Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Truyện cổ tích: Minh chứng cho sự khác biệt trong cách các nền văn hóa nhìn nhận thế giới

Cho dù chúng ta có nhận ra hay không thì những câu chuyện thuở nhỏ, đặc biệt là truyện cổ tích, trở thành khuôn mẫu để ta phân định cấu trúc truyện thành công là như thế nào, và cấu trúc nào sẽ khiến độc giả cảm thấy thỏa mãn.

Đăng từ

on

OUR FAIRY TALES OURSELVES: STORYTELLING FROM EAST TO WEST

Marie Mutsuki Mockett

Hôm nay là Lễ Giáng Sinh, và tôi đang ngồi đây đọc đến ba quyển sách cho đứa con trai sáu tuổi trước khi nó đi ngủ. Trong đó, có một quyển truyện Nhật Bản mà tôi chưa từng đọc, nói về thế giới của chú mèo trắng tinh nghịch, Nontan.

Trong Nontan! Santa kìa!, Nontan khởi đầu hành trình trong đêm đầy tuyết, cầm theo chiếc tất Nô-en với hy vọng gặp Ông Già Tuyết và mau chóng nhận được món quà cậu mong muốn: một chiếc xe đồ chơi màu đỏ. Bên ngoài căn nhà của ba chú thỏ bạn cậu (những người đang ngủ ngon lành), Nontan thấy được Santa! Nhưng ông già Nô-en lại là một chú thỏ. Nontan được chỉ rằng cậu phải tìm ra ông già Nô-en cho mèo, vì ông già Nô-en thỏ không được phép tặng bất cứ thứ kỳ cho loài mèo. Bên ngoài căn nhà của bạn gấu (cũng đang ngủ say), Nontan lại tìm thấy Ông già Nô-en, nhưng tất nhiên, ông già này là dành riêng cho gấu mà thôi.

Nontan nhỏ bé lê bước mệt nhọc trong bộ quần áo ngủ, tay cầm chiếc tất Giáng sinh, và bầu trời nhanh chóng tràn ngập ông già Nô-en bay vụt qua. Trong cơn mê sảng do giảm thân nhiệt (tôi đoán thế), Nontan thấy một Santa cá vàng bơi trong bể cá trên chiếc xe tuần lộc. Có Santa tuần lộc, Santa rắn (được kéo bởi hai con rắn khác), Santa cua (được kéo bởi một con rùa), Santa nhện (đi nhờ xe của Santa người) và thậm chí cả mụ phù thủy Halloween cũng bay dạo một vòng. Nhưng chẳng có Santa mèo. Nontan nhanh chóng ngủ quên dưới một tán cây, trong khi tuyết tiếp tục rơi. Thế giới thật lạnh lẽo với một chú mèo nhỏ bị lạc trong đêm tuyết.

Tất nhiên ở phương Tây chỉ có một ông già Nô-en mà thôi (không tính ông già Nô-en trong siêu thị). Nhưng con trai của tôi, từ nhỏ đã được nghe những câu chuyện từ cả phương Tây và phương Đông, không có vấn đề gì với tình tiết lạ lùng này. Đó chỉ đơn thuần là một câu chuyện. Có một thể loại truyện khác, lấy bối cảnh Nhật Bản, trong đó thứ này luôn biến thành hàng trăm thứ khác nhau; nơi động vật, đôi lúc cả đồ ăn trong tủ lạnh, có thể nói chuyện, và mạch truyện không cần phải đi theo những xu hướng tuyến tính thông thường. Đây không phải là lần đầu tiên tôi nhận thấy: chúng ta đã mặc định phương hướng phát triển của mạch truyện từ khi còn rất nhỏ. Cho dù chúng ta có nhận ra hay không thì những câu chuyện thuở nhỏ, đặc biệt là truyện cổ tích, trở thành khuôn mẫu để ta phân định cấu trúc truyện thành công là như thế nào, và cấu trúc nào sẽ khiến độc giả cảm thấy thỏa mãn.

*

Tôi đã nghĩ rất nhiều về cách chúng ta tiếp thu các câu chuyện. Trong những năm tôi hai mươi, tôi từng nhận lá thư từ chối từ nhà xuất bản cho một bản thảo (mà bây giờ tôi hy vọng không ai đọc được nó). Lá thư có những cụm từ như “trở thành một nhà văn tốn rất nhiều thời gian”, và “có lẽ cô nên cân nhắc đến trường học hỏi.” Cô ấy cũng đề nghị tôi nên đọc The Writer’s Journey (tạm dịch: Hành trình của một nhà văn) của Christopher Vogler.

Tựa đề The Writer’s Journey được lấy cảm hứng từ quyển The Hero With a Thousand Faces (tạm dịch: Người anh hùng với 1000 khuôn mặt) của Joseph Campbell, xuất bản năm 1949. Quyển sách sử dụng trường phái tâm lý học của Carl Jung để minh họa cho lý thuyết tất cả các thần thoại về cơ bản đều là một. Nhân vật chính – người anh hùng – vượt qua khó khăn trong hành trình tìm được chính mình. Ẩn chứa trong những truyền thuyết này là bí quyết hữu dụng để tiêu diệt những con rồng ẩn dụ, chế ngự Medusa (hoặc có lẽ là làm thế nào để ngay từ đầu không biến thành Medusa), và vì sao bạn không nên yêu mẹ mình nhiều quá. George Lucas ghi nhận Joseph Campbell là người đã truyền cảm hứng để ông thêm thắt những yếu tố thần thoại vào Chiến tranh giữa các vì sao, ám chỉ rằng câu chuyện của Luke và Jedi không chỉ là một bộ phim hoạt hình thứ bảy đóng gói trong dạng thức điện ảnh – bom tấn khoa học viễn tưởng này có nội dung sâu sắc hơn thế. 

The Writer’s Journey khuyến khích các nhà văn phải hiểu phương hướng kiểu mẫu của truyền thuyết để viết nên những câu chuyện hoàn hảo, kết nối được với độc giả (và sẵn tiện kiếm bội tiền). Vogler giải thích rằng quyển sách của ông là lời nhắn nhủ nội bộ đến những công ty làm phim, và nó là một trong những yếu tố quan trọng đóng góp vào sự trỗi dậy của phim Disney vào cuối thập niêm 80 của thế kỉ XX, một quá trình bắt đầu bằng Nàng tiên cá, và đạt đỉnh cao gần đây nhất là Chiến tranh những vì sao: Thần lực thức tỉnh

Vì vậy, tôi đọc The Writer’s Journey. Tôi đọc về Sự Từ Chối Lời Kêu Gọi (The Refusal of the Call – việc nhân vật chính thoạt tiên từ chối không can dự dù sứ mệnh đã xuất hiện), và nếu bạn đã xem bộ phim Chiến tranh giữa các vì sao mới đây, bạn sẽ thấy nhân vật Rey cũng trải qua Sự Từ Chối này. Tôi đã đọc về Vị Cố Vấn Thông TháiCon Đường Đi Đến Nội Tâm Trong Nhất. Tôi đọc về cách làm thế nào, trong những câu chuyện nổi tiếng, người anh hùng kết thúc cuộc hành trình và nhận được cái mà Vogler gọi là Phần Thưởng. Chỉ khi người anh hùng hoàn thành cuộc hành trình, người đọc mới được trải nghiệm cái cảm xúc mà Aristotle gọi là “sự thở phào”. Một câu chuyện chỉ thành công khi có được sự đồng cảm từ độc giả. Ta đã được trải nghiệm cảm giác đó khi E.T. về nhà (E.T.) và khi Rose sống sót qua thảm hoạ và thay đổi theo hướng tích cực hơn từ những trải nghiệm trên tàu Titanic (Titanic).

Khi Vogler viết rằng một câu chuyện thành công sẽ kích hoạt phản ứng cơ thể, tôi hiểu ý ông ấy. Ai mà không hiểu chứ? Ai mà không từng ngồi hàng giờ trước TV, xem một bộ phim làm thay đổi cảm xúc của bạn. Mặt khác, một số bộ phim và tiểu thuyết, vì lý do gì đó, có cảm giác như đang cố thao túng cảm xúc của khán giả. Vào những năm tôi hai mươi, tôi rất bực bội với những tiểu thuyết kết thúc bằng A) cái chết của ai đó và B) một em bé vừa chào đời. Không may là mọi thứ từ Fried Green Tomatoes (tạm dịch: Cà chua xanh chiên) cho đến Cold Mountain (tạm dịch: Núi lạnh) đều đi theo cấu trúc này. Tất nhiên là phải có em bé! Nếu tôi muốn dành thời gian cho một trải nghiệm được thiết kế để buộc tôi đẩy cảm xúc theo phương thức gượng ép nào đó, thà tôi uống thuốc ngủ Ambien.

Đồng thời, tôi cũng không muốn đọc một quyển sách mà tác giả cố ý tạo ra những tình huống không thể đoán trước được. Đã có một thời thịnh hành xu hướng giết chết nhân vật được yêu thích. Ai mà quên được người hâm mộ đã điên tiết như thế nào với bộ phim khoa học viễn tưởng Serenity (tạm dịch: Tĩnh lặng) khi một tia sáng đi lạc cắt đôi nhân vật Wash một cách thô bạo? Cái chết của Wash không giống như một điều cần thiết cho mạch truyện, mà giống như biên kịch hả hê nói “Nhìn những gì mà tôi có thể làm này! Tôi có thể phá vỡ dự đoán của các bạn!” Tất nhiên là vào năm 2016, một nhân vật được yêu thích như Han Solo phải chết thôi. 

Tôi ngờ rằng, nếu bạn đang đọc bài viết này, bạn cũng là một độc giả vừa cẩn trọng mà vừa mạo hiểm tìm kiếm những trải nghiệm mới lạ. Bạn cũng đang đồng thời tìm một câu chuyện giống một câu chuyện, nhưng không phải là bản sao của những thứ bạn từng đọc trước đây. Bạn muốn được chìm đắm, muốn được thấy cảm động. Bạn muốn sự chân thật. Và tất nhiên, bạn muốn câu chuyện phải có hiệu quả.

*

Một phần tuổi thơ của tôi trải qua ở Nhật; mẹ tôi dẫn tôi đến đây mỗi mùa hè. Trong khi tôi chỉ được phép xem TV hai giờ một tuần ở Mỹ (bố mẹ tôi cực kì tin vào xếp hạng phim), ở Nhật tôi được phép xem TV bao lâu cũng được, với lý do là nó sẽ giúp tôi cải thiện tiếng Nhật. Vì vậy tôi xem quên trời. Đôi lúc tôi sẽ thấy thứ gì đó trên TV gây sự chú ý sâu sắc, kích thích trí tưởng tượng và tình yêu của tôi, nhưng đồng thời cũng khiến tôi khóc lóc nhiều đến nỗi mà mẹ phải ngồi hàng giờ, cố gắng an ủi tôi vì sự bất công hay là cái kết bi kịch trong phim; bà càu nhàu về cái nền văn hoá của chính bà đã tạo ra cái kết buồn thảm thiếu trách nhiệm như vậy. Bởi vì ở Nhật Bản, các câu chuyện có thể buồn một cách tuyệt vọng, không thể cứu vãn được. Ma quỷ có thể chiến thắng nhân loại. Người ta còn quan hệ tình dục trên TV và còn hở cả ngực. Những câu chuyện này – hay chính cuộc đời – đầy những âu lo, nhưng cũng màu sắc hơn, như thể chỉ việc sống trong phim truyền hình Nhật còn can đảm hơn ở nhà. Nhưng nó không phải là một sự âu lo giả tạo. Sống trong một thế giới vừa năng động vừa tràn ngập nguy hiểm, hậu quả là những người vô tội vẫn đang phải chịu đựng khổ đau hàng ngày.

Trong hai thập kỷ qua, thật thú vị khi chứng kiến sự thăng hoa của phim hành động Hong Kong và phim hoạt hình Nhật Bản, hay manga và anime, đặc biệt tại thị trường phương Tây. Đi kèm theo đó là sự nổi lên của một vài tiểu thuyết gia, điển hình là Haruki Murakami. Tôi nghĩ một bộ phận độc giả thích chúng là bởi vì cái cách tiếp cận câu truyện rất “mới mẻ”. 

Ví dụ như trong phim Spirited Away (Vùng đất linh hồn), cô bé nữ chính Chihiro đột nhiên bị chia tách với bố mẹ, lạc vào một thế giới khác, đầy các vị thần và các sinh vật vô hình thích tụ tập trong nhà tắm công cộng. Để quay về với bố mẹ, Chihiro phải làm việc cho nhà tắm này. Đường về nhà thì còn vòng vèo hơn cả Dorothy tìm đường về Kansas (Phù thuỷ xứ Oz). Dorothy biết rằng mình phải diệt hai trong số bốn bà phù thuỷ (tất nhiên là phù thuỷ tốt phải đẹp, và phù thuỷ xấu người thì cũng xấu bụng nốt), sau đó phải gặp Thầy Phù Thuỷ nữa. 

Đường về nhà thì không rõ ràng như vậy với Chihiro. Trong lúc làm việc ở nhà tắm, Chihiro gặp bà chủ Yubaba với cái mũi to, cái đầu quá khổ và nếp nhăn đầy mặt. Thoạt tiên, trông bà hệt như định nghĩa về mụ phù thuỷ xấu xí trong truyện cổ tích thường thấy. Nhưng khi bộ phim tiếp diễn, người ta càng ngày càng mơ hồ, liệu Yubaba có thật sự độc ác không? Khi em gái sinh đôi của bà, Zeniba xuất hiện, cùng những đặc điểm này lại tạo cảm giác ấm áp giống bà ngoại. Người lớn tuổi, với ngoại hình của họ, có thể dễ dàng đóng cả hai vai như Zeniba và Yubaba. Sự linh hoạt này xuất hiện rất thường xuyên trong những câu chuyện Nhật Bản (vậy nên ông già Nô-en ở trong thế giới của Nontan mới có vô số hình dạng như vậy). Còn chúng tôi, những người phương Tây thì chỉ mới bắt đầu được trải nghiệm điều này thôi. 

Khoảng một thập kỉ trước, tôi bắt gặp một quyển sách, một sự bổ trợ tuyệt vời cho The Writer’s Journey. Quyển The Japanese Psyche: Major Motifs in the Fairy Tales of Japan (tạm dịch: Tâm thức Nhật Bản: Các mô-típ phổ biến trong truyện cổ tích Nhật) của tác giả Hayao Kawai, nghiên cứu các truyện cổ tích Nhật Bản, và vì sao những truyện này có rất nhiều ý tưởng và chủ đề tương tự nhau, nhưng lại xa lạ với độc giả phương Tây. Kawai thường được nhắc đến như là nhà tâm lý học Nhật Bản đầu tiên được đào tạo như một nhà phân tích theo trường phái Carl Jung. Nhưng khi Kawai từ Thuỵ Sĩ trở về Nhật Bản, ông nhận ra rằng một vài trong số các “quy tắc” trong việc diễn giải thần thoại không thật sự áp dụng được với văn hoá Nhật Bản. Hơn thế nữa, các câu chuyện càng không hợp với các quan niệm có sẵn của văn hoá phương Tây. 

Kawai nêu ra một ý tưởng rằng thực tại thật ra rất uyển chuyển, theo cái cách của Yubaba-Zeniba. Ông viết: “Thực tại bao gồm rất nhiều tầng lớp. Chỉ có trong cuộc sống hàng ngày, các tầng lớp mới trông có vẻ như là hợp lại thành một, vô hại với chúng ta. Tuy nhiên, những tầng lớp sâu hơn có thể phá vỡ và trồi lên bề mặt ngay trước mắt ta. Những câu chuyện cổ tích là ví dụ.” Đằng sau những tầng lớp thực tại này là gì? Nếu bạn quen thuộc với những tác phẩm của Murakami, bạn sẽ biết ông thích khám phá những thực tại ẩn sau thực tại; không phải là ngẫu nhiên mà Kawai là bạn thân của Murakami. Các nhà văn phương Tây đã bắt đầu áp dụng phong cách kể chuyện của Murakami/Kawai. Ví dụ như David Mitchell, người đã sống ở Nhật Bản, cũng có cách kể chuyện xoay vần và đảo lộn thời gian và thực tại trong tác phẩm Cloud Atlas (Bản đồ mây). 

Kawai cũng giới thiệu khái niệm “giải pháp mỹ học”. “Các câu chuyện cổ tích phương Tây thường được giải quyết bằng một cuộc xâm lược, hoặc một đám cưới. Các ví dụ thì nhiều vô kể: Nàng công chúa ngủ trong rừng, Nàng Lọ Lem, Bạch Tuyết,… Nhưng trong cổ tích Nhật Bản, hiếm khi có sự hợp nhất. Thường câu chuyện được giải quyết bởi một “giải pháp mỹ học”. Và mỹ học ở đây được hiểu là các hình ảnh từ thiên nhiên. Để lấy ví dụ, ông mở đầu quyển sách của mình với cuộc thảo luận về câu chuyện cổ tích Chim chích trong bụi

Một người tiều phu đang ở trong rừng bỗng bắt gặp một tòa lâu đài mà anh chưa từng nhìn thấy trước đó. Anh gặp một người phụ nữ xinh đẹp; cô mời anh vào nhà và nhờ anh trông nom nhà cửa khi mình đi vắng, với điều kiện là anh hứa sẽ không nhìn trộm những căn phòng phía trong. Ngay khi người phụ nữ rời khỏi, người tiều phu đã phá vỡ lời hứa. Anh dạo chơi xung quanh và gặp ba người phụ nữ đang quét nhà. Họ thấy anh và lủi đi nhanh như chim sẻ. Còn lại một mình, người tiều phu bắt đầu ăn trộm những đồ vật tinh xảo, đắt tiền ở đó. Anh nhặt một cái tổ có ba qua trứng lên. Anh làm rớt cái tổ và trứng vỡ. Người phụ nữ xinh đẹp trở về nhà và hạ nhục anh do đã “giết chết ba đứa con của nàng”. Cô hóa thân thành một con chim chích và bay đi mất. Lúc này, người tiều phu chỉ còn lại một mình trong rừng, những đồ vật đẹp đẽ đánh cắp được đã biến mất. Cái còn lại chỉ là những kí ức về cái đẹp. 

Kiểu kết này, theo Kawai, không hiếm gặp ở Nhật. Trong truyện cổ tích phương Tây, người tiều phu có thể trở thành một hoàng tử và cưới người phụ nữ xinh đẹp và bí ẩn. Nhưng ở Nhật thì không. Thay vào đó, câu chuyện kết thúc bằng “giải pháp mỹ học”: nhân vật chính chỉ còn lại một mình để suy ngẫm về sự tồn tại của bản thân trong phông nền thiên nhiên xinh đẹp. Hay có lẽ tôi đang quá áp đặt cái nhìn của phương Tây vào đây. Có lẽ sự tồn tại của anh không phải là vấn đề. Có lẽ tất cả những gì anh còn lại chỉ là những hình ảnh đẹp. 

Kawai nói: “Tại Nhật Bản, đặc biệt là thời cổ đại, giá trị hình ảnh và đạo đức là không thể tách rời. Cái đẹp có lẽ là yếu tố quan trọng nhất cần phải tìm hiểu để hiểu được văn hoá Nhật. Trong truyện cổ tích cũng vậy, phong cảnh đẹp đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc của câu chuyện.” Thật ra, “truyện cổ tích Nhật Bản nói cho chúng ta rằng thế giới thật đẹp, và cái đẹp đó chỉ hoàn hảo nếu bạn chấp nhận sự tồn tại của cái chết.” Người ta có thể viết cả chồng giấy về một kết luận này, nhưng ở đây tôi sẽ nói rằng đây là sự thấu hiểu rất quan trọng cho rất nhiều tiểu thuyết Nhật Bản, như kiệt tác The Makioka Sisters (tạm dịch: Chị em nhà Makiota) của Jun’ichiro Tanizaki, hay bộ bốn quyển sách của Yukio Mishima. Bạn cũng nên nhớ tới tác phẩm có lẽ dũng cảm nhất, quan trọng nhất đang được thực hiện để giới thiệu văn học Nhât Bản đến với người đọc phương Tây: Tôi đang nói về tờ Monkey Business, tờ tạp chí văn học biên tập bởi Roland Kelts, hợp tác với A Public Space. Thậm chí cả khi bạn chỉ đọc mỗi những câu chuyện trong này, bạn sẽ nắm bắt được một ít về cái thế giới hiện đại quen thuộc với chúng ta, nhưng trông có vẻ và có cảm giác hơi xa lạ với những người có nền tảng văn hoá khác hoàn toàn khác biệt. 

Đã khá lâu rồi tôi không đọc The Writer’s Journey, nhưng tôi khá chắc rằng nó sẽ không chứa những thông tin về việc “từng ngắm nhìn một khung cảnh đẹp đẽ, nhưng giờ đây chẳng còn gì sót lại” như là Phần Thưởng cho sứ mệnh của người anh hùng. Thế nhưng, có lẽ đây mới chính xác là thứ kiến thức mà những kẻ kiếm tìm chân thực phải chấp nhận khi họ già đi. Có lẽ, đây mới là bài học can đảm nhất. 

*

Một vài người cho rằng các câu chuyện Hollywood đang trở nên quá phổ biến trên toàn thế giới, và chúng đã làm xóa nhoà quan niệm rằng câu chuyện nên diễn biến như thế nào. Nếu những câu chuyện của chúng tôi phản ánh bản chất con người phương Tây, thì thật đáng tiếc, bởi vì tôi thấy góc nhìn của những người khác, ví dụ như cái đẹp cũng có giá trị nhân văn, cũng thú vị và đáng giá như các ý nghĩa đằng sau việc đi giết rồng. 

Trong quyển The Writer’s Journey tái bản lần ba, phần lời dẫn, thậm chí Vogler cũng thừa nhận các câu chuyện ngày nay cần trở nên phức tạp hơn. Ông viết về những đất nước e sợ thói anh hùng như Đức hay Australia (đất nước này có lẽ hơi quan ngại về chủ nghĩa anh hùng, bởi vì chính khái niệm này đã dụ dỗ họ tham gia chiến tranh vì lợi ích của những kẻ xâm lược họ – nước Anh). Ông nói về sự ra đời của máy tính và Internet và cách nó đã khiến cho chúng ta không còn trông đợi các câu chuyện phải có diễn biến tuyến tính. Ông khẳng định rằng, người ta mong đợi những câu chuyện phá vỡ cấu trúc thường thấy – điều này được đáp ứng từ nền văn hóa ngoài lãnh thổ. 

Vậy, câu chuyện của Nontan kết thúc như thế nào? Cậu ngủ quên dưới tán cây, và khi gần bị đông chết, cậu được… ông già Nô-en mèo tìm thấy. Ông già Nô-en mèo chở Nontan về nhà trên chiếc xe kéo của ông, nhưng Nontan thì hoàn toàn chẳng hay biết bởi vì cậu thiếp đi cả quãng đường. Buổi sáng, khi Nontan tỉnh dậy, cậu thấy một chiếc xe đồ chơi màu đỏ trong chiếc tất Nô-en của mình. Và cậu ra ngoài để gặp các bạn, họ cũng có những món đồ chơi mới. “Ước gì ngày nào cũng là Giáng sinh,” tất cả các con vật đồng thanh khi đang ăn bánh kem dâu tây, loại bánh truyền thống trong dịp Giáng sinh Nhật Bản. Giáng sinh đã trở thành ngày lễ ngoại nhập phổ biển tại đất nước này. Và tương tự, phương thức kể chuyện lại một lần nữa được làm mới.

Hết. 

Emma Đẹp Thần Thánh dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Marie Mutsuki Mockett, đăng tại Literary Hub.

Xem tất cả những bài viết của Emma Đẹp Thần Thánh tại đây.


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích


1 Bình luận

1 Bình luận

  1. Pingback: Phép màu trong chất tưởng tượng văn chương của Miyazaki và Studio Ghibli – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Từ Sách đến Phim: 1 lít nước mắt (2005)

Gửi đến những bạn đã hoặc đang có suy nghĩ bi quan giống tôi. Hãy yêu đời nhé.

Đăng từ

on

Người đăng

Tôi đã khóc thật nhiều khi xem bộ phim 1 Litre of Tears. Khóc bắt đầu từ tập 8 cho đến cuối tập 11. Có lẽ, tập khiến tôi khóc nhiều nhất là tập 11. Tôi khóc hầu như suốt 45 phút. Lần đầu tiên, tôi coi phim mà phải bấm nút pause nhiều đến như vậy. Không phải bấm pause để dò từ điển mà là bấm pause để tôi có thể… khóc. Tôi khóc lúc nào mà chẳng hay…đến khi biết được thì nước mắt đã tràn ra quá nhiều làm nhòe cái mắt kiếng. Tôi phải dừng lại cũng là để lau mắt kiếng, lau những giọt nước mắt đang chảy dài trên khoé mắt.

Khóc… khóc nhiều đến nỗi tôi có cảm giác chưa bao giờ tôi được khóc thoải mái như thế. Đã một năm rồi tôi không khóc. Tôi còn nhớ lần cuối cùng tôi khóc đó là khi tôi ở ngay trước ghế đá của văn phòng đoàn trường mình. Trước đó, tôi đã đứng ở ngoài sân một vài phút để khóc trong mưa, để nước mưa có thể lau đi những giọt nước mắt của tôi. Ừ… thì đúng là nó đã lau thật. Nhưng rồi chỉ một vài phút sau khi ngồi vào băng ghế đá… tôi lại khóc tiếp tục.

Lần đó… tôi cứ ngỡ là mình sẽ không bao giờ khóc được nữa. Cho dù từ đó tới nay, đã có rất nhiều chuyện buồn xảy đến với tôi, tôi cũng đã đọc… đã coi thêm rất nhiều câu chuyện buồn nhưng…vẫn không khóc. Thật là một lời cảm ơn kì lạ nhưng… tôi vẫn muốn cảm ơn 1 Litre of Tears vì đã cho tôi khóc, cho tôi những giọt nước mắt để tôi biết hóa ra những nỗi đau mà mình đã gánh chịu còn nhẹ hơn mây trời…

Chọn một con đường dài cũng không phải là một việc quá ngốc

Nếu như tôi có thể làm một bông hoa, tôi sẽ chọn làm một nụ hoa trước tiên. Tôi sẽ quí trọng tất cả mọi giây phút bắt đầu của tuổi trẻ…

Khi xem 7 tập đầu, tôi cứ ngỡ mình là người cứng rắn vì tôi đã không khóc một chút gì cả trong khi tôi nghe dân tình trên mạng nói là họ khóc suốt bộ phim. Nhưng rồi… không ngờ… cuối cùng nó cũng đã đánh gục tôi ở tập 8.

Tuy những tập trước đó tôi không khóc nhưng mà khi xem vẫn cảm thấy rất buồn. Ngay từ tập 1 đã thế.

Aya cùng với Haruto được phân công làm người đại diện cho lớp (có thể hiểu nôm na là lớp trưởng, lớp phó). Có một buổi lễ của trường mà mỗi lớp phải chọn ra một bài nhạc để trình diễn. Đương nhiên là Aya và Haruto phải có trách nhiện về việc này nhưng khi Aya hỏi ý kiến,  ai trong lớp cũng từ chối việc tham gia.

Khi xem đến đoạn đó, tôi như thấy được hình ảnh của mình trong đó. Mà không phải chỉ mình tôi, tôi nghĩ hầu hết (không phải là toàn bộ) các học sinh đều không mấy nhiệt tình khi tham gia vào các phong trào chung của lớp. Đặc biệt là khi học cấp III, do bận bịu việc học, ai cũng sợ rằng tham gia vào các hoạt động như thế thì sẽ mất đi quỹ thời gian học tập quí báu của mình. Hậu quả là mỗi khi lớp có phong trào gì thì cũng chỉ có một thành phần nhất định trong lớp năng nổ tham gia. Đó là một thực tế mà lớp nào cũng có, trường nào cũng có. Đặc biệt với Nhật lại càng đúng khi có thành ngữ “ 4 đậu, 5 rớt” dành cho các học sinh cấp III. Nghĩa là một học sinh nếu một ngày chỉ ngủ 4 tiếng thì sẽ đậu đại học còn nếu như ngủ từ 5 tiếng trở lên thì sẽ rớt đại học.

Đáng lẽ ra, Aya chỉ cần ôm công việc một mình nếu như cả lớp không chịu làm. Nhưng…cô vẫn đứng trước lớp cố thuyết phục mọi người, không phải vì cô sợ làm một mình, cô chỉ là muốn cả lớp cùng làm. Tôi đã rất xúc động khi nghe những lời nói đó:

“Ba của tớ hiện đang mở cửa tiệm là đậu phụ…  ừm… nhưng trước đó ba đã không muốn làm công việc này chút nào dù đây là nghề mà bà nội tớ đã làm và luôn bắt ba tớ phải làm như thế. Ba đã chọn làm một công việc trong văn phòng. Nhưng dường như việc cứ ngồi một chỗ không thích hợp với ba. Rồi ba lại làm cho một tiệm đồng hồ, sau đó ông lại bỏ và đi làm cho một tiệm sửa quần áo… ba tớ đã làm rất nhiều công việc nhưng rồi cuối cùng ông lại quay trở về làm đậu phụ và thành công làm cho tới bây giờ. Có thể nói là ba tớ đã đi một con đường vòng khá dài nhưng bây giờ những công việc ngày xưa mà ông làm chẳng hề lãng phí chút nào cả. Ông làm cho tớ một cái đồng hồ… những bộ quần áo mà mọi người bảo rằng lỗi thời…nhưng mà… tớ… tớ chỉ nghĩ rằng đi một con đường dài như thế cũng không hẳn là một điều ngu ngốc. Chúng ta vẫn còn nhiều thời gian mà. Tại sao chúng ta không thử làm những việc mà chúng ta nghĩ rằng chúng ta sẽ không bao giờ làm. Tớ chỉ muốn cả lớp có thể tham gia cùng nhau thôi chứ không muốn một cá nhân riêng lẻ nào…”

Tôi đã rất xúc động khi nghe những lời nói đó. Ai cũng muốn chọn cho mình một con đường ngắn nhất, dễ đi nhất. Ai cũng sợ đường dài, đường vòng dù họ cũng biết là hầu như không thể đi một con đường đời bằng phẳng nhưng vẫn cố gắng trốn tránh việc đó… Tại sao chúng ta không nghĩ rằng trong khi chúng ta tránh đi những con đường dài thì bản thân chúng ta cũng đang mất thời gian vì phải trốn tránh? Tôi nghe đắng nơi cổ họng vì biết mình luôn trốn tránh. Tôi cũng đã trốn tránh ước mơ của chính bản thân mình vì tôi sợ con đường của tôi đi quá dài…

Nhưng mà… khi Aya nói câu: chúng ta vẫn còn rất nhiều thời gian thì lúc đó phim lại chiếu tới đoạn mẹ của Aya nhe bác sĩ nói rằng cô bị mắc bệnh  Spinocerebellar Degenaration. Căn bệnh quái ác này không làm người ta chết ngay mà dần dần giết đi các khả năng của người bệnh: đầu tiên sẽ là đi không vững, rồi sau đó sẽ gặp khó kăn trong việc nói nhìn… rồi phải ngồi xe lăn… rồi không đi được nữa… nói cũng không được… mất dần… mất dần… cuối cùng là…

… chết!…

Đối với mọi người thì thời gian còn rất dài nhưng với Aya, chỉ có một tương lai duy nhất đang đợi cô ở phía trước vì căn bệnh này là không thể chữa khỏi được.

Nếu tôi có thể là một bông hoa, tôi sẽ chọn là một nụ hoa trước tiên. Tôi sẽ quí trọng tất cả mọi giây phút bắt đầu của tuổi trẻ…

Chỉ cần yêu thương và được yêu thương đã là một việc đáng tự hào

Trong 1 Litre of Tears, không chỉ có tình yêu mà tất cả mọi tình cảm giữa người và người đều được thể hiện một cách xúc động. Tôi thật sự xúc động với tình cảm gia đình của Aya.

Khi Aya bắt đầu không thể đi lại một cách bình thường, những bước đi của cô luôn chậm chạp và trông giống như một con chim cánh cụt. Mọi người đều nhìn cô bằng ánh mắt thương hại. Bạn nghĩ sao khi có một người chị như thế? Tự hào hay xấu hổ?

Hiroki là em trai của Aya. Cậu rất thích chơi đá banh ở vị trí tiền đạo nhưng có điều… cậu vẫn chưa được vào đội tuyển. Khi thấy em trai mình tập đá ngoài bãi sân trống không khung thành, Aya đã chỉ phương pháp để tập luyện hiệu quả hơn: đó là lấy phấn vẽ một khung thành giả lên bức tường, cậu chỉ cần luyện tập bằng việc đá banh vào khung thành ấy. Aya bảo:

“Em không thể đá mà không có mục tiêu cụ thể nào được. Bằng việc làm như thế này, em sẽ tập luyện hiệu quả hơn.”

Kết quả là trình độ đá bóng của cậu tiến bộ hẳn và cậu được chọn vào đội tuyển. Lúc đó, đám bạn của câụ đã rất ngạc nhiên vì đó là lần đầu tiên Hiroki được chọn. Khi được bạn bè hỏi tại sao lại tiến bộ nhanh như thế, cậu đã tự hào mà trả lời rằng:

“Là chị Aya của tớ đã chỉ tớ phương pháp tập luyện. Chị ấy rất xinh, thông minh, học giỏi và cả chơi thể thao cũng giỏi nữa.”
“Ngưỡng mộ quá. Cậu có thể cho chúng ta gặp chị ấy một lần được không?”

Một khoảng lặng vì đó là hình ảnh của chị cậu ngày xưa. Bây giờ chị cậu đã không còn được như thế nữa. Điều đó làm cậu cảm thấy xấu hổ, không muốn cho bạn bè của mình gặp chị.

Nhưng một đám bạn của cậu cũng đã tình cờ gặp được Aya. Và thế là chúng dè bỉu chị cậu trước mặt cậu…cậu cố chịu đựng vì cho rằng không còn sự lựa chọn nào khác.

“Cậu là đồ nói láo. Chị của cậu không được như câu đã nói. Đi đứng còn không vững, cứ như chim cánh cụt ấy thì làm sao mà chơi thể thao giỏi cho được.”

Nhưng Ako-chị của cậu và là em của Aya thì lại không thể chịu đựng như thế:

“Tại sao em lại im lặng? Tại sao lại để cho chúng xỉ vả chị Aya trước mặt em như thế. Chẳng lẽ em không hề có một chút tức giận gì sao?”
“Bởi vì em không có sự lựa chọn nào khác.”

“Không có à… Nếu là chị thì chắc chị sẽ hét toáng lên mất… Em… thật ngốc đấy. Chị Aya của chúng ta rất đáng ngưỡng mộ. Chị tự hỏi nếu là chị mắc căn bệnh giống như chị Aya, chị thậm chí sẽ không dám đi ra ngoài đường… sẽ không thể mỉm cười khi có một ai nói những lời trêu chọc mình…và em biết gì nữa không, chị Aya đã khâu tên của em lên chiếc áo em sẽ bận để thi đấu vào ngày chủ nhật này đấy. Chị ấy rất khó khăn để làm việc đó nhưng vẫn cố gắng làm vì em…vì chị ấy nói làm như thế coi như để tập trị liệu cho ngón tay. Vì làm chậm nên chị ấy đã phải hi sinh cả khoảng thời gian ngủ của mình, thức trắng đêm để khâu cho em… vậy mà… tại sao em lại nỡ đối xử với chị ấy như thế?”

Và Aya đã tình cờ nghe hết mọi chuyện. Cô vốn dĩ rất muốn xem em mình thi đấu nhưng khi biết em mình xấu hổ về mình, Aya không trách em mà chỉ trách bản thân mình đã làm gánh nặng cho em, trách mình vì sao chỉ nghĩ đến cảm xúc của mình là rất muốn đi xem mà không nghĩ đến cảm xúc của em.

“Chủ Nhật này chị tình cờ có việc bận nên sẽ không thể đi coi em thi đấu được đâu. Chị phải đi xem phim với Mari.”

Nhưng buổi sáng chủ nhật ấy, Hiroki đã viết một mẩu giấy để lại trên bàn cho Aya:

Em rất muốn chị xem em chơi bóng. Chị Aya hãy đi xem em chơi bóng. Chị nhất định phải đi đấy. Nhất định

“Con…con có thể đi xem em thi đấu được hả mẹ..?”
“Được mà. Nó đã cảm thấy hối hận rồi và  không phải nó đã để lại mẩu giấy viết nó muốn như thế rồi còn gì…?”

Lúc này, khi Aya đến xem thì cậu đã không còn xấu hổ nữa mà tự hào giới thiệu với tất cả mọi người trong đội bóng:

“Đây là chị Aya của tớ-người đã chỉ tớ cách tập bóng.”

Tôi chợt hiểu ra sự khác nhau trước và sau khi Hiroki nghe những lời nói của Ako có lẽ là sự nhận thức của cậu về tình yêu thương mà Aya dành cho mình và.…có lẽ chỉ cần yêu thương  và được yêu thương cũng là một việc đáng tự hào rồi…

Tôi biết rằng cuộc sống của tôi bây giờ đã khác trước rất nhiều nhưng tôi vẫn muốn tin trong hàng ngàn con mắt nhìn tôi soi mói…vẫn có những người quan tâm và luôn dõi theo tôi.

Hạnh phúc là khi giúp đỡ được những người xung quanh

“Se..nsei…sắ..p.. đ..i kh..ỏi bệ..nh v..iện nà..y?”
“Đâu có.”
“Vậ..y l..à se..nsei vẫ..n.. ở lạ..i?…T..hậ..t… t…ốt q..uá…”
“Ừ. Tôi sẽ ở lại đây mãi.”
“Vậ…y s…ensei… có t…hể …lấ…y …em.. r…a …cho… v…iệc.. ng..hiên …cứ…u củ…a …sen..sei… đư…ợc… khôn…g?”

“Ý em là tôi có thể sử dụng cơ thể của em để nghiên cứu phương pháp trị liệu à?”
“Ừm….V…ì e…m mu..ốn.. ma..u …ch…óng… giúp… n…hững… ng…ười… c…ũng …mắ…c …că…n …bệ..nh …giố…ng… nh…ư …mì…nh… c…ó ..th…ể ch…ữa.. k…hỏi… ..E..m …cũ…ng …m..uốn… g..iúp… se…nsei… n..ữa …vì.. se..ns..ei đã.. t…ận.. t..âm …cứ…u c..hữ..a …ch..o.. e..m ..nh…ưn..g ch..ưa ba…o gi..ờ e…m ..cả…i th…iện đư…ợc s…ức …kh…ỏe.. c..ủa.. m..ìn..h ..cả…”

Đó là đoạn gần cuối phim khiến tôi khóc nhiều nhất. Aya lúc đó đã không còn có thể nói chuyện một cách rõ ràng nữa. Cô cứ bập bẹ từng tiếng một cách thật khó khăn nhưng vẫn cố gắng nói ý nguyện của mình. Vì cô luôn cảm thấy mình có lỗi với mọi người, là gánh nặng của mọi người. Trong khi mọi người luôn giúp đõ cô thì cô chẳng thể làm được vì để giúp đỡ lại họ cả.

“Mẹ à… con sống là để làm gì hả mẹ?”
“Con không thấy sao… đây là những cuốn nhật kí mà con đã viết. Con vẫn còn có thể làm công việc này mà. Hãy cố gắng viết đi con.”

Và thế là, dù ngay cả đôi tay bây giờ cũng không còn dễ dàng cho việc cầm bút, ngày ngày cô vẫn cặm cụi bên giường bệnh viết nhật kí. Có hôm viết đến quên nỗi ngồi ngủ gục. Tôi thương lắm những con chữ to đùng, nguệch ngoạc mà Aya đã viết. Có thể nó xấu xí nhưng người chủ nhân viết nó có một tâm hồn thật đẹp…

Cuốn nhật kí 1 littoru no namida đã được liệt vào hàng sách best-seller của Nhật Bản. Dù đã được xuất bản hơn chục năm nay nhưng đến bây giờ vẫn còn ăn khách. Phim dựa trên chuyện có thật của một cô gái tên là Kito Aya. Dù bị căn bệnh hành hạ từ năm 15 tuổi nhưng cô vẫn cố gắng sống cho đến năm 25 tuổi.

Xin kết lại bài viết của tôi bằng lời bài hát cuối phim có tên là Only Human do K trình bày:

Bên kia nỗi buồn là nụ cười

Phía bên kia nỗi buồn có những điều được gọi tên bằng nụ cười…
Nhưng trước khi chúng ta có thể đến được đó, điều gì sẽ chờ đợi ta ở phía trước?

Để theo đuổi ước mơ của mình, chúng ta  không có quyền chạy trốn
Chúng ta đã bước qua, quá xa rồi những ngày hè ấy…

Nếu đợi đến ngày mai mới nhận ra, chúng ta sẽ thở dài
Bởi vì như chiếc xuống trên dòng suối
Chúng ta phải đi thẳng về phía trước

Ở một nơi bị bao trùm bởi đau buồn
Vẫn còn điều gì đó gọi là kì tích, là chờ đợi…
Phải! Chúng ta vẫn đang tìm kiếm
Bông hoa hướng dương nở vào cuối xuân
Như một người chiến sĩ chờ đợi ánh nắng mặt trời
Trước khi anh ta có thể ôm những tia nắng đó, nước mắt anh long lanh rơi…

Dù chúng ta đã trưởng thành từ cô đơn
Chỉ cần dựa vào ánh sáng của mặt trăng
Chúng ta phải bay xa với một đôi cánh không có lông…
Chỉ cần đi về phía trước, dù chỉ đi xa hơn được một chút

Khi những đám mây mang cơn mưa tan đi
Những con đường loang loáng nước
Dù có lẽ nó chỉ đem lại bóng tối
Một nguồn sáng đang lớn dần…lớn dần…
Sẽ soi sáng đường chúng ta đi.

Hết.

Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Từ Sách đến Phim: You Are the Apple of My Eye (2011)

Đăng từ

on

Người đăng

Giải quyết xong You Are the Apple of My Eye rồi…
Không nghĩ là tôi có thể khóc…

Vì đơn giản là phim 1 tiếng 49 phút thì xem đến 1 tiếng 40 phút tôi vẫn còn thấy rất bình thường, chưa lần nào quá buồn cả. Vậy mà đoạn gần kết thúc, tình huống đó bất ngờ với tôi quá… Khi nhìn anh ấy hôn chú rể của cô dâu với sự say mê mãnh liệt như thế, và tưởng tượng rằng đó là người con gái anh yêu… chính lúc đó tôi hơi ngỡ ngàng chứ cũng chưa khóc. Rồi phim kết thúc. Màn hình đen, dòng chữ credit đoàn làm phim hiện ra cũng chưa khóc. Tưởng thế là xong. Vậy mà không hiểu sao, cuối cùng cũng khóc cho được. Lại còn khóc rất nhiều. Giống như đó là nỗi buồn của tôi vậy. Lạ quá. Lần đầu tiên tôi mới khóc kiểu như thế. Trước đây chưa bao giờ như vậy. Nghĩa là, nếu phim buồn, thì tôi thường khóc ngay cảnh buồn đó, ngay khi bộ phim còn đang diễn ra chứ chẳng đợi nó hết rồi mới ngồi ôm chân một mình khóc sướt mướt như vậy. Lại cảm thấy ghét bản thân tôi vì dạo này dễ khóc quá. Nước mắt đâu mà nhiều thế. Chắc khóc luôn cho những năm tháng trước đây đã không khóc. Phải rồi, hồi cấp một, cấp hai vào trường bị bắt nạt, tôi muốn khóc lắm chứ. Nhưng tôi không thể khóc. Vì tôi chỉ có một mình. Tôi biết mình mà khóc là lại càng bị bắt nạt nhiều hơn. Do đó, tôi phải làm mặt lạnh lùng như không có gì, trò bắt nạt đó không ảnh hưởng đến tôi để mà sống, mà tiếp tục học. Nghĩ lại, không hiểu sao tôi có thể học suốt 9 năm trời trong môi trường như vậy nữa…

Trong phim, có một cảnh có lẽ với nhiều người nó là bình thường, nhưng nó làm tôi chạnh lòng. Đó là cảnh ngày lễ tốt nghiệp cuối năm, mọi người ghi đầy trên áo nhau những dòng chữ kỉ niệm. Hồi xưa, trường cấp một, hai và ba của tôi cũng như vậy. Nhưng năm nào thì những chiếc áo của tôi cũng sạch sẽ, trống trơn. Cấp một, ba cũng không có gì… Nhưng đến giờ tôi vẫn còn nhớ những ngày cuối cùng của năm cấp hai là tồi tệ nhất. Cảm giác bơ vơ, lạc lõng. Không biết phải đứng ở đâu, làm gì, đi đâu. Mọi người đem bút lông, hăm hở viết vào áo nhau. Còn tôi, chẳng có lấy một người bạn. Thế là trong giờ ra chơi thì tôi… dựa cột. Đi hết từ cột bê tông này đến cột bê tông khác trong hành lang. Chỉ như một cái mốc đánh dấu nơi đi qua. Rồi trong giờ học thì đọc truyện tranh. Còn nhớ bộ truyện tôi đọc lúc đó là Kindaichi. Cô giáo chủ nhiệm của những năm cấp hai lúc nào cũng ghi vào sổ liên lạc, hoặc nói trực tiếp với tôi rằng sao không mở lòng với bạn bè, sống như thế làm sao mà sống. Tôi chỉ im lặng. Bởi vì các cô không biết tôi bị bắt nạt. Tôi cũng không hiểu tại sao tôi lại bị bắt nạt. Ý tôi là, tôi im lặng, không nói chuyện với mọi người. Vậy thì có gì đâu? Tại sao mọi người không thể chỉ đơn giản là để cho cái đứa im lặng đó tự sống một mình lặng lẽ trong thế giới của nó mà cứ thấy nó im lặng quá rồi đi bắt nạt? Thà lờ đi sự tồn tại của tôi trong lớp còn hơn là cứ bắt nạt tôi như thế. Tôi mệt mỏi lắm… Mỗi lần mà bị cô giáo nói chuyện với tôi cuối giờ, tôi thật sự rất muốn hỏi ngược lại cô là phải làm sao đây, em phải làm sao. Đâu phải lúc nào chuyện cũng đơn giản rằng em nghĩ em muốn mở lòng là mọi người sẽ đón nhận, em nói chuyện là sẽ có người nghe? Tại sao cô không nghĩ rằng em đã từng thử? Em cũng đã từng thử rồi cô ạ… Và đã thất bại. Nên em mệt mỏi và không muốn bắt chuyện với ai nữa. Em chỉ muốn ở yên trong thế giới của em. Và viết, và viết mà thôi. Vì em khó nói nên những năm tháng đó, em mới siêng viết như thế.

Những năm tháng đó của tôi, đã chẳng có chuyện giống như những năm tháng trong phim. Chỉ là một chuỗi ngày lo sợ mai vào trường sẽ như thế nào, có bị bắt nạt nữa không, có bị bạn bè giễu cợt gì nữa không. Và một ngày trôi qua với tôi là thêm một niềm vui. Vì rằng ồ tôi đã qua được ngày hôm đó rồi sao. Và chỉ cần cố gắng qua được từng ngày, rồi sẽ đến từng tháng. Và cuối cùng là hè đến, chỉ việc ở nhà xem phim, đọc sách, viết truyện. Chẳng có một cuộc gặp gỡ với bất kì ai.

Nhưng tôi vẫn cảm nhận được, những năm tháng đó trong phim rất thật. Nó thật đơn giản bởi vì nó thật. Tôi biết đó không phải là những năm tháng của tôi nhưng lại là những năm tháng của nhiều người khác khi còn là học sinh.

Ngoài ra, tôi còn thích một chi tiết nữa. Đó là cách Kha Cảnh Đằng nói rằng: “Tớ thích hình ảnh của tớ những năm tháng ấy khi thích cậu.” Phải rồi. Thật lòng mà nói, tôi cũng có cảm giác đó. Vì vậy, tính ra là khi thích một người, thực ra người ta đang thích cả hai con người: một là chính đối tượng mình thích, hai là con người của bản thân mình khi thích người đó. Tôi nghĩ rằng đó là tình yêu lí tưởng. Yêu một người đồng thời tình yêu đó quá lớn, đến nỗi chính bản thân mình cũng thấy rằng nó đẹp, để rồi tự chính mình lại đi yêu hình ảnh của mình khi yêu người đó. Dù  sao, trong tình yêu dành cho một người nhiều như thế nào, cũng sẽ có chút phần tự yêu bản thân mà.

Tôi luôn biết một điều đơn giản rằng: chuyện gì xảy ra trong đời, dù có vẻ vô lí như thế nào, cũng đều có ý nghĩa của nó. Thế nhưng, mỗi khi gặp một chuyện buồn, một sự mất mát, không khi nào tôi có đủ bình tĩnh để nhìn ra được ý nghĩa của nó. Tất cả những gì tôi đã làm chỉ là chìm sâu hơn vào nó, đau, tiếc nuối, khóc cho những ngày đã qua.

Tôi vẫn chưa tìm ra được ý nghĩa cho sự trống rỗng hiện tại…

Nhưng, những năm tháng đó, những năm tháng đó thì tôi đã có câu trả lời rồi. Việc tôi bị bắt nạt như thế giúp tôi sau này dễ đồng cảm với nỗi đau của người khác hơn. Đó là một điều không phải dễ gì có được. Và chính vì những năm tháng đó, tôi đã luôn im lặng, không thể nói được nên tôi mới có thôi thúc viết. Chính vì khó nói lên suy nghĩ của mình nên khi viết, tôi lại càng dễ dàng diễn tả được điều tôi suy nghĩ hơn. Chính vì đã không thể sống thật là tôi, làm những gì tôi muốn ở ngoài đời thực nên tôi làm tất cả những điều đó trong thế giới do tôi tạo ra khi viết: sống thực với tôi, nói những điều tôi nghĩ và… nổi loạn. Đã luôn muốn nổi loạn nhưng ở ngoài đời chẳng có can đảm. Với tôi, viết chỉ đơn giản là thực hiện những điều tôi đã không thể làm được trong đời sống hiện thực.

Xem hơn phân nửa phim, ban đầu tôi có suy nghĩ: phim này cũng khá bình thường, hay thì có hay nhưng sao được nhiều người thích và thành công như vậy? Tôi biết, không khí phim tạo ra khá hay. Một không gian trầm mặc, điềm tĩnh, đúng chất hoài niệm và tự sự. Điều đặc biệt mà không khí phim tạo ra là cả hai mặt cảm giác về thời gian: vừa nhanh vừa chậm. Người ta vừa cảm giác được sự chậm chạp như kiểu một người bình thản kể câu chuyện đã qua của cuộc đời mình, vì nó đã qua rồi nên chẳng việc gì phải kể vội vàng. Đồng thời, đôi khi người ta cũng cảm giác thời gian trôi qua quá nhanh. Đó là do sự mất mát ở những điểm chuyển giao trong cuộc đời của các nhân vật. Có điều gì đó luôn mất mát, nhẹ nhàng, nho nhỏ thôi, khó nhận ra nhưng chắc chắn là có.

Tôi thích một đoạn nữa mà tôi nghĩ với nhiều người, có lẽ nó cũng bình thường, thậm chí với một số người có thể nó còn hơi dung tục. Đó là đoạn cả phòng kí túc xá thủ dâm khi xem phim con heo của Nhật. Mọi người đều đổ mồ hôi và lên đỉnh. Nhưng một người nói: “Cuối cùng, chúng ta làm tất cả chuyện này để làm gì…” Suy nghĩ đó cũng đã chợt đến với tôi đôi lần. Tại sao con người ta lại phải thủ dâm? Nếu không có một ai đó, tại sao không thể đơn thuần chỉ cần chờ đợi người đó đến rồi có thể từ từ làm sau cũng được, cần gì phải luôn làm trước như thế? Ngày còn bé, đương nhiên tôi không hiểu và không ủng hộ chuyện này. Lúc đó, chỉ nghĩ tại sao dục tính con người cao quá, chỉ cần yêu bằng tâm hồn cũng được mà. Nhưng sau này lớn lên dần hiểu, chỉ đơn giản thôi đó là bởi vì họ đã quá cô đơn. Vì cô đơn nên không thể chờ đợi, chờ đợi ai đó đến và chạm vào cơ thể mình. Khoảng thời gian ấy dường như quá dài… nên người ta chỉ còn cách tự chạm vào cơ thể để giải khuây. Đơn giản là vậy thôi. Tôi không hối hận vì đã xem bản uncut. Bản uncut chẳng qua chỉ đơn giản là có thêm khoảng chừng năm, sáu phút đoạn các bạn nam thủ dâm. Tôi thấy cảnh này chẳng có gì phải ghê gớm để cut cả. Cũng chẳng có gì ghê gớm để các bạn nam upload phim trên forum phải khuyên nhau rằng khi xem phim này với bạn gái, nên xem bản cut, đừng xem uncut.

Nụ hôn cuối phim, hay nhỉ…

Nếu như cô ấy muốn nghĩ đó là trò đùa trẻ con thì nó là trò đùa trẻ con. Còn nếu như nghĩ đó là tình cảm thật của anh ấy thì thêm một lần nữa, cô lại nhận ra anh ấy yêu mình nhiều như thế nào, đã muốn chạm vào mình như thế nào…

Kết thúc phim, tôi nhận ra một điều nữa: điểm đặc biệt của phim là có thể khiến người ta khóc mà không cần phải làm bất cứ một cảnh nào quá buồn hay quá cao trào. Mọi thứ cứ nhẹ nhàng diễn ra như cuộc sống. Cuộc sống thực ra cũng vốn có ít kịch tính. Nếu như cuộc sống có nhiều kịch tính thì có lẽ nó đã không khiến người ta phải đau như thế. Vì kịch tính nghĩa là cái gì cũng được đẩy lên quá mức, mà khi đẩy lên quá mức như thế người ta rất dễ dàng nhận ra mình đang buồn vì điều gì, đang mất mát đi điều gì. Còn cuộc sống ngoài đời thực thì cứ nhẹ nhàng trôi đi trên bề mặt nhưng là những nỗi buồn, những mất mát ẩn sâu bên trong, người ta khó nhận ra, không thể nhận ra được trước. Chính vì vậy, khi nó đến mới đau như thế, buồn như thế. Người ta thường dễ đau vì những điều mình đã nghĩ rằng lẽ ra nó vẫn còn tồn tại chứ không phải là mất đi như thế hơn những điều vốn ngay từ đầu đã cảm nhận được là sẽ sớm mất đi… Chính cảm giác mất mát mà không biết mình đã mất nó từ khi nào mới là thứ khiến người ta đau lòng nhất chứ không phải là chính bản thân sự mất mát. You Are the Apple of My Eye làm được điều đó. Mọi thứ thực và nhẹ nhàng nhưng lại chứa đựng sự mất mát ẩn sâu như cuộc sống.

“Khi bạn rất rất yêu một người nào đó thì bạn sẽ hạnh phúc khi thấy người đó có một người yêu thương và đang hạnh phúc…”

Phải rồi. Nếu yêu một ai đó thực sự thì tình yêu đó có thể chiến thắng được nỗi sợ hãi bị lãng quên trong mắt người mình yêu. Chỉ cần người đó được hạnh phúc là đủ rồi.

For lonely night missing the one who was always by my side…
You’re the apple of my eye.

Hết.

Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Vì sao chúng ta luôn đặt ra những cam kết đầu năm? (và vì sao ta luôn thất bại)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Đăng từ

on

Người đăng

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)

Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái từng bị chàng hắt hủi đã chết – phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton, người bảo trợ của Dorian, đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm (New Year’s resolution), ông thấy rằng hơn 50% người Mỹ đều đưa ra những dạng cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman, nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina, được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” – những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại, “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt – những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất – 82% so với mức sàn – diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất – 150% so với mức trung bình – được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng – là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

Xem tất cả những bài viết của Aki-ten tại đây.


Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!