Phía sau trang sách

Cách một tác phẩm văn học thiếu nhi thân thương chào đời từ sự tuyệt vọng

Khi Saint-Exupéry và “The Little Prince” (Hoàng tử bé) chuyển nhà tới thành phố New York.

Published

on

HOW A BELOVED CHILDREN’S BOOK WAS BORN OF DESPAIR
Stacy Schiff

Hoàng tử bé đến từ nơi nao? Nếu bạn hỏi cậu ấy, thì cậu ấy đáp xuống từ Tiểu hành tinh B-612, nơi chẳng to hơn một ngôi nhà bao nhiêu – điều này đồng thời đặt ra câu hỏi về địa điểm cậu ấy cất giữ cái tủ quần áo to rộng của mình. Cha đẻ của cậu khăng khăng rằng vào một ngày nọ, ông nhìn xuống tờ giấy trắng và phát hiện ra một thân ảnh nhỏ. “Tôi hỏi cậu ấy là ai,” Saint-Exupéry kể lại. Vị khách trả lời, “Tôi là Hoàng tử bé.” Còn câu chuyện về sự ra đời của bản thân cuốn sách thì có chút phức tạp hơn thế.

Sáu tháng sau khi Pháp rơi vào tay người Đức, Saint-Exupéry vượt khơi tới New York. Ông đến nơi vào ngày cuối cùng trong năm 1940. Với tư cách là tác giả sách bán chạy, ông nhận được những lời đón chào hân hoan. Trong vòng vài tuần, ông đã nhận giải National Book Award 1939 cho tác phẩm Wind, Sand and Stars (Tạm dịch: Gió, cát và những vì sao, phát hành tại Việt Nam với tựa đề Xứ con người), là một bản tường thuật trữ tình về cuộc phiêu lưu vượt qua Bắc Phi và Nam Mỹ. Vì ông dành cả mùa đông để thực hiện các nhiệm vụ trinh sát cảm tử với Lực lượng Không quân Pháp, ông đành bỏ lỡ buổi trao giải một năm. Ông tin rằng mình sẽ lưu lại Mỹ tầm một tháng. Cuối cùng, ông đã ở lại đây hơn hai năm.

Eugene Reynal và Curtis Hitchcock – hai chủ biên của Saint-Exupéry – đã nhờ vợ mình trang hoàng một căn hộ tại địa chỉ 240 Central Park South, chất đầy quầy bar và lắp đặt thiết bị tại nhà bếp. Trước mắt, Saint-Exupéry chưa có dự án mới. Sau nhiều phen thuyết phục, ông chấp nhận viết một cuốn sách về sự bại trận của Pháp. Chủ biên của ông và nhóm dịch giả nghiêm khắc dưới trướng họ thúc ép ông viết từng trang từng trang một. Cuối cùng, sự trì hoãn đã được đền đáp: Flight to Arras (Phi công thời chiến) xuất hiện ở nhà sách chỉ hai tháng sau sự kiện Trân Châu Cảng. Nhận được những lời đánh giá nồng nhiệt, cuốn sách trở thành tựa có tốc độ tiêu thụ nhanh nhất trong lịch sử Reynal & Hitchcock.

Saint-Exupéry cảm nhận một niềm vui thơ trẻ khi nhìn những cuốn Flight to Arras chất thành chồng cao qua khung cửa sổ Bloomingdale, thế nhưng, đặc biệt khi chuyến trọ của ông kéo dài ra, ông trở nên vỡ mộng và cảm thấy mình mất đi tiếng nói. Cộng đồng Pháp ly hương chia rẽ thành nhiều bè cánh; là một người theo trường phái hành động, Saint-Exupéry không có nhiều kiên nhẫn cho các bài phát biểu hay các điệu bộ chính trị. Ông từ chối liên minh với bất cứ phe cánh nào, vì lí do đó ông bị tất cả các phe lăng mạ và phản đối kịch liệt. (Thời điểm Hoàng tử bé ra mắt, danh sách buộc tội xuất hiện thêm tội danh rằng ông là người theo phe cánh bảo hoàng.)

Qua nhiều lần suýt mất mạng vì tai nạn máy bay hai thập kỷ vừa qua, sức khỏe của ông không ở trạng thái tốt, ông phải chịu đựng những cơn sốt cao – một đặc điểm mà sau này ông thêm vào cho cậu nhóc gai góc ngoài hành tinh của mình. Ông thường loạng choạng giữa bữa tối. Hằng đêm, ông bị đánh thức bởi những cơn rét buốt, răng run lập cập. Ông không dành nhiều tình yêu cho nước Mỹ, phần lớn vì đối với ông, một quốc gia có năng lực thiết kế máy giặt tân tiến nhất hẳn nhiên có thể dành chút sức lực để cứu rỗi nước Pháp. Ông không dùng tiếng Anh, thứ ngôn ngữ mà ông dành rất ít nỗ lực để học. Khi được hỏi tại sao, ông gầm gừ: “Tôi còn chưa học xong tiếng Pháp.” Ông có thể đoán nghĩa từ văn viết nhưng hoàn toàn không hiểu gì khi nghe mọi người nói chuyện. (Thật may vì ông diễn kịch mô phỏng thành thục.) Ông bị cấm ghé thăm, bay qua hay phát hành sách ở Pháp, nơi mà người Đức đã cấm vận cuốn sách Flight to Arras cùng việc tái bản những tác phẩm trước đó của Saint-Exupéry. Thỉnh thoảng ông mới nhận được tin tức từ bạn bè và người nhà. Ông bị giày vò bởi vợ mình, người tự đặt làm một căn hộ biệt lập ngay dưới nhà ông và cũng chẳng thường xuyên về nhà. Ông thức nhiều đêm để viết và gửi những lá thư đầy giận dữ. Có một bận, cứ mỗi mười phút mà ông dành để đi đi lại lại trong phòng, ông sẽ đánh một dấu trên đầu trang giấy. Trên trang bản thảo Flight to Arras dính những vết cháy xém của thuốc lá và vết ố màu của cà phê, câu mở đầu nguyên bản là: “Càng ngày càng trở nên khó sống.”

Giữa cơn tuyệt vọng, Hoàng tử bé đến, đóng vai trò như một phương thức trị liệu. Trên trang lề của bản thảo Flight to Arras có một bóng hình đang nhảy nhót – từ lâu đã trở nên quen thuộc với những người thân thiết với Saint-Exupéry. Từ những năm 1930 ông đã phác họa các phiên bản anh em của cậu nhân vật chính hay dỗi lên những lá thư, khăn trải bàn, thực đơn, hóa đơn, thùng giấy giặt khô. Trong các phiên bản tạo hình ban đầu, nhân vật này trông giống một chú búp bê kewpie, một con chim hải âu rụt cổ con, hay diễn viên người Pháp Jean-Louis Barrault. Thỉnh thoảng ông vẽ thêm đôi cánh. Cặp lông mày đến rồi lại đi. Một thành viên trong phi đội không quân Pháp thắc mắc tại sao ông lại thường xuyên vẽ nhân vật đuổi theo bươm bướm. Ông đáp rằng chàng trai nhỏ ấy cống hiến chính mình vì sự theo đuổi một “lý tưởng thực tiễn.”

“Giữa cơn tuyệt vọng, Hoàng tử bé đến, đóng vai trò như một phương thức trị liệu.

Elizabeth Reynal – người vợ đáng yêu và nói tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ của một chủ biên của Saint-Exupéry – hỏi rằng ông ấy có hay không bị phân tâm nếu viết một câu chuyện thiếu nhi về “petit bonhomme” (chàng trai nhỏ) của ông ấy. Ngay sau đó, Saint-Exupéry tự đi mua một bộ màu nước trẻ em tại tiệm thuốc địa phương và bắt đầu làm việc. Cốt truyện ra đời với hình hài đầy đủ, nhưng ông trở nên ám ảnh trong việc hoàn thiện chi tiết. Ban đầu, ông không định để chi tiết con trăn tiêu hóa con voi mở đầu câu chuyện, mà là hình vẽ con thuyền làm một người bạn hiểu nhầm là củ khoai tây, như bằng chứng rằng ông thật sự không có năng khiếu nghệ thuật. Ông lược bỏ cuộc gặp gỡ của Hoàng tử bé với một người say mê ô chữ đang đi tìm từ đồng nghĩa với từ “súc miệng”. Ông từ bỏ việc cho nhân vật chính có một khu vườn sum suê những củ cải, cà chua và đậu. Phần lớn những khuây khỏa ông nhận được ở Mỹ đều đến từ những trang sách này.

Cuộc phiêu lưu của Hoàng tử bé có vẻ ngoại lai: Cậu rời bỏ Tiểu tinh cầu của mình vì hiểu lầm với một bông hồng rắc rối. Cậu hình thành một bản thống kê tốc hành về logic của người lớn thông qua sáu dịp viếng thăm các tinh cầu láng giềng, mỗi nơi được cai trị bởi một người đàn ông lố bịch hơn cả người trước. Cậu đáp xuống sa mạc Sahara, nơi cậu gặp một phi công đóng vai trò dẫn chuyện cho cuốn sách, và cũng là nơi mà cậu học được vài bài học cốt yếu từ một con cáo, trước khi tan biến vĩnh viễn. Tuy nhiên về phía Saint-Exupéry, cuốn sách không hề đại diện cho một sự đổi hướng. Ông đã viết về những khu vườn bí mật, hoa hồng, và hoàng tử cổ tích trong nhiều năm. Thiền triết học của ông, cuốn sách The Wisdom of the Sands, thể hiện đầy đủ những mối bận tâm đến ngụ ngôn trẻ em. Trong cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông, một chiếc máy bay có cùng số hiệu với tiểu hành tinh của Hoàng tử bé. Vào những năm 30, ông đã nhờ một người bạn ngoại giao ở Mát-xcơ-va vẽ một chú cừu; chính ông cũng đã “rơi xuống” mặt đất nhiều lần. Ông nhắc về việc chạy trốn và thay đổi hành tinh sống trong nhiều năm. Trong một bài luận ra mắt năm 1937, ông viết rằng những điều thiết yếu vĩnh viễn là vô hình, dẫu vậy chúng ta vẫn căng mắt ra kiếm tìm người đưa thư có thể mang theo điều ấy.

Saint-Exupéry cho nhân vật chính “mượn” hành trình của mình, nhưng loại bỏ New York ra khỏi cuốn sách. (Thành phố xuất hiện trong bản thảo đầu nhưng bị thay thế bởi “một hòn đảo nhỏ ở Thái Bình Dương.”) Những nhân vật phụ của Hoàng tử bé cũng đã đi với ông trong nhiều năm: Họ là những người họ hàng, người quản lí và những kẻ quan liêu chối bỏ những phương thức không chính thống nhưng chất lượng của ông – là rào cản giữa việc một phi công trở thành nhà văn, việc một người phi công xao nhãng lưu lại trên không, việc một phi công xuất chúng không muốn đưa ra lập trường chính trị. Ông cũng vay mượn từ những cuốn sách ông từng đọc, từ Hans Christian Andersen và từ Patachou: Petit Garcon, tuyển tập sách thiếu nhi của Tristan Derème năm 1929.

Saint-Exupéry giống nhân vật chính của ông ấy bao nhiêu? Vài năm trước khi ý tưởng cuốn sách thành hình, một người bạn từng nói với ông: “Cậu là người ngoài hành tinh.” “Đúng, đúng, điều đó là sự thật, tôi thỉnh thoảng đi dạo giữa những vì sao,” Saint-Exupéry vừa cười vừa thừa nhận. Vào năm 1939, khi cố gắng miêu tả về ông, một chủ biên đã nói rằng căn bản thì ông là “một tâm hồn cô đơn nhưng vô cùng thân thiện, lịch thiệp nhưng lại rất trẻ thơ.” Nét duyên dáng của ông bao gồm những phần bằng nhau của sự rụt rè và độc đoán. Giọng điệu của cuốn sách giống hệt một phi công đang trấn an một quý bà vừa rùng mình trước viễn cảnh đặt chân lên máy bay: “Thưa Phu nhân, cũng không phải chưa từng có cái tiền lệ máy bay sẽ cất cánh mà chẳng hạ cánh.”

“…tôi thỉnh thoảng đi dạo giữa những vì sao,

Một phi công lực lưỡng và đang hói dần – theo lời một phóng viên là giống “một chú gấu Teddy có chút bị vùi dập” – cùng một cậu bé ngoài hành tinh bảnh bao với những lọn tóc vàng óng tạo thành một cặp đôi kỳ lạ. Trong khi Hoàng tử bé là người kỷ luật hạng nhất, đều đặn chăm sóc hành tinh mình, thì cha đẻ của cậu lại là vua trì hoãn. Cậu nhân vật chính trẻ thơ của chúng ta là một người đi bộ quả quyết. Còn Saint-Exupéry – được hoan nghênh bởi mọi tài xế taxi ở Paris – dị ứng với việc rèn luyện thể lực. Hoàng tử bé phô diễn khả năng ghi nhớ thời gian của cậu. Còn qua sáu năm hôn nhân, Saint-Exupéry vẫn không thể nhớ rõ ngày cưới. Ông cảm thấy thiên nhiên chẳng hữu dụng gì mấy. Thế nhưng hai người vẫn dây dưa với nhau, như đôi song sinh thơ ngây rơi xuống từ bầu trời. Saint-Exupéry hẳn không thể nào đoán được rằng, bằng cách nào đó, ông sẽ hòa làm một với Hoàng tử bé, giống như việc ông không thể nào đoán được mình sẽ chịu chung số phận với J.M. Barrie –  sự nghiệp đồ sộ của ông bị lu mờ bởi cái bóng quá lớn của Peter Pan.

Saint-Exupéry viết Hoàng tử bé trong căn hộ Park Avenue của cô bạn gái dễ mến Sylvia Reinhardt; trong căn hộ ở Central Park South; trong một căn nhà thuê ở Northport, Long Island. Ông cười ra tiếng khi làm việc, phấn khích chia sẻ những bức vẽ của mình, đánh thức những vị khách trọ để tham khảo ý kiến. Ông dỗ ngọt bạn mình tạo dáng. Một con búp bê trong căn hộ của Sylvia được lấy làm mẫu vẽ Hoàng tử bé, còn con chó poodle của cô được dùng để tạo hình chú cừu. Cùng lúc ấy, Saint-Exupéry viết với cái nhìn văn hóa, ngôn ngữ và cảm xúc của một miền đất không chủ quyền, bày tỏ những xúc cảm cháy bỏng với thế giới thực dụng. Như cách ông giải thích với Sylvia: “Anh đang tuyệt vọng vì những chuyến tàu bị lỡ, những cuộc hẹn lộn xộn, những địa chỉ thất lạc, những hóa đơn, những cuộc gọi không được trả lời, những lời trách móc, những cuộc hòa giải khó khăn, những người bạn bị tổn thương, những cơn đau đầu vào thời điểm cần nói chuyện, cạn ý tưởng khi cần viết, ba cuộc hẹn dùng bữa trong cùng một đêm.” Ông sống nhờ thuốc giảm đau, viết với những cơn dai dẳng giữa đêm muộn, nhiên liệu là cà phê và thuốc lá để lại những dấu vết lớn hiển hiện trên bản thảo. Ông trút những tin nhắn thống khổ về phía bạn bè. Ông ao ước một cuộc viếng thăm từ tổng lãnh thiên thần.

Xuyên suốt dự án, Sylvia Reinhardt chăm sóc ông với gin-và-cola, trứng chiên và bánh muffin Anh phục vụ cạnh ánh nến. Cô cũng là cảm hứng cho vài câu nói nổi tiếng trong tác phẩm. Khi cô phàn nàn về thói trễ hẹn không ngớt của ông, ông đã chùn bước. Vài tiếng đồng hồ thì có thể làm ra sự khác biệt gì? “Trái tim của em bắt đầu nhảy múa khi em biết anh sắp đến,” Sylvia giải thích. Câu này cũng chính xác khi áp dụng với chủ biên của ông – Saint-Exupéry đã hứa sẽ hoàn thành Hoàng tử bé vào tháng Mười Một năm 1942. Cuối cùng, ông bắt tay làm việc vào tháng Mười Hai, đồng ý sẽ giao nộp bản thảo vào tháng Một. Kỳ Nghỉ Năm Mới đến rồi lại đi. Được ấn định là tựa sách tháng Hai năm 1942, từng trang sách được chắt ép từ ông, vừa kịp để phát hành trong tháng Tư.

Reynal và Hitchcock biết rằng một câu truyện cổ tích hấp dẫn không hẳn là điều độc giả mong muốn từ vị nhà văn rắn rỏi của Flight to Arras. Trong chiến dịch quảng bá, họ đã dùng một lối thoát khôn ngoan: “Những nhà phê bình sách sẽ có hẳn một ngày để sung sướng giải thích với bạn liệu cuốn sách này thuộc thể loại nào,” họ tuyên bố. “Chúng tôi thì chỉ quan tâm rằng đây là cuốn sách mới của Saint-Exupéry.” Rất ít người xem Hoàng tử bé là truyện cổ tích dành cho trẻ nhỏ và không phải ai cũng gợi ý nó cho người lớn. Nhìn chung, phía phê bình cảm thấy bối rối hơn là ấn tượng. Cuốn sách có vẻ mới mẻ tột bậc khi so sánh với dòng văn học thiếu nhi; suy cho cùng thì trong những trang sách của mình, Saint-Exupéry ném từng quả lựu đạn một vào người lớn. Người dẫn chuyện đã giật mình khi Hoàng tử bé buộc tội anh nói chuyện giống như người lớn dù trước đó đã tự xác nhận mình là thành viên danh dự của liên minh này.

Reynal & Hitchcock đã ranh mãnh tận dụng sự bối rối trên. Trong những mẩu quảng cáo, họ khoe khoang về những phê bình không đồng nhất về Hoàng từ bé, đưa ra những câu trích dẫn để cảnh báo rằng “Đây không phải là một cuốn sách dành cho trẻ em,” rồi đến những tin “Người lớn sẽ chẳng thích cuốn sách này, nhưng ai thèm quan tâm chứ.” Trong số ít người ngay lập tức đón nhận cuốn tiểu thuyết có P.L. Travers, tác giả của Mary Poppins và bản thân cô cũng là tác giả của Reynal & Hitchcock. Cô ngưỡng mộ sự trớ trêu, lời thú nhận của cốt lõi nỗi cô đơn, “một ánh sáng lập lòe bên lề.” Cô không hề quan tâm đến việc cuốn sách sẽ thu hút những ai, ranh giới giữa trẻ con và người lớn theo cô là “ảo ảnh như đường xích đạo.”

Hầu như mọi nhà phê bình đều cho rằng người dẫn chuyện chính là Saint-Exupéry và viết về hai người họ như thể họ là một. (Ông từng phác thảo người phi công-dẫn chuyện vài lần nhưng đã chọn không thêm hình vẽ nhân vật trong bản thảo chính thức.) Reynal & Hitchcock chẳng làm gì nhiều để xóa bỏ định kiến này. Không lâu trước khi phát hành, kì diệu thay, Saint-Exupéry đã quay lại tiền tuyến, tái tham gia phi đội ở Algeria. Chủ biên của ông thông báo sự ra đi này trong một cuộc họp báo, nói thêm rằng: “Mặc dù ông đang ở tại khu vực lân cận nơi ông lần đầu gặp gỡ Hoàng tử bé, ông vẫn chưa gặp lại cậu ấy.” Ở Bắc Phi, Saint-Exupéry tự hào phe phẩy cuốn sách qua lại, như thể đang trao một bản tuyên ngôn cá nhân hay ảnh chụp của ông; khi so sánh với hình ảnh người đàn ông – giống như người dẫn chuyện – cảm thấy rằng mình “sống cuộc đời cô độc và không có ai để thực sự chuyện trò,” ông luôn trong tình trạng đòi hỏi không ngừng một dàn khán thính giả. Miễn cưỡng lắm ông mới chấp nhận để cuốn sách khỏi tầm mắt trong khoảng 24 giờ, thường với điều kiện là sách được trả về cùng một bài phê bình viết tay. Ông cầu xin nhà xuất bản gửi cho ông tin tức về cuốn sách.

Doanh thu vẫn rất đáng thất vọng – cuốn sách chỉ đứng trên bảng xếp hạng sách bán chạy đúng một tuần – dù Saint-Exupéry không bao giờ biết được điều này. Ông cũng không được chứng kiến việc Hoàng từ bé phát hành tại Pháp. Năm 1944, ông lặng lẽ biến mất, hệt như cách cậu bé tóc vàng óng – phiên bản cái tôi khác của ông – đã từng biến mất trên sa mạc. Sau khi trở về Corsica từ một nhiệm vụ trinh sát ngày 31 tháng Bảy, Saint-Exupéry đâm thẳng xuống biển Địa Trung Hải với tốc độ cao. 25 ngày sau, Paris được giải phóng. Chỉ tới năm 2004 máy bay của ông mới được khai quật; nguyên nhân của vụ tai nạn không rõ ràng.

Hoàng tử bé nhận được cái nhìn khác khi phát hành ở Pháp năm 1945. Một tác phẩm ra mắt sau khi tác giả đã qua đời, một cách kỳ lạ nó dường như dự đoán trước cái chết của nhà văn. Phải khá lâu cuốn sách mới tìm đến được đối tượng độc giả phù hợp. Một phần vì cuốn sách có vẻ ra đời từ một thời đại ngây thơ hơn, hẳn nhiên là thế. Nhưng đồng thời, hình chẳng có gì đổi thay. Tồn tại đầy lý do vì sao tác phẩm tiếp tục bán chạy hơn mọi cuốn sách khác, ngoại trừ Kinh Thánh. Ngày nay bạn có thể đọc Hoàng tử bé thông qua 270 ngôn ngữ, kể cả những ngôn ngữ không có từ “hoàng tử” hoặc khái niệm “buồn chán”; nó được in ra bằng 26 bảng chữ cái. Sau cùng, cũng chẳng có gì lạc hậu trong việc một thương nhân bán thuốc chống khát để chúng ta có thể tiết kiệm 53 phút lãng phí hàng ngày vào việc uống nước. Nhân vật chính của cuốn sách tiếp tục phơi bày những gã đàn ông ẩn sau tấm rèm, để phát ra âm thanh mềm mại mà đáng lo ngại của lương tri. Giữa loài người, lúc nào cũng cô đơn. Qua 84 trang giấy kết tinh, nhờ một chú cáo khôn ngoan, Hoàng tử bé đã học được ý nghĩa của từ “sớm nở tối tàn”, trong khi chúng ta cũng chỉ nhìn thoáng qua vĩnh hằng. Người dẫn chuyện của Hoàng tử bé trấn an rằng mình không có ý định trở thành nhà đạo đức học. Nhưng ông cũng không muốn bị coi nhẹ. Ông thành công ở hai việc trên. Chắt lọc những giá trị cốt yếu từ một cuộc đời đơn lẻ và bất hạnh, Saint-Exupéry dịu dàng gấp nó giữa những câu từ, nơi mà nó vĩnh viễn – hệt như tất cả tác phẩm kinh điển – vô hình với đôi mắt.

“Chắt lọc những giá trị cốt yếu từ một cuộc đời đơn lẻ và bất hạnh, Saint-Exupéry dịu dàng gấp nó giữa những câu từ, nơi mà nó vĩnh viễn hệt như tất cả tác phẩm kinh điển – vô hình với đôi mắt.

Hết.

Lalijade dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Stacy Schiff, đăng tại Literary Hub

Xem tất cả những bài viết của Lalijade tại đây.


Tìm hiểu thêm về tác phẩm Hoàng tử bé


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Tâm tư của bạch tuộc: Bước vào thế giới của một giống loài “rất kì”

Published

on

By

Hơn nửa năm trước người ta vẫn còn cau mày khi Titane – bộ phim gây nhiều tranh cãi của nữ đạo diễn Julia Ducournau chiến thắng giải Cành cọ vàng. Ở thời điểm đó, chuyện tình giữa một cô gái và chiếc xe hơi bị coi là… không chấp nhận được. Nếu thế, hãy lùi lại thêm một năm, để đến với bộ phim khác chiếu trên Netflix, My Octopus Teacher, về mối tình giữa anh thợ lặn và… cô bạch tuộc. Dễ thấy phản ứng của khán giả trong hai trường hợp đều y hệt nhau. Họ lăm lăm phê phán, chỉ trích; và đúng là khó mà trách được họ. Thế nhưng nếu đã đọc Tâm tư của bạch tuộc của nhà tự nhiên học và nhà biên kịch Sy Montgomery, cùng đó là những suy tư vượt khỏi biên giới, thì chắc hẳn bạn sẽ nghĩ khác.

Đầu tiên phải khẳng định rằng Tâm tư của bạch tuộc không hẳn là cuốn sách tranh giành quyền lợi hay là mượn tiếng đáp lời hỗ trợ cho loài vật này, mà đó là cuốn sách của một con người, viết cho loài người và dưới ánh sáng trí tuệ con người. Sy Montgomery đứng trên lập trường của mẹ thiên nhiên – vị thẩm phán tối cao – dưới hình hài Sapiens, giống loài có tiếng nói và có khả năng lan truyền thông tin, vốn thường tự cho rằng mình thông minh nhất. Bạch tuộc là một đối tượng nghiên cứu thú vị, khi không chỉ từ khi My Octopus Teacher trình chiếu thì người ta mới thấy nó “kì”, mà hơn một thế kỷ trước, trong tranh ảnh shunga Nhật Bản, giống loài này cũng đã xuất hiện trong tranh của Hokusai. Giấc mơ của vợ ngư phủ là một họa phẩm như thế, đầy hoan lạc, thèm muốn cũng như sung mãn, mang khát khao hòa mình cùng với tự nhiên của đảo quốc vốn đã cô lập tứ phương.

Thế nhưng bỏ qua những nét văn hóa vốn rất đặc trưng của người Đông Phương, thì phía Tây phương duy vật lại duy trì một não trạng khác. Như một dẫn chứng trong cuốn sách này về nhà tự nhiên học Jane Goodall đã phải che giấu phát hiện của mình về loài tinh tinh, chỉ vì sợ hãi mình bị buộc tội đang nhân cách hóa, nghĩa là, phóng chiếu cảm xúc chỉ con người có lên đối tượng nghiên cứu – ở đây là loài tinh tinh – và là một lỗi vô cùng nghiêm trọng của khoa học hiện đại. Không riêng gì Jane Goodall, mà ngay từ khởi thủy Wittgenstein cũng đã viết rằng: “Nếu sư tử có thể nói, chúng ta cũng không thể hiểu được nó”. Và nếu sư tử là loài động vật rất gần con người, là động vật có vú, chung lớp với mèo; thì hãy nghĩ thử, nếu ai cho rằng bạch tuộc có thể yêu con người, thích giao tiếp với con người như trong My Octopus Teacher, thì hẳn bạn sẽ thế nào?

Do đó, quan điểm cho rằng bạch tuộc có suy nghĩ, cảm xúc và tính cách riêng chỉ mới gần đây mới có sức mạnh ở một mức độ nào đó. Với ba trái tim, một bộ não quấn quanh cổ họng và được bao phủ bởi một lớp nhầy thay vì là tóc; bạn sẽ tự hỏi nó giống con người ở đâu, khi có 8 chi và máu có màu xanh lam chứ không phải đỏ, vì chứa đồng chứ không phải sắt, vận chuyển oxy. Tâm tư của bạch tuộc không đi sâu phân tích làm thế nào bạch tuộc thông minh tiệm cận con người, mà đó là sự đồng cảm hòa vào thiên nhiên của một người viết mở lòng và đầy cởi mở, dành cho những ai cũng chung góc nhìn như thế, về một giống loài còn nhiều xa lạ.

Sy Montgomery cùng những đồng nghiệp của bà tại Thủy cung New England đã kịp gắn kết với nhau bằng chính chất nhờn bạch tuộc như chất bôi trơn xã hội. Ở đây bà đã tiếp cận và lần đầu chạm vào những con bạch tuộc Thái Bình Dương thật nhất và cũng sinh động nhất. Đó là Athena hiền lành, Octavia quyết đoán, Kali hiếu kì và Karma vui vẻ. Cùng Scott, Ben và Wilson – những người phụ trách bể thủy cung, Montgomery dấn bước vào việc đọc vị bạch tuộc, bởi nhẽ như Scott – người theo sát giống loài này, tiết lộ bạch tuộc có nhiều biểu cảm hơn bất kì loại nào mà anh từng biết. Anh cũng nói thêm “Chúng ta có thơ ca, vũ điệu, âm nhạc và văn học. Nhưng dù có giọng nói, trang phục, cọ vẽ, đất sét hay công nghệ, liệu chúng ta có thể hiểu được những gì con bạch tuộc biểu đạt chỉ qua một làn da hay không?”

Và đó chính là khởi đầu cho những dịp gặp gỡ tràn đầy năng lượng với Kali, cho những tháng ngày ở cữ với Octavia hay sự điềm tĩnh, vừa phải mà cũng dịu dàng với Athena. Trước một giống loài có phần tinh vi và vượt ra khỏi hiểu biết thông thường, Montgomery mở rộng phạm vi nghiên cứu, mà may mắn thay cũng là sở thích có phần mới mẻ của bà – lặn biển. Từ biển Cozumel ở Mexico đến vùng Mooréa, Polynesia thuộc Pháp; để cuối cùng ta cũng biết rằng bất cứ cá thể bạch tuộc nào cũng là một sinh vật tinh vi tầm cỡ quốc tế, trong một quãng đời hoang dã tiếp xúc biết bao những giống loài khác, còn con người bé nhỏ chỉ như những tên quê mùa tỉnh lẻ.

Cõi lòng rộng mở và truyền cảm hứng của Montgomery dẫn dắt người đọc qua từng cá thể bạch tuộc, từng bể thủy cung như những trạm thập tự giá, mà ở đó vẻ đẹp và sự kỳ bí của đại dương giúp ta mộ đạo và rửa tội hết lần này đến lần khác. Những ngày chứng kiến Octavia chăm sóc hàng ngàn quả trứng vô sinh lúc cuối đời mình vừa kiên trì, vừa dịu dàng, vừa huy hoàng mà cũng vinh quang; hay lúc biết được Kali chuyển màu thiếu nước rũ mình cách xa bể cá – không cho chúng ta ấn tượng của những sinh vật bậc cao nhìn xuống bậc thấp, mà đó là sự đồng cảm giữa những nhân vật trong một vở kịch, giữa những sinh linh chiếm giữ vị trí ngang hàng trong chính bữa tiệc của mẹ thiên nhiên.

Bạch tuộc ở đó cũng là chứng nhân cho những sự kiện lướt qua đời sống. Chúng không đơn thuần là những sinh thể đẹp đẽ của bể thủy cung, mà cũng đồng thời dạy ta cách sống và nhìn thấy nhau. Đó là Wilson cùng với người vợ trong cơn bạo bệnh, hiến tặng mọi thứ quý giá trong những lần lặn biên. Đó là Anna trải qua khủng hoảng trong việc trưởng thành mất đi một người bạn tốt. Đó còn là chị em Christa và Danny tự kỉ, là Marion và những cơn đau, nhưng đều chung hết sức mạnh và khát vọng sống. Con người cũng như bạch tuộc, quyến rũ, bạo liệt, đa nhiệm và đầy bí ẩn. Montgomery một cách tài tình viết nên cuốn sách không hướng về riêng chỉ một giống loài, mà qua các trải nghiệm của bà, sự hài hòa với tự nhiên nổi lên sáng rõ và đầy sức sống.

*

Tâm tư của bạch tuộc cũng như hành động lặn biển của Montgomery, là chất LSD quyến rũ con người vào thế giới đó, để thấy chúng ta nhỏ bé và bất cứ điều bình thường nhất nào của đại dương cũng là một thế giới lớn đối với con người. Từ những con sứa, rùa biển, cá rồng… cho đến chim cánh cụt, trăn Nam Mỹ, Tâm tư của bạch tuộc dạy ta cách sống và cách suy nghĩ như một “quái vật”. Bởi nhẽ những lời phỉ báng danh phẩm qua hàng thế kỷ dưới dạng ngôi sao phản diện của Jules Vernehay nỗi ám ảnh của Victor Hugolà quá sức chịu đựng. Mỗi loài bạch tuộc trong bể thủy cung qua từng đời một có suy nghĩ, cảm xúc và tính cách riêng; từ đó định kiến hạ thấp trí tuệ cũng như cảm xúc của những loài khác dần dần mất đi, triệt tiêu chủ nghĩa hoài nghi; chỉ đến khi ấy chúng ta mới rõ vị trí của mình, trong lòng thiên nhiên. Một cuốn sách mở cho những tâm hồn về với nguồn cội.

“Các loài động vật không phải đồng sự, không phải đàn em mà là những sinh vật được ban tặng những giác quan mở rộng mà chúng ta đã mất và không bao giờ đạt được, sống bằng tiếng nói mà chúng ta không bao giờ nghe được. Chúng là những dân tộc khác, bị cuốn vào mạng lưới sự sống với thời đại của chúng ta, là những bạn tù của sự huy hoàng và tàn phá trên trái đất” – Nhà tự nhiên học Henry Beston.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Người mắt kép: Những con người kết nối, những câu chuyện lồng vào nhau

Published

on

“Cô ơi, hai mắt màu khác nhau thì thế giới mà nó nhìn thấy có giống nhau không?”

Nếu bạn thắc mắc về nhan đề của sách thì câu thoại trên đã phần nào hé mở cho ta biết thế nào là người mắt kép. Và để biết vai trò của người mắt kép trong câu chuyện, tôi nghĩ bạn hãy cầm sách lên và khám phá vai trò của người ấy.

Nội dung bài viết dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Người mắt kép.

*

Mỗi cuốn sách đều chứa đựng một kho tàng - một thế giới chờ người đọc, người nghe khám phá nó. Tiểu thuyết Người mắt kép kể về những con người với số phận riêng biệt, những vùng đất với số phận đặc thù. Ở một tầng sâu hơn, cuốn sách còn đề cập đến vấn đề khí hậu, vấn đề sinh thái trong văn học và sự trả thù của tự nhiên.

Mỗi người có một cuộc đời riêng biệt nhưng kết nối

Cuộc sống vốn dĩ không có kịch bản, không có đạo diễn, cũng chẳng có nhà sản xuất, chỉ có những kẻ tự quyết định lấy cuộc đời của mình. Trong cuộc trú chân vô cùng ngắn ngủi của chúng ta trên mẫu hành tinh bé nhỏ, chuyện gì cũng có thể xảy ra được cả. Mỗi người có một cuộc đời riêng và để ta gặp được nhau, phải có một “sự tình cờ” nào đó liên kết chúng ta lại.

Người mắt kép kể câu chuyện của Atile’i - một thanh niên 15 tuổi sống ở đảo Wayo Wayo, cậu trai với hành trình dong buồm ra biển lớn vì truyền thống lâu đời của nơi này. Sự tăng trưởng dân số trên đảo dẫn đến sự tăng trưởng sản lượng tiêu thụ và thiếu đất sinh sống. Người con trai thứ, sau 180 lần trăng tròn, phải tự chèo thuyền ra biển, như một lời hứa với Kabang và chưa một ai ra khơi trở về được cả. Anh em sinh đôi ra đời chỉ cách nhau vài giây thôi; nhưng với Atile’i, người ta vẫn phân biệt con trai đầu, con trai thứ. Đứa con trai thứ là người phải lên thuyền ra khơi - sự khác nhau vài giây đó đã tạo nên một vận mệnh khác.

Song hành với đó, sự chối bỏ thực tại luôn ẩn chứa trong mỗi người khi ta không tìm được hạnh phúc, khi hiện tại là sự sống hẫng hụt. Sự thất vọng với thế giới hiện tại khiến con người muốn tìm một thế giới riêng. Alice là một nữ giáo sư sống cùng gia đình nhỏ trong căn nhà xinh đẹp bên bờ biển. Chồng và con trai cô mất tích trong một chuyến leo núi, cô khát khao được kết liễu mạng sống của mình, cô cho đi toàn bộ tài sản vật chất để ra đi mà không phải nghĩ ngợi gì. Ý định chưa kịp thực hiện thì cô gặp Ohiyo, một con mèo cho cô cảm giác cô cần phải chăm sóc nó vì biết đâu đứa con trai bé bỏng của cô ngoài kia chưa chết và đang có người chăm sóc nó như vậy. Một kẻ chỉ vài ngày trước đem cho đi toàn bộ tài sản của mình, vài ngày sau lại đi sắm sửa “gia tài” cho “kẻ khác”.

Hai con người ở hai thế giới, tưởng chừng chẳng bao giờ gặp nhau, bằng một sự tình cờ do đại dương mang đến, Alice gặp Atile’i, hai người dù chẳng biết ngôn ngữ của nhau nhưng họ dần hiểu được lời nói của đối phương. Từ đây, những câu chuyện về cuộc đời họ dần được kể rõ hơn, họ cho nhau niềm tin để sống tiếp cuộc đời của mình.

Sự giận dữ của mẹ thiên nhiên

Ngay cả nếu chúng ta vẫn tiếp tục chạy đủ nhanh và trì hoãn được sự suy sụp của hệ sinh thái thì bản thân cuộc đua cũng tạo nên những vấn đề cực kì lớn. Sau nhiều thế kỉ tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học, đáng ra cuộc sống phải yên ổn và thanh bình hơn - ít nhất là ở các nước tiên tiến. Nhưng bất chấp những thành tựu, chúng ta vẫn lắm lúc thấy áp lực và không tìm được sự hài lòng.

Trong quá trình đọc Người mắt kép, tôi đã nghĩ thật nhiều đến những bộ phim hoạt hình của Ghibli Studio: Laputa Castle In The Sky Laputa (1989), Mononoke Hime (1997), Ponyo (2008),… vấn đề môi trường và cuộc sống con người, những câu hỏi ám ảnh tôi, trên rừng xuống biển. “Có một đảo rác từ ngoài biển trôi vào nơi này”, có một vực xoáy rác, cuốn mọi thứ con người thải ra biển, đem vào lại đất liền để trả lại toàn bộ cho con người.

Cuộc mưu cầu quyền năng thời hiện đại được thúc đẩy bởi liên minh khoa học và tiến bộ kinh tế. Những kí ức của Alice về năm tháng sống cùng ngoại, lúc chưa có nhà máy hóa dầu, mùa đông có rất nhiều người tập trung đến đấy để ngắm chim, rút đầu lại đứng phía sau của ống nhòm như đang kì vọng cuộc sống của mình sẽ có gì đổi khác. Nhưng khi nhà máy ấy hoàn thành, từ đó hầu như không còn nhà nào để mở cửa. “Những ống khói hì hục bốc lên làn khói đen”. Khi một thảm hoạ sinh thái ập đến, người nghèo luôn chịu tác động nhiều hơn người giàu, ngay cả khi thảm kịch ấy do chính người giàu gây ra.

“Chuyện gì thế này? Những thứ này từ đâu đến?”

Toàn bộ những gì con người gây ra cho trái đất, con người phải nhận lại hết. Vực xoáy rác là minh chứng, thiên nhiên đã trả lại cho con người tất cả, vốn lẫn lãi. Con người cần trái đất, con người cần tự nhiên; không có con người trái đất vẫn có thể sống, nhưng không có trái đất, con người sẽ không thể tồn tại được.

Hành trình thiên nhiên đáp trả đó không phải đột ngột theo cách bất ngờ, đó là một quá trình. Tự nhiên đã nhiều lần nhắc nhở, cảnh báo, con người không nghe nên tự nhiên mới dùng hành động để cho con người thấy: “Con người - các ngươi đã thật sự làm ta giận dữ”. Vực xoáy rác khổng lồ cũng chỉ là lời nhắc nhở thôi, như lúc nhà máy hóa dầu quê ngoại của Alice vậy. Cũng giống như những con người ở đảo Wayo Wayo vậy, họ đã thay đổi bằng cách “hiến tế” người con trai thứ như lời hứa giảm số người dân, đảm bảo số người dân ít hơn số cây trong đảo. Và những con người sống ở đất liền, nếu không giảm lượng rác thải tạo ra, rồi cũng chẳng còn nơi để sống đâu. Sự hủy diệt sẽ làm biến mất tất cả. Khi chẳng còn khỏe mạnh, mẹ thiên nhiên sẽ thật sự nổi giận và trả lại con người cơn thịnh nộ của mình.

Chuộc tội như thế nào cho đúng?

Ngày xửa ngày xưa, tất cả mọi vật đều bắt chước lẫn nhau, hòn đảo bắt chước rùa biển, cây cối bắt chước đám mây, cái chết bắt chước sự sống. Thiên nhiên đã tồn tại trước, sau đó rất lâu, con người mới xuất hiện trên trái đất.

Một câu hỏi lớn buộc chúng ta phải tự đặt ra cho chính mình và mọi người. Liệu con người và thiên nhiên có thể chung sống hòa bình? Rốt cục nguyên tắc phân loại là thực sự theo quy luật của tự nhiên hay theo quy tắc của con người? Loài người nhận thức được sự căm phẫn của thiên nhiên, nhưng có khả năng nào để chúng ta chuộc lại lỗi lầm hay không? Khả năng cao là không.

Chẳng ai muốn đón nhận cơn cuồng nộ của thiên nhiên đâu nhỉ? Mèo nhỏ Ohiyo là sự dịu dàng xua tan nỗi đau với Alice. Tôi nghĩ rằng chính sự dịu dàng trong cách con người đối xử với nhau, đối xử với thiên nhiên sẽ làm nguôi ngoai phần nào cơn giận dữ.

Kết.

“Vậy thứ khiến chúng ta sợ hơn đó là con người. Bất luận là người đó nói bảo vệ chúng ta hay người muốn dỡ nhà chúng ta đều đáng sợ cả, vì họ sẽ không nói với chúng ta tại sao, vì cái tại sao của những người dân bản địa chúng ta không giống nhau đúng không?” Mỗi người chúng ta thuộc về một thể loại riêng. Một số sống đời bi kịch, số khác sống đời hài kịch, số tiếp trú ngụ trong những vở kịch của tôn giáo, có kẻ chọn tiếp cận nó như phim hành động, nhưng xét cho cùng, tất cả đều là câu chuyện

Những thất vọng và niềm tin, mỗi người, ai cũng có câu chuyện cho riêng mình, không ai giống ai, có người mải mê tạo nên những câu chuyện, có người mải mê đi tìm những câu chuyện, có người lắng nghe những câu chuyện của những người khác. Và cuối cùng mỗi chúng ta, khi đặt dấu chấm hết cho cuộc đời mình, chúng ta sẽ có một câu chuyện để người khác nhớ về chúng ta.

“Rồi sẽ có một ngày
Em muốn rời bỏ thành phố phồn hoa
Rồi sẽ có một ngày
Em sẽ muốn trông thấy
Một nơi như thiên đường mà thuở ấu thơ mẹ kể”.

Hết.

Hoàng Anh

Ảnh đầu bài: Elle Việt Nam

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH Siêu Đẳng: Một góc nhìn khác về động vật

Published

on

Em có muốn trở lại sống trong ống cống không? Và ăn rác rưởi của con người? Vì loài chuột vẫn sống như thế. Nhưng thực tế là chúng ta không còn là chuột nữa. Chúng ta là thứ được bác sĩ Schultz tạo ra. Một thứ hoàn toàn mới.

Hình thức nhân hóa các loài vật để tạo nên một câu chuyện, một huyền thoại giống như con người không phải là hiếm; và dĩ nhiên, không thiếu những tác phẩm thành công. Đồi thỏ của Richard Adams từng bị e ngại về độ dày quá lớn cho một tác phẩm thiếu nhi; thế nhưng không thể phủ nhận sức ảnh hưởng của nó cho đến ngày nay. Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng – tác phẩm đoạt Huân chương Newberry năm 1972 thì ngược lại, không cần quá dày cũng đủ làm nên một huyền thoại.

Tác phẩm kể về nhà chuột Frisby và những khó khăn họ gặp phải khi đối mặt với chuyến chuyển nhà mùa hè. Góa chồng, bà Frisby một mình nuôi nấng bốn người con, trong đó Timothy, đứa nhỏ nhất, lại đang viêm phổi và có thể trở nặng bất cứ lúc nào, nếu họ đánh liều di chuyển sang căn nhà mùa hè. Thế nhưng băng đã tan, nhà Fitzgibbon đã bắt đầu cày bừa, đâu là giải pháp cho bà mẹ này?

Bài viết dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng.

Thiên nhiên đa dạng

Cũng như những tác phẩm khác, nhà văn Robert C.O’Brien dồn ép câu chuyện đến bước đường cùng, để ta thấy sức khám phá và hành trình chứng minh bản thân của những loài vật tuy nhỏ kích thước nhưng can đảm là có thừa. Thiên nhiên trong tác phẩm của ông điển hình nhưng cũng tuyệt đẹp, với những giúp đỡ, sẻ chia cũng như sự đồng cảm của những loài vật dành cho nhau.

Có thể thấy được sự tương đồng với Đồi thỏ khi cả hai tác phẩm đều bắt nguồn từ việc nơi ở của mình bị con người đe dọa. Mối quan hệ giữa con người và động vật trong tác phẩm của O’Brien không quá cay đắng. Ông cho mỗi tuyến nhân vật một ý nghĩa để hành động, không phản chiếu hay đánh giá phiến diện bất kì ai. Rốt cuộc thì nhà chuột Frisby hay gia đình ông Fitzgibbon cũng cần sống, và điều này càng làm tăng thêm vị thế của gia đình chuột, khi không cầu xin sự thương cảm từ phía người đọc, mà trong tác phẩm này, họ có chỗ đứng cũng như tầm nhìn vô cùng độc lập.

Một trong những yếu điểm của truyện thiếu nhi là nó quá… phi thực. Nếu chỉ dành cho trẻ con, thì không có gì để nói. Nhưng để lưu danh và dành cho nhiều độ tuổi khác nhau, mà mỗi một người có thể nhìn nó theo thế giới quan của mình, như Hoàng tử bé, như Totto-chan bên cửa sổ… thì không phải là dễ. Và tác giả O’Brien giải quyết điều này vô cùng logic. Tác phẩm của ông không chứa đựng sự ngẫu nhiên hay phép thần thông quảng đại nào, mà như nói trên, mọi thứ đều có lý do, và ông cho độc giả một lý do mang tính dự báo, và rất có thể trở thành hiện thực trong những ngày này.

Phân chia cốt truyện thành hai tuyến song song, bên cạnh việc tìm giải pháp cho lần chuyển nhà trong khi Timothy thì đang bệnh nặng; O’Brien cũng khéo léo lồng ghép quá trình Chuột cống, Chuột đồng trốn khỏi phòng thí nghiệm NIMH, và cũng từ đây lí giải vì sao những tình tiết sau đó vô cùng logic. Từng là những loài chuột thí nghiệm, quần thể Chuột cống và Chuột đồng sở hữu bộ gen đặc biệt, trong thử nghiệm giúp học và tiếp thu nhanh. Từ đó, một thế hệ Chuột mới ra đời, toàn năng và không thể phá hủy.

Điều đó cũng lý giải vì sao có một cộng đồng chuột với đủ thứ thiết bị, từ hành lang, sách vở, đèn đóm, máy phát điện, kho hạt… cho đến những bài thuốc gây mê con mèo lởn vởn xung quanh. Các nhân vật này trong tác phẩm của O’Brien nhiều cá tính và đậm dấu ấn, khiến bất cứ lúc nào người đọc cũng tìm thấy được một nhân vật đặc biệt, như Cây Phỉ của Đồi Thỏ, thì tác phẩm này có Chuột Nicodemus, Justin, Arthur, Brutus, quạ Jeremy, bác cú, thầy Ages… những cá tính nổi bật và đậm nét.

Tính nhân văn

Sự đẹp đẽ trong quần thể nhỏ nhắn của các loài vật đã được truyền tải một cách trọn vẹn, từ tình mẹ con ấm áp thiêng liêng của cô chuột Frisby tần tảo nuôi con thơ dại trong mùa đông khắc nghiệt và khan hiếm thức ăn; cho đến việc cứu quạ Jeremy mà không màng đến tính mạng. Bất cứ một việc thiện nào trong tác phẩm này cũng đều dẫn đến một việc tốt khác, cứ thế cái tốt đẹp và lòng tốt nhân đôi, càng lan tỏa thêm sự đồng cảm và tình yêu thương.

Cũng chính sự cứu mạng đó mà bác cú đã mách chị Frisby dời nhà sang mé bế phong – hay vùng tam giác đổ bóng của ngọn đá lớn ông Fitzgibbon bỏ qua khi cày. Cũng chính nhờ sự giúp đỡ của chồng mình chống lại Rồng, mà cộng đồng Chuột cống mới có một thế giới riêng, và những dự án bí mật sau này.

Thế nhưng, nỗi bật nhất vẫn là thế cân bằng giữa các loài vật trong tiểu thuyết này. Chuột Cống không ngại sử dụng thân thể to lớn của mình để cứu Chuột Đồng, Chuột Chù tuy nhiều chuyện nhưng không ngại đứng ra bảo vệ những đứa con của chị Frisby; và dĩ nhiên, những chú chuột ấy cũng có thể diện, cảm xúc, cũng như những nhận thức rất con người.

Khi đã trở thành một giống loài được chọn, 20 chú chuột ấy biết rõ mình không còn thuộc về phường đầu trộm đuôi cướp hay ưa phá hoại của cải của con người nữa. Họ từ bỏ chợ nông sản và những cống rãnh hôi thối của đường phố, mà quây mình ở điền trang Boniface tự trau dồi học hỏi đương lúc gia chủ đi vắng. Từ chiếc xe bỏ hoang của Ông Đồ chơi rong mà họ xây dựng nơi an cư cho riêng mình, và chỉ mình mình.

Thế cân bằng ấy còn nằm ở việc họ không tự bằng lòng với việc ăn ấm mặc êm, trở nên sung túc với điện và nước lấy trộm của con người, hay những hạt giống, ngũ cốc sẵn có từ nhà Fitzgibbon. Trong sự phát triển ngang tầm cỡ con người, họ đã nuôi lớn kế hoạch tự xây dựng Thung lũng Gai, để gieo hạt, trồng trọt dù biết trước là sẽ gian khổ. Họ cũng như con người, tự mình phá hủy cái cung điện nguy ngoa khoét vào đá để bản thân không quay trở lại hưởng thụ được, khi tương lai phía trước là bất định.

Tác phẩm này của O’Brien đạt đến hàng kinh điển bởi nhẽ, nó khai thác một góc nhìn rất mới và đầy biến động về con người và tự nhiên. Loài chuột biết suy nghĩ, biết tự nuôi sống bản thân; chúng độc lập đứng trước con người, chứng minh và thể hiện mình. Con người hay Homo Sapiens từ trước đến nay vẫn tự nhủ bản thân là giống loài riêng biệt duy nhất thông minh; thì ở tác phẩm này, có đôi khi ta phải nhìn lại, rốt cuộc rồi thì con người cũng là động vật, cũng được tạo thành từ các nguyên tử, phân tử từ thủa sơ khai. Họ không có đặc quyền gì đặc biệt, bởi nhẽ, họ đã quen với sự thống trị của bản thân trong thế giới vô tri. Và O’Brien đã bắt một cái bập bênh, để chính họ nhìn lại vị thế của mình.

*

Bằng câu chuyện phiêu lưu đậm màu cổ tích nhưng không thiếu logic và những suy tư rất sâu và xa của con người, Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng không chỉ thể hiện tình cảm thân ái giữa các loài vật hay thế giới nhân hóa kì diệu; mà đồng thời, cũng giúp con người ngộ ra được vị trí và vai trò của chính họ, trong tự nhiên và những giống loài tồn tại trên Trái Đất này. Một tác phẩm hay và chứa đựng nhiều bài học đáng quý.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Cafe sáng