Chuyện người cầm bút

Một góc nhìn tiếc nuối về ba nữ nhà văn “suýt” có tên trong bảng vàng Nobel Văn chương 2019

Published

on

Trong số 116 người từng có vinh dự nhận giải Nobel Văn chương, chỉ có 15 người là nữ. Con số thoạt nhìn bất hợp lý gây ra rất nhiều tranh cãi, đặc biệt về nguồn cơn của sự thiếu cân bằng này. Có phải vì sự thiên vị của Hội đồng Nobel, hay do các tác gia nữ “kém tài” hơn những đồng nghiệp nam? Dưới đây là những cảm nhận và phân tích về ba nữ nhà văn, nhà thơ từng được kì vọng mang lại vinh quang văn học cho nữ giới – Margaret Atwood, Tàn Tuyết Anne Carson – những nhân vật mà người viết tin rằng, họ xứng đáng xuất hiện trong bảng vàng Nobel Văn chương 2019.

1. Margaret Atwood – Những con đường Man Booker

Ảnh: The Times

“Với những điều như thế, dĩ nhiên tôi đồ chắc rằng Margaret sẽ bị Viện đá ra khỏi đường đua vốn bảo thủ về mặt chính trị…”

Sau lần Margaret bắn một tràng chục tweets phản pháo lại dư luận hồi #MeToo, cùng cả những cánh dao đâm từ mọi lúc mọi nơi về tính nữ quyền (mà bà luôn chối bỏ) trong lần lượt các tác phẩm lớn: The Edible Woman, The Handmaid’s Tale, The Ponepoliad, The Heart Goes Last, đặc biệt bộ ba truyện hậu tận thế khổng lồ, MaddAddam. Có thể nói, bà là nhà văn của tai tiếng. Những lời cáo buộc nặng nề từ các nhà văn, truyền thông và báo chí, bộ trang phục màu đỏ với mũ trùm mặt xuất hiện một thời ở khắp các cuộc bãi công đòi giảm giờ làm ở Mỹ. Với những điều như thế, dĩ nhiên tôi đồ chắc rằng Margaret sẽ bị Viện đá ra khỏi đường đua vốn bảo thủ về mặt chính trị (sau khi Handke năm nay ẵm giải thì ý kiến đó lung lay đôi chút, nhưng ai mà biết những năm sau). Nhưng dù sao, đã có vòng tay của Man Booker rộng mở hứng bà về, với tổng số sáu cuốn sách lọt vào vòng chung khảo và không chỉ một lần trúng cử, lần gần đây nhất là The Testaments vài ngày trước. Dĩ nhiên, bằng một số giải thưởng lớn nhỏ, đã chứng tỏ được sự hùm oai của những cuốn sách “Margaretian”.

Khó mà không nhắc tới Margaret với tư cách một nhân vật đa tài trong hệ thống các nhà văn gồm nghề tay trái, nghề tay phải. Khởi đầu rực rỡ với tư cách một nhà thơ, tập thơ đầu tiên lúc mới bước chân vào Harvard, Double Persephone ấn hành năm 1960 đem lại cho bà mề đay Pratt; sáu năm sau, khi đang làm tiến sĩ, tập thơ The Circle Game mang lại cho bà giải thưởng danh giá nhất Canada, giải Thủ hiến. Trên đà rực rỡ đó, bà lại chuyển địa hạt sang viết tiểu thuyết. Tiểu thuyết đầu tay The Edible Woman tiếp tục thành công, được liên tục dẫn luận như trang viết châm biếm chủ nghĩa tiêu dùng ở Bắc Mỹ và mở đầu cho chuỗi các văn bản đậm tính nữ quyền sau đó. Nhưng có một điều đặc biệt ở bà, đó là sự không chấp nhận các tiểu thuyết của mình hoàn toàn là hư cấu và mua vui, ngay cả việc liên tục chối từ The Handmaid’s Tale hay Oryx và Crake là một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Bà gọi chúng là những tiểu thuyết đầu cơ (speculative novel). Những lời khẳng định của bà quy lại tính ẩn dụ và tiên đoán trong tác phẩm của bà. Ở đó, sự hư cấu và đen tối được xây dựng trên chính những cuộc đổ vỡ về nhận thức, ảo tưởng, cưỡng dâm, chính trị kiệt quệ. Và lời dự đoán tương lai một cách quá tối tăm và mang tính phản động ấy là lý do giải thích cho việc Maclean gọi bà là nhà văn tai tiếng nhất Canada tự đó. Họ thản nhiên phê phán hành vi của nhân vật Offred (The Handmaid’s Tale) trong cái khung tiểu thuyết phản không tưởng đó, dưới mọi hành vi quy định của phát ngôn tác giả trong quá khứ. Bên cạnh đó, bà còn là nhà uỷ thác sáng lập giải thơ Griffin, Hội Nhà văn Canada nhằm khuyến khích lớp nhà văn trẻ, bà là một nhà phát triển robot, một nhà giáo, một nhà tiểu luận và phê bình học,…

Margaret có chiến thuật độc đáo cho mình. Bằng việc phác thảo tiểu thuyết The Handmaid’s Tale dưới bối cảnh một nước Mỹ giả tưởng, hoặc tương lai, dưới tên Cộng hoà Gilead, bà sớm trở thành một nhà văn xuất khẩu hàng đầu cho văn học nước nhà. Là một cú sốc, một cú nổ với hơn 30.000 bản được bán ra, cuốn tiểu thuyết đưa lên những vị trí mà Margaret từng ước ao tuổi 16. The Handmaid’s Tale được đón nhận theo nhiều cách khác nhau, trong khi bằng một dài dòng các đoạn văn và tình tiết rất drama, về khả năng bóp nghẹt sự tiến tới của phụ nữ cả về đường ý thức, tình cảm lẫn tình dục; các độc giả Mỹ và Canada rùng mình đoán xem bao giờ nó đến với mình, thì người Anh lại coi nó có tính huyễn hoặc và giải trí khá cao. Nhưng Margaret không chỉ có cuốn sách đó, ngay lập tức. Nếu The Robber Bride hay Lady Oracle phóng chiếu những tượng đài về người phụ nữ đầy đầu tư, tỉ mẩn và đẩy lên cao thấp khác nhau được quy về một kiểu với Handmaid. Ở đó, khi xây dựng một cốt truyện phức tạp, nhiều công đoạn, những câu văn ấy đẩy mạnh cho sự đen tối của cuốn sách, rồi tới sự giải thoát nhưng ngỡ ngàng khi nhận ra cảm xúc vừa trôi đi ngang qua, mà mỗi câu văn đều thực sự tinh quái và châm biếm không tưởng. Trong khi Tay sát thủ mù lại gần với thơ hơn, được tóm gọn bằng một phong cách thứ hai của Margaret: ngôn ngữ tú lệ tạo tiền đề cho sự bí bách về những số phận phụ nữ mạnh mẽ nhưng loay hoay trong bối cảnh một Canada thực sự trào lộng, một biên niên hào hùng, tuyệt đẹp. Ở tất cả những cuốn sách đó, khi mà chữ “nữ quyền” luôn nên đặt trong dấu ngoặc kép để không phật ý tác giả, thì bằng cách bóc tách hiện tại như một sự phản kháng kép tiên đoán, tác giả vừa hợp lý với ý kiến bất đồng của mình với Guardian, vừa hướng tới chủ đề lớn hơn, chủ nghĩa toàn trị.

Bỏ qua mọi tai tiếng của #MeToo hay sự ngỡ ngàng đến phản đối kịch liệt từ các đồng nghiệp mình lên các loại sách phản không tưởng của mình, Margaret dường như làm đúng nguyện vọng của Viện Hàn lâm Thuỵ Điển: tính tiên đoán, tính cảnh tỉnh nhưng đổi lại thiếu tính phản kháng và đấu tranh (ý kiến của ai đó tôi đã quên). Nhưng có phải là thiếu hay không? Hay cách đấu tranh của Margaret nằm ở những cách thể hiện tế nhị, tinh tế, hoặc đẳng cấp hơn? Dù gì, với khả năng dấy động thông tin đại chúng như thế, Margaret xứng đáng cho một tấm mề đay, chỉ là khá xa, hoặc không tài nào.

2. Tàn Tuyết – Ngược duyên với Nobel

Ảnh: Paris Review

Mùa giải Nobel lại vừa trôi qua, dù đã được cược bởi nhà cái NiceOdds với số phiếu 1/15 ngang bằng với tiểu thuyết gia muôn đời lỡ muộn Murakami, Tàn Tuyết vẫn phải chịu thua bởi Viện Hàn lâm. Tự hỏi, đâu là lý do chính khiến bà ngã ngựa khi dường như có đầy đủ khả năng thắng giải? Liệu đó là do văn chương của bà, một sự kỳ ảo thâm căn đến từ sâu thẳm phương Đông mà các ngài mài quần trên ghế bên bán đảo Scandinavi khó thể hiểu nổi? Hay bởi chuyển ngữ, mà như bà nói, tiếng Trung là một ngôn ngữ mà ý nghĩa được chôn sâu và từ ngữ nhấn mạnh cảm giác? Hay bởi chính trị, với một chế độ Trung cộng đang lên quá nhanh và nỗi tị hiềm làm nên như thế? Hay bởi Trung Quốc quá nhiều Nobel (riêng ở châu Á) nên trao sẽ thừa? Chẳng ai hiểu được.

“Nobel và Tàn Tuyết, thiết nghĩ, như hai cá thể đồng mộng dị sàng, hoặc cả hai đều thèm khát nhau, hoặc chế giễu nhau, hoặc cùng an bày nhau, sao cũng được.”

Trong số những tác gia Trung Hoa có vinh dự được chuyển ngữ sang tiếng Việt, từ lối viết dễ cảm của Lưu Chấn Vân đến khó nhằn chi tiết của Dư Hoa, từ lớp trẻ như Mạch Gia đến lão luyện như Lý Nhuệ, Mao Thuẫn; dễ thấy phần lớn đều là nam nhân. Còn giới nữ, họa hằn lắm ta có Anchee Min, có Trương Duyệt Nhiên, có Vệ Tuệ, có Xuân Thu, Sơn Táp; và giữa một rừng những nam thanh nữ tú ấy, Tàn Tuyết hiện lên như chính cái nghệ danh bà tự đặt cho mình – một thứ dễ dàng tan biến mà lại đến mùa tàn. Tàn Tuyết nổi bật giữa văn đàn không hẳn vì một cái gì nổi bật: không một tác phẩn đỉnh điểm cũng không phát ngôn cách tân; mà cái nổi bật của bà chính ở một trường phái viết rất không giống ai: tự đào sâu mình, mở cánh cửa bước đi, nhìn ra thế giới.

Người ta gọi Tàn Tuyết là nhà văn thể nghiệm tiên phong (avant-garde), nhưng đối với riêng bản thân, thiết nghĩ, nên gọi văn chương của bà dưới tên “văn chương thuần túy” – như bà tự diễn giải, thì hơn. Vì xét về bản chất, đa số những tác phẩm của bà, từ truyện ngắn-vừa-dài đến tiểu thuyết, bình luận, phê bình; tất cả đều mang sứ mệnh rõ ràng của văn chương – thông qua từ ngữ, nhìn nhận bản thân. Khác chăng ở cách diễn đạt. Tàn Tuyết dùng nhiều ẩn dụ, đôi lúc bạo loạn, đôi khi dồn ta vào bước đường cùng; thế nhưng đó đều là những hình ảnh đặc tả. Một cách ngắn gọn, công việc của bà đơn giản là dùng những ẩn dụ này làm ra cánh cửa nhìn nhận bản thân, còn việc nhìn nhận thế nào và vào lúc nào mà ta thấy gì, lại rất phụ thuộc vào cảm quan người đọc. Nói một cách khác, văn chương Tàn Tuyết độc diễn nhưng đa nghĩa: đều là một từ ngữ đó, một hoạt cảnh đấy, thế nhưng khi đọc vào lúc sáng, lúc trưa, lúc chiều; khi ta 19 lúc ta 20; đương vào mùa xuân hay thoắt mùa hạ; mọi thứ lại được diễn giải theo một ý khác, và một điểm chung là mang theo vào cùng cả thế giới quan của ta.

Nếu đọc hầu hết những tác phẩm của Tàn Tuyết, ta dễ nhận ra bà nghiêng về hướng bạo lực. Việc sử dụng hình tượng, xây dựng cốt truyện, chuyển biến mạch dẫn; tất cả đều được xây dựng trên nền tảng cực đoan. Những hình ảnh như con mèo, loài rắn, châu chấu, bọ ngựa, các loài giáp xác,… liên tục xuất hiện trong những truyện ngắn và dài; như lời đại diện không những cho cái ác hiện hữu, mà còn cho những gì sắp tới. Ở đó, tự nhiên và con người luôn có một sự gắn bó hữu cơ khó thể chối bỏ, bà mang cả hai lồng ghép vào nhau như sự trở về khởi thủy, vì văn chương là nguồn cội, và Tàn Tuyết thường xuyên dùng những hình tượng này như khắc sâu chính nơi mà ta bắt đầu. Như trong Bảng lảng trời xanh hình ảnh lau sậy mọc đầy trong bụng Nhữ Hoa hay truyện Đứa bé nuôi rắn độc, rắn sinh sôi và nảy nở trong bụng Sa Nguyên, vừa là một thành tố tự nhiên, nhưng cũng đồng thời gắn kết gia đình.

Tàn Tuyết dùng nhiều hình ảnh rời rạc phân kỳ, không can hệ nhau; nhưng bằng sợi dây huyết thống một phần nào đó, bà buộc chúng lại làm nên không gian thời cuộc. Điểm này dễ thấy tương đồng dường như ở hầu hết các tác gia phương Đông. Nhưng bà xây dựng gia đình theo một hướng rất khác, luôn luôn mâu thuẫn. Như thể ở truyện ngắn Bong bóng xà phòng trên chậu nước đen, bà viết về một người mẹ luôn bị ám ảnh bởi sự sát hại từ chính con mình: “Được rồi, con ngoan!” Bà vỗ vai tôi. “Đó không phải là điều mà mày trông đợi hay sao? Điều mà ngày đêm mày mơ tưởng chính là chuyện này chứ gì nữa, tao rõ cả rồi. Mày cứ kiên nhẫn đợi đi, có lẽ sắp được như mong ước rồi đấy con ạ!”.

Cốt truyện Tàn Tuyết xây dựng thường không phức tạp, nó là sự lặp đi lặp lại những ý nghĩ bà muốn truyền đi, nhưng đôi khi nó đa nghĩa một cách phức tạp. Như trong Đào Nguyên ngoài cõi thế, khi ông Tư Tề bị bọn trẻ trên bãi cỏ hất ngã, đơn giản ta nghĩ chỉ như một sự chuyển đổi thế hệ, nhưng nhìn sâu vào, nó còn là hình ảnh của chính bà – con gái có người cha bị bỏ tù trong Đại Cách mạng Văn hóa, mà vào thời đó, hình ảnh chiếc ghế giữa sân và đám đông bao quanh thường tượng trưng cho đấu tố – một hình ảnh quen thuộc rất dễ bắt gặp ở những tác phẩm sau này. Truyện ngắn của bà đa số viết về những đấu tranh tư tưởng hầm ẩn hay hiện diện giữa những thế lực từ bên trong bản thân hay ngoài xã hội, nhưng đôi khi nó cũng là những câu chuyện riêng tư rất dễ bắt gặp. Trong đó, nhân vật chính thường là những con người với lý trí suy tàn phải tự chiến đấu với chính mình hay ngoài xã hội. Tàn Tuyết đẩy mạnh truyện đến cưỡng bức. Ngột ngạt dường như là không khí chính bao phủ hết hoàn toàn câu chuyện. Không xây dựng một cách nửa vời hay hướng mở, bà cho người đọc một hình dung chính xác và cách giải quyết của riêng mỗi một tình huống, không xào nấu, khoa trương, không giảm nhẹ, duy mỹ.

Tàn Tuyết là một trường hợp lạ, khó mà giải thích. Vì đa số những tác phẩm của bà vẫn chỉ có bao nhiêu đó nhân vật huyết thống, bao nhiêu đó ẩn dụ muôn loài, và bấy nhiêu cách giải quyết tình huống; thế nhưng ở mỗi câu chuyện, ta lại nhìn thấy những ngóc ngách nhỏ trong đời sống con người. Ở đó trí nhớ suy tàn được phục dựng, đứng dậy và lê lết ra phía ánh sáng như phút huy hoàng cuối cùng trước khi trở về mặt đất im lặng muôn đời. Như từng chia sẻ, bà viết tuần tự, từ đầu đến cuối, không xáo trộn chi tiết, không để dành cảnh trí đắt giá, không chỉnh sửa hậu cảnh, mỗi ngày ngồi viết một giờ; tất cả lại dường như quay về thiên hướng ban đầu của văn chương: những gì trào ra từ bên trong con người không tính toán nghĩ suy. Như Björk – nghệ sĩ tiên phong của âm nhạc thể nghiệm, khi được hỏi về một vòng hòa âm hay, bà không ngần ngại trả lời, không khi nào bà ghi âm một giai điệu bất chợt, nếu đủ hay nó sẽ vẫn ở đó sau một cuộc đi dạo dài. Hai người phụ nữ tượng trưng cho những tiên phong ở hai địa hạt khác nhau, thế nhưng giống nhau một cách thần kỳ.

Nobel và Tàn Tuyết, thiết nghĩ, như hai cá thể đồng mộng dị sàng, hoặc cả hai đều thèm khát nhau, hoặc chế giễu nhau, hoặc cùng an bài nhau, sao cũng được. Nhưng dẫu sao, hãy nên mua bản Việt ngữ lúc còn có thể, vì với danh xưng “favorite for Nobel Prize”, giá sách điện tử dành cho Kindle của bà đã tăng 3 lần, từ 4 lên 12 dollar, và nếu một ngày nào đó Nobel thật sự chạm ngõ, liệu còn có thể!?

3. Anne Carson – Số phận Nobel nào cho thơ?

Ảnh: Literary Hub

“Anne đã tự chặn đường mình tới giải thưởng lớn lao nhất hành tinh này.”

Sau tất cả những chuyến gọi nặc danh tới John Banville và chuyến xe đổ đá lên đầu vị văn sĩ dũng cảm Peter Handke năm nay, thì người cần được nuối tiếc năm nay nhất chính là Anne Carson. Với tỉ lệ phiếu cược 1/5 trên trang NiceOdds, và gia tài văn chương đồ sộ, một lần nữa, Nobel Văn chương lại không chọn thơ. Vô danh ở Việt Nam (hiếm có nhà thơ ngoại quốc nào nổi tiếng ở đây), nhưng luôn được thán tụng như một người cùng với Margaret Atwood khởi sinh lại nền văn chương Canada từ lâu đã mất hút trên bản đồ bút mực thế giới. Không chỉ tác động mạnh mẽ lên thi ca hiện đại, bà còn là giáo sư ngành văn học so sánh, dịch giả tiếng Latin và Hy Lạp, nhà tiểu luận về Hy Lạp cổ đại. Thơ của bà là sự cách tân mạnh mẽ về hình thức, là sự đeo đuổi dai dẳng những dòng thơ tràn từ dòng này sang dòng khác, trình bày đột phá như một kịch bản phim, hay chiều dài các dòng giảm dần, một điều chưa từng thấy khi các nhà chính luận đổi địa hạt. Trong khi để duy trì một khối lượng lớn câu cú như thế, bà thường đi kể lể về các hình ảnh khó quy chụp cho một phép ẩn dụ (cái kẹp giấy, cái cổ, bao ni-lông, băng,…), mở đầu bằng một số các câu văn rời rạc, cố đề cập tới một không gian và tình cảnh cụ thể chỉ để chốt lại bằng những câu văn dường như vô nghĩa, lãng nhách và khó giải mã. Trong khi đó, trong một cuộc phỏng vấn, bà nói, “Nếu văn xuôi như một ngôi nhà đó, thì thơ là khi người ta đốt nó lên và có người chạy xuyên qua.” Bằng việc cố xây dựng một cốt truyện, thứ không quá cần thiết cho loại thơ lãng đãng, khó khăn như vậy, bà tự động đốt nó lên và hoạt động nó dưới một phản nhiệm vụ tương tự. Thỉnh thoảng, trong các dòng đó, bà sẽ chen vào những cảm nghĩ của mình, rất vu vơ, và dường như bẻ gẫy mạch thơ, làm nó trở nên như một thứ văn xuôi, trắc trở, từ chối mọi nỗ lực đọc hiểu.

Một trí tuệ siêu việt và uyên bác tột độ. Bằng cách ít nhất tạo nên sự gắn kết về văn thơ hiện đại với niềm yêu thích đặc biệt với văn chương cổ đại Hy Lạp, Tự truyện của Màu đỏ (Autobiography of Red, 1993) đem bà đến đỉnh cao của một cuốn truyện thơ khi kết hợp nhiều hình ảnh ẩn dụ không rõ ràng về truyền thuyết Hercules, cậu bé Geryon trong thần thoại Hy Lạp cùng tên, chắp vụn những mảnh thơ của bản Geryoneis còn sót lại của văn hào Stesichorus. Bản dịch được lồng ghép một cách rời rạc, vụn vặt và chắp nhặt. Đem đến thơ văn trong thơ văn, văn xuôi hấp dẫn và lôi cuốn như lời hát rong của Homer. Nhưng trong Tự truyện của Màu đỏ, có những thứ mà Odessey hay Iliad không hề có, sự lược bỏ chủ nghĩa anh hùng thay vào đó là những rủi ro rất hiện đại, sự dàn trải trên trang giấy cho phép các câu văn được phép mờ mịt và lắt léo. Ngoài ra, Nước lạt (Plainwater, 1995), Cái đẹp của ông chồng: Một tiểu luận hư cấu bằng 29 bài Tango (The Beauty of the Husband, 2001) đều là những công trình cổ điển được viết bằng thứ ngôn ngữ bán cổ điển, tân cổ điển giàu hình ảnh và khó tiếp cận, nhưng đều đồ sộ và uy nghi.

Hai bản dịch Bài học sầu bi: Bốn vở của Euripides (Grief Lessons: Four plays of Euripides, 2006) và An Oresteia (2009) của Anne đều dấy lên những tranh luận gay gắt. Về sự rời rạc trong kết nối truyện, hay về sự lường trước sự đổ vỡ trong ba bi kịch (An Oresteia). Hilton Als của The New Yorker gọi bản dịch Grief là bài học vỡ lòng về bản chất nguy hiểm của lòng mù quáng tới hệ cấp tiến tư tưởng. Brad Leisauther nói rằng ông không tìm thấy một cảm giác gắn kết nào của ba vở bi kịch nhà Atreus (gồm Agamemmon của Aeshcylus, Electra của Saphocles và Orestes của Euripides) và rằng nàng này đã khom xuống đáng kinh ngạc trong việc tạo ra sự phiền phức khi nhớ lại tính lộng lẫy từng biết của chúng. Nhưng chung quy lại, bằng một khía cạnh nào đó vẫn thể hiện ý thức dịch rất cao, rất khác của bà ở lĩnh vực này.

Đã mười năm giải Nobel làm ngơ thơ (từ thời bà Herta Müller) và hai ba hai tư năm kể từ lúc gần nhất Nobel trao cho một nhà thơ chính cống, tức là không được chú tâm, hoặc không viết một tác phẩm văn xuôi chính luận nào (từ thời bà Wisława Szymborska hay ông Seamus Heaney). Và năm nay là thời điểm mà hai giải Nobel được trao cùng lúc, hai địa hạt văn chương hoàn toàn khác nhau, hai thế hệ văn chương tách bạch, nhưng họ đều có chung một cấu tứ đi tìm vẻ toàn diện của con người qua những trải nghiệm vỡ vụn. Vượt lên trên đó, tiểu luận và thơ của Anne Carson lại đi tách những phần cao cả của con người ra thành những cốt truyện rất ngắn, vô thưởng vô phạt nhưng đầy mỹ cảm và thu hút chiết tách. Vì những lý do đó, đã đến lúc chúng ta nên đặt ra câu hỏi rằng liệu thơ có còn nằm trong các tiêu chí văn chương của Viện Hàn lâm Thuỵ Điển hay không, hay là với hai tiêu chí trái ngược, rằng Thơ không là những liệu pháp, Anne đã tự chặn đường mình tới giải thưởng lớn lao nhất hành tinh này. Và ta nên sợ rằng, rồi Anne Carson sẽ lại liệt vào danh sách những nữ văn sĩ yểu mệnh với Nobel, cùng với Sylvia Plath, Emily Dickinson, Susan Sontag một ngày nào đó, khi theo gót người anh của mình, Phillip Roth, người thầy mình, Joseph Conrad.

Hết.

Gia Bin (viết về Margaret Atwood và Anne Carson)

Ngô Thuận Phát (viết về Tàn Tuyết)


Đọc những bài viết của Ngô Thuật Phát.

Đọc những bài viết của Gia Bin.


1 Comment

1 Bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Nhật Chiêu: Truyện tuyệt ngắn không dễ viết

Published

on

By

Lời tiên tri của giọt sương (xuất bản năm 2011) do nhà văn Nhật Chiêu chấp bút là tập truyện tuyệt ngắn và truyện một câu đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam. Qua đó, Nhật Chiêu cũng là một trong những nhà văn tiên phong cho thể loại này ở Việt Nam. Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn về truyện tuyệt ngắn.

Tại sao ông lại viết truyện tuyệt ngắn?

Có người gọi truyện tuyệt ngắn và truyện một câu là Hint fiction, tức là truyện có số lượng trên dưới khoảng 25 từ, là loại truyện khơi gợi một cái gì lớn hơn và phức tạp hơn với số lượng chữ ít ỏi nhất. Trong văn chương, tôi thích những gì khơi gợi hơn là những gì thuyết lí, phô bày lộ liễu. Sự khơi gợi sẽ đưa ta đến chân trời khoáng đạt, còn sự phô bày lộ liễu chỉ là hủy diệt mà thôi.

Có nhiều ý kiến cho rằng khi chuyển sang viết truyện tuyệt ngắn là ông đang chọn hướng đi dễ dãi với mình hơn, ông viết truyện tuyệt ngắn vì ông không thể viết những truyện dài. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Truyện một câu không hề dễ như người ta tưởng tượng. Bởi vì ngay cả trên thế giới, dù thể loại này đã tồn tại trước Việt Nam thì số lượng tác giả thành công cũng như tác phẩm thành công là rất hiếm. Nếu hỏi truyện một câu trên thế giới mà được nhớ đến và thường được trích dẫn thì chỉ có một, hai trường hợp. Trong đó, có Augusto Monterroso - tác giả Guatemala với truyện một câu: Khủng long gồm 8 chữ chữ như sau: “Thức dậy, con khủng long vẫn còn đó.” Truyện này được nhiều nhà văn lớn, trong đó có Italo Calvino ca ngợi hết lời, là đề tài cho nhiều tiểu luận khác nhau. Nếu truyện một câu là dễ dàng thì thử hỏi vì sao ít truyện một câu đạt được thành tựu đến thế. Người ta vẫn nói thơ Haiku dễ làm nhưng thật ra có bao nhiêu bài thơ Haiku được nhớ đến như là tuyệt tác. Tại sao quanh đi quẩn lại cũng chỉ là Basho, Issa, Buson, Shiki? Cho nên hãy cứ tạm xem truyện một câu hoặc hai, ba câu cũng giống như trường hợp thơ Haiku. Dễ hay khó không chắc gì quyết được và cũng chẳng cần tranh luận. Ai cảm thấy nó dễ thì cứ thử viết chơi vài trăm truyện. Thế thôi, bao giờ cũng vậy, dễ nhất là nói. Làm lại là một chuyện khác.

Trong văn học của nhiều nước vẫn luôn luôn tồn tại những nhà văn chỉ viết truyện ngắn. Như vậy, ngắn hay dài không phải là thước đo và thật sự càng ngày càng có xu hướng nhiều nhà văn viết truyện tuyệt ngắn. Tôi có rất nhiều tập truyện tuyệt ngắn của nhiều nhà văn loại này như Augusto Monterroso hoặc như tập truyện Hint fiction do Robert Swartwood tuyển của nhà xuất bản lừng danh Norton, hoặc các tập sách mang tên Flash fiction, Micro fiction…Mỗi ngày tôi đều đọc một vài truyện tuyệt ngắn hoặc truyện một câu của các nhà văn trên thế giới mà tôi đã may mắn sưu tầm được và càng đọc tôi càng thấy khó viết. Đó là ý kiến của tôi.

Là người đi tiên phong ở thể loại truyện tuyệt ngắn, trong quá trình viết, điều gì khiến ông cảm thấy khó khăn nhất?

Do thói quen thường xuyên đọc thơ Haiku và công án Thiền tông, đôi khi chỉ có vài từ hoặc chỉ duy nhất một từ, tôi từng ao ước trong thể loại truyện này cũng có những hình thức tương tự. Nhưng vấn đề là làm sao để cho dài ngắn thế nào thì truyện cũng phải có cái gọi là diễn biến truyện, nghĩa là có tính chất tự sự. Muốn vậy, phải có phương pháp, có cách sử dụng ngôn từ đặc biệt. Nếu không thì mọi sự sẽ thành nhảm và ai cũng làm được dễ dàng. Ví dụ: truyện có chữ Đất sẽ chẳng có nghĩa lí gì nếu như nó không có một tiêu đề thích hợp để gợi lên một vận động của truyện. Tiêu đề ở đây là Sử thi nàng Sita và “toàn văn” của truyện nhờ cái tiêu đề đó mà phát tiết ý nghĩa.

Khó khăn lớn nhất theo tôi vẫn là làm sao để nó đến được với người đọc một cách thuyết phục. Điều này không một tác giả nào có thể nắm chắc. Có những cái thuộc về thói quen, thành kiến, tầm đón đợi, thiếu thông tin… sẽ là những chướng ngại cho việc người đọc bước vào văn bản mà không e dè. Còn trong khi sáng tác, tôi cảm thấy mình quen thuộc với thể truyện tuyệt ngắn như thể có “nhân duyên gắn kết” - theo cách nói của Hoàng Lương, người viết lời bạt cho Lời tiên tri của giọt sương.

Ảnh: Thiên Kim
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Nhà văn Nhật Chiêu: Văn học nước ngoài nên được dạy như văn học Việt Nam

Published

on

By

Những tác phẩm văn học nước ngoài (VHNN) được đưa vào sách giáo khoa như một phần học chính thức bên cạnh văn học Việt Nam (VHVN). Thế nhưng, vì trong đề thi tốt nghiệp, đại học, đa phần tập trung vào VHVN nên việc giảng dạy VHNN trong nhà trường còn nhiều bất cập. Nhiều trường vì chạy đua theo thành tích nên đã không giảng dạy VHNN mà dành giờ học đó để tập trung ôn thi cho VHVN. Trước thực trạng trên, Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn, nhà giáo Nhật Chiêu - người có nhiều công trình nghiên cứu về văn học của các nước trên thế giới.

Thầy nghĩ sao về việc hiện nay nhiều trường không giảng dạy VHNN hoặc dạy rất sơ sài?

Đối với tôi, điều này không có gì là lạ cả. Đó là do các phần kiến thức thuộc về VHNN ít khi được đưa vào đề thi nên mới xảy ra tình trạng như thế. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nếu đã đưa VHNN vào chương trình giảng dạy thì phải làm sao cho đồng nhất việc dạy ở tất cả các trường. Còn nếu có trường dạy, trường không vì chỉ học cho biết thêm thì đừng nên đưa vào chương trình.

Theo quan điểm của thầy thì có nên cho giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN không?

Tôi không bức xúc về chuyện hiện nay VHNN chỉ được dạy như một kiến thức phụ trong môn Văn ở trường nhưng đúng là nếu để giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN thì sẽ tốt hơn rất nhiều. Đây là một việc nên làm. Cũng giống như khi ta học Toán, đó là một sự tổng hợp từ nhiều nền Toán học trên thế giới. Ta đâu có phân biệt, hay nói là đang học “Toán học Việt Nam”. Tương tự như vậy, tôi muốn môn Văn học cũng được nhìn nhận như thế. Càng học được từ nhiều nước khác nhau, ta càng có cái nhìn toàn diện và quan điểm đúng đắn hơn.

Theo thầy, việc học VHNN ngày xưa và bây giờ có gì khác nhau?

Ngày xưa, vào thời tôi thậm chí còn không có môn VHNN. Môn Văn được gọi bằng những cái tên như: “Việt Văn”, “Quốc Văn”, “Văn học Hán-Nôm”, “Văn học Việt-Hán”. Như vậy là ngay cái tên môn học cũng đã xác định rất rõ là chỉ dạy VHVN. Việc đặt tên môn Văn học như chương trình bây giờ là chính xác hơn.

Nếu là vậy thì ngày xưa thầy học VHNN từ những nguồn nào, bắt đầu từ khi nào mà thầy có ý thức nên học VHNN?

Từ bé đến nay, tôi chưa học VHNN một giờ nào theo nghĩa đến trường học. Tôi tự học chủ yếu qua sách báo, những tác phẩm nghiên cứu dịch thuật. Tôi bắt đầu có ý thức về việc này từ năm lớp 6. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ nếu VHNN được dạy một cách đàng hoàng, chính thức trong nhà trường thì vẫn vui hơn. Điều này cũng giống như khi bạn yêu mến một bản nhạc nào đó. Bạn có thể tự nghe nó một mình ở nhà cũng được nhưng cảm giác đến nhà hát nghe nhạc sống vẫn thích hơn phải không nào?

Thầy nghĩ như thế nào khi có người nói rằng việc học VHNN quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của học sinh. Cụ thể là các em sẽ suy nghĩ và viết văn theo cách của người phương Tây, của nước ngoài, không còn là của người Việt Nam nữa?

Đối với bản thân tôi, những chuyện khi tôi viết văn là những chuyện có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào. Và tôi thích văn chương như thế hơn là phải tự bó buộc mình khi viết với suy nghĩ rằng: “Tôi là người Việt Nam. Tôi chỉ viết những chuyện thuộc về Việt Nam.” Chẳng hạn như một trong những truyện cực ngắn mới nhất của tôi có câu như thế này: “Là người cuối cùng được phóng vào vũ trụ, anh nhìn thấy trái đất nổ tan.” Đó là chuyện có thể xảy ra ở bất cứ đâu mà cũng có thể chẳng xảy ra ở đâu cả. Nó chỉ nói về cảm giác của một con người cô đơn, lạc loài nói chung. Tôi muốn nhắn với các bạn như thế này: “Cứ viết những gì mình thích, những gì mình nghĩ.”

Ảnh: Ông Đồ Nghệ
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Cafe sáng