Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Truyện cổ tích: Minh chứng cho sự khác biệt trong cách các nền văn hóa nhìn nhận thế giới

Cho dù chúng ta có nhận ra hay không thì những câu chuyện thuở nhỏ, đặc biệt là truyện cổ tích, trở thành khuôn mẫu để ta phân định cấu trúc truyện thành công là như thế nào, và cấu trúc nào sẽ khiến độc giả cảm thấy thỏa mãn.

Published

on

OUR FAIRY TALES OURSELVES: STORYTELLING FROM EAST TO WEST
Marie Mutsuki Mockett

Hôm nay là Lễ Giáng Sinh, và tôi đang ngồi đây đọc đến ba quyển sách cho đứa con trai sáu tuổi trước khi nó đi ngủ. Trong đó, có một quyển truyện Nhật Bản mà tôi chưa từng đọc, nói về thế giới của chú mèo trắng tinh nghịch mang tên Nontan.

Trong Nontan! Santa kìa!, Nontan khởi đầu hành trình trong đêm đầy tuyết, cầm theo chiếc tất Nô-en với hy vọng gặp Ông Già Tuyết và mau chóng nhận được món quà cậu mong muốn: một chiếc xe đồ chơi màu đỏ. Bên ngoài căn nhà của ba chú thỏ bạn cậu (những người đang ngủ ngon lành), Nontan thấy được Santa! Nhưng ông già Nô-en lại là một chú thỏ. Nontan được chỉ rằng cậu phải tìm ra ông già Nô-en cho mèo, vì ông già Nô-en thỏ không được phép tặng bất cứ thứ gì cho loài mèo. Bên ngoài căn nhà của bạn gấu (cũng đang ngủ say), Nontan lại tìm thấy Ông già Nô-en, nhưng tất nhiên, ông già này là dành riêng cho gấu mà thôi.

Nontan nhỏ bé lê bước mệt nhọc trong bộ quần áo ngủ, tay cầm chiếc tất Giáng sinh, và bầu trời nhanh chóng tràn ngập ông già Nô-en bay vụt qua. Trong cơn mê sảng do giảm thân nhiệt (tôi đoán thế), Nontan thấy một Santa cá vàng bơi trong bể cá trên chiếc xe tuần lộc. Có Santa tuần lộc, Santa rắn (được kéo bởi hai con rắn khác), Santa cua (được kéo bởi một con rùa), Santa nhện (đi nhờ xe của Santa người) và thậm chí cả mụ phù thủy Halloween cũng bay dạo một vòng. Nhưng chẳng có Santa mèo. Nontan nhanh chóng ngủ quên dưới một tán cây, trong khi tuyết tiếp tục rơi. Thế giới thật lạnh lẽo với một chú mèo nhỏ bị lạc trong đêm tuyết.

Tất nhiên ở phương Tây chỉ có một ông già Nô-en mà thôi (không tính ông già Nô-en trong siêu thị). Nhưng con trai của tôi, từ nhỏ đã được nghe những câu chuyện từ cả phương Tây và phương Đông, không có vấn đề gì với tình tiết lạ lùng này. Đó chỉ đơn thuần là một câu chuyện. Có một thể loại truyện khác, lấy bối cảnh Nhật Bản, trong đó thứ này luôn biến thành hàng trăm thứ khác nhau; nơi động vật, đôi lúc cả đồ ăn trong tủ lạnh, có thể nói chuyện, và mạch truyện không cần phải đi theo những xu hướng tuyến tính thông thường. Đây không phải là lần đầu tiên tôi nhận thấy: chúng ta đã mặc định phương hướng phát triển của mạch truyện từ khi còn rất nhỏ. Cho dù chúng ta có nhận ra hay không thì những câu chuyện thuở nhỏ, đặc biệt là truyện cổ tích, trở thành khuôn mẫu để ta phân định cấu trúc truyện thành công là như thế nào, và cấu trúc nào sẽ khiến độc giả cảm thấy thỏa mãn.

*

Tôi đã nghĩ rất nhiều về cách chúng ta tiếp thu các câu chuyện. Trong những năm tôi hai mươi, tôi từng nhận lá thư từ chối từ nhà xuất bản cho một bản thảo (mà bây giờ tôi hy vọng không ai đọc được nó). Lá thư có những cụm từ như “trở thành một nhà văn tốn rất nhiều thời gian”, và “có lẽ cô nên cân nhắc đến trường học hỏi.” Cô ấy cũng đề nghị tôi nên đọc The Writer’s Journey (tạm dịch: Hành trình của một nhà văn) của Christopher Vogler.

Tựa đề The Writer’s Journey được lấy cảm hứng từ quyển The Hero With a Thousand Faces (tạm dịch Người anh hùng với 1000 khuôn mặt) của Joseph Campbell, xuất bản năm 1949. Quyển sách sử dụng trường phái tâm lý học của Carl Jung để minh họa cho lý thuyết tất cả các thần thoại về cơ bản đều là một. Nhân vật chính – người anh hùng – vượt qua khó khăn trong hành trình tìm được chính mình. Ẩn chứa trong những truyền thuyết này là bí quyết hữu dụng để tiêu diệt những con rồng ẩn dụ, chế ngự Medusa (hoặc có lẽ là làm thế nào để ngay từ đầu không biến thành Medusa), và vì sao bạn không nên yêu mẹ mình nhiều quá. George Lucas ghi nhận Joseph Campbell là người đã truyền cảm hứng để ông thêm thắt những yếu tố thần thoại vào Chiến tranh giữa các vì sao, ám chỉ rằng câu chuyện của Luke và Jedi không chỉ là một bộ phim hoạt hình thứ bảy đóng gói trong dạng thức điện ảnh – bom tấn khoa học viễn tưởng này có nội dung sâu sắc hơn thế. 

The Writer’s Journey khuyến khích các nhà văn phải hiểu phương hướng kiểu mẫu của truyền thuyết để viết nên những câu chuyện hoàn hảo, kết nối được với độc giả (và sẵn tiện kiếm bội tiền). Vogler giải thích rằng quyển sách của ông là lời nhắn nhủ nội bộ đến những công ty làm phim, và nó là một trong những yếu tố quan trọng đóng góp vào sự trỗi dậy của phim Disney vào cuối thập niêm 80 của thế kỉ XX, một quá trình bắt đầu bằng Nàng tiên cá, và đạt đỉnh cao gần đây nhất là Chiến tranh những vì sao: Thần lực thức tỉnh

Vì vậy, tôi đọc The Writer’s Journey. Tôi đọc về Sự Từ Chối Lời Kêu Gọi (The Refusal of the Call – việc nhân vật chính thoạt tiên từ chối không can dự dù sứ mệnh đã xuất hiện), và nếu bạn đã xem bộ phim Chiến tranh giữa các vì sao mới đây, bạn sẽ thấy nhân vật Rey cũng trải qua Sự Từ Chối này. Tôi đã đọc về Vị Cố Vấn Thông TháiCon Đường Đi Đến Nội Tâm Trong Nhất. Tôi đọc về cách làm thế nào, trong những câu chuyện nổi tiếng, người anh hùng kết thúc cuộc hành trình và nhận được cái mà Vogler gọi là Phần Thưởng. Chỉ khi người anh hùng hoàn thành cuộc hành trình, người đọc mới được trải nghiệm cái cảm xúc mà Aristotle gọi là “sự thở phào”. Một câu chuyện chỉ thành công khi có được sự đồng cảm từ độc giả. Ta đã được trải nghiệm cảm giác đó khi E.T. về nhà (E.T.) và khi Rose sống sót qua thảm hoạ và thay đổi theo hướng tích cực hơn từ những trải nghiệm trên tàu Titanic (Titanic).

Khi Vogler viết rằng một câu chuyện thành công sẽ kích hoạt phản ứng cơ thể, tôi hiểu ý ông ấy. Ai mà không hiểu chứ? Ai mà không từng ngồi hàng giờ trước TV, xem một bộ phim làm thay đổi cảm xúc của bạn. Mặt khác, một số bộ phim và tiểu thuyết, vì lý do gì đó, có cảm giác như đang cố thao túng cảm xúc của khán giả. Vào những năm tôi hai mươi, tôi rất bực bội với những tiểu thuyết kết thúc bằng A) cái chết của ai đó và B) một em bé vừa chào đời. Không may là mọi thứ từ Fried Green Tomatoes (tạm dịch Cà chua xanh chiên) cho đến Cold Mountain (tạm dịch Núi lạnh) đều đi theo cấu trúc này. Tất nhiên là phải có em bé! Nếu tôi muốn dành thời gian cho một trải nghiệm được thiết kế để buộc tôi đẩy cảm xúc theo phương thức gượng ép nào đó, thà tôi uống thuốc ngủ Ambien.

Đồng thời, tôi cũng không muốn đọc một quyển sách mà tác giả cố ý tạo ra những tình huống không thể đoán trước được. Đã có một thời thịnh hành xu hướng giết chết nhân vật được yêu thích. Ai mà quên được người hâm mộ đã điên tiết như thế nào với bộ phim khoa học viễn tưởng Serenity (tạm dịch Tĩnh lặng) khi một tia sáng đi lạc cắt đôi nhân vật Wash một cách thô bạo? Cái chết của Wash không giống như một điều cần thiết cho mạch truyện, mà giống như biên kịch hả hê nói “Nhìn những gì mà tôi có thể làm này! Tôi có thể phá vỡ dự đoán của các bạn!” Tất nhiên là vào năm 2016, một nhân vật được yêu thích như Han Solo phải chết thôi. 

Tôi ngờ rằng, nếu bạn đang đọc bài viết này, bạn cũng là một độc giả vừa cẩn trọng mà vừa mạo hiểm tìm kiếm những trải nghiệm mới lạ. Bạn cũng đang đồng thời tìm một câu chuyện giống một câu chuyện, nhưng không phải là bản sao của những thứ bạn từng đọc trước đây. Bạn muốn được chìm đắm, muốn được thấy cảm động. Bạn muốn sự chân thật. Và tất nhiên, bạn muốn câu chuyện phải có hiệu quả.

*

Một phần tuổi thơ của tôi trải qua ở Nhật; mẹ tôi dẫn tôi đến đây mỗi mùa hè. Trong khi tôi chỉ được phép xem TV hai giờ một tuần ở Mỹ (bố mẹ tôi cực kì tin vào xếp hạng phim), ở Nhật tôi được phép xem TV bao lâu cũng được, với lý do là nó sẽ giúp tôi cải thiện tiếng Nhật. Vì vậy tôi xem quên trời. Đôi lúc tôi sẽ thấy thứ gì đó trên TV gây sự chú ý sâu sắc, kích thích trí tưởng tượng và tình yêu của tôi, nhưng đồng thời cũng khiến tôi khóc lóc nhiều đến nỗi mà mẹ phải ngồi hàng giờ, cố gắng an ủi tôi vì sự bất công hay là cái kết bi kịch trong phim; bà càu nhàu về cái nền văn hoá của chính bà đã tạo ra cái kết buồn thảm thiếu trách nhiệm như vậy. Bởi vì ở Nhật Bản, các câu chuyện có thể buồn một cách tuyệt vọng, không thể cứu vãn được. Ma quỷ có thể chiến thắng nhân loại. Người ta còn quan hệ tình dục trên TV và còn hở cả ngực. Những câu chuyện này – hay chính cuộc đời – đầy những âu lo, nhưng cũng màu sắc hơn, như thể chỉ việc sống trong phim truyền hình Nhật còn can đảm hơn ở nhà. Nhưng nó không phải là một sự âu lo giả tạo. Sống trong một thế giới vừa năng động vừa tràn ngập nguy hiểm, hậu quả là những người vô tội vẫn đang phải chịu đựng khổ đau hàng ngày.

Trong hai thập kỷ qua, thật thú vị khi chứng kiến sự thăng hoa của phim hành động Hong Kong và phim hoạt hình Nhật Bản, hay manga và anime, đặc biệt tại thị trường phương Tây. Đi kèm theo đó là sự nổi lên của một vài tiểu thuyết gia, điển hình là Haruki Murakami. Tôi nghĩ một bộ phận độc giả thích chúng là bởi vì cái cách tiếp cận câu chuyện rất “mới mẻ”.

Ví dụ như trong phim Spirited Away (Vùng đất linh hồn), cô bé nữ chính Chihiro đột nhiên bị chia tách với bố mẹ, lạc vào một thế giới khác, đầy các vị thần và các sinh vật vô hình thích tụ tập trong nhà tắm công cộng. Để quay về với bố mẹ, Chihiro phải làm việc cho nhà tắm này. Đường về nhà thì còn vòng vèo hơn cả Dorothy tìm đường về Kansas (Phù thuỷ xứ Oz). Dorothy biết rằng mình phải diệt hai trong số bốn bà phù thuỷ (tất nhiên là phù thuỷ tốt phải đẹp, và phù thuỷ xấu người thì cũng xấu bụng nốt), sau đó phải gặp Thầy Phù Thuỷ nữa. 

Đường về nhà thì không rõ ràng như vậy với Chihiro. Trong lúc làm việc ở nhà tắm, Chihiro gặp bà chủ Yubaba với cái mũi to, cái đầu quá khổ và nếp nhăn đầy mặt. Thoạt tiên, trông bà hệt như định nghĩa về mụ phù thuỷ xấu xí trong truyện cổ tích thường thấy. Nhưng khi bộ phim tiếp diễn, người ta càng ngày càng mơ hồ, liệu Yubaba có thật sự độc ác không? Khi em gái sinh đôi của bà, Zeniba xuất hiện, cùng những đặc điểm này lại tạo cảm giác ấm áp giống bà ngoại. Người lớn tuổi, với ngoại hình của họ, có thể dễ dàng đóng cả hai vai như Zeniba và Yubaba. Sự linh hoạt này xuất hiện rất thường xuyên trong những câu chuyện Nhật Bản (vậy nên ông già Nô-en ở trong thế giới của Nontan mới có vô số hình dạng như vậy). Còn chúng tôi, những người phương Tây thì chỉ mới bắt đầu được trải nghiệm điều này thôi. 

Khoảng một thập kỉ trước, tôi bắt gặp một quyển sách, một sự bổ trợ tuyệt vời cho The Writer’s Journey. Quyển The Japanese Psyche: Major Motifs in the Fairy Tales of Japan (tạm dịch Tâm thức Nhật Bản: Các mô-típ phổ biến trong truyện cổ tích Nhật) của tác giả Hayao Kawai, nghiên cứu các truyện cổ tích Nhật Bản, và vì sao những truyện này có rất nhiều ý tưởng và chủ đề tương tự nhau, nhưng lại xa lạ với độc giả phương Tây. Kawai thường được nhắc đến như là nhà tâm lý học Nhật Bản đầu tiên được đào tạo như một nhà phân tích theo trường phái Carl Jung. Nhưng khi Kawai từ Thuỵ Sĩ trở về Nhật Bản, ông nhận ra rằng một vài trong số các “quy tắc” trong việc diễn giải thần thoại không thật sự áp dụng được với văn hoá Nhật Bản. Hơn thế nữa, các câu chuyện càng không hợp với các quan niệm có sẵn của văn hoá phương Tây. 

Kawai nêu ra một ý tưởng rằng thực tại thật ra rất uyển chuyển, theo cái cách của Yubaba-Zeniba. Ông viết: “Thực tại bao gồm rất nhiều tầng lớp. Chỉ có trong cuộc sống hàng ngày, các tầng lớp mới trông có vẻ như là hợp lại thành một, vô hại với chúng ta. Tuy nhiên, những tầng lớp sâu hơn có thể phá vỡ và trồi lên bề mặt ngay trước mắt ta. Những câu chuyện cổ tích là ví dụ.” Đằng sau những tầng lớp thực tại này là gì? Nếu bạn quen thuộc với những tác phẩm của Murakami, bạn sẽ biết ông thích khám phá những thực tại ẩn sau thực tại; không phải là ngẫu nhiên mà Kawai là bạn thân của Murakami. Các nhà văn phương Tây đã bắt đầu áp dụng phong cách kể chuyện của Murakami/Kawai. Ví dụ như David Mitchell, người đã sống ở Nhật Bản, cũng có cách kể chuyện xoay vần và đảo lộn thời gian và thực tại trong tác phẩm Cloud Atlas (Bản đồ mây). 

Kawai cũng giới thiệu khái niệm “giải pháp mỹ học”. “Các câu chuyện cổ tích phương Tây thường được giải quyết bằng một cuộc xâm lược, hoặc một đám cưới. Các ví dụ thì nhiều vô kể: Nàng công chúa ngủ trong rừng, Nàng Lọ Lem, Bạch Tuyết,… Nhưng trong cổ tích Nhật Bản, hiếm khi có sự hợp nhất. Thường câu chuyện được giải quyết bởi một “giải pháp mỹ học”. Và mỹ học ở đây được hiểu là các hình ảnh từ thiên nhiên. Để lấy ví dụ, ông mở đầu quyển sách của mình với cuộc thảo luận về câu chuyện cổ tích Chim chích trong bụi

Một người tiều phu đang ở trong rừng bỗng bắt gặp một tòa lâu đài mà anh chưa từng nhìn thấy trước đó. Anh gặp một người phụ nữ xinh đẹp; cô mời anh vào nhà và nhờ anh trông nom nhà cửa khi mình đi vắng, với điều kiện là anh hứa sẽ không nhìn trộm những căn phòng phía trong. Ngay khi người phụ nữ rời khỏi, người tiều phu đã phá vỡ lời hứa. Anh dạo chơi xung quanh và gặp ba người phụ nữ đang quét nhà. Họ thấy anh và lủi đi nhanh như chim sẻ. Còn lại một mình, người tiều phu bắt đầu ăn trộm những đồ vật tinh xảo, đắt tiền ở đó. Anh nhặt một cái tổ có ba qua trứng lên. Anh làm rớt cái tổ và trứng vỡ. Người phụ nữ xinh đẹp trở về nhà và hạ nhục anh do đã “giết chết ba đứa con của nàng”. Cô hóa thân thành một con chim chích và bay đi mất. Lúc này, người tiều phu chỉ còn lại một mình trong rừng, những đồ vật đẹp đẽ đánh cắp được đã biến mất. Cái còn lại chỉ là những kí ức về cái đẹp. 

Kiểu kết này, theo Kawai, không hiếm gặp ở Nhật. Trong truyện cổ tích phương Tây, người tiều phu có thể trở thành một hoàng tử và cưới người phụ nữ xinh đẹp và bí ẩn. Nhưng ở Nhật thì không. Thay vào đó, câu chuyện kết thúc bằng “giải pháp mỹ học”: nhân vật chính chỉ còn lại một mình để suy ngẫm về sự tồn tại của bản thân trong phông nền thiên nhiên xinh đẹp. Hay có lẽ tôi đang quá áp đặt cái nhìn của phương Tây vào đây. Có lẽ sự tồn tại của anh không phải là vấn đề. Có lẽ tất cả những gì anh còn lại chỉ là những hình ảnh đẹp. 

Kawai nói: “Tại Nhật Bản, đặc biệt là thời cổ đại, giá trị hình ảnh và đạo đức là không thể tách rời. Cái đẹp có lẽ là yếu tố quan trọng nhất cần phải tìm hiểu để hiểu được văn hoá Nhật. Trong truyện cổ tích cũng vậy, phong cảnh đẹp đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc của câu chuyện.” Thật ra, “truyện cổ tích Nhật Bản nói cho chúng ta rằng thế giới thật đẹp, và cái đẹp đó chỉ hoàn hảo nếu bạn chấp nhận sự tồn tại của cái chết.” Người ta có thể viết cả chồng giấy về một kết luận này, nhưng ở đây tôi sẽ nói rằng đây là sự thấu hiểu rất quan trọng cho rất nhiều tiểu thuyết Nhật Bản, như kiệt tác The Makioka Sisters (tựa tiếng Việt Mong manh hoa tuyết) của Jun’ichiro Tanizaki, hay bộ bốn quyển sách của Yukio Mishima. Bạn cũng nên nhớ tới tác phẩm có lẽ dũng cảm nhất, quan trọng nhất đang được thực hiện để giới thiệu văn học Nhât Bản đến với người đọc phương Tây: Tôi đang nói về tờ Monkey Business, tờ tạp chí văn học biên tập bởi Roland Kelts, hợp tác với A Public Space. Thậm chí cả khi bạn chỉ đọc mỗi những câu chuyện trong này, bạn sẽ nắm bắt được một ít về cái thế giới hiện đại quen thuộc với chúng ta, nhưng trông có vẻ và có cảm giác hơi xa lạ với những người có nền tảng văn hoá khác hoàn toàn khác biệt. 

Đã khá lâu rồi tôi không đọc The Writer’s Journey, nhưng tôi khá chắc rằng nó sẽ không chứa những thông tin về việc “từng ngắm nhìn một khung cảnh đẹp đẽ, nhưng giờ đây chẳng còn gì sót lại” như là Phần Thưởng cho sứ mệnh của người anh hùng. Thế nhưng, có lẽ đây mới chính xác là thứ kiến thức mà những kẻ kiếm tìm chân thực phải chấp nhận khi họ già đi. Có lẽ, đây mới là bài học can đảm nhất. 

*

Một vài người cho rằng các câu chuyện Hollywood đang trở nên quá phổ biến trên toàn thế giới, và chúng đã làm xóa nhoà quan niệm rằng câu chuyện nên diễn biến như thế nào. Nếu những câu chuyện của chúng tôi phản ánh bản chất con người phương Tây, thì thật đáng tiếc, bởi vì tôi thấy góc nhìn của những người khác, ví dụ như cái đẹp cũng có giá trị nhân văn, cũng thú vị và đáng giá như các ý nghĩa đằng sau việc đi giết rồng. 

Trong quyển The Writer’s Journey tái bản lần ba, phần lời dẫn, thậm chí Vogler cũng thừa nhận các câu chuyện ngày nay cần trở nên phức tạp hơn. Ông viết về những đất nước e sợ thói anh hùng như Đức hay Australia (đất nước này có lẽ hơi quan ngại về chủ nghĩa anh hùng, bởi vì chính khái niệm này đã dụ dỗ họ tham gia chiến tranh vì lợi ích của những kẻ xâm lược họ – nước Anh). Ông nói về sự ra đời của máy tính và Internet và cách nó đã khiến cho chúng ta không còn trông đợi các câu chuyện phải có diễn biến tuyến tính. Ông khẳng định rằng, người ta mong đợi những câu chuyện phá vỡ cấu trúc thường thấy – điều này được đáp ứng từ nền văn hóa ngoài lãnh thổ. 

Vậy, câu chuyện của Nontan kết thúc như thế nào? Cậu ngủ quên dưới tán cây, và khi gần bị đông chết, cậu được… ông già Nô-en mèo tìm thấy. Ông già Nô-en mèo chở Nontan về nhà trên chiếc xe kéo của ông, nhưng Nontan thì hoàn toàn chẳng hay biết bởi vì cậu thiếp đi cả quãng đường. Buổi sáng, khi Nontan tỉnh dậy, cậu thấy một chiếc xe đồ chơi màu đỏ trong chiếc tất Nô-en của mình. Và cậu ra ngoài để gặp các bạn, họ cũng có những món đồ chơi mới. “Ước gì ngày nào cũng là Giáng sinh,” tất cả các con vật đồng thanh khi đang ăn bánh kem dâu tây, loại bánh truyền thống trong dịp Giáng sinh Nhật Bản. Giáng sinh đã trở thành ngày lễ ngoại nhập phổ biển tại đất nước này. Và tương tự, phương thức kể chuyện lại một lần nữa được làm mới.

Hết. 

Emma Đẹp Thần Thánh dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Marie Mutsuki Mockett, đăng tại Literary Hub.


Đọc tất cả bài viết của Emma Đẹp Thần Thánh.


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích


Trà chiều

Phân loại 22 kiểu độc giả thường gặp: Bạn thuộc kiểu nào? (phần 1)

Càng nhiều cuốn sách tồn tại, thì càng có rất kiểu yêu sách (hoặc thậm chí là ghét sách) được bộc lộ từ phía độc giả. Bạn sẽ thuộc kiểu nào?

Published

on

WHAT KIND OF BOOK READER ARE YOU? A DIAGNOSTICS GUIDE
Jen Doll

Tạp chí The New Yorker đã đúc kết ra một loạt những kiểu mẫu độc giả, trong đó Mark O’Connell đã thú nhận thói quen đọc sách có phần ngẫu hứng của mình: Anh không bao giờ đọc hết cuốn sách; anh là “một người đọc lang chạ”, một kẻ thường bỏ dở sách giữa chừng. “Lý do tôi không thể đọc hết một cuốn sách không phải vì tôi lười đọc sách, mà ngược lại, tôi rất rất thích đọc sách. Tôi không thể nói không với sách. Giả sử tôi đang đọc một cuốn tiểu thuyết mình thích. Rồi tôi đi vào cửa hàng sách và bắt gặp một chủ đề thu hút, thế là tôi mua cuốn sách ấy. Tôi bắt đầu đọc cuốn sách mới trên chuyến xe bus về nhà tối hôm đó, và đó là khoảnh khắc cuộc tình với cuốn sách đầu tiên đi vào dĩ vãng. Tôi chắc chắn rằng mình đã dồn hết tâm trí cho mối quan hệ với cuốn sách mà tôi đang đọc, nhưng tôi cũng không thể ngăn cản bản thân theo đuổi một niềm vui mới bất chợt hiện lên trong đầu. Có lẽ đó chỉ là lời bao biện cho việc thừa nhận bản thân là một kẻ đọc lang chạ, kẻ luôn khao khát mọi thứ gói gọn trong bìa sách đầy bụi.”

Càng nhiều cuốn sách tồn tại, thì càng có rất kiểu yêu sách (hoặc thậm chí là ghét sách) được bộc lộ từ phía độc giả. Bạn sẽ thuộc kiểu nào?

1. Kiểu độc giả cau có.

Ôi, bạn. Bạn cứ giả vờ là một tay độc giả cộc cằn khó tánh, nhưng thật ra bạn đang đọc ngấu nghiến cuốn sách đó, chỉ là theo một cách khác biệt mà thôi. Bạn thích cuốn sách đó nhiều như bạn ghét nó vậy, có khi thích lại chiếm phần hơn. Rồi bạn phàn nàn rằng tác giả không thể ghép hai câu lại với nhau một cách tử tế hay đoạn giữa cuốn sách đừng nên lan man như vậy hay nút thắt câu chuyện thật nhạt nhẽo? Một con voi ở màn 3? Mấy nhân vật này được khắc họa tệ hại đến nực cười! Thế này mà cũng gọi là kết luận? Ma cà rồng, thật sao? Nếu bạn là một độc giả cau có, bạn sẽ đọc ngấu nghiến đoạn bạn ghét cho đến từng chữ cuối cùng, và ắt hẳn bạn sẽ gập cuốn sách đó lại rồi ném bay nó đi với cảm giác ngập tràn thỏa mãn. Có lẽ bản thân bạn cũng là một tiểu thuyết gia nhiều tham vọng nhưng cũng đầy bất mãn.

Gợi ý cho bạn: Chạng vạng; Năm mươi sắc thái; hay bất cứ đứa con tinh thần mới nhất của những tiểu thuyết gia nổi tiếng dính liền với những lời quảng cáo bị thổi phồng.

2. Kiểu độc giả bài bản.

Chậm rãi và từ tốn chiến thắng cuộc đua, bạn đọc thân mến. Bạn sẽ là con rùa, đối nghịch với con thỏ - là kiểu độc giả ngẫu hứng thường bị phân tâm giữa chừng. Khi bạn đã mua một cuốn sách, bạn sẽ đọc nó. Bạn mua cuốn khác, bạn đọc nó. Hoặc bạn mượn một cuốn sách từ thư viện. Bạn đọc nó, rồi bạn mang trả, và mượn một cuốn khác mà bạn sẽ đọc. Bạn có thể không nhớ mình bắt đầu từ đâu, cuốn sách đầu tiên như thế nào, và bạn cũng không biết khi nào mình sẽ dừng lại. Nhưng quan trọng là, bạn sẽ hoàn thành từng cuốn sách một, bài bản và hợp lý, cho tận tới lúc đọc xong. Có thể bạn đã từng bỏ dở một cuốn sách, nhưng chỉ khi có lý do chính đáng; tuy vậy việc này vẫn khiến bạn có cảm giác rất không thoải mái, nên đâu đó bạn sẽ trở lại đọc cho xong. Bạn rất giỏi giải đố, và là người đáng tin cậy nhất trong số mọi người xung quanh.

Gợi ý cho bạn: Không có gợi ý nào hết, cuốn nào rồi bạn cũng sẽ đọc xong thôi.

3. Kiểu độc giả phá hoại.

Có phải nhà bạn rải đầy những cuốn sách chỗ này, chỗ kia, các trang sách thì bị lật tung, bìa sách thì gập lại, gáy sách thì gãy đôi, các phần của cuốn sách bị bung ra hai bên? Bạn là một kẻ tàn phá sách, nhưng bạn cũng yêu sách nhiều như vậy. Nhân vật phản ánh linh hồn của bạn là Lennie trong Của chuột và người. Bạn chỉ muốn ôm lấy cuốn sách, siết chặt lấy chúng, bạn yêu sách vô cùng và thực sự không nhận ra mình đang làm tổn thương cuốn sách. Và rồi bạn có một cuốn sách bìa mềm bị bong ra một mảng lớn, hay một ấn bản gốc bị nhúng nước trong bồn tắm. Bạn mang cuốn sách đi phơi nắng và các trang sách bị phai mờ không còn gì nữa. Nhưng bạn vẫn giữ lấy chúng, bởi vì đó là sách - thứ mà bạn yêu quý vô cùng.

Gợi ý cho bạn: Cuốn nào cũng được, miễn là bạn mua một chiếc Kindle.

4. Kiểu độc giả dồn nén[1] loại 1.

Bạn chắc chắn là một người yêu sách, và khi bạn bước vào một cửa hàng sách hay bất cứ nơi nào có sách, bạn sẽ không thể kiềm chế nổi mình và sẽ mua một hay mua thật nhiều. Khi bạn về tới nhà, bạn sẽ để chúng sang một bên, thường rất cẩn thận, như thể chúng là vật phẩm nghệ thuật; bạn trưng bày chúng trên giá sách hay đặt chúng ở cạnh giường ngủ, ngay trong tầm mắt bạn mỗi khi bạn quay sang nhìn. Nhưng bạn thật sự rất bận rộn, và một ngày, một tuần hay một tháng trôi qua trước khi bạn thực sự lật mở một trong những cuốn sách đó ra. Không phải bạn thiếu cố gắng! Khi bạn cuối cùng cũng chạm vào cuốn sách, bạn sẽ vô cùng phấn khích bởi tất cả những kiến thức, những tận cùng cảm xúc, sự hài hước và chất lượng văn chương tồn tại trong cuốn sách sẽ được bạn hoàn toàn hiểu rõ, và bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên khi phải đợi quá lâu để mở nó ra.

Gợi ý cho bạn: Những người theo chủ nghĩa bất toàn của Tom Rachman, Cô dâu công chúa của William Goldman, Lolita của Nabokov, ‎Anne tóc đỏ dưới Chái nhà xanh của Lucy Maud Montgomery.

5. Kiểu độc giả dồn nén loại 2.

Bạn không phải là người yêu sách. Bạn mua sách chỉ để khoe khoang. Nếu bạn là người giàu có, bạn có cả một thư viện ốp gỗ gụ cho mục đích này. Vì bạn không muốn lãng phí thời gian cho sách, nên chúng tôi sẽ không lãng phí thời gian thảo luận về bạn, nhưng nếu bạn cầm một cuốn sách lên đọc và yêu thích chúng, bạn có thể coi như mình đã khỏi bệnh.

Gợi ý cho bạn: Gatsby vĩ đại, Kiêu hãnh và định kiến, Anh chàng Hobbit, Cuốn theo chiều gió, Nếp gấp thời gianBiên niên sử xứ Narnia.

6. Kiểu nghiện sách thuần túy.

Hơn cả việc đọc, bạn yêu những cuốn sách của mình. Những cuốn sách cũ, mùi hương của chúng, những trang giấy ố vàng đầy vết gấp; những cuốn mới, thơm phức, sống động khi bạn lướt tay qua một chồng sách ở hiệu sách. Bạn thích những cuốn sách rao bán trên đường phố nhiều như những ấn phẩm đầu tiên có chữ ký; bạn thích sê ri “Hiệu thuốc” bìa mềm, bạn thích những cuốn bìa cứng mới được ra mắt, bạn thích tất cả. Đơn giản, bạn yêu sách. Với bạn, sách là sự hiện diện của cái đẹp, và bạn sẽ không bao giờ làm tổn thương chúng với bất kỳ giá nào.

Gợi ý cho bạn: Bất cứ gì bạn có thể chạm tay vào. Ôi Chúa ơi, nó thật tuyệt phải không nào?

7. Kẻ ghét đọc.

Bạn là phiên bản sách của những người thường tuyên bố “tôi không bao giờ xem tivi! Nhà tôi còn chẳng có tivi!” Bạn không bao giờ đọc sách, vì bạn thấy chúng dài lê thê. Bạn coi một bài viết trên blog cũng là quá dài, và luôn viết các bình luận có nội dung “TLDR - Dài quá, không đọc” để thể hiện điều gì đó ngắn gọn mà vẫn có ý nghĩa. Thật không may, bạn là một quý ngài hay một quý bà đã cự tuyệt quá nhiều, và bạn có nỗi bất an sâu sắc với việc đọc sách dẫn tới sự vô vị khi bạn nhìn vào một cuốn sách. Cầm lấy một cuốn sách – một cuốn ngắn, bắt đầu từ ý nhỏ - và mở nó ra, rồi để cho mắt bạn được dừng lại ở đó trong một vài khoảnh khắc yên tĩnh. Bạn sẽ thấy bản thân mình thay đổi, bởi vì cuộc sống mà không đọc sách là một cuộc sống buồn tẻ.

Gợi ý cho bạn: Để bắt đầu, hãy thử những cuốn truyện tranh ngắn, tiểu thuyết hình ảnh, và truyện tranh liên quan đến những chủ đề mà bình thường bạn vẫn quan tâm trên tivi.

8. Kiểu độc giả bất chấp.

Bạn là một người trưởng thành nhưng thích đọc sách dành cho người trẻ tuổi[2] hay sách thiếu nhi, hoặc bạn là một đứa trẻ thích đọc sách cho người trưởng thành. Cuối cùng cũng có một vị trí dành cho bạn trong xã hội. Sự tồn tại của bạn được thừa nhận sau nhiều năm, bạn không còn cảm thấy xấu hổ vì thói quen đọc sách lạ đời của mình. Thay vào đó, bạn đắm mình trong sự săn đuổi những trang blog về sách và cảm thấy như một phần của biệt đội tiên phong. Bạn không còn bị kiểm soát bởi những đề mục, bạn là một nhà tư tưởng tự do. Khi bạn còn học tiểu học, một thủ thư nói với bạn rằng cuốn sách đó “quá già” với bạn. Bạn đọc nó bất chấp và không có chuyện bạn dừng lại.

Gợi ý cho bạn: Với trẻ em, các tác giả Dickens, Fitzgerald, Salinger, Vonnegut, Harper Lee. Với người lớn, các tác giả Collins, Rowling, Alexie, Chbosky, Lowry.

9. Kiểu độc giả đa-zi-năng.

Đây là một cách ví von thú vị khi thú nhận mình là một độc giả ngẫu hứng; nói bạn không đọc hết cuốn sách là sai rồi. Thay vào đó, bạn sở hữu phong cách đọc sách đầy tính híp-pi hoang dã, yêu thích không ràng buộc hoặc điều gì đó tương tự. Bạn có thể bắt đầu một ngày mới với vài trang của tác giả này, sau đó đọc một chủ đề hoàn toàn khác trên tàu điện ngầm; rồi khi bạn đi làm về, bạn lại đọc một cuốn khác. Lúc bạn chuẩn bị lên giường đi ngủ, tương tự, bạn lại chọn một cuốn mới, và cứ như vậy, khi thống kê chỗ sách bạn đọc, bạn sẽ thấy bản thân có thể làm được nhiều việc[3] trong cùng một lúc. Có bao giờ bạn nhầm lẫn giữa các nhân vật hay các cú twist? Bạn có chú ý nhiều hơn tới một số cuốn sách không? Có thể. Vấn đề là, bạn không sẵn sàng để cam kết với chỉ một cuốn sách, nhưng bạn vẫn có thể xuất sắc “cưa cẩm” tất cả các cuốn sách bạn đọc.

Gợi ý cho bạn: Tuyển tập truyện ngắn và bộ sưu tập các tiểu luận, tiểu thuyết.

10. Kiểu độc giả mơ ngủ.

Bạn có cảm thấy thời gian duy nhất để đọc sách là trước khi đi ngủ? Bạn mang cuốn sách lên giường cùng bạn và nằm thật thoải mái, cuốn sách trông thật quyến rũ, nhưng bạn lại chẳng thể mở mắt ra được, và rồi kết thúc câu chuyện, bạn thức dậy lúc 3 giờ sáng với cuốn sách úp lên mặt và bóng đèn thì chưa tắt? Đừng kể với ai nhé; nếu bạn may mắn, sẽ chẳng có ai ở đó mà chứng kiến sự ngại ngùng của bạn, cứu rỗi những nhân vật trong sách suýt chút nữa đã trở thành bạn thân của bạn.

Gợi ý cho bạn: Đọc bất cứ gì bạn thích, chỉ là hãy ngồi thẳng trên ghế – trừ khi bạn lại thích ngủ với cuốn sách úp trên mặt.

-Còn tiếp-

Chú thích:

  1. Delayed onset – Ý nói sự trì hoãn trước khi bắt đầu làm gì đó, nhưng khi đã làm thì rất phấn khích, mãnh liệt.
  2. Y.A. – Young Adult
  3. Nguyên tác Irons in the fire – Thành ngữ, chỉ người có thể làm tốt nhiều việc trong cùng một lúc.

Bún Cứng dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Jen Doll, đăng tại The Atlantic.
Ảnh đầu bài: Fragonard, The Reader

*

Muôn kiểu đọc sách




Đọc bài viết

Trà chiều

Đọc lang chạ

Published

on

Trong bữa ăn trưa khoảng một tháng trước, một người bạn hỏi xem gần đây tôi có đọc cuốn sách hay nào không. Sau một thoáng cân nhắc, tôi đã hào hứng quảng bá cho cuốn tiểu thuyết Rời khỏi nhà ga Atocha của Ben Lerner. Anh bạn của tôi ưng thuận và hứa sẽ tìm đọc thử. “Tôi sẽ cho cậu mượn cuốn của tôi,” tôi bảo, “Nhưng mà tôi chưa đọc xong cuốn đó. Thực ra một vài tuần trước, tôi đã ngừng đọc nên chỉ mới xong được khoảng hai phần ba. Tôi nghĩ mình nên quay lại đọc tiếp.” Anh bạn tôi nheo mắt lại, nhìn tôi đầy hoài nghi. Chắc anh cảm thấy khó hiểu lắm. Nếu đó là một cuốn sách hay và tương đối ngắn (chỉ có 180 trang), sao tôi lại bỏ dở chứ? Một câu hỏi tuyệt vời, có khi là vô cùng cần thiết, nhưng tôi không có lấy một câu trả lời. Bỏ dở sách là một thói quen của tôi, và là một thói quen mà càng ngày tôi càng không thể tự mình dừng lại. Khi tôi đọc một cuốn sách - được khoảng một nửa cuốn - và rồi, ngay cả khi tôi thích nó, tôi vẫn bỏ nó xuống để ưu tiên làm một việc gì đó khác. Anh bạn tôi lắc đầu ngán ngẩm, với chút gì đó thất vọng, rồi lại hướng sự chú ý tới món burrito.

Thói quen đọc sách này đã được tôi tự nhận ra từ vài năm trước, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thú nhận nó với bất kỳ ai. Tôi lo lắng rằng biết đâu đây là triệu chứng của một số thiếu hụt nhân cách nghiêm trọng hoặc là một kiểu suy nhược trí tuệ trầm trọng. Trên chiếc bàn cạnh giường ngủ, có cả một chồng sách bìa mềm đặt bấp bênh đang nhìn tôi và chế giễu cái tính lăng nhăng trong việc đọc sách của tôi. Lý do tôi không thể đọc hết một cuốn sách không phải vì tôi lười đọc sách, mà ngược lại, tôi thích đọc sách rất rất nhiều. Tôi không thể nói không với sách. Giả sử tôi đang đọc một cuốn tiểu thuyết và hoàn toàn yêu thích nó. Rồi tôi đi vào cửa hàng sách và bắt gặp một chủ đề thu hút, thế là tôi mua cuốn sách ấy. Tôi bắt đầu đọc cuốn sách mới trên chuyến xe bus về nhà tối hôm đó, và đó là khoảnh khắc cuộc tình với cuốn sách đầu tiên đi vào dĩ vãng. Tôi chắc chắn rằng mình đã dồn hết tâm trí cho mối quan hệ với cuốn sách mà tôi đang đọc, nhưng tôi cũng không thể ngăn bản thân theo đuổi bất kỳ một niềm vui mới nào bất chợt hiện lên trong đầu. Có lẽ đó chỉ là lời bao biện cho việc thừa nhận bản thân là một kẻ đọc sách lang chạ, kẻ luôn khao khát mọi thứ gói gọn trong bìa sách đầy bụi.

Ngày xưa tôi không hẳn như thế. Tôi đã từng đọc xong rất nhiều cuốn sách. Không phải vì tôi bị ràng buộc bởi nghĩa vụ hay cam kết; chỉ là lúc ấy tôi không thường bồn chồn như bây giờ. Nếu tôi thích một cuốn sách, tôi sẽ kiên trì đọc hết; nếu không, tôi sẽ đặt nó xuống. Tuy nhiên, cái ranh giới giữa đọc tiếp hay không ngày càng nhạt nhòa. Vấn đề này phần nào bắt nguồn từ một số nguyên nhân khá phổ biến hiện nay: hội chứng rối loạn giảm khả năng tập trung tác động đến khá nhiều người đang sử dụng Internet. Trong hơn một thập kỷ vừa qua, khá nhiều người trong số chúng ta đang tự đào tạo bản thân để nhìn vào văn bản (hoặc không nhìn vào chúng) bằng những cách khác nhau. Bạn kích chuột vào một đường link dẫn tới một bài viết mà ai đó đã đăng trên Twitter hay Facebook. Thi thoảng bài viết đó sẽ hấp dẫn bạn và khiến bạn đọc cho tới hết; thi thoảng thì không và bạn sẽ đi làm việc khác. Tôi nhận ra rằng ngay cả khi bài viết đó thực sự hấp dẫn tôi, tôi vẫn kích chuột vào chỗ khác khi bị phân tâm bởi một đường link hay video khác được nhúng trong bài, hay bởi một mẩu tin hấp dẫn và ngớ ngẩn trên một thanh công cụ lấp lánh nào đó. Tôi không bảo rằng Internet đã cướp mất khả năng tập trung của tôi khi cần, mà đúng hơn là việc dùng hàng giờ đồng hồ online mỗi ngày khiến cho tôi bình thường hóa việc thi thoảng lại thoáng mất tập trung vì một đoạn văn bản ngẫu nhiên mà tôi gặp trên mạng. Thi thoảng tôi vẫn sẽ đọc hết sách, nhưng đó là những cuốn sách mà tôi đã nhận lời viết bài bình, hoặc đang dạy trên lớp hoặc là liên quan tới vấn đề cần thiết cho câu chuyện tôi đang viết.

Vì vậy, cái sự lăng nhăng này làm tôi lo lắng; tôi vẫn thường cảm thấy mình là một độc giả tồi tệ, một độc giả không trung thành, một tay chơi văn học liều lĩnh. Nhưng tôi thường tự bào chữa cho mình rằng việc áp đặt một loại cấm đoán đọc sách mới trong khi chưa hoàn thành sách cũ sẽ làm cho tôi đọc ít sách hơn. Chắc chắn tôi sẽ trở thành một người đọc có phương pháp và có trật tự hơn, nhưng sẽ mất đi tính đa dạng và phong phú. Một đoạn xuất hiện trong cuốn sách Cuộc đời của Samuel Johnson của Boswell – một cuốn sách mà tôi chưa bao giờ đọc xong – trong đó Johnson đã đưa ra một lời nhận xét ngắn gọn thú vị về vấn đề nên hay không đọc hết một cuốn sách đang đọc dở. “Điều này”, anh ấy nói, “Thật là một lời khuyên kỳ lạ; nó giống như việc khi bạn muốn thân thiết với một ai đó, bạn sẽ phải kè kè với người ta suốt đời. Một cuốn sách có thể hay chẳng vì lý do gì cả, hoặc chỉ có một lượng giá trị nhất định; liệu chúng ta có nên đọc hết tất cả không?” Chà, khi ta diễn giải như vậy, thì câu trả lời là không. Hãy luôn cảm thấy yên tâm vì tiến sỹ Johnson luôn ở bên bạn, và anh ấy đã chỉ ra một điều tuyệt vời – rằng chẳng ai nên nghĩ rằng cuốn sách ta đang đọc sẽ tạo nên mối liên kết mật thiết với chính ta, thực tế nó chỉ như một quan hệ xã giao thông thường – tuy nhiên cái tính cách của tôi cũng chỉ được giải thích một nửa theo cách này.

Có một cuốn sách tôi mới đọc xong gần đây, khiến cho tôi suy ngẫm về cái nghịch lý khi mà một số tác phẩm văn học có thể làm cân bằng thói quen của tôi bằng cách hòa hợp với nó. Đó là cuốn Minima Moralia của nhà triết học người Đức Theodor Adorno. Adorno đã viết nên những văn bản quyến rũ kỳ lạ trong thời gian bị lưu đày tại Mỹ trong hai năm cuối Thế chiến thứ hai và trong thời gian trải qua những hậu quả mà nó để lại. Về cơ bản, cuốn sách là tập hợp một trăm năm mươi ba bài luận và các câu châm ngôn ngắn từ chủ đề này sang chủ đề khác, và mỗi nội dung sâu sắc đó hiếm khi kéo dài quá một trang rưỡi.

Minima Moralia giống như một tác phẩm văn học hiện đại thời kỳ cuối, tựa như lý luận văn hóa Mác-xít, và theo một cách hiển nhiên, sự rời rạc của nó phản ánh một thế giới bị tàn phá mà buộc Adorno phải trốn chạy. (Phụ đề cuốn sách, Những phản chiếu từ cuộc đời bị tàn phá, gợi ý một chút đến định nghĩa của Proust về văn học như một “tấm gương phản ánh cuộc sống”, nhưng có vẻ như chiếc gương giờ đây đã bị thu nhỏ lại thành một tập hợp lởm chởm của những mảnh vụn lấp lánh, phản chiếu càng sinh động một nền văn hóa bị tổn thương.) Cuốn sách bao gồm nhiều lĩnh vực rộng lớn từ văn hóa, chính trị tới triết học trong hai trăm bốn mươi bảy chương: phân tích tâm lý học, đôi dép lê, chủ nghĩa phát xít, tình yêu, nhà hàng và khách sạn, sáo ngữ, lòng tham vô độ của xã hội với văn hóa và sự xuất hiện tinh vi của những món đồ chơi thay thế cho các trò chơi dân gian. Không phải lúc nào cũng dễ đọc – một vài bài luận chỉ bắt đầu phát huy hết ý nghĩa của chúng sau lần đọc thứ hai hoặc ba – nhưng chúng vẫn chứa đầy những điều đáng kinh ngạc được viết dưới dạng văn xuôi đẹp tuyệt vời (hoàn toàn không theo những tiêu chuẩn văn bản triết học thế kỷ XX). Có những đoạn trong Minima Moralia mà tôi yêu thích vô cùng, tới mức tôi đọc đi đọc lại với hy vọng ghi nhớ từng câu chữ. Ví dụ như đoạn này, như đang thôi miên độc giả, khiến họ thấy hiện thực hóa một khái niệm mơ hồ trở nên đầy sống động, thực tế:

Tỉnh dậy giữa giấc mơ, dù tốt hay xấu, cũng khiến người ta cảm thấy thất vọng, bị lừa dối về những điều tuyệt vời nhất trong cuộc sống. Nhưng những giấc mơ đẹp, khiến người ta thỏa mãn, thật ra rất hiếm, theo lời của Schubert, như một giai điệu ngọt ngào. Ngay cả giấc mơ đẹp đẽ nhất cũng khác biệt hoàn toàn so với thực tế, chúng ta nên nhận thức rằng những gì nó mang lại chỉ là ảo ảnh. Đây chính là lý do tại sao những giấc mơ đó lại dễ bị tàn lụi.

Trong một số bài luận, Adorno quay lại xem xét một số nghi vấn nhất định để giải quyết chúng từ những góc độ mới, nhưng thường thì không, do ông ấy không muốn nấn ná quá lâu tại những gì đã viết. Đối với một độc giả lăng nhăng như tôi, vẻ đẹp từ một cuốn sách kiểu này là cách mà nó đung đưa theo nhịp điệu bất thường từ sự chú ý của tôi.

Gần như tôi thích những lóe sáng bất chợt trong suy nghĩ của Adorno và bố cục rõ ràng trong từng đoạn văn của ông ấy, tôi thích cái cảm giác căng thẳng tột độ khi suy đoán về những gì sẽ xảy ra tiếp theo trong cuốn sách này. Tới một đoạn được ông ấy nhấn mạnh, “Trong phân tích tâm lý, không có gì là sự thật ngoại trừ sự phóng đại,” và thậm chí trước khi bạn có đủ thời gian để chiêm nghiệm về tính đúng đắn của đánh giá đó, ông ấy sẽ nói tiếp với bạn, ngay trong câu tiếp theo, một vài điều chả có mấy liên quan nhưng cũng khiến người ta chú ý như thế: “Chúng ta có thể biết ngay được chúng ta có đang hạnh phúc hay không bằng cách lắng nghe âm thanh của gió. Nó đang cảnh báo một người đàn ông bất hạnh về ngôi nhà mỏng manh của anh ta, ám ảnh anh ta trong giấc ngủ mơ màng và những cơn ác mộng. Đối với một người đàn ông đang hạnh phúc, nó lại là sự an tâm với cảm giác được bảo vệ: tiếng gió hú dữ dội chỉ chứng minh rằng cơn gió đó không còn khiến anh ta sợ hãi nữa.”

Theo cách nào đó, có một bí ẩn đầy hấp dẫn dành cho tôi nằm trong một cuốn sách giống như Minima Moralia, khiến cho tôi duy trì sự chú ý trong khi một cuốn tiểu thuyết có cốt truyện tuyến tính hoặc câu chuyện phi hư cấu không thể. Nhưng theo một cách khác, điều đó có vẻ hoàn toàn hợp lý: Adorno liên tục bỏ dở một dòng trong sự mơ hồ để viết tiếp một dòng khác, và thế là, sự thay đổi thất thường ấy khiến cuốn sách trông như một mạng lưới đan xen, có thể tốt hơn hoặc tệ hơn, nhưng lại hoàn toàn ăn nhập với thói quen đọc sách của tôi. Tôi cũng đã có những trải nghiệm tương tự với những cuốn sách theo phong cách rời rạc như vậy — Quyển sách của nỗi băn khoăn của Fernando Pessoa, Lịch sử ngắn về sự điêu tàn của Emil Cioran, Dự án Arcades của Walter Benjamin (một mê cung rộng lớn mà tôi đã từng lang thang trong vài năm qua) — nhưng chính Minima Moralia mới hấp dẫn tôi theo một cách nghịch lý nhất. Và tôi không chắc mình sẽ yêu thích cuốn sách đến thế nếu không phải vì sự ngẫu hứng của tôi. Đó vẫn là một vấn đề tôi muốn xử lý, sự ngẫu hứng này — có lẽ bằng cách đọc một phần ba cuốn sách nào đó viết về cách kiểm soát sự chú ý trong thời đại mất tập trung — nhưng cũng có những khoảnh khắc thoáng qua mà sự ngẫu hứng này không phải là một điều quá tồi tệ.

Hết.

Bún Cứng dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Mark O’Connell, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích?




Đọc bài viết

Trà chiều

Địa phương chó

Hay những điều thú vị xung quanh chuyện ăn thịt chó.

Published

on

Người châu Âu có nhiều đồng cỏ nên chuyên về nuôi bò, cừu, và dê. Chó khỏe, chạy nhanh, khôn ngoan, có thể giúp chủ rất nhiều trong việc lùa đàn thú về trại hay săn tìm những con thú đi lạc. Do nhiều năm tiếp xúc với chủ nhân nên tình cảm thân thiết giữa thú và người phát triển. Thế nhưng, luật bảo vệ súc vật nói chung và chó nói riêng chưa chắc đã nhân từ, và người ăn thịt chó không hẳn là người dã man.

Từ năm 1986, người Đức cấm bán hay ăn thịt chó. Tuy nhiên, vào những năm có chiến tranh hay thiếu thốn, thịt chó lại được bán công khai. Từ năm 1898 cho đến năm 1925, The New York Times nhiều lần đăng tin dân Đức bán và ăn thịt chó. Những bài báo này làm tôi tự hỏi liệu đây có phải là một hình thức người Mỹ kỳ thị người Đức vì họ là phe đối nghịch với Hoa Kỳ. Năm 1933 cho đến năm 1938, đảng Đức quốc xã cho ban hành bộ luật bảo vệ thú vật soạn thảo rất quy mô. Bộ luật này bao gồm luật sát sanh theo phép Kosher, luật cấm săn bắn, luật chuyên chở thú vật từ nơi này đến nơi khác bằng xe hay tàu hỏa. Arnol Arluke và Boria Sax cho rằng Nazi soạn bộ luật này với âm mưu sẽ xem loài người như súc vật chứ không xem súc vật như con người1.

Ở Hoa Kỳ, chữ dog được dùng để chỉ sausage (thịt dồi, xúc xích). Vào năm 1845, người ta phát hiện trong thịt dồi có pha lẫn thịt chó, từ đó phát xuất chữ hot dog. Việc bắt trộm chó không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác, Nhật Bản và Hoa Kỳ chẳng hạn. Trong những năm người ta vẫn dùng phương pháp vivisection (mổ động vật có xương sống lúc đang sống để quan sát hoạt động nội tạng của động vật khi vẫn đang tiếp nhận tín hiệu từ não bộ), chó thường bị bắt trộm đem bán cho các phòng thí nghiệm. Năm 1891, ở tiểu bang Indiana, môn thuốc dùng để trị bệnh lao phổi là thịt chó.

Người ta có đủ thứ niềm tin để lý luận ăn thịt chó là cần thiết. Người Ba Lan dùng mỡ chó để trị bệnh. Người Trung Quốc tin là trong thịt chó có vị thuốc, mùa đông ăn thịt chó làm ấm người. Ngược lại, người Hàn Quốc tin rằng ăn thịt chó có thể điều tiết nhiệt độ trong người, hoặc giải nhiệt. Họ ăn thịt chó nhiều nhất vào ba ngày nóng nhất trong năm.

Đa số người Nam Hàn không ăn thịt chó, nhưng có một số ít người có quan niệm chọn món ăn là quyền tự do cá nhân. Năm 1984, họ cấm bán thịt chó nhưng không kiểm soát nghiêm ngặt ngoại trừ lúc tổ chức Thế Vận Hội ở Seoul. Tháng 03.2008, một nhóm người vận động đòi được quyền công khai bán thịt chó, mở nhà hàng thịt chó nhưng không được chấp thuận. Loại chó người Nam Hàn nuôi để ăn thịt là loại chó đặc biệt thuộc giống Nureongi hay Hwangu, không phải thú cưng.

Người miền Bắc Việt Nam ăn thịt chó nhiều hơn người miền Nam. Người ta tin rằng ăn thịt chó sẽ được cường dương và giải xui, nhất là vào dịp cuối năm và cuối tháng âm lịch. Một con chó độ 20 kí có thể bán được giá tương đương với một tháng lương trung bình của công nhân, vì thế chó ở Việt Nam thường hay bị trộm. Không có tài liệu để kiểm chứng cụ thể nhưng có tin rằng giới Công giáo thường hay ăn thịt chó nhất là vào dịp Giáng sinh. Tôi, người viết bài này, nghĩ rằng rất có thể đây là sự biến thể của nghi thức tế lễ từ thời xa xưa của người Celtic sống ở Anh đến Việt Nam theo các nhà truyền giáo. Người ta thường tế lễ bằng dê và cừu, nhưng sang đến Việt Nam thì dê và cừu biến thành nai đồng quê.

Do ảnh hưởng của Phật giáo, Thiền giáo, và Thần đạo, người Nhật không ăn thịt chó. Tuy nhiên, thịt chó rất phổ biến ở Nhật Bản mãi cho đến năm 675 sau Công nguyên, khi hoàng đế Temmu ra lệnh cấm ăn thịt chó từ tháng 4 cho đến tháng 9. Vị Hoàng đế này ra trận thường xuyên, khi đi đánh giặc ông thường mang theo con chó. Ông cho rằng ăn thịt chó sẽ mang sự xui xẻo đến cho ông.

Bạn đọc thích xem phim, đọc truyện thế nào cũng biết đến tác phẩm Hachiko, dựa trên câu chuyện có thật và đẹp như huyền thoại. Chủ của Hachiko là giáo sư dạy ở đại học Tokyo. Hằng ngày Hachiko theo chủ ra nhà ga Shibuya đưa ông đi làm và buổi chiều ra nhà ga đón ông về. Ông đột ngột qua đời trong lúc giảng bài (vì thế không về bằng tàu hỏa). Hachiko đợi chủ ở nhà ga hằng ngày cho đến khi qua đời, nhất định không rời nhà ga này dù vợ con của ông giáo sư tìm cách đưa chó về và dời chỗ ở. Phim này về sau được quay lại bởi đạo diễn Lasstrom và diễn viên là Richard Gere. Người ta ngưỡng mộ Hachiko đến độ đúc tượng đồng con chó này.

Tượng Hachiko - chú chó đợi chờ
Ảnh: japanistry.com

Phim làm tôi tưởng tượng tất cả đàn ông Nhật đều đẹp trai và yêu chó như Gere vì thế hơi ngỡ ngàng khi thấy người Nhật nhập cảng thịt chó nhiều hơn thịt bò. Sau khi người Nhật đầu hàng vào năm 1945, toàn nước Nhật chỉ còn lại 16 con chó giống Akita. Đây là loại chó săn, mõm ngắn, tai vểnh, lông dày, sống ở miền bắc của Nhật (nơi gọi là xứ tuyết), rất khôn ngoan và trung thành. Vào những năm chiến tranh khi thực phẩm khan hiếm, chính quyền và quân đội Nhật kêu gọi toàn dân bán chó và nộp chó để phục vụ trong chiến tranh. Để thuyết phục người dân, tượng chó Hachiko bị hạ xuống và đem giấu đi. Bộ da chó được dùng làm lớp lót bên trong áo khoác của quân phục. Ai có chó mà không chia sẻ thịt với láng giềng bị xem là ích kỷ. Trong thời gian này chó thường bị ăn trộm hay bắt cóc2.

Thông tin rằng có người ăn trộm một con chó hai lần để đem bán cho người ta giết lấy thịt khiến dân cư mạng bàn tán và chia thành hai phái, một bên đòi giết tên trộm, bên kia kêu lên dù gì cũng không thể lấy mạng người để trả thù cho chó. Chó có quý hơn mạng người hay không? Chó không biết nói nên mình không biết câu trả lời của nó. Giữa loài người, dù bạn đứng ở phía nào, nếu là một người có lòng nhân, trả lời câu hỏi này thế nào cũng có chút áy náy xót xa. Dĩ nhiên, tôi không đồng tình với chuyện giết người đòi mạng, nhưng trộm chó là một hành động sai lầm cần phải được xét xử bằng pháp luật. Sự giận dữ của đám đông đòi xử tử người trộm chó có thể là một cách biểu lộ là người dân không còn tin tưởng vào pháp luật của chính quyền đương nhiệm. Mức độ trừng phạt phải xứng đáng với tội phạm, nhưng như thế nào thì xứng đáng? Giá một con chó bằng một tháng lương, phạt tiền gấp đôi cộng thêm phí tổn tòa án. Mấy thằng trộm ấy làm gì có tiền mà phạt. Nhà tù ở đâu có nhiều đủ để chứa và nuôi cơm mấy tên trộm chó chứ. Ngay cả ở Hoa Kỳ, tội hành hạ súc vật cũng khó được xử lý theo đúng luật pháp vì không đủ tiền và nhân lực. Xử chuyện người còn không xuể ai hơi sức đâu mà quan tâm đến chuyện chó.

Tóm lại, không chỉ nước nghèo mới ăn thịt chó. Hàn Quốc và Nhật Bản là hai nước giàu mạnh về kỹ nghệ, và Nhật có truyền thống văn hóa lễ độ bậc nhất thế giới cũng tiêu thụ thịt chó. Năm 2008, Nhật nhập cảng 5 tấn thịt chó từ Trung Quốc trong khi chỉ mua vào 4,714 tấn thịt bò. Người Mỹ không ăn thịt chó nhưng không có quyền áp đặt lên các quốc gia khác quyền tự do ăn uống. Người Việt ăn thịt chó không vì người Hàn, người Nhật, hay người Trung ăn và cũng không ngừng ăn thịt chó bởi vì bắt chước người Tây phương. Cái ý tưởng nuôi chó như nuôi cừu dê heo bò lấy thịt ở Việt Nam sẽ là một ý tưởng hay, hoặc là một hình thức kinh doanh đắc lợi. Loài người quan niệm thú vật sinh ra là để phục vụ con người. Người ta giết gấu lấy lông lấy mật lấy tay, giết voi giết tê giác lấy ngà, giết trăn và cá sấu lấy da lấy thịt. Thú vật là một kỹ nghệ lớn, chẳng những nuôi sống mà có khi còn đưa loài người đến chỗ giàu có và đầy quyền lực. Ngay cả khi yêu thú vật người ta cũng vô tình hành hạ thú vật như nhốt chim trong lồng, thiến chó thiến mèo để đoạn sản, thậm chí có người còn thuê bác sĩ thú y rút móng mèo để khỏi cào phá nệm ghế nệm giường, giết chó hoang để tránh trường hợp chó bị bệnh điên và cắn người.

Sau khi ngâm cứu loạt bài về thịt chó này tôi cũng hiểu rõ tôi hơn. Nếu thật sự yêu thú vật thì người ta nên ăn chay. Tôi không ăn chay vì vẫn còn thích ăn thịt. Tôi chưa hề ăn thịt chó nên không biết thịt chó ngon như thế nào. Có được thử món chân lợn giả cầy nhưng không thấy hấp dẫn lắm. Không thể nào biết được trước khi lâm chung tôi lại không gào thét đòi ăn một miếng thịt chó giống như một nhân vật ni cô suốt đời ăn chay lại đòi nước mắm trước khi qua đời. Với tôi, một chàng trai ôm con chó nhỏ trên tay, hay cúi người rót nước vào cái đĩa cầm trên tay cho chó uống, thấy đáng mến hơn là nhìn thấy những người mặt đỏ lựng hô hào hò hét “dzô, dzô” trước đĩa thịt chó và mắm tôm. Nếu tôi đi ngang một cửa hàng thịt chó, gia vị thơm lừng, và tôi đang đói meo thì có thể tôi sẽ cầm lòng không đậu. Bạn đọc đến đây sẽ cười bảo rằng tôi là người ba phải, nhiều trang chữ chẳng đưa đến một kết luận nào, hay đứng hẳn về phía nào.

Thế viết bài này để làm gì? Để thỏa mãn tính tò mò, để biết vì sao người ta ăn hay không ăn thịt chó. Biết để làm gì. Chẳng làm gì cả. Biết thôi, bộ chẳng đủ hay sao?

Hết.

Nguyễn Thị Hải Hà

Chú thích:

  1. Theo Wikipedia.
  2. Sherrill, Martha, “Dog Man” – An Uncommon Life on a Farwaway Mountain, New York, The Penguin Press.
Đọc bài viết

Cafe sáng