Phía sau trang sách

Nửa mặt trời vàng: Nửa mặt trời vàng còn lại vẫn đang ở đâu?

Adichie, Doris Lessing và căn phòng của riêng ta.

Published

on

Nửa mặt trời vàng lấy bối cảnh cuộc nội chiến Biafra vào cuối thập niên 60 ở Nigeria làm bối cảnh chính, khi những nhũng nhiễu chính trị đang lên cao trào. Dưới sự cai quản của thực dân Anh, Nigeria oằn mình hứng chịu sự chia cắt chia-để-trị như cuộc giày xéo đất nước. Người Igbo ở miền Nam có đầu óc mở, họ giỏi giang, tư duy mở cửa và hơn hết, có lí tưởng chủ nghĩa xã hội khá mạnh. Điều này dội ngược một phản lực lớn lên Đế quốc nơi mặt trời không bao giờ lặn, khi cả Churchill hay Người đàn bà Thép sau này luôn cố gắng lèo lái đất nước mình tránh xa khối Liên Xô chủ nghĩa xã hội. Từ đây, thực dân Anh đứng sau như một cú đẩy, gieo vào đầu người Hausa ở miền Bắc và Yoruba ở miền Tây đầy những nghi kị về sự lớn mạnh và hiếu chiến của người Igbo như mối đe dọa, dẫn đến cuộc tàn sát không thể ngờ tới ở đất nước này. Với Nửa mặt trời vàng, Chimamanda Ngozi Adichie đã thành công khi khắc họa một cách gần như trọn vẹn những biến chuyển lịch sử, nhưng cũng đồng thời qua đó, ta thấy đằng sau là số phận của nhiều loại người: từ thế mạt hạng đến trung lưu, từ chỉ lo cái ăn đến lí tưởng cao vời chủ nghĩa xã hội,… Tất cả xuất hiện trong Nửa mặt trời vàng như những bậc thang đi đến đích đến nhân loại, nhưng liệu bạn có bao giờ tự hỏi, nửa mặt trời vàng còn lại vẫn đang ở đâu?

Phơi bày lý tưởng

Trong Nửa mặt trời vàng, Adichie có lối xây dựng nhân vật vô cùng đặc sắc khi cô phá bỏ hầu hết chuẩn mực trong tiểu thuyết văn chương mang yếu tố Phi châu mà người da đen thấp cổ bé họng luôn bị áp bức còn người da trắng cao xa mãi luôn trôi dạt. Điển hình là Richard – nhân vật được cô gán cho nguồn gốc London nhưng vì yêu cái đẹp của gốm bản xứ vùng Biafra ôm mộng ở lại. Adichie khắc họa Richard như người da trắng nhợt nhạt, mang trong mình cơn ủ ê trầm kha và quá mong manh để trở thành một ông chủ ngoại quốc: “Chàng cảm thấy mình yếu đuối quá, cái yếu đuối vì bệnh tật và vì tiếc nuối mất mát”. Không phải vô cớ khi Adichie xây dựng một nhân vật như thế, mà ở phía đối trọng bên kia, cô xây dựng Keanne – người Richard ôm mộng yêu đương – cứng rắn và trầm lắng đến không tưởng. Bỏ qua chủ nghĩa nữ quyền hay lòng tự tôn dân tộc ở đây, rõ ràng việc chọn nhân vật của Adichie là có chủ ý và hướng tác phẩm sang một lề thói khác, ở đó người phương Tây mang thứ ảo danh văn minh nhưng đầy bất lực thời cuộc và thoi thóp trong cái nhỏ nhặt nhất có được là người; trong khi những người bản xứ vẫn luôn bí ẩn như chính nơi họ xuất xứ, dẫu cho còn đó là những nhiễu nhương, những xung đột luôn âm ỉ cháy: “Tôi là người Nigeria vì một gã da trắng sáng tạo ra cái tên ấy rồi cho tôi cái tông tích ấy. Tôi đen bởi vì một anh da trắng xây dựng khái niệm màu đen để làm sao nổi bật sự khác biệt với cái màu trắng của hắn”.

Adichie không chỉ là một tiếng nói đơn lẻ, mà cô tổng hòa đầy đủ ý chí cả một thời đoạn vào trong tiểu thuyết mình. Cô không che giấu bất cứ điều nào mà tự do vạch trần những nhiễu nhương của xã hội lúc ấy, không chỉ phiến diện trong thế đối đầu với người phương Tây, mà ngay cả trong chính nội bộ những người bản xứ với nhau. Như thể khi xây dựng hình tượng Ugwu hay Harrison, cô không che giấu bản tính kịch cỡm của họ, không cố khoác lên họ màu da đen bóng để rồi đánh đồng tâm trí của họ cũng như người khác. Ugwu mang trong mình đầy những ý nghĩ trưởng giả trong khi Harrison luôn trong tâm thế sính ngoại, nấu những món Tây đến độ quên mất hương vị bản xứ; và cũng là tâm lý của vợ chồng Ezecka – những người Phi châu hưởng lợi từ bộ máy ăn bám chính quyền Nigeria. Họ biến chất đến độ Anulika – em gái Ugwu một lần phải thốt lên rằng: “Anh quên nguồn gốc xuất thân của anh rồi, bây giờ anh trở nên ngu đến nỗi anh tưởng mình là một Ông Lớn đấy”. Cách đối xử giữa những người bản xứ với nhau được phơi ra như tiếng nói mạnh mẽ về chủng tộc mình, không hề che đậy dẫu cho đó hoàn toàn là những điều muốn quên. Adichie thật sự là một cây bút mạnh mẽ, một điều mà không phải ai cũng dễ dàng mang ra trước ánh sáng của những phán xét, đánh đồng và quy chụp.

“Ugwu mang trong mình đầy những ý nghĩ trưởng giả trong khi Harrison luôn trong tâm thế sính ngoại, nấu những món Tây đến độ quên mất hương vị bản xứ;”

Không những thế, Adichie cũng lần mò mang đến lí tưởng của thế hệ tinh hoa như hướng nhìn ngược lại của những kệch cỡm trên kia. Adichie, lại một lần nữa, rất khéo trong cách chọn nhân vật, cô không ra chợ để rồi mang hết đầy đủ những người ngoài ấy vào trong tiểu thuyết mình; cũng không cố gắng xây dựng một nhân vật hoàn toàn tốt hay xấu; mà cô chọn lựa để rồi góp nhặt những gì tiêu biểu nhất. Onegdibo, Olanna và những người bạn giáo sư – tiến sĩ những tối hội họp trong mùi Brandy cùng món súp ớt của Ugwa một phần nào đó đưa ta về lại những năm 40 trong Cuốn sổ vàng của Doris Lessing. Ở đây họ cùng nhau uống, cùng nhau bàn luận và dấn thân vào cuộc nội chiến của đất nước mình. Họ tranh cãi, ca ngợi, phỉ báng lẫn nhau. Trong một nhóm nhỏ, Adichie lại vặn xoắn cây bút của mình biến họ thành ra những nhóm nhỏ hơn, ở thế đối đầu hay là quy phục để không rào trước đón sau, dẫn hướng người đọc mà cố gắng công tâm nhất, đa chiều nhất, phơi ra lý tưởng cùng luồng suy nghĩ vào thời khắc ấy. Trong những ngày thấp thỏm bơm rơi ở Nsukka ấy, tầng lớp tinh hoa cũng đồng thời phân tán lý tưởng của họ, về nội chiến, về hướng đi và về chủ nghĩa xã hội. Onegdibo như hiện thân cho những lý tưởng Cách mạng ở thời điểm này, khi:  “Làm sao chúng ta có thể chống lại sự bóc lột nếu chúng ta không có phương tiện chúng giúp ta hiểu thế nào là bóc lột?” Một lần nữa phải nói rằng, Adichie mang đầy vẻ gai góc trong ngòi bút riêng mình khi phơi ra hết những lý tưởng của thời khắc ấy, một cách rõ ràng và đầy thuyết phục.

Doris Lessing của chủ nghĩa chiết trung

Một điểm cũng được đề cập và không khó để nhận ra trong tiểu thuyết này là chủ nghĩa nữ quyền. Nữ quyền của riêng bản thể người da trắng đã đủ phức tạp, đằng này là người da đen trong bối cảnh bị chiếm đóng lại mang vẻ chông chênh gấp bội phần hơn. Aidichie xây dựng hình tượng hai chị em song sinh Keanne và Olanna cũng đầy tính toán ở hai con đường mà họ chọn đi. Nếu Olanna mỏng manh, yếu đuối và đầy học thức mang nhiều tính nữ; thì ở chiều ngược lại, Keanne lại mang bản tính hoang dại như một đại diện phù hợp cho người bản xứ. Không quá sa đà vào trong bối cảnh tưởng như đã đủ thu hút, Adichie xây dựng số phận của hai chị em họ đầy những trúc trắc đến nỗi, với Nửa mặt trời vàng, ta dễ tách riêng nó thành hai phần: một bên dã sử nội chiến và phía bên kia là tiểu thuyết tình yêu đương thời. Nói thế không có nghĩa cô tham lam khi mang quá nhiều vào trong Nửa mặt trời vàng, mà với cuốn tiểu thuyết này, Adichie đã chứng minh được khả năng làm chủ và chi phối tình tiết. Những trúc trắc trong cuộc đời hai người phụ nữ ấy nhịp nhàng trôi theo dòng chảy lịch sử. Trong những biến động của đất nước mình, họ cũng đồng thời nếm trải đầy đủ hương vị yêu đương: từ ngọt ngào, hăng say đến đắng cay, tội lỗi; từ khinh thị, xem thường đến thiêng liêng, nâng đỡ,… Adichie rõ ràng ý thức được thiên mệnh của mình trong tiểu thuyết này, khi cô không chỉ là người Nigeria mà còn là một phụ nữ. Cô thể hiện tính nữ ở riêng hai bản thể khác nhau, nhưng bằng cánh gán ghép song sinh, nó vẫn nằm trong một con người. Nếu Olanna ngập ngụa trong thứ men tình dẫu bị phản bội không chỉ một lần, thì Keanne vượt lên như thứ bản năng mạnh mẽ vốn có của xứ sở này. Cô nói đôi lần trong cuộc tình mình: “Anh đã lầm khi nghĩ là tình yêu không còn chỗ cho những chuyện khác. Rất có thể người ta yêu một cái gì đó nhưng vẫn khinh thị nó”. Keanne vờn quanh Richard, cô ý thức và hiểu rõ được tình cảm của mình, nhưng một điều rõ ràng rằng: cô khinh thị anh, khi anh bất lực, khi anh dẫu cho đã ngủ với Olanna,… nhưng cũng đồng thời, cô trân trọng và quý mến anh. Adichie lại một lần nữa tự mình ngập sâu vào trong thứ bùn hiện sinh, không chỉ đồng thời kéo chính cô xuống, mà song song đó là những người đọc quăng mình theo cô.

“Nữ quyền của riêng bản thể người da trắng đã đủ phức tạp, đằng này là người da đen trong bối cảnh bị chiếm đóng lại mang vẻ chông chênh gấp bội phần hơn.” 

Ở một mặt nào đó, Adichie đạt đến thành tựu ngang ngửa Doris Lessing khi là một trong hai người phụ nữ kể câu chuyện thời đoạn trong căn phòng của riêng mình. Cùng viết về những biến động đời sống, về chủ nghĩa xã hội và thứ chủ nghĩa nữ quyền đôi khi cực đoan; Adichie mang đến người đọc một phiên bản khác của Cuốn sổ vàng nhưng trần trụi và giản tiện hơn. Nếu Doris Lessing chọn nước Anh thập niên 50 và Anna Wulf như một “phụ nữ tự do” đam mê lý tưởng Cộng sản, thì Adichie lại chọn Nigeria thập niên 60 và Olanna hay Keanne đầy nét bản xứ. Nếu Doris Lessing chọn châu Phi những năm 40 nơi nhóm phù phiếm đi tìm bản thể chính mình, thì Adichie lại chọn chính phòng khách ở Nsukka như nơi tầng lớp tinh hoa bấy giờ tụ họp. Duy điều khác là với Cuốn sổ vàng, Doris Lessing tự bản thân không sở hữu một bối cảnh biến loạn tự mình cuốn hút người đọc như Nửa mặt trời vàng, do đó bà chủ yếu đi sâu vào khai phá những hỗn loạn xoay vần trong tâm trí Anna. Còn Adichie, bản thân vốn sẵn phân thân giữa hai mặt chính: một bên là những bối cảnh và phía bên kia tâm lý nhân vật, rõ ràng không thể đào sâu một cách đầy đủ như Doris. Nhưng dẫu thế nào đi nữa, Adichie cũng đã ghi tên mình vào danh sách những người phụ nữ với một bút lực vô cùng mạnh mẽ, vừa thể hiện bản thân, vừa là tiếng nói thời đoạn.

Hiện thực đời sống

Doris Lessing từng viết trong Cuốn sổ vàng: “Hiện thực là một khẩu súng và nó sẵn sàng bắn hạ bất cứ ai cản trở tiến trình của nó”, và rõ ràng với Nửa mặt trời vàng, Adichie đã không sử dụng hiện thực như một khẩu súng, mà vốn chính bản thân nó đã mang đầy đủ bất hạnh của thứ dịch tả ghé ngang. Bản thân cuốn tiểu thuyết mang trong mình một câu chuyện lớn – câu chuyện về những xung đột tôn giáo, tín ngưỡng, lí tưởng được che giấu dưới bàn tay thực dân Anh làm nên một cơn thảm sát cuồng loạn. Nội chiến Nigeria mà Adichie khắc họa rõ ràng là thứ ai cũng muốn quên, được cô phản ánh một cách thật nhất nhưng cũng sống động nhất. Tương tự Alice Hoffman trong Những người nuôi giữ bồ câu khi khắc họa lịch sử Israel cổ đại đương lúc hơn 900 người Do Thái cổ thủ trong pháo đài Masada bị thảm sát bởi quân La Mã, Adichie cũng viết nên những điều tương tự. Nạn đói, giết chóc, diệt chủng, tất cả hiện lên rõ ràng như những thước phim quay chậm, đôi dòng mà cô viết miêu tả nạn đói không thể không khiến chúng ta nản lòng: “Mùi hôi thối của những thân thể không được tắm rửa và mùi thịt rữa trong những hố huyệt nông choèn choẹt đằng sau dãy nhà càng lúc càng nồng nặc. Ruồi bâu quanh những vết lở loét trên người trẻ con. Rận và kwalikwata bò khắp nơi; đàn bà thỉnh thoảng kéo mấy tắm khăn quấn của mình để lộ những vết đỏ do bị rận cắn xung quanh eo của họ, giống như những nốt phát ban rỉ máu.”

Đứng cùng hàng ngũ với Rohinton Mistry trong Cân bằng mong manh khi phơi bày nhân quần quá nhiều biến động, Adichie tự mình đưa ra tiếng kêu xé lòng ra ngoài thế giới. Cô viết về một Phi châu không hẳn chỉ có nội chiến, đói nghèo và những đứa trẻ suy dinh dưỡng; mà còn hơn thế, cô như đối thoại với thế giới ngoài kia cách con người ta nhìn nhận lẫn nhau giữa những sinh thể ngang hàng, giữa những yêu thương đồng loại, như tựa đề quyển sách mà Ugwu viết sau này trở thành Nửa mặt trời vàng: Thế giới im lặng khi chúng ta chết. “Thế giới phải biết sự thật về những gì đang xảy ra bởi họ không thể lặng thinh trong khi chúng tôi chết”. Rồi như một sự buông xuôi bất lực sau những tính toán lột sạch bản thể con người, Adichie buông bút đầy mỏi mệt: “Nhưng liệu đó có phải là toàn bộ giá trị của sự sống còn? Rằng đời sống là trạng thái phủ nhận cái chết?” rồi cuối cùng cười gằn trong nỗi bất lực: “Cái tên bây giờ nghe như một sự giễu cợt. Chidiebele: Chúa nhân từ”. Adichie rõ ràng đã vô cùng thành công khi không những kể được câu chuyện mang nhãn “cấm xuất khẩu” của đất nước mình ra ngoài thế giới, mà còn thành công hơn thế khi đưa được tiếng nói của cá nhân mình, đưa được góc nhìn của toàn thế giới đối với một Biafra nhỏ bé ra ngoài công luận. “Nạn đói là vũ khí của người Nigeria trong cuộc chiến. Nạn đói đánh gục Biafra và mang danh tiếng đến cho Biafra, làm cho Biafra trường tồn như quốc gia này đã tồn tại. Nạn đói khiến mọi người trên thế giới chú ý và biểu tình phản đối ở London, Moscow và Czechslovakia. Nạn đói làm Zambia, Tanzania, Bờ biển Ngà và Gabon công nhận Biafra. Nạn đói đã đưa châu Phi vào trong cuộc tranh cử của Nixon […] Nạn đói thúc đẩy những cơ quan thiện nguyện mang thực phẩm bằng máy bay đến Biafra [..]. Nạn đói thúc đẩy nghề chụp ảnh. Và nạn đói làm Hội Chữ thập đỏ Quốc tế gọi Biafra là cuộc cứu trợ nguy hiểm nhất kể từ Thế chiến thứ Hai.”

Kết

Với Nửa mặt trời vàng, ngòi bút Adichie như lưỡi dao phá tan bụi rậm, mà ở đó hiện thực mang trong lòng phôi thai những tâm tính nhân quần được đưa ra ngoài ánh sáng. Adichie đã chứng minh được tài năng của mình, khi mượn một bối cảnh quá nhiều hỗn loạn của Nigeria để làm bật lên trong đấy là chủ nghĩa nữ quyền, là những lý tưởng chủ nghĩa xã hội và trên hết, là cách chúng ta đối xử với nhau. Adichie sử dụng hình ảnh bé gái đã chết với đôi mắt to tròn trắng dã, tết mái tóc bím được đặt trong chiếc bầu gỗ có những họa tiết đan chéo; như ngầm ngụ ý nói rằng, trẻ thơ – thứ bản tính hiền lành và thánh thiện nhất, cũng đang chết dần chết mòn trong lớp vỏ của chiến tranh hận thù. Rõ ràng như một nhận định, Nửa mặt trời vàng có số mệnh của một tác phẩm kinh điển, thì Adichie với tài năng của mình, cũng có số mệnh nối tiếp và trở thành một Doris Lessing thứ hai với tiếng nói dân chủ, nữ quyền khoét sâu vào lòng thế giới.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Đọc những bài viết của Ngô Thuật Phát.


Phía sau trang sách

Giải mã hạnh phúc: Khám phá nguồn gốc của niềm vui và sự hài lòng

Liệu có bí mật nào cho hạnh phúc? Đây là câu hỏi đã xuất hiện từ hàng thập kỷ trước, và nhiều triết gia, lãnh tụ tôn giáo cũng như nhà khoa học đã đưa ra câu trả lời của riêng họ. Nhưng liệu có thể dùng khoa học để giải mã sự mưu cầu hạnh phúc được không?

Published

on

Hãy cùng đến với “Giải mã hạnh phúc”. Đây là một giả thuyết được đưa ra bởi chuyên gia tâm lý Jonathan Haidt, cho rằng hạnh phúc đến từ những khao khát nội tâm và đồng thời cũng đến từ các yếu tố bên ngoài. Nói cách khác thì hạnh phúc vừa là “bẩm sinh”, vừa là “nuôi dưỡng”.

Cụ thể thì như vậy nghĩa là gì? Hãy cùng phân tích các thành phần tạo nên “Giải mã hạnh phúc”, cũng như cách ứng dụng chúng vào cuộc sống để tìm kiếm niềm vui và sự hài lòng.

Bẩm sinh

Yếu tố di truyền đóng một vai trò nhất định trong cảm nhận chung về hạnh phúc của chúng ta. Một số người sinh ra đã có cái nhìn lạc quan, trong khi những người khác có thể phải vật lộn với lo âu và trầm cảm. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là mặc dù di truyền có thể ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc cơ bản, nhưng chúng không phải là yếu tố quyết định duy nhất.

Nuôi dưỡng

Môi trường và trải nghiệm cũng định hình hạnh phúc, điều này  bao gồm các mối quan hệ, công việc và thậm chí cả cộng đồng nơi chúng ta sống. Bằng cách tạo ra một môi trường hỗ trợ và trọn vẹn, chúng ta có thể nuôi dưỡng hạnh phúc lớn hơn trong cuộc sống.

Cân bằng giữa mong muốn và hoàn cảnh: “Giải mã hạnh phúc” cho rằng chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc bằng cách cân bằng giữa mong muốn bên trong và hoàn cảnh bên ngoài. Ví dụ, nếu bạn có mong muốn mạnh mẽ về an ninh tài chính, có thể bạn cần tìm một công việc mang đến nguồn thu nhập ổn định. Mặt khác, nếu bạn có niềm đam mê sâu sắc với sự sáng tạo, việc theo đuổi một sự nghiệp cho phép niềm đam mê đó phát triển có thể quan trọng hơn.

Vậy, làm cách nào để áp dụng “Giải mã hạnh phúc” vào thực tiễn? Dưới đây là một vài mẹo giúp bạn tìm thấy niềm vui và sự hài lòng trong cuộc sống:

1. Xác định các giá trị của bản thân: Hiểu được điều gì thực sự quan trọng với bạn có thể giúp định hướng các quyết định và tạo ra một cuộc sống viên mãn hơn.

2. Nuôi dưỡng các mối quan hệ: Mối quan hệ bền chặt với gia đình và bạn bè có thể mang lại tình yêu thương, sự hỗ trợ và cảm giác được thuộc về.

3. Theo đuổi đam mê: Tham gia vào các hoạt động và sở thích mang lại niềm vui có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc và hài lòng.

4. Thực hành lòng biết ơn: Dành thời gian để trân trọng những điều tốt đẹp trong cuộc sống, dù nhỏ bé, có thể làm tăng cảm giác hạnh phúc tổng thể của bạn.

5. Cho đi: Giúp đỡ người khác có thể mang lại ý nghĩa và sự trọn vẹn cho cuộc sống của chúng ta.

Jonathan Haidt là một nhà tâm lý học và nhà tâm lý học xã hội, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về tâm lý học đạo đức và tâm lý học tư tưởng chính trị. Ông là giáo sư ngành Lãnh đạo Đạo đức tại Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, và đã xuất bản một số cuốn sách và nhiều bài báo nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học.

Các công trình của Haidt thường tập trung vào ý tưởng rằng niềm tin và giá trị đạo đức của chúng ta được hình thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm văn hóa, sự nuôi dạy và kinh nghiệm cá nhân. Ông lập luận rằng đạo đức không chỉ là vấn đề lý trí mà còn bị ảnh hưởng bởi cảm xúc và trực giác của chúng ta.

Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của Haidt cho lĩnh vực tâm lý học là mô hình “trực giác xã hội” về phán đoán đạo đức. Mô hình này cho rằng các phán đoán đạo đức thường dựa trên những đánh giá tự động, vô thức về các tình huống, thay vì lý luận có ý thức và có chủ ý. Công trình này thách thức quan điểm truyền thống cho rằng việc ra quyết định đạo đức là một quá trình hoàn toàn lý trí, và nhấn mạnh tầm quan trọng của cảm xúc và trực giác trong việc hình thành niềm tin đạo đức của chúng ta.

Nghiên cứu của Haidt cũng đã khám phá vai trò của đạo đức trong hệ tư tưởng chính trị, và ông đã chỉ ra rằng những người theo chủ nghĩa bảo thủ và tự do thường có nền tảng đạo đức khác nhau. Ví dụ, những người theo chủ nghĩa bảo thủ có xu hướng coi trọng các giá trị như lòng trung thành, quyền lực và sự thiêng liêng, trong khi những người theo chủ nghĩa tự do có xu hướng coi trọng sự công bằng và chăm sóc. Haidt lập luận rằng những khác biệt về đạo đức này đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình thái độ và hành vi chính trị.

Các công trình của Haidt đã được trích dẫn rộng rãi và nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải thưởng William James Fellow từ Hiệp hội Khoa học Tâm lý. Các cuốn sách của ông được ca ngợi vì dễ tiếp cận và chứa đựng những hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người.

Nhìn chung, những đóng góp của Jonathan Haidt cho lĩnh vực tâm lý học đã làm sáng tỏ vai trò của đạo đức và cảm xúc trong việc định hình niềm tin và hành vi, đồng thời giúp mở rộng hiểu biết về sự phức tạp của tâm trí con người.

Tóm lại, “Giải mã hạnh phúc” nhắc nhở chúng ta rằng hạnh phúc là sự kết hợp của cả bẩm sinh và nuôi dưỡng. Bằng cách cân bằng những mong muốn bên trong với hoàn cảnh bên ngoài, chúng ta có thể tạo ra một cuộc sống viên mãn và vui vẻ hơn. Vậy nên, hãy thử kiểm chứng “Giải mã hạnh phúc” và xem liệu nó có khiến bạn hạnh phúc hơn không nhé!

Lam dịch từ MindfulMac

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trách nhiệm thuộc về ai khi thiên nhiên hoang dã trở thành “tội phạm”?

Gấu đen đột nhập nhà dân, cây cối bị tình nghi gây ra án mạng, con nai băng qua đường không đúng luật. Nếu thiên nhiên phạm luật thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Published

on

Trong thế giới ngày càng đô thị hóa, ranh giới giữa lãnh địa con người và thiên nhiên hoang dã trở nên mong manh hơn bao giờ hết, dẫn đến những cuộc "chạm trán" dở khóc dở cười. Mary Roach đã khám phá thế giới kỳ thú nơi luật pháp - con người giao thoa, xung đột với bản năng tự nhiên trong Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật.

Giải mã "tội ác" của thiên nhiên

Mary Roach mở đầu Fuzz bằng cách đặt ra một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng lại khơi gợi vô số vấn đề phức tạp: Điều gì xảy ra khi thiên nhiên "phạm luật"? Không chỉ là những con thú lớn như gấu hay báo sư tử gây rắc rối ở vùng ngoại ô, danh sách "tội phạm tự nhiên" của Roach còn bao gồm cả những loài chim ăn trộm nông sản, những con khỉ tinh ranh ở Ấn Độ, những hạt đậu độc gây chết người hay thậm chí là những cái cây vô tri bị xem là mối nguy hiểm tiềm tàng.

Roach không ngồi yên trong phòng viết mà xông pha thực địa. Bà tham dự một khóa học về an toàn khi gặp thú dữ, theo chân các nhà khoa học điều tra hiện trường các vụ tấn công của động vật hoang dã, thậm chí nếm thử các loại thực vật bị xem là "có vấn đề".

Sách Fuzz - Khi tự nhiên phạm luật (trái) và tác giả Mary Roach.

Khi tìm hiểu về những con voi ở Bắc Bengal thích chè chén, say xỉn, bà cho biết voi uống thứ mà dân làng thường uống: haaria, loại rượu pha chế tại nhà được lên men và dự trữ với số lượng đủ để làm say một con voi. "Theo Sĩ quan Raj, có hai điều xảy ra khi voi say xỉn. Hầu hết chỉ lạc đàn và ngủ quên. Nhưng dường như mọi đàn đều có một kẻ say xỉn hung hăng, thường là con đầu đàn hoặc voi đực đang trong kỳ musth. Trên đời, dù bạn có muốn mạo hiểm thế nào chăng nữa thì cũng phải tránh xa một con voi đực say xỉn", Roach viết.

Trọng tâm của Fuzz không phải là việc kết tội thiên nhiên mà là nỗ lực giải mã những hành vi bị xem là "phạm luật" ấy dưới góc độ khoa học. Tác giả đưa độc giả đi sâu vào thế giới của sinh thái học hành vi, di truyền học bảo tồn, khoa học pháp y động thực vật và quản lý động vật hoang dã.

Cụ thể như việc tìm hiểu các nghiên cứu tập tính nhằm hiểu rõ hơn về cách động vật di chuyển, kiếm ăn, và phản ứng với sự hiện diện của con người, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn, như thiết kế hàng rào chống gấu, tạo hành lang di chuyển an toàn cho động vật hoang dã...

Con người nằm ở đâu trong "tội ác" này?

Một trong những thông điệp ngầm nhưng mạnh mẽ xuyên suốt Fuzz là sự tự vấn về vai trò của con người trong các cuộc xung đột với thiên nhiên. Mary Roach đặt câu hỏi: Liệu việc phá hủy môi trường tự nhiên, thay đổi cảnh quan, để thức ăn ngoài trời, vứt rác không đúng cách đã vô tình "mời gọi" động vật hoang dã vào những tình huống rắc rối?

Theo tìm hiểu của Roach, một con gấu vào khu dân cư tìm thức ăn không phải vì nó "xấu tính". Mà có thể vì nguồn thức ăn tự nhiên của nó bị suy giảm hoặc vì thùng rác của con người quá hấp dẫn, dễ tiếp cận. Bà không đổ lỗi cực đoan nhưng chỉ ra nhiều "tội ác" của thiên nhiên thực chất là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành động của con người.

Cuốn sách cũng nhắc đến những tình huống tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, thực tiễn trong việc quản lý xung đột. Từ những người ủng hộ biện pháp cứng rắn để bảo vệ tài sản và tính mạng con người, đến những nhà bảo tồn nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhân đạo hơn, tác giả để độc giả tự suy ngẫm về sự phức tạp của việc tìm kiếm điểm cân bằng. Làm thế nào để vừa bảo vệ lợi ích của con người, vừa tôn trọng quyền sống và không gian sinh tồn của các loài khác?

Theo Nguyệt Dạ | ZNews

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Nếu từng khóc khi xem phim “Mưu cầu hạnh phúc”, thì đây là cuốn sách bạn nên đọc

Published

on

Trong bộ phim Mưu Cầu Hạnh Phúc (The Pursuit of Happyness) ra mắt vào năm 2006 của đạo diễn Gabriele Muccino, diễn viên Will Smith vào vai Chris Gardner - một người cha đơn thân thất nghiệp, vô gia cư, phải vật lộn giữa cuộc sống bấp bênh, những đêm ngủ ở nhà ga, và giấc mơ đổi đời từ một chương trình thực tập không lương. Đó là một hành trình đầy khổ đau, nước mắt, nhưng cũng là bản hùng ca của lòng kiên cường và khát khao vươn lên.

Cùng năm 2006, chuyên gia tâm lý học Jonathan Haidt cho ra đời Giải Mã Hạnh Phúc, một công trình kết nối những minh triết cổ đại với khoa học hiện đại để trả lời câu hỏi muôn thuở: Hạnh phúc là gì, và làm sao để có được nó?

Khi đặt nhân vật Chris Gardner bên cạnh các giả thuyết về hạnh phúc của Haidt, ta nhận ra: Có những chân lý không bị mài mòn bởi thời gian hay hoàn cảnh, chẳng hạn như việc hạnh phúc không đến từ việc trốn tránh khổ đau, mà từ cách ta bước xuyên qua nó.

Will Smith và con trai Jaden Smith trong Mưu Cầu Hạnh Phúc.

"Con voi" và "người cưỡi voi": Cảm xúc và lý trí trong hành trình sinh tồn

Tác giả Jonathan Haidt dùng hình ảnh “con voi và người cưỡi voi” để ví von mối quan hệ giữa cảm xúc (con voi) và lý trí (người cưỡi). Trong phim, Chris Gardner nhiều lần bị cảm xúc dồn vào chân tường: Khi bị đuổi khỏi nhà, khi mất chỗ ngủ, khi con trai hỏi “Chúng ta có nhà không?”. Nhưng chính trong những khoảnh khắc ấy, “người cưỡi voi” - lý trí, bản lĩnh, lòng tin của Chris - vẫn kiên định dẫn đường.

Anh không để cảm xúc giận dữ, tuyệt vọng kiểm soát mình. Anh chọn hành động, kiên trì học hỏi, giữ vững phẩm giá ngay cả khi lau dọn toilet công cộng để có thêm chút tiền. Dù cảm xúc có lúc muốn gục ngã, anh vẫn tiếp tục hành động có lý trí, không để cơn tuyệt vọng làm tê liệt mình. Những lúc phải ngủ ở ga tàu với con trai, Chris vẫn giữ lòng tự trọng và tiếp tục cố gắng, giống như một người cưỡi đang cố gắng điều khiển một con voi đầy hoảng loạn.

Điều kiện ngoại cảnh và “ngưỡng hạnh phúc”

Sách Giải Mã Hạnh Phúc chỉ ra rằng con người có “mức độ hạnh phúc” nhất định. Ta có thể vui hoặc buồn nhất thời vì sự kiện bên ngoài, nhưng sau đó sẽ quay về mức hạnh phúc trung bình của mình. Thế nhưng, Haidt cũng lưu ý rằng có những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lâu dài đến hạnh phúc: nghèo đói, cô lập, hoặc bị sỉ nhục kéo dài.

Chris Gardner trải qua gần như tất cả những điều này, nhưng thay vì cam chịu, anh đã cố gắng tìm nhiều cách khác nhau để xoay chuyển số phận của bản thân, dẫu có những lúc rơi vào cảnh nghèo túng đến mức chỉ còn vỏn vẹn 30 đô la trong ví. Vì đã nỗ lực tự mình thay đổi hoàn cảnh nên khi thành công đến, anh không chỉ nhận được phần thưởng vật chất mà kèm theo đó còn là cảm giác xứng đáng, sự gắn kết với con trai, và lòng tự tôn được củng cố.

Ý nghĩa và mục đích sống: Cội nguồn của hạnh phúc bền vững

Haidt cho rằng hạnh phúc bền vững không đến từ việc theo đuổi khoái lạc (pleasure), mà đến từ việc sống có mục tiêu, có giá trị. Chris Gardner không chỉ muốn giàu mà hơn thế nữa, anh muốn trở thành một người cha xứng đáng, một con người có giá trị. Tình yêu dành cho con trai là kim chỉ nam dẫn lối, khiến anh không bỏ cuộc dù bị cả thế giới quay lưng.

Điều này khớp với một câu nói của triết gia Friedrich Nietzsche: "Nếu bạn có một lý do đủ lớn để sống, bạn có thể chịu đựng hầu hết mọi nỗi đau." (He who has a why to live for can bear almost any how).

Hạnh phúc không phải đích đến, mà là hành trình

Cuối phim, khi Chris được nhận vào làm chính thức, anh rưng rưng cố không bật khóc giữa đám đông, chạy vội đến nhà trẻ của con trai và ôm lấy con. Đó không chỉ là giây phút hạnh phúc đơn thuần, mà còn là sự giải phóng sau bao tháng ngày chịu đựng và không từ bỏ. Từ một nhân viên chào bán thiết bị y tế, cuộc đời Chris đã thay đổi. Đó là minh chứng cho giả thuyết cuối cùng của Haidt: “Hạnh phúc không phải là thứ mà bạn có thể tìm thấy, có được hoặc đạt được một cách trực tiếp. Bạn phải có được các điều kiện phù hợp và sau đó chờ đợi. Một số điều kiện đó nằm trong bạn, chẳng hạn như sự gắn kết thống nhất giữa các phần và cấp độ trong tính cách của bạn. Các điều kiện khác yêu cầu mối quan hệ với những thứ bên ngoài bạn: giống như cây cối cần mặt trời, nước và đất tốt để phát triển, con người cũng cần tình yêu, công việc và sự kết nối với một điều gì đó lớn lao hơn.”

Mưu Cầu Hạnh Phúc không kể lại con đường đạt đến thành công của một người đàn ông, mà đã khắc họa lại lòng kiên trì bền bỉ và ý chí quyết tâm vượt lên số phận. Giải Mã Hạnh Phúc không dạy ta cách để luôn hạnh phúc, mà cho ta công cụ để hiểu hạnh phúc thật sự là gì. Một bên là nhân vật trong phim, một bên là những giả thuyết được đúc kết từ hàng ngàn năm trí tuệ của nhân loại, giao nhau tại điểm giữa: sự gắn kết với cuộc sống, niềm tin vào một điều tốt đẹp và cao cả hơn chính bản thân mình.

Lam

Đọc bài viết

Cafe sáng