Nối kết với chúng tôi

Chuyện người cầm bút

Một góc nhìn tiếc nuối về ba nữ nhà văn “suýt” có tên trong bảng vàng Nobel Văn chương 2019

Published

on

Trong số 116 người từng có vinh dự nhận giải Nobel Văn chương, chỉ có 15 người là nữ. Con số thoạt nhìn bất hợp lý gây ra rất nhiều tranh cãi, đặc biệt về nguồn cơn của sự thiếu cân bằng này. Có phải vì sự thiên vị của Hội đồng Nobel, hay do các tác gia nữ “kém tài” hơn những đồng nghiệp nam? Dưới đây là những cảm nhận và phân tích về ba nữ nhà văn, nhà thơ từng được kì vọng mang lại vinh quang văn học cho nữ giới – Margaret Atwood, Tàn Tuyết Anne Carson – những nhân vật mà người viết tin rằng, họ xứng đáng xuất hiện trong bảng vàng Nobel Văn chương 2019.

1. Margaret Atwood – Những con đường Man Booker

Ảnh: The Times

“Với những điều như thế, dĩ nhiên tôi đồ chắc rằng Margaret sẽ bị Viện đá ra khỏi đường đua vốn bảo thủ về mặt chính trị…”

Sau lần Margaret bắn một tràng chục tweets phản pháo lại dư luận hồi #MeToo, cùng cả những cánh dao đâm từ mọi lúc mọi nơi về tính nữ quyền (mà bà luôn chối bỏ) trong lần lượt các tác phẩm lớn: The Edible Woman, The Handmaid’s Tale, The Ponepoliad, The Heart Goes Last, đặc biệt bộ ba truyện hậu tận thế khổng lồ, MaddAddam. Có thể nói, bà là nhà văn của tai tiếng. Những lời cáo buộc nặng nề từ các nhà văn, truyền thông và báo chí, bộ trang phục màu đỏ với mũ trùm mặt xuất hiện một thời ở khắp các cuộc bãi công đòi giảm giờ làm ở Mỹ. Với những điều như thế, dĩ nhiên tôi đồ chắc rằng Margaret sẽ bị Viện đá ra khỏi đường đua vốn bảo thủ về mặt chính trị (sau khi Handke năm nay ẵm giải thì ý kiến đó lung lay đôi chút, nhưng ai mà biết những năm sau). Nhưng dù sao, đã có vòng tay của Man Booker rộng mở hứng bà về, với tổng số sáu cuốn sách lọt vào vòng chung khảo và không chỉ một lần trúng cử, lần gần đây nhất là The Testaments vài ngày trước. Dĩ nhiên, bằng một số giải thưởng lớn nhỏ, đã chứng tỏ được sự hùm oai của những cuốn sách “Margaretian”.

Khó mà không nhắc tới Margaret với tư cách một nhân vật đa tài trong hệ thống các nhà văn gồm nghề tay trái, nghề tay phải. Khởi đầu rực rỡ với tư cách một nhà thơ, tập thơ đầu tiên lúc mới bước chân vào Harvard, Double Persephone ấn hành năm 1960 đem lại cho bà mề đay Pratt; sáu năm sau, khi đang làm tiến sĩ, tập thơ The Circle Game mang lại cho bà giải thưởng danh giá nhất Canada, giải Thủ hiến. Trên đà rực rỡ đó, bà lại chuyển địa hạt sang viết tiểu thuyết. Tiểu thuyết đầu tay The Edible Woman tiếp tục thành công, được liên tục dẫn luận như trang viết châm biếm chủ nghĩa tiêu dùng ở Bắc Mỹ và mở đầu cho chuỗi các văn bản đậm tính nữ quyền sau đó. Nhưng có một điều đặc biệt ở bà, đó là sự không chấp nhận các tiểu thuyết của mình hoàn toàn là hư cấu và mua vui, ngay cả việc liên tục chối từ The Handmaid’s Tale hay Oryx và Crake là một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Bà gọi chúng là những tiểu thuyết đầu cơ (speculative novel). Những lời khẳng định của bà quy lại tính ẩn dụ và tiên đoán trong tác phẩm của bà. Ở đó, sự hư cấu và đen tối được xây dựng trên chính những cuộc đổ vỡ về nhận thức, ảo tưởng, cưỡng dâm, chính trị kiệt quệ. Và lời dự đoán tương lai một cách quá tối tăm và mang tính phản động ấy là lý do giải thích cho việc Maclean gọi bà là nhà văn tai tiếng nhất Canada tự đó. Họ thản nhiên phê phán hành vi của nhân vật Offred (The Handmaid’s Tale) trong cái khung tiểu thuyết phản không tưởng đó, dưới mọi hành vi quy định của phát ngôn tác giả trong quá khứ. Bên cạnh đó, bà còn là nhà uỷ thác sáng lập giải thơ Griffin, Hội Nhà văn Canada nhằm khuyến khích lớp nhà văn trẻ, bà là một nhà phát triển robot, một nhà giáo, một nhà tiểu luận và phê bình học,…

Margaret có chiến thuật độc đáo cho mình. Bằng việc phác thảo tiểu thuyết The Handmaid’s Tale dưới bối cảnh một nước Mỹ giả tưởng, hoặc tương lai, dưới tên Cộng hoà Gilead, bà sớm trở thành một nhà văn xuất khẩu hàng đầu cho văn học nước nhà. Là một cú sốc, một cú nổ với hơn 30.000 bản được bán ra, cuốn tiểu thuyết đưa lên những vị trí mà Margaret từng ước ao tuổi 16. The Handmaid’s Tale được đón nhận theo nhiều cách khác nhau, trong khi bằng một dài dòng các đoạn văn và tình tiết rất drama, về khả năng bóp nghẹt sự tiến tới của phụ nữ cả về đường ý thức, tình cảm lẫn tình dục; các độc giả Mỹ và Canada rùng mình đoán xem bao giờ nó đến với mình, thì người Anh lại coi nó có tính huyễn hoặc và giải trí khá cao. Nhưng Margaret không chỉ có cuốn sách đó, ngay lập tức. Nếu The Robber Bride hay Lady Oracle phóng chiếu những tượng đài về người phụ nữ đầy đầu tư, tỉ mẩn và đẩy lên cao thấp khác nhau được quy về một kiểu với Handmaid. Ở đó, khi xây dựng một cốt truyện phức tạp, nhiều công đoạn, những câu văn ấy đẩy mạnh cho sự đen tối của cuốn sách, rồi tới sự giải thoát nhưng ngỡ ngàng khi nhận ra cảm xúc vừa trôi đi ngang qua, mà mỗi câu văn đều thực sự tinh quái và châm biếm không tưởng. Trong khi Tay sát thủ mù lại gần với thơ hơn, được tóm gọn bằng một phong cách thứ hai của Margaret: ngôn ngữ tú lệ tạo tiền đề cho sự bí bách về những số phận phụ nữ mạnh mẽ nhưng loay hoay trong bối cảnh một Canada thực sự trào lộng, một biên niên hào hùng, tuyệt đẹp. Ở tất cả những cuốn sách đó, khi mà chữ “nữ quyền” luôn nên đặt trong dấu ngoặc kép để không phật ý tác giả, thì bằng cách bóc tách hiện tại như một sự phản kháng kép tiên đoán, tác giả vừa hợp lý với ý kiến bất đồng của mình với Guardian, vừa hướng tới chủ đề lớn hơn, chủ nghĩa toàn trị.

Bỏ qua mọi tai tiếng của #MeToo hay sự ngỡ ngàng đến phản đối kịch liệt từ các đồng nghiệp mình lên các loại sách phản không tưởng của mình, Margaret dường như làm đúng nguyện vọng của Viện Hàn lâm Thuỵ Điển: tính tiên đoán, tính cảnh tỉnh nhưng đổi lại thiếu tính phản kháng và đấu tranh (ý kiến của ai đó tôi đã quên). Nhưng có phải là thiếu hay không? Hay cách đấu tranh của Margaret nằm ở những cách thể hiện tế nhị, tinh tế, hoặc đẳng cấp hơn? Dù gì, với khả năng dấy động thông tin đại chúng như thế, Margaret xứng đáng cho một tấm mề đay, chỉ là khá xa, hoặc không tài nào.

2. Tàn Tuyết – Ngược duyên với Nobel

Ảnh: Paris Review

Mùa giải Nobel lại vừa trôi qua, dù đã được cược bởi nhà cái NiceOdds với số phiếu 1/15 ngang bằng với tiểu thuyết gia muôn đời lỡ muộn Murakami, Tàn Tuyết vẫn phải chịu thua bởi Viện Hàn lâm. Tự hỏi, đâu là lý do chính khiến bà ngã ngựa khi dường như có đầy đủ khả năng thắng giải? Liệu đó là do văn chương của bà, một sự kỳ ảo thâm căn đến từ sâu thẳm phương Đông mà các ngài mài quần trên ghế bên bán đảo Scandinavi khó thể hiểu nổi? Hay bởi chuyển ngữ, mà như bà nói, tiếng Trung là một ngôn ngữ mà ý nghĩa được chôn sâu và từ ngữ nhấn mạnh cảm giác? Hay bởi chính trị, với một chế độ Trung cộng đang lên quá nhanh và nỗi tị hiềm làm nên như thế? Hay bởi Trung Quốc quá nhiều Nobel (riêng ở châu Á) nên trao sẽ thừa? Chẳng ai hiểu được.

“Nobel và Tàn Tuyết, thiết nghĩ, như hai cá thể đồng mộng dị sàng, hoặc cả hai đều thèm khát nhau, hoặc chế giễu nhau, hoặc cùng an bày nhau, sao cũng được.”

Trong số những tác gia Trung Hoa có vinh dự được chuyển ngữ sang tiếng Việt, từ lối viết dễ cảm của Lưu Chấn Vân đến khó nhằn chi tiết của Dư Hoa, từ lớp trẻ như Mạch Gia đến lão luyện như Lý Nhuệ, Mao Thuẫn; dễ thấy phần lớn đều là nam nhân. Còn giới nữ, họa hằn lắm ta có Anchee Min, có Trương Duyệt Nhiên, có Vệ Tuệ, có Xuân Thu, Sơn Táp; và giữa một rừng những nam thanh nữ tú ấy, Tàn Tuyết hiện lên như chính cái nghệ danh bà tự đặt cho mình – một thứ dễ dàng tan biến mà lại đến mùa tàn. Tàn Tuyết nổi bật giữa văn đàn không hẳn vì một cái gì nổi bật: không một tác phẩn đỉnh điểm cũng không phát ngôn cách tân; mà cái nổi bật của bà chính ở một trường phái viết rất không giống ai: tự đào sâu mình, mở cánh cửa bước đi, nhìn ra thế giới.

Người ta gọi Tàn Tuyết là nhà văn thể nghiệm tiên phong (avant-garde), nhưng đối với riêng bản thân, thiết nghĩ, nên gọi văn chương của bà dưới tên “văn chương thuần túy” – như bà tự diễn giải, thì hơn. Vì xét về bản chất, đa số những tác phẩm của bà, từ truyện ngắn-vừa-dài đến tiểu thuyết, bình luận, phê bình; tất cả đều mang sứ mệnh rõ ràng của văn chương – thông qua từ ngữ, nhìn nhận bản thân. Khác chăng ở cách diễn đạt. Tàn Tuyết dùng nhiều ẩn dụ, đôi lúc bạo loạn, đôi khi dồn ta vào bước đường cùng; thế nhưng đó đều là những hình ảnh đặc tả. Một cách ngắn gọn, công việc của bà đơn giản là dùng những ẩn dụ này làm ra cánh cửa nhìn nhận bản thân, còn việc nhìn nhận thế nào và vào lúc nào mà ta thấy gì, lại rất phụ thuộc vào cảm quan người đọc. Nói một cách khác, văn chương Tàn Tuyết độc diễn nhưng đa nghĩa: đều là một từ ngữ đó, một hoạt cảnh đấy, thế nhưng khi đọc vào lúc sáng, lúc trưa, lúc chiều; khi ta 19 lúc ta 20; đương vào mùa xuân hay thoắt mùa hạ; mọi thứ lại được diễn giải theo một ý khác, và một điểm chung là mang theo vào cùng cả thế giới quan của ta.

Nếu đọc hầu hết những tác phẩm của Tàn Tuyết, ta dễ nhận ra bà nghiêng về hướng bạo lực. Việc sử dụng hình tượng, xây dựng cốt truyện, chuyển biến mạch dẫn; tất cả đều được xây dựng trên nền tảng cực đoan. Những hình ảnh như con mèo, loài rắn, châu chấu, bọ ngựa, các loài giáp xác,… liên tục xuất hiện trong những truyện ngắn và dài; như lời đại diện không những cho cái ác hiện hữu, mà còn cho những gì sắp tới. Ở đó, tự nhiên và con người luôn có một sự gắn bó hữu cơ khó thể chối bỏ, bà mang cả hai lồng ghép vào nhau như sự trở về khởi thủy, vì văn chương là nguồn cội, và Tàn Tuyết thường xuyên dùng những hình tượng này như khắc sâu chính nơi mà ta bắt đầu. Như trong Bảng lảng trời xanh hình ảnh lau sậy mọc đầy trong bụng Nhữ Hoa hay truyện Đứa bé nuôi rắn độc, rắn sinh sôi và nảy nở trong bụng Sa Nguyên, vừa là một thành tố tự nhiên, nhưng cũng đồng thời gắn kết gia đình.

Tàn Tuyết dùng nhiều hình ảnh rời rạc phân kỳ, không can hệ nhau; nhưng bằng sợi dây huyết thống một phần nào đó, bà buộc chúng lại làm nên không gian thời cuộc. Điểm này dễ thấy tương đồng dường như ở hầu hết các tác gia phương Đông. Nhưng bà xây dựng gia đình theo một hướng rất khác, luôn luôn mâu thuẫn. Như thể ở truyện ngắn Bong bóng xà phòng trên chậu nước đen, bà viết về một người mẹ luôn bị ám ảnh bởi sự sát hại từ chính con mình: “Được rồi, con ngoan!” Bà vỗ vai tôi. “Đó không phải là điều mà mày trông đợi hay sao? Điều mà ngày đêm mày mơ tưởng chính là chuyện này chứ gì nữa, tao rõ cả rồi. Mày cứ kiên nhẫn đợi đi, có lẽ sắp được như mong ước rồi đấy con ạ!”.

Cốt truyện Tàn Tuyết xây dựng thường không phức tạp, nó là sự lặp đi lặp lại những ý nghĩ bà muốn truyền đi, nhưng đôi khi nó đa nghĩa một cách phức tạp. Như trong Đào Nguyên ngoài cõi thế, khi ông Tư Tề bị bọn trẻ trên bãi cỏ hất ngã, đơn giản ta nghĩ chỉ như một sự chuyển đổi thế hệ, nhưng nhìn sâu vào, nó còn là hình ảnh của chính bà – con gái có người cha bị bỏ tù trong Đại Cách mạng Văn hóa, mà vào thời đó, hình ảnh chiếc ghế giữa sân và đám đông bao quanh thường tượng trưng cho đấu tố – một hình ảnh quen thuộc rất dễ bắt gặp ở những tác phẩm sau này. Truyện ngắn của bà đa số viết về những đấu tranh tư tưởng hầm ẩn hay hiện diện giữa những thế lực từ bên trong bản thân hay ngoài xã hội, nhưng đôi khi nó cũng là những câu chuyện riêng tư rất dễ bắt gặp. Trong đó, nhân vật chính thường là những con người với lý trí suy tàn phải tự chiến đấu với chính mình hay ngoài xã hội. Tàn Tuyết đẩy mạnh truyện đến cưỡng bức. Ngột ngạt dường như là không khí chính bao phủ hết hoàn toàn câu chuyện. Không xây dựng một cách nửa vời hay hướng mở, bà cho người đọc một hình dung chính xác và cách giải quyết của riêng mỗi một tình huống, không xào nấu, khoa trương, không giảm nhẹ, duy mỹ.

Tàn Tuyết là một trường hợp lạ, khó mà giải thích. Vì đa số những tác phẩm của bà vẫn chỉ có bao nhiêu đó nhân vật huyết thống, bao nhiêu đó ẩn dụ muôn loài, và bấy nhiêu cách giải quyết tình huống; thế nhưng ở mỗi câu chuyện, ta lại nhìn thấy những ngóc ngách nhỏ trong đời sống con người. Ở đó trí nhớ suy tàn được phục dựng, đứng dậy và lê lết ra phía ánh sáng như phút huy hoàng cuối cùng trước khi trở về mặt đất im lặng muôn đời. Như từng chia sẻ, bà viết tuần tự, từ đầu đến cuối, không xáo trộn chi tiết, không để dành cảnh trí đắt giá, không chỉnh sửa hậu cảnh, mỗi ngày ngồi viết một giờ; tất cả lại dường như quay về thiên hướng ban đầu của văn chương: những gì trào ra từ bên trong con người không tính toán nghĩ suy. Như Björk – nghệ sĩ tiên phong của âm nhạc thể nghiệm, khi được hỏi về một vòng hòa âm hay, bà không ngần ngại trả lời, không khi nào bà ghi âm một giai điệu bất chợt, nếu đủ hay nó sẽ vẫn ở đó sau một cuộc đi dạo dài. Hai người phụ nữ tượng trưng cho những tiên phong ở hai địa hạt khác nhau, thế nhưng giống nhau một cách thần kỳ.

Nobel và Tàn Tuyết, thiết nghĩ, như hai cá thể đồng mộng dị sàng, hoặc cả hai đều thèm khát nhau, hoặc chế giễu nhau, hoặc cùng an bài nhau, sao cũng được. Nhưng dẫu sao, hãy nên mua bản Việt ngữ lúc còn có thể, vì với danh xưng “favorite for Nobel Prize”, giá sách điện tử dành cho Kindle của bà đã tăng 3 lần, từ 4 lên 12 dollar, và nếu một ngày nào đó Nobel thật sự chạm ngõ, liệu còn có thể!?

3. Anne Carson – Số phận Nobel nào cho thơ?

Ảnh: Literary Hub

“Anne đã tự chặn đường mình tới giải thưởng lớn lao nhất hành tinh này.”

Sau tất cả những chuyến gọi nặc danh tới John Banville và chuyến xe đổ đá lên đầu vị văn sĩ dũng cảm Peter Handke năm nay, thì người cần được nuối tiếc năm nay nhất chính là Anne Carson. Với tỉ lệ phiếu cược 1/5 trên trang NiceOdds, và gia tài văn chương đồ sộ, một lần nữa, Nobel Văn chương lại không chọn thơ. Vô danh ở Việt Nam (hiếm có nhà thơ ngoại quốc nào nổi tiếng ở đây), nhưng luôn được thán tụng như một người cùng với Margaret Atwood khởi sinh lại nền văn chương Canada từ lâu đã mất hút trên bản đồ bút mực thế giới. Không chỉ tác động mạnh mẽ lên thi ca hiện đại, bà còn là giáo sư ngành văn học so sánh, dịch giả tiếng Latin và Hy Lạp, nhà tiểu luận về Hy Lạp cổ đại. Thơ của bà là sự cách tân mạnh mẽ về hình thức, là sự đeo đuổi dai dẳng những dòng thơ tràn từ dòng này sang dòng khác, trình bày đột phá như một kịch bản phim, hay chiều dài các dòng giảm dần, một điều chưa từng thấy khi các nhà chính luận đổi địa hạt. Trong khi để duy trì một khối lượng lớn câu cú như thế, bà thường đi kể lể về các hình ảnh khó quy chụp cho một phép ẩn dụ (cái kẹp giấy, cái cổ, bao ni-lông, băng,…), mở đầu bằng một số các câu văn rời rạc, cố đề cập tới một không gian và tình cảnh cụ thể chỉ để chốt lại bằng những câu văn dường như vô nghĩa, lãng nhách và khó giải mã. Trong khi đó, trong một cuộc phỏng vấn, bà nói, “Nếu văn xuôi như một ngôi nhà đó, thì thơ là khi người ta đốt nó lên và có người chạy xuyên qua.” Bằng việc cố xây dựng một cốt truyện, thứ không quá cần thiết cho loại thơ lãng đãng, khó khăn như vậy, bà tự động đốt nó lên và hoạt động nó dưới một phản nhiệm vụ tương tự. Thỉnh thoảng, trong các dòng đó, bà sẽ chen vào những cảm nghĩ của mình, rất vu vơ, và dường như bẻ gẫy mạch thơ, làm nó trở nên như một thứ văn xuôi, trắc trở, từ chối mọi nỗ lực đọc hiểu.

Một trí tuệ siêu việt và uyên bác tột độ. Bằng cách ít nhất tạo nên sự gắn kết về văn thơ hiện đại với niềm yêu thích đặc biệt với văn chương cổ đại Hy Lạp, Tự truyện của Màu đỏ (Autobiography of Red, 1993) đem bà đến đỉnh cao của một cuốn truyện thơ khi kết hợp nhiều hình ảnh ẩn dụ không rõ ràng về truyền thuyết Hercules, cậu bé Geryon trong thần thoại Hy Lạp cùng tên, chắp vụn những mảnh thơ của bản Geryoneis còn sót lại của văn hào Stesichorus. Bản dịch được lồng ghép một cách rời rạc, vụn vặt và chắp nhặt. Đem đến thơ văn trong thơ văn, văn xuôi hấp dẫn và lôi cuốn như lời hát rong của Homer. Nhưng trong Tự truyện của Màu đỏ, có những thứ mà Odessey hay Iliad không hề có, sự lược bỏ chủ nghĩa anh hùng thay vào đó là những rủi ro rất hiện đại, sự dàn trải trên trang giấy cho phép các câu văn được phép mờ mịt và lắt léo. Ngoài ra, Nước lạt (Plainwater, 1995), Cái đẹp của ông chồng: Một tiểu luận hư cấu bằng 29 bài Tango (The Beauty of the Husband, 2001) đều là những công trình cổ điển được viết bằng thứ ngôn ngữ bán cổ điển, tân cổ điển giàu hình ảnh và khó tiếp cận, nhưng đều đồ sộ và uy nghi.

Hai bản dịch Bài học sầu bi: Bốn vở của Euripides (Grief Lessons: Four plays of Euripides, 2006) và An Oresteia (2009) của Anne đều dấy lên những tranh luận gay gắt. Về sự rời rạc trong kết nối truyện, hay về sự lường trước sự đổ vỡ trong ba bi kịch (An Oresteia). Hilton Als của The New Yorker gọi bản dịch Grief là bài học vỡ lòng về bản chất nguy hiểm của lòng mù quáng tới hệ cấp tiến tư tưởng. Brad Leisauther nói rằng ông không tìm thấy một cảm giác gắn kết nào của ba vở bi kịch nhà Atreus (gồm Agamemmon của Aeshcylus, Electra của Saphocles và Orestes của Euripides) và rằng nàng này đã khom xuống đáng kinh ngạc trong việc tạo ra sự phiền phức khi nhớ lại tính lộng lẫy từng biết của chúng. Nhưng chung quy lại, bằng một khía cạnh nào đó vẫn thể hiện ý thức dịch rất cao, rất khác của bà ở lĩnh vực này.

Đã mười năm giải Nobel làm ngơ thơ (từ thời bà Herta Müller) và hai ba hai tư năm kể từ lúc gần nhất Nobel trao cho một nhà thơ chính cống, tức là không được chú tâm, hoặc không viết một tác phẩm văn xuôi chính luận nào (từ thời bà Wisława Szymborska hay ông Seamus Heaney). Và năm nay là thời điểm mà hai giải Nobel được trao cùng lúc, hai địa hạt văn chương hoàn toàn khác nhau, hai thế hệ văn chương tách bạch, nhưng họ đều có chung một cấu tứ đi tìm vẻ toàn diện của con người qua những trải nghiệm vỡ vụn. Vượt lên trên đó, tiểu luận và thơ của Anne Carson lại đi tách những phần cao cả của con người ra thành những cốt truyện rất ngắn, vô thưởng vô phạt nhưng đầy mỹ cảm và thu hút chiết tách. Vì những lý do đó, đã đến lúc chúng ta nên đặt ra câu hỏi rằng liệu thơ có còn nằm trong các tiêu chí văn chương của Viện Hàn lâm Thuỵ Điển hay không, hay là với hai tiêu chí trái ngược, rằng Thơ không là những liệu pháp, Anne đã tự chặn đường mình tới giải thưởng lớn lao nhất hành tinh này. Và ta nên sợ rằng, rồi Anne Carson sẽ lại liệt vào danh sách những nữ văn sĩ yểu mệnh với Nobel, cùng với Sylvia Plath, Emily Dickinson, Susan Sontag một ngày nào đó, khi theo gót người anh của mình, Phillip Roth, người thầy mình, Joseph Conrad.

Hết.

Gia Bin (viết về Margaret Atwood và Anne Carson)

Ngô Thuận Phát (viết về Tàn Tuyết)


Đọc những bài viết của Ngô Thuật Phát.

Đọc những bài viết của Gia Bin.


1 Comment

1 Bình luận

  1. Trần Văn Quốc Việt

    Tháng Mười 19, 2019 at 12:48 chiều

    Bài hay ghê ^^

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Bookish PenChat #1: A talk with Katy Farina and Tom Angleberger

Published

on

1. Let’s start with a simple question: What’s the best thing about being a best-selling comic artist?

Katy: By far the best thing is that I get to keep being a comic artist! Drawing all day and telling stories is so fulfilling to me. If it weren’t for everyone’s support, I don’t know if I could do this full-time. Thank you so much for reading my books!

Tom: Well, it’s an awful lot of fun! Drawing comics is something I’ve been doing since I was a kid, so doing it as a job is just amazing! The best thing? Seeing how much better my art looks after it has been colored by artist Corey Barba! Suddenly it looks great!

2. How do you find the inspiration to develop the main idea and characters’ design for a story?

Katy: I take a lot from my communities - both my family and friends, and my Los Angeles community. I try to think about how certain problems would affect Karen or my other characters - how would their hearts feel when they experience something joyful, something sad, something frustrating. I like to talk to a lot of different kinds of people who have very different lives than me so that I can get inspiration from as many different places as possible. I also get a lot of inspiration from TV, books, movies, and other stories.

Tom: Ideas are everywhere! The tricky part can be deciding which ones are worth writing a book about. For example, one time I had an idea to write a book about nose-picking. And then I actually wrote the whole book… but nobody wants to read it!!!

For the character designs, I started with the amazing illustrations in the actual Geronimo Stilton novels. Since I can’t draw anywhere as good as those artists, I made mine as simply as possible. Just a few lines!

3. For a graphic novel aiming at younger audiences, what’s more important: educational value or digestible fun? How do you incorporate those two elements together without appearing too forced or “preachy”?

Katy: I think there can be a good balance of both fun and education! I focus a lot on “emotional intelligence” in my books, meaning that I like to encourage empathy in my readers. I try to focus on the emotion of a situation and how a little kid like Karen, who has a very small world, might react.

Everyone gets frustrated sometimes, and when you’re really young, you don’t always know what to do with that frustration. Sometimes you hurt people without meaning to. Karen acts very much like a six-year-old in that way! It’s also important that I show Karen taking ownership of her actions by apologizing when she realizes she’s wrong (everyone makes mistakes), asking for help when she needs it, and working with the older people in her life like Kristy who will talk through Karen’s problems with her. Focusing on emotional storytelling like this also gives me a lot of opportunities for very silly things to happen, like when Karen invited too many cats to her room for The Kittycat Club! I like very “big” emotions -- the hard ones and the funny ones!

Tom: With Geronimo, the positive ideas are very very natural. Geronimo is a good friend and he cares about other people (well, mice). So if you let the story play out and have fun with it, you’ll still end up with a positive message. That’s just who Geronimo is!

4. A question for Katy: While “Baby-Sitters Little Sister” is a series spin-off of “The Baby-Sitters Club”, your latest book, “Song of the Court”, is a completely original one. Do you find any difference between working on these two?

Katy: In some ways it’s different, but it can be similar, too. With Baby-Sitters Little Sister, I have Ann’s incredible vision to work from. Ann and the other Graphix Baby-Sitters Club artists have laid out this beautiful world for me to play in! With my original work, I have to create that world all on my own before I get to play in it, even if I still work with the same values - like encouraging empathy and telling emotion-based stories. It can be very intimidating to start from scratch!

5. So Tom, Asides from “Geronimo Stilton”, you are also the writer of “Origami Yoda”, “Fake Mustache”, “Horton Halfpott” and many other comic series. How do you master such creativity and productivity flow?

Tom: Many of my books have been written with friends! In fact, I’m working on a new one now with a friend who will do the artwork. But first, we are making up the story together. It can be so much fun to build up ideas together. And it takes off some of the pressure of needing to come up with something new.

6. Have you ever been to Vietnam? What’s your impression of our country?

Katy: I haven’t been to Vietnam...yet! I would love to visit! I haven’t been outside of America very much and would like to travel the world in my lifetime. Vietnam seems so beautiful from the pictures and videos I’ve seen, and I love the Vietnamese food I’ve tried here in the United States. I would consider myself extremely lucky to spend time in Vietnam!

Tom: I would LOVE LOVE LOVE to visit Vietnam. I already know that I will love the food, since PHO is one of my absolute favorite things to eat!

I also love wildlife. Your country has so many animals that I have never seen! I am so jealous!

6. In Vietnam, comic and cartoon drawing is a popular hobby of children and teenagers, but occupation-wise, a rather “foreign territory” lacking professional guidance. Would you like to share any advice or anecdote with soon-to-be comic artists who happen to read this interview?

Katy: This was the case for me as a teenager as well -- there was not really an American comic market back then besides Superheroes, which I wasn’t interested in as a teen. Manga only just started to be imported, and French comics were never too popular here. I had no clue how to make it into a career! But I have great news for all the soon-to-be storytellers -- webcomics and online-based storytelling is a huge way to develop a readership and to communicate to publishers, “a lot of people enjoy my story!” For example, Ngozi Ukazu, another American comic artist, started by publishing her comic “Check, Please!” online. As she developed a fanbase, she began to Kickstart (fundraise) her comics so they could be printed. Eventually, Macmillan Publishers took notice and began to distribute her books in traditional bookstores. “Check, Please!” is one of the most funded webcomic Kickstarters ever.

It can be very scary to share your work online for a lot of reasons, but I think it is also the most accessible way to share your stories. It’s a great way to connect with peers from all over the world, to learn from others, and to start growing your readership. You never know what could happen!

Tom: It can be a tough career here, too. It took me many years to have my first comic book published and there were many rejections along the way.

So, if you can’t find someone to publish your art, you can publish it yourself. I have hung comics on bulletin boards, handed out photocopies to friends and, of course, posted comics online.

While you’re doing that your skills and storytelling will get better and better, so that when you do get a chance you will be ready!


Bookish.vn is an online literary platform based in Ho Chi Minh city since April 2019, owned by Phuong Nam Bookstore, a trustworthy and popular bookstore chain in Vietnam. With the goal to provide an easy access to publishing industry news and an observant yet entertaining look at modern literature and reading culture, Bookish offers in-depth reviews of classic and contemporary works, recommendations and various takes on social issues.

Thank you for joining in with Bookish!

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Bookish PenChat #1: Họa sĩ truyện tranh Katy Farina và Tom Angleberger

Published

on


Bookish PenChat: Series phỏng vấn, tâm tình gần xa với các tác giả, dịch giả, họa sĩ, nhà báo,… độc quyền tại Bookish.


#1

The English version of this interview can be found here.

1. Hãy khởi động buổi trò chuyện này với một câu hỏi siêu dễ: Điều tuyệt vời nhất khi là họa sĩ truyện tranh best-selling?

Katy: Tính đến bây giờ, điều tuyệt vời nhất là tôi có thể tiếp tục làm cái nghề này! Với tôi, không gì mãn nguyện bằng việc được ngồi vẽ cả ngày và kể những câu chuyện. Nếu không có sự ủng hộ của độc giả, tôi không biết mình có thể làm công việc này toàn thời gian không. Cảm ơn mọi người rất nhiều vì đã đọc sách của tôi!

Tom: Chà, công việc này chứa đựng cực nhiều cái vui! Từ khi còn là một đứa trẻ, tôi đã tập tành vẽ truyện tranh, vì vậy có thể biến nó thành một cái nghề thật là tuyệt! Điều tuyệt vời nhất? Chứng kiến bản vẽ của mình thành hình sau khi nó trải qua bàn tay tô màu của họa sĩ Corey Barba! Đột nhiên nó trông cực đỉnh!

2. Các bạn khai thác cảm hứng từ đâu để phát triển ý tưởng câu chuyện và thiết kế nhân vật?

Katy: Tôi khai thác được nhiều điều từ vòng tròn xã hội của mình - gia đình, bạn bè và cộng đồng Los Angeles xung quanh. Tôi cố gắng nghĩ về cách Karen và các nhân vật khác bị tác động bởi một số vấn đề nhất định - các cô cậu bé cảm thấy thế nào khi trải nghiệm niềm vui, nỗi buồn và sự bực dọc. Tôi thích trò chuyện với đủ thể loại người, với những cuộc đời rất khác biệt với bản thân tôi để tìm kiếm cảm hứng từ nhiều nguồn nhất có thể. Tôi cũng khai thác được rất nhiều ý tưởng từ TV, sách, phim và những câu chuyện khác.

Tom: Ý tưởng tồn tại ở khắp mọi nơi! Phần khó là quyết định cái nào đáng để viết sách. Ví dụ, lần nọ tôi có ý định viết sách về sự ngoáy mũi. Và sau đó tôi đã bắt tay viết xong xuôi cuốn sách… nhưng chẳng ai muốn đọc nó cả!!!

Về việc thiết kế nhân vật, tôi bắt đầu từ những bức hình minh họa tuyệt vời trong chính cuốn tiểu thuyết Geronimo Stilton. Vì tôi không thể vẽ tốt bằng các họa sĩ gốc, nên tôi đã vẽ đơn giản nhất có thể. Chỉ thêm bớt vài đường thôi!

3. Đối với dòng truyện tranh hoặc graphic novel hướng đến độc giả nhỏ tuổi, điều gì quan trọng hơn: tính giáo dục hay các tình tiết vui nhộn? Làm thế nào để bạn kết hợp hai yếu tố đó với nhau mà không gượng ép hoặc “dạy đời”?

Katy: Tôi nghĩ hoàn toàn có thể có cân bằng tốt giữa sự vui nhộn và tính giáo dục! Trong các cuốn sách của mình, tôi tập trung rất nhiều vào “trí tuệ cảm xúc” - nghĩa là tôi muốn khuyến khích sự đồng cảm ở độc giả. Tôi cố gắng tập trung vào khía cảm cảm xúc trong một tình huống và cách một đứa trẻ như Karen - một đứa trẻ có vòm trời rất nhỏ - phản ứng như thế nào.

Ai cũng có lúc bực bội và khi bạn còn bé, không phải lúc nào bạn cũng biết cách giải quyết đống bực bội này. Đôi khi bạn vô tình làm tổn thương mọi người. Nói theo cách này, Karen cư xử rất giống một đứa trẻ sáu tuổi! Quan trọng là tôi phải để Karen chịu trách nhiệm cho hành vi của mình bằng cách xin lỗi khi cô bé nhận ra mình sai lầm (ai cũng có lúc phạm lỗi), cô bé cần biết cách hỏi xin sự giúp đỡ khi cần thiết và hòa hợp với những người lớn như chị Kristy, người sẽ trò chuyện để hóa giải những khúc mắc của cô bé. Tập trung vào cách kể chuyện đầy cảm xúc như thế này cũng cho tôi nhiều cơ hội để chế ra những tình tiết cực ngớ ngẩn, như khi Karen mời quá nhiều mèo vào phòng cho Câu lạc bộ Kittycat! Tôi thích những cảm xúc “cực đại” - những cảm xúc khó chiều và những cảm xúc vui nhộn!

Tom: Với Geronimo, những ý tưởng tích cực diễn ra rất tự nhiên. Geronimo là một người bạn tốt và cậu ấy quan tâm đến những con người (à không, chuột) khác. Vì vậy, nếu bạn để câu chuyện tiến triển tự nhiên và tận hưởng quá trình, bạn vẫn sẽ kết bài với một thông điệp tích cực. Geronimo chính là như thế!

4. Một câu hỏi dành cho Katy: Nếu Baby-Sitters Little Sister là series spin-off của The Baby-Sitters Club, thì cuốn sách mới nhất của bạn Song of the Court lại là một tác phẩm hoàn toàn mới. Quá trình sáng tác hai cuốn sách này có gì khác biệt không?

Katy: Nói theo cách nào đó thì hẳn là có khác biệt, nhưng đồng thời cũng có thể giống nhau. Với Baby-Sitters Little Sister, tôi thừa hưởng viễn kiến tuyệt vời của Ann để phát triển câu chuyện từ đó. Ann và các họa sĩ khác của Graphix Baby-Sitters Club đã tạo ra một thế giới tươi đẹp để tôi chơi đùa! Còn với tác phẩm gốc của mình, trước hết tôi phải tự mình tạo ra một thế giới mới, ngay cả khi tôi vẫn sáng tác với những mục tiêu tương tự - như khuyến khích sự đồng cảm và kể những câu chuyện dựa trên cảm xúc. Việc bắt đầu từ đầu cũng có thể khá là đáng sợ!

5. Tom này, ngoài Geronimo Stilton, bạn còn là tác giả của Origami Yoda, Fake Mustache, Horton Halfpott và nhiều series truyện tranh khác. Làm thế nào để bạn có thể sáng tác liên tục và năng suất như vậy?

Tom: Nhiều cuốn sách của tôi được đồng sáng tác với bạn bè! Trên thực tế, tôi đang tạo ra một tác phẩm mới với một người bạn vẽ minh hoa. Nhưng trước tiên, hai người chúng tôi phải cùng nhau sáng tạo nên câu chuyện. Việc cùng nhau xây dựng ý tưởng có thể rất vui. Nó cũng giảm đi áp lực khi phải chế ra một cái gì đó hoàn toàn mới.

6. Bạn đã từng đến Việt Nam chưa? Ấn tượng của bạn về đất nước của chúng tôi là gì?

Katy: Tôi vẫn chưa đến Việt Nam bao giờ...! Tôi mong muốn có dịp đến thăm! Tôi chưa ra rời chân khỏi ranh giới Mỹ nhiều và rất muốn được đi du lịch khắp thế giới. Qua những hình ảnh và video mà tôi đã xem, Việt Nam trông rất đẹp, và tôi thích những món ăn Việt Nam mà tôi đã từng thử ở Hoa Kỳ. Sẽ rất may mắn nếu tôi được dành thời gian thăm thú Việt Nam!

Tom: Tôi RẤT RẤT RẤT muốn đến thăm Việt Nam. Tôi chắc rằng mình sẽ thích các món ăn, vì PHỞ là một trong những thứ tôi cực thích!

Tôi cũng yêu thế giới động vật hoang dã. Đất nước của bạn có rất nhiều động vật mà tôi chưa từng nhìn thấy bây giờ! Thật đáng ghen tị!

7. Tại Việt Nam, vẽ truyện tranh là sở thích phổ biến của trẻ em và thanh thiếu niên, nhưng lại là một nghề nghiệp khá xa lạ và thiếu những trung tâm đào tạo chuyên nghiệp. Hai bạn có thể chia sẻ một số lời khuyên với các họa sĩ truyện tranh tương lai đang theo dõi cuộc phỏng vấn này không?

Katy: Đây cũng là hoàn cảnh của tôi khi còn là một thiếu niên - vào thời đó, thị trường truyện tranh Mỹ không tồn tại (ngoại trừ dòng sách siêu anh hùng - thứ mà tôi không mấy hứng thú). Manga chỉ mới bắt đầu du nhập, và truyện tranh Pháp không quá phổ biến ở đây. Tôi hoàn toàn không biết chút gì về việc phát triển sự nghiệp vẽ truyện tranh! Nhưng tôi có một tin tức tuyệt vời cho những họa sĩ truyện tranh tương lại: webcomics và các nền tảng kể chuyện trực tuyến là cách tuyệt vời để thu hút độc giả và các nhà xuất bản, “rất nhiều người thích truyện của tôi!” Ví dụ, một họa sĩ truyện tranh người Mỹ khác là Ngozi Ukazu đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng cách xuất bản series Check, Please! online. Khi cô ấy đã tạo dựng được một lượng người hâm mộ ổn định, cô ấy bắt đầu Kickstart (gây quỹ) để in ấn tác phẩm của mình. Cuối cùng, Nhà xuất bản Macmillan đã chú ý và bắt đầu phân phối sách của cô trong các hiệu sách truyền thống. Check, Please! là một trong những webcomic nhận được lượng tiền tài trợ nhiều nhất tại Kickstarter từ ​​trước đến nay.

Việc chia sẻ các tác phẩm của mình lên mạng thoạt nghe khá đáng sợ vì nhiều lý do, nhưng tôi nghĩ đó cũng là cách dễ tiếp cận nhất để chia sẻ câu chuyện của bạn. Đó là phương thức tuyệt vời để kết nối với các đồng nghiệp từ khắp nơi trên thế giới, học hỏi từ những người khác và bắt đầu tăng lượng độc giả. Bạn không bao giờ đoán trước được điều gì sẽ xảy ra!

Tom: Vẽ truyện tranh có thể là một sự nghiệp khó khăn. Tôi đã mất nhiều năm để xuất bản được cuốn truyện tranh đầu tiên trong đời, sau khi nhận vô số những lời từ chối.

Vì vậy, nếu bạn không thể thuyết phục được ai xuất bản tác phẩm của mình, bạn có thể tự xuất bản. Tôi đã tự dán truyện tranh của mình trên các bảng thông báo, phân phát bản copy cho bạn bè và dĩ nhiên, đăng truyện tranh lên mạng.

Khi bạn làm những việc này, kỹ năng và cách thức kể chuyện của bạn sẽ ngày càng tiến bộ, để khi có cơ hội, bạn đã sẵn sàng!

Hết.

Mèo Heo thực hiện.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Lê Khải Việt và những cảm hứng mong được kể lại

“Trên những trang sử, theo một nghĩa nào đó, không ai có thể có căn cước xác định.”

Published

on

By

Tôi đọc Chuyến bay tháng ba tình cờ vào đúng những ngày cuối tháng Tư đỏ lửa, nhưng không phải của hơn 45 năm trước mà là ở thời, ngày và giờ hiện tại. Thật trùng hợp khi mà đây cũng là một cuốn sách (phần nhiều) nói về chiến tranh, và hơn hết, còn về những điều đến nay ta vẫn không thể biết ai đúng, ai sai, ai phải, ai trái. Những dòng đầu của Lê Khải Việt làm tôi nhớ nhiều tới The Sympathizer của Viet Thanh Nguyen. Đơn cử cả hai đều viết về chiến tranh, đều là hành trình lội ngược về ký ức; nhưng còn hơn thế, đó là nỗ lực nhằm lộn trái cái tôi, đi sâu vào trong câu hỏi muôn đời của cái căn bản nhất và cốt tủy nhất khi sinh ra dưới nhân dáng con người.

Tôi cũng rất thích Austerlitz của W. G. Sebald vì những dòng hồi tưởng dài ngoằng, về những nhà ga và những con người nay đã chìm vào dĩ vãng. Càng thích hơn nữa những tấm ảnh trong cuốn sách ấy, vì đó là những hiện-thực-hóa câu văn để cho tâm trí bớt phần mỏi mệt vì những tưởng tượng phải vắt kiệt ra để tiêu hóa chúng. Và trong cuốn sách này, ngôi miếu cũ với ký hiệu EE vòng ngoài chữ C, tấm ảnh về chiếc trực thăng trên nóc chuồng cu vào ngày 29 tháng Tư hay cảnh chạy loạn của một gia đình đông đúc từ An Lộc chạy ra Sài Gòn… thực sự khiến tôi thích thú. Tôi hỏi anh về cảm hứng viết nên cuốn sách này, bởi nhẽ, những tấm ảnh, tư liệu hay những tưởng tượng khơi nguồn ngòi bút là một ấn tượng vô cùng sâu xa mà ta không thể chối cãi, dẫu ở vị thế nào hay chịu ảnh hưởng ra sao.

*

Dễ thấy một vài câu chuyện trong Chuyến bay tháng ba được khơi nguồn dựa trên những tư liệu lịch sử. Vậy quá trình sáng tạo nên cuốn sách này diễn ra thế nào, thưa anh?

Tôi khởi viết những truyện ngắn trong tập này từ cảm hứng của người viết, chứ không phải từ tư liệu lịch sử. Đương nhiên, khi viết tôi dựa trên những tư liệu lịch sử nhất định chứ không hoàn toàn hư cấu. Ví dụ như chi tiết về người đội trưởng toán biệt kích là dựa theo chuyện có thật của một vị cựu binh Mỹ ở Việt Nam mà vài năm trước người ta bàn tán khá sôi nổi. Ngoài cuốn sách của tác giả Vistica (The Education of Lieutenant Kerrey – Người viết) về chuyện này, tôi còn đọc một vài cuốn hồi ký khác của những biệt kích Navy SEAL để hy vọng miêu tả chân thực hơn.

Những chi tiết trong những truyện khác đều dựa vào những gì tôi đã đọc được trong sách lịch sử. Đó là phần tư liệu. Quay trở lại câu hỏi chính. Tôi viết những truyện ngắn trong cuốn sách này hoàn toàn dựa vào cảm hứng muốn kể lại cái gì đó, bằng cách nào đó, về một cuộc chiến và một thực tại mà tôi hình dung được. Về chuyện sáng tạo, thông thường trước khi viết tôi hay đọc lại vài trang của những tác giả ưa thích. Điều đó đem lại một chút kích thích để tay mình đỡ ngại ngùng hơn trên bàn phím.

*

Và cũng phải khẳng định rằng, đối với tôi, đây dường như không phải là một tuyển tập truyện ngắn dẫu cho dung lượng vừa phải của những kết cấu cấu thành nên nó. Mà cách gọi khác (có vẻ toàn diện và đầy đủ hơn) rằng chính nhưng văn bản này của Lê Khải Việt đã xây nên một bức tranh khớp nối hoàn hảo giữa ba thành tố - ký ức, thời gian và sự chuyển dời, để làm nên một cõi nhân tình thế thái mênh mông và đầy chuyển động. Trong đây ẩn chứa những câu chuyện tình của anh bộ đội và cô học sinh, những mưu mô tiếm quyền tự sâu bản chất hay những mối quan hệ đời sống đã đến hồi kết… mà anh gọi rằng là những “đoản văn vô thưởng vô phạt”. Nhưng rốt cuộc rồi liệu có hay không cũng không quan trọng, bởi lẽ, cái lững thững, lơ lửng; cái mất kết nối hay vô căn cước này đã xuất hiện tràn khắp một vùng không gian – có thể là những đặc trưng chiến tranh, mà cũng có thể rất là con người; không chút ngơi nghỉ hay khi vắng bóng.

*

Nói về thể loại của Chuyến bay tháng ba, liệu có thể cho rằng đây là một “tập truyện ngắn” bởi những sợi dây liên kết dẫu cho mong manh nhưng có tồn tại giữa các văn bản?

Nếu có một liên kết chung nào, như một chất liệu nền, thì đó là chiến tranh. Thật ra cũng có một hai truyện trong tập này chỉ là những đoản văn vô thưởng vô phạt, không dính dáng gì đến chiến tranh.

Nhân vật trong các câu chuyện của anh thường không có một căn cước xác định. Liệu đó là đặc tính của ký ức – sự bất định, hay ngầm ý rằng ai rồi cũng sẽ trở thành “nạn nhân” trong chính “trang sử” riêng bản thân mình?

Tôi cũng không rõ nữa. Có lẽ trên những trang sử, theo một nghĩa nào đó, không ai có thể có căn cước xác định.

*

Là tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, thế nhưng Chuyến bay tháng ba đưa tôi đi vào nhiều vùng từ trường khác nhau của các cách viết mới lạ. Tôi phát hiện một chút Kafka trong Đấu tranh, một chút George Saunders trong Căn phòng, và sau này, cả một chút lửng lơ của Sâm Thương hay Phan Triều Hải (như anh trả lời trong cuộc phỏng vấn) ở Ăn tối hay Ba điều ước. Nếu một người ngủ dậy bỗng chốc biến thành gián, thì ở đây bạn sẽ thấy loài rồng trên nóc miếu thờ trở về trong mơ. Nếu cặp đôi bị đưa vào phòng thí nghiệm thử loại Verbaluce ™ của một nhà khoa học dở hơi nào đó; thì căn phòng và một chỗ trũng trong cuốn sách này sẽ là điểm tụ phối cảnh làm trầm trọng hơn não trạng đã phân hai cực bởi do chiến tranh.

*

Một vài khoảnh khắc anh viết dễ gợi nhớ tới màu sắc của Franz Kafka hay George Saunders. Những nhà văn nào đã có tác động rất lớn lên anh?

Chắc chắn là Franz Kafka rồi. George Saunders cũng rất hay nhưng tôi chỉ mới đọc một cuốn của ông. Gần đây thì có Ray Bradbury. Tác giả Việt Nam thì Phạm Công Thiện, Nguyễn Huy Thiệp, Phan Triều Hải.

*

Và như đã nói, bởi những ý tưởng vượt thoát ra khỏi chiến tranh, tiếm quyền, tội ác… – bỗng chốc tôi nhận ra anh chỉ đang mượn ký ức như lớp vỏ ngoài của loài tôm sông. Cái lớp nhờ nhờ, sệt sệt mà ta đem đun hay đi nướng lên thành ra đỏ tươi vô cùng bắt mắt ấy thật ra vô nghĩa. Những điều xấu xa ẩn giấu trong đây qua lớp từ ngữ nay được mài khảm thành những cổ vật chìm giấu nghìn năm, nhưng có điểm chung là dù cho chúng được xử lý theo cách nào thì, rồi cũng sẽ vô dụng như lớp vỏ ấy, không một chút lợi cho vật bị ăn và người muốn ăn. Tôi hỏi anh vì sự vô nghĩa lý của chiến tranh, nhưng ngay cả khi chiến tranh xong rồi; niềm tỵ hiềm của người Việt hải ngoại với chính sách nhập cư của Trump, việc rút ra khỏi các chương trình bảo vệ khí hậu, việc xâm chiếm của đô thị hóa… thế sao vẫn còn? Anh không trải lời nhưng tôi biết một mặt nào đó, thinh lặng là câu trả lời tốt nhất.

*

Dễ thấy anh mượn chiến tranh chỉ như bộ mặt cho những “trò con trẻ” ẩn giấu đằng sau nhân tình thế thái. Dưới góc nhìn của một tác giả văn chương, anh nghĩ chất liệu đời sống có ảnh hưởng thế nào đến một cây viết?

Rõ ràng là cuộc sống chung quanh ảnh hưởng rất lớn đến một người viết. Ví dụ gần và rõ nhất là sự khác biệt trong văn chương của hai miền đất nước khi cuộc chiến diễn ra. Ở nước ngoài, ví dụ trường hợp Raymond Carver, ta có thể thấy sự thay đổi trong văn phong những tập truyện khi đời sống của ông thay đổi xoay quanh chứng nghiện rượu và cuộc hôn nhân trễ.   

Định hình nên cách viết riêng với cuốn sách đầu tay này, tôi hỏi anh thêm về những suy nghĩ rất riêng đối với nền văn chương hiện nay. Một thời đã qua của những tài năng sáng rực như Trần Dần, Nguyễn Huy Thiệp; một thời tiếp nối của Thuận, Nguyễn Bình Phương; hay vươn ra nước ngoài ở phía bên kia địa cầu với Ocean Vương và Linda Lê. Những nhà văn Việt Nam ở ngay tại đây và thời điểm này đối với văn học trong nước dường như đang đi xa quá. Họ không đủ sâu cũng chẳng đủ sát, họ nhợt nhạt, phai mờ và chìm nghỉm trong sự chọn lựa của độc giả. Họ ca ngợi những niềm ngây ngô tưởng như khó bề gọi thành văn chương. Họ già nua, cũ kỹ, hay nói như lời Nguyễn Huy Thiệp, rằng họ “tự phát thành danh” để “tùy tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa”.

*

Văn chương phương Đông hầu như luôn hướng về những bi kịch từ trong quá khứ. Liệu anh có nghĩ đã đến lúc những cây viết trẻ nên chuyển dịch sang những vấn đề mới hơn, sát sao hơn, ngay-bây-giờ và ở-tại-đây?

Tôi không nghĩ mình đọc đủ nhiều để nhận định về chuyện này. Tuy nhiên, đề tài mà tác giả lựa chọn để viết không nên bị bó buộc trong bất cứ giới hạn hay thành kiến. Quan trọng là tác giả đó viết hay hay dở, có chạm đến người đọc được không. Ngoài ra, những tác phẩm về quá khứ cũng có thể đang nói về hiện tại.

*

Từ quá khứ xa xưa hiện về trong ký ức đến cái hiện đại ào vào đời sống hiện nay, từ những xung đột ngoại quan đến những đối lập đời sống nội vi, từ vấn đề di dân đến người Việt hải ngoại ủng hộ các chính sách hạn chế nhập cư, từ biến đổi khí hậu đến đô thị hóa... Chuyến bay tháng ba là một nỗ lực tìm về những con người chung đã kịp chuyển hóa và bị đặt vào trong cảnh huống lưỡng nan của tình thế làm người. Sau rốt, những hệ giá trị đạo đức nào còn lại? Hay thậm chí, thực chất còn không hiện diện chính khái niệm ấy? Tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, nhưng gợi mở và đầy dấu ấn.

Hết.

minh (thực hiện)

Đọc bài viết

Cafe sáng