Chuyện người cầm bút

Một góc nhìn tiếc nuối về ba nữ nhà văn “suýt” có tên trong bảng vàng Nobel Văn chương 2019

Published

on

Trong số 116 người từng có vinh dự nhận giải Nobel Văn chương, chỉ có 15 người là nữ. Con số thoạt nhìn bất hợp lý gây ra rất nhiều tranh cãi, đặc biệt về nguồn cơn của sự thiếu cân bằng này. Có phải vì sự thiên vị của Hội đồng Nobel, hay do các tác gia nữ “kém tài” hơn những đồng nghiệp nam? Dưới đây là những cảm nhận và phân tích về ba nữ nhà văn, nhà thơ từng được kì vọng mang lại vinh quang văn học cho nữ giới – Margaret Atwood, Tàn Tuyết Anne Carson – những nhân vật mà người viết tin rằng, họ xứng đáng xuất hiện trong bảng vàng Nobel Văn chương 2019.

1. Margaret Atwood – Những con đường Man Booker

Ảnh: The Times

“Với những điều như thế, dĩ nhiên tôi đồ chắc rằng Margaret sẽ bị Viện đá ra khỏi đường đua vốn bảo thủ về mặt chính trị…”

Sau lần Margaret bắn một tràng chục tweets phản pháo lại dư luận hồi #MeToo, cùng cả những cánh dao đâm từ mọi lúc mọi nơi về tính nữ quyền (mà bà luôn chối bỏ) trong lần lượt các tác phẩm lớn: The Edible Woman, The Handmaid’s Tale, The Ponepoliad, The Heart Goes Last, đặc biệt bộ ba truyện hậu tận thế khổng lồ, MaddAddam. Có thể nói, bà là nhà văn của tai tiếng. Những lời cáo buộc nặng nề từ các nhà văn, truyền thông và báo chí, bộ trang phục màu đỏ với mũ trùm mặt xuất hiện một thời ở khắp các cuộc bãi công đòi giảm giờ làm ở Mỹ. Với những điều như thế, dĩ nhiên tôi đồ chắc rằng Margaret sẽ bị Viện đá ra khỏi đường đua vốn bảo thủ về mặt chính trị (sau khi Handke năm nay ẵm giải thì ý kiến đó lung lay đôi chút, nhưng ai mà biết những năm sau). Nhưng dù sao, đã có vòng tay của Man Booker rộng mở hứng bà về, với tổng số sáu cuốn sách lọt vào vòng chung khảo và không chỉ một lần trúng cử, lần gần đây nhất là The Testaments vài ngày trước. Dĩ nhiên, bằng một số giải thưởng lớn nhỏ, đã chứng tỏ được sự hùm oai của những cuốn sách “Margaretian”.

Khó mà không nhắc tới Margaret với tư cách một nhân vật đa tài trong hệ thống các nhà văn gồm nghề tay trái, nghề tay phải. Khởi đầu rực rỡ với tư cách một nhà thơ, tập thơ đầu tiên lúc mới bước chân vào Harvard, Double Persephone ấn hành năm 1960 đem lại cho bà mề đay Pratt; sáu năm sau, khi đang làm tiến sĩ, tập thơ The Circle Game mang lại cho bà giải thưởng danh giá nhất Canada, giải Thủ hiến. Trên đà rực rỡ đó, bà lại chuyển địa hạt sang viết tiểu thuyết. Tiểu thuyết đầu tay The Edible Woman tiếp tục thành công, được liên tục dẫn luận như trang viết châm biếm chủ nghĩa tiêu dùng ở Bắc Mỹ và mở đầu cho chuỗi các văn bản đậm tính nữ quyền sau đó. Nhưng có một điều đặc biệt ở bà, đó là sự không chấp nhận các tiểu thuyết của mình hoàn toàn là hư cấu và mua vui, ngay cả việc liên tục chối từ The Handmaid’s Tale hay Oryx và Crake là một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Bà gọi chúng là những tiểu thuyết đầu cơ (speculative novel). Những lời khẳng định của bà quy lại tính ẩn dụ và tiên đoán trong tác phẩm của bà. Ở đó, sự hư cấu và đen tối được xây dựng trên chính những cuộc đổ vỡ về nhận thức, ảo tưởng, cưỡng dâm, chính trị kiệt quệ. Và lời dự đoán tương lai một cách quá tối tăm và mang tính phản động ấy là lý do giải thích cho việc Maclean gọi bà là nhà văn tai tiếng nhất Canada tự đó. Họ thản nhiên phê phán hành vi của nhân vật Offred (The Handmaid’s Tale) trong cái khung tiểu thuyết phản không tưởng đó, dưới mọi hành vi quy định của phát ngôn tác giả trong quá khứ. Bên cạnh đó, bà còn là nhà uỷ thác sáng lập giải thơ Griffin, Hội Nhà văn Canada nhằm khuyến khích lớp nhà văn trẻ, bà là một nhà phát triển robot, một nhà giáo, một nhà tiểu luận và phê bình học,…

Margaret có chiến thuật độc đáo cho mình. Bằng việc phác thảo tiểu thuyết The Handmaid’s Tale dưới bối cảnh một nước Mỹ giả tưởng, hoặc tương lai, dưới tên Cộng hoà Gilead, bà sớm trở thành một nhà văn xuất khẩu hàng đầu cho văn học nước nhà. Là một cú sốc, một cú nổ với hơn 30.000 bản được bán ra, cuốn tiểu thuyết đưa lên những vị trí mà Margaret từng ước ao tuổi 16. The Handmaid’s Tale được đón nhận theo nhiều cách khác nhau, trong khi bằng một dài dòng các đoạn văn và tình tiết rất drama, về khả năng bóp nghẹt sự tiến tới của phụ nữ cả về đường ý thức, tình cảm lẫn tình dục; các độc giả Mỹ và Canada rùng mình đoán xem bao giờ nó đến với mình, thì người Anh lại coi nó có tính huyễn hoặc và giải trí khá cao. Nhưng Margaret không chỉ có cuốn sách đó, ngay lập tức. Nếu The Robber Bride hay Lady Oracle phóng chiếu những tượng đài về người phụ nữ đầy đầu tư, tỉ mẩn và đẩy lên cao thấp khác nhau được quy về một kiểu với Handmaid. Ở đó, khi xây dựng một cốt truyện phức tạp, nhiều công đoạn, những câu văn ấy đẩy mạnh cho sự đen tối của cuốn sách, rồi tới sự giải thoát nhưng ngỡ ngàng khi nhận ra cảm xúc vừa trôi đi ngang qua, mà mỗi câu văn đều thực sự tinh quái và châm biếm không tưởng. Trong khi Tay sát thủ mù lại gần với thơ hơn, được tóm gọn bằng một phong cách thứ hai của Margaret: ngôn ngữ tú lệ tạo tiền đề cho sự bí bách về những số phận phụ nữ mạnh mẽ nhưng loay hoay trong bối cảnh một Canada thực sự trào lộng, một biên niên hào hùng, tuyệt đẹp. Ở tất cả những cuốn sách đó, khi mà chữ “nữ quyền” luôn nên đặt trong dấu ngoặc kép để không phật ý tác giả, thì bằng cách bóc tách hiện tại như một sự phản kháng kép tiên đoán, tác giả vừa hợp lý với ý kiến bất đồng của mình với Guardian, vừa hướng tới chủ đề lớn hơn, chủ nghĩa toàn trị.

Bỏ qua mọi tai tiếng của #MeToo hay sự ngỡ ngàng đến phản đối kịch liệt từ các đồng nghiệp mình lên các loại sách phản không tưởng của mình, Margaret dường như làm đúng nguyện vọng của Viện Hàn lâm Thuỵ Điển: tính tiên đoán, tính cảnh tỉnh nhưng đổi lại thiếu tính phản kháng và đấu tranh (ý kiến của ai đó tôi đã quên). Nhưng có phải là thiếu hay không? Hay cách đấu tranh của Margaret nằm ở những cách thể hiện tế nhị, tinh tế, hoặc đẳng cấp hơn? Dù gì, với khả năng dấy động thông tin đại chúng như thế, Margaret xứng đáng cho một tấm mề đay, chỉ là khá xa, hoặc không tài nào.

2. Tàn Tuyết – Ngược duyên với Nobel

Ảnh: Paris Review

Mùa giải Nobel lại vừa trôi qua, dù đã được cược bởi nhà cái NiceOdds với số phiếu 1/15 ngang bằng với tiểu thuyết gia muôn đời lỡ muộn Murakami, Tàn Tuyết vẫn phải chịu thua bởi Viện Hàn lâm. Tự hỏi, đâu là lý do chính khiến bà ngã ngựa khi dường như có đầy đủ khả năng thắng giải? Liệu đó là do văn chương của bà, một sự kỳ ảo thâm căn đến từ sâu thẳm phương Đông mà các ngài mài quần trên ghế bên bán đảo Scandinavi khó thể hiểu nổi? Hay bởi chuyển ngữ, mà như bà nói, tiếng Trung là một ngôn ngữ mà ý nghĩa được chôn sâu và từ ngữ nhấn mạnh cảm giác? Hay bởi chính trị, với một chế độ Trung cộng đang lên quá nhanh và nỗi tị hiềm làm nên như thế? Hay bởi Trung Quốc quá nhiều Nobel (riêng ở châu Á) nên trao sẽ thừa? Chẳng ai hiểu được.

“Nobel và Tàn Tuyết, thiết nghĩ, như hai cá thể đồng mộng dị sàng, hoặc cả hai đều thèm khát nhau, hoặc chế giễu nhau, hoặc cùng an bày nhau, sao cũng được.”

Trong số những tác gia Trung Hoa có vinh dự được chuyển ngữ sang tiếng Việt, từ lối viết dễ cảm của Lưu Chấn Vân đến khó nhằn chi tiết của Dư Hoa, từ lớp trẻ như Mạch Gia đến lão luyện như Lý Nhuệ, Mao Thuẫn; dễ thấy phần lớn đều là nam nhân. Còn giới nữ, họa hằn lắm ta có Anchee Min, có Trương Duyệt Nhiên, có Vệ Tuệ, có Xuân Thu, Sơn Táp; và giữa một rừng những nam thanh nữ tú ấy, Tàn Tuyết hiện lên như chính cái nghệ danh bà tự đặt cho mình – một thứ dễ dàng tan biến mà lại đến mùa tàn. Tàn Tuyết nổi bật giữa văn đàn không hẳn vì một cái gì nổi bật: không một tác phẩn đỉnh điểm cũng không phát ngôn cách tân; mà cái nổi bật của bà chính ở một trường phái viết rất không giống ai: tự đào sâu mình, mở cánh cửa bước đi, nhìn ra thế giới.

Người ta gọi Tàn Tuyết là nhà văn thể nghiệm tiên phong (avant-garde), nhưng đối với riêng bản thân, thiết nghĩ, nên gọi văn chương của bà dưới tên “văn chương thuần túy” – như bà tự diễn giải, thì hơn. Vì xét về bản chất, đa số những tác phẩm của bà, từ truyện ngắn-vừa-dài đến tiểu thuyết, bình luận, phê bình; tất cả đều mang sứ mệnh rõ ràng của văn chương – thông qua từ ngữ, nhìn nhận bản thân. Khác chăng ở cách diễn đạt. Tàn Tuyết dùng nhiều ẩn dụ, đôi lúc bạo loạn, đôi khi dồn ta vào bước đường cùng; thế nhưng đó đều là những hình ảnh đặc tả. Một cách ngắn gọn, công việc của bà đơn giản là dùng những ẩn dụ này làm ra cánh cửa nhìn nhận bản thân, còn việc nhìn nhận thế nào và vào lúc nào mà ta thấy gì, lại rất phụ thuộc vào cảm quan người đọc. Nói một cách khác, văn chương Tàn Tuyết độc diễn nhưng đa nghĩa: đều là một từ ngữ đó, một hoạt cảnh đấy, thế nhưng khi đọc vào lúc sáng, lúc trưa, lúc chiều; khi ta 19 lúc ta 20; đương vào mùa xuân hay thoắt mùa hạ; mọi thứ lại được diễn giải theo một ý khác, và một điểm chung là mang theo vào cùng cả thế giới quan của ta.

Nếu đọc hầu hết những tác phẩm của Tàn Tuyết, ta dễ nhận ra bà nghiêng về hướng bạo lực. Việc sử dụng hình tượng, xây dựng cốt truyện, chuyển biến mạch dẫn; tất cả đều được xây dựng trên nền tảng cực đoan. Những hình ảnh như con mèo, loài rắn, châu chấu, bọ ngựa, các loài giáp xác,… liên tục xuất hiện trong những truyện ngắn và dài; như lời đại diện không những cho cái ác hiện hữu, mà còn cho những gì sắp tới. Ở đó, tự nhiên và con người luôn có một sự gắn bó hữu cơ khó thể chối bỏ, bà mang cả hai lồng ghép vào nhau như sự trở về khởi thủy, vì văn chương là nguồn cội, và Tàn Tuyết thường xuyên dùng những hình tượng này như khắc sâu chính nơi mà ta bắt đầu. Như trong Bảng lảng trời xanh hình ảnh lau sậy mọc đầy trong bụng Nhữ Hoa hay truyện Đứa bé nuôi rắn độc, rắn sinh sôi và nảy nở trong bụng Sa Nguyên, vừa là một thành tố tự nhiên, nhưng cũng đồng thời gắn kết gia đình.

Tàn Tuyết dùng nhiều hình ảnh rời rạc phân kỳ, không can hệ nhau; nhưng bằng sợi dây huyết thống một phần nào đó, bà buộc chúng lại làm nên không gian thời cuộc. Điểm này dễ thấy tương đồng dường như ở hầu hết các tác gia phương Đông. Nhưng bà xây dựng gia đình theo một hướng rất khác, luôn luôn mâu thuẫn. Như thể ở truyện ngắn Bong bóng xà phòng trên chậu nước đen, bà viết về một người mẹ luôn bị ám ảnh bởi sự sát hại từ chính con mình: “Được rồi, con ngoan!” Bà vỗ vai tôi. “Đó không phải là điều mà mày trông đợi hay sao? Điều mà ngày đêm mày mơ tưởng chính là chuyện này chứ gì nữa, tao rõ cả rồi. Mày cứ kiên nhẫn đợi đi, có lẽ sắp được như mong ước rồi đấy con ạ!”.

Cốt truyện Tàn Tuyết xây dựng thường không phức tạp, nó là sự lặp đi lặp lại những ý nghĩ bà muốn truyền đi, nhưng đôi khi nó đa nghĩa một cách phức tạp. Như trong Đào Nguyên ngoài cõi thế, khi ông Tư Tề bị bọn trẻ trên bãi cỏ hất ngã, đơn giản ta nghĩ chỉ như một sự chuyển đổi thế hệ, nhưng nhìn sâu vào, nó còn là hình ảnh của chính bà – con gái có người cha bị bỏ tù trong Đại Cách mạng Văn hóa, mà vào thời đó, hình ảnh chiếc ghế giữa sân và đám đông bao quanh thường tượng trưng cho đấu tố – một hình ảnh quen thuộc rất dễ bắt gặp ở những tác phẩm sau này. Truyện ngắn của bà đa số viết về những đấu tranh tư tưởng hầm ẩn hay hiện diện giữa những thế lực từ bên trong bản thân hay ngoài xã hội, nhưng đôi khi nó cũng là những câu chuyện riêng tư rất dễ bắt gặp. Trong đó, nhân vật chính thường là những con người với lý trí suy tàn phải tự chiến đấu với chính mình hay ngoài xã hội. Tàn Tuyết đẩy mạnh truyện đến cưỡng bức. Ngột ngạt dường như là không khí chính bao phủ hết hoàn toàn câu chuyện. Không xây dựng một cách nửa vời hay hướng mở, bà cho người đọc một hình dung chính xác và cách giải quyết của riêng mỗi một tình huống, không xào nấu, khoa trương, không giảm nhẹ, duy mỹ.

Tàn Tuyết là một trường hợp lạ, khó mà giải thích. Vì đa số những tác phẩm của bà vẫn chỉ có bao nhiêu đó nhân vật huyết thống, bao nhiêu đó ẩn dụ muôn loài, và bấy nhiêu cách giải quyết tình huống; thế nhưng ở mỗi câu chuyện, ta lại nhìn thấy những ngóc ngách nhỏ trong đời sống con người. Ở đó trí nhớ suy tàn được phục dựng, đứng dậy và lê lết ra phía ánh sáng như phút huy hoàng cuối cùng trước khi trở về mặt đất im lặng muôn đời. Như từng chia sẻ, bà viết tuần tự, từ đầu đến cuối, không xáo trộn chi tiết, không để dành cảnh trí đắt giá, không chỉnh sửa hậu cảnh, mỗi ngày ngồi viết một giờ; tất cả lại dường như quay về thiên hướng ban đầu của văn chương: những gì trào ra từ bên trong con người không tính toán nghĩ suy. Như Björk – nghệ sĩ tiên phong của âm nhạc thể nghiệm, khi được hỏi về một vòng hòa âm hay, bà không ngần ngại trả lời, không khi nào bà ghi âm một giai điệu bất chợt, nếu đủ hay nó sẽ vẫn ở đó sau một cuộc đi dạo dài. Hai người phụ nữ tượng trưng cho những tiên phong ở hai địa hạt khác nhau, thế nhưng giống nhau một cách thần kỳ.

Nobel và Tàn Tuyết, thiết nghĩ, như hai cá thể đồng mộng dị sàng, hoặc cả hai đều thèm khát nhau, hoặc chế giễu nhau, hoặc cùng an bài nhau, sao cũng được. Nhưng dẫu sao, hãy nên mua bản Việt ngữ lúc còn có thể, vì với danh xưng “favorite for Nobel Prize”, giá sách điện tử dành cho Kindle của bà đã tăng 3 lần, từ 4 lên 12 dollar, và nếu một ngày nào đó Nobel thật sự chạm ngõ, liệu còn có thể!?

3. Anne Carson – Số phận Nobel nào cho thơ?

Ảnh: Literary Hub

“Anne đã tự chặn đường mình tới giải thưởng lớn lao nhất hành tinh này.”

Sau tất cả những chuyến gọi nặc danh tới John Banville và chuyến xe đổ đá lên đầu vị văn sĩ dũng cảm Peter Handke năm nay, thì người cần được nuối tiếc năm nay nhất chính là Anne Carson. Với tỉ lệ phiếu cược 1/5 trên trang NiceOdds, và gia tài văn chương đồ sộ, một lần nữa, Nobel Văn chương lại không chọn thơ. Vô danh ở Việt Nam (hiếm có nhà thơ ngoại quốc nào nổi tiếng ở đây), nhưng luôn được thán tụng như một người cùng với Margaret Atwood khởi sinh lại nền văn chương Canada từ lâu đã mất hút trên bản đồ bút mực thế giới. Không chỉ tác động mạnh mẽ lên thi ca hiện đại, bà còn là giáo sư ngành văn học so sánh, dịch giả tiếng Latin và Hy Lạp, nhà tiểu luận về Hy Lạp cổ đại. Thơ của bà là sự cách tân mạnh mẽ về hình thức, là sự đeo đuổi dai dẳng những dòng thơ tràn từ dòng này sang dòng khác, trình bày đột phá như một kịch bản phim, hay chiều dài các dòng giảm dần, một điều chưa từng thấy khi các nhà chính luận đổi địa hạt. Trong khi để duy trì một khối lượng lớn câu cú như thế, bà thường đi kể lể về các hình ảnh khó quy chụp cho một phép ẩn dụ (cái kẹp giấy, cái cổ, bao ni-lông, băng,…), mở đầu bằng một số các câu văn rời rạc, cố đề cập tới một không gian và tình cảnh cụ thể chỉ để chốt lại bằng những câu văn dường như vô nghĩa, lãng nhách và khó giải mã. Trong khi đó, trong một cuộc phỏng vấn, bà nói, “Nếu văn xuôi như một ngôi nhà đó, thì thơ là khi người ta đốt nó lên và có người chạy xuyên qua.” Bằng việc cố xây dựng một cốt truyện, thứ không quá cần thiết cho loại thơ lãng đãng, khó khăn như vậy, bà tự động đốt nó lên và hoạt động nó dưới một phản nhiệm vụ tương tự. Thỉnh thoảng, trong các dòng đó, bà sẽ chen vào những cảm nghĩ của mình, rất vu vơ, và dường như bẻ gẫy mạch thơ, làm nó trở nên như một thứ văn xuôi, trắc trở, từ chối mọi nỗ lực đọc hiểu.

Một trí tuệ siêu việt và uyên bác tột độ. Bằng cách ít nhất tạo nên sự gắn kết về văn thơ hiện đại với niềm yêu thích đặc biệt với văn chương cổ đại Hy Lạp, Tự truyện của Màu đỏ (Autobiography of Red, 1993) đem bà đến đỉnh cao của một cuốn truyện thơ khi kết hợp nhiều hình ảnh ẩn dụ không rõ ràng về truyền thuyết Hercules, cậu bé Geryon trong thần thoại Hy Lạp cùng tên, chắp vụn những mảnh thơ của bản Geryoneis còn sót lại của văn hào Stesichorus. Bản dịch được lồng ghép một cách rời rạc, vụn vặt và chắp nhặt. Đem đến thơ văn trong thơ văn, văn xuôi hấp dẫn và lôi cuốn như lời hát rong của Homer. Nhưng trong Tự truyện của Màu đỏ, có những thứ mà Odessey hay Iliad không hề có, sự lược bỏ chủ nghĩa anh hùng thay vào đó là những rủi ro rất hiện đại, sự dàn trải trên trang giấy cho phép các câu văn được phép mờ mịt và lắt léo. Ngoài ra, Nước lạt (Plainwater, 1995), Cái đẹp của ông chồng: Một tiểu luận hư cấu bằng 29 bài Tango (The Beauty of the Husband, 2001) đều là những công trình cổ điển được viết bằng thứ ngôn ngữ bán cổ điển, tân cổ điển giàu hình ảnh và khó tiếp cận, nhưng đều đồ sộ và uy nghi.

Hai bản dịch Bài học sầu bi: Bốn vở của Euripides (Grief Lessons: Four plays of Euripides, 2006) và An Oresteia (2009) của Anne đều dấy lên những tranh luận gay gắt. Về sự rời rạc trong kết nối truyện, hay về sự lường trước sự đổ vỡ trong ba bi kịch (An Oresteia). Hilton Als của The New Yorker gọi bản dịch Grief là bài học vỡ lòng về bản chất nguy hiểm của lòng mù quáng tới hệ cấp tiến tư tưởng. Brad Leisauther nói rằng ông không tìm thấy một cảm giác gắn kết nào của ba vở bi kịch nhà Atreus (gồm Agamemmon của Aeshcylus, Electra của Saphocles và Orestes của Euripides) và rằng nàng này đã khom xuống đáng kinh ngạc trong việc tạo ra sự phiền phức khi nhớ lại tính lộng lẫy từng biết của chúng. Nhưng chung quy lại, bằng một khía cạnh nào đó vẫn thể hiện ý thức dịch rất cao, rất khác của bà ở lĩnh vực này.

Đã mười năm giải Nobel làm ngơ thơ (từ thời bà Herta Müller) và hai ba hai tư năm kể từ lúc gần nhất Nobel trao cho một nhà thơ chính cống, tức là không được chú tâm, hoặc không viết một tác phẩm văn xuôi chính luận nào (từ thời bà Wisława Szymborska hay ông Seamus Heaney). Và năm nay là thời điểm mà hai giải Nobel được trao cùng lúc, hai địa hạt văn chương hoàn toàn khác nhau, hai thế hệ văn chương tách bạch, nhưng họ đều có chung một cấu tứ đi tìm vẻ toàn diện của con người qua những trải nghiệm vỡ vụn. Vượt lên trên đó, tiểu luận và thơ của Anne Carson lại đi tách những phần cao cả của con người ra thành những cốt truyện rất ngắn, vô thưởng vô phạt nhưng đầy mỹ cảm và thu hút chiết tách. Vì những lý do đó, đã đến lúc chúng ta nên đặt ra câu hỏi rằng liệu thơ có còn nằm trong các tiêu chí văn chương của Viện Hàn lâm Thuỵ Điển hay không, hay là với hai tiêu chí trái ngược, rằng Thơ không là những liệu pháp, Anne đã tự chặn đường mình tới giải thưởng lớn lao nhất hành tinh này. Và ta nên sợ rằng, rồi Anne Carson sẽ lại liệt vào danh sách những nữ văn sĩ yểu mệnh với Nobel, cùng với Sylvia Plath, Emily Dickinson, Susan Sontag một ngày nào đó, khi theo gót người anh của mình, Phillip Roth, người thầy mình, Joseph Conrad.

Hết.

Gia Bin (viết về Margaret Atwood và Anne Carson)

Ngô Thuận Phát (viết về Tàn Tuyết)


Đọc những bài viết của Ngô Thuật Phát.

Đọc những bài viết của Gia Bin.


1 Comment

1 Bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Linda Lê – Khi nỗi buồn lấp lánh như những hạt ngọc nơi khóe mắt

Linda Lê là một tác giả cần phải đọc với những ai luôn băn khoăn, trăn trở về nghề viết

Published

on

By

Tuần trước, khi đọc những dòng tin ngắn gọn thông báo về sự ra đi của Linda Lê, trong lòng tôi bồi hồi nhớ đến nhiều câu chuyện cũ. Buổi tối hôm đó, tôi đã đọc lại Vượt sóng – một tác phẩm bày tỏ nhiều băn khoăn, trăn trở về nghề viết rất hay của bà. Tôi nhận ra nhiều điều bà viết vẫn rất đúng và chưa bao giờ cũ. Đó không chỉ là câu chuyện của riêng nhân vật Antoine Sorel, hay của bà, đó có lẽ còn là câu chuyện chung của những người cầm bút.

Tôi biết đến Linda Lê lần đầu tiên vào năm 2011 do một bạn văn giới thiệu. Khi ấy, tôi còn loay hoay trong việc định hình văn phong, chưa đủ tự tin để đánh giá những gì mình viết liệu có ổn không, cần phải sửa chữa những gì cho lần tới, làm sao để tạo dựng phép tu từ độc đáo hơn. Thế là, bạn giới thiệu cho tôi cuốn Vu khống của Linda Lê và hết lời ca ngợi bà. Thời điểm đó, Việt Nam chỉ mới có hai tác phẩm của bà được dịch và xuất bản là Vu khống Lại chơi với lửa. Bạn nói cả hai cuốn đều hay nhưng tôi nên bắt đầu đọc Vu khống trước, rằng việc đọc văn của bà sẽ giúp tôi ngộ ra rất nhiều điều về văn chương có ích cho cách hành văn của tôi. Nhưng ở thời điểm ấy, khi tôi tìm thì cả hai quyển này cũng đều đã khan hiếm trên thị trường, hầu như không còn bất kì bản in nào nữa. Bạn đã cho tôi mượn hai quyển này với lời dặn dò tôi sớm đọc để trả lại bạn vì tuy bạn luôn sẵn sàng cho mọi người mượn sách (thậm chí là tặng) nhưng với hai quyển này thì bạn đặc biệt muốn giữ lại chỉ đơn giản vì trong đó có nhiều ghi chú riêng tư bên lề trang sách mà bạn không muốn bất kì ai đọc được. Tôi biết hai cuốn sách đó rất quí giá với bạn. Tôi nhớ rằng mình đã cố tình đặt cả hai quyển ở vị trí luôn lọt vào tầm mắt mỗi lần nhìn tủ sách để sớm đọc và trả lại bạn. Nhưng tôi không nhớ rõ vì sao mình đã không đọc vào thời điểm ấy – ngay khi bạn vừa mới cho mượn. Tôi cứ đọc những quyển sách khác rồi quên bẵng đi sự tồn tại của chúng trên kệ sách từ lúc nào không hay. Cho đến lúc không còn giữ được liên lạc với bạn, tôi vẫn chưa kịp đọc để trả lại bạn như lời đã hứa. Và tận bây giờ, sau mười một năm, cả hai quyển này vẫn ở trên kệ sách của tôi, tôi vẫn chưa đọc – nhưng nó ở đó giống như một lời nhắc nhở rằng Linda Lê là một trong những tác giả bạn tôi vô cùng yêu mến.

Có tồn tại khái niệm gọi là “diễn viên của một bộ phim”, “nghệ sĩ của một tác phẩm”, tức là người diễn viên sau khi đóng xong một vai diễn trong một bộ phim thì không thoát vai được, không thể tiếp tục diễn một vai khác trong một phim khác – hoặc nếu có diễn thì vẫn không để lại ấn tượng; “nghệ sĩ của một tác phẩm” cũng tương tự như thế. Nếu hiểu như thế thì đối với Linda Lê, trong vai trò là người đọc, tôi đang tạm giữ chức danh gọi là “độc giả của một tác phẩm”. Khi nghĩ đến danh xưng này, tôi cảm thấy hơi buồn cười một chút vì từ đó đến nay, tôi chưa nghe bất kì ai gọi như thế, có lẽ đơn thuần vì thông thường người ta sẽ không biến việc này thành một danh từ mà chỉ đơn giản giữ nó ở mức là một động từ, cách nói này sẽ phổ biến hơn: “Tôi chỉ mới đọc một tác phẩm của tác giả A,” đại loại như thế. Khi giữ mọi thứ ở mức động từ tức là các hành động ấy còn trong trạng thái tiếp diễn, có thể thay đổi, nó không cứng nhắc và gò vào một cái khung như khi đã được định danh. Thực tế ấy cũng phản ánh nguyên nhân vì sao người ta không có nhu cầu lập danh từ cho hành động này: đơn giản vì ở vị thế của một người đọc, việc phá vỡ định danh “độc giả của một tác phẩm” là điều rất dễ dàng, đọc là một hành động dễ dàng, dễ hơn viết hay bất kì hoạt động nghệ thuật nào khác rất nhiều – bạn chỉ cần đọc thêm một tác phẩm nữa của người đó thôi thì cái danh xưng “độc giả của một tác phẩm” sẽ không còn đúng nữa. Ấy vậy mà từ lúc đọc Vượt sóng vào đầu năm 2018 đến nay đã bốn năm, tôi vẫn chưa tìm được cách để thay đổi điều đó dù rằng trong tay có sẵn phương tiện là hai quyển sách bạn cho mượn. Điều này khiến tôi cảm thấy mình không có đủ tư cách để viết cảm nhận về bà – cho dù chỉ là dưới góc nhìn cá nhân – bởi lẽ sách bà đã viết so với số lượng một cuốn tôi đọc được thì khoảng cách quá lớn. Tuy nhiên, ở thời điểm này tôi lại cảm thấy thôi thúc muốn viết về bà, viết cho bà. Tôi nghĩ có lẽ bà cũng có thể thông cảm mà bỏ qua cho người “độc giả của một tác phẩm” như tôi.

2018 là một năm tôi đang ở điểm trũng của cuộc đời và việc đọc Vượt sóng ở thời điểm đó đã mang lại cho tôi sự khích lệ đáng kể. Ngay từ những trang đầu của quyển sách, ta biết được nhà văn tài năng Antoine Sorel – nhân vật trung tâm của câu chuyện đã tự sát bằng cách nhảy lầu. Một phóng viên trẻ mến mộ tác phẩm của Sorel đã hết sức bàng hoàng, anh quyết định tìm hiểu toàn bộ cuộc đời Sorel trước đó để biết được nguyên nhân vì sao câu chuyện đau lòng này lại diễn ra. Giống như tác phẩm Nhật kí chim én của Amélie Nothomb, câu chuyện khởi sự bằng một cái chết, bằng sự tiếc nuối khôn nguôi của người ở lại – đặc biệt khi người đó chỉ vừa mới biết và mến mộ người quá cố – nhưng có lẽ cuộc sống phần nào cũng tương tự như thế. Thông qua cuộc gặp gỡ giữa người phóng viên và những thân nhân của Sorel, bức tranh về cuộc đời nhà văn bất hạnh này dần sáng tỏ. Có thể thấy Linda Lê gửi gắm rất nhiều tâm tư về văn chương, về việc viết, việc đọc thông qua cuộc đời của Sorel.

Sorel rất nghèo khó, anh phải làm nhiều công việc cực khổ kiếm sống để đổi lại vài giờ ngắn ngủi được đọc sách. Dù vậy, chỉ cần có khoảng thời gian ít ỏi đắm mình vào văn chương với anh đã là hạnh phúc.

“Anh bắt đầu công việc lúc bình minh và chỉ lên giường vào một giờ sáng, mệt lả đến mức anh ngủ thiếp đi sau khi chỉ đọc được hai trang sách. Dù cực khổ anh vẫn hạnh phúc vì đã trốn xa bố anh.

Mỗi khi anh lãnh lương, anh mua gom những cuốn tiểu luận nói về những chủ đề khác nhau ở các cửa hiệu sách cũ. Vào mỗi Chủ nhật, ngày nghỉ duy nhất của anh, anh ngồi dính vào chiếc ghế cứng mà Malek cho anh mượn và đắm chìm vào những trang sách ấy, chúng làm anh quên mọi thứ. Anh không còn là đứa con trai của Martin. Anh không còn là tên túng thiếu không có lấy một đồng để mua sách nếu Malek không cho anh ăn miễn phí. Anh không phải bị rét cóng trong căn phòng băng giá của anh vào mùa đông đến mức anh phải ủ người trong chiếc áo khoác anorac, mang những đôi găng tay hở ngón và thòng vào chân nhiều đôi vớ. Anh không còn là gã bồi bàn quán cà phê chạy lăng xăng để thỏa mãn khách, chạy từ bếp ra sảnh nhiều đến nỗi chân của anh rộp những bọng nước. Anh không còn là người thanh niên bị buộc phải làm việc trong khi đó anh ước ao trở thành sinh viên văn khoa, chỉ quan tâm đến việc ghi chú các trang sách, biết rõ tiểu sử của các nhà tri thức bách khoa, dịch các truyện thơ tiếu lâm cổ trung đại sang ngôn ngữ hiện đại và tìm hiểu các nhà hình thức chủ nghĩa Nga.”

Tuy vậy, Sorel lại không tự tin vào tài năng văn chương của mình và gần như xa rời mọi cuộc giao lưu với giới văn sĩ Pháp.

“Thậm chí sau khi xuất bản vài cuốn sách, anh vẫn không có được niềm tin vào tài năng viết văn sẽ được giới văn học công nhận, nhất là anh không bao giờ đặt chân lên Paris mỗi tuần và không tới lui những quán cà phê nơi tụ tập của các nhà văn. Anh không rời Le Havre - ở tỉnh vẫn dễ dàng xoay xở hơn khi không giàu có. Anh luôn kiếm được vài ba đồng đây đó, anh xoay xở với những gì anh có, buổi trưa anh ăn bánh mì thịt nguội trét bơ hay dùng những miếng rau củ chiên, và tối anh ăn mì ăn liền. Món sang của anh đó là thuốc lá và rượu. Vào những lúc anh xuống tinh thần, anh đi ngắm sóng vỗ vào đê biển.”

“Antoine chỉ đến những bữa tiệc cocktail vì có rượu ngon để uống. Anh không bắt chuyện làm quen với một ai. Khi ai hỏi anh về công việc, anh thậm chí không trả lời anh viết sách. Isabelle kể lại cho Jean những chuyện đó và cho rằng anh không phải là một người biết hòa đồng.”

Giống như phần lớn mọi nhà văn, anh không có được sự ủng hộ từ bậc song thân.

Với người cha thì:

“Hẳn ông dám đánh cược năm ăn một rằng con trai ông sẽ thất bại, nó sẽ chết trẻ, và chẳng làm được gì khác ngoài việc làm thất vọng những độc giả của mình qua việc chỉ ra hai thực tế: họ chỉ là trò bịp, họ cố thổi phồng nhân sinh quan của cá nhân, nhưng họ chỉ đẻ ra những thứ tiểu tiết.”

Với người mẹ thì:

“Bà cảm thấy tiếc cho trí thông minh của anh, anh đã không trèo lên địa vị cao trong xã hội, anh lại chọn cuộc sống mộng mơ trong túng quẫn. Những cuốn sách không mang lại may mắn, bà nói thế. Càng đọc, anh càng trở nên gần như điên loạn. Giá như anh tự bằng lòng với việc đọc thôi, đằng nay anh lại đi vào con đường viết sách. Bà không đọc báo, bà không thể hình dung người ta có thể sống bằng văn chương. Tại sao Antoine không có một nghề nghiệp nào như bao người quen khác? Bà ấy đỏ mặt tía tai khi người ta hỏi về anh. Và khi những cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh ra đời, một vài người nói với bà rằng thằng Antoine “của bà” muốn làm “như Parisian” nhưng đâu dễ. Bà còn không được tặng sách, dù gì bà cũng chẳng đọc, vì bà không tán thành chuyện Antoine chọn con đường sự nghiệp nhiều rủi ro như vậy, theo bà đa số các nhà văn chỉ là những người làm công bấp bênh. Anh đã có thể gửi sách đến cho bà, xem như để cho bà biết tin tức, vì anh đã bỏ đi sống ở đâu bà cũng không biết.”

Tuy nhiên, Sorel cũng có một quãng thời gian hạnh phúc, đáng nhớ với vợ. Linda Lê đã khắc họa mối tình này rất kĩ lưỡng, có thể thấy ở đây là một khuôn mẫu điển hình của tình yêu giữa nhà văn và độc giả. Thông qua hình ảnh của Isabelle – vợ của Sorel, Linda Lê cũng cho thấy kiểu độc giả lí tưởng của một nhà văn sẽ là người như thế nào. Gia đình của Isabelle không có đam mê văn chương như cô, thói quen đọc của họ khác hẳn cô.

“Cô tự nhủ có lẽ cô không có cùng gen với bố. Cô đam mê nghệ thuật và văn chương, nhưng những nhà thơ cô ngưỡng mộ là những “tên xấu xa” dưới con mắt bố cô, họ tự cho mình quyền được nhàn rỗi và vô trách nhiệm, sống bám xã hội. Dĩ nhiên ông không đọc những tác phẩm của họ, ông chỉ đọc những tạp chí về trang trí nội thất, để bắt kịp các xu hướng mới, ông cũng đọc các báo về kinh tế để biết nên đầu tư vào nơi nào. Kiểu nói văn vẻ về tình yêu, theo như ông ấy nói, là thứ keo dán, ngay ông có lẽ cũng rất tiết kiệm những lời nói yêu đương. Mẹ của cô đặt mua một nguyệt san về chiêm tinh học, để bà có thể trao đổi trong những bữa tiệc trà về những tiên đoán của một bà tiên tri nổi tiếng (“Theo như quan sát vị trí của Pluton, đảng xã hội sẽ thua đậm trong cuộc bầu cử”), về tính thực dụng của Xử Nữ, sự kiên cường của Bạch Dương, sự công minh của Bảo Bình. Bà cũng đặt mua một tuần báo chủ yếu nói về các đám cưới hoàng gia và các ngôi sao quay lại sàn diễn với những bài hát đánh dấu quãng đời niên thiếu của bà.”

Có thể thấy chỉ bằng việc miêu tả thói quen đọc của từng người, Linda Lê đã phác họa được khoảng cách khác biệt giữa các thành viên trong gia đình lớn như thế nào. Chính vì vậy, Isabelle dễ dàng tìm thấy sự đồng điệu trong tâm hồn với Antoine và cô đã yêu anh trước hết bằng tình yêu của một độc giả với một tác giả.

“Khi được biết anh là tác giả của hai cuốn tiểu thuyết và một tuyển tập thơ được xuất bản với số lượng ít ỏi nhưng được những người am hiểu khen ngợi, dù không may đấy không phải là những người có tầm ảnh hưởng lớn, cô đã hứa sẽ mua các tác phẩm của anh và đọc chúng một cách say mê, bởi vì cô biết chắc rằng nếu như vậy cô sẽ được khai sáng về tinh thần. Cô cũng biết chắc rằng sau khi đọc xong cô đủ khôn khéo để gửi cho Sorel một bức thư sẽ lay động anh.

Ngay sáng hôm sau, cô nhanh chóng đi ra một hiệu sách để mua cho mình ba cuốn sách đó. Chúng đóng bụi trên một kệ sách ở phía cuối trong một góc tối của cửa tiệm. Cô mang chúng về nhà, đặt chúng gần chiếc gối và trong nhiều đêm liên tiếp, cô đắm mình vào việc đọc chúng và ngày càng bị chinh phục. Cô nghĩ: “Tôi sẽ có được người đàn ông này. Cho dù gia đình họ hàng sẽ không thích.” Cô chưa bao giờ làm những gì người khác bắt cô làm. Nếu cô đã sống như những người phụ nữ dại khờ trong cái thế giới của mình, cô sẽ chỉ là một cô bé đáng thương, chỉ nghĩ đến việc có được những bộ đầm như những minh tinh màn bạc được các thợ săn ảnh chụp, đi chơi với những tên trẻ tuổi trong những chiếc xế hộp của chúng và lui tới những nơi cần đến để được người ta chú ý. Cô không phải là những phụ nữ kiều diễm không có đầu óc, với tương lai mù mịt, một con búp bê đẹp nhưng không có tầm nhìn sâu. Cô đón nhận những thông điệp chứa đựng trong các tác phẩm của Sorel dù văn chương của anh không phải kiểu văn chương truyền tải thông điệp: anh viết nhiều về bản thân mình, nhưng anh không phải là một người ngạo mạn và không thiếu sự chua cay. Ngay từ đầu cô xếp anh trong số những nhà văn có tài, có cái nhìn sáng suốt và đã phải làm việc rất nhiều để viết ra những tác phẩm hoàn hảo.”

“Trong những bài phỏng vấn của anh với một số báo, anh không nói nhiều về anh mà cũng không tỏ ra mình quan trọng. Anh nói rằng anh luôn bị bao vây bởi những nghi vấn, chúng đè nặng lên anh và đã rất nhiều lần anh có ý định buông tất cả để sống bụi. Chính điều này đã làm anh trở nên thân thuộc dưới con mắt cô. Cô tiếc vì đã không đọc sách của anh sớm hơn, trong khi đó cô luôn đi tìm những gì mới, cô không thể sống nếu cô không tự mình đi khắp nơi tìm cái đẹp ẩn náu, cô thấy trong thơ ca những lí lẽ để không phải đi theo con đường của bố mẹ cô. Cô hãnh diện đã không như hai chị em gái mình, xa lạ với nghệ thuật, không như bố của cô, hám tiền, và không như mẹ của cô chỉ làm những công việc nhàm chán, như chuẩn bị thực đơn cho bữa tiệc hay lương thưởng cho người hầu, vào những lúc bà không xem tử vi, chắc rằng mình đang làm những thứ siêu việt.”

“Trong suốt nhiều ngày, Isabelle hoàn thiện bức thư trong đó cô nói với Sorel rằng cô như bị phê thuốc sau khi đọc xong sách của anh. Cô chỉ có một ham muốn: kết bạn với anh. Cô viết nhiều về tính khí nóng nảy của cô, về việc cô cảm thấy cô đơn trong chính gia đình mình, một gia đình vô cảm trước cái đẹp, chỉ quan tâm đến “những thú vui trần tục”, cô viết về nhu cầu được thăng hoa và tình yêu của cô đối với những tác phẩm nghệ thuật đã giúp cô cách xa những thứ “vật chất tầm thường”. Việc liên lạc thư từ giữa hai người sẽ mang lại cho cô nhiều niềm vui lớn. Antoine sẽ giúp cô khai sáng. Những điều anh viết từ ngòi bút của anh dù nhỏ thôi cũng chứa đựng vô vàn điều hay…”

Tình yêu đẹp tuyệt vời là thế; tuy nhiên, khi hai người đã đến được với nhau thì cảnh tượng đau lòng tương tự như nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời thừa của Nam Cao một lần nữa lại diễn ra.

“Nhiều đêm cô khóc, vùi đầu vào gối, trong khi đó, anh ngồi ở bàn làm việc chỉnh sửa bản viết tay mà anh tính vứt vào thùng rác. Cô thấy qua thái độ đó một lời trách móc thầm lặng nhắm vào cô: do sống chung anh đã phải hy sinh cuộc sống độc lập và nỗi đam mê viết của anh ngày càng lụi dần. Trước khi trở thành vợ của Sorel, cô không biết rằng có một đối thủ sẽ như thế nào, cô nói, cô nhanh chóng khám phá ra một đối thủ mang tên văn chương, và đó là một đối thủ có sức mạnh đáng gờm.”

Cuối cùng, Sorel rơi vào cảm giác chán nản không thể kháng cự nổi nữa:

“Anh la lớn anh chán ngấy cuộc đời này. Anh sẽ kết liễu nó nếu như anh đủ can đảm. Ngay những cuốn sách cũng không an ủi anh phần nào. Anh luôn tìm kiếm trong những cuốn kinh điển anh đã đọc nhiều lần lí do để bám lấy ảo tưởng rằng anh phải hoàn thành một nhiệm vụ trên thế gian này, rằng việc anh đam mê viết là hoàn toàn chính đáng, rằng chưa phải là mất tất cả khi nào anh vẫn còn tìm thấy câu chữ để có thể trấn an nỗi sợ hãi bên trong mình và quyết chiến với sự giả tạo bên ngoài. Nhưng ở tuổi ba mươi, anh có cảm giác ‘thể xác và tâm hồn’ đã kiệt quệ, như theo ai đó đã nói… Jean không còn nhớ là ai. Những năm tháng cực khổ đã vắt kiệt mọi sức lực của anh. Nhà văn không quan tâm đến tiền vì với anh, nuôi mộng bất tử là điều hoang tưởng. Anh đã sống cả một thập niên mà thậm chí không có gì để bỏ bụng và anh đã viết sách vào những lúc có lẽ anh nên bắn một phát vào đầu thay vì sống lay lắt như vậy. Nếu anh không chết ngay, ít ra anh cũng không muốn tham gia cuộc chơi của những người hợm hĩnh, mà anh không đi tìm nữa, như những tác giả trẻ mong muốn được đứng phía trước sân khấu, anh mong muốn có những thứ thỏa mãn nho nhỏ này khi đọc những phê bình ca ngợi anh. Hai cuốn tiểu thuyết đầu của anh chưa đủ táo bạo, anh tỏ ý tiếc nuối. Anh là người đánh giá khắt khe nhất, anh không tự cho mình là một người độc nhất vô nhị, nhưng anh cũng không ra vẻ khiêm tốn như những người thích tìm kiếm những lời ca ngợi. Anh hành xử không như một người tài năng thiên phú cảm thấy mình ưu việt. Anh không bao giờ đi rải những lời ca thán khi anh lại bị những thừa phát bám gót, anh không bao giờ nghĩ mình là nạn nhân của chủ nghĩa bài xích thơ ca khi sách của anh không được ai biết đến. Khi anh bị trầm cảm nặng, anh trốn trong nhà, tắt điện thoại sau khi báo cho các em trai biết anh cần được ở một mình, và trong những ngày như thế, anh cố gắng bằng mọi cách chiến thắng tình trạng mệt mỏi này và tránh làm phiền bất kì ai. Anh tin tưởng vào khả năng kháng cự của mình: nó chỉ phản bội anh nếu anh không tập hợp đủ năng lượng để sáng tác. Những tác phẩm của anh ra đời trong những giây phút kiệt quệ chán nản như thế.”

Và cuối cùng, anh đã chọn đến giải pháp là kết liễu chính cuộc đời mình.

Nhưng khác với nhân vật của mình, Linda Lê đã không lựa chọn giải pháp này. Dù đời sống có khó khăn thế nào, bà vẫn quyết tâm theo đuổi văn chương đến cùng, làm một nhà văn chuyên nghiệp chỉ sống bằng việc viết. Nhìn vào văn nghiệp của bà, ta có thể thấy cứ đều đặn một, hai năm bà lại cho ra mắt một tác phẩm. Vào năm ngoái, tác phẩm mới của bà có tên Toutes les colères du monde: La colère cũng vừa được xuất bản. Và bằng cách lao động miệt mài như thế, dù phải ra đi ở một độ tuổi vẫn còn trẻ, bà đã thực sự chiến thắng được tử thần với những tác phẩm sống mãi trong lòng người đọc.

Tôi mong trong một ngày gần nhất, mình sẽ không còn là “độc giả của một tác phẩm” của bà nữa. Vì bà xứng đáng được ta dành nhiều thời gian hơn, đọc đi đọc lại, để đắm chìm vào văn chương, đắm chìm vào thế giới mà ở nơi đó, nỗi buồn cũng thật lấp lánh, tựa như những hạt ngọc nơi khóe mắt.

Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Tưởng nhớ Rachel Carson – Mùa xuân vắng lặng, một mùa đau thương (phần 2)

Published

on

By

Mùa xuân vắng lặng của Rachel Carson không phải là một tác phẩm tầm thường: nó phát động phong trào vì môi trường; thúc đẩy việc thông qua Đạo luật Không khí sạch (1963), Đạo luật Hoang dã (1964), Chính sách Môi trường Quốc gia (1969), Đạo luật Nước sạch và Đạo luật về các loài có nguy cơ tuyệt chủng (1972); dẫn đến việc thành lập Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) vào năm 1970. Trên thế giới, số lượng sách đạt được những thành tựu trên có thể đếm được trên đầu chi của loài sao biển. Tuy nhiên, số sách còn lại của Carson và gần như tất cả tiểu luận của bà đều liên quan đến đại dương. Việc Carson được tưởng nhớ vì một cuốn sách đề cập đến hiểm họa của thuốc trừ sâu thông dụng DDT hẳn sẽ khiến bà ngạc nhiên trong những năm tuổi trẻ, khi bà còn là một nhà nghiên cứu sinh vật biển tại Cục Thủy sản Hoa Kỳ, viết ghi chú về cá-trích-mình-dày, nghiên cứu mũi cá voi với chuyên ngành cao học về cá chình Mỹ.

Đọc các phần trước: Phần 1

*

Thời gian đầu công tác tại Cục Thủy sản Hoa Kỳ, Rachel Carson đã soạn thảo bài luận mười một trang về sinh vật biển với tên gọi “The World of Waters” (tạm dịch “Thế giới của vùng nước”). Cấp trên đánh giá bài luận quá xuất sắc để chỉ in trong một ấn phẩm chính phủ và gợi ý bà gửi nó cho tờ The Atlantic. Sau khi bài luận được đăng dưới tên “Undersea,” Carson bắt đầu viết cuốn sách đầu tay với sự tài trợ của F.D.R.'s New Deal (Chính sách kinh tế mới của Tổng thống Franklin Delano Roosevelt). Under the Sea-Wind ra mắt vài tuần trước khi Nhật Bản đánh bom Trân Châu Cảng, và cuốn sách mau chóng chìm luôn như một chiến hạm.

Trong những năm tháng chiến tranh thiếu-thịt, Carson dành thời gian hướng dẫn các bà nội trợ cách nấu những món cá ít ai biết, và bà trở nên bồn chồn. Bà đã viết một đoạn cho tờ Reader’s Digest về thuốc trừ sâu DDT. Khi chiến tranh diễn ra, các công ty hóa chất đã bán thuốc trừ sâu cho quân đội để ngăn chặn sự lây lan của bệnh sốt phát ban bằng cách tiêu diệt chấy rận. Sau chiến tranh, họ bắt đầu bán thương mại DDT và các loại thuốc trừ sâu khác, dùng trong trang trại và vườn cây. Carson, sau khi đọc báo cáo chính phủ về thủy hải sản và động vật hoang dã, bắt đầu hoảng hốt: DDT chưa được kiểm nghiệm cho mục đích sử dụng dân sự, và nhiều sinh vật khác ngoài côn trùng dường như đang chết dần. Bà đã gửi một bài báo về thuốc trừ sâu, xem xét “liệu nó có thể làm đảo lộn toàn bộ sự cân bằng tinh tế của tự nhiên nếu bị sử dụng kém khôn ngoan hay không”. Tờ Reader’s Digest chẳng quan tâm.

Viết vào buổi đêm, Carson bắt đầu một cuốn sách khác, hy vọng mang đến cho người đọc những phát hiện cách mạng trong ngành sinh vật biển và khám phá biển sâu thông qua hiểu biết về hệ sinh thái đại dương. “Tuy chúng ta không thể nhận thấy bằng mắt thường, kì thật bề mặt đại dương được phân chia thành những vùng xác định,” bà giải thích. “Các loài cá và sinh vật phù du, cá voi và mực, chim và rùa biển, tất cả đều được liên kết bởi những mối dây không thể phá vỡ với một số loại nước.” Nhưng còn nghiên cứu cũng có nghĩa là còn bí ẩn tồn tại: “Cá voi đột nhiên xuất hiện ngoài sườn bờ biển nơi bầy tôm nhuyễn thể đang đẻ trứng — những con cá voi đến từ nơi mà không ai biết là đâu, và cũng không ai biết là từ đường nào.”

Carson viết về chủ đề và lĩnh vực nghiên cứu rộng đến mức bà bắt đầu đặt tên cuốn sách của mình là “Ngoài tầm hiểu biết của tôi” hay “Carson lạc ngoài biển”. Bà cũng bị ám ảnh bởi linh tính về những điều không may. Năm 1946, bà đã cắt bỏ một khối u nang trên ngực trái. Năm 1950, bác sĩ phát hiện một khối u nang khác. Sau cuộc phẫu thuật, bà đi đến bờ biển Nags Head, Bắc Carolina. Trong ghi chép thực địa được bà lưu giữ trong quyển sổ gáy xoắn, bà viết: “Đã thấy dấu vết của một loài chim biển, có lẽ là dẽ-cổ-xám, và theo chân chúng một chút, sau đó chúng lao về phía mặt nước và nhanh chóng bị biển xóa sạch dấu vết. Bao nhiêu thứ đã bị rửa trôi, như thể chúng chưa từng tồn tại”.

Ảnh: Pittsburgh Post-Gazette

Khi Carson hoàn thành cuốn sách, tờ The Atlantic từ chối đăng một đoạn trích, vì cho rằng nó quá văn chương. William Shawn, biên tập viên của tờ The New Yorker, không cho là vậy. The Sea Around Us (tạm dịch Đại dương quanh ta) xuất hiện trên tạp chí vào năm 1951, dưới dạng Tiểu sử ba phần về Biển — Tiểu sử đầu tiên không viết về con người. Thư từ độc giả đổ về: “Tôi bắt đầu đọc với thái độ ôi-mẹ-ơi-cái-gì-đây, và rồi thấy bản thân mình bị mê hoặc”, và nhiều người khác tuyên bố đây là bài viết đáng nhớ nhất trong lịch sử tờ New Yorker (bên cạnh Hiroshima của John Hersey).

The Sea Around Us đã giành được Giải thưởng Sách Quốc gia và nằm trong danh sách sách bán chạy nhất của New York Times, phá kỉ lục tám mươi sáu tuần. Bản tái bản của Under the Sea-Wind cũng lọt vào danh sách này. Độc giả muốn biết “tác giả là ai?”. Ngòi bút mạnh mẽ của bà khiến nhiều nhà phê bình nam đặt nghi vấn Rachel Carson hẳn phải có một nửa là đàn ông. Phóng viên tờ Boston Globe viết, “Có phải bạn hình dung một người phụ nữ viết về bảy vùng biển và những điều diệu kì của nó hẳn là một người có hình thể tráng kiện không? Đó không phải Quý cô Carson. Cô nhỏ nhắn và mảnh mai, với mái tóc nâu hạt dẻ, đôi mắt lai giữa xanh lục và xanh lơ - một màu rất biển. Cô gọn gàng và nữ tính, sơn móng tay hồng nhạt, thành thạo sử dụng phấn dặm và son môi, nhưng không hề màu mè.”

Carson rời bỏ công việc chính phủ và bắt đầu đặt nghi vấn về chính sách liên bang. Khi Bộ trưởng Nội vụ mới, Eisenhower, một doanh nhân đến từ Oregon, thay thế các nhà khoa học trong bộ này bằng những tay-buôn-chính-trị; Carson viết một lá thư cho tờ Washington Post: “Một mô thức đáng ngại đang xuất hiện rõ ràng. Đó là việc loại bỏ những người có chuyên môn và kinh nghiệm lâu năm ra khỏi bộ máy Chính phủ, và bổ nhiệm những người thay thế vì lí do chính trị”.

Nhưng thay đổi lớn nhất mà thành công của Carson mang lại, là khi — với khoản tiền kiếm được từ Tiểu sử về đại dương của mình — bà mua mảnh đất khiêm tốn trên đỉnh mỏm đá ở Maine và xây dựng một ngôi nhà nhỏ. Carson từng lặn gần 2.5m dưới mặt nước, đội một cái mũ lặn nặng 34kg chỉ để được ngắm nhìn thế giới đại dương trong mười lăm phút. Tình yêu thực sự của bà là bờ biển: “Trong suy nghĩ của tôi, không nơi nào thú vị hơn là thế giới của bãi triều thấp. Khi thủy triều xuống sớm vào buổi sáng tinh mơ, thế giới tràn đầy mùi muối, âm thanh của nước và sự mềm mại của sương mù.” Để hiểu sâu hơn, bà đọc sách. Các bức tường trong ngôi nhà của bà ở Maine được lót bằng sách. Sách được lèn giữa những giỏ và khay chứa đầy thủy tinh biển, vỏ sò và đá cuội. Tại đây, bà đã viết một phần của cuốn sách tiếp theo, The Edge of the Sea (tạm dịch Bên rìa đại dương).

“Sự bất đồng của tôi với hầu hết những cuốn sách về biển dành cho độc giả phổ thông là chúng cung cấp rất nhiều mẩu thông tin riêng biệt về một loạt các sinh vật, mà không bao giờ đặt trong môi trường sống của các sinh vật ấy.” Cuốn sách về bờ biển của Carson rất khác. Một lời giải thích về bờ biển như một hệ thống, một hệ sinh thái - một từ mà hầu hết độc giả chưa từng nghe tới trước đây, một từ mà chính Carson hiếm khi sử dụng. Thay vào đó, bà gợi nó lên, như một làn sóng của chuyển động và lịch sử:

Trong suy nghĩ của tôi, những bờ biển, dù rất khác nhau về bản chất và những giống loài được chúng cho cư ngụ, đều được liên kết bởi sự thống nhất của biển. Sự khác biệt mà tôi cảm nhận được trong khoảnh khắc này chỉ là sự khác biệt của một thời điểm, được xác định bởi vị trí của chúng ta trong dòng thời gian và trong dòng giai điệu dài của biển. Từng có thời bãi đá dưới chân tôi là bờ cát. Và một lần nữa trong tương lai không xác định, những cơn sóng sẽ mài những tảng đá này thành cát, đưa bờ biển trở lại trạng thái ban đầu. Và trong tâm trí tôi, những hình thái bờ biển này hợp nhất, hòa trộn trong một mô hình kính vạn hoa luân phiên chuyển dịch. Trong đó không có thực tại cố định cuối cùng.

Paul Brooks, biên tập viên của Carson tại Houghton Mifflin, từng nói rằng, với tư cách là một nhà văn, Carson giống như “người thợ đá không bao giờ mất cái nhìn tổng quan về nhà thờ”. Carson là một biên tập viên tỉ mỉ; Brooks cũng vậy. Nhưng Carson không thích bị chỉnh sửa và nói thẳng ra, đã cảnh cáo Brooks, “Tôi có khả năng sử dụng những thứ có vẻ như là một sự đảo ngược gây tò mò của các từ hoặc cụm từ” - những hư từ đẫm-nước-muối - “nhưng phần lớn những điều này là phong cách của tôi và tôi không muốn chúng bị thay đổi”.

Khi sáng tác bên bờ biển, Rachel Carson đã yêu. Bà gặp Dorothy Freeman năm 1953 trên một hòn đảo ở Maine, nơi gia đình Freeman đến nghỉ hè. Carson bốn mươi sáu tuổi, Freeman năm mươi lăm. Freeman đã kết hôn và có một cậu con trai trưởng thành. Khi Freeman và Carson không ở bên nhau, họ duy trì một mối quan hệ thư từ nồng nàn đến nghẹt thở. Carson viết cho Freeman mùa đông năm đó: “Tại sao em lại giữ những bức thư này? Tại sao ư? Vì em yêu chị!” Freeman đáp lời: “Tình yêu của tôi dành cho em vượt ngoài mọi sự biểu đạt. Tình cảm ấy như biển cả không có bến bờ.”

Cả hai người phụ nữ đều quan ngại về điều mà những bức thư của họ có thể mang lại. Trong một phong bì, họ thường gửi kèm hai bức thư, một bức để đọc cho gia đình (Carson đọc cho mẹ, Freeman đọc cho chồng), một bức đọc trong bí mật. Và những bức thư riêng tư bí mật ấy sẽ bị đốt bỏ sau khi đọc xong. Nhưng cuối cùng họ đã không nỡ tiêu hủy tất cả: những bức còn sót lại được cháu gái của Freeman biên tập và xuất bản năm 1995 với tiêu đề Always, Rachel (tạm dịch Mãi mãi, Rachel).

Sau khi The Edge of the Sea (1955) được xuất bản, Shawn muốn Carson viết một cuốn sách mới. Tuy nhiên, khi cháu gái Marjorie của bà qua đời vì viêm phổi, Carson đã nhận nuôi Roger, cậu con trai bốn tuổi của Marjorie. Một cậu bé mà bà mô tả là “hiếu động như mười bảy con dế vậy”. Bà gạt sang một bên những dự án viết lách dài hơi, cho đến khi — với một chút miễn cưỡng — bà bắt đầu thực hiện nghiên cứu có tiêu đề Man Against the Earth (Tạm dịch Con người chống lại Trái đất).

*

Tháng 1 năm 1958, các thành viên của Ủy-ban-công-dân-chống-đầu-độc-hàng-loạt đã gửi rất nhiều thư tới các tờ báo ở vùng Đông Bắc, kêu gọi chú ý những hậu quả thảm khốc do chương trình phun thuốc trừ sâu trên không tại địa phương và toàn tiểu bang gây ra: côn trùng không chết, nhưng mọi thứ khác đang hấp hối. Olga Owens Huckins, một bà nội trợ và một người quan sát chim ở Massachusetts, đã gọi các chương trình phun thuốc này là “vô nhân đạo, phi dân chủ và có thể đi ngược lại hiến pháp”. Ủy-ban đã đệ đơn kiện ở New York. Và Huckins đã viết cho Carson một bức thư, đề nghị Carson viết về vụ này.

Carson từng muốn viết về sự hủy hoại môi trường kể từ vụ ném bom Hiroshima và việc sử dụng DDT cho mục đích dân sự vào năm 1945. Tuy nhiên, bà không thể bỏ rơi Roger và người mẹ đang đau ốm để viết bài tường thuật về một phiên tòa ở New York. Vào tháng 2, bà viết cho E. B. White, “Tôi hy vọng ông có thể đưa tin về các phiên tòa này cho tờ The New Yorker.” White từ chối và bảo Carson mới là người nên viết, rồi chuyển tiếp bức thư của Carson cho Shawn. Sau này White nói với Carson rằng ông không “còn không phân biệt nổi thuốc trừ sâu với một con bọ bí”. Tháng 6, Carson đến New York và giới thiệu câu chuyện với Shawn. “Chúng tôi thường không nghĩ The New Yorker có khả năng thay đổi thế giới,” Shawn nói với bà, “nhưng lần này, có thể.”

Freeman, một người phụ nữ khôn ngoan, đã lo lắng rằng các công ty hóa chất sẽ hướng mũi nhọn công kích Carson. Carson trấn an rằng bà đã tính đến điều đó, nhưng “sẽ không có sự thanh thản nào trong tương lai cho em nếu em giữ im lặng.” Marjorie Spock, chị gái của một bác sĩ nhi khoa, gửi cho Carson báo cáo từ những phiên tòa, trong khi Carson thực hiện nghiên cứu của bà tại nhà, ở Maryland và Maine, thường với Roger ở bên cạnh. Bà đã tìm hiểu một lượng lớn tài liệu khoa học trong nhiều lĩnh vực, bao gồm y học, hóa học, sinh lý học và sinh học, và đưa ra một lời giải thích rõ ràng dễ hiểu.

Mùa thu năm 1958, mẹ bà bị đột quỵ. Carson chăm sóc mẹ tại nhà. Mẹ của Carson đã dạy bà tiếng của những loài chim. Lần đầu tiên họ đến Maine cùng nhau, Carson viết: “Và sau đó có âm thanh của những con chim khác, nhỏ hơn - tiếng kêu lạch cạch của con bói cá đậu trên những cái cột ở bến tàu; tiếng gọi của con Sẻ-đớp-ruồi nép mình dưới mái hiên cabin; những con Sẻ-đuôi-đỏ kiếm ăn trong rừng bạch dương trên ngọn đồi phía sau căn nhà gỗ và mãi mãi hỏi nhau đường đến Wiscasset, tôi có thể dễ dàng ghép các âm tiết của chúng vào câu hỏi, ‘Which is Wiscasset? Which is Wiscasset?’”.

Vào cuối mùa thu khi mẹ Carson lâm bệnh, Spock đã gửi cho bà một album thu bài hát của những loài chim. Carson lắng nghe cùng Roger và dạy cậu bé về những âm thanh ấy. Bà viết cho Spock: “Roger có một cảm xúc rất ngọt ngào với mọi sinh vật sống. Cậu bé thích ra ngoài với tôi, ngắm nhìn và lắng nghe tất cả mọi sự”. Mẹ của Carson qua đời tháng 12 năm đó, ở tuổi 89. Mùa xuân năm 1959 là mùa xuân đầu tiên của Carson mà không có mẹ. Carson viết: “Trên những khu vực ngày càng rộng lớn của Hoa Kỳ, mùa xuân đến mà không được báo trước bằng sự trở lại của những loài chim. Ở nơi từng tràn ngập vẻ đẹp tiếng hót của loài chim, những buổi sáng tinh sương im lặng đến lạ lùng.” Chính Paul Brooks là người có ý tưởng sử dụng tiêu đề của chương về loài chim làm tiêu đề cho toàn bộ cuốn sách: “Mùa xuân vắng lặng”. Một mùa đau thương.

Ảnh: ©Erich Hartmann / Magnum Photos

Và, Carson vẫn lo lắng rằng bản thân bà không thể cất tiếng. Bà bị bệnh nặng. Bà và Freeman không tiết lộ với ai, kể cả Brooks. Đầu năm 1960, trong khi đang mải mê trong những tài liệu khoa học ngày càng tăng về hậu quả của hóa chất đối với con người, bà phát hiện một khối u trên ngực trái. “Dòng hóa chất không có điểm dừng mà thuốc trừ sâu là một phần trong đó. Hóa chất đang lan tràn khắp thế giới mà chúng ta đang sống, tác động lên chúng ta trực tiếp và gián tiếp, từng cá nhân và cả cộng đồng,” nếu tất cả chúng ta đều là cá, ta đang bơi trong một vùng biển nhiễm độc.

Vào ngày 4 tháng 4 năm 1960, Carson phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến vú. Bác sĩ phẫu thuật không cung cấp cho bà thông tin về các khối u đã bị loại bỏ và không khuyến nghị điều trị tiếp. Khi bà hỏi vị bác sĩ, ông đã nói dối, như thường lệ, đặc biệt là với bệnh nhân nữ. Sự phục hồi diễn ra rất chậm. “Tôi nghĩ rằng tôi đã giải quyết được vấn đề rắc rối của các chương về ung thư,” bà viết cho Brooks từ Maine vào tháng 9. Nhưng trước tháng 11, bà phát hiện ra nhiều khối u hơn, lần này là trên xương sườn. Bà tham khảo ý kiến của một bác sĩ khác, và bắt đầu xạ trị. Vào tháng 12, bà cuối cùng đã tâm sự với Brooks.

Carson giữ căn bệnh ung thư của mình trong vòng bí mật vì bà là một người kín đáo, nhưng cũng vì bà không muốn cho các công ty hóa chất cơ hội hạ thấp uy tín công việc của bà (chẳng hạn họ có thể nói căn bệnh ung thư là động cơ khiến bà viết Mùa xuân vắng lặng). Và có lẽ bởi vì, họ càng khó khăn trong việc công kích bà, trông họ càng tồi tệ. Điều này đòi hỏi một sự khắc kỷ ghê gớm. Bắt đầu từ đầu năm 1961, bà phải ngồi xe lăn. Đợt điều trị này tiếp nối đợt điều trị khác: phẫu thuật nhiều hơn, tiêm thuốc nhiều hơn (một bác sĩ thậm chí đề nghị tiêm vàng). Bệnh này nối tiếp bệnh khác: cảm cúm, nhiễm trùng tụ cầu, viêm khớp, nhiễm trùng mắt. “Như một cuốn ca-ta-lô bệnh tật!” bà viết cho Freeman. “Ai đó mê tín chắc sẽ dễ dàng tin vào những ảnh hưởng xấu trong công việc và quyết tâm để cuốn sách không bị hoàn thành.”

Ngay từ đầu, Carson đã được thông báo rằng bà “chỉ còn vài tháng.” Bà sợ chết, nhưng bà sợ chết khi cuốn sách chưa kịp hoàn thành. Freeman nghĩ rằng chính công việc đang giết chết Carson, hoặc ít nhất là cản trở khả năng chống lại ung thư của bà. Freeman đã thúc giục Carson từ bỏ cuốn sách mà bà đã lên kế hoạch, thay vào đó, hãy hoàn thành một thứ gì đó ngắn hơn. “Tôi đoán vậy sẽ tốt hơn là không có gì,” Carson trầm ngâm, cân nhắc việc viết lại các trang bản thảo thành một thứ gì đó “sôi sục” và “có lẽ mang tính triết lý hơn”. Bà quyết định không làm vậy, và vào tháng 1 năm 1962, bà gửi cho tờ The New Yorker một bản thảo gần như hoàn chỉnh của cuốn sách.

Shawn gọi đến nhà để nói với bà rằng ông đã đọc xong, và cuốn sách là “một thành tựu rực rỡ”. “Carson, bà đã biến nó thành văn học, đầy vẻ đẹp và chiều sâu của cảm giác.” Carson, người không chắc mình có thể sống để viết hết quyển sách hay không, lần đầu tiên, chắc chắn rằng cuốn sách sẽ làm được những gì bà muốn nó làm với thế giới này. Bà gác máy, đặt Roger lên giường, bế con mèo lên và bật khóc, gục xuống trong nhẹ nhõm.

-Còn tiếp-

ichigo lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Jill Lepore, đăng tại The New Yorker.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Tưởng nhớ Rachel Carson – đợi chờ một Mùa Xuân không còn vắng lặng (phần 1)

Published

on

By

Tại một hòn đảo ở Maine, có một ngôi nhà nằm trên tảng đá sát rìa biển hệt như tổ chim đại bàng. Bên dưới mái hiên sau nhà với lan can sơn trắng là một tảng đá trơn tuột, dốc xuống bãi triều thấp lổn nhổn những rong lươn và tảo gạc hươu. Những con ốc mỡ bám vào đá. Những con vẹm tự kẹp vào nhau. Một con mòng biển đậu trên một tảng đá cỏ dại xù xì, tự rỉa lông và thoải mái nép mình, chống chọi với gió dữ dội đang băng qua mặt nước. Trong khi — trên vách đá — những cây vân sam, linh sam và bạch dương phủ đầy địa y, thở dài kẽo kẹt như những ông già vào một buổi bình minh ẩm ướt.

Ngồi bên chiếc bàn trong ngôi nhà ấy — một chiếc bàn gỗ thông chen vào góc phòng, nơi cánh cửa run rẩy theo từng cơn gió, như thể cầu xin để được mở ra, Rachel Carson viết: “Bờ biển là một lãnh địa cổ xưa”. Rất lâu trước khi Carson viết Mùa xuân vắng lặng — cuốn sách cuối cùng của bà — xuất bản năm 1962, bà đã là một nhà văn nổi tiếng: một nhà khoa học, nhà thơ của biển. Undersea (tạm dịch Dưới biển), bài tiểu luận đột phá của bà, xuất hiện trên tờ The Atlantic năm 1937. Bà băn khoăn: “Ai hiểu biết về biển cả? Không phải tôi, cũng chẳng phải bạn — với lượng tri thức giới hạn trên mặt đất — chúng ta đều không biết về bọt biển và cơn thủy triều dâng tràn qua chú cua đang ẩn mình dưới lớp rong; hoặc bài ca du dương của những cơn sóng dài, chậm rãi giữa đại dương, nơi đàn cá lang thang đi săn và bị săn, nơi những chú cá heo phá sóng để hít thở bầu không khí trên cao.” Đoạn văn mang cho người đọc cảm giác ngây ngất, chìm đắm trong cơn sóng ngôn từ, mớ hỗn độn đầy nước của loài nhuyễn thể, mang cá, giun ống, nhím biển, sinh vật phù du, đẫm nước muối, không cuống, hình cây, thăm thẳm, có gai, phóng xạ, ánh bạc và lân tinh, trong khi đây đó, “những con tôm hùm len lỏi mình trong ánh hoàng hôn bất diệt, với sự thận trọng tinh ranh.”

Mùa xuân vắng lặng không phải là một tác phẩm tầm thường: nó phát động phong trào vì môi trường; thúc đẩy việc thông qua Đạo luật Không khí sạch (1963), Đạo luật Hoang dã (1964), Chính sách Môi trường Quốc gia (1969), Đạo luật Nước sạch và Đạo luật về các loài có nguy cơ tuyệt chủng (1972); dẫn đến việc thành lập Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) vào năm 1970. Trên thế giới, số lượng sách đạt được những thành tựu trên có thể đếm được trên đầu chi của loài sao biển. Tuy nhiên, số sách còn lại của Carson và gần như tất cả tiểu luận của bà đều liên quan đến đại dương. Việc Carson được tưởng nhớ vì một cuốn sách đề cập đến hiểm họa của thuốc trừ sâu thông dụng DDT hẳn sẽ khiến bà ngạc nhiên trong những năm tuổi trẻ, khi bà còn là một nhà nghiên cứu sinh vật biển tại Cục Thủy sản Hoa Kỳ, viết ghi chú về cá-trích-mình-dày, nghiên cứu mũi cá voi với chuyên ngành cao học về cá chình Mỹ.

Carson rất tự hào về Mùa xuân vắng lặng. Mặc dù vậy, thật đau lòng khi thấy tuyển tập vừa ra mắt Mùa xuân vắng lặng và những bài viết khác về môi trường do Sandra Steingraber (Thư viện Hoa Kỳ) biên soạn, không bao gồm bài viết nào của bà về biển cả. Steingraber phàn nàn rằng, “dù những cuốn sách về biển của Carson đôi khi ám chỉ đến các mối đe dọa môi trường, chúng không kêu gọi một hành động cụ thể nào cả". Và vì thế, chúng bị gạt sang một bên. Tác động chính trị là thước đo kỳ lạ để đánh giá giá trị của một tác phẩm văn xuôi, khi sức mạnh của nó nằm ở kiến thức và xúc cảm kinh ngạc. Trong cuốn sách đầu tiên của mình, Under the Sea-Wind (1941) (tạm dịch Dưới làn gió biển), Carson đã viết, “Đứng ở rìa biển, cảm nhận sự lên xuống của thủy triều, cảm nhận hơi thở của làn sương mù di chuyển trên đầm lầy muối lớn, xem những con chim vút nhanh lên xuống những ngọn sóng đã vỗ vào các lục địa trong hàng ngàn năm, xem những con lươn già và những con cá trích non lao ra biển, là để biết về những điều gần như vĩnh cửu như bất kì dạng sống nào trên trái đất.” Bà không thể viết Mùa xuân vắng lặng nếu trong nhiều thập kỷ, bà không trèo xuống những tảng đá, xắn ống quần và lội xuống hồ thủy triều, suy nghĩ về tác động đổi thay giữa các sự vật, và làm thế nào, “sau hàng thiên niên kỷ, biển ngày càng mặn chát hơn do muối từ các lục địa.” Bà thích nhất đi ra ngoài vào ban đêm, với một chiếc đèn pin, xuyên qua bóng tối đặc quánh.

*

Tất cả các sinh vật đều được tạo ra từ biển, như Carson đã chỉ ra. Bà gọi đó là “người mẹ vĩ đại của sự sống”. Ngay cả các loài động vật có vú trên cạn, với bộ xương cứng như vôi và dòng máu mặn, cũng bắt đầu từ những bào thai bơi trong đại dương. Bản thân bà không biết bơi. Bà không thích thuyền. Trong suốt thời thơ ấu, bà chưa bao giờ ngửi thấy mùi của đại dương. “Tôi đã từng tưởng tượng biển trông như thế nào và tiếng sóng thì sẽ ra sao”.

Carson sinh năm 1907 ở phía tây Pennsylvania, gần sông Allegheny, trong một ngôi nhà gỗ hai tầng ở trang trại rộng sáu mươi bốn mẫu Anh với một vườn lê táo, một sân sau nuôi lợn, ngựa, gà và cừu, một nơi có lẽ không khác lắm với những mô tả trong đoạn mở đầu Mùa xuân vắng lặng:

Đã từng có một thị trấn ở trung tâm nước Mỹ, nơi mọi loài dường như sống hài hòa với môi trường xung quanh. Thị trấn nằm giữa những trang trại trù phú, với những cánh đồng trĩu hạt và những sườn đồi của vườn cây ăn trái, nơi vào mùa xuân, từng đám hoa trắng lững lờ trên những cánh đồng xanh. Vào mùa thu, cây sồi, cây phong và cây bạch dương thắp nên một ngọn lửa rực rỡ sắc màu trên phông nền của những cây thông. Sau đó, cáo sủa trên đồi, nai lặng lẽ băng qua cánh đồng, nửa giấu mình trong màn sương của những sớm mùa thu.

Là con út trong gia đình có ba người con, bà đã trải qua thời thơ ấu lang thang trên cánh đồng và những ngọn đồi. Mẹ bà đã dạy bà tên của các loài động thực vật. Bà đã đọc The Wind in the Willows (Gió qua rặng liễu) và những tác phẩm của Beatrix Potter. Ở tuổi lên tám, bà viết một câu chuyện về hai chú chim hồng tước tìm kiếm một ngôi nhà. “Tôi không thể nhớ nổi, ngay cả khi còn nhỏ, có lúc nào tôi không cho rằng mình sẽ trở thành một nhà văn,” bà nói. “Tôi không biết tại sao.” Những câu chuyện bà viết ở thời niên thiếu đã ghi lại những gì bà khám phá: “tổ của chim cút-mào chen chúc những trứng, tổ chim vàng anh trông như cái nôi lơ lửng trên không, tổ chim cúc cu là bộ khung với những cây gậy, và ngôi nhà phủ đầy địa y của chim ruồi.”

Và sau đó, khói bụi ngành công nghiệp than đá ở Pittsburgh đã xâm chiếm thời thơ ấu của Carson, khi cha bà bắt đầu bán dần từng tấc đất trong trang trại gia đình. Đồng cỏ biến thành cửa hàng. Đó không phải là tai họa đến từ thuốc trừ sâu, nhưng với Carson, đó là sự mất mát cho phép bà viết rõ ràng trong phần mở đầu của Mùa xuân vắng lặng, về số phận của một thị trấn Mỹ giả tưởng bị phun DDT:

Thế rồi, những triệu chứng lạ xuất hiện và mọi thứ bắt đầu thay đổi. Lời nguyền quái ác giáng xuống cộng đồng: những căn bệnh bí ẩn quét sạch đàn gà; bầy gia súc ốm dần rồi chết. Khắp nơi đều là hình bóng của thần chết. Những người nông dân nói về nhiều bệnh tật trong gia đình họ. Trong thị trấn, các bác sĩ ngày càng bối rối trước những loại bệnh tật mới xuất hiện ở các bệnh nhân. Đã có những cái chết đột ngột và không rõ nguyên nhân. Không chỉ người lớn mà ngay cả trẻ con cũng bị tấn công đột ngột khi đang chơi, rồi sau đó vài giờ thì chết.

Carson rời nhà đến Trường Cao đẳng nữ Pennsylvania để học ngành ngôn ngữ Anh. Bà từng gửi những bài thơ cho các tạp chí - Poetry, The Atlantic, Good Housekeeping, The Saturday Evening Post - và có một bộ sưu tập thư từ chối từ họ. Mẹ bà đã bán táo, gà, đồ sứ gia đình để giúp trả học phí và thường đi từ nông trại đến trường đại học mỗi cuối tuần để đánh máy giấy tờ cho con gái mình (sau này bà cũng đánh máy sách của Carson), đặc biệt là vì — giống như nhiều bà mẹ khác — bản thân bà cũng khao khát được học.

Carson, bạn bè vẫn gọi là Ray, đã dự buổi dạ hội của trường vào năm 1928, nhưng chưa từng biểu lộ hứng thú với đàn ông. Tuy nhiên, bà vô cùng say mê giáo sư sinh học của mình, Mary Scott Skinker. Bà đổi chuyên ngành và theo chân Skinker đến Woods Hole trong một dự án nghiên cứu mùa hè. Cuối cùng, bà đã nhìn thấy đại dương. Bà lùng sục trên bờ biển hàng giờ liên tục, lạc vào một thế giới mới, bị mê hoặc bởi từng sinh vật. Vào ban đêm, bà chăm chú nhìn xuống vùng nước ngoài bến tàu để xem sự kết đôi của những con giun nhiều tơ, với những sợi lông lấp lánh ánh trăng.

Carson hoàn thành bằng thạc sĩ động vật học tại Đại học Johns Hopkins và bắt đầu chương trình Tiến sĩ năm 1932. Cả gia đình chuyển đến Baltimore để sống cùng bà: mẹ bà, người cha ốm yếu, chị gái đã ly hôn và hai cô cháu gái còn rất nhỏ. Carson, người làm công ăn lương duy nhất của gia đình, đã làm trợ lý phòng thí nghiệm và giảng dạy sinh học - động vật học tại Johns Hopkins cũng như Đại học Maryland. Khi cuộc Đại Khủng Hoảng (cuộc suy thoái kinh tế 1929 - cuối những năm 1930) ngày càng nghiêm trọng, có thời gian họ phải sống dựa trên những quả táo. Cuối cùng, Carson phải rời trường cao học để nhận một công việc được trả lương cao hơn, trong bộ phận giáo dục cộng đồng của Cục Thủy sản Hoa Kỳ. Bà kiếm thêm tiền bằng cách viết báo cho tờ Baltimore Sun. Người viết tiểu sử của bà, Linda Lear, viết một cách nặng nề, rằng một bài báo của bà viết về trang trại nuôi hàu, trong khi đó “ba bài khác tiếp tục nghiên cứu về cá-trích-mình-dày.”

Cha của Carson qua đời năm 1935. Sau đó hai năm chị bà cũng mất, để lại cho Carson một người mẹ và hai cô cháu gái cần phải chăm nom. Sau đó bà đã nhận nuôi cháu trai của mình, khi cậu bé mồ côi năm bốn tuổi. Những nghĩa vụ này đôi khi khiến Carson nản lòng, nhưng người viết tiểu sử của bà thất vọng gấp đôi. Đối với Lear, tác giả của Rachel Carson: Witness for Nature (tạm dịch Rachel Carson: Chứng nhân của thiên nhiên, 1997) và biên tập viên của tuyển tập Lost Woods: The Discovered Writing of Rachel Carson (tạm dịch Khu rừng đã mất: Những ghi chép được khám phá của Rachel Carson, 1998), nghĩa vụ gia đình — cụ thể là những đứa trẻ — không gì hơn là những gánh nặng “cướp đi sự riêng tư và vắt kiệt năng lượng thể xác lẫn tinh thần.” Lear nói điều này một cách chung chung, như một cách giải thích tại sao Carson không viết nhiều hơn và tại sao ngoại trừ các bài báo cho tờ Sun, Carson chưa bao giờ nộp bản thảo đúng hạn. Nhưng quan tâm đến người khác mang lại những hiểu biết riêng. Carson nhận ra thế giới đẹp đẽ, hoang dại, bản năng và dễ bị tổn thương, mỗi bộ phận gắn liền với nhau không thể tách rời, không chỉ thông qua những nghiên cứu khoa học phi thường mà còn bằng cả đời chăm sóc người già và trẻ nhỏ, lau vầng trán người hấp hối, dỗ các cô bé mồ côi mẹ đi ngủ, hâm nóng bữa tối cho cậu nhóc cô đơn. “Gia đình” thấm đẫm trong những hiểu biết của Carson về thiên nhiên. “Động thực vật hoang dã đang suy giảm vì ngôi nhà của chúng đang bị phá hoại”, bà viết vào năm 1938, “nhưng nhà của các loài hoang dã cũng là nhà của chúng ta.” Nếu bà có ít ràng buộc gia đình hơn, bà hẳn sẽ có ít sự thấu suốt hơn.

-Còn tiếp-

ichigo lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Jill Lepore, đăng tại The New Yorker.

Đọc bài viết

Cafe sáng