Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Nghệ thuật của sự Tàn độc

Những vần văn của Tanizaki vẫn sống. Có lẽ Akutagawa, cháy rụi ở tuổi còn quá trẻ, biết rằng những vần văn của ông đang tiến gần về cõi chết.

Published

on

ART OF CRUELTY
Ian Buruma

Ra đời hơn kém nhau khoảng mười năm, hai truyện ngắn The Tattooer (Xâm mình) (1910) của Tanizaki Jun’ichiro và Hell Screen (Bức bình phong địa ngục) (1918) của Akutagawa Ryunosuke có những nét tương đồng rõ rệt. Xâm mình kể về Seikichi, một nghệ sĩ xăm mình trong giai đoạn suy đồi thời kỳ Edo (tôi đoán là khoảng những năm 1840), một người có tham vọng – theo lời kể của tác giả – là khảm linh hồn anh lên lớp da của một người đàn bà tuyệt mỹ. Anh tiêu tốn rất nhiều thời gian để kiếm tìm tấm vải bạt người hoàn hảo cho kiệt tác đời mình, và khi bắt gặp đôi chân thanh tú của một thiếu nữ trà quán, anh biết đích đến đã gần kề. Bản năng mách bảo anh rằng, “Đây là bàn chân phải được tưới tắm bằng máu của đàn ông, bàn chân để chà đạp lên thân xác họ.”

Khi thiếu nữ với đôi bàn chân cám dỗ ghé thăm xưởng vẽ của anh, Seikichi cho cô xem bức tranh vẽ một nàng công chúa xinh đẹp – đang chứng kiến cảnh tù nhân bị hành quyết – trong trạng thái say mê. Thiếu nữ thú nhận rằng trong cô cũng dấy lên những xúc cảm tương tự như của nàng công chúa tàn nhẫn. Đôi mắt người thợ xăm lóe lên niềm vui thích. Seikichi bỏ thuốc cô và xăm trên làn da trắng mịn của cô ngày ngày đêm đêm. Khi cô tỉnh dậy từ cơn hôn mê, hình xăm chân nhện trên lưng cô dường như vừa di chuyển từ vai xuống eo. Người thợ xăm kiệt sức, linh hồn anh mắc kẹt vĩnh viễn trong tấm lưới của con nhện cái. Thiếu nữ hóa thân thành một con quỷ dâm dục, từng gã đàn ông một biến thành nô lệ của ả. Dù chuyện gì xảy ra, cái đẹp vẫn khiến cả hai ngây ngất.

*

Câu chuyện của Akutagawa cũng xoay quanh một nghệ sĩ – một họa sư cung đình của lãnh chúa quyền lực nhất Kyoto. Họa sư Yoshihide có sở thích vẽ những khung cảnh bạo lực và ác nghiệt; hắn khăng khăng đòi chứng kiến tận mắt từng tình tiết kinh hoàng trước khi vẽ lại thành tranh. Gã đệ tử xinh trai của hắn bị ép khỏa thân và tra tấn bằng rắn và chim cú, hoặc trói lại trong những tư thế đau đớn cùng cực.

Yoshihide, một người đàn ông u buồn và chết chóc, chỉ duy nhất yếu lòng trước cô con gái mà hắn thương yêu hết mực. Lãnh chúa của Yoshihide phải lòng cô gái xinh đẹp này, nhưng những lời tán tỉnh của ngài bị cự tuyệt.

Yoshihide nhận lệnh vẽ một bức bình phong khắc họa khung cảnh địa ngục. Hắn yêu cầu lãnh chúa một ân huệ: để truyền tải trọn vẹn sự rùng rợn của chủ thể trung tâm, hắn muốn được chứng kiến cảnh một chiếc xe bò bốc cháy, trong đó có một quý cô đang giãy giụa trước cái chết khiếp đảm cận kề. Lãnh chúa, với sự chờ mong thích ý, hứa hẹn sẽ dàn xếp được yêu cầu này. Một chiếc xe bò xuất hiện với một người thị nữ xiêm y lộng lẫy ở trong. Ngay khoảnh khắc chiếc xe bắt lửa, Yoshihide phát hiện – trong sự hỗn loạn vừa kinh hoàng vừa mê hoặc – rằng hắn đang chứng kiến chính con gái mình bị thiêu sống. Bức bình phong của hắn hiển nhiên là kiệt tác, được tất cả mọi người ca tụng. Vào ngày tác phẩm hoàn thành, Yoshihide treo cổ chết.

Cả hai câu chuyện đều lãng mạn và mỹ, tuy nhiên trong trường hợp của Tanizaki lại có đôi chút bóng bẩy và đồi trụy. Nó phi luân lý – không phải là trái luân lý – như lời phán quyết của Oscar Wilde rằng không có nghệ thuật luân lý hay trái luân lý, chỉ có nghệ thuật tốt hay tồi. Đúng vậy, trong cả hai tác phẩm, nghệ thuật vị nghệ thuật được đẩy tới giới hạn tận cùng. Không có gì – kể cả cái chết – là quá đà để hi sinh cho chữ mỹ.

Ai đó có thể bị lừa phỉnh mà nhận thấy những đặc trưng Nhật Bản trong hai tác phẩm này – một cảm giác mỹ học không bị trói buộc bởi phẩm hạnh Thiên Chúa Giáo. Quan điểm này được một số nhà phê bình Nhật Bản ủng hộ; họ chỉ ra rằng những giá trị mỹ học của Tanizaki không phải là lời công kích đến đức hạnh hay nhân văn, mà nó hoàn toàn bàng quan trước những quan tâm kể trên. Điều này trái ngược với giới “suy đồi” Tây phương, những kẻ cứ bận bịu chống đối cùm chân tôn giáo nên chẳng bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi đó. Cũng có thể suy đoán rằng những nghệ sĩ trưởng thành trong nền văn hóa nặng nề lễ nghĩa sẽ trở nên ám ảnh với những xúc cảm chân thật; lòng thành của họ chỉ có thể được kiểm nghiệm thông qua những thái cực bạo liệt – ví như tự tử đôi là chứng nhân duy nhất của tình yêu bền bỉ, và tương tự thế.

Nhưng tôi không cho rằng mỹ học của sự tàn độc trong những tác phẩm của Tanizaki và Akutagawa mang đậm chất Nhật. Khi viết Xâm mình, Tanizaki là một độc giả nồng nhiệt của Oscar Wilde, và điều đó hiện hữu. Sự ám ảnh của ông với hình tượng femme fatale1 (độc phụ) – ít nhất là trong những tác phẩm thời kỳ đầu – bị chi phối bởi Flaubert, Baudelaire và Wilde cũng nhiều như bởi văn chương Nhật Bản.

*

Tôi nghĩ rằng nhận xét này cũng đúng với Akutagawa. Tác phẩm của ông thường đặt bối cảnh trong một giai đoạn lịch sử Nhật Bản, nhưng tri giác văn chương của ông bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các tác giả Tây phương. Trong Cogwheels (Những bánh răng), một ghi chép u buồn về căn bệnh điên đang dần phôi thai, được dịch nhuần nhuyễn bởi Cid Corman và Susumu Kamaike, Akutagawa liên tục đề cập đến văn chương Tây phương, khiến những ảo giác của ông bị nhuốm màu mê sách lạ thường, hệt như thể ông đang sống cạnh những bóng ma văn học.

“Khi ngồi trong phòng, tôi từng nghĩ về việc gọi điện đến một bệnh viện tâm thần nào đó. Nhưng bước chân đến đó nghĩa là tôi chết. Sau nhiều phút chần chừ, tôi quyết định đọc Tội ác và trừng phạt để sao nhãng chính mình. Tuy nhiên, trang văn mà tôi tìm đến là của Anh em nhà Karamazov. Đó là đoạn văn Ivan bị hành hạ bởi Pháp Quan Ác Quỷ. Ivan, Strindberg, de Maupassant, chính tôi, trong căn phòng này…”

Tôi không có ý nói hai người này thiếu sáng tạo, hay là văn chương của họ không phản ánh được văn hóa và xã hội Nhật. Nhưng tôi nghĩ rằng có những phương thức tưởng thưởng hơn để tiếp cận những tác gia trác tuyệt này (tôi hơi ngần ngừ khi dùng từ trác tuyệt để miêu tả Akutagawa, nhưng không với Tanizaki) hơn là việc tìm kiếm cái gì mới là kết tinh chất Nhật. Ví dụ, vì sao hai tác giả với lý lịch tương đồng, có lối thưởng thức văn chương khởi điểm giống nhau, lại kết thúc ở hai thái cực đối lập?

Cả hai người đều được sinh ra tại “hạ thành” Tokyo. Cả hai đều bị quyến rũ bởi phương Tây, dù chưa ai đặt chân đến đó. Cả hai người đều thoát ly (nếu đó là từ ngữ chính xác) khỏi vấn đề chính trị và xã hội vào chủ nghĩa mỹ học. Nhưng Akutagawa từ chối những ảo tưởng ma quỷ để đến với những bài viết tự truyện duy ngã luận mà những nhà phê bình văn học Nhật thích phân loại là văn học tinh khiết nhất. Ở đây, văn học tinh khiết là văn học không cốt truyện, thuần túy tập trung vào những biến chuyển vụn vặt trong tâm trạng tác giả và những chi ly tiểu tiết trong cuộc đời không mấy biến cố của anh ta.

Trái lại, Tanizaki luôn là một tác giả nổi tiểng không biết ngượng cùng khẩu vị kịch nghệ, tư tưởng đa dâm và ảo tưởng lố bịch không bao giờ ngã ngựa đến tận khi ông chết ở tuổi 79 vào năm 1965. (Akutagawa tự sát vào năm 1927 khi ông 35 tuổi.) Trong một bài luận về Tanizaki, Mishima Yukio từng bình luận rằng người dì xinh đẹp của ông sẽ có nét vui vẻ trầm lặng khi nghe người ta đề cập đến những tác phẩm “suy đồi” của Tanizaki. Mishima viết, “Văn chương của Tanizaki đầu tiên hẳn là rất ngon lành, như ẩm thực Pháp hoặc Trung Hoa.”

Chủ thể văn chương chính của Tanizaki là tình dục, đặc biệt là ác dâm, dẫn đến hứng thú của ông với bàn chân của các quý cô, trong khi Akutagawa càng càng càng chìm đắm trong chủ nghĩa ái kỷ, thiếu thốn giá trị chung, kinh tởm với bản thân, và cuối cùng là cái chết. Những ám ảnh đa dạng ấy hiện diện rõ ràng trong hai truyện ngắn tường thuật ở trên. Nhân vật nam chính của Tanizaki – Seikichi – biến nàng thơ của mình trở thành một ả quái vật, nhưng đồng thời tìm thấy sự thỏa mãn nhục dục. Họa sư của Akutagawa tạo ra được kiệt tác đời mình, nhưng phải hi sinh người duy nhất hắn thương yêu. Nỗi ám ảnh của ông hóa thân thành sự ghê tởm, cuộc đời của ông trở nên vô nghĩa và chẳng đáng sống.

*

Những cuốn sách đang được bàn luận ở đây trước nhất nó thú vị bởi giá trị văn chương. Điều này đặc biệt chính xác trong trường hợp của Akutagawa. Những bài luận về thời thơ ấu với kết nối lỏng lẻo của Tanizaki có hiệu quả tốt hơn trong tiếng Nhật so với tiếng Anh. Paul McCarthy đã thực hiện một bản dịch xuất sắc, nhưng ông đã đúng khi cảnh báo trong phần dẫn dắt rằng các độc giả phương Tây có thể bối rối trước kết cấu chương hồi, vô tổ chức của tác phẩm – kết cấu này rất được các độc giả Nhật yêu thích, nhưng không thường gặp trong văn chương phương Tây đương đại. Tuy nhiên, những bài luận của Tanizaki là một bản hướng dẫn vô giá về cá tính của ông. Đây là bức chân dung tuyệt diệu của một nghệ sĩ viết như một đứa trẻ (người ta đã đúc kết rằng, theo cách nào đó, Tanizaki mãi mãi vẫn là một đứa trẻ). Ắt hẳn, sự hoài cổ về tuổi thơ là sợi dây xuyên suốt trong hầu hết những cuốn sách của ông. Đồng thời, thiên hướng gợi tình cũng là một phần quan trọng trong hồi ký thơ bé của Tanizaki, hẳn nhiên phải vậy.

Cứ thế, chúng ta biết đến những trò chơi con trẻ được hưởng ứng bởi Tanizaki và những người bạn, như là “trò bóng rổ”. Những cậu bé học sinh nhỏ tuổi cùng nằm xuống trong những cái rổ được đặt tên là “buồng ngủ của gái bán hoa”, giả vờ như họ là khách quan và gái nhà thổ trong nhà chứa hạng sang. Thời bấy giờ, có rất nhiều vụ án mạng gớm guốc xảy ra, thu hút được sự say mê của giới trẻ. Một trường hợp như thế – sau đó được dàn dựng thành một vở kịch nổi tiếng và được Tanizaki ưa thích – là vụ sát hại một gái quầy bar giải nghệ bởi người chồng pháp lý của cô. Tình tiết nổi bật là mặt cô đã bị con dao rạch đến biến dạng. Những bức ảnh chụp lại gương mặt này, cùng với hình ảnh của những diễn viên nổi tiếng, được trưng bày tại hội chợ địa phương. Một câu chuyện khác, khiến Tanizaki thậm chí còn hài lòng hơn, là việc tình thế đảo ngược khi nàng geisha thời thượng O-ume đâm chết tình nhân với một con dao nhà bếp. Mẹ của Tanizaki kết luận, “Tôi nghĩ nàng ta hẳn là hình mẫu của thế gian khi bàn về một ‘người phụ nữ thực thụ’!” Tanizaki trưởng thành chắc chắn là đồng ý.

Sự tôn sùng phụ nữ của Tanizaki được khơi nguồn từ mẹ ông, người dĩ nhiên là một mỹ nhân. Mọi người, kể cả chính ông, đều kể rằng ông là một cậu bé bám mẹ và một đứa bé hay khóc đến không tưởng. Dẫu đã qua những tháng năm chập chững, Tanizaki vẫn không cưỡng lại được bầu ngực của mẹ mình. Ông cho rằng nguyên nhân không phải là do vị sữa mẹ, mà vì “hương thơm ngọt ngào và hơi ấm dịu dàng từ bầu ngực Mẹ.” So sánh với mẹ của Akutagawa, một người đàn bà điên:

“Mẹ tôi là một người điên. Tôi chưa bao giờ trải nghiệm được cái gì gần với tình mẫu tử từ bà. Bà luôn luôn ngồi một mình trong nhà chính ở Shiba, mái tóc vấn vít quanh răng lược, thổi phù phù qua một tẩu thuốc thân dài. Gương mặt và thân hình bà rất nhỏ nhắn. Tôi không giải thích được, nhưng gương mặt bà luôn có màu tro, không có dấu hiệu sức sống nào.”

Ta còn nghe kể lại, một nguồn cảm hứng khác của Tanizaki là bức tranh Đức Mẹ Madonna thuộc quyền sở hữu của ông nội ông – thành viên Nhà thờ Dòng chính Nga. “Với lòng tôn kính không thể diễn tả thành lời, ngắm nhìn đôi mắt của Đức Mẹ Đồng Trinh đầy ân cần và từ ái, tôi cảm thấy như mình không muốn rời xa bà.”

*

Nagai Kafu – tiểu thuyết gia, dịch giả Baudelaire, một người cống hiến cả đời mình cho đời sống nhà thổ – khen ngợi những tác phẩm thời kỳ đầu của Tanizaki, đặc biệt là Xâm mình vì phong cách, sự tinh tế và “vẻ đẹp sâu sắc, bí ẩn nảy mầm từ sự kinh khủng xác thịt.” Thế nhưng Paul McCarthy – một người phô diễn sự sành sõi đáng nể với gu gợi tình của Tanizaki – lại có vẻ bối rối trước ý nghĩa chính xác trong cách diễn đạt của Kafu. Với tôi, những gì Kafu muốn nói khá rõ ràng. Bất cứ khi nào sự tôn sùng phụ nữ của Tanizaki nhuốm màu nhục dục, những nữ thần thanh tao ấy sẽ biến thân thành những con quỷ. Họ vẫn đẹp khó tả, và thậm chí còn đẹp hơn, có lẽ chính bởi những kinh hoàng mà họ gây ra.

Một khía cạnh thú vị trong hình mẫu femme fatale của Tanizaki là những cô gái ấy thường bị Tây hóa, xấc xược, màu sắc, và hơi thô tục. Điều này khiến nhà phê bình người Nhật Eto Jun bình luận rằng sự tôn sùng mang tính khổ dâm của Tanizaki là phép ẩn dụ cho Nhật Bản hiện đại. Nhật Bản tôn thờ Tây phương, hệt như cách những nam nhân của Tanizaki liếm chân những mụ nữ thần phản trắc. Nhưng Eto, người bị ám ảnh bởi Tây phương kể từ vụ chiếm đóng sau chiến tranh, hẳn nhiên là sẽ nói thế. Sự thật là, sự tôn thờ của Tanizaki rất lưng chừng nước đôi. Phương Tây, tựa như những tình nhân tàn độc, quyến rũ nhưng nguy hiểm. Ông từng so sánh văn hóa phương Tây như một thứ thuốc phiện vừa ngọt ngào vừa chết người. Trong những năm tuổi trẻ, ông từng bộc lộ ham muốn bị giết chết bởi thứ thuốc này. Về sau, khi ông rời khỏi Tokyo vào thập niên 1920, Tanizaki ngày càng hướng mình về Nhật Bản truyền thống của thời thơ ấu – vẫn còn sót lại ở Kyoto.

Thậm chí trong những câu chuyện về thời thơ ấu, những người phụ nữ Tây phương đĩ điếm vẫn xuất hiện như những sinh vật sinh ra từ trí tưởng tượng hơn là thứ gì khác. Tanizaki mô tả một nhóm những quý cô Anh Quốc trẻ tuổi trong một tổ chức mang tên Đại Học viện Văn hóa Âu châu, thiết lập tại đặc khu ngoại quốc ở Tokyo. Những quý cô quyến rũ này dạy tiếng Anh ở tầng một, nhưng có một khu tầng hai bí ẩn, nơi những học sinh nhỏ tuổi người Nhật bị cấm đặt chân đến. Một người bạn của Tanizaki mô tả – sau một cú nhìn trộm – rằng nó như một cái sào huyệt xa hoa. Có tin đồn lan truyền rằng khi những quý ông Nhật Bản giàu có đến thăm khu nhà, công việc của những quý cô này đa dạng hơn là chỉ dạy tiếng Anh.

Mặc cho những tôn thờ của ông nội mình dành cho Đức Mẹ Đồng Trinh, Tanizaki chưa bao giờ thờ phụng tôn giáo hay là một người mộ đạo. Và cũng mặc cho những hiểu biết uyên thâm về văn chương Nhật, Trung và phương Tây, ông cũng không phải là một tác gia đặc biệt tài trí. Thực vậy, chính vì cái tiếng tăm rằng ông đam mê chủ nghĩa khoái lạc đến hết thuốc chữa, ông không được giới trí thức coi trọng. Văn chương của Tanizaki không có đủ thống khổ và tự vấn lương tâm để được đánh giá là “văn chương tinh khiết.”

Mặt khác, Akutagawa khiến họ hài lòng hơn; tác phẩm của ông luôn có đủ đầy thống khổ và tự vấn lương tâm. Ông chết với một quyển Kinh Thánh cạnh giường. Thế nhưng, ông chưa bao giờ – như cách người ta thường nói – tìm thấy Chúa. Trong Những bánh răng, một ông lão đã đề xuất rằng Thiên Chúa Giáo có thể là giải pháp cho nỗi đau của ông:

 “Nếu tôi có thể trở thành…”

 “Chẳng có gì khó đâu. Chỉ cần cậu tin vào Chúa, và Christ Con Trai Chúa Trời, và những phép màu mà Christ tạo ra…”

 “Ác quỷ thì tôi tin đấy…”

 “Vậy thì tại sao không tin vào Chúa? Nếu cậu tin vào bóng tối, tôi chẳng hiểu vì sao cậu không thể tin vào ánh sáng.”

 “Bởi vì có một số loại bóng tối chẳng hề có chút ánh sáng nào.”

Có thể lý do Akutagawa bị thu hút bởi Thiên Chúa Giáo một phần là do những giá trị mỹ học, tương tự như Oscar Wilde, cả hai người đều thưởng thức khía cạnh nghi thức và hình tượng tôn giáo. Nhưng tôi nghĩ mọi chuyện còn hơn thế. Mặc dù Akutagawa chưa bao giờ là một văn hào chính trị, ông hiển nhiên nhận thức được đi kèm với hiện đại hóa kiểu Tây phương là một sự rối loạn tín ngưỡng. Cũng không hẳn là ông có một nỗi khao khát phản động với Nhật Bản thuyền thống, còn lâu mới thế. Theo như ông nghĩ, Nhật Bản truyền thống cũng sụp đổ rồi. Điều ông đang tìm kiếm là một đặc tính tín ngưỡng vạn năng có thể cứu rỗi ông khỏi cái cảm quan cô lập dẫn đến chủ nghĩa duy ngã bệnh hoạn và thói ái kỷ thuần túy. Donald Keene tóm tắt chuẩn xác: “Người ta có thể vượt qua thói ái kỷ nhờ ơn trên, chứ không phải nhờ sự chiêm nghiệm cẩn trọng từ bất cứ luật lệ ứng xử nào.”

*

Những mô tả ngắn gọn của Akutagawa về sự thống khổ tinh thần dẫn đến kết cục tự tử là một bộ tài liệu xúc động. Ta cảm nhận được sức sống đang cạn dần từ người đàn ông này, chẳng để lại gì ngoài trí tuệ – lạnh băng, minh bạch đến kinh hoàng – những khi ông không chìm đắm trong những cơn hoang tưởng. Trong A Fool’s Life (Cuộc đời một kẻ ngốc), ra đời như bức thư tuyệt mệnh không lâu trước khi ông tự sát, Akutagawa so sánh mình với Icarus, trí tuệ của ông được gắn với đôi cánh nhân tạo bởi Voltaire:

 “Mở ra đôi cánh nhân tạo này, anh dễ dàng bay đến trời cao. Tắm mình trong ánh sáng lý luận, niềm vui và nỗi buồn nhân thế chìm dần dưới mắt anh. Vượt qua những thị trấn bẩn thỉu, đánh rơi sự chế nhạo và giễu nhại, anh bay vút lên những khoảng không vô định, hướng thẳng đến mặt trời. Cứ thế với đôi cánh nhân tạo, cháy xém bởi sức chói của mặt trời, một người Hy Lạp cổ đại đã rơi xuống biển, chết. Hình như anh đã quên điều đó rồi…”2

Tất cả những phân tích trên đâu đó ám chỉ rằng Akutagawa là một nhà văn sâu sắc hơn quý ngài Tanizaki thích hưởng lạc, kẻ dành quá nhiều thời gian cho những ám ảnh xác thịt hơn cho Voltaire, Icarus và sức sáng chói của mặt trời. Nhưng tôi tự hỏi điều này liệu có đúng không. Tôi tự hỏi liệu Tanizaki, thông qua sự hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa gợi tình, liệu có tiến gần với cốt lõi loài người hơn là Akutagawa không. Và điều quan trọng hơn là, Tanizaki đã truyền tải được điều này trong văn chương của mình. Những vần văn của Tanizaki vẫn sống. Có lẽ Akutagawa, cháy rụi ở tuổi còn quá trẻ, biết rằng những vần văn của ông đang tiến gần về cõi chết. Có lẽ đó là lý do ông không thể sống tiếp được nữa.

Hết.

Chú thích:

  1. Femme fatale (độc phụ) là danh từ ám chỉ hình mẫu phụ nữ có ngoại hình quyến rũ và bí ẩn lạ lùng, mê hoặc đàn ông nhưng thường mang trong mình những dụng ý nguy hiểm và thâm độc.
  2. Trích từ Cuộc đời một kẻ ngốc, Phạm Bích và Đỗ Nguyên dịch, NXB Văn học.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Ian Buruma, tại The New York Review of Books.


Đọc tất cả những bài viết của Aki-ten.


Tìm hiểu về tác giả Tanizaki Jun’ichiro



Phía sau trang sách

Tàn ngày để lại: Về một người đàn ông tự dối lòng

Published

on

Kazuo Ishiguro nói ông viết Tàn ngày để lại trong vòng 4 tuần, bằng cách đưa bản thân vào trạng thái mơ hồ nhưng tỉnh táo cao độ gọi là crash. Trạng thái kỳ dị ấy kết hợp cùng một giọng điệu trần thuật bậc thầy đã tạo ra một thiên tiểu thuyết vô tiền khoáng hậu về một người quản gia, mà rộng hơn, về một cách làm người.

Nếu tìm một người dẫn chuyện muốn đứng ngoài câu chuyện của mình, hòng nắm bắt những suy nghĩ chủ quan bằng giọng kể dường như khách quan ở ngôi thứ nhất, thì Stevens là lựa chọn không thể tốt hơn. Xuất phát từ điểm nhìn của một quản gia tận tụy hết mực, Stevens để cho câu chuyện đời mình rỉ rả chảy qua lỗ khóa thời gian chậm rãi nhưng kiệt lực. Thông qua đó, Stevens phong kín cảm xúc của mình đến độ nếu không thực tâm chú mục vào phía bên kia, – tức phía không được phơi ra trên bề mặt tiểu thuyết – ta không tài nào nhận ra được sự vỡ vụn trong tâm hồn ông.

Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Tàn ngày để lại.

1. Khi những điều người ta muốn viết lại không nằm trên giấy

Như Márquez đã từng nói, người ta ai cũng có ba cuộc đời: công khai, riêng tư và bí mật cân bằng với nhau. Riêng với Stevens, công việc quản gia làm cho khía cạnh riêng tư và bí mật trở thành một đám mờ không hơn những bụi mây bên rìa cuộc sống.

Giả như có ai đó thử định nghĩa cuộc đời bằng những gì người ta đã làm thì Stevens còn lâu mới với tới được khung đó, bởi dẫu cho tất cả công việc của ông, sự tận tụy, chỉn chu, trung thành và ý thức “phẩm cách” nghề nghiệp của mình, Stevens chỉ đang dẫm vào bước chân người cha để rồi hóa thân thành cái bóng cho chủ nhân mình. Cuộc đời ông thực chất nằm ở phía âm tính, phía những việc dù muốn hay không, vẫn chưa làm được.

Mối tương quan kỳ quặc đó còn vận cả vào trong cuốn tiểu thuyết – hồi ký, khi cuộc đời Stevens thực chất nằm ở những câu chuyện không được kể. Thử chọn bất kỳ một thời điểm, một sự việc nào, người ta đều có thể tìm thấy dấu vết ngụy trang ẩn tàng. Nhìn vào cách mọi việc diễn ra, từ khởi hành cho tới kết thúc, sự bình thản, nghiêm trang luôn chực chờ đổ vỡ bởi giọng nhỏ nuối tiếc đi kèm. Cũng phải thôi, công bằng mà nói, khi con người đã đi đến bên kia sườn dốc, lẽ đương nhiên sẽ thôi thúc người ta trở ngược lại mà ngắm nhìn cảnh sắc mình đã lỡ bỏ qua chứ không phải những cảnh người ta đã thấy hàng bao lần. Hơn nữa, với một người sống qua nhiều đời chủ nhân, đi qua hai cuộc thế chiến thì mong muốn giấu mình lại càng trở nên mãnh liệt. Đứng trước đống hoang tàn sau chiến tranh, sở mục một thời vàng son đã trở thành dĩ vãng, người ta lại càng có cớ tô vẽ những điều tốt đẹp mà bỏ quên những khía cạnh khác. Câu hỏi lớn về “phẩm cách” tồn tại như một cách níu kéo cân bằng mong manh giữa một cuộc đời lý tưởng đang trên đà sụp đổ. Bởi nếu không bám vào đó, liệu cuộc đời Stevens sẽ còn ý nghĩa gì chăng? Điều đó giải thích tại sao cứ dăm trang sách, người ta lại bắt gặp nỗi tiếc nuối cá nhân xen vào giữa lòng đắc thắng với công việc chính là vì vậy.

Nhưng không phải toàn bức tranh đều mang màu xám. Cho đến cuối, Stevens ít ra cũng đã thành công giải thoát mình khỏi thế lưỡng nan cuộc đời.

Có ích gì khi người ta trăn trở quá nhiều rằng mình đã có thể hay chẳng thể làm gì để nắm giữ tiến trình cuộc đời mình? Hẳn nhiên nếu những người như quý vị và tôi ít nhất cũng gắng khiến phần công sức nhỏ bé của mình góp vào những gì thật sự chân chính và đáng giá, thì cũng đủ rồi. Và nếu có ai trong chúng ta sẵn sàng hy sinh nhiều điều trong đời để theo đòi những tâm nguyện ấy, thì hẳn nhiên chính bản thân việc ấy, bất chấp kết quả có ra sao, cũng đáng tự hào mãn nguyện rồi.

Thử đặt Stevens và cha ông lên cùng bàn cân, giữa một người mãn nguyện đầy tự hào với một người ra đi trong tiếc nuối, chừng đó đủ thấy sự giải thoát bản thân khỏi những trăn trở cuộc đời đem lại sức nặng đến dường nào. Dẫu sao thì con người cũng phải vượt thoát khỏi những hình bóng tinh thần để giữ mình hiện hữu với thế giới. Đó mới là cuộc sống.

2. Sức nặng trong lời tự thú của một người đàn ông

Nếu bỏ qua mớ lý thuyết “phẩm cách” ngoắc ngoéo đeo đuổi Stevens suốt công cuộc Tây tiến, vứt hết bộ cánh quản gia bám theo ông suốt ba mươi lăm năm cuộc đời để tập trung bóc tách sự thật ẩn sâu dưới những lớp tự thoại liên thiên, thì không khó để người ta nhận ra đâu là cốt lõi con người ông. Nói thẳng ra, là câu chuyện của Stevens với cô Kenton.

Cảnh trong phim Tàn ngày để lại (The Remains of the Day), ra mắt năm 1993.

Với tất cả sự lý tính làm nên con người Stevens, không thể mong đợi một chuyện tình kiểu mẫu của hai người bọn họ được. Khi nói chuyện tình kiểu mẫu, có nghĩa người ta muốn ám chỉ Cuốn theo chiều gió, Jane Eyre hay Cỏ chân ngỗng, cũng có nghĩa là những chuyện vẫn không thường xảy ra bất chấp việc chúng thường được trích dẫn. Thậm chí, Stevens còn không chủ định để lộ bất kỳ dấu hiệu nào cho bất cứ ai trong toàn tiểu thuyết. Sự thể Kenton phát hiện ra Stevens vẫn thường đọc những chuyện tình ướt át không đi khỏi khuôn khổ tình cờ. Để mà nói, những gì xảy đến giữa họ cũng u ám hệt như dãy hành lang phụ dành cho gia nhân phía sau Dinh Darlington, chỉ được nhìn nhận ở mặt lưng của cuốn hồi ký. Hai người không hẹn mà gặp cùng tham gia vào trò chơi tình ái chẳng mấy hấp dẫn khi một người phải cố sức thể hiện đồng thời giấu kín tình cảm của mình với người kia và ngược lại. Dễ hiểu trò đi dây này rồi sẽ kết thúc trong nước mắt. Nhưng nếu không có những giọt nước mắt muộn màng của cô Kenton, thì ắt hẳn Stevens sẽ mang theo tình cảm của mình xuống mồ. Khoảnh khắc ông thừa nhận tình yêu dành cho bà cũng là thời điểm trái tim ông vụn vỡ.

Thực vậy – có gì mà không thừa nhận điều này chứ? – vào giây phút ấy, tim tôi như tan vỡ.

Thực vậy – dẫu cho suốt chiều dài hơn ba trăm trang tiểu thuyết, không dưới ba mươi lần ông tự nói với mình hay với người khác, cách này hay cách khác, bằng giọng Anh mẫu mực không thể nghi ngờ tính chân thực trong câu chuyện ông kể, dù cho tất cả những thứ đó – chỉ duy nhất lần này Stevens dám can đảm thú nhận tình cảm của mình. Khi một người đàn ông bày tỏ tình cảm – công khai, riêng tư hay bí mật – nhất là thứ tình cảm được ủ chượp hơn ba mươi năm trong hầm giam “phẩm cách”, thì dường như chẳng còn gì để kể, để mà nói nữa. Thời gian sẽ dừng lại ngay lúc ấy để xúc cảm cuốn đi tất cả. Tuy vậy, không phải mọi thứ đều kết thúc. Mặc cho chuyến hành trình về miền Tây nước Anh đã đi đến điểm cuối, mặc cho cuốn hồi ký cá nhân sắp ngưng giọng, giờ đây cuộc đời thật của Stevens mới chỉ vừa bắt đầu. Cuộc đời ông chỉ vừa bước sang buổi tối. Và buổi tối mới là phần hay nhất trong ngày, là thời điểm thu vén ánh tàn sau ngày dài làm việc, khi trái tim mỏi mệt được chữa lành và an nghỉ.

3. Tàn ngày để lại

Suy cho cùng, đâu có thể quay ngược thời gian được nữa. Người ta không thể ngâm ngợi mãi những gì đã có thể xảy ra. Người ta cần phải nhận ra mình đang có một thứ cũng tốt gần bằng thế, thậm chí còn hơn thế, và biết cảm kích vì điều đó.

Đến một lúc nào đó trong đời, khi sự sai khác về không - thời gian chẳng thể cản nổi lời mời gọi ký ức, người ta sẽ lộn ngược cuộc đời mình lại mà suy nghĩ, ngâm ngợi về những chuyện đã và chẳng xảy ra. Công cuộc xét lại đó có thể xuất hiện dưới hình dạng một cuộc nổi loạn tuổi thiếu niên, trá hình bên trong khủng hoảng tiền – trung niên, mà cũng có thể đơn thuần như một cơn gió nhẹ tuổi xế chiều. Khi thời khắc đến, người ta không khỏi ngăn mình tiếc nuối đôi chút. Suy cho cùng, đó là cả một cuộc đời.

Lẽ tất yếu, người ta luôn tìm thấy hình ảnh đời thường nào đó cốt gán lên nó mớ ý nghĩa trôi qua trong khoảnh khắc quá khứ đã bỏ lại sau lưng. Rất nhiều lần Stevens thoát ly thực tại để đi tới công cuộc xét lại đó, và bất kỳ ai cũng dễ dàng làm được. Tất cả những gì người ta cần làm là đứng trước biển, nhưng tại sao lại là biển? Có lẽ bởi sự mênh mang vô bờ bến, cũng có thể sự uốn lượn tuần hoàn của những con sóng, hay sự bàng bạc của mặt nước khi tàn ngày, dù sao thì cảm giác không – thời gian trước biển mang độ siêu thực nhất định, dễ dàng châm ngòi cho quả pháo ký ức.

Stevens đã chọn cầu tàu ven biển để đóng gói cuộc đời. Tại sao không? Đứng trước biển, đám đông tản mác, rặng phi lao gió lộng, rồi một con tàu nơi đường chân trời, rồi thì chỉ còn có bản thân. Người ta sẽ không ngần ngại ban cho con tàu đó ý nghĩa cuộc đời, với vô số bờ biển nó đã đi qua, cuối cùng cập bến nơi người ta đang đứng đây. Luôn luôn là bến bờ tiếc nuối. Mấy ai trong đời chịu từ bỏ những trăn trở khi tàn ngày mà nhìn nhận lại rằng, bờ biển ta đang đứng chỉ là một trong vô vàn mẫu ngẫu nhiên mà tạo hóa dẫn lối mà kiếm tìm cái đẹp trong nó. Rất có thể Stevens đã kiếm tìm một hình ảnh như vậy để vin cuộc đời ông vào. Và có vô số Stevens khác đứng trên cầu tàu đón ánh tàn chiều hôm ấy.

*

Có những ý nghĩ chỉ hiện hữu trong tâm trí mà không thể diễn tả thành lời. Cũng có những lời không thể hiện hữu trong tưởng tượng. Tàn ngày để lại là một câu chuyện như thế, nó thúc ép ta phải trở đi trở lại giữa tâm trí và ngôn từ, hòng kiếm tìm một sự thật khả dĩ về cách sống, cách làm người.  

Hết.

3V

Ảnh đầu bài: A.N (Thanh Niên)

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi các nhà văn đá xéo nhau: Tận cùng của sự đanh đá (phần 1)

“Mỗi lần tôi đọc ‘Kiêu hãnh và định kiến’, tôi lại muốn đào cô ta lên từ dưới ba tấc đất, cầm xương ống chân của cô ta mà đánh vào quả sọ.”

Published

on

Văn đàn đôi khi hơi ba phải một chút. Tức là, nếu đa số dư luận đánh giá một quyển sách là “Tuyệt Tác”, đánh giá này được cộp mác chính thức. Bất kì cá nhân nào dám đi ngược dòng dư luận sẽ nhận được cái nhìn kinh hãi. Danh tiếng như vậy đôi khi được thành lập khi chưa ai đọc sách cả, chỉ cần vài câu truyền miệng “tôi nghe nói nó hay lắm” là đủ. Nhưng bất chấp cái đám đông đáng sợ ngoài kia, vẫn sẽ có một vài (đôi lúc là nhiều vài) “kẻ phản đồ”. Họ chỉ đang ẩn nấp kĩ càng để tránh bị “đì” mà thôi.

Hiện nay, thật đáng tiếc là nhiều tác giả cảm thấy rằng họ không thể công khai chê bai tác phẩm của những nhà văn khác. Điều này không có lợi cho độc giả - lực lượng người hâm mộ trung thành càng ngày càng dựa dẫm vào nhà văn yêu thích của mình để tìm được đầu sách hay; cũng không tốt cho ngành sách, bởi vì độc giả đã chán ngấy những lời khen hoa mỹ bóng nhẫy và không dễ dàng tin tưởng chúng nữa. Tôi rất hiểu cho các tác giả khốn khổ phải viết bài trái lương tâm ngoài kia, nhưng vẫn không thể ngăn bản thân mình ghét cay ghét đắng cái trào lưu bợ đỡ nhau này. Mà thôi, đây là nan đề cho một bài viết khác.

Vòng vo nhiều như vậy cũng chỉ để nói rằng, thấy một gã khổng lồ bị đẩy ngã cũng khá là vui (đặc biệt là khi trong thâm tâm bạn cũng chẳng ưa gì gã lắm), mà thấy hai gã khổng lồ đánh nhau còn vui hơn. Đó là cảm giác của tôi khi xem các nhà văn nổi tiếng đá xéo tác phẩm của những tác giả nổi tiếng khác. Võ sĩ A và B của trận đấu đều là những cái tên có tiếng có miếng, điều này khiến cho hành động ngồi ăn bắp rang xem đánh nhau của bạn bớt tội lỗi hơn hẳn.

Vậy nên, kính thưa quý độc giả, tôi xin giới thiệu những tác giả đã vô tình hữu ý mà ghét một vài tác phẩm kinh điển và lời phê bình tao nhã của họ đối với những tác phẩm này. Còn việc những lời phê bình này có chuẩn xác không thì vẫn còn cần được thảo luận thêm.

1. Virginia Woolf bàn về Ulysses

Từ nhật kí của Virginia Woolf: 

Thứ tư, ngày 16 tháng Tám năm 1922:

Đáng lẽ là giờ này tôi nên đọc Ulysses, và thêu diệt những luận điểm đồng tình hoặc chống đối nó. Đến giờ tôi đã đọc được 200 trang - còn chưa được một phần ba; tôi đã cảm thấy thích thú, bị kích thích, bị quyến rũ, đã rất hứng thú với hai hay ba chương đầu của cuốn sách đến cuối cảnh nghĩa trang; sau đó thì bối rối, khó chịu và bị vỡ mộng bởi một thằng sinh viên dơ dáy đang ngồi gãi mụn. Tom, Tom vĩ đại [T.S. Eliot], lại nghĩ rằng quyển sách này ngang tầm với Chiến tranh và hòa bình! Bản thân tôi lại thấy nó là một quyển sách vô học và thô tục; quyển sách của một người lao động tự học, và chúng ta đều biết họ phiền hà như thế nào, họ tự cao, cứng đầu, sống sượng, bất bình thường và thường tạo cho người ta cảm giác chung là tởm đến phát ói. Giống như một miếng thịt sống vậy, vì sao lại chọn thịt sống khi người ta có thể ăn chín uống sôi chứ? Nhưng tôi mạo muội đoán là nếu bạn bị bệnh thiếu máu, như Tom ấy, bạn sẽ thấy sự huy hoàng hấp dẫn của máu tươi. Bản thân tôi tự nhận là một người bình thường, nên tôi sẵn sàng quay lại với những quyển sách văn học cổ điển. Tôi có lẽ sẽ đọc lại quyển sách này sau. Còn bây giờ, tôi vẫn không thể chấp nhận việc hy sinh sự minh mẫn của mình. Cứ tạm thời đánh dấu trang 200 ở đó đã.

Thứ tư, ngày 6 tháng Chín năm 1922:

Tôi đã đọc xong Ulysses và nghĩ nó là một phát đạn xịt. Một tác phẩm văn học thiên tài, nhưng thiên tài kiểu nước lợ. Quyển sách lan man. Nửa nạc nửa mỡ. Nó tự phụ. Nó thô tục, không chỉ ở nghĩa trên câu từ mà còn xét trên góc độ văn học. Tôi muốn nói, một nhà văn hạng A nên là một người tôn trọng văn học để không giở những trò câu độc giả bằng mánh lới xảo quyệt, những chi tiết giật gân hay là những trò xiếc khỉ tầm thường. Trong suốt quá trình đọc quyển sách này, trong đầu tôi luôn thường trực hình ảnh của một cậu bé học sinh trường công thấp hèn, có trí tuệ và sức bật đó, nhưng quá tự phụ và tự đại đến mức đánh mất lí trí thông thường, một kẻ ngông cuồng, ngụy trí thức, ồn ào thích gây sự chú ý, khiến những người tốt bụng thấy tội cho hắn ta và những kẻ nghiêm khắc cảm thấy hắn ta thật phiền; người ta hy vọng hắn nhanh chóng trưởng thành để bớt cái thói đó đi; nhưng Joyce đã 40 rồi, điều này chắc khó có thể xảy ra… Ôi, đọc quyển sách này tôi cảm thấy như bị vô số viên đạn tí hon bắn vào người; còn chẳng được chết thống khoái bởi một viên đạn vào mặt, như cách mà Tolstoy đã bắn vào mặt tôi; nhưng so sánh này thật là nỗi sỉ nhục với Tolstoy.

2. Mark Twain bàn về Kiêu hãnh và định kiến

Trong lá thư gửi Joseph Twichell, ngày 13 tháng Chín năm 1898:

Tôi không có quyền chỉ trích sách, và tôi thường không làm như vậy trừ phi tôi ghét cay ghét đắng quyển sách kia. Tôi thường muốn chỉ trích sách của Jane Austen, nhưng sách của cô ta thường làm tôi tức đến mức tôi không thể che giấu cơn điên tiết này trước độc giả. Vậy nên mỗi lần cầm bút lên thì tôi lại phải thả xuống. Mỗi lần tôi đọc Kiêu hãnh và định kiến, tôi lại muốn đào cô ta lên từ dưới ba tấc đất, cầm xương ống chân của cô ta mà đánh vào quả sọ.

Từ một bài viết không đầy đủ của Twain, tiêu đề “Jane Austen”:

Mỗi khi tôi đọc Kiêu hãnh và định kiến hay Lí trí và tình cảm, tôi cảm thấy như một người bán hàng rong đang bước vào Cánh cổng Thiên đường. Ý tôi là, tôi đồng cảm với cảm giác khả dĩ của anh ta. Tôi khá chắc tôi biết anh ta cảm giác như thế nào - và ý nghĩ sâu xa trong lòng anh ta. Anh ta chắc chắn sẽ cong môi lên, trào phúng nhìn những vị trong Giáo hội Trưởng lão trong nhà thờ đang tự mãn đi ngang dọc ở Thiên đường. Bởi vì anh ta nghĩ mình tốt, khinh thường các vị Trưởng lão sao? Không hề. Chỉ đơn giản là anh ta không khoái loại người như họ. Vậy thôi.

3. Aldous Huxley bàn về On the Road (Trên các nẻo)

Trích Aldous Huxley: Một tiểu sử của Nicholas Murray:

Sau khi đọc một lúc thì tôi thấy hơi chán. Ý tôi là, nẻo ngõ gì dài thế.

4. Katherine Mansfield bàn về Howards End

Từ nhật kí của Katherine Mansfield:

Tháng Năm năm 1917:

Khi đang xem lại những quyển sách dở nhất mình sở hữu, tối hôm qua tôi tình cờ bắt gặp Howards End và đã đọc nó. Nhưng đúng thật là nó không đủ hay. E. M. Forster chưa bao giờ đi xa hơn việc sáng tác một quyển sách tạm ổn, chưa bao giờ đi xa hơn việc hâm ấm một cái ấm trà. Anh ta lại là một trong số hiếm những kẻ giỏi việc này nhỉ. Sờ cái ấm này thử xem. Ấm không? Sờ sướng tay không? Nhưng chỉ sướng tay thôi, chẳng có trà cho anh uống đâu.

Và tôi lại không chắc lắm liệu Helen có thai với Leonard Bast hay với cái ô bị lãng quên của hắn ta. Cân nhắc hết các tình tiết, tôi nghĩ nó nhiều khả năng đứa con là của cái ô rồi.

5. Martin Amis bàn về Don Quixote

Từ bài phê bình được đăng trong quyển The War Against Cliché: Essays and Reviews 1971-2000 (tạm dịch Chiến tranh chống sáo rỗng: Các bài luận và bài bình 1971-2000)

Mặc dù là một tượng đài kiệt tác không thể chối bỏ, Don Quixote vẫn có một lỗi rất nghiêm trọng – nó khiến người ta không tài nào đọc nổi. Người viết bài bình này hẳn biết điều đó chứ, bởi vì hắn mới đọc nó mà. Quyển sách chứa đầy vẻ đẹp, nét cuốn hút, chi tiết hài hước uyên bác; nó (hầu hết quyển sách - phải lên đến 75% thời lượng quyển sách) cũng… đần độn không tầm thường. Đọc Don Quixote có thể được ví như chuyến đi thăm dài vô tận đến nhà một vị họ hàng lớn tuổi, người có một bụng trò khăm, thói bẩn, những hồi ức liên miên và những người bạn đồng liêu tệ bạc. Khi trải nghiệm đã qua, khi “cậu bé già” cuối cùng cũng vẫy tay chào tạm biệt (tại trang 846 - trong đoạn văn dày đặc chẳng có chỗ cho câu hội thoại nào), bạn sẽ rơi nước mắt, không phải nước mắt giải thoát mà là nước mắt tự hào. Bạn làm được rồi, cho dù Don Quixote hành hạ bạn thế nào đi nữa thì bạn cũng vượt qua được rồi.

6. David Foster Wallace bàn về American Psycho (Người Mỹ cuồng loạn)

Từ một bài phỏng vấn do Larry McCaffery thực hiện trong The Review of Contemporary Fiction (tạm dịch Bình luận về văn học đương đại), Hè năm 1993:

Larry McCaffery (LM): Trong trường hợp của anh, sự thù địch này được biểu hiện dưới dạng nào?

David Foster Wallace (DFW): Ồ. Không phải luôn luôn, nhưng đôi lúc dưới dạng những câu không sai ngữ pháp nhưng vẫn khó hiểu như chó. Hay việc tác giả thích cầm dữ liệu đấm vào mặt độc giả. Hay việc dành rất nhiều năng lượng để thổi phồng kỳ vọng trong lòng độc giả và sau đó khoái chí làm họ thất vọng. Bạn có thể thấy rõ điều này trong những cuốn sách kiểu American Psycho của Ellis: nó giả vờ phỉnh nịnh máu bạo dâm của độc giả được một lúc, nhưng cuối cùng, hóa ra đối tượng bị bạo hành lại là chính bản thân độc giả.

LM: Nhưng ít nhất trong trường hợp của American Psycho, tôi cảm thấy còn có gì đó sau cái khát vọng gây đau đớn cho người khác - hay nói rõ hơn là, anh không nghĩ là Ellis độc địa theo cách của những nghệ sĩ chân chính, như những gì anh đã từng nói?

DFW: Anh chỉ đang phô bày chủ nghĩa hoài nghi, chính là thứ khiến độc giả bị thao túng bởi các tác phẩm hành văn tệ hại. Tôi nghĩ sở dĩ Ellis và một số những tác giả nhất định tìm kiếm được độc giả bởi cái chủ nghĩa hoài nghi tăm tối tồn tại trong thế giới ngày nay. Nghe này, nếu xã hội hiện nay thực sự thối hoắc, vô cảm, chạy theo đồng tiền, bị thiểu năng về cảm xúc, thích bạo dâm và ngu độn, vậy thì tôi (hay bất cứ nhà văn nào) có thể cực dễ dàng mà vá chỗ này đắp chỗ kia ra đại những câu chuyện có những nhân vật ngu ngốc, nhạt nhẽo, EQ thấp mà vẫn bán ào ào, vì kiểu nhân vật này không cần phát triển tuyến nhân vật gì cả. Miêu tả anh ta (hay cô ta) chỉ cần Ctrl+V một đống hàng hiệu. Cốt truyện thì toàn người ngu ngốc nói toàn chuyện vô vị. Nếu những đặc điểm chỉ ra một tác phẩm văn chương tệ hại là: nhân vật thiếu chiều sâu, một thế giới sáo rỗng và vô nhân tính,... lại đồng thời là những đặc điểm dùng để miêu tả thế giới ngày nay, thì văn chương dở lại hóa ra là một bức phác họa tinh tế của một thế giới tệ hại. Nếu độc giả đơn giản là tin rằng thế giới này ngu ngốc, nông cạn và xấu tính, thì Ellis có thể viết một quyển tiểu thuyết xấu tính, nông cạn và ngu ngốc mà hóa ra lại là một lời trào phúng về một thế giới tệ hết chỗ nói. Nghe này, có lẽ gần như tất cả chúng ta đều đồng ý là đây là thời kỳ đen tối và ngu đần, nhưng chúng ta có cần thêm những quyển tiểu thuyết viễn vông không làm gì hơn ngoài việc làm quá lên cái mặt đen tối của xã hội? Trong thời kì đen tối thì đáng lẽ nghệ thuật phải là thứ định hình và thổi sức sống hồi sinh cho cái nhân tính ít ỏi còn lại và cho những phép màu vẫn còn ngoài đó đâu đây. Văn học hư cấu xuất sắc đáng lẽ là những quyển sách có thể vừa miêu tả đúng đắn bản chất của thế giới, cho dù tác giả có muốn tô vẽ thêm cho nó càng tối tăm hơn, vừa soi sáng được hy vọng sống sót và vẫn còn giữ được nhân tính của những con người trong thế giới này. Bạn có thể biện hộ rằng American Psycho là một bản tóm lược ngôn hành của các vấn đề xã hội ở cuối những năm 80, nhưng nó cũng chỉ đến thế mà thôi, chẳng có gì sâu sắc hơn cả.

7. Vladimir Nabokov bàn về Anh em nhà Karamazov Tội ác và hình phạt

Trong bài phỏng vấn với James Mossman, xuất bản trong tờ The Listener, ngày 23 tháng Mười năm 1969, được in lại trong tờ Strong Opinions:

Nếu bạn đang ám chỉ đến những quyển tiểu thuyết tệ nhất của Dostoevsky, thì, tất nhiên, tôi rất không thích quyển Anh em nhà Karamazov và cái mớ bòng bong rùng rợn Tội ác và hình phạt. Không, tôi không phản đối hành trình tự đi tìm bản ngã, nhưng trong những quyển sách trên, linh hồn, tội lỗi và đa cảm, và văn phong viết không thể bù lại cho công cuộc tìm kiếm rối tung rối mù và chán chết kia được.

8. Vladimir Nabokov bàn về Finnegans Wake

Từ bài phỏng vấn năm 1967 trong The Paris Review:

Tôi căm ghét Punningans Wake, một tác phẩm mà sự lây lan nhanh chóng tựa như tế bào ung thư của các từ ngữ bác học cũng không thể cứu vãn nổi thái độ vui vẻ tởm lợm của các phong tục trong đó, và các phép ẩn dụ đơn giản, quá đơn giản.

Từ một bài phỏng vấn khác năm 1967, được thực hiện bởi một trong các sinh viên của Nabokov tại Cornell:

Ulysses vượt trội hơn bất kì tác phẩm nào khác của Joyce, và khi so sánh với sự sáng tạo cao quý, dòng suy nghĩ và phong cách sáng suốt độc đáo của nó, Finnegans Wake không hơn gì một mớ truyện dân dã hỗn độn giả tạo không hình không dạng, một miếng thạch không đông dưới dạng một quyển sách, là tiếng ngáy không ngừng ở phòng bên cạnh, quấy rầy làm người ta mất ngủ. Hơn nữa, tôi luôn chán ghét những áng văn chương địa phương chứa đầy những từ vựng xưa cũ quái gở và những cách phát âm bắt chước vụng về. Vẻ bề ngoài của Finnegans Wake ngụy trang dưới dạng một căn nhà cho thuê thường thấy chứa đầy gái mại dâm, và chỉ có tiếng tụng kinh như từ thiên đường thỉnh thoảng xuất hiện mới cứu nó khỏi số phận vô vị, buồn chán. Tôi biết là tôi thể nào cũng bị đuổi khỏi thánh đường vì phát ngôn này.

Còn tiếp.

Xem tiếp phần 2.

Emma Đẹp Thần Thánh lược dịch.

Bản gốc do Emily Temple thực hiện, đăng tại Literary Hub.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tháo gỡ phép màu và góc nhìn từ tang quyến

Độc giả xem những quyển sách này như một cơ hội để chạm vào ẩn số vĩ đại – cái chết, một cách an toàn. Họ ít nhất được trấn an rằng cái chết, theo những người sắp chết, thực sự không đáng sợ như chúng ta hằng nghĩ.

Published

on

By

thao go phep mau julie yip williams

Tháo gỡ phép màu là cuốn sách Julie Yip-Williams kể lại câu chuyện cuộc đời mình, từ một bé gái bị khiếm thị bẩm sinh, vượt khó với nghị lực phi thường và cuối cùng qua đời khi chống chọi với căn bệnh ung thư giai đoạn cuối.

"Câu chuyện này bắt đầu ở điểm cuối. Nghĩa là nếu bạn đang đọc những dòng này, thì tôi đã không còn nữa. Nhưng không sao cả... Ở đây, tôi bắt đầu viết ra trải nghiệm của mình cả về cuộc đời tôi đã sống và những gian nan tôi đã chịu - cả hai đều không toàn diện, song cũng đủ để bạn thấy rõ quãng đường mà tôi đã đi và thế giới mà tôi đã tạo dựng suốt đời mình. Và thứ vốn ban đầu chỉ để ghi lại cái chết yểu chực chờ đã trở thành điều gì đó có ý nghĩa hơn nhiều: lời cổ vũ cho các bạn, những người vẫn đang sống.

Hãy sống khi bạn còn đang sống, bạn nhé. Từ lúc phép màu khởi đầu, đến khi phép màu tháo gỡ."

Thao go phep mau 3
Tháo gỡ phép màu

*

Thời gian qua, rất nhiều cuốn hồi ký do bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối viết đã trở thành best-seller, có thể kể đến Khi hơi thở hóa thinh không của Paul Kalanithi; The Bright Hour của Nina Rigg hay Dying: A Memoir của Cory Taylor.

Độc giả xem những quyển sách này như một cơ hội để chạm vào ẩn số vĩ đại - cái chết, một cách an toàn. Khi nhìn vào khoảnh khắc tồi tệ nhất trong cuộc đời của một người xa lạ, họ ít nhất được trấn an rằng cái chết, theo những người sắp chết, thực sự không đáng sợ như chúng ta hằng nghĩ.

Hồi ký của Julie Yip-Williams thì khác, nguyên chất, không cắt cạnh gọt giũa, trung thực một cách tàn nhẫn khi miêu tả cơn thịnh nộ đi kèm với nỗi đau thể xác của một bệnh nhân ung thư. Quyển sách bao trùm trong những cảm xúc chân thực nhất của một người đang đối diện với cái chết sớm: trực diện, trần trụi, và không hề được lãng mạn hóa.

Dưới đây, chúng ta có thể biết thêm một góc nhìn khác về quyển sách Tháo gỡ phép màu - giọng nói của tang quyến.

Julie qua đời vào tháng 03.2018, quyển sách Tháo gỡ phép màu được phát hành sau đó 1 năm. Josh Williams, chồng của tác giả, đã có những chia sẻ chân thực với trang Vulture xoay quanh người vợ quá cố cũng như quyển hồi ký.

Anh chia sẻ thẳng thắn về nguồn gốc quyển sách, những khó khăn của anh trong việc chia sẻ câu chuyện của gia đình mình với đông đảo bạn đọc, và cả cái tâm trạng quái quỷ khi biết rằng anh chỉ có thêm 4 năm nữa để sống với người mà anh muốn chung sống cả đời.

*

Cảm xúc của bạn khi quyển sách Tháo gỡ phép màu được xuất bản?

Như tôi đã nói, Julie thực sự không có ý định thương mại hóa bất kì bài viết nào. Cô ấy chỉ cảm thấy phần lớn những thông tin ngoài kia (về ung thư, về cái chết) là không trung thực, thậm chí gây hiểu lầm, và không đặc biệt hữu ích. Và chiếc blog của cô, một nơi duy nhất trên thế giới, giúp Julie phơi bày những cảm xúc chân thực nhất.

Phản ứng của Julie khi nghe rằng NXB thực sự quan tâm đến việc chuyển thể nó thành một cuốn sách - ý tôi là, thật khó để diễn tả. Cô ấy vui như được lên cung trăng. Lúc đó cô ấy thực sự yếu.

Cô biết mình không còn nhiều thời gian nữa. Tôi nghĩ Julie rất xúc động khi được để lại thứ gì đó, bởi vì cô ấy nghĩ rằng quyển sách có thể hữu ích cho những người đang đau khổ ngoài kia. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng cô ấy thực sự, thực sự muốn để lại một di sản hữu hình, đặc biệt là cho những đứa trẻ. 2 đứa đều còn quá nhỏ khi mẹ chúng qua đời.

Julie viết rất nhiều cảm xúc tức giận, bất lực trước cái chết. Đó dường như không phải là cảm xúc mà mọi người muốn đề cập đến khi nói về ung thư?

Chúng tôi có một kỳ nghỉ gia đình hàng năm, nơi chúng tôi có mặt cùng với bố mẹ tôi, chị em tôi và gia đình của họ. Và chúng tôi quyết định thực hiện nó vào năm 2013, mặc dù Julie lúc đó vừa nhận chẩn đoán về căn bệnh quái ác.

Tôi nhớ mình đã ngồi bên cạnh cô ấy, tất nhiên là trong tâm trạng bị sốc, thất thểu và đọc các bài blog của Julie. Và ngạc nhiên rằng, các bài viết đều rõ ràng và hữu ích.

Chúng tôi thống nhất với nhau rằng sứ mệnh trọng tâm của các bài blog, hay sau này là quyển sách Tháo gỡ phép màu, là thể hiện những cảm xúc trung thực, cởi mở và thực sự hữu ích. Những cảm xúc này đã ở đó, ngay từ đầu cuộc hành trình chống chọi ung thư của cô ấy.

Bạn có bảo vệ cuộc sống riêng theo một cách nào đó không? Vì hẳn sẽ rất nhiều người nói về gia đình, về vợ và các con bạn.

Chúa ơi. Nghe này, tôi không muốn mọi người hiểu sai, nhưng điều đó thực sự khó khăn với tôi. Tôi rất tự hào về cô ấy. Và tôi thực sự rất biết ơn vì cô ấy đã nhận được một hợp đồng xuất bản tốt. Julie xứng đáng được hưởng một điều lớn lao trong cuộc đời, nhất là khi cuộc đời này đối xử quá bất công với cô ấy. Tôi thực sự tự hào về vợ mình. Và tôi cũng rất vui vì quyển sách giúp cất giữ kỉ niệm về Julie với các con. Ở tuổi 42, tôi đủ lớn để hiểu rằng ký ức sẽ phai nhạt nếu ta không gìn giữ.

Nhưng về mặt cá nhân, điều đó rất khó khăn. Tôi chỉ đang cố gắng duy trì tập trung vào những khía cạnh tốt. Nhưng nó sẽ không phải là lựa chọn của tôi. Tôi không thích nói về cuộc sống cá nhân của mình, nhất là khi đó là những kỉ niệm đau đớn. Mất Julie là trải nghiệm đau khổ nhất trong cuộc đời tôi cho đến nay.

Tôi hiểu. Bạn không nói rằng bạn ghét cuốn sách hay ước gì cô ấy không viết nó - chỉ là đây không phải là tình huống bạn muốn.

Tôi là ai để ngồi đó và giết chết giấc mơ của cô ấy? Tôi đã rất yêu cô ấy. Tôi muốn cô ấy hạnh phúc. Tôi biết điều này làm cho cô ấy rất hạnh phúc. Và tôi biết rằng đó là mục tiêu sống của cô ấy. Ngay cả giấy chứng tử của Julie cũng viết rằng cô ấy là một luật sư và một tác giả. Cô ấy sẽ thích điều đó. Cô ấy sẽ mỉm cười với điều đó.

Có điều gì trong cuốn sách mà bạn chưa đọc, hoặc không thể đọc, cho đến khi cô ấy qua đời không?

Trước đây, tôi đọc các bài viết tại nơi làm việc. Hoặc có thể là vào ngày hôm sau nếu tôi có một ngày làm việc đặc biệt bận rộn. Nhưng theo thời gian, khi mọi thứ trở nên trầm trọng hơn vào năm 2016, 2017.

Tôi đã không thể đọc bài đăng mà cô ấy viết cho tôi có tựa đề “Tình yêu” - bài đăng cuối cùng hoặc áp cuối mà cô ấy đã viết - cho đến nhiều tháng sau khi chấp nhận được sự thật. Tôi đọc bài đăng đó khi Julie đã qua đời.

Julie có đọc hồi ký nào khác của những người mắc bệnh nan y không?

Tôi chưa đọc bất kỳ cuốn nào trong số đó, nhưng tôi biết rằng Julie chắc chắn đã đọc Khi hơi thở hóa thinh khôngvà quyển sách của Nina Riggs - The Bright Hour.

Bạn có thấy Tháo gỡ phép màu và cả những quyển hồi ký của bệnh nhân ung thư nêu trên, sau tất cả, mang lại một động lực tích cực?

Tất nhiên.

Những cuốn sách đó không có từ năm 2013. Trở lại năm 2013, nếu đọc chúng, tôi gần như cảm thấy hụt hẫng, kiểu như: “Ôi Chúa ơi. Những người này xem ung thư là một thách thức. Như một cơ hội.”

Họ viết về cái chết nhẹ như bẫng, như thể việc ghi một bàn thắng, việc giảm đi mười cân. Bởi theo những người sắp chết, cái chết thực sự không đáng sợ như chúng ta luôn nghĩ.

Vào một thời điểm nào đó trong cuốn sách, Julie chấp nhận những gì sắp xảy ra với bản thân. Bạn đã nghiệm ra khái niệm về "cái chết" mới của riêng mình chưa?

Cái chết có lẽ ít đáng sợ hơn với tôi so với trước đây. Julie không thực sự thuộc về tôn giáo nào, nhưng cô ấy sở hữu niềm tin tâm linh của người phương Đông. Cô ấy không sợ chết. Tôi nghĩ rằng mọi người đều có một chút sợ hãi, nhưng cô ấy thì không - thậm chí rất lâu trước khi cô ấy bị bệnh.

Mặt khác, tôi hoàn toàn kinh hãi về điều đó. Tôi đấu tranh với niềm tin rằng thực sự tồn tại một 'thế giới bên kia'. Quan sát Julie, tôi luôn tự hỏi không biết khi nó thực sự xảy ra thì sẽ như thế nào. Cô ấy rất bình yên khi ra đi - vì vậy theo một cách nào đó, làm giảm bớt nỗi sợ hãi của tôi. Nhưng tôi không biết liệu nó có thực sự trả lời bất kỳ câu hỏi sâu xa nào của tôi về 'thế giới bên kia' ấy hay không.

Có điều gì bạn muốn mọi người biết về Julie mà họ không thể hiểu khi đọc cuốn sách này không?

Tôi nghĩ rằng Julie có lẽ là người dũng cảm nhất mà tôi từng gặp. Đó không chỉ là vấn đề thị lực yếu hay suýt mất mạng dưới tay người bà. Cô ấy là một người cực kỳ thích phiêu lưu mạo hiểm, cô ấy đã đi khắp 7 lục địa vào năm 30. Tôi biết rằng một số người có thể đọc cuốn sách và nghĩ rằng cô ấy thật khắc nghiệt, gay gắt. Cô ấy thực sự có một số khía cạnh khó khăn, nhưng Julie cuối cùng là một người tốt bụng và yêu thương gia đình.

Tôi hy vọng độc giả cảm nhận được điều đó khi đọc quyển sách.

Chắc chắn.

Hết.

Uyên lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Hillary Kelly, đăng tại Vulture.

*


Đọc bài viết

Cafe sáng