Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Pom Poko – Một ngoại lệ của đạo diễn Takahata Isao, Studio Ghibli

“Pom Poko” là bức tranh môi trường vừa cảm thương vừa hài hước, vừa tang tóc vừa lạc quan đến đáng ngạc nhiên của đạo diễn Takahata Isao.

Đăng từ

on

Trong vũ trụ Ghibli, nếu ví đạo diễn Miyazaki Hayao như mặt trời rạng rỡ thì đạo diễn Takahata Isao lại là ánh trăng uy huyền. Mỗi người một vẻ, có lúc cách biệt đến gần như đối lập. Miyazaki là bậc thầy của thế giới tưởng tượng kỳ ảo, công thần kiến tạo nên những tác phẩm đầu tiên giúp Studio Ghibli tỏa sáng trên trường quốc tế. Ngược lại, con đường của Takahata chân thực và đậm đà bản sắc Nhật Bản hơn, dường như không hề lay chuyển trước sự xâm nhập của văn hóa Tây phương. Hai vị đạo diễn thoạt trông không có điểm nào chung, vậy mà đã kề vai sát cánh qua hơn 30 năm cho đến tận lúc Takahata lìa trần. Tình đồng nghiệp trở thành tri âm tri kỷ, bởi dù khác biệt cách mấy, cuối cùng Miyazaki và Takahata vẫn đồng lòng chia sẻ những giá trị tư tưởng cốt lõi. Trong số đó, lời tự vấn về trách nhiệm của con người đương thời trước thiên nhiên chính là nỗi niềm đau đáu nhất.

Từ trái qua: Đạo diễn Miyazaki Hayao và đạo diễn Takahata Isao (1990).

Công chúng có thể dễ dàng nhận ra sự trân trọng và tận tâm hai ông dành cho môi trường xuyên suốt cuộc đời làm phim. Yếu tố thiên nhiên được cài cắm thường trực và dày đặc trong mọi tác phẩm Ghibli, bất chấp phong cách kể truyện khác biệt của hai nhà sáng lập. Ngay từ thuở ban đầu, Miyazaki đã khiến khán giả phải trầm trồ trước khung cảnh ngút ngàn và xanh mướt của bìa rừng mùa Hạ trong My Neighbour Totoro (Hàng xóm tôi là Totoro). Dù vậy lúc bấy giờ, thông điệp sinh thái chưa hẳn là linh hồn tác phẩm của ông, cũng chưa phải đề tài chủ điểm của Ghibli. Sáu năm sau, Takahata Isao mang đến một trải nghiệm hoàn toàn mới – Pom Poko (平成狸合戦ぽんぽこ). Đây mới thực sự là dấu mốc cho thấy Ghibli đã bước hẳn hai chân vào chủ nghĩa môi trường. Bộ phim có sự tham gia đóng góp ý tưởng của Miyazaki, là tiền đề và hình mẫu để ông xây dựng Princess Mononoke (Công chúa Mononoke) về sau.

Cảnh báo: Nội dung dưới đây tiết lộ một phần nội dung phim.

Một cách nghĩ khác về mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người

Gần một thập kỷ kể từ ngày thành lập Studio Ghibli, Takahata Isao làm mới kho tàng điện ảnh của mình với tác phẩm Pom Poko. Dù ra mắt vào năm 1994, truyện phim tái hiện bối cảnh nước Nhật trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế thần kỳ từ 20 năm trước đó. Pom Poko bắt đầu với phong cách phim tài liệu nhằm tăng tính hiện thực, vai trò dẫn truyện do bầy tanuki1 được nhân cách hóa đảm nhiệm. Bằng vài câu tóm lược, tanuki cho biết giống loài chúng đang chịu sự đe dọa trực tiếp từ dự án mở rộng độ thị lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản:

“Những ngày này, nhu cầu về nhà ở cận Tokyo bùng nổ. Rất nhiều đất nông nghiệp, lâm nghiệp biến mất trong làn sóng không thể kiểm soát được. Tokyo lớn dần, ăn mòn đất đai như một con côn trùng khổng lồ. Vào năm 1967, hội đồng thành phố nảy ra ý tưởng xây dựng khu ngoại ô Tokyo mới với tên gọi Tama New Town. Hơn 300.000 người định cư trên diện tích 3.000 hecta. Rừng bị xóa sổ, đồi bị san phẳng và các thung lũng bị lấp đầy; các đồn điền, cánh đồng biến mất, trang trại cũ bị dỡ bỏ. Đồi Tama biến thành một công trường xây dựng khổng lồ.”

Nhu cầu nhà cận Tokyo tăng cao dẫn đến đất rừng bị lấn chiếm, đe dọa sự sinh tồn của động vật hoang dã mà tanuki là một trong số đó.

Vốn yêu thích cách cắt dựng cô đọng và tối giản, hiện trạng này được Takahata Isao khắc họa qua những hình ảnh giàu tính ẩn dụ: một chiếc máy xúc đất khổng lồ trong cảnh toàn đang nuốt chửng nửa quả đồi Tama; chiếc lá cây bị những con sâu mọt do máy móc xây dựng cách điệu ăn mòn; Đức Phật Thích Ca cùng các tiểu tăng đang xây cất thành phố tí hon như một trò chơi mô hình.

Trong mắt bầy tanuki, con người từ chỗ là “đồng loại” thú vật nay đã tiến hóa thành một thế lực khủng khiếp. Tuy nhiên, Takahata không liên hệ loài người với quỷ dữ mà qua màng lọc ngây thơ của tanuki, nhân loại “có lẽ còn quyền lực hơn cả thần Phật.”

Vậy nên bầy tanuki vẫn dành sự tôn trọng nhất định cho loài người trong Pom Poko. Chúng luôn sống gần gũi, bắt chước triệt để cách con người sinh hoạt (xem ti vi, ăn bánh kem sinh nhật, uống nước tăng lực…). Khi xung đột nổ ra, để bảo vệ nòi giống và lãnh thổ, chúng kháng cự lại theo đúng bản năng. Dẫu vậy, mọi cấp độ của cuộc chiến kéo dài này đều giống một trò chơi cười ra nước mắt hơn là cách mạng thật sự.

Sau trận đánh du kích đầu tiên khiến con người mất mạng, bầy tanuki tụ họp để làm lễ tưởng niệm cho chính kẻ thù của mình. Ở hồi cao trào, khi ba vị sư phụ tanuki xuất hiện để giải cứu Shikoku, phép thuật thượng đẳng của các ngài cũng không phải để tấn công trên diện rộng. Thay vào đó, bầy tanuki chỉ đơn thuần muốn dọa nạt loài người bằng cách tái hiện mọi loại hình văn hóa ma quái cổ truyền.

Ba vị sư phụ tanuki cũng mang trong mình nét giao hòa độc đáo giữa tính hiện đại và cổ truyền, đúng như cách hiểu của thế giới về con người Nhật Bản.

Ngay cả nhân vật tanuki hiếu chiến và nóng nảy nhất (Gonta) cũng phải thừa nhận không thể hủy diệt toàn bộ loài người. Bởi lẽ nếu con người chết hết, nền ẩm thực Đông Tây giao hòa dọ họ sáng tạo cũng sẽ biến mất. Tanuki sẽ không còn được ăn pizza, hamburger hay tempura nữa!

Nhiều hoạt cảnh dí dỏm và sinh động là điểm nhấn thú vị mà phải đến Pom Poko, Takahata Isao mới có cơ hội thể hiện.

Từ góc nhìn phúng dụ và hóm hỉnh như vậy, Takahata cho khán giả thấy được quan điểm của ông về nhiệm vụ bảo tồn sinh thái. Ông giữ thái độ khách quan, tiết chế; trình bày chuỗi sự kiện một cách trung lập, không phán xét. Con người trong Pom Poko dù là đại diện cho chủ nghĩa tư bản hiện đại đang ồ ạt xâm lấn, tàn phá môi sinh nhưng vẫn có nét đáng cảm thông. Công bằng mà nói, trong bánh xe tiến hóa, loài người cũng đơn giản là đang cố làm điều họ thấy tốt nhất cho sự sinh tồn của giống loài mình.

Phải nhắc lại rằng, thời điểm bộ phim ra mắt là khi nền kinh tế bong bóng sau Thế Chiến II của Nhật Bản vừa tan vỡ. Văn minh phương Tây tràn vào, thay đổi hoàn toàn cuộc sống của cư dân xứ Phù Tang từ cả bên ngoài và bên trong. Họ phải lao động vất vả để phục hồi tài chính gia đình, đồng thời chao đảo trên ranh giới nhận thức giữa hai thời kỳ lịch sử quan trọng. Trưởng thành ở giai đoạn này, Takahata Isao thấu hiểu lựa chọn khó khăn mà đồng bào mình phải đưa ra – hủy diệt thiên nhiên để phục hưng kinh tế, tái kiến thiết đất nước. Ông đã dùng lời của tanuki Shokichi để thể hiện sự đồng cảm: “Cuộc sống thành thị khiến hầu hết tanuki căng thẳng và mơ ước được trở về rừng. Con người làm tôi không khỏi ấn tượng. Chắc họ phải có sức chịu đựng ghê gớm lắm.”

Takahata Isao không cổ xúy nhưng cố gắng nhìn nhận người dân Tokyo lúc ấy bằng con mắt nhân văn. Ta có thể thấy rõ điều này qua một phân đoạn cảm động ở hồi kết phim: Trong nỗ lực cứu vãn tình thế cuối cùng, bầy tanuki xếp thẳng hàng trên chiếc máy xúc, dồn hết năng lượng để biến vùng đồi hoang Shikoku thành cánh rừng bạt ngàn của ngày xưa. Những tòa chung cư sụp đổ, những cánh đồng trở lại. Trẻ con lại xách vợt cùng nhau đi bắt bướm. Mái nhà cổ hiện ra giữa khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Con người chứng kiến ảo ảnh về thời xa vắng, khi họ thơ bé và cha mẹ vẫn còn tại thế. Quá khứ cũng được tái hiện với cả bầy tanuki. Chúng òa khóc vì nhận ra hình ảnh bản thân thuở nhỏ, khi rừng xanh chưa biến mất và cuộc sống còn tốt đẹp. Tanuki cuống cuồng lao xuống, nhưng ảo ảnh tan biến. Ở đây có một chi tiết rất đẹp – Chúng không tìm lại được ngày xưa mà chỉ thấy lũ trẻ loài người đang vẫy tay chào. Dù bấy giờ đã bị đánh cho tan tác, bầy chồn vẫn gập mình chào đáp lễ con người một cách nhã nhặn trước khi quay đầu chạy về rừng.

Trong mỹ học cổ truyền Nhật Bản có khái niệm wabi-sabi (侘寂), một thái độ chấp nhận sự bất toàn, gồ ghề và nhiễu loạn của cuộc sống như nó vốn thế. Ở đoạn kết của cuộc chiến chống lại con người, những chú tanuki của chúng ta đã đạt đến wabi-sabi. Chúng hiểu rằng thế giới hạnh phúc xưa cũ đã bị con người phá vỡ, không thể vãn hồi. Tanuki cuối cùng chọn cách hoán dạng, hòa mình vào xã hội loài người, cố gắng chung sống với họ trong hòa bình. Ngược lại, dù muộn màng, con người cũng bắt đầu lo bảo tồn thiên nhiên qua việc lắng nghe nỗi khổ của tanuki, chừa đất làm công viên cho chúng sinh sống. Đó là sự nhượng bộ lẫn nhau, dòng luân chuyển linh hoạt cho phép đôi bên cùng phát triển, cũng là thông điệp chủ đạo của nhà làm phim.

Nếu không cách nào cản được bánh xe công nghiệp hóa, chúng ta sẽ làm gì?

Bộ phim kết thúc với cảnh bầy tanuki ít ỏi còn lại tụ tập trong công viên, vẫn cùng nhau nhảy múa hát ca dù cuộc sống nhiều khó khăn. Tanuki Ponkichi đã nhìn trực diện vào ống kính máy quay và đối thoại với người xem: “Bạn thường nghe bản tin nói rằng cáo và tanuki đang dần biến mất vì sự phát triển đô thị phải không? Tôi mong đến lúc nào đó, loài người các bạn sẽ không phải nói vậy nữa.”

Khi nói về Takahata Isao, nhiều người ắt sẽ hình dung ngay đến một nghệ sĩ nghiêm cẩn, bảo thủ, yêu thiên nhiên và say mê bản sắc truyền thống Nhật Bản. Vậy nên quan điểm ông thể hiện trong Pom Poko chắc chắn đã gây bất ngờ. Ai mà tin được Takahata lại có thái độ cởi mở với các học thuyết bảo tồn sinh thái đậm chất phương Tây đến thế! Năm 2003, tác giả Alex Steffen2 lần đầu mang đến ba định nghĩa về thái độ bảo vệ môi trường: Light Greens, Dark GreensBright Greens. Trong đó, Bright Greens là nhóm có tư tưởng lạc quan về tương lai nhất; họ xem những thay đổi cấp tiến trong kinh tế và chính trị là cần thiết để hướng tới phát triển bền vững. Tuy nhiên, sự phát triển này cần dựa trên nền tảng các thiết kế và công nghệ thân thiện với môi trường. Năm 1994, có lẽ Takahata Isao không thể tưởng tượng được rằng ông đã tự kết nạp bản thân vào cộng đồng Bright Greens thông qua câu chuyện Pom Poko.

Sau này, tinh thần trung lập và cởi mở với vấn đề môi trường được Miyazaki tiếp nhận, tái hiện trong Princess MononokeNausicaä of the Valley of the Wind (Nausicaä – Công chúa của thung lũng gió) (1984). Cách nhìn của hai vị đạo diễn đại diện cho tư tưởng chung của Studio Ghibli từ đó trở đi, nhất quán rằng con người và thiên nhiên là yếu tố hòa quyện, không thể tách rời. Họ chọn hy vọng và cảm thông thay vì bài xích gay gắt. Họ chọn tin khi văn minh nhân loại phát triển đến mức bão hòa, con người sẽ tự động nhận ra hủy hoại thiên nhiên là giết chết chính mình. Hai bên không còn đối địch mà sẽ nâng đỡ lẫn nhau.

Những biển báo “chú ý thú hoang” kèm minh họa tanuki được dựng lên sau nhiều vụ chúng bị cán chết dọc đường đi kiếm ăn.

Sự lạc quan và trìu mến ấy chính là điểm đặc biệt làm nên thương hiệu Ghibli, cũng là biến đổi đáng kể trong tư tưởng của đạo diễn Takahata Isao kể từ sau tấn bi kịch Grave of the Fireflies (Mộ đom đóm) (1988). Thay vì gồng lên thể hiện theo cách đao to búa lớn, Takahata khắc sâu nỗi cảm thương về sự mất mát của thiên nhiên mà tanuki là đại diện qua dàn cảnh đẹp mắt, tỉ mỉ. Từng mùa trôi qua mang theo những cảnh sắc tuyệt mỹ mới, mỗi cành cây, mỗi cánh hoa trên phông nền đều được khắc họa sao cho chân thực nhất. Tổng thể câu chuyện gói gọn trong bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông và bốn nguyên tố Đất – Nước – Lửa – Khí, không thừa không thiếu. Chính bởi lẽ đó, Pom Poko dễ dàng làm lay động trái tim của không chỉ trẻ em mà cả những khán giả lớn tuổi giàu trải nghiệm nhân sinh.

Từ thời kỳ Duy Tân, bộ máy cầm quyền của Nhật Bản đã hiểu rằng nếu muốn thay đổi vận mệnh quốc gia, tất cả phải bắt đầu từ giáo dục. Khi Ghibli sản xuất Pom Poko, có lẽ đây cũng là một trong những tiêu chí quan trọng nhất. Bộ phim phải truyền tải được thông điệp hai chiều về môi trường, giúp công chúng Nhật Bản có cái nhìn toàn diện về cái giá phải trả cho nền công nghiệp hóa, đô thị hóa. Chẳng cách giáo dục nhận thức nào hiệu quả hơn phương pháp tiếp cận vào xúc cảm chân thành, mộc mạc; không khiên cưỡng, không màu mè. Với Pom Poko, Takahata đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ấy.

Pom Poko – Một ngoại lệ không xa lạ

Trong gia tài điện ảnh của Takahata Isao, Pom Poko có lẽ là tác phẩm vừa lạ vừa quen. Lạ bởi đây là lần đầu tiên và cũng là duy nhất Takahata làm phim từ góc nhìn của động vật chứ không phải con người. Mặt khác, Pom Poko cũng hội tụ nhiều yếu tố giả tưởng, kỳ ảo hơn toàn bộ số phim còn lại của ông. Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ chủ nghĩa Tân hiện thực Ý, Takahata vốn nổi tiếng với cách kể truyện trần trụi, chi tiết và sắc lạnh đến mức tàn nhẫn. Grave of the Fireflies theo đuổi đề tài phản chiến có thể khiến những trái tim băng giá nhất cũng phải rung động; trong khi Only Yesterday (Chỉ còn ngày hôm qua) (1991) khắc họa chân thực nội tâm và những hồi ức tế vi của người phụ nữ trong xã hội Nhật Bản đầu thập niên 1990. Hầu hết phim của Takahata đều được nhận xét là dễ dàng chuyển thành live-action3 vì rất giàu tính hiện thực. Pom Poko rõ ràng là một ngoại lệ, có thể khiến khán giả phải hoài nghi rằng: “Đây rút cục là Takahata hay Miyazaki trá hình?”

Thế nhưng nếu chiêm nghiệm bộ phim đủ kỹ lưỡng, ta vẫn nhận ra được bản sắc Takahata Isao không thể nhầm lẫn. Bởi trong số các thành viên gạo cội của Studio Ghibli, ông là người nặng lòng với văn hóa Nhật Bản nhất. Pom Poko từ phút đầu tiên cho đến cuối cùng, rất rõ ràng, chính là xứ Phù Tang thu nhỏ của riêng Takahata. Gần như mọi đặc trưng văn hóa cổ truyền Nhật đều được khai thác trong phim, không theo cách này thì cách khác.

Pom Poko dễ bị đánh giá sai, đặc biệt là trong mắt những người không quen “tiêu hóa” các giá trị thuần túy Nhật Bản. Bộ phim mở màn bằng bài dân ca về tanuki, sau đó không lâu thì dàn ra ngay một trận đấu hội tụ đủ các yếu tố võ thuật điển hình nhất của Nhật như Kendo, Sumo, Judo,…

Xuyên suốt hơn 100 phút tiếp theo, khán giả được thưởng lãm mọi loại hình nghệ thuật cổ đại. Những lễ hội tổ chức theo nghi thức Thần đạo với màu sắc sặc sỡ; đàn dây Shamisen, chuông, trống rộn ràng; đoàn người nườm nượp nhảy múa với quạt giấy sensu và mặt nạ kịch Noh; lồng đèn cá chép bốn con bay phấp phới trong gió. Hàng loạt điển cố nổi tiếng được kể lại, từ cung thủ Nasu no Yoichi4 đến sự tích loài cáo – đệ tử trông coi ngôi đền của các vị thần; tượng Jiro rải rác trên đường rừng, bao quanh vô số miếu thờ thần núi. Các nhân vật trong tác phẩm của họa sĩ Utagawa Kuniyoshi5 và vô số các nhân vật ma quỷ, thần linh trong truyền thuyết,…

Khi thiên nhiên bị hủy hoại, không chỉ mình bầy tanuki gặp nguy hiểm. Thế nhưng chúng gần như là loài vật duy nhất được Takahata chọn để gửi gắm diễn ngôn điện ảnh. Khác loài cáo vốn đã rất quen mặt trong nền văn hóa đại chúng, tanuki gắn liền với những sự tích chỉ thuộc về nước Nhật. Chúng ăn tạp, lém lỉnh và nghịch ngợm, thích trêu đùa con người bằng phép hoán dạng. Vào thế kỷ 17, tanuki thường xuyên xuất hiện trong tranh của các họa sĩ trường phái Ukiyo-e với dấu hiệu nhận dạng là cặp tinh hoàn cỡ bự, có thể giãn rộng bằng diện tích của tám chiếc chiếu tatami!

Takahata Isao nhiều lần nhắc đến đặc tính sinh dục nổi tiếng của loài tanuki bằng góc nhìn vừa nghiêm túc vừa hóm hỉnh trong phim.

Đặc tính thú vị này cũng được Takahata khai thác triệt để trong Pom Poko. Tuy nhiên, nếu các nghệ sĩ sau thời Edo thường né tránh bàn tới khía cạnh sinh dục và liên hệ “hòn bi” tanuki tới việc cầu tài nhiều hơn, thì vị đạo diễn lại đề cập trực diện mà không ngại ngần. Takahata tổ chức cho chúng hệ thống sinh hoạt mô phỏng chính xác xã hội loài người, mặt khác cũng cố gắng giữ lại mọi yếu tố hoang dã. Tanuki ngoài đời thật được ghi nhận là loài sinh nở tốt, có thể đẻ tới tám con trong một lứa.

Trận chiến tại Yashima là trận cảm tử lớn nhất của tanuki, được sư phụ tanuki Tazaburo Hage chứng kiến và khóc thương cho những chiến binh tử trận. 999 tuổi, đã chứng kiến đủ những vui buồn trên đời, ngài tanuki quyết định làm một buổi lễ để giã từ thế giới. Ngài biến tinh hoàn mình thành một con thuyền khổng lồ, phủ đầy châu báu để linh hồn tanuki có nơi neo đậu.

Con thuyền trôi về phía hạ lưu trên dòng sông Tama, tan biến dần dưới ánh trăng, đưa lũ chồn về cõi Niết Bàn trong tưởng tượng. Cánh buồm họa chữ Bảo (宝) kiêu hãnh giương mình trong gió, chở theo những vong linh tanuki đang ca múa tưng bừng. Bầy tanuki còn sống vội vã chạy tới bờ sông tiễn biệt và cầu nguyện. Chúng dõi mắt theo để mong được thấy Đức Phật vẫy tay gọi từ Niết Bàn.

Oái ăm thay, đó là lý do Pom Poko thắng lớn tại quê nhà, nhưng lại không tạo được tiếng vang với công chúng quốc tế. Tác phẩm đã được gửi đi tranh giải Oscar cho phim nước ngoài xuất sắc nhất năm 1995 nhưng không giành nổi suất đề cử. Chỉ khi Spirited Away (Vùng đất linh hồn) của ông bạn già Miyazaki ẵm giải Oscar cho Phim hoạt hình xuất sắc nhất vào năm 2003, người ta mới sực nhớ Ghibli vẫn còn một tuyệt tác khác từng xuất hiện tại đây. Ngôn ngữ điện ảnh bảo thủ và chậm rãi của Takahata Isao đã trở thành giai thoại trong xưởng phim, khiến những người cộng tác lâu năm nhất cũng phải nhức đầu. Thái độ làm nghề khắc kỷ qua mấy mươi năm là cách Takahata Isao tuyên bố chắc nịch với khán giả rằng: Tôi không cần nổi tiếng mà cũng không cần giải thưởng! Tất nhiên ở đây có mặt lợi, cũng có mặt hại. Với Pom Poko, nếu cách tiếp cận mềm mại hơn một chút, lẽ ra thông điệp mới mẻ của ông về mối quan hệ giữa con người với môi trường đã lan tỏa được xa hơn thế.

Lời kết của người viết:

Ngày bác Takahata Isao mất, điều mình tiếc nuối nhất là vẫn chưa đủ khả năng viết bài phân tích phim Pom Poko. Hẳn nhắc tới phim bác thì ai cũng bật ra Grave of the Fireflies hay The Tale of the Princess Kaguya (Câu chuyện về công chúa Kaguya), nhưng với riêng mình, Pom Poko mãi mãi là di sản trù phú nhất mà Takahata Isao đã để lại.

Mình xem Pom Poko lần đầu từ 10 năm trước cùng chị gái, người đã nhận định: “Lý do duy nhất khiến Pom Poko không có vị thế xứng đáng ở tầm quốc tế là vì phim quá Nhật Bản.” Từ ấy, mình đã xem đi xem lại Pom Poko tổng cộng năm lần. Mỗi lần lại có thêm nhiều trải nghiệm mới. Năm 20 tuổi, mình chỉ thấy Pom Poko là một bộ phim hay. Năm 25 tuổi, mình biết đây là một kiệt tác. Mình hăm hở muốn viết về phim nhưng vẫn rén tay. Pom Poko đơn giản mà phức tạp, dễ yêu mà khó hiểu. Quả thực là cái Đẹp khiến ta e dè mổ xẻ. Sau đó, mình học lớp phê bình phim của TS Đào Lê Na. Bài tập tốt nghiệp rất ngắn gọn: “Phân tích một bộ phim Nhật Bản hoặc Việt Nam đương đại yêu thích.” Có câu trả lời nào rõ ràng hơn không? Mình đã trì hoãn nguyện vọng này trong nhiều năm. Bây giờ mình tham gia cả một lớp học để thực hiện, mình phải làm được chứ!

Mình đã làm được thật, dù là phiên bản còn nhiều thiếu sót. Thật ra mình muốn tỏ ra hóm hỉnh hơn cho khớp với tinh thần của bác Takahata Isao trong phim, nhưng càng viết càng thấy không thể đùa được. Mình cũng muốn có thể viết sâu hơn nữa, vì cứ đến ẩn dụ nào thú vị là lại bị cuốn đi không dừng được, mà Pom Poko lại có thừa ẩn dụ như thế. Chôn cả năm rồi, chắc cũng đã đến lúc mang ra đây để cảm ơn cô Na rất nhiều vì không chỉ tận tình hướng dẫn mà còn tạo động lực để em tự hoàn thành lời hứa với mình. Điện ảnh rất vui ạ!

Hết.

Chú thích:

  1. Tanuki (狸) – Người viết giữ lại cách gọi này vì tanuki là động vật đặc thù của Nhật Bản, không có tên gọi riêng chính xác ở các ngôn ngữ khác. Mặc dù có hình thức tương đối giống chồn, lửng chó, gấu chó và đôi khi được gọi là gấu trúc Nhật Bản, tanuki là một loài riêng biệt. Trong truyền thuyết cổ đại của Nhật, một số tanuki có thể làm phép hoán dạng, thích trêu ghẹo con người bằng khả năng này.
  2. Alex Steffen (1968): Nhà vận động và tác giả bảo vệ môi trường theo thuyết vị lai người Mỹ.
  3. Live-action: Thể loại phim người đóng.
  4. Nasu no Yoichi (1169 – 1232) là một samurai đặc biệt nổi tiếng với tài thiện xạ trong trận Yashima vào năm 1184.
  5. Utagawa Kuniyoshi (1797 – 1861) là một trong những bậc thầy vĩ đại cuối cùng của nghệ thuật in khắc gỗ theo phong cách Ukiyo-e Nhật Bản.

Hải Âu

Bài viết được xuất bản trong sách Điện ảnh Nhật Bản và Việt Nam đương đại: Giao lưu văn hóa và ảnh hưởng, do TS Đào Lê Na hướng dẫn.

Ảnh: Studio Ghibli, Japan Times, Filmmisery.



3 bình luận

3 Bình luận

  1. Pingback: Ngưng giả vờ như thể chúng ta không biết rằng tận thế do biến đổi khí hậu đang đến – Bookish

  2. Pingback: 7 quyển sách xanh biếc về môi trường và thiên nhiên – Bookish

  3. Pingback: Lời thì thầm của cây – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

“Cái đẹp đánh bẹp cái nết?”

Thật đáng tiếc, con người là loài được thiết kế để dễ dàng bị loá mắt bởi ngoại hình.

Đăng từ

on

Người đăng

THE TRUTH ABOUT BEAUTY

Amy Alkon

Trong thế giới lý tưởng, vẻ đẹp nội tâm sẽ chiến thắng vẻ đẹp ngoại hình. Nhưng rất tiếc, con người là loài được thiết kế để dễ dàng bị loá mắt bởi “bao bì”. Chắc có lẽ đây là lúc chúng ta phải chấp nhận sự thật rằng: thế giới coi trọng nhan sắc hơn bạn nghĩ đấy.

Chào mừng đến Uglytopia (Vùng đất tưởng tượng dành riêng cho người không-được-đẹp-lắm), một thế giới nơi phụ nữ với tâm hồn đẹp được lên bìa tạp chí Maxim, chứ không phải một phụ nữ biết dùng áo nâng ngực. Thật không công bằng với những người bình thường như chúng ta, khi một số người sinh ra đã ngậm thìa vàng, cho dù cái thìa đó là một cái cằm đẹp như tượng tạc hay là quyền thừa kế một công ty vận tải trị giá hàng triệu đô. Có lẽ những người-không-đẹp-lắm như chúng ta cần những cử chỉ an ủi; phải chi George Clooney sẽ chọn người đàn bà chất phác giữa hàng tá những cô nàng bốc lửa. Ừ, cứ ước thoả thích, nhưng bạn nên chấp nhận cái sự thật xấu-xí rằng: sẽ chẳng có anh chàng đẹp trai nào (hay thậm chí anh chàng xấu trai nào) sẽ liếc mắt đưa tình với một người phụ nữ chỉ vì cô nàng trông như kiểu sẽ tốt bụng mua bánh mì cho người nghèo, hoặc đọc sách cho người mù.

Có rất nhiều bằng chứng chỉ ra rằng phụ nữ và đàn ông khác nhau cả về mặt sinh học và tâm lý học, và những đặc điểm mà đàn ông hoặc phụ nữ dị tính luyến ái tìm kiếm ở bạn đời phản ánh trực tiếp những khác biệt ấy. Những đặc điểm mà đàn ông tiến hoá để thích ở một người phụ nữ là: trẻ trung, da đẹp, khuôn mặt và thân hình đối xứng, đặc trưng gương mặt nữ tính, thân hình đồng hồ cát – những đặc điểm sinh lý chỉ ra rằng người phụ nữ là một ứng cử viên khoẻ mạnh, dễ sinh sản để duy trì nòi giống.

Những sở thích này gần như giống nhau ở mọi quốc gia, văn hoá và thế hệ, đồng nghĩa với việc có tồn tại một chuẩn mực chung cho cái đẹp. Cũng như phụ nữ phương Tây cố gắng giữ hình thể mảnh mai, sự thật rằng phụ nữ ở mọi nền văn hoá, vô tình hay cố ý, đều ăn (hoặc không ăn) để đạt được chuẩn theo cái nhìn của đàn ông. Kích cỡ cơ thể tiêu chuẩn ở bất cứ nền văn hoá nào dường như có mối tương quan (tỷ lệ nghịch) với mức độ sẵn có của thực phẩm. Trong nền văn hoá như ở Mỹ, nơi mà người ta không thể đi nổi năm dặm mà không thấy một tiệm 7-Eleven nào và đồ ăn thì được bán theo kích cỡ khổng lồ thì phụ nữ gầy rất được ưa chuộng. Trong những nền văn hoá mà đồ ăn khan hiếm (như khu vực tiệm cận sa mạc Sahara) thì mũm mĩm hơn một chút lại được xem là đẹp, và phụ nữ hấp dẫn đàn ông bằng cách nhồi nhét đồ ăn hàng ngày cho đến khi họ trông “mảnh mai” như Jabba the Hutt.

…là “mảnh mai” như thế này đây.

Nhưng vẻ bề ngoài của đàn ông chỉ có ảnh hưởng đến phụ nữ ở một mức độ nào đó. Đa số phụ nữ thích đàn ông cao hơn họ, với các nét cân xứng (dấu hiệu cho thấy bạn đời tương lai của họ khoẻ mạnh và không mắc bệnh truyền nhiễm). Nhưng, phụ nữ ở bất kì nền văn hoá nào cũng kiên quyết kiếm tìm những người đàn ông có địa vị xã hội cao, có quyền lực và có nguồn tài lực nhất định – điều này đồng nghĩa rằng một anh chàng không được cao lắm có thể được bù trừ đáng kể khi anh ta sở hữu một chiếc phi cơ riêng. Và cũng giống như phụ nữ-không-được-đẹp-lắm, đàn ông thất nghiệp kinh niên hoặc kiếm không được nhiều tiền lắm sẽ gặp rất nhiều khó khăn tìm kiếm bạn đời. Tất nhiên là có nhiều lời phàn nàn từ cánh mày râu về vấn đề này. Tuy nhiên, dẫu hiện nay trên các tạp chí dành cho phụ nữ tràn ngập các bài viết của các nhà báo theo chủ nghĩa nữ quyền, khuyến khích phụ nữ nên rút khỏi cuộc đua cái đẹp và “học cách yêu cô gái trong gương,” vậy mà lại chẳng có ai viết bài cho đàn ông và đưa ra lời khuyên lố bịch “học cách yêu thương cái thằng cha thất nghiệp đang nằm ườn ra trên sô pha đi.”

Vậy, trước khi mọi người gán cho tôi cái nhãn phản bội chính giới tính của mình, hãy để tôi nói rằng, tôi rất ủng hộ phụ nữ có quyền bỏ phiếu, và tôi nghĩ một người phụ nữ có ria mép cũng có thể kiếm nhiều tiền như một người đàn ông có ria mép. Nhưng bạn không giúp đỡ cô ấy bằng cách khuyên “cô cứ để ria mép đó đi, và không cần quan tâm tới cái bụng mỡ ấy đâu” (bởi vì bước đường giải phóng phụ nữ được thực hiện bởi việc càng ngày càng trông giống một gã đàn ông già cỗi lông lá?)

Hóa ra, lời khuyên có hại nhất đang được lan truyền rộng rãi bởi các nhà ủng hộ nữ quyền là cái quan niệm ngớ ngẩn rằng phụ nữ chẳng nên (và chẳng cần) xem trọng những quy chuẩn cái đẹp. Tất nhiên, nhan sắc không phải yếu tố quyết định mọi chuyện (như tôi được độc giả nữ sửa lưng khi phát biểu rằng đàn ông chỉ ham muốn những phụ nữ nằm trong một giới hạn cân nặng nào đó). Nhưng nhan sắc rất quan trọng. Người phụ nữ càng xinh đẹp, cô ấy càng có nhiều cơ hội để lựa chọn bạn đời, cũng như lựa chọn những cơ hội trong công việc và đời sống hàng ngày. Ai cũng biết điều này, và cả tá nghiên cứu cũng xác nhận nó – nhưng dám nói ra những điều này lại là chuyện hi hữu.

Chúng ta ngưỡng mộ những người cố gắng nâng cao tri thức; chúng ta không nói “Nè, bạn sinh ra có phải thiên tài đâu, đọc sách làm gì cho tốn thời gian?” Vậy thì tại sao lại đối xử với vẻ ngoài khác biệt? Chẳng hạn, nghiên cứu cho thấy, đàn ông thích phụ nữ môi dày, cằm nhỏ và mắt to long lanh – những dấu hiệu chỉ ra mức estrogen cao. Vài người phụ nữ may mắn sinh ra với đôi mắt to, những người khác nhờ cậy đến sự giúp đỡ của trang điểm và phấn mắt. Như slogan khôn khéo khẳng định, “Có lẽ nàng đẹp tự nhiên, có lẽ đó là Maybelline.” (Nếu nó giúp cô ấy tăng số lượng bạn đời tiềm năng, ai mà quan tâm là nó bắt nguồn từ đâu chứ?)

Không may mắn cho lắm, nước Mỹ quá mâu thuẫn và không chân thật với bản thân về sức mạnh của cái đẹp, chúng ta tiếp cận nó một cách hết sức dè dặt. Đầu bên này tập hợp những người phụ nữ với phương châm “Hãy yêu tôi vì chính bản thân tôi,” điển hình là cô gái vừa hỏi tôi vì sao những lần cô gặp gặp mặt đàn ông chẳng bao giờ diễn ra tốt đẹp – và cô có phong cách ăn mặc không hề tạo cảm giác “tôi muốn kiếm bạn trai,” mà trông giống như “tôi chỉ là cô gái giúp bạn thông cống.” Đầu bên kia là những người phụ nữ dạo phố như những con búp bê chuẩn bị đóng phim cấp ba. Một lời nhắn nhủ nhỏ cho những người đầu bên kia mà sắp bước vào thời kì mãn kinh: đắp hàng tấn phấn lên mặt không giúp bạn trẻ hơn, nó khiến bạn trông như một vị drag queen hết thời (các vũ công nam giả gái thường đi kèm với lớp trang điểm dày đặc trưng).

Ảnh: BBC

Cũng như vậy, các nỗ lực phẫu thuật thẩm mỹ để khiến một phụ nữ 50 tuổi trông trẻ ra như 25 tuổi thường cho ra kết quả là một con robot đáng sợ trông-có-vẻ 45 tuổi, một đối tượng để dư luận thương hại hơn là ao ước. Việc người khác biết ngay rằng bạn đã phẫu thuật thẩm mĩ thường là dấu hiệu của tay nghề kém hoặc của một người đã quá lạm dụng nó, có lẽ bởi vì cô ấy đang cố gắng lấp đầy những khiếm khuyết trong cuộc đời mình bằng silicon, Juvederm và miếng độn mông. Có những người phụ nữ tìm đến phẫu thuật thẩm mĩ như một giải pháp để khắc phục cái khiếm khuyết trường kỳ trong đời cô. Số khác xem thẩm mĩ như bim bim khoai tây, “ăn một cái thì chẳng đỡ thèm được.” Một người phụ nữ bước vào bệnh viện thẩm mĩ để bơm môi và bước ra với cả hai cặp môi được chỉnh sửa (vâng tôi đang nói đến môi âm hộ đây – “môi ở dưới của bạn có đẹp không?”)

Một khi phụ nữ bắt đầu thấy nếp nhăn và vết chân chim, nỗi tuyệt vọng để tái sở hữu gương mặt long lanh ngày xưa khiến họ thường hành động để cứu rỗi nó. Phụ nữ muốn tin rằng có hy vọng đựng trong lọ mỹ phẩm được bày bán ngoài kia. Rất mừng là có. Rất buồn là hy vọng không dành cho họ, mà dành cho các vị CEO ngoài kia, hy vọng rằng các quý vị phụ nữ sẽ bỏ tiền túi ra mua sản phẩm của họ, đài thọ cho họ một cái du thuyền mới coong và một chateau tọa lạc tại miền nam nước Pháp. Nói thế thôi chứ có hy vọng tồn tại trong chai nhựa chứa đầy kem chống nắng, loại có thể chống được cả tia UVA và UVB (để ngăn ngừa lão hoá). Còn các loại kem chống lão hoá khác, theo nhóm blog Beauty Brains (tạm dịch: Tri thức về cái đẹp), thì đáng buồn thay, chẳng có tác dụng gì hơn kem dưỡng ẩm thông thường.

Phụ nữ Pháp cũng vậy, cũng ngây thơ tin tưởng rằng bạn có thể mua tuổi trẻ tại quầy mỹ phẩm Clarins. Nhưng có lẽ một phần là do chủ nghĩa nữ quyền chưa bao giờ tìm được đường vào văn hoá chính thống ở đây, họ có mối quan hệ lành mạnh với cái đẹp hơn. Họ chấp nhận nó là cây cầu dẫn đến tình yêu, tình dục, mối quan hệ và các cơ hội. Họ tìm được niềm vui khi làm đẹp bản thân, khi nhấn mạnh vào các điểm khác biệt giữa phụ nữ với đàn ông. Họ không từ bỏ việc chăm sóc vẻ bề ngoài ngay cả khi họ già đi cũng như không cố gắng trông giống như học sinh cấp ba khi bản thân đã trên 50. Họ chỉ đơn giản là tự hào về vẻ ngoài và cố gắng trông giống như một người phụ nữ lớn tuổi hấp dẫn.

Để hiểu được rằng bạn phải đánh đổi cái gì để đẹp, trước tiên bạn phải hiểu rằng đẹp là gì. Đẹp là có sức hấp dẫn về mặt giới tính với đàn ông. Và thay vì gầm gừ rằng bản năng sinh dục của đàn ông là một thứ hiểm độc, bạn phải hiểu được rằng họ chỉ đơn giản là khác biệt với phụ nữ, họ bị điều khiển bởi cái đẹp trực quan nhiều hơn phụ nữ. Để biết được những điều phải làm, chúng ta có thể lướt qua những nghiên cứu ngày càng gia tăng trong thời gian gần đây của các nhà tâm lý học tiến hoá, về chủ đề “đàn ông muốn gì nhất”. Ví dụ như Devendra Singh của đại học Texas phát hiện ra rằng đàn ông khắp các nên văn hoá bị thu hút bởi phụ nữ có thân hình chuẩn đồng hồ cát. Đàn ông thích phụ nữ eo ót, ngay cả khi cô ấy hơi mũm mĩm đi chăng nữa. Vì vậy vứt cái đám áo rộng thùng thình đó đi – bạn chỉ khoe được vòng eo con kiến của mình khi có bão cấp 8 thôi. Và nếu bạn hơi thẳng đuột một chút, cố gắng tạo ra vòng eo bằng quần áo hoặc thắt lưng.

Cũng giống như phụ nữ Pháp, chúng ta cũng cần hiểu cách tiếp cận lành mạnh đến cái đẹp. Nó không phải là giả vờ như diện mạo không cần thiết, không quan trọng; cũng không phải là xem diện mạo quan trọng hơn bất kì thứ nào khác. Một khi đối mặt với nó, phụ nữ sẽ thấy được họ cần bỏ ra bao nhiêu nỗ lực vào vẻ ngoài của mình (hoặc chấp nhận những cơ hội bị bỏ qua nếu bạn không chăm chút vẻ ngoài của mình). Sự thật là, cũng giống như kiến thức, vẻ đẹp là sức mạnh. Vì vậy, chị em phụ nữ ngoài kia, hãy đọc nhiều sách, phát triển trí tuệ và tính cách, tận dụng những quyền mà các anh hùng đã phải đấu tranh để chúng ta có được, phấn đấu trở thành một người có thể tạo ra sự thay đổi cho xã hội. Và… suỵt, trong lúc làm những việc đó, đừng quên đánh một chút son cho đẹp nhé.

Hết.

Emma Đẹp Thần Thánh dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Amy Alkon, đăng tại Psychology Today.

Xem tất cả những bài viết của Emma Đẹp Thần Thánh tại đây.


Muôn chuyện phức tạp của phụ nữ!



Đọc bài viết

Trà chiều

Mọt sách chả phải là một loại cá tính đâu

Lịch sử ra đời của khái niệm “bookishness” (mọt sách), và nguyên nhân Marie Kondo có sức uy hiếp đến những người tin dùng từ này.

Đăng từ

on

Người đăng

LIKING BOOKS IS NOT A PERSONALITY

Hannah McGregor

Bạn có nhớ, vào năm 2017, từng tồn tại một xu hướng ngắn hạn là quay gáy sách vào trong chỉ để cho đẹp? Tài khoản Instagram của Apartment Therapy đã đăng một tấm hình chụp kệ sách có gáy sách quay ngược vào trong, và những phản hồi quá sức kịch liệt với hàng tá người lăng mạ xu hướng này là phản-tri-thức, thậm chí so sánh hành động trên với việc đốt sách, vào thời điểm ấy có vẻ như là ví dụ điển hình nhất cho khả năng nổi xung thiên của cộng đồng mọt sách online.

Cho đến khi Marie Kondo xuất hiện, uy hiếp những cuốn sách của ta, và mọt sách Internet chứng minh ước đoán của tôi trật lất rồi.

Dành cho những người lạc hậu, Marie Kondo là chuyên gia bài trí nhà cửa người Nhật; cô đạt đến đỉnh cao danh tiếng vào năm 2011 khi cuốn sách do cô chắp bút, The Life-Changing Magic of Tidying Up (Nghệ thuật bài trí của người Nhật), lọt vào danh sách bán chạy trên toàn thế giới. Cuốn sách quảng bá phương pháp KonMari: mọi người dọn dẹp nhà cửa bằng cách xếp chồng đồ đạc của mình lại, sau đó tự vấn rằng món nào trong số đó “khiến bạn cảm thấy hân hoan.” Năm 2019, Kondo đạt được những bước tiến cao hơn, từ nổi tiếng trong giới xuất bản đến nổi tiếng trên Netflix với sê-ri truyền hình thực tế tám tập Dọn nhà cùng Marie Kondo. Và bỗng nhiên, những luồng ý kiến trái chiều về đống bừa bộn bùng nổ trên Internet.

Ảnh: Business Insider

Cụ thể hơn, một nhóm phụ nữ da trắng đã đứng ra bào chữa cho đống bừa bộn nói chung và sách nói riêng, với một cách diễn đạt – thẳng thắn mà nói – là khá phân biệt chủng tộc. Tác giả nữ quyền Barbara Ehrenreich đã tweet (tweet này sau đó bị xóa) lời cáo buộc rằng thứ tiếng Anh pha khẩu âm Nhật của Kondo là dấu hiệu cho thấy vị thế thống trị của Mỹ đang dần sụp đổ, và theo sau với một câu tweet chẳng tốt đẹp gì hơn: “Tôi thú nhận: Tôi căm ghét Marie Kondo vì, nói theo quan điểm thẩm mỹ, tôi thiên về phe bừa bộn. Bàn về cách nói chuyện của cô ta: Tôi cảm thấy ổn khi cô ta không sử dụng tiếng Anh để giao tiếp với lượng khán giả Mỹ khổng lồ, nhưng điều này rõ ràng ám chỉ việc siêu cường quốc Mỹ đang xuống dốc.”

Cách Ehrenreich chú trọng vào khía cạnh thẩm mỹ của đống bừa bộn dường như là lời hiệu triệu đến những người cùng quan điểm, dẫn đến những bình luận phân biệt chủng tộc và bài ngoại tương đương. Nhưng điều khiến Kondo trở thành con dê tế thần của cộng đồng mọt sách Internet chính là lời khuyên của cô trong tập năm, rằng mọi người nên vứt bỏ những cuốn sách không còn khiến họ hân hoan nữa.

Độc giả nổi điên lên, cho rằng mục đích của sách không phải là hân hoan. Như tác giả người Canada Anakana Schofield viết trong tờ The Guardian: “Cái thước đo mục đích chỉ giới hạn trong việc ‘tạo ra niềm hân hoan’ nảy sinh nhiều vấn đề sâu xa khi áp dụng với sách… Văn học không tồn tại chỉ để đánh thức những xúc cảm dễ chịu hoặc vỗ về chúng ta với những điều khoái trá; nghệ thuật còn thách thức và khiến chúng ta bối rối, nhiễu loạn.”

Ngôn từ phân biệt chủng tộc trong biện hộ cho đống bừa bộn của Ehrenreich cũng xuất hiện trong biện hộ cho một thư viện cá nhân không gạn lọc của Schofield. Bà đề cập đến việc Kondo gõ nhẹ lên bìa sách với “cử chỉ đầu ngón tay tựa tiên nữ” như một phần của “địa hạt siêu linh, huyễn tưởng mà ta lỡ chân bước vào.” Trọng tâm lời chỉ trích của Schofield dường như xuất phát từ việc hiểu lầm ý nghĩa chữ “hân hoan” của Kondo, một sự hiểu lầm căn bản mà Ellen Oh, nhà sáng lập của We Need Diverse Books (tạm dịch: Chúng ta cần những quyển sách đa dạng hơn), gọi là chủ đích:

“Có một sự nhấn mạnh quá đà lên chữ ‘khiến ta hân hoan’ mà không hề hiểu rằng [Kondo] đang nói đến điều gì. Tokimeki thực ra không có nghĩa là hân hoan. Nó mang nghĩa rung động, vui sướng, nhịp đập trái tim. Chỉ cần cái định nghĩa cơ bản này là đủ để triệt tiêu lập luận của Schofield rằng sách không chỉ nên khiến ta hân hoan mà còn thách thức và đảo lộn chúng ta. Tokimeki ám chỉ rằng nếu một cuốn sách thách thức và đảo lộn chúng ta, đồng thời cho ta một phản ứng xác thực, tại sao chúng ta phải vứt bỏ chúng chứ?”

Có điều gì trong lời khuyên của Kondo – rằng người ta nên cân nhắc việc vứt bỏ một vài quyển sách một khi chúng biến thành đống bừa bộn gây căng thẳng – lại có sức uy hiếp, khiến những nhà nữ quyền da trắng trên mạng xã hội sinh ra những phán xét tệ hại như vậy? Việc này liên quan đến địa vị đặc thù do những người-yêu-sách-tự-phong gán cho sách, và cơn giận tương quan của họ khi những kẻ như Kondo đề xuất rằng sách chỉ là những vật thể ngang hàng với nội y và miếng lót ly. Đáp lại cơn giận của Schofield, vấn đề nằm ở việc quan điểm “phi lý” của Kondo khác biệt với quan điểm “phi lý” của Schofield, người cho rằng “cách đánh thức những quyển sách là mở nó ra và đọc to lên.” Cớ gì việc gõ nhẹ tay lên bìa sách là vớ vẩn, nhưng việc đối xử với sách hệt như chúng là một kho tàng ma thuật sẵn sàng được kích hoạt lại không vớ vẩn?

Chúng ta có thể dành cả ngày để phân tích sự bài ngoại, phân biệt chủng tộc, bài phương Đông và phân biệt giai cấp hiện diện trong những lời chê trách trên, nhưng tôi muốn tập trung vào cách mà những mọt sách tự phong phản ứng với chuyện liên tưởng sách là đống bừa bộn, sự giáng chức của chúng từ vật linh thiêng đến tầm thường – hay, chính xác hơn, sự khăng khăng rằng chúng chẳng có linh thiêng gì hơn những đồ vật khác. Đây là một cuộc hội thoại mà tôi cho rằng vừa tiêu biểu mà vừa khai sáng:


Brenna Clarke Gray (@brennacgray): Ok. Sách chỉ là đồ vật thôi.

They’re Taking Your Kids Next (@MidianiteManna): À, không. Đối với tôi chúng là những trải nghiệm. Nói vậy thì chẳng khác nào bảo một chuyến du ngoạn đến Paris chỉ là một đồ vật.

Brenna Clarke Gray: Ok.


Ngoài việc kinh ngạc trước kỹ năng né-tránh-khẩu-chiến-Twitter của học giả văn hóa đại chúng Brenna Clarke Gray, ta hãy xem xét việc gọi sách là một “trải nghiệm” liệu có ý nghĩa gì. Vị thế của sách như một đồ vật từng cùng lúc bị phủ nhận và gán cho quá nhiều trọng trách: bản in vật lý này là thế thân cho hành động đọc, đồng thời là chiến tích để phô diễn rằng bạn có quan hệ cảm xúc và tư duy đúng đắn với việc đọc. Người sở hữu sách đơn thuần có lẽ xem sách như một thứ có thể được tái sử dụng để trang trí hoặc cho đi khi chúng trở nên không cần thiết, nhưng độc giả thì biết sách chứa đựng cả thế giới – và bộ sưu tập sách của họ trở thành biểu tượng của đẳng cấp, dấu hiệu của sự thông thái cấp cao.

Chẳng có gì mới mẻ trong mối tương quan giữa việc yêu thích sách và đọc sách giữa thanh thiên bạch nhật. Đã có lịch sử lâu dài ghi nhận việc tiêu thụ sách như là điệu bộ xã hội. Như học giả người Mỹ Lisa Nakamura chỉ ra, trưng bày sách cho người khác xem từ lâu đã được xem là “một hình thức tiêu dùng công cộng để thiết lập và quảng bá hình ảnh một cá nhân ham đọc.” Nhưng văn hóa đọc đương đại đã mở rộng việc tiêu dùng công cộng ngoài phạm vi sách, rộng ra những hàng hóa phong cách sống. Nền văn hóa của chúng ta cắm rễ trong mối quan tâm cảm xúc sâu sắc dành cho sách, và người tiêu dùng đã học được cách thể hiện mối quan tâm này thông qua hành vi mua sắm. Ta có thể nhận thấy điều này trong lịch sử tiêu thụ sách, từ những người cuồng sách thời kỳ đầu đến lời đề xuất của Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-quyển-sách giúp bạn xây dựng một thư viện cá nhân vào giữa thế kỷ, đến những blog dành cho thế hệ millennial đã biến thói quen đọc sách thành một hành vi tiêu thụ. Theo tôi, một khi bạn am hiểu quá trình phát triển của thuật ngữ “mọt sách”, bạn sẽ hiểu chuyện gì đã xảy ra khi Marie Kondo nhăm nhe giải quyết những đống lộn xộn đầy sách.

Trong Loving Literature: A Cultural History (tạm dịch: Đam mê văn chương: Một lịch sử văn hóa), Deidre Lynch đã lần theo dấu vết lịch sử lâu dài của nỗi ám ảnh về sách, hay bibliomania. Vào cuối thế kỷ 18, việc công nghiệp hóa ngành sản xuất giấy và sau đó là ngành in đã tạo ra một thị trường sách sống động đầy mới mẻ. Thị trường này chủ động đầu tư vào việc nhân tính hóa sách, biến sách trở thành một phần của “thế giới sống” để mọi người có thể yêu chúng (bằng cách mua chúng). Xuất hiện cùng lúc với đam mê tiêu thụ dành cho sách là sự biến đổi của không gian nhà cửa: “không gian bán-công cộng, thương mại của nhà cửa trước kia nay trở thành chốn trú ẩn cá nhân” – và việc đọc càng ngày càng trở thành một hoạt động riêng tư, hoạt động mà một quý ông trung lưu thực hiện trong ngôi nhà ấm áp, từ nguồn cung cấp là chính thư viện nhà anh ta.

Chú ý đến việc sử dụng giới tính chủ đích trên. Bibliophile (người cuồng sách) là một người đàn ông. Anh ta không tùy tiện thu thập sách; trái lại, anh để ý rất nhiều đến địa vị, giá trị và khả năng sưu tầm của chúng. Nhưng như Lynch đã chỉ ra, phụ nữ vẫn kết nối với văn hóa đọc, chỉ là không thông qua quyết định mua hàng. (Phụ nữ sẽ càng ngày càng chịu trách nhiệm cho những quyết định mua hàng tiêu dùng trong nhà trong thế kỷ 20, cũng là khi thị trường sách bắt đầu chủ động chuyển hướng sang độc giả nữ.) Vậy, một bibliophile nữ có chân dung như thế nào? Lynch đã mô tả một dạng album văn học rất giống với thế giới fan fictionfan art đương đại:

“Những tập bản thảo thơ nhà làm – một tổng hợp văn thơ tự sáng tác xen kẽ với các đoạn trích chép tay từ những nguồn đã được xuất bản, thỉnh thoảng lại kèm thêm những bài cắt dán từ báo chí và tạp chí định kỳ, tranh phong cảnh màu nước không chuyên (thi thoảng là kỷ niệm từ những chuyến du lịch), những bức chân dung giả tưởng của nhân vật tiểu thuyết và thơ ca (đặc biệt của Walter Scott), tranh pastel trên giấy gạo đạt đến trình độ chính xác về động vật học và thực vật học, vẽ sò biển, bươm bướm, và/ hoặc những bông hoa, nhiều những tác phẩm khác được thực hiện bởi một bàn tay nữ tính thời thượng; thiệp dán với hoa và dương xỉ ép, những nắm tóc, thiệp tưởng nhớ ai đó vừa qua đời.”

Xin hãy lưu tâm đến sự đối lập giữa một dạng thư viện tuyển tập sáng suốt (của bibliophile nam) và một dạng tương tác rất đỗi riêng tư và say mê (của bibliophile nữ). Tôi nghĩ rằng phương thức sau là hình mẫu đường hướng cho văn hóa đọc thế kỷ 21, đặc biệt khi mua sách trở thành một hoạt động phần nhiều là nữ tính.

Xu hướng bibliomania vào thế kỷ 19 vạch đường dẫn lối cho sự cố chấp của giới trung lưu thế kỷ 20 trong việc thu thập một thư viện đàng hoàng, như những gì Janice Radway phác thảo trong A Feeling For Books (tạm dịch: Cảm xúc cho những quyển sách). Radway giải thích cách mà Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách (thành lập năm 1926) trở thành khuôn mẫu cho cuộc hôn nhân giữa thương mại và văn hóa trong nền văn hóa đọc tại Mỹ. Tổ chức này tận dụng sức mua đang bành trướng của người Mỹ sau Thế chiến thứ II, cũng như sự tăng trưởng của tầng lớp quản trị – lành nghề, những người mà Radway miêu tả là “lao động tri thức và chuyên nghiệp, có vai trò quan trọng trong việc lưu chuyển lượng lớn thông tin thiết yếu với nền kinh tế tiêu dùng tích hợp.” Con cái của tầng lớp này được “dạy dỗ để trân trọng sách vở và hướng đến những ngành nghề tri thức,” nhưng cách thức họ được dạy dỗ để trân trọng sách có điểm khác biệt với những người cuồng sách thông thường trong thế kỷ trước. Radway nhấn mạnh, Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách, đầu tư rất nhiều vào ý tưởng một “người đọc tổng quát, thông minh.” Danh tính độc giả này liên quan chặt chẽ đến sự chú trọng mà ngành sách dành cho danh mục marketing con. Theo Radway, đây là khái niệm “đọc sách” theo cách hiểu của Câu lạc bộ:

“Tại Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách, nhiệm vụ đánh giá hàng ngày có nền tảng từ một lý thuyết ngầm liên quan đến việc đọc sách. Đọc sách không được coi là một hoạt động đồng nhất, và sách cũng không được đánh giá dựa theo một bộ tiêu chuẩn đơn nhất. Thay vào đó, việc đọc được cân nhắc là hành động tinh vi và hoàn toàn phụ thuộc vào hoàn cảnh. Đôi khi người ta đọc để thư giãn, thỉnh thoảng người ta đọc để dễ ngủ, thỉnh thoảng người ta đọc để tìm hiểu cách thức ăn uống, và thỉnh thoảng người ta đọc để sống những cuộc sống khác, nghĩ những suy nghĩ khác, để cảm xúc được nồng nhiệt hơn…. Để đo lường thành công của bất cứ cuốn sách nào, biên tập viên của Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách không chỉ đánh giá những đặc điểm từ bản thân văn bản, mà còn dựa vào việc cuốn sách đưa ra giá trị gì, có phù hợp với những điều độc giả tiềm năng yêu cầu không.”

Những điều trên rất hợp lý khi sử dụng trong chiến lược marketing, và chúng hiện diện rõ ràng trong cách thức Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách đưa ra các lựa chọn sách: gom lại tác phẩm kinh điển, phi hư cấu nặng nề cùng với tiểu thuyết lãng mạn nhẹ nhàng dưới cái cớ như là “nâng cao” trải nghiệm đọc nói chung. Hình tượng “người đọc tổng quát, thông minh” có quyền tự do đọc hết tất cả danh mục đóng vai trò sống còn với sự phát triển của văn hóa mọt sách đương đại; nó cho phép thị trường sách đạo đức hóa việc đọc và sách nói chung, đồng thời phản đối sự kiêu căng của một vài cuốn sách – hoặc thể loại – nhất định. Là độc giả thì tốt hơn việc không là độc giả, và (việc đọc) một thể loại này cũng không tốt hơn (việc đọc) một thể loại khác. Phương thức đọc sách này được Radway định nghĩa là có trình độ hiểu biết vừa phải, và nó rất liên quan đến những cảm xúc mà sách mang đến cho ta.

Beth Driscoll cho rằng cảm xúc vẫn là mục đích của những độc giả có trình độ hiểu biết vừa phải đương đại. Driscoll đưa ra tám đặc điểm với những người này: trung lưu, tôn kính, thương mại, trung gian, nữ tính, giải trí, chân thành, và cảm xúc. Chúng ta có thể thấy trong danh sách này, dấu vết của bibliophilia thế kỷ 18 và 19 đã chuyển biến thành văn hóa văn chương thời nay – mối liên kết giữa việc đọc và không gian trung lưu, những nỗ lực để diễn giải mối quan hệ tôn kính với một vật phẩm thương mại. Tất cả những điều này – nhận thức về tầng lớp, siêu-trung gian, liên kết giữa sùng kính và thương mại, sự nữ tính hóa việc tiêu thụ sách, và đặc biệt là hình tượng độc giả tổng quát, thông minh – tựu trung lại thành những cá nhân “mọt sách” thế kỷ 21.

*

Hãy bàn về từ “mọt sách” (“bookishness”). OED cho rằng từ này bắt nguồn từ thế kỷ 16; thời bấy giờ, nó có nghĩa là “nghiêm túc về việc đọc sách” hay “ham học hỏi” (không ngạc nhiên mấy). Mặc dù vậy, bên cạnh những định nghĩa trung lập trên, từng có thời gian thuật ngữ này mang ý nghĩa hơi miệt thị, ám chỉ những người bị ám ảnh bởi sách vở và tách rời khỏi thế giới thực. Cái cách từ “mọt sách” được sử dụng trong văn hóa đọc đương đại chẳng khác gì một sự tái khẳng định đắc thắng, một sự khăng khăng rằng mối quan tâm quá lố dành cho sách hẳn nhiên là một việc tốt. BookRiot, một công ty truyền thông mới ra đời năm 2011 như là một điểm đến văn hóa cho người yêu sách, là ví dụ để thấu hiểu được cách thức thuật ngữ này bị chuyển nghĩa.

Bài đăng vào ngày 30.05.2018 mang tên “Đến tuổi 35: Phiên bản Mọt sách” cho ta biết rất nhiều về định nghĩa mọt sách của BookRiot. Bài đăng này vừa phản nghịch mà vừa soi sáng. Nó tập trung vào sự tiêu dùng lộ liễu – “bạn nên nhờ bạn đời củng cố nền căn phòng bạn dùng để chứa sách” – cũng như việc coi trọng số lượng hơn chất lượng, khuyên rằng bạn nên mua lại những cuốn sách ưa thích thời thơ bé, lấp đầy giá sách bằng tiểu thuyết lãng mạn, “sách lịch sử chèn cửa,” và một “tủ sách mà bạn biết chắc mình không bao giờ thèm đọc, nhưng bạn muốn khách viếng thăm biết rằng bạn sở hữu chúng.” Sự pha trộn giữa sách lãng mạn, lịch sử và kinh điển trong cùng một tủ sách (quá khổ) phản ánh tinh thần của những thành viên tổng quát, thông minh trong Câu lạc bộ Cuốn-sách-của-tháng, những người biết rằng chẳng quan trọng là bạn đọc cái gì, chỉ cần bạn đang đọc (hay đang mua) rất nhiều sách là được. Một bài đăng vào ngày 09.01.2019 đưa ra thử thách “Danh sách ước nguyện của dân mọt sách,” bao gồm việc du lịch đến một địa điểm mọt sách, gặp gỡ một tác giả mình yêu thích, và lan tỏa văn hóa đọc khắp cộng đồng của bạn “bằng cách giúp ai đó yêu thích việc đọc sách.” Bạn có thể thấy từ ngữ chuyển đổi ý nghĩa, từ việc “rất thích đọc sách” sang một thể loại phong cách sống hay là nhãn danh tính, trong đó việc “rất rất thích sách” (sách gì cũng được!) có thể trở thành toàn bộ danh tính của một người.

“Bạn có thể nhận thấy những từ này bắt đầu chuyển đổi thành nhãn danh tính, một cái nhãn mà trong đó ‘rất thích sách’ trở thành toàn bộ danh tính của một người.”

Theo tôi, một dạng biểu hiện danh tính mọt sách lý thú nhất xuất hiện trong mục “Book Fetish” (tạm dịch: Sùng Bái Sách). Book Fetish là minh chứng cho việc mọt-sách nay gần như đã mở rộng ra phạm trù tiêu dùng. Rõ ràng, Book Fetish không viết về sách là về những thứ phụ kiện họ-hàng-gần-với-sách có sức hấp dẫn với người khác (đặc biệt là phụ nữ), những người tự nhận mình là mọt sách. Nhìn lướt qua, ta bắt gặp một loạt những đồ vật, gồm bút chì, sổ tay và bookmark (hiển nhiên rồi), nhưng còn có vải thêu chữ thập, ấm trà, áo thun, trang sức,… và còn nhiều hơn nữa.

Đặc điểm nổi bật của “thói bái vật” góp nhặt này là việc sách không chỉ là vật sở hữu thông thường – điểm này đưa ta quay lại với Marie Kondo và những lời chối bỏ mang tính gây hấn nhắm đến quan điểm của cô. Khá mỉa mai khi Book Fetish quảng cáo những vật-dụng-tiêu-dùng-không-phải-là-sách để quảng cáo cho cái ý tưởng rằng sách-không-phải-là-vật-dụng-tiêu-dùng. Để tôi giải thích rõ hơn: địa vị đặc biệt của sách – xuất phát từ tham vọng nhân tính hóa sách để phục vụ cho sự trỗi dậy mạnh mẽ của thị trường sách thế kỷ 18 – phủ sóng khắp Book Fetish. Nhưng bản thân những bài viết này cũng chứng thực cho mối quan tâm sâu sắc mà nền văn hóa mọt sách dành cho thị trường sách: nó hân hoan tán tụng sự tiêu dùng sách lộ liễu, đồng thời những thứ phụ kiện để quảng cáo sự tiêu thụ sách lộ liễu của bạn.

*

Nakamura, khi viết về vai trò quan trọng của Goodreads trong văn hóa đọc đương đại, chỉ ra rằng những nền tảng này đã đẩy mạnh quá trình biến sách và độc giả trở thành một loại hàng hóa:

Goodreads cho ta thấy cách thức những trang mạng xã hội về sách đã trở thành một loại hàng hóa, một loại hình kinh doanh khống chế nội dung từ tất cả người dùng, không thừa nhận nghĩa vụ pháp lý, giữ quyền xóa bỏ hồ sơ và dữ liệu người dùng mà không cần bất cứ lý do gì. Những tủ sách ta giữ gìn cẩn thận trên Goodreads – một số chứa cả ngàn cuốn sách – có thể đột ngột biến mất bất cứ lúc nào.”

Tuy nhiên, những phong trào của cộng đồng mọt sách trực tuyến – từ mua sách trên Amazon đến đọc sách trên Kindle và rồi bình luận trên Goodreads – không hề biến sách thành một thứ hàng hóa tầm thường; thay vào đó, nó đã nâng sách lên một tầm cao mà những bibliophile thế kỷ 18 không bao giờ tưởng tượng nổi. Sự sát nhập của Goodreads vào đế chế Amazon đã khiến tình trạng trở nên trầm trọng hơn – bằng cách nào đó, địa vị đặc thù của sách nay góp phần tung hỏa mù, khỏa lấp mục đích thực sự của Amazon.

Tôi xin kết thúc bài viết bằng cách quay trở lại điểm xuất phát: vì sao quá nhiều người (da trắng) lại nổi điên lên trước ý kiến của Marie Kondo rằng sách cũng chỉ như bao thứ đồ vật khác mà thôi. Thứ tình yêu mãnh liệt mà những mọt-sách-tự-phong dành cho sách hoàn toàn không phải “lẽ thường”: nó là cao trào từ tập hợp những đổi thay kinh tế và văn hóa trong 300 năm qua, nhân tính hóa sách và đồng thời cũng ổn định tình hình tiêu thụ sách, biến việc-yêu-thích-sách trở thành danh tính người dùng rõ rệt, đến nỗi khi một quan niệm mới về sách xuất hiện, đề xuất một mối quan hệ mới giữa sách và người đọc, những cá nhân “mọt sách” này cảm thấy bị đe dọa đến gần như mất trí.

Hết.

Aki-ten lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Hannah McGregor, đăng tại Electric Lit.

Xem tất cả những bài viết của Aki-ten tại đây.


Những bài viết có cùng chủ đề




Đọc bài viết

Trà chiều

Truyện cổ tích: Minh chứng cho sự khác biệt trong cách các nền văn hóa nhìn nhận thế giới

Cho dù chúng ta có nhận ra hay không thì những câu chuyện thuở nhỏ, đặc biệt là truyện cổ tích, trở thành khuôn mẫu để ta phân định cấu trúc truyện thành công là như thế nào, và cấu trúc nào sẽ khiến độc giả cảm thấy thỏa mãn.

Đăng từ

on

Người đăng

OUR FAIRY TALES OURSELVES: STORYTELLING FROM EAST TO WEST

Marie Mutsuki Mockett

Hôm nay là Lễ Giáng Sinh, và tôi đang ngồi đây đọc đến ba quyển sách cho đứa con trai sáu tuổi trước khi nó đi ngủ. Trong đó, có một quyển truyện Nhật Bản mà tôi chưa từng đọc, nói về thế giới của chú mèo trắng tinh nghịch, Nontan.

Trong Nontan! Santa kìa!, Nontan khởi đầu hành trình trong đêm đầy tuyết, cầm theo chiếc tất Nô-en với hy vọng gặp Ông Già Tuyết và mau chóng nhận được món quà cậu mong muốn: một chiếc xe đồ chơi màu đỏ. Bên ngoài căn nhà của ba chú thỏ bạn cậu (những người đang ngủ ngon lành), Nontan thấy được Santa! Nhưng ông già Nô-en lại là một chú thỏ. Nontan được chỉ rằng cậu phải tìm ra ông già Nô-en cho mèo, vì ông già Nô-en thỏ không được phép tặng bất cứ thứ kỳ cho loài mèo. Bên ngoài căn nhà của bạn gấu (cũng đang ngủ say), Nontan lại tìm thấy Ông già Nô-en, nhưng tất nhiên, ông già này là dành riêng cho gấu mà thôi.

Nontan nhỏ bé lê bước mệt nhọc trong bộ quần áo ngủ, tay cầm chiếc tất Giáng sinh, và bầu trời nhanh chóng tràn ngập ông già Nô-en bay vụt qua. Trong cơn mê sảng do giảm thân nhiệt (tôi đoán thế), Nontan thấy một Santa cá vàng bơi trong bể cá trên chiếc xe tuần lộc. Có Santa tuần lộc, Santa rắn (được kéo bởi hai con rắn khác), Santa cua (được kéo bởi một con rùa), Santa nhện (đi nhờ xe của Santa người) và thậm chí cả mụ phù thủy Halloween cũng bay dạo một vòng. Nhưng chẳng có Santa mèo. Nontan nhanh chóng ngủ quên dưới một tán cây, trong khi tuyết tiếp tục rơi. Thế giới thật lạnh lẽo với một chú mèo nhỏ bị lạc trong đêm tuyết.

Tất nhiên ở phương Tây chỉ có một ông già Nô-en mà thôi (không tính ông già Nô-en trong siêu thị). Nhưng con trai của tôi, từ nhỏ đã được nghe những câu chuyện từ cả phương Tây và phương Đông, không có vấn đề gì với tình tiết lạ lùng này. Đó chỉ đơn thuần là một câu chuyện. Có một thể loại truyện khác, lấy bối cảnh Nhật Bản, trong đó thứ này luôn biến thành hàng trăm thứ khác nhau; nơi động vật, đôi lúc cả đồ ăn trong tủ lạnh, có thể nói chuyện, và mạch truyện không cần phải đi theo những xu hướng tuyến tính thông thường. Đây không phải là lần đầu tiên tôi nhận thấy: chúng ta đã mặc định phương hướng phát triển của mạch truyện từ khi còn rất nhỏ. Cho dù chúng ta có nhận ra hay không thì những câu chuyện thuở nhỏ, đặc biệt là truyện cổ tích, trở thành khuôn mẫu để ta phân định cấu trúc truyện thành công là như thế nào, và cấu trúc nào sẽ khiến độc giả cảm thấy thỏa mãn.

*

Tôi đã nghĩ rất nhiều về cách chúng ta tiếp thu các câu chuyện. Trong những năm tôi hai mươi, tôi từng nhận lá thư từ chối từ nhà xuất bản cho một bản thảo (mà bây giờ tôi hy vọng không ai đọc được nó). Lá thư có những cụm từ như “trở thành một nhà văn tốn rất nhiều thời gian”, và “có lẽ cô nên cân nhắc đến trường học hỏi.” Cô ấy cũng đề nghị tôi nên đọc The Writer’s Journey (tạm dịch: Hành trình của một nhà văn) của Christopher Vogler.

Tựa đề The Writer’s Journey được lấy cảm hứng từ quyển The Hero With a Thousand Faces (tạm dịch: Người anh hùng với 1000 khuôn mặt) của Joseph Campbell, xuất bản năm 1949. Quyển sách sử dụng trường phái tâm lý học của Carl Jung để minh họa cho lý thuyết tất cả các thần thoại về cơ bản đều là một. Nhân vật chính – người anh hùng – vượt qua khó khăn trong hành trình tìm được chính mình. Ẩn chứa trong những truyền thuyết này là bí quyết hữu dụng để tiêu diệt những con rồng ẩn dụ, chế ngự Medusa (hoặc có lẽ là làm thế nào để ngay từ đầu không biến thành Medusa), và vì sao bạn không nên yêu mẹ mình nhiều quá. George Lucas ghi nhận Joseph Campbell là người đã truyền cảm hứng để ông thêm thắt những yếu tố thần thoại vào Chiến tranh giữa các vì sao, ám chỉ rằng câu chuyện của Luke và Jedi không chỉ là một bộ phim hoạt hình thứ bảy đóng gói trong dạng thức điện ảnh – bom tấn khoa học viễn tưởng này có nội dung sâu sắc hơn thế. 

The Writer’s Journey khuyến khích các nhà văn phải hiểu phương hướng kiểu mẫu của truyền thuyết để viết nên những câu chuyện hoàn hảo, kết nối được với độc giả (và sẵn tiện kiếm bội tiền). Vogler giải thích rằng quyển sách của ông là lời nhắn nhủ nội bộ đến những công ty làm phim, và nó là một trong những yếu tố quan trọng đóng góp vào sự trỗi dậy của phim Disney vào cuối thập niêm 80 của thế kỉ XX, một quá trình bắt đầu bằng Nàng tiên cá, và đạt đỉnh cao gần đây nhất là Chiến tranh những vì sao: Thần lực thức tỉnh

Vì vậy, tôi đọc The Writer’s Journey. Tôi đọc về Sự Từ Chối Lời Kêu Gọi (The Refusal of the Call – việc nhân vật chính thoạt tiên từ chối không can dự dù sứ mệnh đã xuất hiện), và nếu bạn đã xem bộ phim Chiến tranh giữa các vì sao mới đây, bạn sẽ thấy nhân vật Rey cũng trải qua Sự Từ Chối này. Tôi đã đọc về Vị Cố Vấn Thông TháiCon Đường Đi Đến Nội Tâm Trong Nhất. Tôi đọc về cách làm thế nào, trong những câu chuyện nổi tiếng, người anh hùng kết thúc cuộc hành trình và nhận được cái mà Vogler gọi là Phần Thưởng. Chỉ khi người anh hùng hoàn thành cuộc hành trình, người đọc mới được trải nghiệm cái cảm xúc mà Aristotle gọi là “sự thở phào”. Một câu chuyện chỉ thành công khi có được sự đồng cảm từ độc giả. Ta đã được trải nghiệm cảm giác đó khi E.T. về nhà (E.T.) và khi Rose sống sót qua thảm hoạ và thay đổi theo hướng tích cực hơn từ những trải nghiệm trên tàu Titanic (Titanic).

Khi Vogler viết rằng một câu chuyện thành công sẽ kích hoạt phản ứng cơ thể, tôi hiểu ý ông ấy. Ai mà không hiểu chứ? Ai mà không từng ngồi hàng giờ trước TV, xem một bộ phim làm thay đổi cảm xúc của bạn. Mặt khác, một số bộ phim và tiểu thuyết, vì lý do gì đó, có cảm giác như đang cố thao túng cảm xúc của khán giả. Vào những năm tôi hai mươi, tôi rất bực bội với những tiểu thuyết kết thúc bằng A) cái chết của ai đó và B) một em bé vừa chào đời. Không may là mọi thứ từ Fried Green Tomatoes (tạm dịch: Cà chua xanh chiên) cho đến Cold Mountain (tạm dịch: Núi lạnh) đều đi theo cấu trúc này. Tất nhiên là phải có em bé! Nếu tôi muốn dành thời gian cho một trải nghiệm được thiết kế để buộc tôi đẩy cảm xúc theo phương thức gượng ép nào đó, thà tôi uống thuốc ngủ Ambien.

Đồng thời, tôi cũng không muốn đọc một quyển sách mà tác giả cố ý tạo ra những tình huống không thể đoán trước được. Đã có một thời thịnh hành xu hướng giết chết nhân vật được yêu thích. Ai mà quên được người hâm mộ đã điên tiết như thế nào với bộ phim khoa học viễn tưởng Serenity (tạm dịch: Tĩnh lặng) khi một tia sáng đi lạc cắt đôi nhân vật Wash một cách thô bạo? Cái chết của Wash không giống như một điều cần thiết cho mạch truyện, mà giống như biên kịch hả hê nói “Nhìn những gì mà tôi có thể làm này! Tôi có thể phá vỡ dự đoán của các bạn!” Tất nhiên là vào năm 2016, một nhân vật được yêu thích như Han Solo phải chết thôi. 

Tôi ngờ rằng, nếu bạn đang đọc bài viết này, bạn cũng là một độc giả vừa cẩn trọng mà vừa mạo hiểm tìm kiếm những trải nghiệm mới lạ. Bạn cũng đang đồng thời tìm một câu chuyện giống một câu chuyện, nhưng không phải là bản sao của những thứ bạn từng đọc trước đây. Bạn muốn được chìm đắm, muốn được thấy cảm động. Bạn muốn sự chân thật. Và tất nhiên, bạn muốn câu chuyện phải có hiệu quả.

*

Một phần tuổi thơ của tôi trải qua ở Nhật; mẹ tôi dẫn tôi đến đây mỗi mùa hè. Trong khi tôi chỉ được phép xem TV hai giờ một tuần ở Mỹ (bố mẹ tôi cực kì tin vào xếp hạng phim), ở Nhật tôi được phép xem TV bao lâu cũng được, với lý do là nó sẽ giúp tôi cải thiện tiếng Nhật. Vì vậy tôi xem quên trời. Đôi lúc tôi sẽ thấy thứ gì đó trên TV gây sự chú ý sâu sắc, kích thích trí tưởng tượng và tình yêu của tôi, nhưng đồng thời cũng khiến tôi khóc lóc nhiều đến nỗi mà mẹ phải ngồi hàng giờ, cố gắng an ủi tôi vì sự bất công hay là cái kết bi kịch trong phim; bà càu nhàu về cái nền văn hoá của chính bà đã tạo ra cái kết buồn thảm thiếu trách nhiệm như vậy. Bởi vì ở Nhật Bản, các câu chuyện có thể buồn một cách tuyệt vọng, không thể cứu vãn được. Ma quỷ có thể chiến thắng nhân loại. Người ta còn quan hệ tình dục trên TV và còn hở cả ngực. Những câu chuyện này – hay chính cuộc đời – đầy những âu lo, nhưng cũng màu sắc hơn, như thể chỉ việc sống trong phim truyền hình Nhật còn can đảm hơn ở nhà. Nhưng nó không phải là một sự âu lo giả tạo. Sống trong một thế giới vừa năng động vừa tràn ngập nguy hiểm, hậu quả là những người vô tội vẫn đang phải chịu đựng khổ đau hàng ngày.

Trong hai thập kỷ qua, thật thú vị khi chứng kiến sự thăng hoa của phim hành động Hong Kong và phim hoạt hình Nhật Bản, hay manga và anime, đặc biệt tại thị trường phương Tây. Đi kèm theo đó là sự nổi lên của một vài tiểu thuyết gia, điển hình là Haruki Murakami. Tôi nghĩ một bộ phận độc giả thích chúng là bởi vì cái cách tiếp cận câu truyện rất “mới mẻ”. 

Ví dụ như trong phim Spirited Away (Vùng đất linh hồn), cô bé nữ chính Chihiro đột nhiên bị chia tách với bố mẹ, lạc vào một thế giới khác, đầy các vị thần và các sinh vật vô hình thích tụ tập trong nhà tắm công cộng. Để quay về với bố mẹ, Chihiro phải làm việc cho nhà tắm này. Đường về nhà thì còn vòng vèo hơn cả Dorothy tìm đường về Kansas (Phù thuỷ xứ Oz). Dorothy biết rằng mình phải diệt hai trong số bốn bà phù thuỷ (tất nhiên là phù thuỷ tốt phải đẹp, và phù thuỷ xấu người thì cũng xấu bụng nốt), sau đó phải gặp Thầy Phù Thuỷ nữa. 

Đường về nhà thì không rõ ràng như vậy với Chihiro. Trong lúc làm việc ở nhà tắm, Chihiro gặp bà chủ Yubaba với cái mũi to, cái đầu quá khổ và nếp nhăn đầy mặt. Thoạt tiên, trông bà hệt như định nghĩa về mụ phù thuỷ xấu xí trong truyện cổ tích thường thấy. Nhưng khi bộ phim tiếp diễn, người ta càng ngày càng mơ hồ, liệu Yubaba có thật sự độc ác không? Khi em gái sinh đôi của bà, Zeniba xuất hiện, cùng những đặc điểm này lại tạo cảm giác ấm áp giống bà ngoại. Người lớn tuổi, với ngoại hình của họ, có thể dễ dàng đóng cả hai vai như Zeniba và Yubaba. Sự linh hoạt này xuất hiện rất thường xuyên trong những câu chuyện Nhật Bản (vậy nên ông già Nô-en ở trong thế giới của Nontan mới có vô số hình dạng như vậy). Còn chúng tôi, những người phương Tây thì chỉ mới bắt đầu được trải nghiệm điều này thôi. 

Khoảng một thập kỉ trước, tôi bắt gặp một quyển sách, một sự bổ trợ tuyệt vời cho The Writer’s Journey. Quyển The Japanese Psyche: Major Motifs in the Fairy Tales of Japan (tạm dịch: Tâm thức Nhật Bản: Các mô-típ phổ biến trong truyện cổ tích Nhật) của tác giả Hayao Kawai, nghiên cứu các truyện cổ tích Nhật Bản, và vì sao những truyện này có rất nhiều ý tưởng và chủ đề tương tự nhau, nhưng lại xa lạ với độc giả phương Tây. Kawai thường được nhắc đến như là nhà tâm lý học Nhật Bản đầu tiên được đào tạo như một nhà phân tích theo trường phái Carl Jung. Nhưng khi Kawai từ Thuỵ Sĩ trở về Nhật Bản, ông nhận ra rằng một vài trong số các “quy tắc” trong việc diễn giải thần thoại không thật sự áp dụng được với văn hoá Nhật Bản. Hơn thế nữa, các câu chuyện càng không hợp với các quan niệm có sẵn của văn hoá phương Tây. 

Kawai nêu ra một ý tưởng rằng thực tại thật ra rất uyển chuyển, theo cái cách của Yubaba-Zeniba. Ông viết: “Thực tại bao gồm rất nhiều tầng lớp. Chỉ có trong cuộc sống hàng ngày, các tầng lớp mới trông có vẻ như là hợp lại thành một, vô hại với chúng ta. Tuy nhiên, những tầng lớp sâu hơn có thể phá vỡ và trồi lên bề mặt ngay trước mắt ta. Những câu chuyện cổ tích là ví dụ.” Đằng sau những tầng lớp thực tại này là gì? Nếu bạn quen thuộc với những tác phẩm của Murakami, bạn sẽ biết ông thích khám phá những thực tại ẩn sau thực tại; không phải là ngẫu nhiên mà Kawai là bạn thân của Murakami. Các nhà văn phương Tây đã bắt đầu áp dụng phong cách kể chuyện của Murakami/Kawai. Ví dụ như David Mitchell, người đã sống ở Nhật Bản, cũng có cách kể chuyện xoay vần và đảo lộn thời gian và thực tại trong tác phẩm Cloud Atlas (Bản đồ mây). 

Kawai cũng giới thiệu khái niệm “giải pháp mỹ học”. “Các câu chuyện cổ tích phương Tây thường được giải quyết bằng một cuộc xâm lược, hoặc một đám cưới. Các ví dụ thì nhiều vô kể: Nàng công chúa ngủ trong rừng, Nàng Lọ Lem, Bạch Tuyết,… Nhưng trong cổ tích Nhật Bản, hiếm khi có sự hợp nhất. Thường câu chuyện được giải quyết bởi một “giải pháp mỹ học”. Và mỹ học ở đây được hiểu là các hình ảnh từ thiên nhiên. Để lấy ví dụ, ông mở đầu quyển sách của mình với cuộc thảo luận về câu chuyện cổ tích Chim chích trong bụi

Một người tiều phu đang ở trong rừng bỗng bắt gặp một tòa lâu đài mà anh chưa từng nhìn thấy trước đó. Anh gặp một người phụ nữ xinh đẹp; cô mời anh vào nhà và nhờ anh trông nom nhà cửa khi mình đi vắng, với điều kiện là anh hứa sẽ không nhìn trộm những căn phòng phía trong. Ngay khi người phụ nữ rời khỏi, người tiều phu đã phá vỡ lời hứa. Anh dạo chơi xung quanh và gặp ba người phụ nữ đang quét nhà. Họ thấy anh và lủi đi nhanh như chim sẻ. Còn lại một mình, người tiều phu bắt đầu ăn trộm những đồ vật tinh xảo, đắt tiền ở đó. Anh nhặt một cái tổ có ba qua trứng lên. Anh làm rớt cái tổ và trứng vỡ. Người phụ nữ xinh đẹp trở về nhà và hạ nhục anh do đã “giết chết ba đứa con của nàng”. Cô hóa thân thành một con chim chích và bay đi mất. Lúc này, người tiều phu chỉ còn lại một mình trong rừng, những đồ vật đẹp đẽ đánh cắp được đã biến mất. Cái còn lại chỉ là những kí ức về cái đẹp. 

Kiểu kết này, theo Kawai, không hiếm gặp ở Nhật. Trong truyện cổ tích phương Tây, người tiều phu có thể trở thành một hoàng tử và cưới người phụ nữ xinh đẹp và bí ẩn. Nhưng ở Nhật thì không. Thay vào đó, câu chuyện kết thúc bằng “giải pháp mỹ học”: nhân vật chính chỉ còn lại một mình để suy ngẫm về sự tồn tại của bản thân trong phông nền thiên nhiên xinh đẹp. Hay có lẽ tôi đang quá áp đặt cái nhìn của phương Tây vào đây. Có lẽ sự tồn tại của anh không phải là vấn đề. Có lẽ tất cả những gì anh còn lại chỉ là những hình ảnh đẹp. 

Kawai nói: “Tại Nhật Bản, đặc biệt là thời cổ đại, giá trị hình ảnh và đạo đức là không thể tách rời. Cái đẹp có lẽ là yếu tố quan trọng nhất cần phải tìm hiểu để hiểu được văn hoá Nhật. Trong truyện cổ tích cũng vậy, phong cảnh đẹp đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc của câu chuyện.” Thật ra, “truyện cổ tích Nhật Bản nói cho chúng ta rằng thế giới thật đẹp, và cái đẹp đó chỉ hoàn hảo nếu bạn chấp nhận sự tồn tại của cái chết.” Người ta có thể viết cả chồng giấy về một kết luận này, nhưng ở đây tôi sẽ nói rằng đây là sự thấu hiểu rất quan trọng cho rất nhiều tiểu thuyết Nhật Bản, như kiệt tác The Makioka Sisters (tạm dịch: Chị em nhà Makiota) của Jun’ichiro Tanizaki, hay bộ bốn quyển sách của Yukio Mishima. Bạn cũng nên nhớ tới tác phẩm có lẽ dũng cảm nhất, quan trọng nhất đang được thực hiện để giới thiệu văn học Nhât Bản đến với người đọc phương Tây: Tôi đang nói về tờ Monkey Business, tờ tạp chí văn học biên tập bởi Roland Kelts, hợp tác với A Public Space. Thậm chí cả khi bạn chỉ đọc mỗi những câu chuyện trong này, bạn sẽ nắm bắt được một ít về cái thế giới hiện đại quen thuộc với chúng ta, nhưng trông có vẻ và có cảm giác hơi xa lạ với những người có nền tảng văn hoá khác hoàn toàn khác biệt. 

Đã khá lâu rồi tôi không đọc The Writer’s Journey, nhưng tôi khá chắc rằng nó sẽ không chứa những thông tin về việc “từng ngắm nhìn một khung cảnh đẹp đẽ, nhưng giờ đây chẳng còn gì sót lại” như là Phần Thưởng cho sứ mệnh của người anh hùng. Thế nhưng, có lẽ đây mới chính xác là thứ kiến thức mà những kẻ kiếm tìm chân thực phải chấp nhận khi họ già đi. Có lẽ, đây mới là bài học can đảm nhất. 

*

Một vài người cho rằng các câu chuyện Hollywood đang trở nên quá phổ biến trên toàn thế giới, và chúng đã làm xóa nhoà quan niệm rằng câu chuyện nên diễn biến như thế nào. Nếu những câu chuyện của chúng tôi phản ánh bản chất con người phương Tây, thì thật đáng tiếc, bởi vì tôi thấy góc nhìn của những người khác, ví dụ như cái đẹp cũng có giá trị nhân văn, cũng thú vị và đáng giá như các ý nghĩa đằng sau việc đi giết rồng. 

Trong quyển The Writer’s Journey tái bản lần ba, phần lời dẫn, thậm chí Vogler cũng thừa nhận các câu chuyện ngày nay cần trở nên phức tạp hơn. Ông viết về những đất nước e sợ thói anh hùng như Đức hay Australia (đất nước này có lẽ hơi quan ngại về chủ nghĩa anh hùng, bởi vì chính khái niệm này đã dụ dỗ họ tham gia chiến tranh vì lợi ích của những kẻ xâm lược họ – nước Anh). Ông nói về sự ra đời của máy tính và Internet và cách nó đã khiến cho chúng ta không còn trông đợi các câu chuyện phải có diễn biến tuyến tính. Ông khẳng định rằng, người ta mong đợi những câu chuyện phá vỡ cấu trúc thường thấy – điều này được đáp ứng từ nền văn hóa ngoài lãnh thổ. 

Vậy, câu chuyện của Nontan kết thúc như thế nào? Cậu ngủ quên dưới tán cây, và khi gần bị đông chết, cậu được… ông già Nô-en mèo tìm thấy. Ông già Nô-en mèo chở Nontan về nhà trên chiếc xe kéo của ông, nhưng Nontan thì hoàn toàn chẳng hay biết bởi vì cậu thiếp đi cả quãng đường. Buổi sáng, khi Nontan tỉnh dậy, cậu thấy một chiếc xe đồ chơi màu đỏ trong chiếc tất Nô-en của mình. Và cậu ra ngoài để gặp các bạn, họ cũng có những món đồ chơi mới. “Ước gì ngày nào cũng là Giáng sinh,” tất cả các con vật đồng thanh khi đang ăn bánh kem dâu tây, loại bánh truyền thống trong dịp Giáng sinh Nhật Bản. Giáng sinh đã trở thành ngày lễ ngoại nhập phổ biển tại đất nước này. Và tương tự, phương thức kể chuyện lại một lần nữa được làm mới.

Hết. 

Emma Đẹp Thần Thánh dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Marie Mutsuki Mockett, đăng tại Literary Hub.

Xem tất cả những bài viết của Emma Đẹp Thần Thánh tại đây.


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích


Đọc bài viết

Cafe sáng