Phía sau trang sách

William Faulkner đã dạy cho tôi cách viết văn như thế nào

Hay lời giới thiệu mới cho “Âm thanh và Cuồng nộ”

Published

on

Nhân kỷ niệm 123 năm ngày sinh của người thầy dạy tôi viết, cùng với nhạc The Carpenters.

Văn chương Mỹ thế kỷ XX có hai người khổng lồ xuất hiện như bằng chứng cho sự phát triển rực rỡ về tất cả điểm nhìn mà một nhà văn có thể khai thác được thông qua phương pháp nhìn cổ điển cùng sự chán chường cùng cực của hậu thế hệ nhạc Jazz, và vô tình hoặc hữu tình thay, họ đều là những nhà văn được trao giải Nobel với lý do tương đồng – công lao không thể thay thế trong việc định hình phong cách và sự phức tạp trong tiểu thuyết hiện đại hậu kỳ: Ernest Hemingway (tất nhiên), và William Faulkner (rất ngạc nhiên). Nói như thế để làm tỏ tường rằng, so với Mr. Papa thì Faulkner vẫn chưa nhận được sự nhìn nhận đúng đắn và dẫu cho có thì sự đúng đắn ấy chưa đủ tính xung đột để xiển dương nhà văn và tác phẩm, ít nhất là ở Việt Nam. Tới nay, chỉ có 7 tiểu thuyết trong số 13 cuốn tất cả được dịch sang tiếng Việt một cách chính chuyên và không phải dưới dạng sách ngầm, sách chui, hoặc tôi không biết, đó là: Cọ hoang, Âm thanh và Cuồng nộ, Khi tôi nằm chết, Thánh địa tội ác (mới được tái bản sau nhiều lần thét một mức giá vô cùng học sinh, sinh viên, cho những tầng lớp bình dân muốn học vụ, từ phía các account facebook khơi dậy tinh thần ham đọc sách của giới trẻ bằng cách chuyển hóa việc đọc thành một việc thiêng liêng và hợp thời: sưu tầm bản sách quý, bên cạnh sưu tầm các phiên bản S100, S500 mà một nghìn năm nữa tôi cũng không dám bước chân vào), Bọn đạo chích, Nắng tháng Tám và hình như chỉ có một chiếc truyện ngắn duy nhất trong số hơn 900 trang truyện ngắn được Random House ấn hành năm 1934 (lúc này William vẫn còn tiếp tục viết) đó là Bông hồng cho Emily. Đáng chú ý thay, ba cuốn sách quan trọng và sáng giá bậc nhất của ông là A Fable (được giải Pulitzer, trước Bọn đạo chích, rất kinh tế cho các nhà in), Absolom, Absolom! (được đánh giá ngang hàng với Âm thanh và Cuồng nộNắng tháng Tám) và Go Down, Moses vẫn chưa có ai thèm dịch, hoặc có đủ khả năng và kiên tâm để dịch. Trong khi đó, hầu như tất cả tiểu thuyết của Ernest Hemingway đều đã được xuất hiện ở Việt Nam ngay cả trước 75 và nghe đâu là trước luôn 65, chưa kể các tuyển tập truyện ngắn hùng hậu rải khắp nhà sách đất nước. Đặc biệt, Ông già và Biển cả được đưa vào chương trình lớp 12 cũng là dịp để các mầm non Tổ quốc có cơ hội tiếp cận với cây đại thụ trong nền văn chương của một đất nước mà các em thầm ngưỡng mộ chiều dài của quý, hay một ban nhạc, một người nổi tiếng, xinh đẹp nào đó, hoặc nhân vật Francis Scott Fitzgerald của nhà văn Gatsby, hoặc muôn vàn các phong trào và thuật ngữ mà các em hằng ao ước lĩnh hội hết.

Chỉ có một lý do cốt yếu mà tôi dùng để giải đáp thắc mắc cho sự vô danh của thầy tôi (dĩ nhiên là tôi đang nói về Faulkner, tôi chưa bao giờ coi Hemingway là thầy) là sự sinh sau đẻ muộn và bực dọc của ông ta. Nếu như người dịch mọi miền thế giới có thể xử lý Ernest Hemingway với vốn tiếng Anh trung tầm và khả năng ngữ pháp tầm sư phạm và được lay động con tim với trận Thế chiến II lịch lãm và con người lao động đánh đúng gót chân Achilles của dân ta, thì nếu như không nhân một đợt thiếu thốn tiền của mà viết nên Thánh địa tội ác, William sẽ vô danh. Cuốn tiểu thuyết sáng giá nhất của ông ta, thứ đem lại cho ông ta sự tung hê nhiệt tình của lớp lớp thế hệ văn chương Mỹ và lấn sang cả La-tinh – Âm thanh và Cuồng nộ, ông ta lại ngạo nghễ trả lời nó là sự thất bại rực rỡ nhất của ông, dù miệng bảo là yêu thích nhất nhưng chưa bao giờ hài lòng về nó.

Âm thanh và Cuồng nộ hấp dẫn người ta ngay từ cái global-brand danh giá, một trong những văn bản khó đọc nhất thế kỷ XX, rõ ràng là như thế. Dấu hiệu đầu tiên ta có thể thấy, tựa đề được William thuổng từ một đoạn thơ trong Macbeth mô tả một người điên. Đúng vậy, ban đầu ý định của William chỉ là muốn viết một truyện ngắn dưới góc nhìn của một kẻ khờ dại, nhìn lên cái quần nhỏ bị dính bùn của một đứa bé gái lúc trèo lên cây và nghĩ đó là hình ảnh tuyệt diệu nhất xuyên suốt văn bản. Đó là lý do trong bản hòa tấu Âm thanh và Cuồng nộ, nhịp moderato lại để vào tay một thằng khờ, nỗi ô nhục của gia đình Jason Compson trình bày. Đó là Benjamin, hay trước đó là Maury. Đặt bối cảnh vào ngày 7/4/1928 nhưng không phải là như thế, vì bản chất dở khùng dở điên nên ý niệm về không gian và thời gian trong Benjamin-thằng khờ bị tháo dỡ đến vô cực, đó là sự giao thoa của tất cả sự kiện vụt qua như một cơn gió và trở lại ở những phần sau đó. William Faulkner chặn đứng tất cả các sự ý thức của nhân vật trong một dòng ý thức miên man nhưng đứt đoạn, đứt đoạn nhưng vẫn miên man. Với Benjy, tính từ bị triệt tiêu đến số cực tiểu, thay vào đó là động từ nguồn và danh từ phổ quát. Nhưng nhà văn tự nhận truyện ngắn chủ ý mình viết không đạt (trong bài phỏng vấn với Frederick L. Gwynn và Joseph L. Bronte) nên Quentin ở chương thứ hai là một sự nỗ lực phát triển câu chuyện mang tính chữa cháy.

Chương của Quentin lùi người đọc về mốc thời gian 2/6/1910, từ Jefferson đổi sang Harvard. Tuy Quentin là người tỉnh táo và có học vấn nhất nhưng chương của anh vẫn giàu nỗ lực phá bỏ không gian và thời gian. Ở chương này, cảm hứng chính cho ông chính là khúc bi ca của những số phận lạc lối mà Quentin chính là đại diện: anh ta chết chìm trong suy tư trước hiện thực của mình, anh ta không đủ khả năng để đối diện với nó. Thế nên ở chương này, Quentin cũng chẳng khá khẩm hơn Benjy là mấy, anh vẫn dở khùng dở điên, tự tiện phá dỡ mọi hình thức ngữ pháp và lối điệu cổ điển, để bước vào một thế giới ảm đạm nơi anh đối thoại với mình từng phút một ý nghĩ sự loạn luân và bi quan chủ nghĩa do cha anh gán cho từ thủa tấm bé. Ở thế giới đó, biểu mẫu lại xuất hiện dưới dạng sự vật phổ quát song lại mang nhiều suy tư và ẩn ý hơn Benjy: cổ mẫu nước, đồng hồ, chuông, em bé người Ý, bóng,… Nhưng William vẫn thấy mình thất bại trong việc tái tạo lại cảm giác ban sơ mà hình ảnh đứa bé gái trèo lên cây để lộ quần nhỏ dính đầy bùn đánh thức ông, thế là ông để Jason xuất hiện. Jason đưa người đọc quay lại trước chương của Benjy một ngày và chương kể ngôi một duy nhất không có chữ in nghiêng, được trình bày tuần tự và dễ dàng như chính nhân cách khô khan và khốn đốn của nhân vật. Và cuối cùng, Faulkner bước vào câu chuyện ở ngôi ba chương cuối, nhưng đúng như ông vẫn bi quan chấp nhận, ba nỗ lực sau này biến truyện ngắn thành tiểu thuyết vẫn chưa đủ để Caddy hiện ra từ sương mờ mông lung của lớp lớp câu chữ được viết bằng một thứ từ vựng dễ hiểu nhưng chính ngữ pháp khiến chúng thăng hoa và bế tắc.

Có thể nói Âm thanh và Cuồng nộ là một cuốn sách đi từ thất bại này đến thất bại khác, đúng như nhà văn của nó luôn tự nhủ với chính mình qua các cuộc phỏng vấn công khai. Chủ ý của ông là tái hiện một nhân vật “bị ẩn” là Caddy qua bốn điểm nhìn, song, hết lần này đến lần khác lại không đạt mong muốn và thỏa mãn sự yêu quý của ông với nhân vật, người Faulkner gọi là người tình trăm năm. Ở chương đầu, William Faulkner trang bị cho người kể chuyện là Benjamin một ý định thực sự khôn ngoan: một kẻ khờ mang dáng dấp của Chúa Khổ Đau. Mọi cảm giác và tri nhận của nhân vật kể đều trong trắng và trinh bạch đến mức khùng dở. Thế nên sự mờ hóa (declearisation) phân hóa mạnh mẽ hơn bao giờ hết, ở đó người kể cũng không thể tự ý thức và nắm bắt nhân vật của mình, nâng sự tri nhận và khả năng đồng sáng tạo của độc giả lên mức tối đa và ghép hình lại tất cả mảnh vỡ mà nhà văn xáo lên, để tìm ra trong đó vẻ đẹp vô thường của vạn vật: lửa, cây hoa cà, mười lăm xu, quả bóng golf và những bí mật tăm tối mà nhân vật đã tri nhận nhưng không thể xử lí. Nhân vật là một kẻ khờ, rõ ràng, thế nên người đọc gặp khó khăn trong việc khái quát hóa câu chuyện, trao đổi với thế giới bên ngoài của Benjy chỉ qua những lời âu yếm của Caddy hay lời xua im và dọa mắng của các thành viên trong gia đình. Cách nhìn của Benjy với mọi thứ cũng tinh khiết như cách Chúa nhìn người khác, và đến đây, bắt dây sang nhân vật chi phối bốn chương, Caddy, thì có lẽ rằng Benjamin đối với Caddy như cái nhìn của Chúa với vẻ đẹp đã mất của loài người. Có nhiều bằng chứng cho thấy William Faulkner bị chi phối bởi tín ngưỡng miền Nam vào Chúa để tạo ra nhân vật này: Benjamin mãi mãi dừng lại ở tuổi 33, con số cho số tuổi thọ tương truyền của Chúa, con số linh thiêng và đặc biệt. Thế nên thế giới câm và thiểu năng cùng với những tri giác đột biến như nhìn lửa, ngửi mưa (một vết tích đỉnh cao của sự mờ hoa định dạng trong văn chương hậu hiện đại),… của Maury luôn chất chứa sự muôn màu và phản chiếu một cách chân thành nhất nhưng cũng không kém phần đẹp đẽ, một Caddy biểu trưng trong cuộc sống đan xen vào nhau, đẹp và khó hiểu. Nếu Caddy trong Benjamin khởi sinh từ sự trong trắng và thành thật thì Caddy trong cách tự sự của Quentin được vớt ra từ bùn. Rõ ràng Quentin là kẻ thất bại bị hiện thực đẩy xuống hố, trong anh mang nỗi thống khổ của một con người khủng hoảng rất hiện sinh cùng phức cảm bi quan cực đoan. Những ý niệm của cha anh truyền lại biến thành hồn ma ám ảnh anh, mà thời gian, thói thường, bóng, nước cũng là vật anh tự biến thành nỗi ám ảnh riêng, dẫn đến cái chết bằng cách nhảy cầu. Caddy với Maury mang từ Mẫu nhưng sang Quentin mang chữ Dục, vì nàng góp phần ám ảnh trong Quentin suy nghĩ loạn luân và giết anh ta với thói sống quá phóng túng và tự hủy của mình. Càng về sau sự giải phóng cấu trúc và hỗn loạn càng ngày càng năng động: cắm thằng những câu không đầu không cuối được in nghiêng vào trong đoạn chữ viết bình thường, xuống dòng liên tục với chỉ một câu văn lạ lùng, cấu trúc bị tan biến, vô thức,… kết hợp cùng với hàng loạt các sự kiện chỉ được kể sơ sài và bôi mờ làm câu chuyện dường như không thể giải mã. Anh vào tiệm sửa đồng hồ và bị chế ngự bởi thời gian còn lại của mình do chính mình từ đặt ra, khao khát tìm một chiếc đồng hồ chạy đúng; anh thấy chiếc bóng mình ngả đổ sau khi bỏ tiết lang thang ngoại ô cùng với cuộc sống vẫn đang vui vẻ với lễ hội đua xuồng, và áo flannel, lần lữa với cái chết của mình; tiếng chuông báo hiệu các giờ học ngân nga trên Harvard là sợi dây ràng buộc một con người đã quá túng quẫn vào lại nếp gấp cõi cằn, sự hiểu lầm trước tiệm bánh mỳ với em bé người Ý ở Jefferson là sự ẩn dụ cho tình yêu đau đớn và trinh bạch nhưng quá tục tằn với người em gái Caddy, đây là những điều William Faulkner vẫn can tâm chối bỏ, tất cả những vật mẫu và “tầng băng nổi” ẩn lên không được ông gán ghép bất cứ ý nghĩa sâu xa nào, điều đó càng mời gọi sự giải mã từ bất cứ tay đọc nào, ở bất cứ thời kỳ nào và cách đọc ra sao.

Cần soi rọi hai điểm nhìn thú vị, nghệ thuật và khó tiếp nhận bậc nhất trong văn bản này bằng lý thuyết hệ hình hay mô thức (paradigm) của Thibaudet. Rõ ràng tuyến đường liên kết duy nhất của chương một và chương hai chính là sự phát triển về nỗi thống khổ và điểm nhìn chú trọng không gian và trải nghiệm riêng của hai nhân vật Benjy phát triển thành Quentin. Sự vận động đó diễn ra không ngờ trên một tuyến trình thời gian chạy từ những mảnh vỡ ngày 7/9/1924 (đây cũng chỉ là một cột mốc mù) trở ngược về 2/6/1910 cùng với nỗi buồn được biến thiên. Ở chương Benjy ngập ngụa nước mắt (ai cũng bảo anh ta nín, mọi lúc) là thanh âm của vĩnh viễn và đau đớn được chuyển dịch theo một đường thẳng qua phép đối xứng tâm và tâm là sự phức tạp trong cách biểu đạt của một thiên truyện tiếp cận theo tư duy hậu hiện đại, thì ở chương của Quentin, không có nước mắt nhưng cách kể cùng sự phá vỡ cấu trúc (cấu trúc tạo nên cảm giác nhịp nhàng, lặng yên) thành đa cấu trúc hoặc phi cấu trúc làm nên sự bất bình và hỗn độn, tức là hành động tượng trưng cho nỗi buồn của Benjy đến lượt Quentin đã thành nỗi khổ đau mông lung, không hành động cụ thể nhưng mờ ảo và tê tái.

Flannery O’Connor, một nhà văn theo đuổi trường phái Gothic miền Nam khác nói ông đã tạo ra sự dời về những điều nhà văn không được phép làm. Đó là sự thể nghiệm xô đổ phong cách cổ điển và cách tân từ Ulysses của James Joyce. Nếu như trong sách James luôn ẩn khuất một vở kịch ngầm đâu đó dưới bóng dáng tiểu thuyết thì William Faulkner lại quan tâm tới sự bẻ gãy quy luật cấu trúc và nhịp phách của âm vị học từ nguyên tạo ra. Khó mà đọc được William nếu ta không để mình bị ông thách thức và làm cho chán chường: cách đặt tên nhân vật giống nhau cùng các ngôi xưng thứ ba không rõ hướng vào ai, cách ghép nối các tính từ xuyên suốt và thi thoảng ném vào đó các trợ từ, trạng từ không liên quan, thách thức sự dịch và sự đọc nghiêm túc. Vậy nên William vẫn còn là một thứ quá cao siêu ở Việt Nam, nơi cấu trúc và hình thức vẫn còn in sâu từ thuở còn viết những bài văn nghị luận dối lòng. Văn chương của William đánh tan đi cách suy tư thông thường mà chúng ta có thể gán cho một nhà văn và tác phẩm của anh ta. Gia đình Jason Compson xuất hiện sơ sài lần đầu tiên trong chương đầu của truyện Lễ cầu siêu cho một nữ tu, và đưa đến cục diện ở Âm thanh và Cuồng nộ rồi sau đó thường xuyên xuất hiện khắp các truyện ngắn và tiểu thuyết. Thế nhưng trong các thiên truyện viết sau này, dòng họ của nhà này lại xuất hiện thêm nhân vật mới, đó là Nancy, một người giặt đồ thuê trong Mặt trời trong đêm ấy (mà trong Âm thanh và Cuồng nộ là tên của con ngựa rã xương trên mương), là Thomas Sutpen trong Absolom, Absolom! dưới cách kể của Quentin trong căn phòng kín cùng với một bà cô gia tên là Miss Coldfield (ông rất thích đặt tên các nhân vật lớn tuổi bằng cách ghép các từ đơn), v.v,… Chúng ta cũng cần quan tâm đến sự bẻ gãy tính logic nếu xem các tác phẩm của William Faulkner là hệ liệt và tuyến tính với nhau theo một cách sắp đặt nào đó nhất định. Bằng chứng là các sự kiện của các nhân vật được nhắc lại như Boon Hogganback trong Go down, MosesBọn đạo chích cùng địa vị với nhau, song hành động nếu trải ra trên một biểu đồ tuyến tính và logic thì không hoàn toàn tương hỗ; nhưng Quentin Compson trong Âm thanh và Cuồng nộ và Quentin Compson trong Absolom, Absolom! là tương đồng. Absolom, Absolom! đã mở rộng gia phả của nhà Compson thêm hai thế hệ, điều mà trong Âm thanh và Cuồng nộ chưa đề cập đến, thông qua những lời kể của Quentin với anh bạn cùng phòng Shreve của mình. Điều này là hoàn toàn hợp lý khi xét đến Âm thanh và Cuồng nộ, quan hệ của hai người này rất tốt và thường hay kể chuyện quá khứ cho nhau nghe. Nhưng nếu trải Âm thanh và Cuồng nộ bên cạnh Mặt trời trong đêm ấy viết cách đó khoảng nửa thập kỷ thì phi logic hẳn, Quentin đã tự tử ở tuổi 19 ở Harvard trong Âm thanh và Cuồng nộ bỗng nhiên sống dậy ở tuổi ba mươi hơn và kể chuyện quá khứ trong Mặt trời trong đêm ấy (!). Ta thử dời sự logic thông thường tạo ra bằng tam giác thao tác thời gian và không gian sang sự siêu logic cao hơn qua phương pháp nhìn nhận rơi vào hậu hiện đại: phương pháp giải cấu trúc (deconstruction) của Jacques Derrida. Đối chiếu tư tưởng với cách thể hiện, William Faulkner thể hiện sự xung đột trong cách chống lại nạn phân biệt chủng tộc sâu sắc ở miền Nam nước Mỹ những năm 30, 40 và cách thể hiện: cách gọi các nhân vật da màu của mình là Negro (một từ với hàm ý hơi miệt thị) và đẩy những con người này vào sự biến thái tư tưởng và thực dụng không thể chứa trong Red Leaves, Mule in the Yard mà về sau bị James Baldwin nhiệt tình công kích, đi vào sâu thế giới nội tâm nhân vật, rõ ràng tác giả luôn biện minh cho tình yêu tục tằn của anh Quentin bằng xử lí văn bản của anh này điên chẳng khác gì Benjamin, thậm chí còn hơn, nhưng kết cuộc nhà văn cũng ném anh ta vào cảnh tự tử với nỗi bi quan siêu thực,…

Đó là bằng chứng cho thấy cảm hứng trong các tác phẩm văn chương đầy thể nghiệm của William Faulkner vẫn rút ra từ trải nghiệm cá nhân của một nhóm nhân vật có thực trong cuộc sống muôn vẻ, một tuyên bố đi tuân theo lối đi của hiện thực chủ nghĩa, không tách rời với một áng văn hiện đại. Trong cuộc phỏng vấn với Joseph L. Fant và Robert Ashley, khi được hỏi về tác giả yêu thích, ông đã bảo rằng mình chỉ thích các nhân vật chứ không thích người tạo ra bọn họ lắm, và đó là Don Quixote trong tiểu thuyết cùng tên của Cervantes, bà y tá Sarah Gamp trong Martin Chuzzlewit của Charles Dickens, vài người của Balzac, Conrad,… Đó là những nhân vật mang tầm vóc thể hiện thời đại mạnh mẽ. Thật vậy, tất cả nhân vật của ông đều đại diện cho những lớp người ở miền Nam nước Mỹ trong thời kỳ đổ sập của các thái ấp giàu có và nạn phân biệt chủng tộc không thể nguôi ngoai. Dẫu khoác lên mình di sản của văn học lãng mạn và bánh răng đưa dòng ý thức xoay chuyển thì bọn họ vẫn là con người tượng trưng cho thời đại và cách thăng hoa của nhà văn gán cho họ. Quentin gục ngã, Jason loay hoay và tìm cách đứng dậy bằng cách cóp nhặt xu tiền, một mammy da đen là Dilsey vun đắp gia đình vì bà chỉ nghĩ đó là điều nên làm,…

Không có sự xuất hiện nào của William Faulkner trong cuốn sách Lịch sử văn học Mỹ của Lê Đình Cúc do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2007 là thỏa mãn. Cuốn sách viết dưới dạng tiểu dẫn bối cảnh văn chương Mỹ qua các giai đoạn: văn học dân gian, văn học thời thuộc địa (thế kỷ XVI -XVII), văn học thời cách mạng (1775-1820), văn học thế kỷ XIX với hai dòng là lãng mạn và hiện thực và cuối cùng là văn chương Mỹ thế kỷ XX, sau đó đi vào giới thiệu cụ thể từng đại diện mỗi thời kỳ. Và như tôi không ngờ đến, lão già một đời đưa miền Nam nước Mỹ hay Mississippi thành một lãnh thổ văn chương lại vô danh ở đây, trong khi những hậu duệ tốt và hậu duệ xấu của ông lại ít nhất được vài dòng nhắc tới: Flannery O’Connor, Thomas Pynchon, Carlos Onetti,… William Faulkner chỉ được nhắc sơ sài ở phần tiểu dẫn thời kỳ văn chương đầu thế kỷ XX nhân lúc nói về Ernest Hemingway và Francis Scott Fitzgerald với một hàm ý sai lầm sau: William Faulkner hoạt động dưới ngọn cờ của Ernest Hemingway. Ta thừa nhận rằng “Thế hệ bỏ đi” của Ernest Hemingway kế thừa từ người thầy viết-chẳng-ai-hiểu Gertrude Stein của mình (chữ này cũng không phải của bà nữa là) kéo đến Thế hệ Jazz là cảm hứng với yếu tố chủ đạo thể hiện sự chênh vênh và tự hứng của các tác phẩm sau này của Sinclair Lewis, kịch của Eugene O’Neill,… và cả tiểu thuyết và thơ đầu tay của William Faulkner, đặc biệt là sự xuất hiện của nhà văn Sherwood Anderson, người mê mẩn trường phái cực tiểu hay tối giản của Gertrude Stein và Hemingway, là người trực tiếp hình thành ý niệm về tiểu thuyết đầu tiên trong William Faulkner qua lời giới thiệu từ người bạn Stone lúc lông bông. Thế nhưng, nói bóng cờ của Ernest Hemingway cùng thuyết tảng băng trôi là thứ cốt yếu cần theo đuổi bên dưới lớp văn chương trùng điệp của William Faulkner là sai lầm. William Faulkner luôn nỗ lực chối bỏ tất cả các hình tượng biểu tượng trong truyện mình và gọi đó là các yếu tố phải xảy ra và không biết chúng tượng trưng cho điều gì. Đối với ông, biểu tự và vật mẫu xuất hiện vì chúng cần phải xuất hiện, như một thói đời lạ lùng mà nhà văn nghĩ ra để chải chuốt cho sở thích của mình. Như nhà văn đã nói, nếu anh ta là tất cả nỗi đau của anh ta, thì viết là nỗ lực giải tỏa bằng việc điều khiển nhân vật tượng trưng cho nhân vật có thật để tái hiện lại hình ảnh mà tác giả đã ấn tượng, như hình ảnh cô bé gan dạ trèo lên cây nhòm vào nhà trong đêm bà mất với chiếc quần lót lấm lem bùn đất; đó là Caddy, người tình trọn đời nhà văn ưu ái trong tất cả mọi văn bản mà nàng có mặt.

Chúng ta đang bị kẹt lại với William Faulkner trong thời đại này. Nếu như có ai đó hỏi tôi, dưới tư cách một người viết tham vọng ngạo nghễ rằng chúng ta nên làm gì với ông, chắc chắn tôi sẽ xua người ta dìm tượng đài của ông xuống sông để nước trôi đi tất cả. Bàn tay của ông đặt ở khắp mọi nơi trong địa hạt văn chương và đầy đủ những thần tượng mà ta ngưỡng mộ: sẽ không có một tác phẩm về Thế chiến kinh điển như Bẫy-22 của Joseph Heller nếu A Fable không ra đời, Khi tôi nằm chết là phiên bản đầu tiên để Carlos Fuentes học cách tường thuật trên giường bệnh và xáo tung mốc thời điểm và thời gian trong The Death of Artemio Cruz. Phương pháp tạo ra một địa điểm hư cấu để các nhân vật đại diện được trọn vẹn hoạt động của William Faulkner đã làm với hạt Yoknapatawpha được Marquez kế thừa tạo nên làng Macondo bất hủ hay Santa Maria của Juan Carlos Onetti. Đó là những bằng chứng cho thấy cách thức tiếp cận vấn đề có thể ảnh hưởng và lung linh như thế nào đến câu chuyện. Ngoài ra, trong các câu chuyện của William Faulkner, trải nghiệm đặt cạnh nhau những mảnh vỡ của không gian và thời gian cũng là điều đáng nói, như cách Henry James sắp đặt các điểm sáng cạnh nhau, những tình tiết được rút tỉa cẩn thận tạo cho người đọc cảm giác dễ chịu, thư giãn ở Tuổi hoa mộng, cách sắp xếp các tình tiết trong Âm thanh và cuồng nộ vỡ nát nhưng không phải là vô ý tứ, các thái độ dồn dập, nhiều hoạt động được đặt cạnh những trang giữa và về sau tạo nên nhịp điệu căng thẳng, cho độc giả cảm giác kết thúc giả khi lời kể Benjy chấm dứt mãi mãi.

Có một điều ta không thể chối cãi được rằng William Faulkner xứng đáng đặt bên cạnh Ernest Hemingway, thậm chí bên trên vì những thành tựu to lớn của ông trong cách định hình một lối viết thực sự thời thượng và trải nghiệm, điều mà chúng ta đang thấy Krasznahorkai László kế tục xuất sắc với cách tân giao thoa với triết học để thể hiện rõ ràng cái tôi và siêu tôi trong những trang văn nghẹt thở, không lối thoát đẩy ta vào một chuyến tàu đến vô cùng của ngôn ngữ, đặc biệt hấp dẫn trong Melancholy of Resistance hay một Toni Morrison với cách khai thác tư duy hình ảnh và đánh động bằng sự mô tả siêu thực trong chuyến phiêu lưu đi tìm lại sự đẹp đẽ của người da màu trong Bé Jar hay Yêu Dấu. Đó là lý do William Faulkner không còn khó hiểu với chúng ta nữa, khi chúng ta nhìn nhận văn chương của ông trên những phiến gạch mà những thần tượng mà chúng ta say đắm và đi cùng cách kế thừa thỏa đáng với phong cách viết văn tuyệt vời và những trải nghiệm hiện thực cổ điển bậc thầy của nhà văn lỗi lạc này.

Hết

Gia Bin

*

Đọc tất cả bài viết của Gia Bin

Phía sau trang sách

Sự bất tử

Published

on

Tôi mất một năm để dịch xong cuốn sách ấy và nhiều năm sau để tiếp tục suy nghĩ về từng thông điệp mình đã nhận được.

Thậm chí lúc gõ ra những từ này, tôi vẫn chưa thực sự hiểu anh, Louis. Và đó là khoảng cuối năm 2018. Sau 3 năm, có lẽ bây giờ tôi đã gần điểm chạm hơn một chút.

Ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice hiếm khi chết do tác động ngoại cảnh, mà thường là tự kết liễu. Họ tồn tại hàng trăm năm, chứng kiến thế giới lột áo mới hết lần này đến lần khác. Giá trị văn hoá cũ mai một, giá trị tư tưởng cũ bị cười cợt. Gia đình, bạn bè lần lượt qua đời và sau đó là cả một thời đại xuống mồ. Những cỗ xe ngựa bị ô tô thay thế; đèn khí biến mất và đèn cao áp xuất hiện; những toà nhà lai tạp kiến trúc Pháp, Tây Ban Nha và Mỹ mọc lên trên khắp nẻo đường New Orleans.

Ma cà rồng trở thành những linh hồn già cỗi và thủ cựu, đầu óc chai sần vì phải nếm trải quá nhiều sự tàn độc từ chính mình lẫn loài người. Tình yêu nói riêng, cảm xúc nói chung đều chẳng có nghĩa lý gì cả. Con người không bất tử. Và cũng chẳng ma cà rồng nào chịu đựng được đồng loại cho đến ngày tàn của vũ trụ.

Tranh Vanitas Still Life with a Tulip, Skull and Hour-Glass của Champaigne, Philippe de

Tại sao phải hiểu cho nhau nếu ta còn hàng trăm ngàn năm để nhìn vào mâu thuẫn? Nếu không có sự chết thì lòng vị tha hay đạo đức đều chỉ là triết lý giẻ rách. Chẳng có gì là hiện sinh hay vị lai trong cuộc đời vô tận. Mọi giá trị vật chất chỉ là nắm đất mớ cát bởi không có khao khát hay dục vọng nào để trao đổi. Kiến thức tích lũy vài thế kỷ cũng là đồ bỏ khi mất đi mục đích sống. Ở đó, chỉ còn hư vô.

Có một tác giả cho rằng, mọi ma cà rồng đều tồn tại với tư tưởng của Friedrich Nietzsche, bởi vì họ bất tử và họ muốn trở nên bất bại. Nhưng tôi không đồng ý. Có thể ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice tồn tại với tư tưởng Nietzsche thật, nhưng đó là vì: “One has to take a somewhat bold and dangerous line with this existence: especially as, whatever happens, we are bound to lose it.” – (Nietzsche viết trong Untimely Meditations)

Sự sống đáng giá là bởi chúng ta có thể mất nó, bất cứ khi nào. Trong sự bất tử không có yếu tố then chốt này.

Vậy nên kết cục cho họ luôn luôn là như thế – như ma cà rồng Armand từ từ tiến về phía dòng sông và biến mất tựa phù du. Sự bất tử là hình phạt nặng nề nhất, bởi món quà đính kèm chính là trạng thái hữu tri vô giác, chỉ còn lại đúng một nỗi cô độc khủng khiếp như hố đen nuốt chửng những sinh vật này cho đến lúc lụi tàn.

Tôi đã lần hồi dò lại trong mỗi chương tiểu thuyết mình từng đi qua để chạm được vào tiềm thức của anh, Louis. Và chặng đường ấy diễn ra như thế này.

“Những người từng đến với New Orleans đều để lại nơi đây dấu ấn khó phai nhòa. Một số công trình kiến trúc bằng gạch, đá và cẩm thạch của thành phố xưa vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Ngay cả khi những ngọn đèn khí bị đèn điện thay thế, những chiếc máy bay xuất hiện và những tòa nhà chọc trời mọc lên chật kín đường Canal, vẻ đẹp một thời vang bóng của New Orleans vẫn còn đó. Tất nhiên, không phải con đường nào cũng còn dấu ấn cổ xưa. Nhưng đối với ta, mảnh đất đó luôn là New Orleans của trăm năm về trước. Mỗi lần dạo bước trên những con đường đêm đầy ánh sao của Quận Garden, ta lại thấy như thời gian chưa bao giờ trôi đi. Có lẽ đó là bản chất của cái gọi là di tích. Những dấu ấn để lại, bất kể chỉ là một ngôi nhà nhỏ hay một tòa lâu đài với những cột trụ Corinth khổng lồ và những mảng hoa văn tinh tế bằng sắt rèn, đều có thể khiến chúng ta có cảm giác như quá khứ vẫn đang tiếp tục chảy trôi trong thì hiện tại. Mặt trăng hôm nay vẫn rọi sáng bầu trời New Orleans như mặt trăng năm xưa. Chỉ cần những dấu tích đừng biến mất thì cảm xúc trong ta sẽ không thay đổi.”

2

"Ta sẽ đặt cuốn sách xuống và nhìn ra ngoài cửa sổ, cảm nhận từng nhịp đẩy đưa của đại dương, ngắm muôn vì tinh tú sáng rõ hơn trên đất liền nhiều lần đang sà xuống để chạm lên những con sóng. Khi ta đang ngồi một mình trong cabin tăm tối, dường như bầu trời đã hạ xuống để gặp đại dương và những bí mật lớn đã được tiết lộ trong cuộc hội ngộ đó, những hố sâu thăm thẳm sẽ vĩnh viễn khép lại một cách diệu kỳ. Nhưng khi trời và biển vẫn chưa phân biệt rạch ròi, cũng như khi trần gian còn trong thuở hỗn mang, ai đã tiết lộ bí mật vĩ đại đó? Chúa ư? Hay là Satan? Ta bỗng nghĩ đến niềm an ủi vĩ đại khi được gặp Satan, được nhìn thẳng lên khuôn mặt ngài, không cần biết khuôn mặt đó kinh dị tới mức nào. Nếu được biết mình hoàn toàn thuộc về ngài, ta sẽ được an ủi và giải thoát khỏi nỗi thống khổ vì sự ngu dốt của bản thân. Rồi ta có thể vén lên những bức màn đã chia cắt ta vĩnh viễn với cái gọi là nhân loại.

Ta cảm thấy con tàu đang tiến đến ngày một gần với bí mật đó. Bầu trời dường như không có điểm kết thúc, nó bao trùm lấy ta bằng vẻ đẹp huy hoàng và sự tĩnh lặng không cùng. Nhưng từ giải thoát nhanh chóng biến thành cơn ác mộng trong ta. Bởi làm gì có sự giải thoát nào cho kẻ đã bị nguyền rủa vĩnh viễn, làm gì có sự giải thoát nào. Ta tự hỏi nỗi đau khổ này có thể so sánh với những ngọn lửa vĩnh cửu của địa ngục hay không? Những con sóng cuồn cuộn dưới muôn vì tinh tú vĩnh hằng kia thì liên quan gì tới Satan? Khi chúng ta còn thơ dại, cảnh tượng hùng vĩ ấy chẳng có nghĩa lý gì bởi chúng ta còn đang mải mê vật lộn với những khát vọng cuồng điên khác. Khi ấy, chúng ta hiếm khi coi sự bình yên là điều đáng mơ ước: những thiên thần tối cao vĩnh viễn ngước nhìn lên khuôn mặt Chúa Trời và vẻ mặt ngài vĩnh viễn thanh thản. Trong quyền năng của ngài, chiếc nôi đại dương dịu dàng này chẳng qua chỉ là một lời hứa nhỏ nhoi mà thôi.

Nhưng ngay cả trong giây phút này, khi con tàu đang ngủ và cả trần gian đều đang say ngủ, những nghĩ suy về thiên đàng và địa ngục không còn là nỗi đọa đày của ta nữa. Nó đã trở thành hiểu biết, thành niềm tin, cả hai điều đó hoặc chỉ một trong hai thôi… có lẽ là sự cứu chuộc duy nhất mà ta dám mơ ước."

3

“Tôi không biết là một đứa con lại có quyền giải phóng cho cha mẹ nó. Tôi không biết là mình có thể không gắn bó với cô bé nữa, cho đến chừng nào… Ta ngừng lời. Ta đã định nói: Cho đến chừng nào cô bé vẫn còn sống trên đời. Nhưng ta nhận ra đó là một tuyên bố phàm tục vô nghĩa. Cô bé sẽ sống vĩnh viễn, cũng như ta vậy. Nhưng chẳng phải bất kỳ người cha nào trên đời này cũng phải trải nghiệm điều đó sao? Con gái họ sẽ sống vĩnh viễn vì họ sẽ là người chết trước. Đột nhiên ta bị mất phương hướng."

“‘Claudia là cả một thời đại đối với anh, một thời đại của cuộc đời anh. Nếu anh rời xa cô bé, anh sẽ rời xa người duy nhất còn sống đã cùng anh bước qua thời đại đó. Anh sẽ hoảng sợ trước sự cô độc, gánh nặng và phạm vi không thể đo đếm được của cuộc sống vĩnh hằng.’

‘Đúng, đó là sự thật, nhưng đó chỉ là một phần nhỏ của lý do mà thôi. Thời đại – điều này vốn không nghĩa lý gì lắm với tôi. Quả thực Claudia đã mang lại cho nó những ý nghĩa nhất định. Nhưng những ma cà rồng khác cũng đã trải nghiệm và sống sót qua quãng thời gian kéo dài hàng trăm thời đại đó rồi.

Nhưng họ không hề sống sót,’ Armand nói. ‘Thế giới này sẽ tràn ngập ma cà rồng nếu họ thực sự sống sót được. Anh nghĩ bằng cách nào mà tôi đã trở thành ma cà rồng già nhất ở đây cũng như trên khắp thế gian này?’

Ta ngẫm nghĩ về điều đó rồi đánh bạo nói, ‘Những ma cà rồng khác đã bị giết?’

‘Không, gần như là không bao giờ. Việc đó không cần thiết. Anh nghĩ có bao nhiêu ma cà rồng đủ sức chịu đựng sự bất tử? Không sớm thì muộn, họ sẽ bắt đầu có những ý niệm ảm đạm về cái giá phải trả cho cuộc sống vĩnh hằng. Trên con đường bất tử, họ muốn mọi thứ cũ trong đời họ vẫn phải được bảo toàn và không thể bị hủ hóa: những cỗ xe ngựa phải có thiết kế mà họ tin cậy, quần áo phải được cắt đo theo đúng tiêu chuẩn xưa cũ của họ, những người đàn ông phải ăn mặc cũng như trò chuyện theo đúng kiểu cách mà họ vẫn luôn hiểu và kính trọng. Khi mà, trên thực tế, mọi thứ đều thay đổi thì chỉ có ma cà rồng là vẫn như cũ. Mọi thứ đều thay đổi, chỉ có ma cà rồng là thực thể duy nhất vẫn mãi mục nát và méo mó. Chẳng mấy chốc, với một tâm trí không linh hoạt và kể cả với tâm trí linh hoạt nhất, sự bất tử này sẽ trở thành hình phạt ăn năn trong nhà thương điên của những hình hài vô cùng khó hiểu và vô giá trị. Trong đêm, một ma cà rồng sẽ thức dậy và nhận ra điều mình đã khiếp sợ có lẽ là trong hàng thập kỷ qua là gì. Hắn đơn giản là không cần cuộc sống này nữa, dù là với bất kỳ cái giá nào. Mọi nét đặc trưng, kiểu cách và dáng hình đã từng khiến sự bất tử hấp dẫn trong mắt hắn đều sẽ bị quét sạch khỏi mặt đất. Và không còn gì ở lại để giúp hắn thoát được khỏi cảm giác tuyệt vọng ngoài trừ việc giết chóc. Và ma cà rồng đó sẽ chết. Không ai sẽ đi tìm hài cốt của hắn. Không ai biết được hắn đã đi đâu. Và thường thì cũng không còn ai bên cạnh hắn – lẽ ra hắn vẫn nên tìm kiếm trong số các ma cà rồng khác một bạn đồng hành. Không ai biết được là hắn đang chìm trong tuyệt vọng. Hắn đã chấm dứt việc nói từ rất lâu rồi, cho dù là về bản thân hắn hay về bất cứ ai. Hắn sẽ biến mất.'”

Vậy mà sau câu chuyện rất dài, rất u tối, rất chi tiết (thậm chí quá chi tiết) của anh, khẩn cầu duy nhất của tay phóng viên vẫn là: “Xin hãy cho tôi một cơ hội trở thành ma cà rồng.”

Thật đáng buồn phải không, Louis?

Hải Âu

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đôi mắt trũng sâu và những tiên đoán kỳ lạ

Published

on

By

Trước khi Stephen King được khai thác bản quyền ồ ạt như hiện nay, thì một trong những “tiểu thuyết gia ly kỳ nổi tiếng” nổi tiếng nhất ở Việt Nam không ai khác ngoài Dean Koontz. Với hàng loạt tựa sách từ trinh thám đến kinh dị, dù là phái sinh từ cốt truyện có sẵn như Frankenstein hay tác phẩm hư cấu hoàn toàn mới, Koontz đều tạo nên dấu ấn bởi cốt truyện mới lạ, thu hút. Trong đó Đôi mắt trũng sâu gần đây được giới đọc sách quan tâm trở lại bởi có tính tiên tri kỳ lạ. 

Tiểu thuyết là câu chuyện xoay quanh hành trình tìm con của Tina Evans khi cô nhận được những dấu hiệu kì lạ. Đó là tấm bảng đề hai chữ CHƯA CHẾT, những giấc mơ bí ẩn, hay sự chuyển động đột ngột của các luồng khí… mà tất cả đều quy về Danny – con trai cô – vốn đã qua đời với thể xác biến dạng đến nỗi không còn nhận diện được trong lần thực hiện chuyến điền dã nơi vùng núi sâu. Đứng trước những hiện tượng có phần “siêu nhiên”, Tina tin vào bản năng người mẹ và tìm cách giải cứu cậu bé, nhưng cô không bao giờ ngờ tới việc đang vướng vào một hệ thống rộng lớn hơn với các âm mưu quyền lực quốc tế.

Như Dean Koontz thừa nhận, Đôi mắt trũng sâu là một phép thử khi ông pha trộn nhiều thể loại trong tiểu thuyết: hành động, hồi hộp, lãng mạn và đôi chút huyền bí. Do đó, phần lớn nội dung tác phẩm không có tính dữ dội bùng phát, cũng không đủ thời lượng khắc họa chiều sâu; thêm nữa là sự phức tạp trong chủ đề đã được tối giản cũng như độ căng đã được nới lỏng. Tuy nhiên, chính những yếu tố đó lại khiến cuốn sách này không chỉ là một tác phẩm trinh thám – kinh dị thông thường khi khai thác được rất nhiều góc khuất, từ sự mất mát cá nhân cho đến lớn hơn là các vấn đề địa chính trị thế giới.

Tác phẩm có kết cấu như tàu lượn siêu tốc khi Koontz rất tập trung khai thác hạ tầng cơ sở. Thay vì viết theo kiểu “dọa ma” thông thường, ông cố gắng làm rõ chi tiết để tác phẩm có giá trị, không rẻ tiền, mà ngược lại vô cùng hợp lý. Đó là cách khai thác tâm lý tế vi, qua những mô tả về cơn sang chấn hậu tang lễ mà Tina gặp phải, song song với mặc cảm tội lỗi là nỗi cay đắng cùng quyết tâm dứt khoát muốn quên đi quá khứ đau buồn. Thế nhưng, cái chấp niệm Danny còn sống luôn dày vò cô, một biểu hiện cụ thể là việc thường xuyên nhìn thấy hình ảnh cậu bé trong những khuôn mặt khác. Koontz cũng đồng thời khắc họa bi kịch gia đình – vốn là nguồn cơn cũng như áp lực đổ hết lên đầu phụ nữ.      

Dean Koontz | Ảnh: Rick Loomis

Tính lãng mạn cũng được tác giả khai thác khéo léo, khi xây dựng thân phận cựu điệp viên cho Elliot, hình tượng này gợi nhớ nhiều đến loạt truyện James Bond của Ian Fleming. Vẫn là motif người đàn ông hào hoa và mối tình cùng những giai nhân; kèm theo đó là các pha hành động kịch tích kích thích adrenaline – để làm được điều này, Koontz tạo ra một thế lực đối đầu có phần “biến thái” cùng hai con người đấu tranh cho chính nghĩa.

Trên hành trình cứu thoát Danny, hai người phát hiện ra Thảm kịch Sierra mà Danny vướng vào thực ra có nguồn cơn từ một dự án tên là Pandora – chính tên gọi này đã cho thấy tính bí mật của dự án với mạng lưới bảo vệ vô hình, các lực lượng ẩn danh được mô tả như những tổ chức nguy hiểm, quyền lực, vô pháp vô thiên. Từ thực tế này, Koontz đã xây dựng các thuyết âm mưu có tính tiên đoán, nhưng lạ thay lại trùng khớp với những vấn đề hiện nay.

Đó là vấn nạn tham nhũng trong bộ máy quyền lực khi chính phủ nuôi sống mạng lưới có phần “vô hình” chỉ để tư lợi. Việc này được thực hiện thông qua các cuộc dàn xếp bầu cử địa phương, với tài chính và các thế lực chính trị ủng hộ đằng sau. Hiện thực này không quá xa lạ, khi gần đây ta chứng kiến một nước Mỹ chia rẽ trong hai cuộc bầu cử liên tiếp. Đặc biệt hơn là những vấn đề chạy đua quyền lực cùng phát triển vũ khí sinh học. Loại virus cuối cùng mà Elliot cũng như Tina tìm được trùng hợp thay lại tên là Wuhan-400, có phần tương đồng với virus Corona.

Thế nhưng chính trong những giấc mơ hoang đường của tiến sĩ Tamaguchi, Koontz cũng gửi gắm một vài thông điệp nhân văn qua hình ảnh những kẻ hoang tưởng vĩ đại sản sinh ra sự bất tử và những công trình vĩ đại. Trong tập truyện Ngày mười tháng mười hai, George Saunders cũng có truyện ngắn Thoát khỏi đầu nhện, viết về chất hóa học VerbaluceTM có tác dụng chiếm hữu tâm trí – từ đó gây ra những tội ác không thể dung thứ. Hay Frank Herbert trong Xứ Cát cũng có Hương dược, và chẳng phải chính vì những thứ đó mà con người quay ra đối đầu với nhau?

*

Đôi mắt trũng sâu có thể nói là một tác phẩm mới lạ, thú vị. Do được kết cấu theo kiểu “tàu lượn siêu tốc” nên phần khởi đầu có đôi chút chậm chạp, thế nhưng khi vượt qua được đỉnh dốc ấy thì những pha hành động sẽ làm ta thót tim. Một lần nữa, tác phẩm này lại củng cố vị trí của một trong những nhà văn viết truyện ly kỳ nổi tiếng nhất nước Mỹ.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trò chuyện trong quán La Catedral: Một Peru hỗn mang

Published

on

By

Văn chương Mỹ Latin nổi tiếng với truyền thống tái hiện lịch sử qua cuộc đời của các gia tộc. Từ Trăm năm cô đơn, Ngôi nhà của những hồn ma cho đến Bình địa trên lửa hay Pedro Páramo… ta thấy lẩn khuất đằng sau những thủ pháp cách tân nghệ thuật (kì ảo) đều là một hiện thực sống động có phần chua cay, với giới địa chủ, độc tài – thông qua góc nhìn của những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội.

Nhà văn Peru đoạt giải Nobel Văn chương 2010, Mario Vargas Llosa cũng không nằm ngoài truyền thống này. Việc tái bản gần đây hai kiệt tác được in hơn một thập kỉ trước – Trò chuyện trong quán La CatedralThành phố và Lũ chó – đã cho thấy sức hút của ông với độc giả trong nước. Kết hợp được sự đa dạng của phong cách thể hiện cùng những cải tiến mới mẻ trong phong cách viết có thể được xem là lý do chính khiến các tác phẩm của Llosa thu hút độc giả.

Bằng việc cắt gọt các đoạn đối thoại, tình tiết, bối cảnh… Llosa đã cung cấp góc nhìn đơn tuyến nhưng toàn vẹn của một sự thật đa chiều. Có chủ trương thay đổi về cách trần thuật trong suốt 5 phần với hơn 600 trang sách, người đọc sống cùng một Peru biến động cùng những người con của nó, quằn quại và nhiều dằn xé.

Câu chuyện kể về nhân vật Santiago – con trai giữa của dòng họ Zavalita, có cha là người làm việc cho chính phủ độc tài Odría. Ngay từ lúc nhỏ anh đã là “con cừu đen” của gia đình, khi luôn có những ý kiến khác lạ lệch ngoài chuẩn mực. Tiểu thuyết đi suốt cuộc đời anh, từ thơ ấu, đến trưởng thành rồi sau này là “sản phẩm thải loại”, thông qua cuộc nói chuyện trong quán La Catedral với Ambrosio – người lái xe cho cha anh. Từ đó các bí mật được tiết lộ, những sự thật được phơi bày, càng làm rõ hơn một mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” hơn bao giờ hết.

Nội dung dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Trò chuyện trong quán La Catedral.

Mảnh đất lắm người nhiều ma

Nếu Juan Rulfo là người phơi bày rõ ràng tội ác của tầng lớp địa chủ, thì có thể nói Llosa là người cho thấy lịch sử hiện đại của Peru – với sự xúi giục của Mỹ ở sân sau – một chế độ độc tài cũng như những mầm mống chính trị nảy sinh trong suốt quá trình hình thành lịch sử hiện đại, từ chủ nghĩa quân phiệt, chế độ độc tài cho đến chủ nghĩa xã hội và những tư tưởng cấp tiến khác.

Lịch sử đó một mặt được bộc lộ qua nhân vật Santiago và quá trình rời nhà vượt thoát của anh. Luôn chống đối cha mình bởi ông là người kiếm tiền từ chế độ độc tài, Santiago và những người bạn đại học sớm theo Cahuide để kết hợp chi bộ Đại học và chi bộ Công nhân. Thế nhưng anh chưa bao giờ cảm nhận được hoàn toàn mình thuộc về nơi đâu. Chính sự bất định trong tư tưởng của anh cũng ngầm chỉ ra thế chênh vênh của một đất nước đầy hỗn loạn của các nền tư tưởng, mà như một câu thoại trong đây: “Nếu đánh mất sự nản lòng, chỉ cần mở bất cứ tờ báo Peru nào rồi bạn sẽ có lại cảm giác ấy”.

Được cai trị bởi một viên tướng thối tha, ăn cắp và bất lực, Llosa một lần nữa “giấu nhẹm” tổng thống, để cho thấy rằng đó chỉ là một cá nhân bù nhìn, không chủ kiến và hầu như vắng mặt trong suốt tiểu thuyết. Thay vào đó Llosa tập trung hướng vào viên tướng Bermundéz – vị giám đốc công an được đề cử nhanh cấp tốc, với những trò ham thú quyền lực. Ở nhân vật này, người đọc có thể thấy được mẫu hình chung của những tên độc tài đương thời như thể Diaz mà Alejo Carpentier từng thể hiện. Y ta nham hiểm, xấu xí và đầy mưu lược, từng bước từng bước trả thù, ăn miếng trả miếng để nhằm giữ vững chiếc ghế của mình. Mưu toan chồng chất lên nhau, trong đất nước đang dần rệu rã giờ đây chỉ còn những tấn trò hề.

Mario Vargas Llosa | Ảnh: Quim Llenas

Từ việc cảnh sát đàn áp các nhóm thanh niên nghiên cứu chủ nghĩa Marx cho đến các phong trào chống đối Odría; từ việc liên minh của các chính trị gia nhằm hất cẳng Bermundéz cho đến hành động hối lộ ám vào máu thịt… Llosa đã tái hiện một cách chung nhất mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” nơi quê hương ông, mà trong thực tế với cuốn Thành phố và Lũ chó, ông cũng từng bị đuổi khỏi đất nước về sự nói thẳng và nói thực của mình.

Những cách tân nghệ thuật

Cấu tạo 5 phần như vở bi kịch năm hồi thường thấy, Llosa thay đổi phong cách viết ở từng phần một, từ liên tục trong một mạch kể duy nhất cho đến cắt rời câu chuyện, tiếp theo đó là những dòng suy tư dài cũng như những đoạn đối thoại nâng kịch tích không ngơi nghỉ. Tiểu thuyết dâng đến cao trào ở phần thứ 5 như hơi thở thở ra bất lực, của những sự thực được nói ra, của bí mật đã thôi kềm giữ. Bốn phần trước ông đều gài cắm những bi kịch riêng trên nền một câu chuyện lớn, để dần dần xâm chiếm và là cú bùng nổ cảm xúc cần thiết cuối cùng.

Sử dụng mạng lưới nhân vật chằng chịt là những cá thể xung quanh nhân vật chính Santiago, Llosa khai thác một cách hiệu quả các mối quan hệ xã hội, để không phân nhỏ vào mối quan hệ huyết thống, mà từ đó ta thấy được sự bất hạnh có thể đổ ập xuống đầu của bất kì ai trong bất kì lúc nào. Từ nàng Amalia mang bi kịch như trong Quán rượu của Zola cho đến Trinidad bị thẩm vấn dã man cuối cùng gục chết ở một góc phố. Từ thiếu phụ làng chơi – Nàng Thơ Hortensia cho đến Ambrosio – con người sống động duy nhất, vẫn giữ được nhân tính trong bầu không khí độc hại của quyền lực, mưu toan, tiền bạc và sau rốt là đánh mất nhân đạo.

Llosa tạo ra một trường phái riêng cho mình, khi ông cắt rời những câu đối thoại, bối cảnh… riêng lẻ để gom chúng vào một vision board, từ đó gợi lên nguyên nhân – kết quả, đôi khi là bổ sung góc nhìn, mà cũng có khi là gợi nên một sự hoang mang nhất định. Sự cắt rời này vừa là manh mối nhưng cũng là một ý nghĩa bâng quơ xẹt qua người đọc, nó nằm ở đó để đay nghiến rốt cuộc điều gì xảy ra, hay ai đang nói? Để rồi họ mang theo nó đến suốt hành trình, không dễ dàng để tìm ra hay chỉ ghép nối được ở phía sau cuối.

Sự tách rời ấy như biện pháp đảm bảo tính xác thực của Llosa. Chi tiết những cuộc biểu tình không chỉ đến riêng từ phía Don Cayo Bermúndez – người chuẩn bị bị hất cẳng, mà còn từ phía liên minh của những người gây ra xung đột. Cũng tương tự với câu chuyện của Amalia, của Trinidad, của Queta hay Ambrosio. Llosa ẩn thân hầu hết trong tiểu thuyết này, ông không cho cảm giác độc giả đang bị dắt mũi hay nhìn bó hẹp theo bản thân tác giả, mà với sự đa chiều trong cách khai thác sự thật, những gì ông viết ra có thể đánh lừa bất cứ ai e dè, có thể vẫn xuất phát từ ngòi bút tác giả, nhưng toàn vẹn và bao trùm.

Hình tượng xuyên suốt về một cơn nhộn nhạo dạ dày, là con rắn, là nhát dao hay là con sâu cũng lẩn khuất xuyên suốt tác phẩm. Mọi nhân vật đứng trước bi kịch đời mình đều cảm thấy tình trạng ấy, của nỗi sợ chết, của cuộc đời hoang đàng và của hậu kiếp đang chờ sau đó. Sự hội tụ này cho thấy Llosa quy tụ nhân vật về các nút thắt, để cho thấy rằng chúng đều bắt nguồn từ chính một lịch sử biến động của Peru, nơi họ sống, thở từng giây phút một của sự đàng điếm, xa hoa, và giờ đây rồi sẽ mục rữa và sụp đổ.

*

Trò chuyện trong quán La Catedral có thể thách thức bất cứ người đọc nóng vội nào. Bằng thời lượng lớn cũng như phong cách viết đặc biệt, Llosa đã khơi gợi lịch sử biến động của dải đất châu Mỹ, vừa đớn hèn mà cũng đau thương không thể khác được. Với tác phẩm lớn này, ông để lại dấu ấn cá nhân nhưng cũng phân tích một cách sâu sắc cấu trúc quyền lực cũng như thân phận nhỏ nhoi của những nạn nhân trong thời cuồng loạn. Mới mẻ và đầy đặc sắc.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Cafe sáng