Chuyện người cầm bút

Tác giả trẻ Nguyễn Hoàng Mai: Sự liêu xiêu của tuổi trẻ luôn có nhịp điệu riêng

“Mỗi chương là một làn hương tuy mỏng, nhưng có thể coi như một ấn tượng mạnh, một câu chuyện dẫn dụ chính tác giả và những người khác, cuốn vào một bức tranh tổng thể lớn hơn.”

Published

on

Đung đưa trên những đám mây là tiểu thuyết đầu tay của tác giả trẻ Nguyễn Hoàng Mai do công ty sách Phương Nam Book phát hành. Tác phẩm nói về sự cô đơn, lạc lõng của tuổi trẻ này cho thấy một nội lực văn chương của Hoàng Mai: cô nghiêm túc, chịu khó đầu tư cho nhân vật, tác phẩm với nhiều qui chiếu văn hóa đa dạng từ văn chương đến điện ảnh, âm nhạc. Hiện tại, Hoàng Mai đang du học ở Nhật chuyên ngành về văn học. Tôi đã có cuộc trò chuyện với Hoàng Mai xoay quanh tác phẩm Đung đưa trên những đám mây và những quan niệm của cô về văn chương.  

Bạn bắt đầu có ý tưởng viết Đung đưa trên những đám mây từ đâu? Động lực nào thôi thúc bạn hoàn thành tác phẩm này?

Cách đây bảy, tám năm hình như tôi đã muốn viết một “cái gì đó” làm quà tặng bản thân mình vào lần sinh nhật hai mươi tuổi. Có lẽ vì đối với mỗi người, tuổi hai mươi luôn là cột mốc quan trọng, đánh dấu sự trưởng thành. Xa hơn nữa, năm 16 tuổi tôi đã cố gắng viết một cuốn tiểu thuyết. Ngày ấy tuy học chuyên Văn nhiều năm, nhưng cơ hồ không có kinh nghiệm viết lách gì, chỉ có lòng khao khát và niềm tin ắp đầy nhưng rốt cuộc, tôi đã ngừng lại để dành cho việc học với cường độ cao vào những năm lớp 11, 12 để bước vào cánh cửa Đại học. Duy nhân vật chính trong câu chuyện viết ra năm 16 tuổi vẫn tồn tại đâu đó trong tập vở học sinh và trong tâm trí. Nhân vật ấy đã một lần nữa bước vào tiểu thuyết lần này, cho tôi động lực để hoàn thành câu chuyện ngày nào.

Đung đưa trên những đám mây là tiểu thuyết đầu tay của bạn, khi lần đầu tiên viết một tác phẩm dài hơi, bạn có gặp phải khó khăn nào không? Nếu có, bạn đã vượt qua bằng cách nào?

Vào thời điểm bắt đầu lên ý tưởng viết, trong tôi như có một nút thắt, phải viết để hiểu, để tháo nó ra bằng mọi cách mới có thể bắt đầu viết những gì tiếp theo.

Ban đầu viết một tác phẩm dài hơi khá khó khăn. Ngày ấy tôi học báo chí phải tiếp xúc với tin tức, dòng thời sự đổi thay hằng ngày có thể cuốn người ta theo những hướng khác nhau. Đã cảm thấy khó khăn để cân bằng giữa thế giới thực tại và thế giới cô đơn giữa những trang viết. Ngày ấy tôi đã gặp một người chị trong trường sau này cũng là một người theo nghiệp viết lách. Tôi và chị đã trao đổi với nhau, rồi đi đến áp dụng phương pháp viết học từ người thầy của chúng tôi, nôm na là cách viết “làn hương”. Mỗi chương là một làn hương tuy mỏng, nhưng có thể coi như một ấn tượng mạnh, một câu chuyện dẫn dụ chính tác giả và những người khác, cuốn vào một bức tranh tổng thể lớn hơn.

Tại sao bạn quyết định đặt tên tác phẩm là Đung đưa trên những đám mây? Phải chăng vì nó thể hiện trạng thái cô đơn, vô định, lạc lõng của những người trẻ trong truyện?

Tôi mất khá nhiều, gần hai năm từ năm 19 đến 21 tuổi không liên tục, cho việc viết sửa lại tiểu thuyết đầu tay vì có cảm giác chưa thật đúng câu chuyện mình muốn truyền tải. Với tôi viết đã là để hiểu chính mình. Nhan đề truyện, tự đã đến trong quá trình khám phá này, dù không cố ý, dường như đã thể hiện một phần chủ đề. Tất cả những người trong câu chuyện này đều như đang sống trên mây, không thực tế chút nào. Mà chẳng phải chúng ta, có lẽ những người trẻ ở thế hệ chúng ta đôi khi ít nhiều cảm thấy vô tình hay hữu ý lạc trong đám mây của mình. Không phải bàng quan, không phải vô cảm, nhưng đôi khi chúng ta không nhìn rõ và đối diện thật sự với người khác. Và người khác ấy phải chăng cũng đang trong những vấn đề, những rắc rối, đám mây riêng của chính họ.

Câu chuyện Đung đưa trên những đám mây, có phần ngẫu hứng loạng choạng giữa hiện thực và mơ, hiện tại và quá khứ. Tuổi trẻ này đôi lúc cũng thế, loạng choạng hoang hoải vấp ngã. Dẫu như thế nào, sự liêu xiêu của tuổi trẻ dường như đã thể hiện những cố gắng, sống như chính mình và sự cố gắng luôn có nhịp điệu riêng của nó, sẽ mang đến một kết quả nào đó. Những khó khăn tổn thương đến trong cuộc đời này không dư thừa đâu, tôi đã nghĩ như thế. Những đám mây lúc nào cũng trôi trên bầu trời trông đơn giản nhưng có thể lý giải cuộc sống tiếp diễn này.

Tiểu thuyết của bạn chia thành hai phần: Mất và Biển. Vì sao sau khi đã “Mất” thì lại kết thúc ở “Biển”, không gian “Biển” đóng vai trò như thế nào trong tác phẩm của bạn? Tại sao bạn lại chọn “Biển” là không gian để kết thúc câu chuyện của mình?

Quê tôi ở Đà Nẵng, có những bãi biển còn rất hoang sơ, với riêng tôi thì rất đẹp. Đến khi đầu cấp ba có chút ít tự do và có thể làm những điều mình muốn, tôi thích đạp xe ra biển, hóa ra biển gần như vậy. Mỗi lần gặp, mỗi đổi thay nhưng lúc nào cũng đẹp đến nao lòng. Biển tồn tại trước sinh mệnh con người từ bao năm, có lẽ đã chứng kiến mọi thứ tình yêu, sự phù du của cuộc đời này.

Mượn lời một người anh đã nhận xét mà tôi cũng đồng quan điểm rằng, phần “Biển” giống như đoạn “reprise” thường xuất hiện ở cuối album nhạc, nhắc lại và phản chiếu những hồi ức đã được khơi ra ở đầu câu chuyện. Phần “Biển” là thêm vào của tôi nhưng đã là một phần của câu chuyện, ở đấy xuất hiện phép màu hóa giải hàn gắn. Biển thành một điều kỳ diệu có thật.  

Mimi – nhân vật nữ diễn viên trong truyện có phải được lấy hình mẫu từ một diễn viên thật ngoài đời bạn yêu mến?

Mimi có lẽ là tổng hợp, chấm phá những tính cách tôi yêu, từ những người có thực mang cả những tính cách thực mà tôi gặp gỡ ngoài đời, thậm chí từ những diễn viên tôi thích. Tôi đã nghĩ về một nhân vật đại diện cho những gì mình yêu nếu xuất hiện trên trang giấy thì tuyệt biết bao, khi xây dựng nhân vật này.

Thế nhưng đến lúc này khi đã đứng ra ngoài câu chuyện, Mimi không đơn thuần là ai cả, cô ấy là nỗi ám ảnh về tình yêu mà mỗi người trong đời ai cũng có, giống như tựa đề phiên bản tiếng Pháp của ca khúc “She” (tác giả Charles Aznavour, Herbert Kretzmer) đã được trích dẫn ở đầu truyện, đó là “Tous Les Visages De L’amour” (Muôn mặt tình yêu).

Trong Đung đưa trên những đám mây, có một đoạn bạn viết như thế này: “Mình chưa biết yêu, tôi nghĩ và thất vọng, tất cả các nhà văn trở nên tài năng là vì họ đều có một nàng Thơ cho riêng mình.” Bây giờ, bạn của tuổi 27 có còn đồng tình với bạn của tuổi 21 về ý kiến này không? Và một câu hỏi hơi riêng tư, bạn có thể chọn chia sẻ hoặc không: bạn đã tìm được nàng Thơ cho riêng mình chưa?

Tầm quan trọng của nàng Thơ với nhà văn như thế nào là một mệnh đề mà tôi không dám lý giải. Ai cũng đã cần một động lực một cái cớ để tiến lên, để tiếp tục. Khi không có sẵn, có lẽ họ phải kiếm tìm, sự tìm kiếm trở thành định mệnh. Nhân vật trong Đung đưa trên những đám mây vì quá cô đơn đã đi ngược định mệnh bằng cách tự tạo ra nàng Thơ của mình, kỳ công hơn, ngây thơ hơn, xây dựng một thế giới có nàng Thơ của mình ở đó. Và tất cả sụp đổ khi nhân vật lớn lên, khi bước vào thế giới “thực”, nhân vật ngây thơ vẫn chờ đợi phép nhiệm màu. Nhưng đường đi phép màu không quy luật, đến chỉ lúc nào nó cần đến.

Đối với câu hỏi, tôi nghĩ tự lúc nào, văn học là nàng Thơ của mình.

Bạn đã xây dựng cho nhân vật Mimi một bảng liệt kê những vai diễn tiêu biểu trong các bộ phim nàng từng tham gia, vậy trên thực tế bạn có hình dung chi tiết nội dung cụ thể của những bộ phim đó không, dù rằng chúng không được miêu tả trong mạch truyện chính?

Tôi đã muốn nhân vật Mimi thực nhất có thể, nên đã hình dung từng bộ phim trong cuộc đời cô ấy đã đóng. Thậm chí đó là một cuộc đời riêng biệt không soi dưới ánh mắt của đứa trẻ, nhân vật “tôi”. Còn tôi vẫn quan niệm rằng, nhân vật có hơi thở riêng, còn sống ở đâu đó bên ngoài tác phẩm. Và như ai đó đã nói, không có những câu chuyện, chỉ có những nhân vật. Những nhân vật mang câu chuyện cuộc đời mình, lồng trong nhau. Tôi đã hình dung về điều ấy, về cuộc đời thực sự của từng nhân vật trong quá trình viết.

Trong những phim Mimi đã tham gia, có một phim tên là Lạc lối mùa xuân năm 2048, tựa phim này gợi nhớ khá nhiều đến phim 2046 của Vương Gia Vệ, phải chăng đó là một gợi ý để độc giả biết rằng bạn thích phim Vương Gia Vệ và đây cũng là cách để bạn tri ân ông trong tác phẩm của mình?

Tôi cũng rất thích những gam màu, tình yêu đậm chất Phương Đông, biểu hiện giàu chất thơ, hiếm khi dùng đến lời nói của những nhân vật trong phim Vương Gia Vệ. Đạo diễn họ Vương có một Hồng Kông những năm 1990, 2000 qua lăng kính, chất liệu của riêng của ông ấy. Thú thật là khi bật ra ý tưởng về tên phim “Lạc lối mùa xuân năm 2048”, tôi cũng thấy nó sao giống vậy. Rốt cuộc chỉ vì khá thích, tôi đã không sửa. Ý tưởng Mimi có thể tham gia bộ phim của một nhân vật nào đó có cách làm phim tương tự đạo diễn họ Vương với tôi là điều gì đó thật thú vị. Linh hồn đồng điệu về nghệ thuật sẽ chạm vào nhau ở nơi nào đó, có thật, dẫu chỉ một khoảnh khắc thôi.

Khi xây dựng nhân vật chính là một nữ diễn viên, bạn có lấy cảm hứng từ phong cách phim của một đạo diễn nào đó bạn yêu thích để xây dựng bối cảnh, không khí cho câu chuyện không?

Không phải là cảm hứng của toàn bộ câu chuyện, nhưng ở đâu đó trong tác phẩm của tôi có thể bắt gặp ảnh hưởng chút chậm rãi điềm tĩnh của phim Koreeda Hirokazu, gam màu trong phim Vương Gia Vệ, sự lãng mạn của phim Woody Allen, vì từng yêu thích tác phẩm của những đạo diễn này với tư cách cá nhân. Tuy nhiên, tôi đã không hoàn toàn chủ đích nghĩ đến việc dựa vào bối cảnh, không khí từ những bộ phim yêu thích để xây dựng câu chuyện.

Trong Đung đưa trên những đám mây, nhân vật chính có “nhật kí xem phim”, “nhật kí đọc sách”; ngoài đời, bạn có tạo cho mình nhật kí hay ghi chép tương tự về việc xem phim, đọc sách không?

Tôi thích đọc sách, xem phim, tuy nhiên một cách ngẫu hứng, vì vậy không như nhân vật, tôi chỉ thỉnh thoảng ghi chép với máy tính những tác phẩm phim truyện thực sự bị ấn tượng. Kể lại thông qua ký ức, thông qua những ấn tượng chính mình, cũng giống như việc viết dường như khiến mọi thứ khắc sâu hơn một chút, và có thể mở ra một điều gì đó.

Là người đã trải qua cả hai hệ thống giáo dục văn chương (Việt Nam và Nhật Bản), bạn có thể chia sẻ những cảm nghĩ của bạn về sự khác biệt trong cách dạy văn ở Nhật so với cách dạy văn ở Việt Nam không? Vì sao bạn quyết tâm du học ngành văn chương ở Nhật?

Thật ra tôi đã không được học về văn học một cách bài bản ở Đại học, dù là học trong khối Khoa học Xã hội chuyên ngành của tôi là Báo chí và Truyền thông. Các môn học về Văn học chỉ chiếm một vài tín chỉ ít ỏi, phần nhiều chúng tôi đã tự học để tích lũy kiến thức cho môn chuyên ngành, nên khó có sự so sánh chi tiết như sinh viên ngành Văn.

Và vì thế, một phần vì muốn học văn học Nhật ở chính cái nôi của nó, tôi đã quyết tâm du học ở Nhật. Ở Nhật Bản sinh viên từ năm 3, 4 sẽ tham gia vào các seminar do giáo sư mà họ chọn hướng dẫn luận văn tốt nghiệp đứng ra hướng dẫn. Các seminar này rất ít thành viên, thường chỉ từ bốn đến trên dưới mười người. Tham dự buổi học này thường có những khách mời như sinh viên cao học, nghiên cứu sinh từ các nước khác. Thành viên trong cùng seminar có những buổi đi ăn tổ chức vào các đầu và cuối các kỳ nghỉ, thường xuyên có những buổi ăn trưa để giao lưu, thậm chí đi du lịch nước ngoài để tăng thêm sự gắn kết. Các giáo sư khá thoải mái, trong giờ học thường có trà và bánh ngọt, nhưng khi đi vào trình bày thảo luận về tác phẩm không khí tranh luận cực nghiêm túc, thậm chí đôi phần căng thẳng. Phần bài vở đánh giá cao ý kiến, lý giải mới mẻ mang dấu ấn cá nhân.

Những năm sắp và vừa mới tốt nghiệp Đại học tôi cảm thấy mình thiếu vốn sống, cũng như muốn tìm hiểu sâu hơn về văn học. Văn hóa, văn học Nhật Bản là giấc mơ và tình yêu của tôi, song song với con đường viết lách, một thế giới đầy bí ẩn cũng như quyến rũ, tôi đã nghĩ muốn được trải qua một phần tuổi trẻ ở đó. Và vì còn trẻ mà, nên nghĩ nếu yêu một điều gì, thì hãy theo đuổi thứ ánh sáng đó vì vậy tôi đã cố gắng chuẩn bị mọi thứ.

Bạn có thể chia sẻ những dự định sắp tới của mình trên con đường văn chương không?

Dự định cụ thể có lẽ là việc xuất bản một tập truyện ngắn gồm những truyện viết rải rác vào năm cuối Đại học và viết ở Nhật. Tôi muốn được đọc thêm sách, tìm hiểu nhiều hơn, học và viết mỗi ngày, rồi bao năm hy vọng sẽ vẫn giữ được sự háo hức, cũng như nhìn thấy vẻ đẹp của văn học mà tôi đã yêu, con đường tôi đang đi.

Hết.

Kodaki

Ảnh: Nhân vật và Phương Nam Book cung cấp.

Một phần bài viết đã được đăng tại Style-Republik.

Chuyện người cầm bút

Trăn trở về nghề dịch: Nỗi lòng mấy ai hiểu?

Published

on

Hôm gửi đi bản dịch cuốn sách, nhắn tin khoe Thầy, Thầy nhắn lại: “Chúc em luôn vui thú với công việc bạc bẽo này”.

“Công việc bạc bẽo này” ấy là dịch sách. Năm cấp hai, khi vốn tiếng Anh chỉ nằm trong phạm vi chia thì hiện tại hay quá khứ, thêm /s/ hay /ed/ vào động từ, mình đã mơ trở thành dịch giả tiếng Anh. Ước ao đó nằm ngay ngắn trên trang giấy học trò bên cạnh những mộng tưởng khác như du hành trong thiên hà và cưới hoàng tử đẹp trai siêu cấp vũ trụ.

Hồi vào Đại học, thấy bạn bè thành phố bắn tiếng Anh rào rào, mình ngẩn tò te. Những lúc tránh nhìn vào trang giấy đặc con chữ lạ, tránh nghe những đoạn trò chuyện không hiểu mô tê, mình nghĩ mình sẽ là dịch giả tiếng Anh duy nhất trên đời không biết tiếng Anh. Và mình, tất nhiên, đã chôn vùi mộng tưởng đó.

Nhưng vì thích đọc sách, đến một lúc mình thấy muốn đọc sách ngoại văn, nhưng làm gì biết chữ mà đọc. Cảm thấy dốt tiếng Anh như thế đủ rồi, mình dẹp hết sách Cambridge, tài liệu luyện IELTS và nghiêm túc đọc bộ Harry Potter 7 tập mà bản tiếng Việt mình gần như thuộc. Những quyển sách tiếng Anh tiếp theo, đọc hiểu chừng 20-30% nhưng hiếm khi nào mình dừng lại để tra từ vựng. Mình đọc kiêu kỳ như một độc giả tiếng Anh tinh hoa (giả vờ).

Bốn năm gần như chỉ đọc sách tiếng Anh cho đến một lúc đột nhiên cảm được phong cách tưng tửng của Joseph Heller trong Catch-22. Bốn năm ám ảnh với tiếng Anh cho đến một hôm trong mơ thấy mình nói tiếng Anh. Bốn năm tập tành dịch dọt cho đến một ngày sếp không còn nhìn bài dịch của mình và bảo: “Em bị điên à?” (Không, mình đùa đó. Cảm ơn những người sếp những ngày đầu đã không đuổi việc vì mình dịch dở quá. Và đến bây giờ vẫn vậy.) 

Bao nhiêu thời gian cho đến hôm nay, thấy mộng tưởng ngông cuồng thuở nào được vật chất hoá trong hình hài một cuốn sách. Cảm giác thật khó tả. Nhưng trớ trêu, mộng tưởng hết ngông cuồng lại hoá thành hiện thực bạc bẽo.

Nghề dịch bạc bẽo vì không biết có ai sống tốt nhờ nó không. Nhuận dịch của nhóm dịch giả giỏi nhất trong nghề này chắc bằng lương của một vị trí thường thường bậc trung trong những ngành “thời thượng” khác. Cô Diệp đùa: “Nghề dịch con làm tay trái thôi, đừng làm hai tay. Trong một bài phỏng vấn, dịch giả Thiên Nga nói cổ sống ổn với nghề dịch, nhưng té ra cổ sống có một mình”.

Nghề dịch bạc bẽo vì người dịch dại dột từ bỏ vị thế quyền lực của người đọc để trở thành mục tiêu bị mổ xẻ, xâu xé. Độc giả - được miễn trừ khỏi quá trình chuyển hoá bản dịch đau đớn của dịch giả - có xu hướng đánh giá bản dịch bằng tâm thế của người đọc tiếng mẹ đẻ. Và có nhận xét từ những “nhà phê bình” mà Clifford E. Landers trong cuốn Literary Translation nói là có thể khiến dịch giả mới vào nghề bẻ bút và quay xe sang ngành khác.

Nghề dịch bạc bẽo vì mỗi lần dịch là mỗi lần bước vào một cuộc vật lộn mà dịch giả biết trước mình sẽ thua. Hành động dịch - dù dịch giả vắt kiệt bản thân đến đâu - cũng sẽ chỉ giống như “nhìn tấm thảm thêu Flemish từ hướng lộn ngược” (lời của Cervantes).

Giống quyển sách này, tiêu đề gốc là Frankly In Love, nhân vật chính là cậu thiếu niên tên Frankly đang yêu, nhưng tình yêu của cậu chồng lớp những lời nói dối. Nên Frankly In Love vừa là câu chuyện Frankly đang yêu nhưng cũng là lời cảnh cáo: Này, thật thà mà yêu! Tiêu đề tiếng Việt chỉ chuyển tải được một nghĩa. Dịch giả - một bàn thua.

Dịch giả mà mệt thật. Bạc bẽo thế vẫn có người “vui thú” làm, nếu không vui thú mắc gì mang nghiệp chướng này vào thân? Có những công việc làm xong thấy nhẹ như vừa trả được món nợ đời, nhưng mỗi lần chấm hết câu cuối trong bản dịch một quyển sách dù hay dù dở, mình đều thấy buồn như chia tay một người bạn.

Thế bao giờ người dịch dịch xong một quyển sách? Dịch giả Nham Hoa bảo là “không bao giờ”. Người dịch có nhu cầu khẩn thiết để chỉnh sửa bản dịch liên tu bất tận - thậm chí khi nó đã xuất bản. Lúc cầm trên tay quyển sách này, mình thấy xấu hổ, vì nhận ra có nhiều chỗ mình đã có thể làm tốt hơn, kĩ hơn. Nhưng thôi để bạn ra đi và hy vọng mình trở thành người đồng hành tốt hơn trong quyển sách kế.

Tính đến lúc này, câu chuyện nghe có vẻ giống một nỗ lực tự thân đạt thành quả (nếu mình kể chuyện không quá tệ). Nhưng chính là mình làm màu, quyển sách là sự hợp thành của vô số mối duyên lành. Khi gửi sách cho người bạn giúp mình nhiều trong quá trình dịch, bạn đùa: “Thế tên tao để đâu?” Có thể chỉ duy nhất tên mình xuất hiện trên bìa sách, nhưng còn nhiều cái tên khác - tên người anh, người chị, người bạn, người thầy, người cô - mình xin được ghi trong lòng, để cảm tạ.

Nguyễn Bích Trâm

Bạn có thể tìm mua sách Thật thà mà yêu đã được xuất bản ở Việt Nam theo đường dẫn dưới đây:

Thật Thà Mà Yêu

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Những ngày lạc trong thế giới ma cà rồng

Chuyện là năm 2015, tôi dịch xong một cuốn sách có tên “Phỏng vấn Ma cà rồng” (Interview with the Vampire).

Published

on

Dưới đây đơn giản là những dòng lảm nhảm về việc tôi đã sống thế nào trong thời gian dịch cuốn sách trên.

Chuyện cũ năm ấy – 2014

Nếu bắt chước lối hành văn kiểu Thôn Thượng Xuân Thụ, có thể tôi sẽ mở đầu thế này:

Theo chỗ tôi được biết, “nỗi” là danh từ được dùng để biểu thị một trạng thái cảm xúc của con người. “Nỗi” tương đương với “feeling” trong Anh ngữ và 感觉 trong Hán ngữ. Rõ ràng, “nỗi” là một từ trung tính ở cả mặt ngữ nghĩa lẫn từ loại, có nghĩa là đứng trước danh tính từ mang sắc thái tiêu cực hay tích cực đều được.

Nhưng không, người ta không dùng “nỗi” như vậy.

“Nỗi” chỉ được dùng trước những từ mang sắc thái tiêu cực. Người ta nói “nỗi buồn”, “nỗi cô đơn”, “nỗi đau”… chứ không nói là “nỗi vui”, “nỗi hạnh phúc”, “nỗi cực khoái”. Đó rõ ràng là một sự bất công, tựa như một con mèo mà suốt đời bị bắt đi lon ton chứ không bao giờ được phép nhảy tót xuống đất từ lầu ba của một tòa nhà.

“Niềm” thì khác. “Niềm” là danh từ chỉ dùng trước danh tính từ mang sắc thái tích cực. Điều này đã được ghi rõ trong từ điển và được đông đảo người Việt Nam công nhận như một lẽ tự nhiên là con chó không thể nhảy từ dưới đất lên cây và đứng trên đó mà sủa được.

Tôi hết sức thông cảm cho “nỗi”. Vì thế, tôi quyết định cho “nỗi” đứng trước một thứ lẽ ra phải là “niềm” vui.

Nỗi cô độc là niềm vui của tôi.

Tôi đã sống với nỗi cô độc như thế nào?

Mấy ngày nay, tôi quyết định chia tách hai phần mình ra để sống với những công việc đang cần hoàn thiện: việc công ty và việc dịch sách.

Vào tối muộn và sớm mai, tôi nghe R&B và khởi sự khám phá một phần của thế giới K-pop. Tôi tìm hiểu kĩ và sâu hơn về anh trai có nghệ danh G-Dragon – thần tượng đỉnh cao của rất nhiều cô cậu thanh thiếu niên thời nay. Tôi mở bài Crooked và nhắm mắt tưởng tượng cảnh anh nắm tay Kiko nhảy múa như hai con khỉ xổng chuồng trên đường phố Seoul.

Kế tiếp, tôi tìm hiểu về Kahi. Kahi là một ca sĩ kiêm vũ công khá nổi tiếng ở Hàn. Năm nay chị đã hơn 30 tuổi, cao, gầy, cung Ma Kết, có má lúm đồng tiền giống Liu Wen. Tôi đặc biệt thích chị trong mv It’s Me

Từ chiều đến tối chưa muộn lắm, tôi nghe Jazz và nhạc cổ điển. Khoảng hơn tuần trước, tôi dành nhiều thời gian nhất cho Frank Sinatra, mặc dù người ta vẫn còn tranh cãi về việc ông có phải ca sĩ hát nhạc Jazz hay không. Bài My Kind Of Town của ông tình cờ lại có đoạn dạo đầu hết sức Ghibli.

“Now this could only happen to a guy like me
And only happen in a town like this
So may I say to each of you most gratefully
As I throw each one of you a kiss

This is my kind of town, Chicago is
My kind of town, Chicago is
My kind of people, too
People who smile at you…”

Từ tuần vừa rồi và cho đến bây giờ, tôi chọn nhạc cổ điển để giải trí buổi chiều. Tôi chưa bao giờ nghe kĩ Bach, Beethoven, Chopin, Mozart, Vivaldi, Debussy, Haydn và Schubert đến như vậy. Nghe đi nghe lại, nghe đi nghe lại, nghe đi nghe lại… Tôi cố gắng thẩm thấu từng nốt nhạc (hoặc ngược lại) và học cách phân biệt từng người. Phải gió, tôi chả có tí kiến thức gì về nhạc lý và nhạc cổ điển thì càng không. Tôi chỉ ngệt mặt ra nghe như một con ngỗng. Đến lúc ấy, tôi mới thực hiểu điều bác Xuân Thụ muốn truyền đạt khi vẽ ra cảnh bạn Hoshino đến quán cà phê nghe nhạc cổ điển. Lần thứ nhất Hoshino đắm chìm trong bản tam tấu Archduke:

“Một số ý nghĩ chợt đến trong đầu hắn – phần lớn là liên quan đến bản thân hắn. Nhưng càng nghĩ về bản thân, hắn càng thấy đời mình có vẻ thiếu thực chất. Hắn bắt đầu cảm thấy mình như một thứ phụ tùng vô nghĩa”.

Lần thứ hai Hoshino nghe một bản Concerto của Haydn:

“Người ta sinh ra là để sống phải không nào? Nhưng càng sống mình càng mất đi cái gì ở bên trong mình, và rốt cuộc mình trở thành trống rỗng. Và mình dám chắc là càng sống, mình sẽ càng trống rỗng hơn, vô giá trị hơn”.

Kiểu như người lâu nay bị điếc tự dưng khỏi hẳn một bên tai phải không bác Xuân Thụ?

Trong lúc nghe nhạc cổ điển, tôi xoay vần với những con chữ nói về New Orleans và ma cà rồng. New Orleans, giả như bị bệnh gì đó sắp chết đến nơi, tôi nhất định phải cho Go to New Orleans vào To Do List Before Become Nothing của mình.

Sau một vài ngày nghe và đọc sâu, tôi nhận ra nhạc của Beethoven là phù hợp nhất với những câu chuyện ma quái về ma cà rồng và một thành phố của những linh hồn. Trong khi đó, nhạc Mozart có vẻ hợp với việc phân tích số liệu và Schubert thì hẳn là dành cho việc viết nhảm nhí (khi trời đang mưa).

Trong phim The Shining, sau một thời gian giam mình tìm ý tưởng sáng tác thì tác giả vẫn không thu hoạch được gì ngoài bệnh khùng.

Ngoài ra, tôi uống cà phê và trà xanh. Tất nhiên là tôi có ăn cơm, nhưng việc này mờ nhạt đến nỗi tôi không chắc là có tưởng tượng ra hay không nữa. Tôi phải ăn cơm, vì nếu không có cơm thì cà phê sẽ bào mòn dạ dày và trà xanh sẽ đục thêm vài lỗ thủng nữa. Hiện giờ dạ dày tôi vẫn chưa đau, có vẻ vẫn chưa thủng nên chắc việc ăn cơm là có thật.

“Uống trà ư? Đúng là một người phụ nữ nhạt nhẽo!”

Hôm qua và hôm nay có mấy cô gái nhắn tin, gọi điện cho tôi để hỏi việc khóa Facebook hơi lâu (so với trước kia). Tôi chẳng biết nói gì hơn từ “bận”. Nhưng không hẳn, đó là một sự giải thoát. Đó chắc chắn là một sự giải thoát đối với tôi.

Hiện tại năm ấy – 2017

Thật ra để nói cho công bằng, trong những ngày cuối sống cùng ma cà rồng, dòng nhạc symphonic metal mà đặc biệt là các ca khúc của Within Temptation mới thực sự nâng tôi sống dậy mà làm cho xong việc. Còn ở khoảng giữa của công chuyện đó thì là Enya. Tôi vẫn nhớ cảm giác khi nghe bài Marble Halls của bà và đọc những dòng chữ viết về vùng núi hoang lạnh ở Đông Âu – nơi được cho là cội nguồn của ma cà rồng. Cảm giác ấy rất kỳ lạ, giống như tôi vừa mở được hai cánh cửa vốn dĩ chẳng liên quan gì tới nhau nhưng lại thông tới cùng một thế giới. Trước đó nữa, ở phần đầu câu truyện thì tôi mới gắn bó nhiều với Jazz. Có lẽ vì bối cảnh lúc ấy vẫn còn ở New Orleans.

Khá nhiều mùa của American Horror Story được quay tại New Orleans. Và tương tự vậy là tả pín lù các thể loại phim ma cà rồng và người sói nổi tiếng khác.

Khi ma cà rồng của tôi đến Paris là lúc tôi chuyển sang nghe Chopin và Beethoven nhiều hơn hết thảy. Chưa bao giờ tôi thấy rõ được sức tác động của âm nhạc lên khả năng đọc hiểu và cảm nhận ngôn từ đến thế. Có lẽ đó là một phần lý do khiến người ta say mê và thậm chí sẵn sàng đánh đổi một đời cho âm nhạc. Mỗi giai điệu, mỗi chất nhạc, mỗi ca từ… sẽ dẫn ta đến một nơi chốn, thời đại và tư tưởng khác nhau. Âm nhạc có thể vực ta dậy từ đáy sâu vực thẳm hoặc nhận ta xuống bùn sâu từ thiên đường.

Bởi vì nhận thức này và nhiều nhận thức khác nữa, tôi cho rằng những ngày sống cùng ma cà rồng, đi từ nước Mỹ sang Đông Âu, dừng lại ở Paris rồi quay về Mỹ chính là trải nghiệm đáng quý nhất của quá trình dịch thuật. Kiến thức mới về nhiều lĩnh vực là thành quả đáng kể hơn hết, chứ không phải cuốn sách được xuất bản.

Và còn một điều cực kỳ quan trọng mà tôi thu vén được sau quãng thời gian ấy, đó là người ta có thể sống ổn, thậm chí ổn hơn rất nhiều khi không còn phụ thuộc cảm xúc vào mạng xã hội.

Đôi lời cảm ơn

Khi dịch xong Phỏng vấn Ma cà rồng, tôi tưởng đã biến luôn thành ma cà rồng. Trong vài năm, dù có vô vàn ý nghĩ, tôi không thế thốt ra điều gì cụ thể về tác phẩm này. Có thể tôi bị quá tải hoặc đơn giản là… lười. Vì vậy, tôi muốn dành lời cảm ơn đặc biệt đến Kodaki  – người đã dành thời gian nghiền ngẫm và biên một bài phân tích chất lượng cao cho Phỏng vấn Ma cà rồng.

Nói thật, đọc áng văn này của cô Anne Rice mệt và nản phết đấy! Bạn không tin thì cứ thử lên Goodreads lướt qua phần review sách là rõ thôi. Tuy nhiên bộ phim chuyển thể lại là câu chuyện hoàn toàn khác. Tôi đố bạn tìm ra phim nào khác quy tụ được Brad Pitt, Tom Cruise, Kristen Dunst, Antonio Banderas và Christian Slater về chung chỗ như thế. Ngầu dễ sợ! Không đọc sách thì thôi nhưng phim Phỏng vấn Ma cà rồng nên thử tìm xem bạn nhé.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Linda Lê – Khi nỗi buồn lấp lánh như những hạt ngọc nơi khóe mắt

Linda Lê là một tác giả cần phải đọc với những ai luôn băn khoăn, trăn trở về nghề viết

Published

on

By

Tuần trước, khi đọc những dòng tin ngắn gọn thông báo về sự ra đi của Linda Lê, trong lòng tôi bồi hồi nhớ đến nhiều câu chuyện cũ. Buổi tối hôm đó, tôi đã đọc lại Vượt sóng – một tác phẩm bày tỏ nhiều băn khoăn, trăn trở về nghề viết rất hay của bà. Tôi nhận ra nhiều điều bà viết vẫn rất đúng và chưa bao giờ cũ. Đó không chỉ là câu chuyện của riêng nhân vật Antoine Sorel, hay của bà, đó có lẽ còn là câu chuyện chung của những người cầm bút.

Tôi biết đến Linda Lê lần đầu tiên vào năm 2011 do một bạn văn giới thiệu. Khi ấy, tôi còn loay hoay trong việc định hình văn phong, chưa đủ tự tin để đánh giá những gì mình viết liệu có ổn không, cần phải sửa chữa những gì cho lần tới, làm sao để tạo dựng phép tu từ độc đáo hơn. Thế là, bạn giới thiệu cho tôi cuốn Vu khống của Linda Lê và hết lời ca ngợi bà. Thời điểm đó, Việt Nam chỉ mới có hai tác phẩm của bà được dịch và xuất bản là Vu khống Lại chơi với lửa. Bạn nói cả hai cuốn đều hay nhưng tôi nên bắt đầu đọc Vu khống trước, rằng việc đọc văn của bà sẽ giúp tôi ngộ ra rất nhiều điều về văn chương có ích cho cách hành văn của tôi. Nhưng ở thời điểm ấy, khi tôi tìm thì cả hai quyển này cũng đều đã khan hiếm trên thị trường, hầu như không còn bất kì bản in nào nữa. Bạn đã cho tôi mượn hai quyển này với lời dặn dò tôi sớm đọc để trả lại bạn vì tuy bạn luôn sẵn sàng cho mọi người mượn sách (thậm chí là tặng) nhưng với hai quyển này thì bạn đặc biệt muốn giữ lại chỉ đơn giản vì trong đó có nhiều ghi chú riêng tư bên lề trang sách mà bạn không muốn bất kì ai đọc được. Tôi biết hai cuốn sách đó rất quí giá với bạn. Tôi nhớ rằng mình đã cố tình đặt cả hai quyển ở vị trí luôn lọt vào tầm mắt mỗi lần nhìn tủ sách để sớm đọc và trả lại bạn. Nhưng tôi không nhớ rõ vì sao mình đã không đọc vào thời điểm ấy – ngay khi bạn vừa mới cho mượn. Tôi cứ đọc những quyển sách khác rồi quên bẵng đi sự tồn tại của chúng trên kệ sách từ lúc nào không hay. Cho đến lúc không còn giữ được liên lạc với bạn, tôi vẫn chưa kịp đọc để trả lại bạn như lời đã hứa. Và tận bây giờ, sau mười một năm, cả hai quyển này vẫn ở trên kệ sách của tôi, tôi vẫn chưa đọc – nhưng nó ở đó giống như một lời nhắc nhở rằng Linda Lê là một trong những tác giả bạn tôi vô cùng yêu mến.

Có tồn tại khái niệm gọi là “diễn viên của một bộ phim”, “nghệ sĩ của một tác phẩm”, tức là người diễn viên sau khi đóng xong một vai diễn trong một bộ phim thì không thoát vai được, không thể tiếp tục diễn một vai khác trong một phim khác – hoặc nếu có diễn thì vẫn không để lại ấn tượng; “nghệ sĩ của một tác phẩm” cũng tương tự như thế. Nếu hiểu như thế thì đối với Linda Lê, trong vai trò là người đọc, tôi đang tạm giữ chức danh gọi là “độc giả của một tác phẩm”. Khi nghĩ đến danh xưng này, tôi cảm thấy hơi buồn cười một chút vì từ đó đến nay, tôi chưa nghe bất kì ai gọi như thế, có lẽ đơn thuần vì thông thường người ta sẽ không biến việc này thành một danh từ mà chỉ đơn giản giữ nó ở mức là một động từ, cách nói này sẽ phổ biến hơn: “Tôi chỉ mới đọc một tác phẩm của tác giả A,” đại loại như thế. Khi giữ mọi thứ ở mức động từ tức là các hành động ấy còn trong trạng thái tiếp diễn, có thể thay đổi, nó không cứng nhắc và gò vào một cái khung như khi đã được định danh. Thực tế ấy cũng phản ánh nguyên nhân vì sao người ta không có nhu cầu lập danh từ cho hành động này: đơn giản vì ở vị thế của một người đọc, việc phá vỡ định danh “độc giả của một tác phẩm” là điều rất dễ dàng, đọc là một hành động dễ dàng, dễ hơn viết hay bất kì hoạt động nghệ thuật nào khác rất nhiều – bạn chỉ cần đọc thêm một tác phẩm nữa của người đó thôi thì cái danh xưng “độc giả của một tác phẩm” sẽ không còn đúng nữa. Ấy vậy mà từ lúc đọc Vượt sóng vào đầu năm 2018 đến nay đã bốn năm, tôi vẫn chưa tìm được cách để thay đổi điều đó dù rằng trong tay có sẵn phương tiện là hai quyển sách bạn cho mượn. Điều này khiến tôi cảm thấy mình không có đủ tư cách để viết cảm nhận về bà – cho dù chỉ là dưới góc nhìn cá nhân – bởi lẽ sách bà đã viết so với số lượng một cuốn tôi đọc được thì khoảng cách quá lớn. Tuy nhiên, ở thời điểm này tôi lại cảm thấy thôi thúc muốn viết về bà, viết cho bà. Tôi nghĩ có lẽ bà cũng có thể thông cảm mà bỏ qua cho người “độc giả của một tác phẩm” như tôi.

2018 là một năm tôi đang ở điểm trũng của cuộc đời và việc đọc Vượt sóng ở thời điểm đó đã mang lại cho tôi sự khích lệ đáng kể. Ngay từ những trang đầu của quyển sách, ta biết được nhà văn tài năng Antoine Sorel – nhân vật trung tâm của câu chuyện đã tự sát bằng cách nhảy lầu. Một phóng viên trẻ mến mộ tác phẩm của Sorel đã hết sức bàng hoàng, anh quyết định tìm hiểu toàn bộ cuộc đời Sorel trước đó để biết được nguyên nhân vì sao câu chuyện đau lòng này lại diễn ra. Giống như tác phẩm Nhật kí chim én của Amélie Nothomb, câu chuyện khởi sự bằng một cái chết, bằng sự tiếc nuối khôn nguôi của người ở lại – đặc biệt khi người đó chỉ vừa mới biết và mến mộ người quá cố – nhưng có lẽ cuộc sống phần nào cũng tương tự như thế. Thông qua cuộc gặp gỡ giữa người phóng viên và những thân nhân của Sorel, bức tranh về cuộc đời nhà văn bất hạnh này dần sáng tỏ. Có thể thấy Linda Lê gửi gắm rất nhiều tâm tư về văn chương, về việc viết, việc đọc thông qua cuộc đời của Sorel.

Sorel rất nghèo khó, anh phải làm nhiều công việc cực khổ kiếm sống để đổi lại vài giờ ngắn ngủi được đọc sách. Dù vậy, chỉ cần có khoảng thời gian ít ỏi đắm mình vào văn chương với anh đã là hạnh phúc.

“Anh bắt đầu công việc lúc bình minh và chỉ lên giường vào một giờ sáng, mệt lả đến mức anh ngủ thiếp đi sau khi chỉ đọc được hai trang sách. Dù cực khổ anh vẫn hạnh phúc vì đã trốn xa bố anh.

Mỗi khi anh lãnh lương, anh mua gom những cuốn tiểu luận nói về những chủ đề khác nhau ở các cửa hiệu sách cũ. Vào mỗi Chủ nhật, ngày nghỉ duy nhất của anh, anh ngồi dính vào chiếc ghế cứng mà Malek cho anh mượn và đắm chìm vào những trang sách ấy, chúng làm anh quên mọi thứ. Anh không còn là đứa con trai của Martin. Anh không còn là tên túng thiếu không có lấy một đồng để mua sách nếu Malek không cho anh ăn miễn phí. Anh không phải bị rét cóng trong căn phòng băng giá của anh vào mùa đông đến mức anh phải ủ người trong chiếc áo khoác anorac, mang những đôi găng tay hở ngón và thòng vào chân nhiều đôi vớ. Anh không còn là gã bồi bàn quán cà phê chạy lăng xăng để thỏa mãn khách, chạy từ bếp ra sảnh nhiều đến nỗi chân của anh rộp những bọng nước. Anh không còn là người thanh niên bị buộc phải làm việc trong khi đó anh ước ao trở thành sinh viên văn khoa, chỉ quan tâm đến việc ghi chú các trang sách, biết rõ tiểu sử của các nhà tri thức bách khoa, dịch các truyện thơ tiếu lâm cổ trung đại sang ngôn ngữ hiện đại và tìm hiểu các nhà hình thức chủ nghĩa Nga.”

Tuy vậy, Sorel lại không tự tin vào tài năng văn chương của mình và gần như xa rời mọi cuộc giao lưu với giới văn sĩ Pháp.

“Thậm chí sau khi xuất bản vài cuốn sách, anh vẫn không có được niềm tin vào tài năng viết văn sẽ được giới văn học công nhận, nhất là anh không bao giờ đặt chân lên Paris mỗi tuần và không tới lui những quán cà phê nơi tụ tập của các nhà văn. Anh không rời Le Havre - ở tỉnh vẫn dễ dàng xoay xở hơn khi không giàu có. Anh luôn kiếm được vài ba đồng đây đó, anh xoay xở với những gì anh có, buổi trưa anh ăn bánh mì thịt nguội trét bơ hay dùng những miếng rau củ chiên, và tối anh ăn mì ăn liền. Món sang của anh đó là thuốc lá và rượu. Vào những lúc anh xuống tinh thần, anh đi ngắm sóng vỗ vào đê biển.”

“Antoine chỉ đến những bữa tiệc cocktail vì có rượu ngon để uống. Anh không bắt chuyện làm quen với một ai. Khi ai hỏi anh về công việc, anh thậm chí không trả lời anh viết sách. Isabelle kể lại cho Jean những chuyện đó và cho rằng anh không phải là một người biết hòa đồng.”

Giống như phần lớn mọi nhà văn, anh không có được sự ủng hộ từ bậc song thân.

Với người cha thì:

“Hẳn ông dám đánh cược năm ăn một rằng con trai ông sẽ thất bại, nó sẽ chết trẻ, và chẳng làm được gì khác ngoài việc làm thất vọng những độc giả của mình qua việc chỉ ra hai thực tế: họ chỉ là trò bịp, họ cố thổi phồng nhân sinh quan của cá nhân, nhưng họ chỉ đẻ ra những thứ tiểu tiết.”

Với người mẹ thì:

“Bà cảm thấy tiếc cho trí thông minh của anh, anh đã không trèo lên địa vị cao trong xã hội, anh lại chọn cuộc sống mộng mơ trong túng quẫn. Những cuốn sách không mang lại may mắn, bà nói thế. Càng đọc, anh càng trở nên gần như điên loạn. Giá như anh tự bằng lòng với việc đọc thôi, đằng nay anh lại đi vào con đường viết sách. Bà không đọc báo, bà không thể hình dung người ta có thể sống bằng văn chương. Tại sao Antoine không có một nghề nghiệp nào như bao người quen khác? Bà ấy đỏ mặt tía tai khi người ta hỏi về anh. Và khi những cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh ra đời, một vài người nói với bà rằng thằng Antoine “của bà” muốn làm “như Parisian” nhưng đâu dễ. Bà còn không được tặng sách, dù gì bà cũng chẳng đọc, vì bà không tán thành chuyện Antoine chọn con đường sự nghiệp nhiều rủi ro như vậy, theo bà đa số các nhà văn chỉ là những người làm công bấp bênh. Anh đã có thể gửi sách đến cho bà, xem như để cho bà biết tin tức, vì anh đã bỏ đi sống ở đâu bà cũng không biết.”

Tuy nhiên, Sorel cũng có một quãng thời gian hạnh phúc, đáng nhớ với vợ. Linda Lê đã khắc họa mối tình này rất kĩ lưỡng, có thể thấy ở đây là một khuôn mẫu điển hình của tình yêu giữa nhà văn và độc giả. Thông qua hình ảnh của Isabelle – vợ của Sorel, Linda Lê cũng cho thấy kiểu độc giả lí tưởng của một nhà văn sẽ là người như thế nào. Gia đình của Isabelle không có đam mê văn chương như cô, thói quen đọc của họ khác hẳn cô.

“Cô tự nhủ có lẽ cô không có cùng gen với bố. Cô đam mê nghệ thuật và văn chương, nhưng những nhà thơ cô ngưỡng mộ là những “tên xấu xa” dưới con mắt bố cô, họ tự cho mình quyền được nhàn rỗi và vô trách nhiệm, sống bám xã hội. Dĩ nhiên ông không đọc những tác phẩm của họ, ông chỉ đọc những tạp chí về trang trí nội thất, để bắt kịp các xu hướng mới, ông cũng đọc các báo về kinh tế để biết nên đầu tư vào nơi nào. Kiểu nói văn vẻ về tình yêu, theo như ông ấy nói, là thứ keo dán, ngay ông có lẽ cũng rất tiết kiệm những lời nói yêu đương. Mẹ của cô đặt mua một nguyệt san về chiêm tinh học, để bà có thể trao đổi trong những bữa tiệc trà về những tiên đoán của một bà tiên tri nổi tiếng (“Theo như quan sát vị trí của Pluton, đảng xã hội sẽ thua đậm trong cuộc bầu cử”), về tính thực dụng của Xử Nữ, sự kiên cường của Bạch Dương, sự công minh của Bảo Bình. Bà cũng đặt mua một tuần báo chủ yếu nói về các đám cưới hoàng gia và các ngôi sao quay lại sàn diễn với những bài hát đánh dấu quãng đời niên thiếu của bà.”

Có thể thấy chỉ bằng việc miêu tả thói quen đọc của từng người, Linda Lê đã phác họa được khoảng cách khác biệt giữa các thành viên trong gia đình lớn như thế nào. Chính vì vậy, Isabelle dễ dàng tìm thấy sự đồng điệu trong tâm hồn với Antoine và cô đã yêu anh trước hết bằng tình yêu của một độc giả với một tác giả.

“Khi được biết anh là tác giả của hai cuốn tiểu thuyết và một tuyển tập thơ được xuất bản với số lượng ít ỏi nhưng được những người am hiểu khen ngợi, dù không may đấy không phải là những người có tầm ảnh hưởng lớn, cô đã hứa sẽ mua các tác phẩm của anh và đọc chúng một cách say mê, bởi vì cô biết chắc rằng nếu như vậy cô sẽ được khai sáng về tinh thần. Cô cũng biết chắc rằng sau khi đọc xong cô đủ khôn khéo để gửi cho Sorel một bức thư sẽ lay động anh.

Ngay sáng hôm sau, cô nhanh chóng đi ra một hiệu sách để mua cho mình ba cuốn sách đó. Chúng đóng bụi trên một kệ sách ở phía cuối trong một góc tối của cửa tiệm. Cô mang chúng về nhà, đặt chúng gần chiếc gối và trong nhiều đêm liên tiếp, cô đắm mình vào việc đọc chúng và ngày càng bị chinh phục. Cô nghĩ: “Tôi sẽ có được người đàn ông này. Cho dù gia đình họ hàng sẽ không thích.” Cô chưa bao giờ làm những gì người khác bắt cô làm. Nếu cô đã sống như những người phụ nữ dại khờ trong cái thế giới của mình, cô sẽ chỉ là một cô bé đáng thương, chỉ nghĩ đến việc có được những bộ đầm như những minh tinh màn bạc được các thợ săn ảnh chụp, đi chơi với những tên trẻ tuổi trong những chiếc xế hộp của chúng và lui tới những nơi cần đến để được người ta chú ý. Cô không phải là những phụ nữ kiều diễm không có đầu óc, với tương lai mù mịt, một con búp bê đẹp nhưng không có tầm nhìn sâu. Cô đón nhận những thông điệp chứa đựng trong các tác phẩm của Sorel dù văn chương của anh không phải kiểu văn chương truyền tải thông điệp: anh viết nhiều về bản thân mình, nhưng anh không phải là một người ngạo mạn và không thiếu sự chua cay. Ngay từ đầu cô xếp anh trong số những nhà văn có tài, có cái nhìn sáng suốt và đã phải làm việc rất nhiều để viết ra những tác phẩm hoàn hảo.”

“Trong những bài phỏng vấn của anh với một số báo, anh không nói nhiều về anh mà cũng không tỏ ra mình quan trọng. Anh nói rằng anh luôn bị bao vây bởi những nghi vấn, chúng đè nặng lên anh và đã rất nhiều lần anh có ý định buông tất cả để sống bụi. Chính điều này đã làm anh trở nên thân thuộc dưới con mắt cô. Cô tiếc vì đã không đọc sách của anh sớm hơn, trong khi đó cô luôn đi tìm những gì mới, cô không thể sống nếu cô không tự mình đi khắp nơi tìm cái đẹp ẩn náu, cô thấy trong thơ ca những lí lẽ để không phải đi theo con đường của bố mẹ cô. Cô hãnh diện đã không như hai chị em gái mình, xa lạ với nghệ thuật, không như bố của cô, hám tiền, và không như mẹ của cô chỉ làm những công việc nhàm chán, như chuẩn bị thực đơn cho bữa tiệc hay lương thưởng cho người hầu, vào những lúc bà không xem tử vi, chắc rằng mình đang làm những thứ siêu việt.”

“Trong suốt nhiều ngày, Isabelle hoàn thiện bức thư trong đó cô nói với Sorel rằng cô như bị phê thuốc sau khi đọc xong sách của anh. Cô chỉ có một ham muốn: kết bạn với anh. Cô viết nhiều về tính khí nóng nảy của cô, về việc cô cảm thấy cô đơn trong chính gia đình mình, một gia đình vô cảm trước cái đẹp, chỉ quan tâm đến “những thú vui trần tục”, cô viết về nhu cầu được thăng hoa và tình yêu của cô đối với những tác phẩm nghệ thuật đã giúp cô cách xa những thứ “vật chất tầm thường”. Việc liên lạc thư từ giữa hai người sẽ mang lại cho cô nhiều niềm vui lớn. Antoine sẽ giúp cô khai sáng. Những điều anh viết từ ngòi bút của anh dù nhỏ thôi cũng chứa đựng vô vàn điều hay…”

Tình yêu đẹp tuyệt vời là thế; tuy nhiên, khi hai người đã đến được với nhau thì cảnh tượng đau lòng tương tự như nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời thừa của Nam Cao một lần nữa lại diễn ra.

“Nhiều đêm cô khóc, vùi đầu vào gối, trong khi đó, anh ngồi ở bàn làm việc chỉnh sửa bản viết tay mà anh tính vứt vào thùng rác. Cô thấy qua thái độ đó một lời trách móc thầm lặng nhắm vào cô: do sống chung anh đã phải hy sinh cuộc sống độc lập và nỗi đam mê viết của anh ngày càng lụi dần. Trước khi trở thành vợ của Sorel, cô không biết rằng có một đối thủ sẽ như thế nào, cô nói, cô nhanh chóng khám phá ra một đối thủ mang tên văn chương, và đó là một đối thủ có sức mạnh đáng gờm.”

Cuối cùng, Sorel rơi vào cảm giác chán nản không thể kháng cự nổi nữa:

“Anh la lớn anh chán ngấy cuộc đời này. Anh sẽ kết liễu nó nếu như anh đủ can đảm. Ngay những cuốn sách cũng không an ủi anh phần nào. Anh luôn tìm kiếm trong những cuốn kinh điển anh đã đọc nhiều lần lí do để bám lấy ảo tưởng rằng anh phải hoàn thành một nhiệm vụ trên thế gian này, rằng việc anh đam mê viết là hoàn toàn chính đáng, rằng chưa phải là mất tất cả khi nào anh vẫn còn tìm thấy câu chữ để có thể trấn an nỗi sợ hãi bên trong mình và quyết chiến với sự giả tạo bên ngoài. Nhưng ở tuổi ba mươi, anh có cảm giác ‘thể xác và tâm hồn’ đã kiệt quệ, như theo ai đó đã nói… Jean không còn nhớ là ai. Những năm tháng cực khổ đã vắt kiệt mọi sức lực của anh. Nhà văn không quan tâm đến tiền vì với anh, nuôi mộng bất tử là điều hoang tưởng. Anh đã sống cả một thập niên mà thậm chí không có gì để bỏ bụng và anh đã viết sách vào những lúc có lẽ anh nên bắn một phát vào đầu thay vì sống lay lắt như vậy. Nếu anh không chết ngay, ít ra anh cũng không muốn tham gia cuộc chơi của những người hợm hĩnh, mà anh không đi tìm nữa, như những tác giả trẻ mong muốn được đứng phía trước sân khấu, anh mong muốn có những thứ thỏa mãn nho nhỏ này khi đọc những phê bình ca ngợi anh. Hai cuốn tiểu thuyết đầu của anh chưa đủ táo bạo, anh tỏ ý tiếc nuối. Anh là người đánh giá khắt khe nhất, anh không tự cho mình là một người độc nhất vô nhị, nhưng anh cũng không ra vẻ khiêm tốn như những người thích tìm kiếm những lời ca ngợi. Anh hành xử không như một người tài năng thiên phú cảm thấy mình ưu việt. Anh không bao giờ đi rải những lời ca thán khi anh lại bị những thừa phát bám gót, anh không bao giờ nghĩ mình là nạn nhân của chủ nghĩa bài xích thơ ca khi sách của anh không được ai biết đến. Khi anh bị trầm cảm nặng, anh trốn trong nhà, tắt điện thoại sau khi báo cho các em trai biết anh cần được ở một mình, và trong những ngày như thế, anh cố gắng bằng mọi cách chiến thắng tình trạng mệt mỏi này và tránh làm phiền bất kì ai. Anh tin tưởng vào khả năng kháng cự của mình: nó chỉ phản bội anh nếu anh không tập hợp đủ năng lượng để sáng tác. Những tác phẩm của anh ra đời trong những giây phút kiệt quệ chán nản như thế.”

Và cuối cùng, anh đã chọn đến giải pháp là kết liễu chính cuộc đời mình.

Nhưng khác với nhân vật của mình, Linda Lê đã không lựa chọn giải pháp này. Dù đời sống có khó khăn thế nào, bà vẫn quyết tâm theo đuổi văn chương đến cùng, làm một nhà văn chuyên nghiệp chỉ sống bằng việc viết. Nhìn vào văn nghiệp của bà, ta có thể thấy cứ đều đặn một, hai năm bà lại cho ra mắt một tác phẩm. Vào năm ngoái, tác phẩm mới của bà có tên Toutes les colères du monde: La colère cũng vừa được xuất bản. Và bằng cách lao động miệt mài như thế, dù phải ra đi ở một độ tuổi vẫn còn trẻ, bà đã thực sự chiến thắng được tử thần với những tác phẩm sống mãi trong lòng người đọc.

Tôi mong trong một ngày gần nhất, mình sẽ không còn là “độc giả của một tác phẩm” của bà nữa. Vì bà xứng đáng được ta dành nhiều thời gian hơn, đọc đi đọc lại, để đắm chìm vào văn chương, đắm chìm vào thế giới mà ở nơi đó, nỗi buồn cũng thật lấp lánh, tựa như những hạt ngọc nơi khóe mắt.

Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng