Chuyện người cầm bút

Mắc kẹt ở Giữa: Chênh vênh giữa hai bờ giới tính

Một cuộc phỏng vấn với Jeffrey Eugenides, tác giả của tác phẩm “Lưỡng Giới”

Published

on

Tuần qua ngay trên tạp chí này, Jeffrey Eugenides công bố The Obscure Object (Đối tượng mơ hồ), một chương ngắn trích từ tiểu thuyết sắp ra mắt Lưỡng giới, trong đó bàn về một người lưỡng tính trẻ tuổi. Tại đây, Eugenides chuyện trò với Bill Buford, biên tập viên mảng văn chương và hư cấu của tờ The New Yorker, rồi cùng thảo luận về cuốn tiểu thuyết, công việc trước đó và cả cuộc sống gần đây của ông với tư cách người Mỹ xa xứ định cư tại Đức.

Bill Buford (BB): Điều gì làm ông hứng thú với một nhân vật lưỡng tính dự phần vào cả hai giới?

Jeffrey Eugenides (JE): Sự quan tâm của tôi bén rễ từ ít nhất mười lăm năm trước, khi tôi đọc cuốn Memoirs of a 19th Century French Hermaphrodite (tạm dịch Hồi ức của một người lưỡng tính Pháp thế kỷ 19) của Michel Foucault. Foucault tìm thấy những hồi ký ấy trong thư khố của Ủy ban Vệ sinh Công cộng Pháp. Tôi nghĩ đọc về họ sẽ rất tuyệt vời. Herculine Barbin, người lưỡng tính tôi đang đề cập là một sinh viên trường dòng. Cô ấy cao, gầy, ngực lép và học hành tài giỏi. Cô đã phải lòng người bạn thân nhất của mình và họ bắt đầu mối tình bí mật.  Đó là phần sự thật trong trường hợp này, và tôi say sưa đọc cuốn hồi ký vì chúng chứa nhiều yếu tố khuấy động óc tưởng tượng của tôi: một sự lột xác cá nhân đáng kinh ngạc, một niềm ham mê nhà kính và một bí ẩn y khoa. Chỉ duy nhất một vấn đề: Herculine Barbin không thể viết. Lời văn của cô cứng như gỗ, dấu chấm than kết thúc cứ mỗi hai câu. Cô được trời phú cho cái lối cường điệu như kịch mê-lô và tệ hơn, cô thường nhảy cóc qua những phần quan trọng. Lưỡng giới khởi đầu giống như sự thôi thúc trám đầy những lỗ hổng đó, để kể câu chuyện mà Herculine Barbin đã không kể được. Ngay từ đầu tôi biết rằng tôi muốn viết về một người lưỡng tính thực sự, hãy còn đang sống. Các nhân vật lưỡng tính trong văn chương hoặc là những hình tượng thần thoại như Tiresias1, hoặc là những sáng tạo huyền ảo như Orlando2 của Virginia Woolf. Tôi thì lại muốn những sự thật sinh học xác đáng.

BB: Tại sao câu hỏi về giới tính lại hấp dẫn ông đến vậy?

JE: Đâu chỉ riêng tôi. Nó hấp dẫn rất nhiều người. Một thời gian dài nó khiến loài người quan tâm, đó là lý do tại sao lưỡng tính xuất hiện trong nhiều sử thi kinh điển và truyền thuyết sáng thế. Plato tuyên bố con người nguyên thủy vốn lưỡng tính. Hai nửa này bị phân tách và bây giờ buộc phải không ngừng tìm kiếm nửa kia, rõ ràng vì thế mà rất khó đặt chỗ ăn tối trong ngày Valentine.

Tôi lớn lên vào những năm bảy mươi trung tính3, tại thời điểm vai trò giới tính bị chối bỏ. Mọi người đều bị thuyết phục rằng tính cách, và đặc biệt là hành vi đặc thù giới tính được quyết định bởi cách nuôi dạy. Giờ thì đảo ngược hết cả. Sinh học và di truyền được cho là các yếu tố quyết định thực sự của hành vi. Do đó chúng ta có những giải thích tiến hóa hợp thời theo lối hiện tại của ta: Đàn ông không thể giao tiếp vì hai mươi ngàn năm trước họ phải giữ im lặng trong cuộc săn bắn; phụ nữ dùng lời nói vì họ phải gọi nhau lúc hái lượm các loại hạt và quả mọng. Điều này cũng ngớ ngẩn y hệt những lời giải thích “nuôi dạy”4 trước kia.

Câu hỏi về giới tính, hay sự hình thành bản chất giới tính, đưa đến một vấn đề triết học rộng lớn hơn. Chúng ta có tự do? Hay tất tần tật mọi thứ về tính cách của ta, và theo Heracleitus là cả số phận chúng ta đều đã được định đoạt? Cuộc đời người dẫn chuyện của tôi diễn ra màn tranh luận ấy.

BB: Cuốn tiểu thuyết của ông cũng là về một gia đình di cư sang Mỹ. Ở mức độ nào đó, phải chăng đây chính là câu chuyện gia đình ông?

JE: Tôi chưa bao giờ chủ tâm phô ra trang viết một câu chuyện gia đình. Như đã nói, lúc đầu tôi chỉ muốn viết hồi ký hư cấu về một người lưỡng tính như Tiresias. Nhưng điều này dẫn tôi đến những người lưỡng tính khác trong văn học. Thuyết lưỡng tính đưa đến chủ nghĩa cổ điển. Chủ nghĩa cổ điển dẫn về văn hóa Hy Lạp cổ. Văn hóa Hy Lạp cổ lại chỉ đường đến chú Pete của tôi. Ý tôi là thế này: Khi tiến hành khảo cứu cho cuốn sách, tôi bắt gặp một tình trạng lưỡng tính được gọi là hội chứng thiếu hụt 5-alpha-reductase. Tính trạng này thường xuất hiện ở những bé gái ngay khi ra đời, rồi sau đó gây nam hóa vào tuổi dậy thì. Đó là một chuỗi biến đổi rất ly kỳ. Hội chứng nói trên do đột biến gen lặn tạo nên, thường xảy ra ở những cộng đồng kết hôn cận huyết. Khi phát hiện ra điều đó, suy nghĩ của tôi về cuốn sách đã thay đổi. Để kể chuyện đời nhân vật lưỡng tính mà tôi tạo ra, tôi sẽ phải thuật lại quá trình kế thừa đặc điểm di truyền của cô ấy – và điều này thì do gia đình mang lại. Nửa đầu sẽ là câu chuyện về sự truyền tải cái gen này (hay nói cách khác là chuyện về ông bà cha mẹ), và nửa sau sẽ là cuốn hồi ký hư cấu của Cal (tục danh của Calliope) Stephanides. Sau đó tôi biết rằng, như cha tôi từng nói, cuốn sách trở thành một ổ bánh mì kẹp thịt thực sự, một thiên sử thi người Mỹ gốc Hy Lạp của riêng tôi. Thế nhưng anh đúng rồi. Anh mong chờ điều gì với một cái tên như Eugenides chứ?

BB: Nào hãy dành một phút nói về vấn đề giới tính. Chắc chắn rất nhiều nhà văn quan tâm đến nó, nhưng dường như với ông nó là mối quan tâm đặc biệt – lằn ranh giới tính5, nơi một giới tính bị lu mờ bởi nửa còn lại, rồi thì khoảnh khắc khi nhận ra những hiểu biết ta có được về các chàng trai và cô gái lộn tùng phèo hết cả. Tôi đang nghĩ đến khởi đầu của một vài truyện mới đây ông đã cho công bố ngay trên tờ báo này.

JE: Thiên kiến văn chương nảy sinh tự nhiên đến mức nó gần giống như là một phần bản tính của nhà văn. Nó đã sẵn ở đó trước cả khi anh kịp nhận ra mình sở hữu những phẩm chất ấy. Tôi làm việc cùng Lưỡng giới trong nhiều năm và một phần những gì tôi công bố trên tờ The New Yorker trực tiếp dính tới bản dạng giới6. Tại sao chất liệu này lại làm tôi thích thú, tại sao tôi muốn khám phá nó dưới dạng thuật ngữ kể chuyện – chà, tôi có thể thử trả lời điều đó bằng các thông tin tiểu sử, hay xã hội, lịch sử. Tôi không chắc liệu như vậy có làm rõ được điều gì không, nhưng tôi khá chắc nó sẽ cô đọng hơn nhiều. Trực giác thì tôi thích ý tưởng một người lưỡng tính kể lại cuốn sách bởi vì bản chất của tiểu thuyết gia vốn là lưỡng tính. Anh được giả định xâm nhập vào đầu cả hai giới tính và thăm thú qua lại dễ dàng. Chuyển động giữa các giới kiểu như vậy cũng vận hành trong The Virgin Suicides (tạm dịch Trinh nữ tự sát). Độc giả nam có xu hướng đồng cảm với nhóm người dẫn chuyện thanh thiếu niên. Độc giả nữ, họ nói với tôi, thường đồng cảm với những cô gái Lisbon bị cô lập, kết tội. Tôi khá chắc có những độc giả khác cảm thấy nhận định của mình đến từ cả hai giới. Điều tôi đang nói ở đây là: hành động đọc cuốn tiểu thuyết đã đưa độc giả vào tình trạng lẫn lộn giới tính. Anh chuyển động qua lại từ vương quốc đàn ông sang lãnh địa phụ nữ. Đây chẳng phải điều tôi ý thức được tại thời điểm tôi viết The Virgin Suicides. Bây giờ, chỉ trong ánh sáng của Lưỡng giới tôi mới thấy được nó.

BB: Vấn đề ngoại ô cũng làm ông bận tâm, và một lần nữa liên quan đến việc viết tiểu thuyết của ông. Tại sao vùng ngoại ô lại như chủ đề lớn vậy?

JE: Tôi không biết số liệu thực tế, nhưng tôi ngờ rằng ít nhất bảy mươi phần trăm dân số nước Mỹ sống ở vùng ngoại ô. Với thống kê như vậy, đó là điều tự nhiên khi người ta viết về chúng. Các nhà văn luôn viết về nơi họ lớn lên, và tôi lớn lên ở Grosse Pointe. Anh bắn tôi đi còn hơn. Nabokov đã đi săn bướm ở Crimea hay sao? Tôi thì từng dong buồm Flying Scots trên sông Detroit. Cũng chẳng có gì mới mẻ, Updike và Cheever đã đặt câu chuyện tại vùng ngoại ô từ lâu trước tôi. The Virgin Suicides gần như hoàn toàn diễn ra ở ngoại ô. Nhưng Lưỡng giới bao phủ nhiều vùng đất hơn là chỉ Grosse Pointe. Một phần đặt tại Tiểu Á, và dĩ nhiên thêm cả Berlin cùng San Francisco. Về vấn đề này, cuốn sách theo tôi hướng đến thành phố Detroit hơn là vùng ngoại vi Grosse Pointe. Henry Ford, những nhà sáng lập Quốc gia Hồi giáo ở Detroit năm 1931, những cuộc bạo loạn sắc tộc năm 1967 – tất cả đều là biểu tượng nổi bật. Vì vậy, tôi muốn nói Lưỡng giới là cả đô thị lẫn vùng ngoại ô, là cả châu Âu cũng như nước Mỹ.

BB: Nếu Cal được sinh ra ở châu Âu thay vì ngoại ô nước Mỹ, liệu cuộc sống của cô có khác đi?

JE: Tôi thường nghĩ theo khuynh hướng rằng sự ngẫu nhiên trong tính trạng di truyền của Cal sẽ áp đảo bất kỳ sợi dây liên kết nào khác. Nhưng rõ ràng nước Mỹ luôn là vùng đất tự đổi thay. Chỉ lý do đó thôi thì câu chuyện đời Cal đi theo tiếng gọi quốc gia rồi.

BB: Ông đã sống ở Berlin được đôi ba năm. Và ông từng là người nước ngoài làm việc tại Mỹ trong lúc đang viết về đất nước này. Quan điểm của ông về Hợp Chúng Quốc đã thay đổi hay chưa ngay khi ông đang ngồi đây?

JE: Có chứ và nên như thế. Tôi từng nghĩ George W.7 được coi như là nhà quý tộc. Nếu vậy, sự tiêu dùng kín đáo8 nổi tiếng lấy đâu ra? Tại Grosse Pointe, những người càng giàu đi xe hơi càng xoàng. Cảm giác của tôi là Hoa Kỳ, với tư cách siêu cường duy nhất trên thế giới, nên hành động theo lối gây ra ít đố kỵ nhất, ít chú ý nhất; nên bớt kiêu căng và tinh tế hơn. Chúng ta nên là Rome nhưng trông cứ như Canada.

BB: Vì vậy, quan điểm của ông ngày càng tiêu cực hơn?

JE: Tôi không trở thành người bài Mỹ. Trên thực tế, có vài tờ báo châu Âu, đặc biệt ở Anh, khiến tôi sôi máu. Tuần này một nhà văn còn tuyên bố nhà nước khủng bố lớn nhất thế giới, anh đoán xem, là nước Mỹ. Sống ở đây còn chẳng khiến tôi đi xa đến thế. Nhưng khoảng cách đã cho tôi một góc nhìn mới về tổ quốc tôi. Từ bên kia đại dương một số chuyện trông khá kinh khủng. Hàng trăm nghi can bị bắt tại Hoa Kỳ do nghi ngờ liên quan tới khủng bố, bị giam giữ mà không buộc tội, và với danh tính bị che giấu – nhìn điều này xem, nó rất là tệ. Nó đi ngược lại dấu ấn công lý đặc trưng của hệ thống Mỹ. Thất bại trong phê chuẩn Nghị định thư Kyoto, sự lãng phí cùng cực của Hoa Kỳ, có vẻ như chẳng ai ở đó nghe nói tới cái đèn hẹn giờ – những chuyện ấy trông rất tệ nhìn từ phía bên này. Cũng hệt như đàn ông trưởng thành mặc quần sọt đội mũ bóng chày vậy.

Đồng thời, tôi mất hẳn cảm giác tự ti văn hóa trong mối liên hệ với Âu châu. Ở đây họ không thực sự sản xuất những bộ phim tốt hơn hoặc viết những cuốn sách hay hơn. Nhìn chung, tôi có nhiều cuộc luận đàm thông minh với người Berlin hơn là người New York. Nơi đây có thời gian để nghĩ suy, có lẽ là do mọi người luôn trong kỳ nghỉ. Nơi đây thật dễ chịu, thật nhân văn, chỉ là khoảnh khắc văn hóa châu Âu đã trôi xa rồi. Tôi có linh cảm rằng nước Mỹ cũng thế, hoặc gần như thế. Tuy nhiên chúng ta không có gì phải hổ thẹn. Biểu hiện văn hóa của chúng ta trong thế kỷ qua rất đáng kinh ngạc.

Nước Mỹ có vẻ năng suất hơn châu Âu. Năng suất hơn cả nước Đức. Người Đức không được việc như số đông thường tin tưởng. Chúng tôi mua năm chiếc đồng hồ Đức trong vòng ba năm và tiêu tùng cả rồi. Anh nghĩ tại sao từ “tiêu” lại luẩn qua luẩn quẩn nhiều đến vậy? Còn nữa, người châu Âu muốn sửa gáy Hoa Kỳ vì các vấn đề chủng tộc, song toàn bộ châu Âu vẫn còn sa lầy trong các tàn tích của định kiến chủng tộc đến độ người Mỹ hẳn sẽ thấy sửng sốt. Họ chế giễu chúng ta là bọn đúng đắn chính trị9 nhưng tại nơi đây họ có thể dùng một chút đúng đắn chính trị ấy. Nó sẽ chẳng làm đau ai.

Hết.

3V dịch.

Bài viết được thực hiện bởi Bill Buford, đăng trên bản in tạp chí The New Yorker số ra ngày 29.07.2002.

Chú thích:

  1. Tiresias là nữ tiên tri mù con thần Apollo, được cho là người lưỡng tính vừa có ngực vừa có dương vật, khi là đàn ông khi khác lại là phụ nữ.
  2. Orlando là nhân vật lưỡng tính hư cấu trong tác phẩm cùng tên của Virginia Woolf. Vốn là một người đàn ông, tỉnh dậy sau giấc ngủ dài Orlando biến thành phụ nữ và có thú vui cải trang thành đàn ông.
  3. Nguyên văn là “unisex”. Unisex hay phong cách trung tính chỉ những đồ dùng hoặc cách ăn mặc thích hợp cho cả nam và nữ. Từ unisex được dùng lần đầu tiên năm 1968 trên tạp chí Life của Mỹ.
  4. “Nature versus nurture” là cuộc tranh luận học thuật về bản chất và nuôi dưỡng, liên quan đến việc liệu hành vi của con người được quyết định bởi môi trường sống và giáo dục hay là được định đoạt từ trước khi sinh thông qua gen của chính họ. Ở đây Jeffrey Eugenides có ý châm biếm cả hai.
  5. Từ nguyên là “gender boundaries”.
  6. Từ nguyên là “gender identity”, còn gọi là bản dạng giới hay nhân dạng giới tính, là giới tính tự xác định của một người. Bản dạng giới không nhất thiết dựa trên giới tính sinh học hoặc giới tính được người khác cảm nhận và cũng không phải là thiên hướng tình dục.
  7. Ý nói George Walker Bush, tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ.
  8. Từ nguyên là “inconspicuous consumption”, là thuật ngữ được đề cập trong cuốn sách The Sum of Small Things: A Theory of an Aspirational Class (tạm dịch Tổng quan những điều nhỏ nhặt: Một lý thuyết về Giai cấp Khát Khao) của tác giả Elizabeth Currid-Halkett, theo đó người ta có xu hướng ít đầu tư vào những món hàng vật chất hơn, mà thay vào đó thiên về những thói quen và lựa chọn phong cách sống như một hình thức mới để khẳng định địa vị của mình.
  9. Từ nguyên là “P.C.” viết tắt của “political correctness” được sử dụng để mô tả ngôn ngữ, chính sách, hoặc các biện pháp nhằm tránh các hành vi gây bất lợi cho các thành viên của các nhóm cụ thể trong xã hội.

Đọc tất cả những bài viết của 3V.


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Nhật Chiêu: Truyện tuyệt ngắn không dễ viết

Published

on

By

Lời tiên tri của giọt sương (xuất bản năm 2011) do nhà văn Nhật Chiêu chấp bút là tập truyện tuyệt ngắn và truyện một câu đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam. Qua đó, Nhật Chiêu cũng là một trong những nhà văn tiên phong cho thể loại này ở Việt Nam. Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn về truyện tuyệt ngắn.

Tại sao ông lại viết truyện tuyệt ngắn?

Có người gọi truyện tuyệt ngắn và truyện một câu là Hint fiction, tức là truyện có số lượng trên dưới khoảng 25 từ, là loại truyện khơi gợi một cái gì lớn hơn và phức tạp hơn với số lượng chữ ít ỏi nhất. Trong văn chương, tôi thích những gì khơi gợi hơn là những gì thuyết lí, phô bày lộ liễu. Sự khơi gợi sẽ đưa ta đến chân trời khoáng đạt, còn sự phô bày lộ liễu chỉ là hủy diệt mà thôi.

Có nhiều ý kiến cho rằng khi chuyển sang viết truyện tuyệt ngắn là ông đang chọn hướng đi dễ dãi với mình hơn, ông viết truyện tuyệt ngắn vì ông không thể viết những truyện dài. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Truyện một câu không hề dễ như người ta tưởng tượng. Bởi vì ngay cả trên thế giới, dù thể loại này đã tồn tại trước Việt Nam thì số lượng tác giả thành công cũng như tác phẩm thành công là rất hiếm. Nếu hỏi truyện một câu trên thế giới mà được nhớ đến và thường được trích dẫn thì chỉ có một, hai trường hợp. Trong đó, có Augusto Monterroso - tác giả Guatemala với truyện một câu: Khủng long gồm 8 chữ chữ như sau: “Thức dậy, con khủng long vẫn còn đó.” Truyện này được nhiều nhà văn lớn, trong đó có Italo Calvino ca ngợi hết lời, là đề tài cho nhiều tiểu luận khác nhau. Nếu truyện một câu là dễ dàng thì thử hỏi vì sao ít truyện một câu đạt được thành tựu đến thế. Người ta vẫn nói thơ Haiku dễ làm nhưng thật ra có bao nhiêu bài thơ Haiku được nhớ đến như là tuyệt tác. Tại sao quanh đi quẩn lại cũng chỉ là Basho, Issa, Buson, Shiki? Cho nên hãy cứ tạm xem truyện một câu hoặc hai, ba câu cũng giống như trường hợp thơ Haiku. Dễ hay khó không chắc gì quyết được và cũng chẳng cần tranh luận. Ai cảm thấy nó dễ thì cứ thử viết chơi vài trăm truyện. Thế thôi, bao giờ cũng vậy, dễ nhất là nói. Làm lại là một chuyện khác.

Trong văn học của nhiều nước vẫn luôn luôn tồn tại những nhà văn chỉ viết truyện ngắn. Như vậy, ngắn hay dài không phải là thước đo và thật sự càng ngày càng có xu hướng nhiều nhà văn viết truyện tuyệt ngắn. Tôi có rất nhiều tập truyện tuyệt ngắn của nhiều nhà văn loại này như Augusto Monterroso hoặc như tập truyện Hint fiction do Robert Swartwood tuyển của nhà xuất bản lừng danh Norton, hoặc các tập sách mang tên Flash fiction, Micro fiction…Mỗi ngày tôi đều đọc một vài truyện tuyệt ngắn hoặc truyện một câu của các nhà văn trên thế giới mà tôi đã may mắn sưu tầm được và càng đọc tôi càng thấy khó viết. Đó là ý kiến của tôi.

Là người đi tiên phong ở thể loại truyện tuyệt ngắn, trong quá trình viết, điều gì khiến ông cảm thấy khó khăn nhất?

Do thói quen thường xuyên đọc thơ Haiku và công án Thiền tông, đôi khi chỉ có vài từ hoặc chỉ duy nhất một từ, tôi từng ao ước trong thể loại truyện này cũng có những hình thức tương tự. Nhưng vấn đề là làm sao để cho dài ngắn thế nào thì truyện cũng phải có cái gọi là diễn biến truyện, nghĩa là có tính chất tự sự. Muốn vậy, phải có phương pháp, có cách sử dụng ngôn từ đặc biệt. Nếu không thì mọi sự sẽ thành nhảm và ai cũng làm được dễ dàng. Ví dụ: truyện có chữ Đất sẽ chẳng có nghĩa lí gì nếu như nó không có một tiêu đề thích hợp để gợi lên một vận động của truyện. Tiêu đề ở đây là Sử thi nàng Sita và “toàn văn” của truyện nhờ cái tiêu đề đó mà phát tiết ý nghĩa.

Khó khăn lớn nhất theo tôi vẫn là làm sao để nó đến được với người đọc một cách thuyết phục. Điều này không một tác giả nào có thể nắm chắc. Có những cái thuộc về thói quen, thành kiến, tầm đón đợi, thiếu thông tin… sẽ là những chướng ngại cho việc người đọc bước vào văn bản mà không e dè. Còn trong khi sáng tác, tôi cảm thấy mình quen thuộc với thể truyện tuyệt ngắn như thể có “nhân duyên gắn kết” - theo cách nói của Hoàng Lương, người viết lời bạt cho Lời tiên tri của giọt sương.

Ảnh: Thiên Kim
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Nhà văn Nhật Chiêu: Văn học nước ngoài nên được dạy như văn học Việt Nam

Published

on

By

Những tác phẩm văn học nước ngoài (VHNN) được đưa vào sách giáo khoa như một phần học chính thức bên cạnh văn học Việt Nam (VHVN). Thế nhưng, vì trong đề thi tốt nghiệp, đại học, đa phần tập trung vào VHVN nên việc giảng dạy VHNN trong nhà trường còn nhiều bất cập. Nhiều trường vì chạy đua theo thành tích nên đã không giảng dạy VHNN mà dành giờ học đó để tập trung ôn thi cho VHVN. Trước thực trạng trên, Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn, nhà giáo Nhật Chiêu - người có nhiều công trình nghiên cứu về văn học của các nước trên thế giới.

Thầy nghĩ sao về việc hiện nay nhiều trường không giảng dạy VHNN hoặc dạy rất sơ sài?

Đối với tôi, điều này không có gì là lạ cả. Đó là do các phần kiến thức thuộc về VHNN ít khi được đưa vào đề thi nên mới xảy ra tình trạng như thế. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nếu đã đưa VHNN vào chương trình giảng dạy thì phải làm sao cho đồng nhất việc dạy ở tất cả các trường. Còn nếu có trường dạy, trường không vì chỉ học cho biết thêm thì đừng nên đưa vào chương trình.

Theo quan điểm của thầy thì có nên cho giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN không?

Tôi không bức xúc về chuyện hiện nay VHNN chỉ được dạy như một kiến thức phụ trong môn Văn ở trường nhưng đúng là nếu để giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN thì sẽ tốt hơn rất nhiều. Đây là một việc nên làm. Cũng giống như khi ta học Toán, đó là một sự tổng hợp từ nhiều nền Toán học trên thế giới. Ta đâu có phân biệt, hay nói là đang học “Toán học Việt Nam”. Tương tự như vậy, tôi muốn môn Văn học cũng được nhìn nhận như thế. Càng học được từ nhiều nước khác nhau, ta càng có cái nhìn toàn diện và quan điểm đúng đắn hơn.

Theo thầy, việc học VHNN ngày xưa và bây giờ có gì khác nhau?

Ngày xưa, vào thời tôi thậm chí còn không có môn VHNN. Môn Văn được gọi bằng những cái tên như: “Việt Văn”, “Quốc Văn”, “Văn học Hán-Nôm”, “Văn học Việt-Hán”. Như vậy là ngay cái tên môn học cũng đã xác định rất rõ là chỉ dạy VHVN. Việc đặt tên môn Văn học như chương trình bây giờ là chính xác hơn.

Nếu là vậy thì ngày xưa thầy học VHNN từ những nguồn nào, bắt đầu từ khi nào mà thầy có ý thức nên học VHNN?

Từ bé đến nay, tôi chưa học VHNN một giờ nào theo nghĩa đến trường học. Tôi tự học chủ yếu qua sách báo, những tác phẩm nghiên cứu dịch thuật. Tôi bắt đầu có ý thức về việc này từ năm lớp 6. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ nếu VHNN được dạy một cách đàng hoàng, chính thức trong nhà trường thì vẫn vui hơn. Điều này cũng giống như khi bạn yêu mến một bản nhạc nào đó. Bạn có thể tự nghe nó một mình ở nhà cũng được nhưng cảm giác đến nhà hát nghe nhạc sống vẫn thích hơn phải không nào?

Thầy nghĩ như thế nào khi có người nói rằng việc học VHNN quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của học sinh. Cụ thể là các em sẽ suy nghĩ và viết văn theo cách của người phương Tây, của nước ngoài, không còn là của người Việt Nam nữa?

Đối với bản thân tôi, những chuyện khi tôi viết văn là những chuyện có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào. Và tôi thích văn chương như thế hơn là phải tự bó buộc mình khi viết với suy nghĩ rằng: “Tôi là người Việt Nam. Tôi chỉ viết những chuyện thuộc về Việt Nam.” Chẳng hạn như một trong những truyện cực ngắn mới nhất của tôi có câu như thế này: “Là người cuối cùng được phóng vào vũ trụ, anh nhìn thấy trái đất nổ tan.” Đó là chuyện có thể xảy ra ở bất cứ đâu mà cũng có thể chẳng xảy ra ở đâu cả. Nó chỉ nói về cảm giác của một con người cô đơn, lạc loài nói chung. Tôi muốn nhắn với các bạn như thế này: “Cứ viết những gì mình thích, những gì mình nghĩ.”

Ảnh: Ông Đồ Nghệ
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Cafe sáng