm nhấm nhiều khu rừng Bắc Mỹ. Vì thế Stafford để lại kết luận ảm đạm rằng không còn cách nào khác, và dù làm gì đi nữa chúng ta cũng sẽ phải mất gần như những cây tần bì và nhiều hơn nữa những “con đường lát gỗ thân quen, công viên cây xanh và những thị trấn không còn mái nhà, trơ trọi và trống rỗng.

Về cây dẻ ngựa, người ta tin rằng hơn nửa số loài ở châu Âu đã bị nhiễm vi khuẩn chảy máu hạt – một loại bệnh nhiễm gây ra dịch nhớt tiết quanh những vết thâm trên thân, và dần dần giết hại cả cây. Stafford đưa ra một góc nhìn tích cực đáng ngạc nhiên về mối nguy này. Cô cho rằng “bệnh chảy máu hạt dẻ ngựa giống như… một sự sợ hãi tâm lý hơn là một căn bệnh bằng xương bằng thịt. Giả chết dường như là một trò lừa gạt mà đám dẻ ngựa hẳn sẽ rất thích thú…” Tôi ước gì tôi có thể tin cô ấy. Ở Ireland, nơi tôi đang sống, những cá thể khỏe mạnh nhất trong công viên và những khu vườn đều đã ngã quỵ. Mỗi năm chúng tôi lại mất từ hai đến ba những cây lớn và kỳ vĩ nhất trong công viên. Không thể kháng cự, không một giải pháp.

Nhưng một tin tốt có thể đến tai và an ủi Stafford là sau tất cả đã xuất hiện cách giảm thiếu những hiểm họa này. Nếu tham vọng của chúng ta là phục sinh những loài cây đã mất, chúng ta có thể chọn những cá thể có cùng chi Trung Quốc, Nhật Bản hay Ấn Độ. Điều này có nghĩa ta sẽ có dẻ ngựa Himalaya, cây du Trung Hoa, tần bì Trung Quốc, cây sồi Nhật Bản và còn nhiều nữa. Những cá thể châu Á này tiến hóa song hành hàng triệu năm cùng những mối nguy có chung nguồn gốc. Ngày nay những cá thể này được cho là miễn dịch với nguồn bệnh – dựa theo ý kiến những chuyên gia tôi đã trò chuyện. Và tôi hy vọng rằng họ đúng. Dù sao đi nữa, tất cả sẽ thật rõ ràng chỉ trong vòng một trăm năm tới.

*

Đời sống bí ẩn của cây
Ảnh: Nhà sách Phương Nam Phú Xuân, Thừa Thiên Huế

Đời sống bí ẩn của cây từ Peter Wohlleben lại khai phá một lĩnh vực hoàn toàn mới, và John Evelyn chắc hẳn sẽ vô cùng hứng thú với những phát kiến này. Wohlleben là chuyên gia về rừng, đang làm việc tại cộng đồng địa phương ở Hümmel – một ngôi làng nhỏ trong rặng núi Eifel phía tây nước Đức. Trong nhiều năm dài, ông vốn làm quản lý những rừng giẽ gai, sồi, thông và vân sam với những dây chuyền hiện đại: chặt cây lấy gỗ khi chúng trưởng thành và khai thác gỗ bằng máy móc công nghiệp. Như ông nói, ông “biết nhiều về đời sống bí ẩn của cây tựa như một người đồ tể hiểu rõ đời sống tình cảm của động vật.” Nhưng dần dần, ông bắt đầu có một cái nhìn mới về những loài cây. Ông để ý thấy, những du khách thường sẽ ngưỡng mộ một cái cây mà theo ông là không có giá trị nào về mặt thương mại: cái cây càng vặn vẹo hay càng thô ráp, người ta lại càng thích chúng. Tình yêu riêng biệt ông dành cho tự nhiên – vết tích từ thời thơ ấu – lại được thắp sáng. Ông bắt đầu lưu tâm đến những dạng rễ kỳ quái và kiểu mẫu tăng trưởng khác thường. Ông viết, “Bất thình lình tôi nhận ra vô số điều diệu kỳ mà tôi khó có thể giải thích với chính bản thân mình.”

Trong khi đó một thế hệ khoa học gia mới cũng đang nghiên cứu về khu rừng địa phương của ông, bao gồm một nhóm từ đại học Aachen. Ở đó và ở Đại học Vancouver cách đó hơn năm ngàn dặm từ tỉnh lỵ British Columbia, những khám phá mới đã khiến Wohlleben kinh ngạc.

Cả hai nhóm đều phát hiện ra một hệ thống mạng lưới kết nối ngầm rộng lớn được gọi là một mycorrhiza, mà ở đó những loài nấm kết nối những giống loài khác nhau bằng những tín hiệu hóa học và xung điện trên những rễ cây. Đó là một mạng Internet truyền thông “wood wide web”. Thực vật có thể thật sự giao tiếp với nhau bằng cách chuyển đổi carbon thông qua rễ của chúng, sự trao đổi này dẫn đến một mối tương hỗ. Carbon là thức ăn của thực vật, được tạo ra từ quang hợp bằng cách sử dụng lá cây như một tấm pin mặt trời. Đôi khi cái cây nào đó sẽ đóng vai trò cai trị khu dân cư và phân phát cho những hộ khác nhiều carbon hơn số lượng chúng nhận lại, và sau đó vai trò sẽ được luân chuyển cho cá thể khác, cứ thế tiếp tục.

Khi sự tinh vi của mạng lưới ngầm vừa được khám phá, các nhà khoa học nhận thấy rõ ràng rằng thực vật không chỉ thu lợi bởi sự trao đổi thức ăn trong mạng lưới này. Chúng còn trao đổi các thông tin sống còn, cảnh báo những cây lân cận (và những cây con) những mối hiểm họa để rồi đưa ra giải pháp giảm thiểu mất mát. Lấy một ví dụ, nếu một lá cây bị ăn bởi một chú sâu bướm thì cá thể cây này sẽ gửi thông điệp thông qua mạng lưới mycorrhiza và cảnh báo các cây khác trong mạng lưới tiết ra những chất hóa học đẩy lùi loài sâu.

Về phía Wohlleben, những phát kiến này cũng đã xác nhận những điều trăn trở của ông, rằng: Bằng cách riêng mình, thực vật cũng có cảm xúc và chúng biết cách làm cách nào để giao tiếp với các cây khác, một kiểu lá lành đùm lá rách. Nhưng làm thế nào để đồng nhất điều này với thứ công việc đồ tể rừng xanh? May mắn thay, những cộng sự của ông – dân làng Hümmel, đều có bản chất yêu mến thiên nhiên như ông. Họ đồng ý từ bỏ nguồn thu nhập từ việc bán gỗ và xây dựng lên một khu bảo tồn thực vật trong rừng. Tất cả máy móc hạng nặng đều bị cấm. Khi một cái cây cần được đốn ngã, chỉ ngựa mới được cho phép sử dụng chuyên chở những khúc gỗ này. Khu rừng lại phát triển xanh tươi nhờ những quy luật hào phóng mới, và du khách đổ xô đến khám phá những phép màu này. Có lẽ chính nhờ nhận thức cao mà làng Hümmel tự mình tạo ra một thương vụ béo bở.

Đến nay Wohlleben vẫn tiếp tục làm việc với rừng. Mỗi ngày ông đều khám phá một điều mới mẻ: hiểu nhiều về cách chúng tồn tại và tàn lụi đi, về cách chúng sống đời thuận hòa với láng giềng xung quanh và với cả hệ sinh thái. Dĩ nhiên bây giờ ông là vị thần bảo hộ của khu từng hơn là một vị quản lý. Ông sáng lập những tour cứu hộ và sắp xếp một phần khu rừng như một địa mộ. Bây giờ, cuốn sách mới này làm ông thêm phần nổi tiếng một cách xứng đáng. Phiên bản tiếng Đức của nó nằm trong danh sách bán chạy nhất. Hơn hai mươi năm, những nhà khoa học đã luôn khám phá những điều bí ẩn bên dưới rễ cây và đi tìm cách chúng chia nguồn sống. Peter Wohlleben là người đầu tiên giải thích và phơi bày những phát kiến này. Ông lắng nghe cây, giải mã ngôn ngữ của chúng. Và bây giờ, ông đã thay mặt chúng lên tiếng cùng thế giới.

Hết.

Chú thích:

  1. Cây sồi trong bài thơ cùng tên của thi sĩ nước Anh William Cowper.
  2. Cây sồi vang danh trong công viên Wedgnock nước Anh, bị cháy rụi hơn 100 năm trước và được đoán định có tuổi thọ hơn một thế kỷ.
  3. Cây sồi khổng lồ có đường kính hơn 18 mét, bị bật gốc vào năm 1718 bởi một cơn bão và chết hẳn vào năm 1950.
  4. Cây sồi lớn ở làng Edwinstowe, tương truyền là nơi Robin Hood đã nghỉ ngơi.
  5. Được xem là cây sồi cổ nhất nước Anh với tuổi thọ hơn một thế kỷ và chu vi thân 12,3 mét.
  6. Bài thơ Ode to the West Wind, tạm dịch Khúc ca của ngọn gió tây được viết bởi Percy Bysshe Shelley, lời dịch Phan Cẩm Thịnh.

Ngô Thuận Phát dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Thomas Pakenham, đăng tại The New York Review of Books.

Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Những bài viết có cùng chủ đề môi trường & thiên nhiên




Phía sau trang sách

Khách không mời: Khi mọi thứ đều cong

Published

on

By

khach khong moi

  Em thường nhìn vào những khu nhà cao mới xây, em thấy không cái nhà nào thẳng cả […] Nàng chưa bao giờ thấy ai có sống mũi thẳng một trăm phần trăm. Cũng đúng như bạn chẳng bao giờ thấy một cái cây, một bức tường, một cái chân bàn, hay một cây cột điện thoại nào thẳng một trăm phần trăm.

Tôi đọc Geling Yan rất vô tình. Trong một lần lướt xem những đầu sách nào chuẩn bị được in ở các thị trường lớn trên thế giới, thì The Secret Talker lọt vào mắt tôi với cái bìa khá ấn tượng cùng tên tác giả gợi nhớ nhiều tới gốc gác Trung Quốc. Thông thường, những thị trường lớn này hay ưa chuộng các tác giả châu Á có phần đặc biệt – họ viết hoặc phản ánh những điều bị cấm (trường hợp Diêm Liên Khoa, Lý Dực Vân) hoặc thật sự khác biệt với phong cách nổi trội (trường hợp Tàn Tuyết, Dư Hoa…). Và cũng vì thế, Geling Yan để lại một ấn tượng sâu sắc nhưng tôi vẫn chưa có khái niệm gì về bà sau lần chạm mặt tình cờ ấy.            

Tiếp sau đó, trong một lần đi tìm sách cũ ở những ngõ ngách Saigon, tôi bỗng lại gặp một quyển sách khác của bà, Khách không mời. Thú thật đây không phải là lần đầu tiên tôi bắt gặp nó, nhưng với chiếc bìa không để lại quá nhiều ấn tượng thì tôi đã lướt qua nó rất nhiều lần trước đây. Nhưng dĩ nhiên duyên phận đã lôi kéo vào vòng xoáy này khi tuần trước nhớ tên tác giả, tuần sau đã gặp sách của bà, thêm vào đó là dịch giả vô cùng tiếng tăm, nên tôi đã thử và đọc cuốn này. Khách không mời thật sự mới lạ, vì so với hầu hết những tiểu thuyết Trung Quốc khác tôi từng đọc qua viết về Cách mạng Văn hóa, hậu Phong trào Tứ Thanh hay thời chuyển giao quyền lực của Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình hay biến cố Thiên An Môn… thì Khách không mời lại tập trung vào một quãng thời gian mới hơn, gần đây hơn nhưng cũng đầy vận động với một Trung Quốc đương thời.

Không thể phủ nhận chính việc đặt Khách không mời vào bối cảnh của thời “mở cửa” đã trở thành một trong những lý do khiến nó mới mẻ, độc đáo và không bị nhàm chán. Nếu văn chương Xô Viết dễ bị hình dung như văn chương của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, Trung Đông là tiếng nói mới của phụ nữ bị áp bức thì Trung Quốc như phần lãnh thổ rộng lớn của mình, lại có nhiều cái tên - từ văn chương hậu Cách mạng văn hóa, làn sóng linglei đến trào lưu tiểu thuyết quan trường… Geling Yan cũng từ đó phát triển và phối trộn những màu sắc đặc trưng rất Trung Hoa. Bà lùi về quá khứ một chút với thời nghèo đói, bà tiến vài bước đến kì tương lai, và hay ho là Khách không mời nằm được ở giữa, với chủ đề mới, rặc tính Đông phương nhưng hầu như rất ít tác phẩm nào từng gợi nhớ đến, mà gần đây nhất có thể coi Parasite của Bong Joon-ho như sự thấu cảm cùng chung chủ đề.

Nếu ai tìm hiểu về Geling Yan thì chắc sẽ không thể quên gia tài đồ sộ những cuốn tiểu thuyết của bà. Về nhà (tựa gốc Coming Home) hay Kim Lăng Thập tam thoa (The flowers of war) từng được Trương Nghệ Mưu chuyển thể, đã lấy đi nhiều giọt nước mắt lãnh đạm, khi thì trong chiến tranh Trung – Nhật, khi thì là tình yêu và sự cứu rỗi. Phần lớn những nhân vật của bà đều là phụ nữ. Họ bị bán đứng, xem thường, rẻ rúng và trở thành trò tiêu khiển trong chiến tranh hay như phụ nữ nông thôn thường thấy – vất vả, cơ cực. Bước ra từ Khách không mời, bà phá vỡ motif thường thấy của mình, khi không đặt chân bước vào chiến tranh, cũng không tạc thù miêu tả phụ nữ, mà rộng ra hơn và linh hoạt hơn với những vấn đề lớn hơn, vĩ mô hơn và nhất quán hơn.

Nhân vật chính của Khách không mời là Đan Đông, một người đàn ông ưa nhìn ở độ tuổi trung niên sống trong xí nghiệp sản xuất nay phải hoạt động cầm chừng ngày có ngày không. Hơn 10 tháng nay họ không nhận gì ngoài những phiếu lương có vẻ như vô giá trị. Được ở đấy với Tiểu Mai – người vợ xinh đẹp, họ có giá thuê chỗ ở rẻ, được ăn cắp điện để nấu nướng, có nước nóng rửa ráy, mua được thịt thà không phải qua kiểm định và có cá hộp hết hạn để trả thay lương. Sống trong tận cùng của những nghèo xơ xác ấy, trong một lần đi phỏng vấn làm bảo vệ khách sạn, một con đường mới đã mở ra cho Đan Đông – đó là đóng giả phóng viên để được ăn tiệc miễn phí và nhận về tiền “xin lỗi đã làm phiền”.

Geling Yan mô tả khá hay hình tượng người đàn ông này. Bà không chỉ nêu bật cái khổ, bà còn dồn ép nhân vật của chính mình vào con đường khốn đốn, tận cùng. Trong những buổi ăn tiệc ấy, ngoài Đan Đông thì những con rệp ăn tiệc khác nay cũng đánh mồi thấy được sự béo bở. Chúng cướp quyền sở hữu trí tuệ là mánh khóe làm giả danh thiếp của anh, chúng thuê thêm người làm thợ chụp ảnh, và dĩ nhiên, cảnh sát không thể ngó lơ. Một vài tuần sau chiến lược càn quét của ngành công an đã tàn phá mâm cổ miễn phí, và cũng như bao kẻ khác, Đan Đông hay Tiểu Mai cuối cùng cũng phải chui vào tấm lưới muôn phương vây bủa.

Song song với việc bị đẩy đi đến đường cùng, Đan Đông cũng phải đối mặt với những thứ khác đang kềm giữ anh. Có thể tưởng tượng người đàn ông ấy là một miếng cam nay bị vắt kiệt, mà bàn tay ấy, khốn thay không phải bởi những tầng lớp giàu sang – mà là những người còn nghèo hơn anh. Đó là nỗi thương cảm của một người nghèo dành cho những người nông dân nghèo còn kiết xác hơn cả mình với những tham nhũng, bắt bớ, quan liêu. Đó còn là sự mông lung giữa dục tính thật sự và việc lợi dụng người cùng khổ khác, mà hiển hiện nhất chính là Mười Khó với lời thỉnh cầu về một bài báo vách trần sự thật, trong khi anh chỉ là một tay lừa bịp không hơn không kém. Anh tự nhủ rằng Mày phải cẩn thận trong những ngày này, hoặc mày sẽ bị đẩy vào tình huống mà ở đó phải chạm trán với cái nghèo khó trên mọi nẻo đường.

Vượt thoát ra khỏi Đan Đông, Geling Yan xây dựng một bầu không khí được chia ra thành hai tầng lớp dựa trên nhận thức, giữa một bộ phận những người cảm được trò mèo của nhịp sống hiện đại (như Đan Đông, người họa sỹ già Trần Dương) và một bộ phận những người còn lại. Mối quan hệ một mặt thâm giao với Trần Dương – người phản đối những trò mê dụ, người bị tổn thương khi giá trị con người đã xuống thấp nhất - giữ anh lơ lửng cùng mối quan tâm với những bác nông dân, những người cùng khổ và không có gì. Đan Đông đã bị dồn nén từ cả 2 phía, không chỉ người giàu, mà là kẻ hèn trong cơn quằn quại.

Một người không phải cứ bán thân mình thì mới là mãi dâm. Một người thậm chí có thể trở thành một con điếm còn bẩn thỉu hơn bằng cách bán một thứ gì đó quý hơn cả thân xác mình, dường như là lời miêu tả đúng nhất những trò điêu ngoa của lớp thị dân được thời sung túc. Khi bị đồng tiền chi phối, họ có thể làm những bữa tiệc ăn thịt chim công; nặng hơn một chút họ mua thánh bán thần, họ mua chuộc báo chí để mọi sự thật thành ra bẻ cong. Đau đớn hơn cả khi họ lừa dối cùng chung một dòng giống người, họ bắt bớ, chiếm đoạt; họ lừa đảo từng đồng lương ít ỏi, từng căn họ xây thêm để làm giàu nữa cho bản thân mình.

Nhưng ngay cả khi những người giàu có nhất ấy chường mặt ra ngoài, trong bản thân họ luôn là tình thế chông chênh lo sợ ngai vàng ấy một ngày bị cướp đi mất. Trong họ luôn là nỗi bất an nghe tin một cơn bão tới. Tầng lớp dưới cùng thì sợ chiến dịch dọn dẹp loài con rệp ăn tiệc, tầng lớp giàu sang thì sợ phanh khui trốn thuế, đầu tư lừa bịp hay ti tỉ những công việc khác. Tất cả bọn họ đều có một tật: Trần Dương thì bứt đầu lông cọ vẽ, tổng giám đốc Võ thì bóp que diêm, Hồng Ngọc thì đùa giỡn với chiếc dép lê đi trong nhà. Họ làm những điều không cần suy nghĩ này để tự trấn tĩnh bản thân. Để hiểu được cái gì làm cho họ rối trí.

Với Khách không mời, Geling Yan hay Nghiêm Ca Linh đã mang đến một bữa tiệc khỏa thân trong chính trải nghiệm của việc nói lên sự thật.Với cuốn sách này bà một lần nữa chứng minh được tên tuổi mình, khi luôn linh hoạt với đời sống và mở thế giới quan một cách rộng khắp lướt qua thực tại. Hiện đại, sắc sảo, tinh tế và vô cùng mạnh mẽ; có thể nói đây là một trong những cuốn sách có tầng sâu nhất của bà, vượt thoát khỏi những tiểu thuyết thời hậu Cách mạng văn hóa thường thấy, nhưng dẫu sao cũng dễ thấy rằng, nó còn thiếu một chút đột phá với những thể nghiệm trên cùng.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tháo gỡ phép màu – Một hành trình mạnh mẽ

Published

on

By

thao go phep mau featured

Tháo gỡ phép màu của Julie Yip – Williams có lẽ là một tựa sách gây nhiều băn khoăn khi ta lần đầu bắt gặp. Thế nhưng khi đã đi hết hành trình của người phụ nữ đầy bản lĩnh và kiên cường này, ta sẽ hiểu vì sao đến cuối cùng thì Phép màu cũng cần được tháo gỡ, và điều quan trọng nhất không phải là ta có được điều gì từ sự kỳ diệu, mà là ta hiểu được gì từ sau cuộc sống vốn luôn hạn hữu này.

Được viết như một ghi chép về cuộc đời mình, Julie - người mẹ, người vợ, người bạn, người phụ nữ tràn đầy cảm hứng – đã kể về quá trình trưởng thành, nhận thức, buông bỏ và thấu hiểu chính cuộc sống này. Sinh ra với bệnh đục thủy tinh thể bẩm sinh mà bước ngoặt đầu tiên đã là thử thách, liệu cô có giữ được mạng sống ở tuổi lên 3?

Những năm miền Nam Việt Nam mới được giải phóng, cuộc đời của một đứa trẻ không thể nhìn thấy là rất khó đoán, và đó cũng là lý do vì sao bà nội vẫn luôn nghĩ rằng cái chết là thứ quá đỗi êm dịu với một đứa bé như cô. Như một phép màu bỗng chốc xảy ra, vị thầy thuốc từ chối ban phát vị thuốc chết; và cũng chính sự kiện ấy đã làm nảy sinh một sự cố thủ từ chính mẹ cô – người phụ nữ vốn được dạy bảo phải phục tùng chồng – nay lần đầu tiên đứng lên bảo vệ con mình, và đi đến quyết định di cư sang Mỹ.

Với gốc gác là dòng tộc Hoa, sau cơn chính biến Nạn kiều 1978, cô cùng gia đình rời khỏi Việt Nam, đến Hongkong và sau cùng là thẳng đến Mỹ. Với một đứa trẻ gần như mù lòa vì đục thủy tinh thể, hành trình lênh đênh đến hơn 3 tháng trên một chiếc thuyền ọp ẹp mà vẫn bình yên kỳ thực là một phép màu. Như sau này cô cũng thừa nhận, quá nhiều phép màu đã đến với cô, là thứ tạo ra, tái sinh và giúp cô sống tiếp trong cuộc đời này.

Và dĩ nhiên, Phép màu chưa dừng ở đó. Sau khi được các bác sỹ ở Mỹ phẫu thuật can thiệp dẫu cho không thể hoàn toàn sáng mắt, cô phần nào có lại thị lực dẫu bị sa sút, ở một trạng thái mà ta vẫn gọi là ‘mù pháp lý’. Cô chăm chỉ học tập, gạt bỏ hết mọi định kiến người khác áp đặt lên mình, tốt nghiệp Havard và trở thành luật sư ở một hãng luật danh tiếng. Chưa dừng ở đó, cô còn gặp được Josh – người đàn ông của đời mình, có một căn nhà ở khu Brooklyn và hơn hết là 2 thiên thần nhỏ - Mia và Bella.

Thế nhưng một ngày năm 2013 khi 37 tuổi, cô được chuẩn đoán mắc phải ung thư đại tràng, và tình hình còn xấu hơn nữa khi đó là giai đoạn IV đang có dấu hiệu di căn ra khắp cơ thể. Trong những ngày nằm ở bệnh viện đối mặt ban đầu với ung thư, những con số thống kê nhấp nháy trên màn hình Ipad được Josh đưa ra chỉ có khoảng 0.08% phụ nữ dưới 40 tuổi có thể mắc phải bệnh này, và tỷ lệ sống sót là 6-15%. Phép màu lại một lần nữa tiếp tục hiển hình khi có tới 99% khả năng Julie không mắc ung thư; nhưng lần duy nhất này thật sự khắc nghiệt.

Một điểm đặc biệt là với cuốn hồi kỳ này, Julie không cố che giấu một điều gì cả. Cô không tự an ủi bản thân với chút hy vọng hão huyền, khi việc di căn từ nơi màng bụng đã lan ra đến tử cung, phổi và sau này là xương và gan. Cô đã thử đến 3 lần thí nghiệm lâm sàng với các loại thuốc khó tìm khác nhau, các phương pháp mới mẻ, các loại đông – tây y,,, cô không từ chối bất cứ điều gì. Thế nhưng ung thư ngày càng tai ác, sau cơn hòa giải với những lần xạ trị tưởng chừng bình yên thì ngay lập tức nó quay trở lại và tấn công cô.

Trong những ngày chiến đấu với những hạch nhỏ xuất hiện nơi phổi và đầu thời kỳ di căn vào xương, trong Julie là một vũ trụ của những cảm xúc. Cô khóc than, bất lực cho số phận mình; cô nổi đóa với Chúa – nếu Ngài có tồn tại – vì việc chọn cô; cô giận dữ với bất cứ một yêu cầu nào không được đáp ứng và cả ganh tị với ‘Cô vợ Hai Lẳng Lơ’ – biệt hiệu của người sẽ thay cô chăm sóc Josh cùng các con gái khi cô rời đi.

Từ người du lịch 5 châu đến tận Nam Cực nay chuyến đi cuối cùng là quần đảo Galapagos, nơi những nguyên sơ vẫn được bảo tồn - nơi cô cảm nhận được Josh trong mối quan hệ và là tình yêu cuối đời của mình. Trong những tháng ngày đối chọi ở trên giường bệnh, cô vẫn níu kéo một chút hơi sức để các con gái không thấy mình đã từ bỏ. Cô dũng cảm chiến đấu với ung thư, nhưng theo một cách thực tế, lý trí và cũng mạnh mẽ.

Thay vì than khóc vì chính cái tạ mình đang đeo phải, thay vì mù quáng tin tưởng vào việc điều trị ở giai đoạn cuối; cô ở đó và lên kế hoạch cho những người thân yêu nhất. Hợp nhất căn nhà để các con gái có không gian riêng khi chúng lớn lên, nhờ vả chị gái chăm sóc hai cô gái nhỏ, nhắn gửi cô giáo phụ trách về việc học đàn, gửi gắm đến Josh về niềm hạnh phúc, tự lên kế hoạch cho tang lễ mình… Tất cả được cô chăm chút kỹ càng như chuyến cuối cùng bên lề cái chết, là chốn hội ngộ với bà cố tổ – nơi cô vốn nghĩ không quá đáng sợ mà chỉ đơn thuần là dịp gặp mặt như những ngày xưa.

Nhà văn trinh thám Sidney Sheldon từng nói ‘Phép Màu có thật trong cuộc sống này... với điều kiện, ta phải tự mình tạo ra chúng’, và cuộc đời của chính Julie là một Phép màu. Biết rằng Phép màu đã đến rồi đi, cô đã trân trọng, yêu thương và tận dụng hết mọi khoảnh khắc; để khi cánh cửa mới mở ra, những Phép màu sẽ được tháo xuống, gỡ ra và truyền tiếp cho thế hệ sau bằng chính niềm tin, sự hy vọng cũng như niềm hân hoan. Dũng cảm, thẳng thắn và rất xúc động – hành trình của Julie Yip – Williams là niềm ham sống, khát khao tự do, vươn lên số phận. Một chặng đường vô cùng mạnh mẽ.

Hết.

Chiêu Dương

Ảnh đầu bài: Kafla Bookstore

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Yêu thương cơn “Giận” bằng trái tim hiểu biết

Published

on

By

“Chánh niệm là ta, mà sân hận cũng là ta. Ta không nên trở thành một bãi chiến trường để hai vùng năng lượng đó đánh giặc với nhau. Đừng nên nghĩ rằng chánh niệm là chánh, là tốt, và sân hận là tà, là xấu. Đừng nên nghĩ như vậy.”

Giận là một cuốn sách chứa nhiều sắc thái yêu thương. Chúng ta thường dễ dàng yêu những điều ngọt ngào, đẹp đẽ, đầy sức sống và thương những điều chân thành, trong trẻo, bình yên. Nhưng có một sắc thái yêu thương khác thực sự không hề dễ trao tặng, nhưng nếu làm được, có lẽ con người sẽ tự thân giải thoát mình khỏi những đau khổ và giằng xé trong mọi diễn biến phức tạp của đời sống: yêu thương cơn giận và những nỗi sân hận. 

Cuốn sách là một phương pháp tu tập của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bản gốc được viết bằng tiếng Anh và xuất bản lần đầu năm 2001. Nhưng Giận không chỉ là thực tập tâm linh. Bên trong Giận có những quan điểm triết học, nền tảng khoa học do những con người thực tập chánh niệm phát hiện ra. Cũng giống như nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, phương pháp có nền tảng là sự quan sát, ghi nhận, quán chiếu (đào sâu và phân tích hành vi) và đưa ra những kết luận đối với vận động của tâm (how mind works) thông qua việc dấn thân sâu vào mỗi giây phút thực tại của đời sống. Khi dấn thân sâu, người ta có thể nhận ra những chi tiết do tập khí của sự chú ý dẫn dắt. Đến nay, tiếng vang của tác phẩm vẫn còn nhờ vào giá trị đương thời của nó.

Cuốn sách dành cho người giận, người bị chọc giận, và hướng dẫn làm sao xử lý tàn dư sau những cơn thịnh nộ. Nhiều câu nói trong Giận có khả năng giúp người đọc tỉnh ngộ ở một mức độ nhất định khi họ đang bực bội. Nhưng có lẽ cách khai thác triệt để lợi ích của cuốn sách là vừa đọc vừa tái hiện và quán chiếu lại bên trong mình. Nghĩa là ta cần phải gợi lại dòng cảm xúc tiêu cực phát sinh trong những sự việc không như ý trong quá khứ để khai mở ra một góc nhìn mới. Và nếu muốn, tự chữa lành nó bằng tuệ giác.

Một lời khuyên hữu hiệu được Sư Ông ra sức thuyết phục xuyên suốt quyển sách, đó là những cơn giận rồi vẫn sẽ tiếp diễn, những đả kích tùy vào giới hạn sức chịu đựng của mỗi người, vẫn sẽ dẫn đến tổn thương. Chúng luôn luôn hiện diện. Nhưng bạn sẽ học được cách tiếp nhận và chuyển hóa chúng giống như bạn học cách ủ rác thành phân vậy, vì có hoa thì phải có rác, đừng sợ hãi và nhút nhát trước cơn giận.

“Tiếp xúc với đau khổ giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và nhận diện hạnh phúc khi hạnh phúc có mặt. Nếu không tiếp xúc được với đau khổ thì không biết hạnh phúc đích thực là gì.”

Chánh niệm

Khi giận, Thầy khuyên ta nên duy trì chánh niệm trên hơi thở, vừa điều tiết được cơn thịnh nộ vừa quan sát được tiến trình của cảm xúc. Thầy nói rằng phương pháp xả giận (venting) bằng cách sử dụng bạo lực (đánh, đấm, la hét vào một đồ vật chẳng hạn) là một thực hành nguy hiểm. Điều này là hoàn toàn hợp lý. Tuy vậy, nếu không hiểu rõ về chánh niệm, theo dõi hơi thở rất dễ bị nhầm lẫn thành kiểm soát hơi thở. Người đang giận mà theo dõi hơi thở trong khi chưa thực tập chánh niệm lần nào, rất dễ bị suy nghĩ bao trùm và cảm xúc chi phối. Vì thế, trong giai đoạn thuật ngữ này đang được sử dụng khá phổ biến, thì có một đối tượng khác, cũng được đề cập trong cuốn sách, có vẻ dễ hiểu và dễ thực tập nhất để học về phương pháp duy trì chánh niệm sao cho đúng với bản chất của nó:

“Ăn là một thực tập sâu sắc. Khi tôi ăn, tôi tận hưởng từng miếng ăn. Tôi ý thức rõ rệt từng miếng ăn trong miệng tôi, ý thức là tôi đang ăn. Chúng ta thực tập chánh niệm về ăn uống bằng cách ý thức rõ là ta đang nhai thức ăn. Nhai thật cẩn thận, nhai với niềm vui trong lòng, thỉnh thoảng dừng lại để nhìn những người thân, bạn bè, tăng thân đang cùng ngồi ăn. Được ngồi thảnh thơi ăn chung với nhau là một niềm vui lớn. Khi ăn trong chánh niệm chúng ta sẽ không ăn trong buồn, giận, lo lắng, không ăn những dự án tương lai.”

Thiền ăn là một hoạt động thú vị. Vì mọi người đều có thể toàn tâm toàn ý ăn sao cho ngon miệng, dù thức ăn có hợp khẩu vị, hay dù đang trong hoàn cảnh nào mà không cần hướng dẫn quá chi tiết. Nếu muốn dấn thân thật sâu sắc vào hiện tại, người tu học sẽ phát khởi thêm lòng biết ơn đối với bữa ăn để có thể trân trọng từng thìa thức ăn đưa vào miệng, quan sát từng cử động khi nhai, cảm nhận mùi vị của từng món ăn, nhận diện những thói hư tật xấu làm giảm chất lượng bữa ăn. Hay nói cách khác là Vì trân trọng, nên tôi sẽ hiện diện sâu sắc ở đây với bạn, tôi sẽ không dành năng lượng cho những việc khác. Đó là một trong những cách hiểu và thực tập về chánh niệm trực quan nhất. 

“Muốn ăn cho đúng thì nên nhai ít nhất năm mươi lần trước khi nuốt.”

Thay thế góc nhìn nhị nguyên bằng tâm từ bi và thấu hiểu

Khi theo dõi hơi thở ở một thời lượng nhất định, và nhận diện những cảm xúc đủ lâu, ý thức của ta sẽ phát hiện ra những cảm xúc, những tâm hành không nên có (sân hận, đố kỵ, nghi ngờ) và có xu hướng triệt tiêu chúng. Nhưng theo cuốn sách, nếu con người nhìn nhận những tâm hành ấy bằng tuệ giác tương tức thì sẽ có thể đối xử với chính mình và người thương bằng một cách dễ chịu hơn, bất bạo động. Cũng như tạo tiền đề để tâm từ bi nảy nở.

Tâm nhị nguyên là xu hướng gắn mác đúng-sai, trên-dưới, đẹp-xấu, thắng-thua, khởi đầu-kết thúc, ta-người đã tồn tại và cắm rễ rất sâu trong cách tư duy của con người để làm tiền đề, căn cứ cho mọi ý nghĩ và hành vi. Đạo Phật khuyên rằng, thay vì nhìn qua lăng kính nhị nguyên, hãy nhìn mọi sự vật, hiện tượng, cảm thọ là sự chuyển hóa xuất phát từ sự thay đổi, chuyển hóa của những đối tượng có liên quan, là tính tương tức, là nguyên nhân và kết quả. Được vậy thì có lẽ người ta sẽ tự xóa bỏ cho mình rất nhiều sân hận, bất an phát sinh trong đời sống.

“Pháp môn thực tập của chúng ta phải là bất bạo động. Bất bạo động chỉ có thể phát sinh từ tuệ giác bất nhị, tuệ giác tương tức. Theo tuệ giác này, tất cả mọi sự vật đều có liên hệ với nhau, và không có gì mà có thể tự nó có mặt một mình…. Chừng nào mà ta không có được tuệ giác bất nhị thì chừng đó sẽ còn bạo động, còn muốn trừng phạt, muốn đàn áp, muốn phá bỏ. Nhưng khi đã thấu triệt lẽ thật bất nhị và tương tức thì ta sẽ có thể mỉm cười với cả hoa và rác trong ta, ta có thể ôm ấp cả hai.”

Chúng ta nên làm gì khi đối phương vô tình hoặc hữu ý gây ra đau khổ cho mình? Hay chúng ta nên hành động như thế nào để phản kháng lại tha lực tiêu cực luôn dồn dập trong đời sống? 

“Một người không biết xử lý đau khổ của mình thường vung vãi đau khổ ra chung quanh”, hãy “nên giúp, không nên phạt”; tổ chức một cuộc “hội thảo hòa bình” để đưa đến “hiệp ước sống chung an lạc”; trao tặng một món quà khi giận; tri ân đối phương và viết ra tâm kinh của bản thân là một vài trong số tất cả những phương án bất bạo động thực sự nghĩa tình dành cho người mà bạn yêu quý. Thật đau lòng khi đối phương gây ra đau khổ cho bạn, nhưng bạn vẫn có quyền chọn lựa cách phản đòn sao cho nhân từ, bác ái với cả hai.

Tâm từ bi là cái tâm nhìn thấy nỗi khổ niềm đau của người khác cùng đồng thời khởi nguyện lấy đi những đau khổ ấy. Dùng tâm từ để chữa lành tâm hồn, để soi rọi sự việc, để kiên nhẫn, để tái lập truyền thông, để lắng nghe, để hàn gắn đổ vỡ. Với tâm thế đó, con người khó lòng sân hận được. 

Một dòng văn ý nghĩa nên được viết vào tâm kinh:

“Bạn biết là bạn may mắn gặp được người bạn đường, may mắn có được một người thương trong cuộc đời. Tại sao bạn lại quên đi sự thật đó? Nó ở trong tâm bạn.”

Một câu chuyện cảm động

Sư Ông nói rằng khi giận, tình yêu thương và những kí ức đẹp đẽ của người đang giận sẽ không có mặt, và họ cảm tưởng như nó chưa bao giờ thật sự có mặt. Đó là lí do vì sao khi cơn giận qua đi, người ta thường thốt lên câu “Phải chi lúc đó tôi đừng làm vậy”, và đổ thừa cho cơn giận của mình. Lúc đó, thực ra là chính họ cho phép cơn giận hoành hành bên trong lẫn bên ngoài. 

David và Angelina là câu chuyện về một người sống theo sự dẫn dắt của tập khí, anh cho rằng Angelina và những người khác cố ý xa lánh anh, không yêu thương anh. Nhưng trái tim anh quá nhỏ bé để có thể nhận ra đã từng có tình thương vô điều kiện mà mọi người dành cho anh. Còn Angelina là một cô gái yêu thương David vô điều kiện mà có lẽ trên thế giới ngày nay không còn ai sống như vậy nữa. Đến cuối cùng, Angelina vẫn trở về với David mặc cho những khổ đau mà anh đã gây ra cho cô.

Trong câu chuyện đơn giản này, độc giả sẽ phải tự hỏi khi nào bản thân mình là David mà khi nào là Angelina. Có nhiều phân cảnh để chọn lựa. Chúng ta đều đã từng là Angelina ngay từ khi sinh ra với lòng thương yêu thuần khiết. Nhưng vì không biết cách xử trí tình thương của mình, nên có những lúc chúng ta trở thành David. Hoặc chúng ta đã từng là Angelina và không chịu nổi một ai đó nên đành bỏ đi. Đến cuối cùng thì ta sẽ tự hỏi đến khi nào mới tìm được người thực sự yêu thương mình. Có nhiều người thấy bế tắc, nhiều người may mắn tìm được những người ưng ý sống yên bình đến cuối đời, nhưng cũng sẽ có nhiều người chọn sự tri túc. Sống biết đủ và biết ơn. Nếu thành công, đến một ngày nào đó ta sẽ có thể cất giọng hỏi Angelina dễ thương ngày xưa của ta giờ đang ở đâu, ta đã làm gì với sự dễ thương ấy, hoặc anh chàng David của ta giờ ra sao rồi. Đó là khoảnh khắc của sự quay đầu, của tỉnh thức và giác ngộ.

Giận - thiền sư Thích Nhất Hạnh

“Tôi cũng là một David. Tôi có nhiều Angelina trong đời mình. Trong thiền đường nhỏ của mình, tôi có một bức hình của hơn hai trăm Angelina của tôi - đó là những đệ tử của tôi tại những trung tâm thiền tập của chúng tôi tại Pháp và Mỹ. Trước khi tôi bắt đầu thiền tọa, tôi luôn luôn nhìn vào bức hình ấy và cúi lạy các Angelina của tôi. Rồi tôi ngồi xuống và nguyện sẽ sống như thế nào để cho những Angelina của tôi sẽ không bỏ tôi mà đi.

*

Giận là một cuốn sách khai mở góc nhìn. Đối với những phương pháp thay đổi cặn kẽ nhân sinh quan như Giận, bên cạnh khả năng đọc và hiểu biết, người đọc cần tạm đặt xuống tất cả những quan niệm sống mình đang theo đuổi, để có thể đón nhận triệt để cơn mưa trí tuệ mà không vi tế làm biến thể pháp môn đó. Nhưng quan trọng hơn tất cả, như Sư Ông có viết, “sự thực tập là biết rõ giới hạn của sức mình”. Nếu trái tim yêu thương của bạn chưa muốn mở lòng, bạn cảm thấy khó khăn, cảm thấy thêm u uất và chịu đựng, nghĩa là trái tim bạn chưa đủ lớn và đủ khỏe để giữ trong mình bí kíp này. Hãy thực tập chỉ khi tự thân bạn mong muốn thay đổi mà thôi, và hãy bắt đầu bằng việc tự mình thưởng thức một tách trà thật trọn vẹn.

Anh Đào

Đọc bài viết

Cafe sáng