Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Cách một tác phẩm văn học thiếu nhi thân thương chào đời từ sự tuyệt vọng

Khi Saint-Exupéry và “The Little Prince” (Hoàng tử bé) chuyển nhà tới thành phố New York.

Published

on

HOW A BELOVED CHILDREN’S BOOK WAS BORN OF DESPAIR
Stacy Schiff

Hoàng tử bé đến từ nơi nao? Nếu bạn hỏi cậu ấy, thì cậu ấy đáp xuống từ Tiểu hành tinh B-612, nơi chẳng to hơn một ngôi nhà bao nhiêu – điều này đồng thời đặt ra câu hỏi về địa điểm cậu ấy cất giữ cái tủ quần áo to rộng của mình. Cha đẻ của cậu khăng khăng rằng vào một ngày nọ, ông nhìn xuống tờ giấy trắng và phát hiện ra một thân ảnh nhỏ. “Tôi hỏi cậu ấy là ai,” Saint-Exupéry kể lại. Vị khách trả lời, “Tôi là Hoàng tử bé.” Còn câu chuyện về sự ra đời của bản thân cuốn sách thì có chút phức tạp hơn thế.

Sáu tháng sau khi Pháp rơi vào tay người Đức, Saint-Exupéry vượt khơi tới New York. Ông đến nơi vào ngày cuối cùng trong năm 1940. Với tư cách là tác giả sách bán chạy, ông nhận được những lời đón chào hân hoan. Trong vòng vài tuần, ông đã nhận giải National Book Award 1939 cho tác phẩm Wind, Sand and Stars (Tạm dịch: Gió, cát và những vì sao, phát hành tại Việt Nam với tựa đề Xứ con người), là một bản tường thuật trữ tình về cuộc phiêu lưu vượt qua Bắc Phi và Nam Mỹ. Vì ông dành cả mùa đông để thực hiện các nhiệm vụ trinh sát cảm tử với Lực lượng Không quân Pháp, ông đành bỏ lỡ buổi trao giải một năm. Ông tin rằng mình sẽ lưu lại Mỹ tầm một tháng. Cuối cùng, ông đã ở lại đây hơn hai năm.

Eugene Reynal và Curtis Hitchcock – hai chủ biên của Saint-Exupéry – đã nhờ vợ mình trang hoàng một căn hộ tại địa chỉ 240 Central Park South, chất đầy quầy bar và lắp đặt thiết bị tại nhà bếp. Trước mắt, Saint-Exupéry chưa có dự án mới. Sau nhiều phen thuyết phục, ông chấp nhận viết một cuốn sách về sự bại trận của Pháp. Chủ biên của ông và nhóm dịch giả nghiêm khắc dưới trướng họ thúc ép ông viết từng trang từng trang một. Cuối cùng, sự trì hoãn đã được đền đáp: Flight to Arras (Phi công thời chiến) xuất hiện ở nhà sách chỉ hai tháng sau sự kiện Trân Châu Cảng. Nhận được những lời đánh giá nồng nhiệt, cuốn sách trở thành tựa có tốc độ tiêu thụ nhanh nhất trong lịch sử Reynal & Hitchcock.

Saint-Exupéry cảm nhận một niềm vui thơ trẻ khi nhìn những cuốn Flight to Arras chất thành chồng cao qua khung cửa sổ Bloomingdale, thế nhưng, đặc biệt khi chuyến trọ của ông kéo dài ra, ông trở nên vỡ mộng và cảm thấy mình mất đi tiếng nói. Cộng đồng Pháp ly hương chia rẽ thành nhiều bè cánh; là một người theo trường phái hành động, Saint-Exupéry không có nhiều kiên nhẫn cho các bài phát biểu hay các điệu bộ chính trị. Ông từ chối liên minh với bất cứ phe cánh nào, vì lí do đó ông bị tất cả các phe lăng mạ và phản đối kịch liệt. (Thời điểm Hoàng tử bé ra mắt, danh sách buộc tội xuất hiện thêm tội danh rằng ông là người theo phe cánh bảo hoàng.)

Qua nhiều lần suýt mất mạng vì tai nạn máy bay hai thập kỷ vừa qua, sức khỏe của ông không ở trạng thái tốt, ông phải chịu đựng những cơn sốt cao – một đặc điểm mà sau này ông thêm vào cho cậu nhóc gai góc ngoài hành tinh của mình. Ông thường loạng choạng giữa bữa tối. Hằng đêm, ông bị đánh thức bởi những cơn rét buốt, răng run lập cập. Ông không dành nhiều tình yêu cho nước Mỹ, phần lớn vì đối với ông, một quốc gia có năng lực thiết kế máy giặt tân tiến nhất hẳn nhiên có thể dành chút sức lực để cứu rỗi nước Pháp. Ông không dùng tiếng Anh, thứ ngôn ngữ mà ông dành rất ít nỗ lực để học. Khi được hỏi tại sao, ông gầm gừ: “Tôi còn chưa học xong tiếng Pháp.” Ông có thể đoán nghĩa từ văn viết nhưng hoàn toàn không hiểu gì khi nghe mọi người nói chuyện. (Thật may vì ông diễn kịch mô phỏng thành thục.) Ông bị cấm ghé thăm, bay qua hay phát hành sách ở Pháp, nơi mà người Đức đã cấm vận cuốn sách Flight to Arras cùng việc tái bản những tác phẩm trước đó của Saint-Exupéry. Thỉnh thoảng ông mới nhận được tin tức từ bạn bè và người nhà. Ông bị giày vò bởi vợ mình, người tự đặt làm một căn hộ biệt lập ngay dưới nhà ông và cũng chẳng thường xuyên về nhà. Ông thức nhiều đêm để viết và gửi những lá thư đầy giận dữ. Có một bận, cứ mỗi mười phút mà ông dành để đi đi lại lại trong phòng, ông sẽ đánh một dấu trên đầu trang giấy. Trên trang bản thảo Flight to Arras dính những vết cháy xém của thuốc lá và vết ố màu của cà phê, câu mở đầu nguyên bản là: “Càng ngày càng trở nên khó sống.”

Giữa cơn tuyệt vọng, Hoàng tử bé đến, đóng vai trò như một phương thức trị liệu. Trên trang lề của bản thảo Flight to Arras có một bóng hình đang nhảy nhót – từ lâu đã trở nên quen thuộc với những người thân thiết với Saint-Exupéry. Từ những năm 1930 ông đã phác họa các phiên bản anh em của cậu nhân vật chính hay dỗi lên những lá thư, khăn trải bàn, thực đơn, hóa đơn, thùng giấy giặt khô. Trong các phiên bản tạo hình ban đầu, nhân vật này trông giống một chú búp bê kewpie, một con chim hải âu rụt cổ con, hay diễn viên người Pháp Jean-Louis Barrault. Thỉnh thoảng ông vẽ thêm đôi cánh. Cặp lông mày đến rồi lại đi. Một thành viên trong phi đội không quân Pháp thắc mắc tại sao ông lại thường xuyên vẽ nhân vật đuổi theo bươm bướm. Ông đáp rằng chàng trai nhỏ ấy cống hiến chính mình vì sự theo đuổi một “lý tưởng thực tiễn.”

“Giữa cơn tuyệt vọng, Hoàng tử bé đến, đóng vai trò như một phương thức trị liệu.

Elizabeth Reynal – người vợ đáng yêu và nói tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ của một chủ biên của Saint-Exupéry – hỏi rằng ông ấy có hay không bị phân tâm nếu viết một câu chuyện thiếu nhi về “petit bonhomme” (chàng trai nhỏ) của ông ấy. Ngay sau đó, Saint-Exupéry tự đi mua một bộ màu nước trẻ em tại tiệm thuốc địa phương và bắt đầu làm việc. Cốt truyện ra đời với hình hài đầy đủ, nhưng ông trở nên ám ảnh trong việc hoàn thiện chi tiết. Ban đầu, ông không định để chi tiết con trăn tiêu hóa con voi mở đầu câu chuyện, mà là hình vẽ con thuyền làm một người bạn hiểu nhầm là củ khoai tây, như bằng chứng rằng ông thật sự không có năng khiếu nghệ thuật. Ông lược bỏ cuộc gặp gỡ của Hoàng tử bé với một người say mê ô chữ đang đi tìm từ đồng nghĩa với từ “súc miệng”. Ông từ bỏ việc cho nhân vật chính có một khu vườn sum suê những củ cải, cà chua và đậu. Phần lớn những khuây khỏa ông nhận được ở Mỹ đều đến từ những trang sách này.

Cuộc phiêu lưu của Hoàng tử bé có vẻ ngoại lai: Cậu rời bỏ Tiểu tinh cầu của mình vì hiểu lầm với một bông hồng rắc rối. Cậu hình thành một bản thống kê tốc hành về logic của người lớn thông qua sáu dịp viếng thăm các tinh cầu láng giềng, mỗi nơi được cai trị bởi một người đàn ông lố bịch hơn cả người trước. Cậu đáp xuống sa mạc Sahara, nơi cậu gặp một phi công đóng vai trò dẫn chuyện cho cuốn sách, và cũng là nơi mà cậu học được vài bài học cốt yếu từ một con cáo, trước khi tan biến vĩnh viễn. Tuy nhiên về phía Saint-Exupéry, cuốn sách không hề đại diện cho một sự đổi hướng. Ông đã viết về những khu vườn bí mật, hoa hồng, và hoàng tử cổ tích trong nhiều năm. Thiền triết học của ông, cuốn sách The Wisdom of the Sands, thể hiện đầy đủ những mối bận tâm đến ngụ ngôn trẻ em. Trong cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông, một chiếc máy bay có cùng số hiệu với tiểu hành tinh của Hoàng tử bé. Vào những năm 30, ông đã nhờ một người bạn ngoại giao ở Mát-xcơ-va vẽ một chú cừu; chính ông cũng đã “rơi xuống” mặt đất nhiều lần. Ông nhắc về việc chạy trốn và thay đổi hành tinh sống trong nhiều năm. Trong một bài luận ra mắt năm 1937, ông viết rằng những điều thiết yếu vĩnh viễn là vô hình, dẫu vậy chúng ta vẫn căng mắt ra kiếm tìm người đưa thư có thể mang theo điều ấy.

Saint-Exupéry cho nhân vật chính “mượn” hành trình của mình, nhưng loại bỏ New York ra khỏi cuốn sách. (Thành phố xuất hiện trong bản thảo đầu nhưng bị thay thế bởi “một hòn đảo nhỏ ở Thái Bình Dương.”) Những nhân vật phụ của Hoàng tử bé cũng đã đi với ông trong nhiều năm: Họ là những người họ hàng, người quản lí và những kẻ quan liêu chối bỏ những phương thức không chính thống nhưng chất lượng của ông – là rào cản giữa việc một phi công trở thành nhà văn, việc một người phi công xao nhãng lưu lại trên không, việc một phi công xuất chúng không muốn đưa ra lập trường chính trị. Ông cũng vay mượn từ những cuốn sách ông từng đọc, từ Hans Christian Andersen và từ Patachou: Petit Garcon, tuyển tập sách thiếu nhi của Tristan Derème năm 1929.

Saint-Exupéry giống nhân vật chính của ông ấy bao nhiêu? Vài năm trước khi ý tưởng cuốn sách thành hình, một người bạn từng nói với ông: “Cậu là người ngoài hành tinh.” “Đúng, đúng, điều đó là sự thật, tôi thỉnh thoảng đi dạo giữa những vì sao,” Saint-Exupéry vừa cười vừa thừa nhận. Vào năm 1939, khi cố gắng miêu tả về ông, một chủ biên đã nói rằng căn bản thì ông là “một tâm hồn cô đơn nhưng vô cùng thân thiện, lịch thiệp nhưng lại rất trẻ thơ.” Nét duyên dáng của ông bao gồm những phần bằng nhau của sự rụt rè và độc đoán. Giọng điệu của cuốn sách giống hệt một phi công đang trấn an một quý bà vừa rùng mình trước viễn cảnh đặt chân lên máy bay: “Thưa Phu nhân, cũng không phải chưa từng có cái tiền lệ máy bay sẽ cất cánh mà chẳng hạ cánh.”

“…tôi thỉnh thoảng đi dạo giữa những vì sao,

Một phi công lực lưỡng và đang hói dần – theo lời một phóng viên là giống “một chú gấu Teddy có chút bị vùi dập” – cùng một cậu bé ngoài hành tinh bảnh bao với những lọn tóc vàng óng tạo thành một cặp đôi kỳ lạ. Trong khi Hoàng tử bé là người kỷ luật hạng nhất, đều đặn chăm sóc hành tinh mình, thì cha đẻ của cậu lại là vua trì hoãn. Cậu nhân vật chính trẻ thơ của chúng ta là một người đi bộ quả quyết. Còn Saint-Exupéry – được hoan nghênh bởi mọi tài xế taxi ở Paris – dị ứng với việc rèn luyện thể lực. Hoàng tử bé phô diễn khả năng ghi nhớ thời gian của cậu. Còn qua sáu năm hôn nhân, Saint-Exupéry vẫn không thể nhớ rõ ngày cưới. Ông cảm thấy thiên nhiên chẳng hữu dụng gì mấy. Thế nhưng hai người vẫn dây dưa với nhau, như đôi song sinh thơ ngây rơi xuống từ bầu trời. Saint-Exupéry hẳn không thể nào đoán được rằng, bằng cách nào đó, ông sẽ hòa làm một với Hoàng tử bé, giống như việc ông không thể nào đoán được mình sẽ chịu chung số phận với J.M. Barrie –  sự nghiệp đồ sộ của ông bị lu mờ bởi cái bóng quá lớn của Peter Pan.

Saint-Exupéry viết Hoàng tử bé trong căn hộ Park Avenue của cô bạn gái dễ mến Sylvia Reinhardt; trong căn hộ ở Central Park South; trong một căn nhà thuê ở Northport, Long Island. Ông cười ra tiếng khi làm việc, phấn khích chia sẻ những bức vẽ của mình, đánh thức những vị khách trọ để tham khảo ý kiến. Ông dỗ ngọt bạn mình tạo dáng. Một con búp bê trong căn hộ của Sylvia được lấy làm mẫu vẽ Hoàng tử bé, còn con chó poodle của cô được dùng để tạo hình chú cừu. Cùng lúc ấy, Saint-Exupéry viết với cái nhìn văn hóa, ngôn ngữ và cảm xúc của một miền đất không chủ quyền, bày tỏ những xúc cảm cháy bỏng với thế giới thực dụng. Như cách ông giải thích với Sylvia: “Anh đang tuyệt vọng vì những chuyến tàu bị lỡ, những cuộc hẹn lộn xộn, những địa chỉ thất lạc, những hóa đơn, những cuộc gọi không được trả lời, những lời trách móc, những cuộc hòa giải khó khăn, những người bạn bị tổn thương, những cơn đau đầu vào thời điểm cần nói chuyện, cạn ý tưởng khi cần viết, ba cuộc hẹn dùng bữa trong cùng một đêm.” Ông sống nhờ thuốc giảm đau, viết với những cơn dai dẳng giữa đêm muộn, nhiên liệu là cà phê và thuốc lá để lại những dấu vết lớn hiển hiện trên bản thảo. Ông trút những tin nhắn thống khổ về phía bạn bè. Ông ao ước một cuộc viếng thăm từ tổng lãnh thiên thần.

Xuyên suốt dự án, Sylvia Reinhardt chăm sóc ông với gin-và-cola, trứng chiên và bánh muffin Anh phục vụ cạnh ánh nến. Cô cũng là cảm hứng cho vài câu nói nổi tiếng trong tác phẩm. Khi cô phàn nàn về thói trễ hẹn không ngớt của ông, ông đã chùn bước. Vài tiếng đồng hồ thì có thể làm ra sự khác biệt gì? “Trái tim của em bắt đầu nhảy múa khi em biết anh sắp đến,” Sylvia giải thích. Câu này cũng chính xác khi áp dụng với chủ biên của ông – Saint-Exupéry đã hứa sẽ hoàn thành Hoàng tử bé vào tháng Mười Một năm 1942. Cuối cùng, ông bắt tay làm việc vào tháng Mười Hai, đồng ý sẽ giao nộp bản thảo vào tháng Một. Kỳ Nghỉ Năm Mới đến rồi lại đi. Được ấn định là tựa sách tháng Hai năm 1942, từng trang sách được chắt ép từ ông, vừa kịp để phát hành trong tháng Tư.

Reynal và Hitchcock biết rằng một câu truyện cổ tích hấp dẫn không hẳn là điều độc giả mong muốn từ vị nhà văn rắn rỏi của Flight to Arras. Trong chiến dịch quảng bá, họ đã dùng một lối thoát khôn ngoan: “Những nhà phê bình sách sẽ có hẳn một ngày để sung sướng giải thích với bạn liệu cuốn sách này thuộc thể loại nào,” họ tuyên bố. “Chúng tôi thì chỉ quan tâm rằng đây là cuốn sách mới của Saint-Exupéry.” Rất ít người xem Hoàng tử bé là truyện cổ tích dành cho trẻ nhỏ và không phải ai cũng gợi ý nó cho người lớn. Nhìn chung, phía phê bình cảm thấy bối rối hơn là ấn tượng. Cuốn sách có vẻ mới mẻ tột bậc khi so sánh với dòng văn học thiếu nhi; suy cho cùng thì trong những trang sách của mình, Saint-Exupéry ném từng quả lựu đạn một vào người lớn. Người dẫn chuyện đã giật mình khi Hoàng tử bé buộc tội anh nói chuyện giống như người lớn dù trước đó đã tự xác nhận mình là thành viên danh dự của liên minh này.

Reynal & Hitchcock đã ranh mãnh tận dụng sự bối rối trên. Trong những mẩu quảng cáo, họ khoe khoang về những phê bình không đồng nhất về Hoàng từ bé, đưa ra những câu trích dẫn để cảnh báo rằng “Đây không phải là một cuốn sách dành cho trẻ em,” rồi đến những tin “Người lớn sẽ chẳng thích cuốn sách này, nhưng ai thèm quan tâm chứ.” Trong số ít người ngay lập tức đón nhận cuốn tiểu thuyết có P.L. Travers, tác giả của Mary Poppins và bản thân cô cũng là tác giả của Reynal & Hitchcock. Cô ngưỡng mộ sự trớ trêu, lời thú nhận của cốt lõi nỗi cô đơn, “một ánh sáng lập lòe bên lề.” Cô không hề quan tâm đến việc cuốn sách sẽ thu hút những ai, ranh giới giữa trẻ con và người lớn theo cô là “ảo ảnh như đường xích đạo.”

Hầu như mọi nhà phê bình đều cho rằng người dẫn chuyện chính là Saint-Exupéry và viết về hai người họ như thể họ là một. (Ông từng phác thảo người phi công-dẫn chuyện vài lần nhưng đã chọn không thêm hình vẽ nhân vật trong bản thảo chính thức.) Reynal & Hitchcock chẳng làm gì nhiều để xóa bỏ định kiến này. Không lâu trước khi phát hành, kì diệu thay, Saint-Exupéry đã quay lại tiền tuyến, tái tham gia phi đội ở Algeria. Chủ biên của ông thông báo sự ra đi này trong một cuộc họp báo, nói thêm rằng: “Mặc dù ông đang ở tại khu vực lân cận nơi ông lần đầu gặp gỡ Hoàng tử bé, ông vẫn chưa gặp lại cậu ấy.” Ở Bắc Phi, Saint-Exupéry tự hào phe phẩy cuốn sách qua lại, như thể đang trao một bản tuyên ngôn cá nhân hay ảnh chụp của ông; khi so sánh với hình ảnh người đàn ông – giống như người dẫn chuyện – cảm thấy rằng mình “sống cuộc đời cô độc và không có ai để thực sự chuyện trò,” ông luôn trong tình trạng đòi hỏi không ngừng một dàn khán thính giả. Miễn cưỡng lắm ông mới chấp nhận để cuốn sách khỏi tầm mắt trong khoảng 24 giờ, thường với điều kiện là sách được trả về cùng một bài phê bình viết tay. Ông cầu xin nhà xuất bản gửi cho ông tin tức về cuốn sách.

Doanh thu vẫn rất đáng thất vọng – cuốn sách chỉ đứng trên bảng xếp hạng sách bán chạy đúng một tuần – dù Saint-Exupéry không bao giờ biết được điều này. Ông cũng không được chứng kiến việc Hoàng từ bé phát hành tại Pháp. Năm 1944, ông lặng lẽ biến mất, hệt như cách cậu bé tóc vàng óng – phiên bản cái tôi khác của ông – đã từng biến mất trên sa mạc. Sau khi trở về Corsica từ một nhiệm vụ trinh sát ngày 31 tháng Bảy, Saint-Exupéry đâm thẳng xuống biển Địa Trung Hải với tốc độ cao. 25 ngày sau, Paris được giải phóng. Chỉ tới năm 2004 máy bay của ông mới được khai quật; nguyên nhân của vụ tai nạn không rõ ràng.

Hoàng tử bé nhận được cái nhìn khác khi phát hành ở Pháp năm 1945. Một tác phẩm ra mắt sau khi tác giả đã qua đời, một cách kỳ lạ nó dường như dự đoán trước cái chết của nhà văn. Phải khá lâu cuốn sách mới tìm đến được đối tượng độc giả phù hợp. Một phần vì cuốn sách có vẻ ra đời từ một thời đại ngây thơ hơn, hẳn nhiên là thế. Nhưng đồng thời, hình chẳng có gì đổi thay. Tồn tại đầy lý do vì sao tác phẩm tiếp tục bán chạy hơn mọi cuốn sách khác, ngoại trừ Kinh Thánh. Ngày nay bạn có thể đọc Hoàng tử bé thông qua 270 ngôn ngữ, kể cả những ngôn ngữ không có từ “hoàng tử” hoặc khái niệm “buồn chán”; nó được in ra bằng 26 bảng chữ cái. Sau cùng, cũng chẳng có gì lạc hậu trong việc một thương nhân bán thuốc chống khát để chúng ta có thể tiết kiệm 53 phút lãng phí hàng ngày vào việc uống nước. Nhân vật chính của cuốn sách tiếp tục phơi bày những gã đàn ông ẩn sau tấm rèm, để phát ra âm thanh mềm mại mà đáng lo ngại của lương tri. Giữa loài người, lúc nào cũng cô đơn. Qua 84 trang giấy kết tinh, nhờ một chú cáo khôn ngoan, Hoàng tử bé đã học được ý nghĩa của từ “sớm nở tối tàn”, trong khi chúng ta cũng chỉ nhìn thoáng qua vĩnh hằng. Người dẫn chuyện của Hoàng tử bé trấn an rằng mình không có ý định trở thành nhà đạo đức học. Nhưng ông cũng không muốn bị coi nhẹ. Ông thành công ở hai việc trên. Chắt lọc những giá trị cốt yếu từ một cuộc đời đơn lẻ và bất hạnh, Saint-Exupéry dịu dàng gấp nó giữa những câu từ, nơi mà nó vĩnh viễn – hệt như tất cả tác phẩm kinh điển – vô hình với đôi mắt.

“Chắt lọc những giá trị cốt yếu từ một cuộc đời đơn lẻ và bất hạnh, Saint-Exupéry dịu dàng gấp nó giữa những câu từ, nơi mà nó vĩnh viễn hệt như tất cả tác phẩm kinh điển – vô hình với đôi mắt.

Hết.

Lalijade dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Stacy Schiff, đăng tại Literary Hub

Xem tất cả những bài viết của Lalijade tại đây.


Tìm hiểu thêm về tác phẩm Hoàng tử bé


Phía sau trang sách

Yêu thương cơn “Giận” bằng trái tim hiểu biết

Published

on

By

“Chánh niệm là ta, mà sân hận cũng là ta. Ta không nên trở thành một bãi chiến trường để hai vùng năng lượng đó đánh giặc với nhau. Đừng nên nghĩ rằng chánh niệm là chánh, là tốt, và sân hận là tà, là xấu. Đừng nên nghĩ như vậy.”

Giận là một cuốn sách chứa nhiều sắc thái yêu thương. Chúng ta thường dễ dàng yêu những điều ngọt ngào, đẹp đẽ, đầy sức sống và thương những điều chân thành, trong trẻo, bình yên. Nhưng có một sắc thái yêu thương khác thực sự không hề dễ trao tặng, nhưng nếu làm được, có lẽ con người sẽ tự thân giải thoát mình khỏi những đau khổ và giằng xé trong mọi diễn biến phức tạp của đời sống: yêu thương cơn giận và những nỗi sân hận. 

Cuốn sách là một phương pháp tu tập của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bản gốc được viết bằng tiếng Anh và xuất bản lần đầu năm 2001. Nhưng Giận không chỉ là thực tập tâm linh. Bên trong Giận có những quan điểm triết học, nền tảng khoa học do những con người thực tập chánh niệm phát hiện ra. Cũng giống như nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, phương pháp có nền tảng là sự quan sát, ghi nhận, quán chiếu (đào sâu và phân tích hành vi) và đưa ra những kết luận đối với vận động của tâm (how mind works) thông qua việc dấn thân sâu vào mỗi giây phút thực tại của đời sống. Khi dấn thân sâu, người ta có thể nhận ra những chi tiết do tập khí của sự chú ý dẫn dắt. Đến nay, tiếng vang của tác phẩm vẫn còn nhờ vào giá trị đương thời của nó.

Cuốn sách dành cho người giận, người bị chọc giận, và hướng dẫn làm sao xử lý tàn dư sau những cơn thịnh nộ. Nhiều câu nói trong Giận có khả năng giúp người đọc tỉnh ngộ ở một mức độ nhất định khi họ đang bực bội. Nhưng có lẽ cách khai thác triệt để lợi ích của cuốn sách là vừa đọc vừa tái hiện và quán chiếu lại bên trong mình. Nghĩa là ta cần phải gợi lại dòng cảm xúc tiêu cực phát sinh trong những sự việc không như ý trong quá khứ để khai mở ra một góc nhìn mới. Và nếu muốn, tự chữa lành nó bằng tuệ giác.

Một lời khuyên hữu hiệu được Sư Ông ra sức thuyết phục xuyên suốt quyển sách, đó là những cơn giận rồi vẫn sẽ tiếp diễn, những đả kích tùy vào giới hạn sức chịu đựng của mỗi người, vẫn sẽ dẫn đến tổn thương. Chúng luôn luôn hiện diện. Nhưng bạn sẽ học được cách tiếp nhận và chuyển hóa chúng giống như bạn học cách ủ rác thành phân vậy, vì có hoa thì phải có rác, đừng sợ hãi và nhút nhát trước cơn giận.

“Tiếp xúc với đau khổ giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và nhận diện hạnh phúc khi hạnh phúc có mặt. Nếu không tiếp xúc được với đau khổ thì không biết hạnh phúc đích thực là gì.”

Chánh niệm

Khi giận, Thầy khuyên ta nên duy trì chánh niệm trên hơi thở, vừa điều tiết được cơn thịnh nộ vừa quan sát được tiến trình của cảm xúc. Thầy nói rằng phương pháp xả giận (venting) bằng cách sử dụng bạo lực (đánh, đấm, la hét vào một đồ vật chẳng hạn) là một thực hành nguy hiểm. Điều này là hoàn toàn hợp lý. Tuy vậy, nếu không hiểu rõ về chánh niệm, theo dõi hơi thở rất dễ bị nhầm lẫn thành kiểm soát hơi thở. Người đang giận mà theo dõi hơi thở trong khi chưa thực tập chánh niệm lần nào, rất dễ bị suy nghĩ bao trùm và cảm xúc chi phối. Vì thế, trong giai đoạn thuật ngữ này đang được sử dụng khá phổ biến, thì có một đối tượng khác, cũng được đề cập trong cuốn sách, có vẻ dễ hiểu và dễ thực tập nhất để học về phương pháp duy trì chánh niệm sao cho đúng với bản chất của nó:

“Ăn là một thực tập sâu sắc. Khi tôi ăn, tôi tận hưởng từng miếng ăn. Tôi ý thức rõ rệt từng miếng ăn trong miệng tôi, ý thức là tôi đang ăn. Chúng ta thực tập chánh niệm về ăn uống bằng cách ý thức rõ là ta đang nhai thức ăn. Nhai thật cẩn thận, nhai với niềm vui trong lòng, thỉnh thoảng dừng lại để nhìn những người thân, bạn bè, tăng thân đang cùng ngồi ăn. Được ngồi thảnh thơi ăn chung với nhau là một niềm vui lớn. Khi ăn trong chánh niệm chúng ta sẽ không ăn trong buồn, giận, lo lắng, không ăn những dự án tương lai.”

Thiền ăn là một hoạt động thú vị. Vì mọi người đều có thể toàn tâm toàn ý ăn sao cho ngon miệng, dù thức ăn có hợp khẩu vị, hay dù đang trong hoàn cảnh nào mà không cần hướng dẫn quá chi tiết. Nếu muốn dấn thân thật sâu sắc vào hiện tại, người tu học sẽ phát khởi thêm lòng biết ơn đối với bữa ăn để có thể trân trọng từng thìa thức ăn đưa vào miệng, quan sát từng cử động khi nhai, cảm nhận mùi vị của từng món ăn, nhận diện những thói hư tật xấu làm giảm chất lượng bữa ăn. Hay nói cách khác là Vì trân trọng, nên tôi sẽ hiện diện sâu sắc ở đây với bạn, tôi sẽ không dành năng lượng cho những việc khác. Đó là một trong những cách hiểu và thực tập về chánh niệm trực quan nhất. 

“Muốn ăn cho đúng thì nên nhai ít nhất năm mươi lần trước khi nuốt.”

Thay thế góc nhìn nhị nguyên bằng tâm từ bi và thấu hiểu

Khi theo dõi hơi thở ở một thời lượng nhất định, và nhận diện những cảm xúc đủ lâu, ý thức của ta sẽ phát hiện ra những cảm xúc, những tâm hành không nên có (sân hận, đố kỵ, nghi ngờ) và có xu hướng triệt tiêu chúng. Nhưng theo cuốn sách, nếu con người nhìn nhận những tâm hành ấy bằng tuệ giác tương tức thì sẽ có thể đối xử với chính mình và người thương bằng một cách dễ chịu hơn, bất bạo động. Cũng như tạo tiền đề để tâm từ bi nảy nở.

Tâm nhị nguyên là xu hướng gắn mác đúng-sai, trên-dưới, đẹp-xấu, thắng-thua, khởi đầu-kết thúc, ta-người đã tồn tại và cắm rễ rất sâu trong cách tư duy của con người để làm tiền đề, căn cứ cho mọi ý nghĩ và hành vi. Đạo Phật khuyên rằng, thay vì nhìn qua lăng kính nhị nguyên, hãy nhìn mọi sự vật, hiện tượng, cảm thọ là sự chuyển hóa xuất phát từ sự thay đổi, chuyển hóa của những đối tượng có liên quan, là tính tương tức, là nguyên nhân và kết quả. Được vậy thì có lẽ người ta sẽ tự xóa bỏ cho mình rất nhiều sân hận, bất an phát sinh trong đời sống.

“Pháp môn thực tập của chúng ta phải là bất bạo động. Bất bạo động chỉ có thể phát sinh từ tuệ giác bất nhị, tuệ giác tương tức. Theo tuệ giác này, tất cả mọi sự vật đều có liên hệ với nhau, và không có gì mà có thể tự nó có mặt một mình…. Chừng nào mà ta không có được tuệ giác bất nhị thì chừng đó sẽ còn bạo động, còn muốn trừng phạt, muốn đàn áp, muốn phá bỏ. Nhưng khi đã thấu triệt lẽ thật bất nhị và tương tức thì ta sẽ có thể mỉm cười với cả hoa và rác trong ta, ta có thể ôm ấp cả hai.”

Chúng ta nên làm gì khi đối phương vô tình hoặc hữu ý gây ra đau khổ cho mình? Hay chúng ta nên hành động như thế nào để phản kháng lại tha lực tiêu cực luôn dồn dập trong đời sống? 

“Một người không biết xử lý đau khổ của mình thường vung vãi đau khổ ra chung quanh”, hãy “nên giúp, không nên phạt”; tổ chức một cuộc “hội thảo hòa bình” để đưa đến “hiệp ước sống chung an lạc”; trao tặng một món quà khi giận; tri ân đối phương và viết ra tâm kinh của bản thân là một vài trong số tất cả những phương án bất bạo động thực sự nghĩa tình dành cho người mà bạn yêu quý. Thật đau lòng khi đối phương gây ra đau khổ cho bạn, nhưng bạn vẫn có quyền chọn lựa cách phản đòn sao cho nhân từ, bác ái với cả hai.

Tâm từ bi là cái tâm nhìn thấy nỗi khổ niềm đau của người khác cùng đồng thời khởi nguyện lấy đi những đau khổ ấy. Dùng tâm từ để chữa lành tâm hồn, để soi rọi sự việc, để kiên nhẫn, để tái lập truyền thông, để lắng nghe, để hàn gắn đổ vỡ. Với tâm thế đó, con người khó lòng sân hận được. 

Một dòng văn ý nghĩa nên được viết vào tâm kinh:

“Bạn biết là bạn may mắn gặp được người bạn đường, may mắn có được một người thương trong cuộc đời. Tại sao bạn lại quên đi sự thật đó? Nó ở trong tâm bạn.”

Một câu chuyện cảm động

Sư Ông nói rằng khi giận, tình yêu thương và những kí ức đẹp đẽ của người đang giận sẽ không có mặt, và họ cảm tưởng như nó chưa bao giờ thật sự có mặt. Đó là lí do vì sao khi cơn giận qua đi, người ta thường thốt lên câu “Phải chi lúc đó tôi đừng làm vậy”, và đổ thừa cho cơn giận của mình. Lúc đó, thực ra là chính họ cho phép cơn giận hoành hành bên trong lẫn bên ngoài. 

David và Angelina là câu chuyện về một người sống theo sự dẫn dắt của tập khí, anh cho rằng Angelina và những người khác cố ý xa lánh anh, không yêu thương anh. Nhưng trái tim anh quá nhỏ bé để có thể nhận ra đã từng có tình thương vô điều kiện mà mọi người dành cho anh. Còn Angelina là một cô gái yêu thương David vô điều kiện mà có lẽ trên thế giới ngày nay không còn ai sống như vậy nữa. Đến cuối cùng, Angelina vẫn trở về với David mặc cho những khổ đau mà anh đã gây ra cho cô.

Trong câu chuyện đơn giản này, độc giả sẽ phải tự hỏi khi nào bản thân mình là David mà khi nào là Angelina. Có nhiều phân cảnh để chọn lựa. Chúng ta đều đã từng là Angelina ngay từ khi sinh ra với lòng thương yêu thuần khiết. Nhưng vì không biết cách xử trí tình thương của mình, nên có những lúc chúng ta trở thành David. Hoặc chúng ta đã từng là Angelina và không chịu nổi một ai đó nên đành bỏ đi. Đến cuối cùng thì ta sẽ tự hỏi đến khi nào mới tìm được người thực sự yêu thương mình. Có nhiều người thấy bế tắc, nhiều người may mắn tìm được những người ưng ý sống yên bình đến cuối đời, nhưng cũng sẽ có nhiều người chọn sự tri túc. Sống biết đủ và biết ơn. Nếu thành công, đến một ngày nào đó ta sẽ có thể cất giọng hỏi Angelina dễ thương ngày xưa của ta giờ đang ở đâu, ta đã làm gì với sự dễ thương ấy, hoặc anh chàng David của ta giờ ra sao rồi. Đó là khoảnh khắc của sự quay đầu, của tỉnh thức và giác ngộ.

Giận - thiền sư Thích Nhất Hạnh

“Tôi cũng là một David. Tôi có nhiều Angelina trong đời mình. Trong thiền đường nhỏ của mình, tôi có một bức hình của hơn hai trăm Angelina của tôi - đó là những đệ tử của tôi tại những trung tâm thiền tập của chúng tôi tại Pháp và Mỹ. Trước khi tôi bắt đầu thiền tọa, tôi luôn luôn nhìn vào bức hình ấy và cúi lạy các Angelina của tôi. Rồi tôi ngồi xuống và nguyện sẽ sống như thế nào để cho những Angelina của tôi sẽ không bỏ tôi mà đi.

*

Giận là một cuốn sách khai mở góc nhìn. Đối với những phương pháp thay đổi cặn kẽ nhân sinh quan như Giận, bên cạnh khả năng đọc và hiểu biết, người đọc cần tạm đặt xuống tất cả những quan niệm sống mình đang theo đuổi, để có thể đón nhận triệt để cơn mưa trí tuệ mà không vi tế làm biến thể pháp môn đó. Nhưng quan trọng hơn tất cả, như Sư Ông có viết, “sự thực tập là biết rõ giới hạn của sức mình”. Nếu trái tim yêu thương của bạn chưa muốn mở lòng, bạn cảm thấy khó khăn, cảm thấy thêm u uất và chịu đựng, nghĩa là trái tim bạn chưa đủ lớn và đủ khỏe để giữ trong mình bí kíp này. Hãy thực tập chỉ khi tự thân bạn mong muốn thay đổi mà thôi, và hãy bắt đầu bằng việc tự mình thưởng thức một tách trà thật trọn vẹn.

Anh Đào

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam – Một nghiên cứu tiên phong

Published

on

By

Năm 2020 chứng kiến sự trở lại của các tác phẩm mang đậm tính lịch sử viết về Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20, khi không chỉ một mà có đến ba công ty xuất bản ra mắt cuốn Một chiến dịch ở Bắc Kỳ của bác sĩ Hocquard. Ngoài những dòng hồi ký đầy thấu hiểu cùng sự đồng cảm sâu sắc với nền văn hóa dài lâu, vẻ vang và tinh tế của người An Nam; có lẽ ít ai biết được bác sỹ Hocquard cũng chính là một nhiếp ảnh gia tài năng và vô cùng xuất sắc của nền nhiếp ảnh Việt Nam thế kỷ 19.

Và những bất ngờ ấy sẽ được tiết lộ trong tác phẩm Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam (tựa gốc Early Photograph in Vietnam) của tác giả Terry Bennett - tác phẩm đầu tiên về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam thời kì đầu viết bằng Anh ngữ. Trong tác phẩm truy nguyên về hơn 100 năm lịch sử nhiếp ảnh này, Terry Bennett bằng những nghiên cứu sâu sắc và đầy cảm hứng đã tìm về kho tư liệu khổng lồ nhưng bị phân tán rải rác khắp nơi, để đưa ra một niên biểu và những cá nhân mang đậm dấu ấn vô cùng đặc biệt của ngành khoa học – nghệ thuật còn mới chớm manh nha ở Việt Nam ngay thời kì đó.

MỘT LỊCH SỬ ĐẦY BIẾN ĐỘNG

Có thể thấy nhiếp ảnh Việt Nam gắn liền với một quá trình lịch sử dài – tham vọng bành trướng thuộc địa của Pháp trên toàn châu Á. Bắt nguồn từ những hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ thừa sai, từ đây người Pháp lún sâu vào trong can thiệp quân sự, và cũng từ đó ngành nhiếp ảnh dần dần du nhập vào nước ta, mở đầu là bởi những người ngoại quốc.

Tấm hình đầu tiên được chụp ở Việt Nam rất có thể là của nhiếp ảnh gia Jules Itier, một thanh tra hải quan, chụp pháo đài Đồn Hai vào năm 1845 ở Đà Nẵng. Ông theo một đoàn người Pháp đàm phán đòi trả tự do cho các giáo sĩ thừa sai bị bắt bớ, và với nhiệm vụ thăm dò để xây dựng cảng ở Biển Đông, chính ông cũng không thể ngờ với khoảnh khắc mạo hiểm ấy sau này mình sẽ trở thành người then chốt nhất trong lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam.

buoi dau nhiep anh viet nam - terry bennett
Hương Ký. Mẹ và con, những năm 1920, ảnh in trên giấy tráng bạc, thuộc bộ sưu tập cá nhân tác giả.

Tập trung vào trong thời kì thuộc địa, bắt đầu từ khi người Pháp bước đến năm 1850 và kết thúc vào năm 1950 khi Pháp rút khỏi Đông Dương, Terry Bennett đầy thận trọng và khách quan đã chứng minh được nhiếp ảnh của thời kì đầu không chỉ là khoa học, mà còn là nghệ thuật.

Các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp người Pháp tác nghiệp không chỉ thỏa mãn mỗi niềm đam mê, mà ở họ còn là những mục đích thương mại. Đầu năm 1863 theo chân làn sóng đổ đến Saigon làm ăn và sinh sống, kéo theo số lượng ngày càng tăng các nhà truyền giáo và nhân viên ngoại giao, từ đó số lượng hiệu ảnh thương mai cũng ngày càng tăng.

Các nhiếp ảnh gia của thời kì này cần rất nhiều yếu tố để có thể tồn tại và phát triển một hiệu ảnh độc lập. Họ cần có tài chính vững vàng mà bên cạnh đó là tài năng cũng như khả năng quảng giao, tiếp thị và óc kinh doanh nhạy bén. Sang đầu thế kỷ 20, với sự cạnh tranh vô cùng khắc nghiệt của những hiệu ảnh bản xứ, những nhiếp ảnh gia người Pháp ngày càng bị thu hẹp thị trường, và phải phụ thuộc phần nhiều vào các hoạt động buôn bán thiết bị nhiếp ảnh, hoặc thắng các gói giao thầu của chính quyền thuộc địa ưu tiên cho người Pháp.

NHỮNG ANH HÙNG CỦA LỊCH SỬ

Nếu tấm hình đầu tiên được chụp vào năm 1845 ở Đà Nẵng, thì người đầu tiên chụp hình chân dung sớm nhất tại Việt Nam với hình ảnh các chức sắc Nam Kỳ là nhiếp ảnh gia Paul-Émile Beranger. Ông cũng đồng thời là người đầu tiên chụp ảnh vùng Sài Gòn trong cuộc chuyển hướng tiến công xuống phía Nam của tướng Rigault de Genouilly trên tàu Catinat.

Ngoài những cái tên đặt nền móng đầu tiên cho nhiếp ảnh Việt Nam thì cũng không thể không nhắc đến Émile Gsell – người quan trọng và nổi bật nhất trong số các nhiếp ảnh gia ngoại quốc. Là người từng ghi hình lại những điều kỳ vĩ ở cả Việt Nam và Cao Miên, Dieulefils – gã khổng lồ của nhiếp ảnh Đông Dương cuối thế kỷ 19 cũng là một nhân vật quan trọng khác, mà tập ảnh Đông Dương xinh đẹp và kỳ vĩ đã được đón nhận vô cùng nồng nhiệt trong thời gian qua.

buoi dau nhiep anh viet nam - terry bennett anh
Émile Gsell. Ảnh tổng hợp chân dung, khoảng năm 1870, in trên giấy bạch đản, thuộc bộ sưu tập tác giả

Bác sĩ Hocquard phục vụ trong chiến tranh Pháp – Thanh cũng là người đầu tiên có đặc quyền chụp ảnh cho một vị Hoàng đế - vua Đồng Khánh. Với những tấm ảnh đạt được độ sâu cũng như tư tưởng vô cùng trân trọng các giá trị truyền thống, ông được ca ngợi là một trong những nhiếp ảnh gia xuất sắc nhất của Việt Nam thế kỷ 19, và xứng đáng được ca ngợi ở cả phương Tây lẫn Việt Nam.

Bên cạnh đó, những nhiếp ảnh gia cả chuyên nghiệp và nghiệp dư người bản xứ cũng được nhắc đến trong cuốn sách này. Hiếm có ai ngờ những tri thức như Trương Vĩnh Ký cũng có thời gian từng mở hiệu ảnh nếu như không có những nghiên cứu sâu của Terry Bennett. Bên cạnh đó, Khánh Ký – ông tổ của nghề nghiếp ảnh Việt Nam, người phái sinh và phát triển lối chụp ảnh chân dung trong nhà cũng được đề cập. Hiệu ảnh Hương Ký, cụ Nguyễn Lan Hương – người sản xuất bộ phim đầu tiên với lối chụp ảnh tối tân và luôn thay đổi mỗi năm khác nhau, cũng là một chứng nhân khác cho những con người từng làm nên một thời lịch sử của nhiếp ảnh nước nhà.

*

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam có thể nói là cuốn sách đầy thú vị và nhiều cảm hứng với những truy nguyên từ trong lịch sử. Là một nhà nghiên cứu ngoại quốc thế nhưng Terry Bennett đã làm được rất nhiều, để tìm lại về những nền nhiếp ảnh không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn Hàn Quốc và Nhật Bản. Tuy còn nhiều khó khăn trong việc định danh những nhiếp ảnh gia bản xứ và giới chuyên nghiệp người Pháp, thế nhưng có thể nói đây là một nghiên cứu vô cùng tiên phong. Và với những gì tác giả đưa ra, ta đã có cái nhìn vô cùng khách quan về bối cảnh thời đó, và những biến động trong ngành nhiếp ảnh, cũng như những người tiên phong nhất cho ngành khoa học này.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Niên lịch miền gió cát: Tôi không muốn tồn tại, tôi muốn sống

Published

on

“Việc coi đất đai như một tổ hợp cộng đồng là một khái niệm cơ bản trong sinh thái học, nhưng việc coi đất đai như một thứ để yêu thương, trân trọng lại là một phần mở rộng của đạo đức.

Sự thật rằng đất đai hàm ẩn các giá trị văn hóa là một sự thật lâu đời nhưng gần đây đã rơi vào quên lãng”.

Từ thời cổ đại, nhà triết học Hy Lạp Protagore (thế kỉ V trước công nguyên) đưa ra tuyên bố nổi tiếng: “Con người là thước đo của mọi thứ”. Trong Sáng thế, loài người được ban cho quyền “thống trị” cá dưới nước và chim trên trời cùng mọi sinh vật di chuyển trên mặt đất. Đó là chưa kể đến vô số những hình thức biểu đạt khác đồng thuận với quan điểm lấy con người làm trung tâm - hơn lấy sinh thái làm trung tâm. Vậy thật sự điều đó có đúng hay không? Tôi nghĩ rằng chúng ta cần xem xét lại các mối quan hệ về sự cân bằng giữa tự nhiên với tự nhiên và tự nhiên với con người. Niên lịch miền gió cát là một cuốn sách hé lộ phần nào câu trả lời, và cũng là một cuốn sách nên đọc với những bạn quan tâm đến môi trường.

Miền gió cát: Một vùng đất tuyệt đẹp

Niên lịch miền gió cát lấy bối cảnh tại trang trại miền gió cát ở Wisconsin, đó là thế giới bình yên nhất mà con người ta có thể “Về quê nuôi cá và trồng thêm rau”. Tác phẩm được chia làm ba phần chính, phần I: Niên lịch miền gió cát những bài viết được sắp xếp theo thứ tự mười hai tháng trong năm. Từ tháng giêng tuyết tan, tháng tư mùa nước nổi, hoa cải báo xuân đến tháng tám cánh đồng xanh cỏ, tháng chín bản hợp xướng của rừng cây bụi, tháng mười hai những rặng thông tuyết và con chim bạc má mang số hiệu 65290. Thời gian nơi hạt gió cát là một chuỗi tịnh tiến của vô vàn những điều cám dỗ lòng người. Những cuộc thăm thú lãng đãng, dung dị của những ngày tuyết tan, dấu chân chồn, chim bạc má, diều hâu và cả những con chuột đồng.

Phần II: Những phác họa đó đây đi qua những đầm lầy, những lát cắt qua từng năm tháng cùng với sự thật mà người ta bắt đầu ngộ ra về mối quan hệ giữ tự nhiên với tự nhiên, tự nhiên và con người.

Phần III: Buổi yến tiệc những câu hỏi để nhìn lại về hướng đi của bảo tồn của con người liệu có đúng đắn. Tôi đã thắc mắc tại sao tên cuốn sách là vậy, cho đến khi đọc, tôi mới tỏ ra nhiều điều. Thật sự, mọi thứ trên đời đều có nguyên do và ý nghĩa của nó nếu các bạn muốn biết thì cuốn sách luôn chờ bạn khám phá.

Thế giới ở “Niên lịch miền gió cát” sinh động, chân thực như trong những chương trình “Thế giới động vật”, “Thế giới đó đây”, với những góc máy khuất, người đọc thỏa sức khám phá thiên nhiên hoang dã cùng những suy tư mà tác giả muốn chúng ta cùng ngẫm và trả lời.

Tự nhiên luôn có những cân bằng kỳ diệu

Có những tác động làm tự nhiên không còn tự nhiên nữa. “Nếu như bầy hươu sống trong nỗi kinh sợ bầy sói, thì những ngọn núi luôn sống trong nỗi khiếp đảm bầy hươu”. Con người dùng cái mác bảo tồn để bảo vệ loài này nhưng vô tình đẩy một loài khác đến bên bờ vực tuyệt chủng. “Và cũng vì thế mà chúng ta chỉ còn trơ lại các thung lũng cát và tương lai con người cứ trôi ra biển lớn theo những dòng sông cuộn chảy”. Ẩn trong hoang dã là sự cứu rỗi cho thế giới. Có lẽ đó cũng là ý nghĩa ẩn trong tiếng tru của loài sói mà núi non đã biết từ lâu nhưng người đời thì đến giờ vẫn chưa thông hiểu.

Lạm dụng việc nhân giống thú săn sẽ khiến pháp luật lên tiếng quản lí đầu vào. Việc thắt chặt quản lí thú săn sẽ làm giảm giá trị của chúng như những chiến lợi phẩm, vì giờ đây việc săn bắn chúng đã mất đi tính hoang dã nguyên sơ. Để bảo vệ con cá hồi người ta phải tiêu diệt những con diệc hay chim hồng tước… người đánh cá sẽ không cảm thấy mất mát gì trong việc đánh đổi giữa sinh mạng loài này và loài khác nhưng sự đánh đổi này lại khiến các nhà điểu học cắn móng tay điên loạn.

“Điều gì xảy ra với loài thú săn mồi khi chúng ta biến một loài thú bị săn thành một thứ lâm sản để thu hoạch? Liệu chúng ta cần các biện pháp dành cho ngoại lai? Làm cách nào để bên quản lí thiên nhiên có thể phục hồi các giống loài đang dần tiêu biến như loài gà gô, vốn đã tuyệt chủng do săn bắn?” Vô vàn những câu hỏi vì sao con người cần trả lời.

Con người thực sự muốn gì?

“Nền văn hóa thượng cổ thường gắn liền với thiên nhiên hoang dã. Do đó, loài bò rừng không chỉ là nguồn thức ăn cho người thổ dân châu Mỹ, mà còn là nguồn cảm hứng cho kiến trúc, trang phục, ngôn ngữ, nghệ thuật và tín ngưỡng của họ”.

Con người ta đâu phải lúc nào cũng quay về quá khứ được? Thời gian không bao giờ quay đầu, có chống lại nó thì nó vẫn đẩy chúng ta đi về phía trước. Đôi khi để học được một bài học chúng ta phải trả một cái giá rất đắt. Chính vì vậy, sự tiếc nuối là một điều cần thiết xảy ra với con người, chúng ta không bao giờ có thể quay ngược thời gian, cũng không biết tương lai sẽ mang đến điều gì? Những cuộc hành hương về đầm lầy, những loài chim đặc biệt chỉ xuất hiện ở hạt Miền Gió Cát bởi tự nhiên nơi đây dung chứa chúng.

Con người sinh ra không phải để đối đầu với tạo hóa, chúng ta không có răng nanh, không có móng vuốt vũ khí, chúng ta có là tư duy. Khoa học hiện đại đơm hoa kết trái và cuộc sống của con người ngày càng nhẹ nhàng hơn. Trong Sapiens: Lược sử loài người, Yuval Noah Harari đã viết: “Chúng ta đã tiến lên từ những chiếc xuồng đi sông, đến thuyền có mái chèo, đến tàu hơi nước, đến tàu con thoi - nhưng ai biết chúng ta sẽ đi tới đâu. Chúng ta mạnh mẽ hơn bao giờ hết, nhưng gần như không biết làm gì với sức mạnh đó. Tệ hơn nữa, con người dường như vô trách nhiệm hơn bao giờ hết.” Chúng ta gây nên sự hủy hoại thảm khốc cho các loài động vật, thảm thực vật và cả hệ sinh thái, chúng ta tìm kiếm cho mình cảm giác thoải mái, thư thái và tận dụng sự hiện đại nhưng chưa bao giờ thấy hài lòng. Chúng ta kiếm tìm thiên nhiên vì nó cho ta niềm vui sướng, chúng ta nghe đến “cách hành xử trong thiên nhiên”, chúng ta răn dạy giới trẻ, chúng ta in những khái niệm để treo tường, đóng đinh… mỗi người đều đang tái hiện một kịch bản thấm nhuần chất liệu đời sống hằng ngày

Hãy để một thân cây mọc lên

Ở thung lũng Genova có một bài hát “Trên mặt đất rễ cây đâm sâu, cùng sống với ngọn gió, cùng hạt giống vượt qua mùa đông, cùng chim chóc ca vang mùa xuân…”  dù sở hữu bao nhiêu quyền năng, bao nhiêu năng lực, có hiện đại, vĩ đại ra sao thì con người không thể sống và tồn tại trong thế giới không có đất, cây cối và các loài vật khác được. Con người chúng ta đang sống vì điều gì? Con người chúng ta đang chống lại điều gì? Kẻ thù lớn nhất của chúng ta là ai? Những núi rác, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, sự tận diệt của tự nhiên, một trái đất hoang tàn. Những lưỡi cưa cắt ngang thân gỗ sồi qua từng năm cùng biến động của sàn chứng khoán mà tôi tin rằng “Giả như cây gỗ sồi có nghe thấy tiếng đổ rầm của sàn chứng khoán thì những thớ gỗ cũng chẳng mảy may rung động”.

Dù muốn hay không, con người chúng ta buộc phải thừa nhận rằng, thời gian trôi qua, ai cũng sẽ lớn lên và già đi, sẽ có một ngày chúng ta tạm biệt thế giới, bỏ lại tất cả ở phía sau và biến mất mãi mãi, nhưng chính cái chết làm chúng ta biết sợ, làm chúng ta trân quý hiện tại và yêu thương cuộc sống này hơn. Vòng sinh tử của tạo hóa sẽ chẳng bỏ qua ai, cái gì cả, và tự nhiên cũng sẽ như vậy. Chúng ta thỉnh thoảng vẫn nghe đâu đó loài này tuyệt chủng, loài kia được đưa vào sách đỏ… và nghe nó như một điều lúc đầu thật khó tin nhưng sau cũng dần thấy bình thường. Nếu chúng ta không biết quý trọng tài nguyên, yêu thương mẹ thiên nhiên hơn thì đến một ngày sẽ chẳng còn trái đất để sống nữa.

Kết.

Trong những câu chuyện cổ tích, đến cuối cùng chúng ta vẫn thường nghe “Và từ đó họ sống hạnh phúc mãi về sau…”, con người chúng ta dù giàu sang hay nghèo khó thế nào thì cuối cùng điều chúng ta mong muốn vẫn là một cuộc sống hạnh phúc. Trái đất đã được thống nhất thành một khối duy nhất về sinh thái và lịch sử, nhân loại cũng tận hưởng sự tiện nghi và giàu sang chỉ có trong chuyện cổ tích nhưng liệu chúng ta có đang hạnh phúc? Thế nào mới là hạnh phúc? Hạnh phúc do đâu mà có? Liệu chúng ta có đang sống hạnh phúc hơn tổ tiên của mình ngày trước? Tự nhiên có những quy ước của nó, mọi vật cũng đều có một giới hạn, khi con người vượt qua những giới hạn đó thì sẽ phải trả giá cho hành động của mình. Làm mẹ thiên nhiên nổi giận, hậu quả con người nhận lại chưa bao giờ là dễ chịu.

Hết.

Hoàng Anh

Đọc bài viết

Cafe sáng