Chuyện người cầm bút

Gong Ji Young – Con gái người độc tài

Published

on

Gong Ji Young là một trong những nhà văn nữ hàng đầu của làn sóng mới tại văn học Hàn Quốc những năm 1980-1990. Ở ngoài đời, Gong là một người cởi mở, thẳng thắn và nhiệt tình sôi nổi khi bàn luận đến những chủ đề lớn như dân chủ, chế độ độc tài và các trạng thái khác nhau về sự quan sát của người phụ nữ.

Gong Ji Yong đã bán được hơn 10 triệu bản sách tại Hàn Quốc. Cô nhận được các giải thưởng như: 2011 Yi Sang Literary Award (tạm dịch: giải văn học Yi Sang 2011), the 21st Century Literary Award (giải thưởng văn học thế kỉ 21), the Korean Novel and Literature Award (giải thưởng cho Tiểu thuyết và Văn chương Hàn Quốc),giải thưởng Special Media Award (giải thưởng truyền thông đặc biệt) từ Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) dành cho quyển sách Yêu người tử tù.

Bản dịch tiếng Anh của tiểu thuyết Yêu người tử tù được phát hành tại Mỹ với tiêu đề Our Happy Times vào ngày 1.7.2014. Đây là một trong những tác phẩm văn học Hàn Quốc đầu tiên tấn công vào thị trường quốc tế và nhận được sự chú ý. Chỉ sau ngày xuất bản ở thị trường Mĩ một tháng, Phương Nam Books đã mua bản quyền cuốn sách này và xuất bản tại thị trường Việt Nam từ ngày 31.7.2014.

Cuốn tiểu thuyết mới của cô My sister, Bongsoon kể câu chuyện về một người giúp việc thất học, làm việc vất vả thông qua góc nhìn của một cô bé mới năm tuổi nhưng sớm phát triển. Trong một chừng mực nào đó, có phải cuốn sách này là tự truyện của cô không?

Tất cả sách của tôi đều là tự tuyện ở chừng mực nào đó, nhưng hơn cả tự truyện, chủ đề chính là tôi muốn miêu tả Seoul khoảng thời gian ấy, khoảng thời gian công nghiệp hóa từ những năm 1960 đến 1980, cách họ vượt qua như thế nào, những người cũng đã chứng kiến quá trình đó như tôi, cũng học đại học vào những năm 80.

Ba trong số những cuốn sách của cô, bao gồm cả Yêu người tử tù đã được chuyển thể thành phim. Cô thích nhất là bản chuyển thể nào?

The Crucible; hai bản chuyển thể còn lại đi hơi xa nội dung cuốn tiểu thuyết của tôi, nhưng bản chuyển thể của The Crucible (dựa trên câu chuyện có thật về những đứa trẻ ở trường khuyết tật dành cho người khiếm thính bị các giáo viên bạo hành tình dục) lại gần hơn với tiểu thuyết gốc của tôi. Và xét về mặt điện ảnh, bộ phim đó cũng nhận được đánh giá cao. Hơn nữa, hiệu ứng của phim lớn đến nỗi nó đã thật sự gây chấn động đến cả chính phủ. Cuối cùng, còn hình thành một pháp chế gọi là “Đạo luật the Crucible” (The Crucible law); tiêu đề lấy từ tên cuốn sách của tôi, và những đứa trẻ đã lấy lại được thân phận của mình, được xóa tên ra khỏi bản cáo buộc sai lầm, hung thủ thật sự bị bắt. Việc đó đã là một nhân tố lớn trong sự thay đổi của chính phủ.

Cảm thức về công lí của cô bắt nguồn từ những thay đổi trong giới học sinh và giới lao động từ thập niên 1980. Phải chăng những tác phẩm của cô đã tác động phần nào đến chiến thắng trong việc giành quyền lợi cho phụ nữ, công nhân, học sinh ở Hàn Quốc ngày nay?

Tôi muốn trả lời câu hỏi này dựa trên góc nhìn văn chương từ những kinh nghiệm mà tôi có được. Nếu nhìn ngược trở lại thời gian, có thể thấy tôi bắt đầu viết từ cách đây 27 năm, và 10 năm đầu tiên tôi tập trung hoàn toàn vào những vấn đề chính trị bởi thời điểm ấy đất nước chúng tôi đang sống trong chế độ độc tài. Tôi thật sự không cần sử dụng quá nhiều năng lực tưởng tượng, mà chỉ cần một ai đó gửi cho tôi những vấn đề chính trị họ bức xúc. Trong khoảng thời gian đầu của thế kỉ này, sau khi Hàn Quốc trở thành nước dân chủ dưới thời của Kim Dae Jung và Roh Moo Hyun, chúng tôi thật sự cảm thấy có thể mở rộng trí tưởng tượng của mình ra, và dưới thời dân chủ này, tác phẩm đầu tiên tôi viết là My Sister, Bongsoon. Yêu người tử tù cũng là tác phẩm ra đời trong khoảng thời gian này khi tôi cảm thấy rất, rất lạc quan. Sau khi Lee Myung Bak trở thành tổng thống sáu năm tước, nền dân chủ của chúng tôi lại có vẻ thoái lui và tôi cảm thấy trí tưởng tượng của mình bị hạn chế. Ngày nay, tôi nghĩ ngày càng có nhiều người viết để chống lại những vấn đề chính trị, vì thế tôi dự đoán rằng sắp tới sẽ càng xuất hiện thêm nhiều tác phẩm liên quan đến chính trị. Đó là quan sát của tôi.

Đâu là điểm cải tiến và thất bại tiêu biểu nhất trong xã hội Hàn Quốc kể từ những năm đầu tăng trưởng kinh tế và bước vào thời kì dân chủ?

Tôi nghĩ phần nào đó những quyền lợi của phụ nữ được cải thiện; dù không phải tất cả nhưng phần nào là như thế, đặc biệt hơn khi so sánh với quyền lợi của những công nhận. Tôi nghĩ đã có nhiều cải tiến cho quyền lợi của tầng lớp lao động.

Sách của cô có phát hành ở Triều Tiên không? Dưới hình thức chính thống hay phi chính thống?

Vâng, tôi biết rằng họ có tiếp cận với những quyển sách của tôi. Tôi đã từng ở đó vào năm 2005. Họ dường như rất thích quyển My Sister, Bongsoon nhưng phần lớn không phải là những người dân bình thường nói về quyển sách của tôi, những Đảng viên mới là người thích sách của tôi, và điều đó làm tôi cảm thấy có một chút không thoải mái. Những cuốn sách của tôi không được xuất bản ở đây, nhưng có lẽ họ lấy được chúng từ thư viện. Bởi vì Bắc Hàn và Nam Hàn vẫn sử dụng chung một ngôn ngữ, về mặt kĩ thuật mà nói họ cũng không cần xuất bản lại chúng ở đây. Tôi không nghĩ rằng sẽ có lúc nào đó họ xuất bản những cuốn sách của các nhà văn Nam Hàn một cách chính thống tại Bắc Hàn.

Cô có thể nói một chút về giải thưởng Special Media Award (tạm dịch: giải thưởng truyền thông đặc biệt) từ Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) dành cho quyển sách Yêu người tử tù với ý nghĩa rằng nó đã góp phần trong việc tăng sự phản đối dành cho án tử hình?

Đây là giải thưởng có ý nghĩa nhất mà tôi từng nhất. Tổ chức Ân xá Quốc tế tại Hàn Quốc có nguồn tài trợ rất ít, vì thế giải thưởng họ cho tôi chỉ là một món quà nhỏ nhưng cũng khiến tôi hạnh phúc kinh khủng.

Cô đã làm việc với Sora Kim-Russell như thế nào cho bản dịch tiếng Anh của cuốn tiểu thuyết này?

Chúng tôi không giữ liên lạc nhiều, nhưng thỉnh thoảng có trao đổi email, đặc biệt là về một số thuật ngữ nhất định hoặc văn nói ở Hàn Quốc, bởi vì Sora lớn lên ở Mĩ.

Sora từng viết rằng cô ấy đã gặp khó khăn với sự im lặng, sự khiếm khuyết, sự mỉa mai, những lí do và sự tuyệt vọng khi dịch giọng kể của Yoo Jeong. Những vấn đề đặc trưng nào mà một dịch giả phải đối mặt khi dịch từ tiếng Hàn sang tiếng Anh?

Tôi nghĩ những vấn đề chủ yếu xuất phát từ cách chúng tôi thể hiện cảm xúc. Ví dụ như khi tôi miêu tả sự tức giận của Yoo Jeong một cách gián tiếp thông qua điệu bộ cô nằm phịch xuống, có lẽ những người sử dụng tiếng Anh khó lòng nào hiểu được đây là một biểu hiện của sự giận dữ; bởi vì họ có thể nghĩ rằng đó là một điệu bộ hoặc một tư thế khiến họ cảm thấy thoải mái. Vì thế, tôi nghĩ phần lớn những khó khăn cô ấy gặp phải cũng thuộc những tình huống như thế.

Vào tuổi nào cô bắt đầu nhận ra mình muốn trở thành một nhà văn?

Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ trở thành một nhà văn, thậm chí là trong tưởng tượng, nhưng khi ở độ tuổi mới lớn tôi đã từng lúc nào cũng đem theo bên mình các hợp tuyển sách. Lần đầu tiên tôi nghĩ về việc viết là sau khi tôi được ra khỏi tù. Tôi đã bị bắt giam vào năm tôi 26 tuổi, và khi đó đang là mùa đông, nhiệt độ xuống dưới mức âm, tôi đã nghĩ rằng mình sắp chết, rồi tôi nghĩ rằng nếu tôi được ra khỏi đây, hoặc khi tôi ra khỏi đây, tôi sẽ làm công việc mà tôi thích làm, và tôi ngạc nhiên với chính mình: đó là việc trở thành tiểu thuyết gia thực thụ.

Tại sao cô bị bắt giam?

Tôi bị bắt trong một cuộc biểu tình sinh viên và ở tù khoảng một tháng. Đó chỉ là một bản án ngắn hạn, nhưng những vách tường ở trong tù không có sách, không có thứ gì để đọc. Việc duy nhất tôi có thể làm là suy nghĩ. Tôi thật sự trân trọng khoảng thời gian đó – tôi biết ơn cảnh sát và chính quyền. Tôi luôn nói rằng tôi được sinh ra là nhờ Park Chung Hee, nhà độc tài 18 năm ở Hàn Quốc, bởi vì trước khi ông nắm quyền, cha tôi được gửi qua Mĩ học tập để phụng sự chính quyền, và sau đó khi cha tôi đã ở Mỹ được 5 năm, Park Chung Hee lên nắm chính quyền trong một cuộc đảo chính, vì thế, cha tôi phải trở về và tôi được sinh ra. Vậy nên tôi cũng phải cảm ơn Park Chung Hee vì tôi đã được sinh ra trên cuộc đời này. Rồi tôi cũng hay nói đùa về Chun Doo Hwan, một nhà độc tài quân sự khác vào khoảng thời gian tôi bị bắt giam, đó là nhờ ông mà tôi mới trở thành tiểu thuyết gia.

Ngôi nhà vui vẻ

Cô nghĩ gì khi được mọi người nói đến như một nhà văn ‘nữ quyền’?

Trước tiên, tôi không cảm thấy thoải mái với cái nhãn ‘nữ quyền’, tôi không thích việc đó, bởi vì nếu tôi là một người đàn ông, tôi cũng sẽ quan tâm đến những vấn đề này. Tôi thật sự nghĩ rằng có những sự khác biệt giữa công việc của một người phụ nữ và một người đàn ông, nhưng đó không phải là ý nói người này ở một vị thế cao hơn người kia. Mà có lẽ rằng phụ nữ đang ở trong một lợi thế bởi vì trong thế giới đương đại, chúng ta không còn phải bận tâm đến những thiên sử thi nữa, chúng ta có thể tạo ra những câu chuyện từ sự quan sát của ta về cuộc sống thường nhật, và tôi nghĩ rằng phụ nữ có khả năng quan sát, mô tả những điều bình dị kĩ lưỡng hơn đàn ông.

Cô có phán đoán được số lượng độc giả nữ so với độc giả nam đọc sách của cô ở Hàn Quốc và những nơi khác không?

Ở Hàn Quốc, người ta nói rằng 80% độc giả sách của tôi là phụ nữ và 20% là đàn ông, nhưng đây cũng là tỉ lệ bình thường của những người đọc thể loại tiểu thuyết nói chung, vì thế tỉ lệ này cũng không phải là riêng biệt cho những tiểu thuyết của tôi. Nhưng nếu như so với những nhà văn nữ khác, tôi nghĩ có lẽ mình có nhiều độc giả nam hơn.

Hiện tại, Hàn Quốc đang dưới thời của nữ tổng thống đầu tiên: Park Geun Hye, bà là con gái của Park Chung Hee theo đúng nghĩa đen. Cô nghĩ như thế nào về việc bà đã phá tiền lệ với tư cách là nữ chính trị gia tiên gia; và cô nghĩ gì về những chính sách của bà?

Như tôi đã nói ở trên, tôi không thích cái nhãn ‘nữ quyền’, và tôi cũng tin rằng không phải vì một người nào đó được sinh ra với giới tính sinh học là phụ nữ cũng sẽ khiến cho người ấy nữ tính, hoặc quan tâm hơn đến quyền lợi phụ nữ. Dù tổng thống là nam hay nữ, tôi không nghĩ điều này sẽ tạo nên sự khác biệt liên quan đến các vấn đề quyền lợi cho phụ nữ. Park Geun Hye là con gái của một nhà độc tài, ngoài ra cô ấy chẳng có trách nhiệm gì hơn cho việc đó, nhưng trên tất cả, những gì mà chúng ta có được trong hiện tại ở Hàn Quốc là kết quả lòng tham của chính chúng ta, nó sinh ra từ khao khát được giàu có về vật chất những thập niên 60. Tóm lại, tôi muốn nói rằng Park Geun Hye thật sự bộ được hết tất cả mặt xấu của đàn ông và phụ nữ.

Có triều đại chính trị nào ở Hàn Quốc, với những gia đình khác cũng nắm quyền theo kiểu như thế?

Không chỉ trong chính trị mà cả trong giới tài chính cũng như thế, những tập đoàn kinh tế trụ cột ở Hàn Quốc như Samsung và một số tập đoàn khác đều được điều hành bởi các thành viên trong gia đình.

Hết.

Kodaki

Bản gốc được thực hiện bởi Mark Reynolds, đăng tại Bookanista.

*

Tác phẩm của Gong Ji Young

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Nhật Chiêu: Truyện tuyệt ngắn không dễ viết

Published

on

By

Lời tiên tri của giọt sương (xuất bản năm 2011) do nhà văn Nhật Chiêu chấp bút là tập truyện tuyệt ngắn và truyện một câu đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam. Qua đó, Nhật Chiêu cũng là một trong những nhà văn tiên phong cho thể loại này ở Việt Nam. Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn về truyện tuyệt ngắn.

Tại sao ông lại viết truyện tuyệt ngắn?

Có người gọi truyện tuyệt ngắn và truyện một câu là Hint fiction, tức là truyện có số lượng trên dưới khoảng 25 từ, là loại truyện khơi gợi một cái gì lớn hơn và phức tạp hơn với số lượng chữ ít ỏi nhất. Trong văn chương, tôi thích những gì khơi gợi hơn là những gì thuyết lí, phô bày lộ liễu. Sự khơi gợi sẽ đưa ta đến chân trời khoáng đạt, còn sự phô bày lộ liễu chỉ là hủy diệt mà thôi.

Có nhiều ý kiến cho rằng khi chuyển sang viết truyện tuyệt ngắn là ông đang chọn hướng đi dễ dãi với mình hơn, ông viết truyện tuyệt ngắn vì ông không thể viết những truyện dài. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Truyện một câu không hề dễ như người ta tưởng tượng. Bởi vì ngay cả trên thế giới, dù thể loại này đã tồn tại trước Việt Nam thì số lượng tác giả thành công cũng như tác phẩm thành công là rất hiếm. Nếu hỏi truyện một câu trên thế giới mà được nhớ đến và thường được trích dẫn thì chỉ có một, hai trường hợp. Trong đó, có Augusto Monterroso - tác giả Guatemala với truyện một câu: Khủng long gồm 8 chữ chữ như sau: “Thức dậy, con khủng long vẫn còn đó.” Truyện này được nhiều nhà văn lớn, trong đó có Italo Calvino ca ngợi hết lời, là đề tài cho nhiều tiểu luận khác nhau. Nếu truyện một câu là dễ dàng thì thử hỏi vì sao ít truyện một câu đạt được thành tựu đến thế. Người ta vẫn nói thơ Haiku dễ làm nhưng thật ra có bao nhiêu bài thơ Haiku được nhớ đến như là tuyệt tác. Tại sao quanh đi quẩn lại cũng chỉ là Basho, Issa, Buson, Shiki? Cho nên hãy cứ tạm xem truyện một câu hoặc hai, ba câu cũng giống như trường hợp thơ Haiku. Dễ hay khó không chắc gì quyết được và cũng chẳng cần tranh luận. Ai cảm thấy nó dễ thì cứ thử viết chơi vài trăm truyện. Thế thôi, bao giờ cũng vậy, dễ nhất là nói. Làm lại là một chuyện khác.

Trong văn học của nhiều nước vẫn luôn luôn tồn tại những nhà văn chỉ viết truyện ngắn. Như vậy, ngắn hay dài không phải là thước đo và thật sự càng ngày càng có xu hướng nhiều nhà văn viết truyện tuyệt ngắn. Tôi có rất nhiều tập truyện tuyệt ngắn của nhiều nhà văn loại này như Augusto Monterroso hoặc như tập truyện Hint fiction do Robert Swartwood tuyển của nhà xuất bản lừng danh Norton, hoặc các tập sách mang tên Flash fiction, Micro fiction…Mỗi ngày tôi đều đọc một vài truyện tuyệt ngắn hoặc truyện một câu của các nhà văn trên thế giới mà tôi đã may mắn sưu tầm được và càng đọc tôi càng thấy khó viết. Đó là ý kiến của tôi.

Là người đi tiên phong ở thể loại truyện tuyệt ngắn, trong quá trình viết, điều gì khiến ông cảm thấy khó khăn nhất?

Do thói quen thường xuyên đọc thơ Haiku và công án Thiền tông, đôi khi chỉ có vài từ hoặc chỉ duy nhất một từ, tôi từng ao ước trong thể loại truyện này cũng có những hình thức tương tự. Nhưng vấn đề là làm sao để cho dài ngắn thế nào thì truyện cũng phải có cái gọi là diễn biến truyện, nghĩa là có tính chất tự sự. Muốn vậy, phải có phương pháp, có cách sử dụng ngôn từ đặc biệt. Nếu không thì mọi sự sẽ thành nhảm và ai cũng làm được dễ dàng. Ví dụ: truyện có chữ Đất sẽ chẳng có nghĩa lí gì nếu như nó không có một tiêu đề thích hợp để gợi lên một vận động của truyện. Tiêu đề ở đây là Sử thi nàng Sita và “toàn văn” của truyện nhờ cái tiêu đề đó mà phát tiết ý nghĩa.

Khó khăn lớn nhất theo tôi vẫn là làm sao để nó đến được với người đọc một cách thuyết phục. Điều này không một tác giả nào có thể nắm chắc. Có những cái thuộc về thói quen, thành kiến, tầm đón đợi, thiếu thông tin… sẽ là những chướng ngại cho việc người đọc bước vào văn bản mà không e dè. Còn trong khi sáng tác, tôi cảm thấy mình quen thuộc với thể truyện tuyệt ngắn như thể có “nhân duyên gắn kết” - theo cách nói của Hoàng Lương, người viết lời bạt cho Lời tiên tri của giọt sương.

Ảnh: Thiên Kim
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Nhà văn Nhật Chiêu: Văn học nước ngoài nên được dạy như văn học Việt Nam

Published

on

By

Những tác phẩm văn học nước ngoài (VHNN) được đưa vào sách giáo khoa như một phần học chính thức bên cạnh văn học Việt Nam (VHVN). Thế nhưng, vì trong đề thi tốt nghiệp, đại học, đa phần tập trung vào VHVN nên việc giảng dạy VHNN trong nhà trường còn nhiều bất cập. Nhiều trường vì chạy đua theo thành tích nên đã không giảng dạy VHNN mà dành giờ học đó để tập trung ôn thi cho VHVN. Trước thực trạng trên, Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn, nhà giáo Nhật Chiêu - người có nhiều công trình nghiên cứu về văn học của các nước trên thế giới.

Thầy nghĩ sao về việc hiện nay nhiều trường không giảng dạy VHNN hoặc dạy rất sơ sài?

Đối với tôi, điều này không có gì là lạ cả. Đó là do các phần kiến thức thuộc về VHNN ít khi được đưa vào đề thi nên mới xảy ra tình trạng như thế. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nếu đã đưa VHNN vào chương trình giảng dạy thì phải làm sao cho đồng nhất việc dạy ở tất cả các trường. Còn nếu có trường dạy, trường không vì chỉ học cho biết thêm thì đừng nên đưa vào chương trình.

Theo quan điểm của thầy thì có nên cho giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN không?

Tôi không bức xúc về chuyện hiện nay VHNN chỉ được dạy như một kiến thức phụ trong môn Văn ở trường nhưng đúng là nếu để giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN thì sẽ tốt hơn rất nhiều. Đây là một việc nên làm. Cũng giống như khi ta học Toán, đó là một sự tổng hợp từ nhiều nền Toán học trên thế giới. Ta đâu có phân biệt, hay nói là đang học “Toán học Việt Nam”. Tương tự như vậy, tôi muốn môn Văn học cũng được nhìn nhận như thế. Càng học được từ nhiều nước khác nhau, ta càng có cái nhìn toàn diện và quan điểm đúng đắn hơn.

Theo thầy, việc học VHNN ngày xưa và bây giờ có gì khác nhau?

Ngày xưa, vào thời tôi thậm chí còn không có môn VHNN. Môn Văn được gọi bằng những cái tên như: “Việt Văn”, “Quốc Văn”, “Văn học Hán-Nôm”, “Văn học Việt-Hán”. Như vậy là ngay cái tên môn học cũng đã xác định rất rõ là chỉ dạy VHVN. Việc đặt tên môn Văn học như chương trình bây giờ là chính xác hơn.

Nếu là vậy thì ngày xưa thầy học VHNN từ những nguồn nào, bắt đầu từ khi nào mà thầy có ý thức nên học VHNN?

Từ bé đến nay, tôi chưa học VHNN một giờ nào theo nghĩa đến trường học. Tôi tự học chủ yếu qua sách báo, những tác phẩm nghiên cứu dịch thuật. Tôi bắt đầu có ý thức về việc này từ năm lớp 6. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ nếu VHNN được dạy một cách đàng hoàng, chính thức trong nhà trường thì vẫn vui hơn. Điều này cũng giống như khi bạn yêu mến một bản nhạc nào đó. Bạn có thể tự nghe nó một mình ở nhà cũng được nhưng cảm giác đến nhà hát nghe nhạc sống vẫn thích hơn phải không nào?

Thầy nghĩ như thế nào khi có người nói rằng việc học VHNN quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của học sinh. Cụ thể là các em sẽ suy nghĩ và viết văn theo cách của người phương Tây, của nước ngoài, không còn là của người Việt Nam nữa?

Đối với bản thân tôi, những chuyện khi tôi viết văn là những chuyện có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào. Và tôi thích văn chương như thế hơn là phải tự bó buộc mình khi viết với suy nghĩ rằng: “Tôi là người Việt Nam. Tôi chỉ viết những chuyện thuộc về Việt Nam.” Chẳng hạn như một trong những truyện cực ngắn mới nhất của tôi có câu như thế này: “Là người cuối cùng được phóng vào vũ trụ, anh nhìn thấy trái đất nổ tan.” Đó là chuyện có thể xảy ra ở bất cứ đâu mà cũng có thể chẳng xảy ra ở đâu cả. Nó chỉ nói về cảm giác của một con người cô đơn, lạc loài nói chung. Tôi muốn nhắn với các bạn như thế này: “Cứ viết những gì mình thích, những gì mình nghĩ.”

Ảnh: Ông Đồ Nghệ
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Cafe sáng