Nối kết với chúng tôi

Chuyện người cầm bút

Một góc nhìn tiếc nuối về ba nữ nhà văn “suýt” có tên trong bảng vàng Nobel Văn chương 2019

Published

on

Trong số 116 người từng có vinh dự nhận giải Nobel Văn chương, chỉ có 15 người là nữ. Con số thoạt nhìn bất hợp lý gây ra rất nhiều tranh cãi, đặc biệt về nguồn cơn của sự thiếu cân bằng này. Có phải vì sự thiên vị của Hội đồng Nobel, hay do các tác gia nữ “kém tài” hơn những đồng nghiệp nam? Dưới đây là những cảm nhận và phân tích về ba nữ nhà văn, nhà thơ từng được kì vọng mang lại vinh quang văn học cho nữ giới – Margaret Atwood, Tàn Tuyết Anne Carson – những nhân vật mà người viết tin rằng, họ xứng đáng xuất hiện trong bảng vàng Nobel Văn chương 2019.

1. Margaret Atwood – Những con đường Man Booker

Ảnh: The Times

“Với những điều như thế, dĩ nhiên tôi đồ chắc rằng Margaret sẽ bị Viện đá ra khỏi đường đua vốn bảo thủ về mặt chính trị…”

Sau lần Margaret bắn một tràng chục tweets phản pháo lại dư luận hồi #MeToo, cùng cả những cánh dao đâm từ mọi lúc mọi nơi về tính nữ quyền (mà bà luôn chối bỏ) trong lần lượt các tác phẩm lớn: The Edible Woman, The Handmaid’s Tale, The Ponepoliad, The Heart Goes Last, đặc biệt bộ ba truyện hậu tận thế khổng lồ, MaddAddam. Có thể nói, bà là nhà văn của tai tiếng. Những lời cáo buộc nặng nề từ các nhà văn, truyền thông và báo chí, bộ trang phục màu đỏ với mũ trùm mặt xuất hiện một thời ở khắp các cuộc bãi công đòi giảm giờ làm ở Mỹ. Với những điều như thế, dĩ nhiên tôi đồ chắc rằng Margaret sẽ bị Viện đá ra khỏi đường đua vốn bảo thủ về mặt chính trị (sau khi Handke năm nay ẵm giải thì ý kiến đó lung lay đôi chút, nhưng ai mà biết những năm sau). Nhưng dù sao, đã có vòng tay của Man Booker rộng mở hứng bà về, với tổng số sáu cuốn sách lọt vào vòng chung khảo và không chỉ một lần trúng cử, lần gần đây nhất là The Testaments vài ngày trước. Dĩ nhiên, bằng một số giải thưởng lớn nhỏ, đã chứng tỏ được sự hùm oai của những cuốn sách “Margaretian”.

Khó mà không nhắc tới Margaret với tư cách một nhân vật đa tài trong hệ thống các nhà văn gồm nghề tay trái, nghề tay phải. Khởi đầu rực rỡ với tư cách một nhà thơ, tập thơ đầu tiên lúc mới bước chân vào Harvard, Double Persephone ấn hành năm 1960 đem lại cho bà mề đay Pratt; sáu năm sau, khi đang làm tiến sĩ, tập thơ The Circle Game mang lại cho bà giải thưởng danh giá nhất Canada, giải Thủ hiến. Trên đà rực rỡ đó, bà lại chuyển địa hạt sang viết tiểu thuyết. Tiểu thuyết đầu tay The Edible Woman tiếp tục thành công, được liên tục dẫn luận như trang viết châm biếm chủ nghĩa tiêu dùng ở Bắc Mỹ và mở đầu cho chuỗi các văn bản đậm tính nữ quyền sau đó. Nhưng có một điều đặc biệt ở bà, đó là sự không chấp nhận các tiểu thuyết của mình hoàn toàn là hư cấu và mua vui, ngay cả việc liên tục chối từ The Handmaid’s Tale hay Oryx và Crake là một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Bà gọi chúng là những tiểu thuyết đầu cơ (speculative novel). Những lời khẳng định của bà quy lại tính ẩn dụ và tiên đoán trong tác phẩm của bà. Ở đó, sự hư cấu và đen tối được xây dựng trên chính những cuộc đổ vỡ về nhận thức, ảo tưởng, cưỡng dâm, chính trị kiệt quệ. Và lời dự đoán tương lai một cách quá tối tăm và mang tính phản động ấy là lý do giải thích cho việc Maclean gọi bà là nhà văn tai tiếng nhất Canada tự đó. Họ thản nhiên phê phán hành vi của nhân vật Offred (The Handmaid’s Tale) trong cái khung tiểu thuyết phản không tưởng đó, dưới mọi hành vi quy định của phát ngôn tác giả trong quá khứ. Bên cạnh đó, bà còn là nhà uỷ thác sáng lập giải thơ Griffin, Hội Nhà văn Canada nhằm khuyến khích lớp nhà văn trẻ, bà là một nhà phát triển robot, một nhà giáo, một nhà tiểu luận và phê bình học,…

Margaret có chiến thuật độc đáo cho mình. Bằng việc phác thảo tiểu thuyết The Handmaid’s Tale dưới bối cảnh một nước Mỹ giả tưởng, hoặc tương lai, dưới tên Cộng hoà Gilead, bà sớm trở thành một nhà văn xuất khẩu hàng đầu cho văn học nước nhà. Là một cú sốc, một cú nổ với hơn 30.000 bản được bán ra, cuốn tiểu thuyết đưa lên những vị trí mà Margaret từng ước ao tuổi 16. The Handmaid’s Tale được đón nhận theo nhiều cách khác nhau, trong khi bằng một dài dòng các đoạn văn và tình tiết rất drama, về khả năng bóp nghẹt sự tiến tới của phụ nữ cả về đường ý thức, tình cảm lẫn tình dục; các độc giả Mỹ và Canada rùng mình đoán xem bao giờ nó đến với mình, thì người Anh lại coi nó có tính huyễn hoặc và giải trí khá cao. Nhưng Margaret không chỉ có cuốn sách đó, ngay lập tức. Nếu The Robber Bride hay Lady Oracle phóng chiếu những tượng đài về người phụ nữ đầy đầu tư, tỉ mẩn và đẩy lên cao thấp khác nhau được quy về một kiểu với Handmaid. Ở đó, khi xây dựng một cốt truyện phức tạp, nhiều công đoạn, những câu văn ấy đẩy mạnh cho sự đen tối của cuốn sách, rồi tới sự giải thoát nhưng ngỡ ngàng khi nhận ra cảm xúc vừa trôi đi ngang qua, mà mỗi câu văn đều thực sự tinh quái và châm biếm không tưởng. Trong khi Tay sát thủ mù lại gần với thơ hơn, được tóm gọn bằng một phong cách thứ hai của Margaret: ngôn ngữ tú lệ tạo tiền đề cho sự bí bách về những số phận phụ nữ mạnh mẽ nhưng loay hoay trong bối cảnh một Canada thực sự trào lộng, một biên niên hào hùng, tuyệt đẹp. Ở tất cả những cuốn sách đó, khi mà chữ “nữ quyền” luôn nên đặt trong dấu ngoặc kép để không phật ý tác giả, thì bằng cách bóc tách hiện tại như một sự phản kháng kép tiên đoán, tác giả vừa hợp lý với ý kiến bất đồng của mình với Guardian, vừa hướng tới chủ đề lớn hơn, chủ nghĩa toàn trị.

Bỏ qua mọi tai tiếng của #MeToo hay sự ngỡ ngàng đến phản đối kịch liệt từ các đồng nghiệp mình lên các loại sách phản không tưởng của mình, Margaret dường như làm đúng nguyện vọng của Viện Hàn lâm Thuỵ Điển: tính tiên đoán, tính cảnh tỉnh nhưng đổi lại thiếu tính phản kháng và đấu tranh (ý kiến của ai đó tôi đã quên). Nhưng có phải là thiếu hay không? Hay cách đấu tranh của Margaret nằm ở những cách thể hiện tế nhị, tinh tế, hoặc đẳng cấp hơn? Dù gì, với khả năng dấy động thông tin đại chúng như thế, Margaret xứng đáng cho một tấm mề đay, chỉ là khá xa, hoặc không tài nào.

2. Tàn Tuyết – Ngược duyên với Nobel

Ảnh: Paris Review

Mùa giải Nobel lại vừa trôi qua, dù đã được cược bởi nhà cái NiceOdds với số phiếu 1/15 ngang bằng với tiểu thuyết gia muôn đời lỡ muộn Murakami, Tàn Tuyết vẫn phải chịu thua bởi Viện Hàn lâm. Tự hỏi, đâu là lý do chính khiến bà ngã ngựa khi dường như có đầy đủ khả năng thắng giải? Liệu đó là do văn chương của bà, một sự kỳ ảo thâm căn đến từ sâu thẳm phương Đông mà các ngài mài quần trên ghế bên bán đảo Scandinavi khó thể hiểu nổi? Hay bởi chuyển ngữ, mà như bà nói, tiếng Trung là một ngôn ngữ mà ý nghĩa được chôn sâu và từ ngữ nhấn mạnh cảm giác? Hay bởi chính trị, với một chế độ Trung cộng đang lên quá nhanh và nỗi tị hiềm làm nên như thế? Hay bởi Trung Quốc quá nhiều Nobel (riêng ở châu Á) nên trao sẽ thừa? Chẳng ai hiểu được.

“Nobel và Tàn Tuyết, thiết nghĩ, như hai cá thể đồng mộng dị sàng, hoặc cả hai đều thèm khát nhau, hoặc chế giễu nhau, hoặc cùng an bày nhau, sao cũng được.”

Trong số những tác gia Trung Hoa có vinh dự được chuyển ngữ sang tiếng Việt, từ lối viết dễ cảm của Lưu Chấn Vân đến khó nhằn chi tiết của Dư Hoa, từ lớp trẻ như Mạch Gia đến lão luyện như Lý Nhuệ, Mao Thuẫn; dễ thấy phần lớn đều là nam nhân. Còn giới nữ, họa hằn lắm ta có Anchee Min, có Trương Duyệt Nhiên, có Vệ Tuệ, có Xuân Thu, Sơn Táp; và giữa một rừng những nam thanh nữ tú ấy, Tàn Tuyết hiện lên như chính cái nghệ danh bà tự đặt cho mình – một thứ dễ dàng tan biến mà lại đến mùa tàn. Tàn Tuyết nổi bật giữa văn đàn không hẳn vì một cái gì nổi bật: không một tác phẩn đỉnh điểm cũng không phát ngôn cách tân; mà cái nổi bật của bà chính ở một trường phái viết rất không giống ai: tự đào sâu mình, mở cánh cửa bước đi, nhìn ra thế giới.

Người ta gọi Tàn Tuyết là nhà văn thể nghiệm tiên phong (avant-garde), nhưng đối với riêng bản thân, thiết nghĩ, nên gọi văn chương của bà dưới tên “văn chương thuần túy” – như bà tự diễn giải, thì hơn. Vì xét về bản chất, đa số những tác phẩm của bà, từ truyện ngắn-vừa-dài đến tiểu thuyết, bình luận, phê bình; tất cả đều mang sứ mệnh rõ ràng của văn chương – thông qua từ ngữ, nhìn nhận bản thân. Khác chăng ở cách diễn đạt. Tàn Tuyết dùng nhiều ẩn dụ, đôi lúc bạo loạn, đôi khi dồn ta vào bước đường cùng; thế nhưng đó đều là những hình ảnh đặc tả. Một cách ngắn gọn, công việc của bà đơn giản là dùng những ẩn dụ này làm ra cánh cửa nhìn nhận bản thân, còn việc nhìn nhận thế nào và vào lúc nào mà ta thấy gì, lại rất phụ thuộc vào cảm quan người đọc. Nói một cách khác, văn chương Tàn Tuyết độc diễn nhưng đa nghĩa: đều là một từ ngữ đó, một hoạt cảnh đấy, thế nhưng khi đọc vào lúc sáng, lúc trưa, lúc chiều; khi ta 19 lúc ta 20; đương vào mùa xuân hay thoắt mùa hạ; mọi thứ lại được diễn giải theo một ý khác, và một điểm chung là mang theo vào cùng cả thế giới quan của ta.

Nếu đọc hầu hết những tác phẩm của Tàn Tuyết, ta dễ nhận ra bà nghiêng về hướng bạo lực. Việc sử dụng hình tượng, xây dựng cốt truyện, chuyển biến mạch dẫn; tất cả đều được xây dựng trên nền tảng cực đoan. Những hình ảnh như con mèo, loài rắn, châu chấu, bọ ngựa, các loài giáp xác,… liên tục xuất hiện trong những truyện ngắn và dài; như lời đại diện không những cho cái ác hiện hữu, mà còn cho những gì sắp tới. Ở đó, tự nhiên và con người luôn có một sự gắn bó hữu cơ khó thể chối bỏ, bà mang cả hai lồng ghép vào nhau như sự trở về khởi thủy, vì văn chương là nguồn cội, và Tàn Tuyết thường xuyên dùng những hình tượng này như khắc sâu chính nơi mà ta bắt đầu. Như trong Bảng lảng trời xanh hình ảnh lau sậy mọc đầy trong bụng Nhữ Hoa hay truyện Đứa bé nuôi rắn độc, rắn sinh sôi và nảy nở trong bụng Sa Nguyên, vừa là một thành tố tự nhiên, nhưng cũng đồng thời gắn kết gia đình.

Tàn Tuyết dùng nhiều hình ảnh rời rạc phân kỳ, không can hệ nhau; nhưng bằng sợi dây huyết thống một phần nào đó, bà buộc chúng lại làm nên không gian thời cuộc. Điểm này dễ thấy tương đồng dường như ở hầu hết các tác gia phương Đông. Nhưng bà xây dựng gia đình theo một hướng rất khác, luôn luôn mâu thuẫn. Như thể ở truyện ngắn Bong bóng xà phòng trên chậu nước đen, bà viết về một người mẹ luôn bị ám ảnh bởi sự sát hại từ chính con mình: “Được rồi, con ngoan!” Bà vỗ vai tôi. “Đó không phải là điều mà mày trông đợi hay sao? Điều mà ngày đêm mày mơ tưởng chính là chuyện này chứ gì nữa, tao rõ cả rồi. Mày cứ kiên nhẫn đợi đi, có lẽ sắp được như mong ước rồi đấy con ạ!”.

Cốt truyện Tàn Tuyết xây dựng thường không phức tạp, nó là sự lặp đi lặp lại những ý nghĩ bà muốn truyền đi, nhưng đôi khi nó đa nghĩa một cách phức tạp. Như trong Đào Nguyên ngoài cõi thế, khi ông Tư Tề bị bọn trẻ trên bãi cỏ hất ngã, đơn giản ta nghĩ chỉ như một sự chuyển đổi thế hệ, nhưng nhìn sâu vào, nó còn là hình ảnh của chính bà – con gái có người cha bị bỏ tù trong Đại Cách mạng Văn hóa, mà vào thời đó, hình ảnh chiếc ghế giữa sân và đám đông bao quanh thường tượng trưng cho đấu tố – một hình ảnh quen thuộc rất dễ bắt gặp ở những tác phẩm sau này. Truyện ngắn của bà đa số viết về những đấu tranh tư tưởng hầm ẩn hay hiện diện giữa những thế lực từ bên trong bản thân hay ngoài xã hội, nhưng đôi khi nó cũng là những câu chuyện riêng tư rất dễ bắt gặp. Trong đó, nhân vật chính thường là những con người với lý trí suy tàn phải tự chiến đấu với chính mình hay ngoài xã hội. Tàn Tuyết đẩy mạnh truyện đến cưỡng bức. Ngột ngạt dường như là không khí chính bao phủ hết hoàn toàn câu chuyện. Không xây dựng một cách nửa vời hay hướng mở, bà cho người đọc một hình dung chính xác và cách giải quyết của riêng mỗi một tình huống, không xào nấu, khoa trương, không giảm nhẹ, duy mỹ.

Tàn Tuyết là một trường hợp lạ, khó mà giải thích. Vì đa số những tác phẩm của bà vẫn chỉ có bao nhiêu đó nhân vật huyết thống, bao nhiêu đó ẩn dụ muôn loài, và bấy nhiêu cách giải quyết tình huống; thế nhưng ở mỗi câu chuyện, ta lại nhìn thấy những ngóc ngách nhỏ trong đời sống con người. Ở đó trí nhớ suy tàn được phục dựng, đứng dậy và lê lết ra phía ánh sáng như phút huy hoàng cuối cùng trước khi trở về mặt đất im lặng muôn đời. Như từng chia sẻ, bà viết tuần tự, từ đầu đến cuối, không xáo trộn chi tiết, không để dành cảnh trí đắt giá, không chỉnh sửa hậu cảnh, mỗi ngày ngồi viết một giờ; tất cả lại dường như quay về thiên hướng ban đầu của văn chương: những gì trào ra từ bên trong con người không tính toán nghĩ suy. Như Björk – nghệ sĩ tiên phong của âm nhạc thể nghiệm, khi được hỏi về một vòng hòa âm hay, bà không ngần ngại trả lời, không khi nào bà ghi âm một giai điệu bất chợt, nếu đủ hay nó sẽ vẫn ở đó sau một cuộc đi dạo dài. Hai người phụ nữ tượng trưng cho những tiên phong ở hai địa hạt khác nhau, thế nhưng giống nhau một cách thần kỳ.

Nobel và Tàn Tuyết, thiết nghĩ, như hai cá thể đồng mộng dị sàng, hoặc cả hai đều thèm khát nhau, hoặc chế giễu nhau, hoặc cùng an bài nhau, sao cũng được. Nhưng dẫu sao, hãy nên mua bản Việt ngữ lúc còn có thể, vì với danh xưng “favorite for Nobel Prize”, giá sách điện tử dành cho Kindle của bà đã tăng 3 lần, từ 4 lên 12 dollar, và nếu một ngày nào đó Nobel thật sự chạm ngõ, liệu còn có thể!?

3. Anne Carson – Số phận Nobel nào cho thơ?

Ảnh: Literary Hub

“Anne đã tự chặn đường mình tới giải thưởng lớn lao nhất hành tinh này.”

Sau tất cả những chuyến gọi nặc danh tới John Banville và chuyến xe đổ đá lên đầu vị văn sĩ dũng cảm Peter Handke năm nay, thì người cần được nuối tiếc năm nay nhất chính là Anne Carson. Với tỉ lệ phiếu cược 1/5 trên trang NiceOdds, và gia tài văn chương đồ sộ, một lần nữa, Nobel Văn chương lại không chọn thơ. Vô danh ở Việt Nam (hiếm có nhà thơ ngoại quốc nào nổi tiếng ở đây), nhưng luôn được thán tụng như một người cùng với Margaret Atwood khởi sinh lại nền văn chương Canada từ lâu đã mất hút trên bản đồ bút mực thế giới. Không chỉ tác động mạnh mẽ lên thi ca hiện đại, bà còn là giáo sư ngành văn học so sánh, dịch giả tiếng Latin và Hy Lạp, nhà tiểu luận về Hy Lạp cổ đại. Thơ của bà là sự cách tân mạnh mẽ về hình thức, là sự đeo đuổi dai dẳng những dòng thơ tràn từ dòng này sang dòng khác, trình bày đột phá như một kịch bản phim, hay chiều dài các dòng giảm dần, một điều chưa từng thấy khi các nhà chính luận đổi địa hạt. Trong khi để duy trì một khối lượng lớn câu cú như thế, bà thường đi kể lể về các hình ảnh khó quy chụp cho một phép ẩn dụ (cái kẹp giấy, cái cổ, bao ni-lông, băng,…), mở đầu bằng một số các câu văn rời rạc, cố đề cập tới một không gian và tình cảnh cụ thể chỉ để chốt lại bằng những câu văn dường như vô nghĩa, lãng nhách và khó giải mã. Trong khi đó, trong một cuộc phỏng vấn, bà nói, “Nếu văn xuôi như một ngôi nhà đó, thì thơ là khi người ta đốt nó lên và có người chạy xuyên qua.” Bằng việc cố xây dựng một cốt truyện, thứ không quá cần thiết cho loại thơ lãng đãng, khó khăn như vậy, bà tự động đốt nó lên và hoạt động nó dưới một phản nhiệm vụ tương tự. Thỉnh thoảng, trong các dòng đó, bà sẽ chen vào những cảm nghĩ của mình, rất vu vơ, và dường như bẻ gẫy mạch thơ, làm nó trở nên như một thứ văn xuôi, trắc trở, từ chối mọi nỗ lực đọc hiểu.

Một trí tuệ siêu việt và uyên bác tột độ. Bằng cách ít nhất tạo nên sự gắn kết về văn thơ hiện đại với niềm yêu thích đặc biệt với văn chương cổ đại Hy Lạp, Tự truyện của Màu đỏ (Autobiography of Red, 1993) đem bà đến đỉnh cao của một cuốn truyện thơ khi kết hợp nhiều hình ảnh ẩn dụ không rõ ràng về truyền thuyết Hercules, cậu bé Geryon trong thần thoại Hy Lạp cùng tên, chắp vụn những mảnh thơ của bản Geryoneis còn sót lại của văn hào Stesichorus. Bản dịch được lồng ghép một cách rời rạc, vụn vặt và chắp nhặt. Đem đến thơ văn trong thơ văn, văn xuôi hấp dẫn và lôi cuốn như lời hát rong của Homer. Nhưng trong Tự truyện của Màu đỏ, có những thứ mà Odessey hay Iliad không hề có, sự lược bỏ chủ nghĩa anh hùng thay vào đó là những rủi ro rất hiện đại, sự dàn trải trên trang giấy cho phép các câu văn được phép mờ mịt và lắt léo. Ngoài ra, Nước lạt (Plainwater, 1995), Cái đẹp của ông chồng: Một tiểu luận hư cấu bằng 29 bài Tango (The Beauty of the Husband, 2001) đều là những công trình cổ điển được viết bằng thứ ngôn ngữ bán cổ điển, tân cổ điển giàu hình ảnh và khó tiếp cận, nhưng đều đồ sộ và uy nghi.

Hai bản dịch Bài học sầu bi: Bốn vở của Euripides (Grief Lessons: Four plays of Euripides, 2006) và An Oresteia (2009) của Anne đều dấy lên những tranh luận gay gắt. Về sự rời rạc trong kết nối truyện, hay về sự lường trước sự đổ vỡ trong ba bi kịch (An Oresteia). Hilton Als của The New Yorker gọi bản dịch Grief là bài học vỡ lòng về bản chất nguy hiểm của lòng mù quáng tới hệ cấp tiến tư tưởng. Brad Leisauther nói rằng ông không tìm thấy một cảm giác gắn kết nào của ba vở bi kịch nhà Atreus (gồm Agamemmon của Aeshcylus, Electra của Saphocles và Orestes của Euripides) và rằng nàng này đã khom xuống đáng kinh ngạc trong việc tạo ra sự phiền phức khi nhớ lại tính lộng lẫy từng biết của chúng. Nhưng chung quy lại, bằng một khía cạnh nào đó vẫn thể hiện ý thức dịch rất cao, rất khác của bà ở lĩnh vực này.

Đã mười năm giải Nobel làm ngơ thơ (từ thời bà Herta Müller) và hai ba hai tư năm kể từ lúc gần nhất Nobel trao cho một nhà thơ chính cống, tức là không được chú tâm, hoặc không viết một tác phẩm văn xuôi chính luận nào (từ thời bà Wisława Szymborska hay ông Seamus Heaney). Và năm nay là thời điểm mà hai giải Nobel được trao cùng lúc, hai địa hạt văn chương hoàn toàn khác nhau, hai thế hệ văn chương tách bạch, nhưng họ đều có chung một cấu tứ đi tìm vẻ toàn diện của con người qua những trải nghiệm vỡ vụn. Vượt lên trên đó, tiểu luận và thơ của Anne Carson lại đi tách những phần cao cả của con người ra thành những cốt truyện rất ngắn, vô thưởng vô phạt nhưng đầy mỹ cảm và thu hút chiết tách. Vì những lý do đó, đã đến lúc chúng ta nên đặt ra câu hỏi rằng liệu thơ có còn nằm trong các tiêu chí văn chương của Viện Hàn lâm Thuỵ Điển hay không, hay là với hai tiêu chí trái ngược, rằng Thơ không là những liệu pháp, Anne đã tự chặn đường mình tới giải thưởng lớn lao nhất hành tinh này. Và ta nên sợ rằng, rồi Anne Carson sẽ lại liệt vào danh sách những nữ văn sĩ yểu mệnh với Nobel, cùng với Sylvia Plath, Emily Dickinson, Susan Sontag một ngày nào đó, khi theo gót người anh của mình, Phillip Roth, người thầy mình, Joseph Conrad.

Hết.

Gia Bin (viết về Margaret Atwood và Anne Carson)

Ngô Thuận Phát (viết về Tàn Tuyết)


Đọc những bài viết của Ngô Thuật Phát.

Đọc những bài viết của Gia Bin.


1 Comment

1 Bình luận

  1. Trần Văn Quốc Việt

    Tháng Mười 19, 2019 at 12:48 chiều

    Bài hay ghê ^^

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Lê Khải Việt và những cảm hứng mong được kể lại

“Trên những trang sử, theo một nghĩa nào đó, không ai có thể có căn cước xác định.”

Published

on

By

Tôi đọc Chuyến bay tháng ba tình cờ vào đúng những ngày cuối tháng Tư đỏ lửa, nhưng không phải của hơn 45 năm trước mà là ở thời, ngày và giờ hiện tại. Thật trùng hợp khi mà đây cũng là một cuốn sách (phần nhiều) nói về chiến tranh, và hơn hết, còn về những điều đến nay ta vẫn không thể biết ai đúng, ai sai, ai phải, ai trái. Những dòng đầu của Lê Khải Việt làm tôi nhớ nhiều tới The Sympathizer của Viet Thanh Nguyen. Đơn cử cả hai đều viết về chiến tranh, đều là hành trình lội ngược về ký ức; nhưng còn hơn thế, đó là nỗ lực nhằm lộn trái cái tôi, đi sâu vào trong câu hỏi muôn đời của cái căn bản nhất và cốt tủy nhất khi sinh ra dưới nhân dáng con người.

Tôi cũng rất thích Austerlitz của W. G. Sebald vì những dòng hồi tưởng dài ngoằng, về những nhà ga và những con người nay đã chìm vào dĩ vãng. Càng thích hơn nữa những tấm ảnh trong cuốn sách ấy, vì đó là những hiện-thực-hóa câu văn để cho tâm trí bớt phần mỏi mệt vì những tưởng tượng phải vắt kiệt ra để tiêu hóa chúng. Và trong cuốn sách này, ngôi miếu cũ với ký hiệu EE vòng ngoài chữ C, tấm ảnh về chiếc trực thăng trên nóc chuồng cu vào ngày 29 tháng Tư hay cảnh chạy loạn của một gia đình đông đúc từ An Lộc chạy ra Sài Gòn… thực sự khiến tôi thích thú. Tôi hỏi anh về cảm hứng viết nên cuốn sách này, bởi nhẽ, những tấm ảnh, tư liệu hay những tưởng tượng khơi nguồn ngòi bút là một ấn tượng vô cùng sâu xa mà ta không thể chối cãi, dẫu ở vị thế nào hay chịu ảnh hưởng ra sao.

*

Dễ thấy một vài câu chuyện trong Chuyến bay tháng ba được khơi nguồn dựa trên những tư liệu lịch sử. Vậy quá trình sáng tạo nên cuốn sách này diễn ra thế nào, thưa anh?

Tôi khởi viết những truyện ngắn trong tập này từ cảm hứng của người viết, chứ không phải từ tư liệu lịch sử. Đương nhiên, khi viết tôi dựa trên những tư liệu lịch sử nhất định chứ không hoàn toàn hư cấu. Ví dụ như chi tiết về người đội trưởng toán biệt kích là dựa theo chuyện có thật của một vị cựu binh Mỹ ở Việt Nam mà vài năm trước người ta bàn tán khá sôi nổi. Ngoài cuốn sách của tác giả Vistica (The Education of Lieutenant Kerrey – Người viết) về chuyện này, tôi còn đọc một vài cuốn hồi ký khác của những biệt kích Navy SEAL để hy vọng miêu tả chân thực hơn.

Những chi tiết trong những truyện khác đều dựa vào những gì tôi đã đọc được trong sách lịch sử. Đó là phần tư liệu. Quay trở lại câu hỏi chính. Tôi viết những truyện ngắn trong cuốn sách này hoàn toàn dựa vào cảm hứng muốn kể lại cái gì đó, bằng cách nào đó, về một cuộc chiến và một thực tại mà tôi hình dung được. Về chuyện sáng tạo, thông thường trước khi viết tôi hay đọc lại vài trang của những tác giả ưa thích. Điều đó đem lại một chút kích thích để tay mình đỡ ngại ngùng hơn trên bàn phím.

*

Và cũng phải khẳng định rằng, đối với tôi, đây dường như không phải là một tuyển tập truyện ngắn dẫu cho dung lượng vừa phải của những kết cấu cấu thành nên nó. Mà cách gọi khác (có vẻ toàn diện và đầy đủ hơn) rằng chính nhưng văn bản này của Lê Khải Việt đã xây nên một bức tranh khớp nối hoàn hảo giữa ba thành tố - ký ức, thời gian và sự chuyển dời, để làm nên một cõi nhân tình thế thái mênh mông và đầy chuyển động. Trong đây ẩn chứa những câu chuyện tình của anh bộ đội và cô học sinh, những mưu mô tiếm quyền tự sâu bản chất hay những mối quan hệ đời sống đã đến hồi kết… mà anh gọi rằng là những “đoản văn vô thưởng vô phạt”. Nhưng rốt cuộc rồi liệu có hay không cũng không quan trọng, bởi lẽ, cái lững thững, lơ lửng; cái mất kết nối hay vô căn cước này đã xuất hiện tràn khắp một vùng không gian – có thể là những đặc trưng chiến tranh, mà cũng có thể rất là con người; không chút ngơi nghỉ hay khi vắng bóng.

*

Nói về thể loại của Chuyến bay tháng ba, liệu có thể cho rằng đây là một “tập truyện ngắn” bởi những sợi dây liên kết dẫu cho mong manh nhưng có tồn tại giữa các văn bản?

Nếu có một liên kết chung nào, như một chất liệu nền, thì đó là chiến tranh. Thật ra cũng có một hai truyện trong tập này chỉ là những đoản văn vô thưởng vô phạt, không dính dáng gì đến chiến tranh.

Nhân vật trong các câu chuyện của anh thường không có một căn cước xác định. Liệu đó là đặc tính của ký ức – sự bất định, hay ngầm ý rằng ai rồi cũng sẽ trở thành “nạn nhân” trong chính “trang sử” riêng bản thân mình?

Tôi cũng không rõ nữa. Có lẽ trên những trang sử, theo một nghĩa nào đó, không ai có thể có căn cước xác định.

*

Là tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, thế nhưng Chuyến bay tháng ba đưa tôi đi vào nhiều vùng từ trường khác nhau của các cách viết mới lạ. Tôi phát hiện một chút Kafka trong Đấu tranh, một chút George Saunders trong Căn phòng, và sau này, cả một chút lửng lơ của Sâm Thương hay Phan Triều Hải (như anh trả lời trong cuộc phỏng vấn) ở Ăn tối hay Ba điều ước. Nếu một người ngủ dậy bỗng chốc biến thành gián, thì ở đây bạn sẽ thấy loài rồng trên nóc miếu thờ trở về trong mơ. Nếu cặp đôi bị đưa vào phòng thí nghiệm thử loại Verbaluce ™ của một nhà khoa học dở hơi nào đó; thì căn phòng và một chỗ trũng trong cuốn sách này sẽ là điểm tụ phối cảnh làm trầm trọng hơn não trạng đã phân hai cực bởi do chiến tranh.

*

Một vài khoảnh khắc anh viết dễ gợi nhớ tới màu sắc của Franz Kafka hay George Saunders. Những nhà văn nào đã có tác động rất lớn lên anh?

Chắc chắn là Franz Kafka rồi. George Saunders cũng rất hay nhưng tôi chỉ mới đọc một cuốn của ông. Gần đây thì có Ray Bradbury. Tác giả Việt Nam thì Phạm Công Thiện, Nguyễn Huy Thiệp, Phan Triều Hải.

*

Và như đã nói, bởi những ý tưởng vượt thoát ra khỏi chiến tranh, tiếm quyền, tội ác… – bỗng chốc tôi nhận ra anh chỉ đang mượn ký ức như lớp vỏ ngoài của loài tôm sông. Cái lớp nhờ nhờ, sệt sệt mà ta đem đun hay đi nướng lên thành ra đỏ tươi vô cùng bắt mắt ấy thật ra vô nghĩa. Những điều xấu xa ẩn giấu trong đây qua lớp từ ngữ nay được mài khảm thành những cổ vật chìm giấu nghìn năm, nhưng có điểm chung là dù cho chúng được xử lý theo cách nào thì, rồi cũng sẽ vô dụng như lớp vỏ ấy, không một chút lợi cho vật bị ăn và người muốn ăn. Tôi hỏi anh vì sự vô nghĩa lý của chiến tranh, nhưng ngay cả khi chiến tranh xong rồi; niềm tỵ hiềm của người Việt hải ngoại với chính sách nhập cư của Trump, việc rút ra khỏi các chương trình bảo vệ khí hậu, việc xâm chiếm của đô thị hóa… thế sao vẫn còn? Anh không trải lời nhưng tôi biết một mặt nào đó, thinh lặng là câu trả lời tốt nhất.

*

Dễ thấy anh mượn chiến tranh chỉ như bộ mặt cho những “trò con trẻ” ẩn giấu đằng sau nhân tình thế thái. Dưới góc nhìn của một tác giả văn chương, anh nghĩ chất liệu đời sống có ảnh hưởng thế nào đến một cây viết?

Rõ ràng là cuộc sống chung quanh ảnh hưởng rất lớn đến một người viết. Ví dụ gần và rõ nhất là sự khác biệt trong văn chương của hai miền đất nước khi cuộc chiến diễn ra. Ở nước ngoài, ví dụ trường hợp Raymond Carver, ta có thể thấy sự thay đổi trong văn phong những tập truyện khi đời sống của ông thay đổi xoay quanh chứng nghiện rượu và cuộc hôn nhân trễ.   

Định hình nên cách viết riêng với cuốn sách đầu tay này, tôi hỏi anh thêm về những suy nghĩ rất riêng đối với nền văn chương hiện nay. Một thời đã qua của những tài năng sáng rực như Trần Dần, Nguyễn Huy Thiệp; một thời tiếp nối của Thuận, Nguyễn Bình Phương; hay vươn ra nước ngoài ở phía bên kia địa cầu với Ocean Vương và Linda Lê. Những nhà văn Việt Nam ở ngay tại đây và thời điểm này đối với văn học trong nước dường như đang đi xa quá. Họ không đủ sâu cũng chẳng đủ sát, họ nhợt nhạt, phai mờ và chìm nghỉm trong sự chọn lựa của độc giả. Họ ca ngợi những niềm ngây ngô tưởng như khó bề gọi thành văn chương. Họ già nua, cũ kỹ, hay nói như lời Nguyễn Huy Thiệp, rằng họ “tự phát thành danh” để “tùy tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa”.

*

Văn chương phương Đông hầu như luôn hướng về những bi kịch từ trong quá khứ. Liệu anh có nghĩ đã đến lúc những cây viết trẻ nên chuyển dịch sang những vấn đề mới hơn, sát sao hơn, ngay-bây-giờ và ở-tại-đây?

Tôi không nghĩ mình đọc đủ nhiều để nhận định về chuyện này. Tuy nhiên, đề tài mà tác giả lựa chọn để viết không nên bị bó buộc trong bất cứ giới hạn hay thành kiến. Quan trọng là tác giả đó viết hay hay dở, có chạm đến người đọc được không. Ngoài ra, những tác phẩm về quá khứ cũng có thể đang nói về hiện tại.

*

Từ quá khứ xa xưa hiện về trong ký ức đến cái hiện đại ào vào đời sống hiện nay, từ những xung đột ngoại quan đến những đối lập đời sống nội vi, từ vấn đề di dân đến người Việt hải ngoại ủng hộ các chính sách hạn chế nhập cư, từ biến đổi khí hậu đến đô thị hóa... Chuyến bay tháng ba là một nỗ lực tìm về những con người chung đã kịp chuyển hóa và bị đặt vào trong cảnh huống lưỡng nan của tình thế làm người. Sau rốt, những hệ giá trị đạo đức nào còn lại? Hay thậm chí, thực chất còn không hiện diện chính khái niệm ấy? Tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, nhưng gợi mở và đầy dấu ấn.

Hết.

minh (thực hiện)

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Trần Vân Anh: Về lòng can đảm, tôi nghĩ mình có bao la

Published

on

By

Tran Van Anh Hom nay me co vui khong

Tác giả Trần Vân Anh là một chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm: Editor-in-chief của Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt, Content Manager tại Tập đoàn CMG.Asia, Senior Beauty Editor của Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion…

Nhưng bên cạnh những chức danh đó, chị còn là một người mẹ.

Tác giả từng trải qua trầm cảm khi một mình nuôi dạy hai đứa con khiếm khuyết, rồi tự chữa lành, vượt mặc cảm khi nhận ra: bản thân phải hạnh phúc thì mới trở thành một người mẹ tốt của hai con.

Quyển sách Hôm nay mẹ có vui không? không là một cuốn sách nuôi dạy con khuôn mẫu. Nó mang dáng dấp của một cuốn nhật ký của bản thân tác giả hơn, nơi chị nhìn lại, suy ngẫm, và viết nên chính cuộc đời mình. Không đơn thuần là hành trình làm mẹ, đó còn là hành trình của người phụ nữ hiện đại, sai lầm rồi trưởng thành, sống vì con, và vì cả chính mình.

*

Chị có nhiều năm làm viết về mảng làm đẹp, sở hữu một website về làm đẹp vì sao chị lại viết cuốn sách đầu tay về chủ đề tâm lý giáo dục cho phụ nữ chứ không phải về chủ đề làm đẹp?

Tôi coi làm mẹ là sự nghiệp lớn nhất cuộc đời mình. Cho dù tôi rất yêu nghề nhưng phải thú thật là tôi luôn cố gắng cân bằng và dành ưu tiên cho việc làm mẹ nhiều hơn. Thế nên tôi luôn tìm tòi, học hỏi, khám phá bản thân cũng như từ những người xung quanh sao cho sự nghiệp làm mẹ của mình dễ chịu nhất, các con lớn lên hồn nhiên vui vẻ nhất. Cuốn sách Hôm nay mẹ có vui không? chính là những đúc kết khởi đầu chân thật nhất của tôi về sự nghiệp làm mẹ.

Là một người mẹ đơn thân, lại có công việc bận rộn, làm thế nào chị hoàn thành tốt vai trò làm mẹ đồng thời có một cuộc sống cá nhân vui vẻ?

Thời gian và lòng can đảm là hai thứ cần thiết nhất để một người mẹ đơn thân vừa có thể làm mẹ tốt vừa có thể tận hưởng cuộc sống cá nhân.

Vì thời gian là hạn hẹp trong một ngày nên tôi phải sắp xếp mọi thứ sao cho hợp lý nhất. Sai lầm lớn nhất của phụ nữ chúng ta là ôm đồm mọi thứ một mình trong khoảng thời gian hạn hẹp ấy. Tôi không như vậy, tôi sắp xếp và cùng thực hiện nó việc với các con. Có thể mọi thứ sẽ không hoàn hảo nhất, nhưng không sao, mẹ con tôi tự xoay sở và vui với những gì đang có.

Về lòng can đảm, tôi nghĩ mình có bao la. Vậy nên tôi không sợ bất cứ khó khăn, vất vả nào. 

Theo chị, điều gì là khó khăn nhất với phụ nữ hậu ly hôn?

Cảm giác chông chênh là không thể tránh khỏi. Cho dù bạn chủ động ly hôn thì cũng phải mất một thời gian để cuộc sống quay trở lại bình thường. Ngoài ra, nếu có con cái, người phụ nữ còn phải chăm sóc phần tinh thần - cảm xúc cho những đứa con của mình khi ba mẹ chúng không còn sống chung nữa.

Vậy nên, vực lại tinh thần là điều khó khăn nhất đối với phụ nữ.

Tháng 3 là tháng người ta nói về nữ quyền, chị nghĩ nữ quyền là gì?

Nữ quyền chắc chắn không phải là làm sao đẩy đàn ông vào bếp nấu nướng hoặc bắt chồng làm việc nhà. Theo tôi nữ quyền là quyền được đẹp, được độc lập tự do nhất là trong tư tưởng và cái quyền này đã có, chỉ là phụ nữ có dám dành lấy hay không thôi. Tôi cũng nghĩ rằng, nữ quyền chính là nữ tính - một đặc quyền rất riêng của phụ nữ. Ta vẫn hạnh phúc mà không phải trở thành "như đàn ông" đó mới là hay! 

Theo chị điều người đàn ông cần làm để khiến người phụ nữ hạnh phúc?

Cũng còn tuỳ xem người phụ nữ đó coi trọng điều gì nhất trong cuộc sống. Vậy nên trong cuốn sách Hôm nay mẹ có vui không? tôi có đề cập đến ngôn ngữ tình yêu. Một cô gái chỉ cảm nhận tình yêu thông qua sự chăm sóc mà người đàn ông lại chỉ biết nói lời hay thì không được. Hoặc cô vợ thích quà mà anh chồng không biết tặng quà cũng không xong.

Với riêng cá nhân tôi thì một người đàn ông cho tôi tự nhiên được là chính mình sẽ khiến tôi hạnh phúc nhất.

Đó có phải là lý do chị chọn lấy người nước ngoài sau ly hôn? Phải chăng đàn ông Việt Nam không cho chị điều ấy?

Trai tây trai ta cũng đều có ưu và nhược điểm cả. Tôi thấy xung quanh bạn bè nhiều người chồng người cha tốt, có lẽ tôi không may mắn gặp được (cười).

Nhưng phải thú nhận một điều rằng phụ nữ hiện đại thật sự sẽ có xu hướng thích đàn ông phương Tây hơn. Có thể là nền văn hoá của họ coi trọng phụ nữ hơn chúng ta, họ được sinh ra trong bầu không khí tự do phóng khoáng và bình đẳng giới. Những người đàn ông chứng kiến bà, mẹ, chị em gái của mình tự do, độc lập, không phán xét nhau, không khắc nghiệt với bản thân và người khác. Lối sống của chính những phụ nữ đó là nền tảng văn hoá để đàn ông phương Tây có cách hành xử văn minh hơn.

Chị có cho con trai đọc sách của mình không? Cảm xúc con chị như thế nào

Tôi "bắt" các con đọc sách của mẹ (cười). Tôi bảo chúng rằng các con nên biết là mẹ viết gì về các con trong sách chứ, lỡ nói xấu thì sao. Gấu Tôm đều bất ngờ về cuộc sống thời thơ ấu của mẹ. Các con tự hào vì mẹ ra sách, hai đứa còn xin mẹ kí để đem tặng cô giáo.

Dự định trong tương lai của chị sau quyển sách này?

Tôi có nhiều đam mê và dự định lắm, nhưng năm nay bên cạnh viết sách, tôi ưu tiên các cho các hoạt động cộng đồng. Đầu năm 2021 tôi vừa hoàn thành công trình thư viện cho bà con ở thôn 2, Hoà Ninh, Di Linh Lâm Đồng với 1521 quyển sách chọn lọc. Tôi tin rằng con cái học thông qua việc làm của ba mẹ. Tôi lao động chăm chỉ, tận hưởng thành quả lao động của mình và chia sẻ với những người xung quanh, các con tôi luôn đồng hành cùng mẹ trong tất cả các hoạt động ấy!

*

Kết thúc bài phỏng vấn, xin được trích cảm nhận của nhà thơ, nhà báo Khánh Chi về tác giả Trần Vân Anh cũng như về quyển sách Hôm nay mẹ có vui không:

---
“Vân Anh chia sẻ bản thân mình, như cách cô sống. Cô hạnh phúc, vui sướng khi được bày tỏ, mở rộng con người mình, bóc từng lớp tâm lý, đời sống của mình để tự hiểu mình nhiều hơn. Và người đọc cứ thế mà đi theo cô trong hành trình dẫn dắt đó. Có ai đó, bắt gặp mình trong cô, sẽ nhận về thêm những kinh nghiệm sống. Có ai đó hoàn toàn khác cô thì sẽ như có thêm biên độ mới để hiểu biết về những cuộc đời đi qua tổn thương và tự phục hồi.”
---

Hết.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Tháng 3 Phụ Nữ, điểm mặt 6 tác giả nữ nổi bật

Published

on

By

Họ hiện đại, nhưng cũng nặng lòng với truyền thống. Họ làm việc toàn thời gian, nhưng cũng tận hưởng cuộc sống toàn thời gian. Nhân tháng 3 Phụ Nữ, Bookish.vn điểm lại những gương mặt tác giả nữ đã đồng hành cùng Phương Nam trong thời gian qua.

Đặng Nguyễn Đông Vy

Hãy tìm tôi giữa cánh đồng, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Những lối về ấu thơ

Với lối viết tinh tế, nhã nhặn, tác giả Đặng Nguyễn Đông Vy đã chia sẻ với người đọc những điều mình cảm nhận một cách sâu sắc về cuộc đời.

Với Hãy tìm tôi giữa cánh đồng, tất cả là ký ức nhưng chị nhìn qua đôi mắt đầy xao xuyến, trái tim đầy nhân hậu. Những khoảng đời dù rất riêng nhưng sao qua lời chị viết, trở nên thật gần gũi với những ai từng có một quê nhà để mà nhớ. Người ta có thể nhìn ra một góc tâm hồn tác giả, và có lẽ nhờ đã viết một cách chân thật với lòng mình, những câu chuyện gửi gắm có thể vượt qua cảm xúc riêng để biến thành cảm xúc của người đọc.

Tác giả Đặng Nguyễn Đông Vy

Hãy tìm tôi giữa cánh đồng là thuở ban đầu trong trẻo nhất trước khi được tiếp nối với những tâm tình trong Những lối về ấu thơ và giọng văn gần gũi, thẳng thắn hơn trong Nếu biết trăm năm là hữu hạn.

Bút danh Phạm Lữ Ân là sự kết hợp của hai nhà báo viết cho giới trẻ, cũng là một đôi vợ chồng Phạm Công Luận - Đặng Nguyễn Đông Vy. Nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái nhìn trong trẻo, tinh tế và sắc sảo với sự từng trải, thương yêu và khoan dung, những bài viết chung của họ đã đưa ra được những kiến giải đầy thú vị và vô cùng sâu sắc về cuộc đời, không chỉ cho giới trẻ mà cho bất cứ ai trong chúng ta, ở bất kỳ lứa tuổi nào.

"Viết được một bài viết nhỏ để nói lên cảm xúc của mình, và được người đọc cảm nhận, có lẽ cũng là một điều hạnh phúc", chị Đông Vy chia sẻ.

Nếu biết trăm năm là hữu hạn (ấn bản đặc biệt)

Trần Vân Anh

Hôm nay mẹ có vui không?

Tác giả Trần Vân Anh là một chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm, Editor-in-chief của Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt, Content Manager tại Tập đoàn CMG.Asia, Senior Beauty Editor của Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion...

Nhưng bên cạnh những tittle đó, chị là một người mẹ. Quyển sách Hôm nay mẹ có vui không? là câu chuyện của tác giả về quá trình tìm lại chính mình, tự chữa lành, là con đường thoát khỏi trầm cảm, tìm lại niềm vui, sự cân bằng, thanh thản trong tâm hồn.

Và trong hành trình của chị Vân Anh, rất nhiều người tìm thấy chính mình trong đó, qua chị Vân Anh – người mẹ hay qua Gấu – Tôm, người con.

Tác giả Trần Vân Anh

Hôm nay mẹ có vui không? mang dáng dấp một cuốn nhật ký của cá nhân tác giả, nơi chị nhìn lại, suy ngẫm, và viết nên chính cuộc đời mình. Đó không đơn thuần là hành trình làm mẹ, đó còn là hành trình của người phụ nữ hiện đại, sai lầm rồi trưởng thành, sống vì con, vì gia đình, và vì cả chính mình.

Bởi lẽ không có công thức trong việc dạy con, không có phương pháp nào là đúng hay sai nhưng chắc chắn có nhiều con đường để trở thành một người mẹ tốt. Một trong những con đường đơn giản nhất đó là trở thành một người mẹ hạnh phúc.

“Vân Anh chia sẻ bản thân mình, như cách cô sống. Cô hạnh phúc, vui sướng khi được bày tỏ, mở rộng con người mình, bóc từng lớp tâm lý, đời sống của mình để tự hiểu mình nhiều hơn. Và người đọc cứ thế mà đi theo cô trong hành trình dẫn dắt đó. Có ai đó, bắt gặp mình trong cô, sẽ nhận về thêm những kinh nghiệm sống. Có ai đó hoàn toàn khác cô thì sẽ như có thêm biên độ mới để hiểu biết về những cuộc đời đi qua tổn thương và tự phục hồi”, trích lời Nhà thơ - nhà báo Khánh Chi.

Hôm nay mẹ có vui không?

Trần Vân Anh:

  • Chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm
  • Editor-in-chief: Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt
  • Media Director: Kilala Communication
  • Content Manager: Tập đoàn CMG.Asia
  • Senior Beauty Editor: Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion

Lê Mai Anh

Your Brand Talks

Tác giả Lê Mai Anh là Thạc sĩ MBA về Truyền thông trong Quản trị Doanh nghiệp & Lãnh đạo năm 2018, Đại học Cumbria – Anh quốc; từng đoạt giải thưởng Diamond – ASEAN PR Excellence Awards năm 2019; hiện là Giám đốc quản lý kinh doanh của Hãng tin Reuters và Giám đốc Quốc gia PR Newswire tại Việt Nam.

Với hơn 15 năm kinh nghiệm trong mảng truyền thông và quan hệ báo chí, tác giả đã từng tư vấn và làm việc với nhiều tập đoàn lớn trong và ngoài nước ở các mảng viễn thông, du lịch, khách sạn, F&B, công nghệ và start-up.

Lê Mai Anh - tác giả Your Brand Talks

Your brand talks mang dáng dấp của một tư liệu giáo trình, khi các kiến thức được tác giả sắp xếp trình tự, logic. Bắt đầu từ định nghĩa, sau đó phân loại, rồi đi đến thực hành với các cách thức hiệu quả để xây dựng thương hiệu cá nhân. Song, điểm khác là chị Lê Mai Anh viết với tâm thế một người đồng hành, chứ không phải người thầy, người cô dẫn dắt bạn đi trên con đường định nghĩa bản thân ấy.

Nói như nhà báo Đào Hồng Hạnh là quyển sách “không có nhiều thuật ngữ chuyên ngành lấp lánh, không dạy đời”, mà ngược lại, như một lời tâm tình, sẻ chia từ chính những gì tác giả đã trải qua, nhẹ nhàng mà tinh tế.

Quyển Your Brand Talks được tác giả hi vọng “phần nào giúp bạn tìm ra các giá trị căn bản nhất của bản thân, biết được những nhân tố có thể xây dựng hình ảnh và thương hiệu cá nhân một cách hiệu quả. Và điều quan trọng cuối cùng là cuốn sách có thể truyền cảm hứng đến bạn ít nhiều bằng những câu chuyện hết sức đời thường nhưng biết đâu bạn có thể thấy mình ở trong đó.”

Lê Mai Anh:

  • Cử nhân chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, trường Đại học Ngoại Thương, năm 2005
  • Thạc sĩ MBA về Truyền thông trong Quản trị Doanh nghiệp và Lãnh đạo năm 2018, Đại học Cumbria – Anh quốc
  • Giải thưởng Diamond – ASEAN PR Excellence Awards năm 2019 tại Kuching, Malaysia
  • Giám đốc quản lý kinh doanh của Hãng tin Reuters tại Việt Nam, phụ trách các thị trường: Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar và Philippines
  • Giám đốc Quốc gia PR Newswire tại Việt Nam
  • Hiện là đồng chủ tịch của Hiệp hội VNPR (mạng lưới những người làm nghề Quan hệ công chúng tại Việt Nam)
  • Giảng viên trường Đại học Nguyễn Tất Thành
  • Với hơn 15 năm kinh nghiệm trong mảng truyền thông và quan hệ báo chí, tác giả đã từng tư vấn và làm việc với nhiều tập đoàn lớn trong và ngoài nước ở các mảng viễn thông, du lịch, khách sạn, F&B, công nghệ và start-up

Hồ Đắc Thiếu Anh

Mứt Việt, Món cuốn xanh, Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội

Nghệ nhân Hồ Đắc Thiếu Anh có lẽ không là gương mặt quá xa lạ với bạn đọc Việt Nam. Cô được biết đến với nhiều tựa sách ẩm thực hay, đẹp mắt, và quan trọng nhất, thấm đẫm truyền thống, văn hóa quê hương.

"Nhà thơ ẩm thực" là cách bạn đọc vẫn hay gọi cô Thiếu Anh. Xuất phát là một nhà thơ, cô trở thành một nghệ nhân ẩm thực tài hoa bởi tình yêu to lớn đối với ẩm thực quê hương, kèm theo đó là tâm tư muốn lưu giữ, truyền bá trọn vẹn tinh hoa của ẩm thực dân tộc qua từng trang sách.

"Tốt nghiệp đại học kinh tế nhưng lại chọn thơ văn để lập nghiệp. Từng câu chữ trau chuốt là cách tôi yêu quê hương và tôn trọng độc giả. Rồi tôi lại đem thơ văn vào trong ẩm thực, dạy nấu ăn bằng cách kể về câu chuyện riêng của từng món. Ngay từ khi tôi còn trẻ, nhiều người đã gọi cách tôi theo đuổi đam mê là dấn thân bất chấp, còn tôi lại gọi là sống trọn”, nghệ nhân tâm sự trong cuộc phỏng vấn với báo Thanh Niên.

Hậu trường chụp ảnh quyển sách Món cuốn xanh.
Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội

Cuốn sách mới nhất được giới thiệu, Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội là công trình tâm huyết của cô Hồ Đắc Thiếu Anh, một người nặng lòng với ẩm thực cung đình Huế, tuyển lựa những công thức nấu nướng truyền thống nhất của dân tộc. Cuốn sách phù hợp để trưng bày trên bàn trà ngày Tết, là một kho tàng chuyện hay để người nhà kể cho nhau nghe dịp xuân về.

"Hy vọng Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội không những giúp lan tỏa được phần nào nét đẹp truyền thống trong đời sống hiện đại để con cháu sau này biết đến các món bánh của ông bà ngày xưa; mà còn góp phần quảng bá nét văn hóa tinh túy của bánh Việt với bạn bè quốc tế", tác giả chia sẻ.

Món cuốn xanh

Nghệ nhân Hồ Đắc Thiếu Anh

  • Quê quán: Thừa Thiên Huế
  • Hội viên chuyên ngành Văn hóa Ẩm thực Liên hiệp các Hiệp hội UNESCO VIệt Nam
  • Thành viên Ban cố vấn Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam

Nguyễn Hồ Tiếu Anh

  • Giám đốc Công ty Ẩm thực Ngon và Lành
  • Hội viên chuyên ngành Văn hóa Ẩm thực Liên hiệp các Hiệp hội UNESCO Việt Nam
  • Hội viên Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam

Lăng Vi

Nồi niêu xoong chảo

Tác giả Lăng Vi từng là biên tập viên tạp chí văn hóa Nhật Bản – Kilala, là người khởi tạo và xây dựng trang Fanpage Vợ Chồng Son với hơn 9.000 người yêu thích và theo dõi. Chính mẹ của chị là người đã truyền cảm hứng và nuôi dưỡng niềm yêu thích nấu nướng để chị thực hiện nên tập sách đặc biệt Nồi niêu xoong chảo. Đây cũng là lần đầu tiên một cuốn sách kỹ năng ẩm thực trẻ trung và bắt mắt ra đời do chính tác giả viết nội dung và vẽ minh họa.

"Mong rằng cuốn sách này sẽ có thể truyền cảm hứng nấu nướng cho bạn, thôi thúc bạn mơ mộng về một căn bếp riêng, nơi bạn có thể hoàn toàn được là chính mình, và tận hưởng việc nấu nướng như một niềm vui trong cuộc sống", tác giả chia sẻ về Nồi niêu xoong chảo.

Tác giả Lăng Vi

Nồi niêu xoong chảo ra đời để làm một người bạn đồng hành trong những bước đi đầu tiên với những ai mới tập tành nấu nướng. Quyển sách không chỉ tổng hợp các kiến thức cơ bản cần thiết mà còn chia sẻ những hướng dẫn rất cụ thể từ việc chọn mua dụng cụ, nguyên liệu thực phẩm, cách bày trí gian bếp, kỹ thuật trong thao tác nấu hoặc trang trí món ăn, kinh nghiệm xây dựng thực đơn và bảo quản thành phẩm...

Thông qua nó, bạn có thể hình dung một cách tổng quát về chuyện bếp núc để tự tin thử sức và khám phá.

Nồi niêu xoong chảo

Lăng Vi:

  • Sinh năm 1990
  • Cung Xử Nữ
  • Nhóm máu B
  • Thích ăn, nấu ăn, vẽ, nghe nhạc, bày bừa, sách, những gì xinh đẹp, dễ thương…
  • Trước đây làm biên tập viên tạp chí văn hóa Nhật Bản, hiện đang làm freelance tại Sài Gòn

Giang Vũ

30 món mứt ngon của người Việt

Là nhà báo chuyên viết về mảng ẩm thực và du lịch, tác giả Giang Vũ viết và chụp ảnh các món ăn ngon, di sản ẩm thực, và điểm du lịch trên khắp các miền đất nước. Chị đặc biệt tâm huyết với mảng sách “cook book” nên đã đầu tư nhiều thời gian để làm sách nhằm lưu giữ công thức các món ăn truyền thống, đồng thời tôn vinh vẻ đẹp của ẩm thực Việt.

Trong cuốn sách 30 món mứt ngon của người Việt, chị vừa là người soạn công thức, vừa là người trình bày và chụp ảnh từng món mứt, giúp bạn đọc có thể làm theo một cách dễ dàng. Đồng thời cho thấy tâm huyết to lớn của chị trong mỗi ấn phẩm được tạo ra, sao cho chỉn chu và truyền tải tốt nhất.

Tác giả Giang Vũ
30 món mứt ngon của người Việt (bìa cứng)

"Đã đến lúc, tôi cần phải ghi lại kiến thức đồ sộ của ẩm thực Việt, giữ gìn nó như một di sản phi vật thể cho muôn đời sau. Và tôi đã chọn cách ghi lại gia tài đó bằng một cuốn sách nấu ăn, bắt đầu con đường khám phá cách nấu món Việt dài lâu của mình trước tiên bằng 30 món mứt Việt. Có những món mứt ra đời ở Việt Nam, có những món mứt hình thành trong quá trình giao thoa văn hóa với các nước phương Tây. Mứt Việt rất đẹp, rất công phu và đòi hỏi sự khéo léo – thế mạnh của con người Việt Nam.

Những món mứt trong cuốn sách này được làm bằng tình yêu từ trái tim tôi đối với ẩm thực Việt. Hãy làm theo từng bước như đã hướng dẫn, chắc chắn bạn cũng sẽ vô cùng thích thú khi tạo ra các món mứt vừa ngon, vừa đẹp, vừa lành. Tôi hy vọng, dựa trên cuốn sách cơ bản này, bạn sẽ sáng tạo ra nhiều món mứt tuyệt vời và đẹp mắt hơn thế nữa”, tác giả Giang Vũ chia sẻ.

*

Nhân dịp Tháng 3 Phụ Nữ, Bookish.vn gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến những người viết nữ của Phương Nam, cũng như toàn thể phái đẹp của thế giới. Phụ nữ đẹp nhất khi là chính mình, và biết thương chính mình!

Hết.

Sách Phương Nam phải đọc nhân tháng Phụ Nữ

Đọc bài viết

Cafe sáng