Nối kết với chúng tôi

Chuyện người cầm bút

Ngôn từ có quyền năng xóa bỏ và bóp méo: Một cuộc phỏng vấn với Madeleine Thien

“Ngôn ngữ thật mỏng manh. Ngôn từ có quyền năng xóa bỏ và bóp méo nhiều thứ. Công bằng, lý trí, dân chủ, tự do, lòng tốt, sự thật – chúng ta sử dụng những từ này phục vụ cho các ý định khác xa nhau. Chúng ta dùng chúng để phục vụ cho cả nhân đạo và bạo lực sâu sắc.”

Published

on

Madeleine Thien là tác giả nổi tiếng quốc tế với bốn tác phẩm hư cấu, bao gồm tập truyện ngắn Simple Recipes (tạm dịch Những công thức giản đơn), các tiểu thuyết Certainly (tạm dịch Chắc chắn) và Dogs at the Perimeter (tạm dịch Những chú chó trên vành đai). Cuốn tiểu thuyết gần đây nhất của cô, Do Not Say We Have Nothing (Phương Nam Book đã dịch và phát hành tại Việt Nam với tựa đề Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền1), là câu chuyện hấp dẫn về các thế hệ bị cuốn vào di sản thời kỳ Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông và sự kiện Thiên An Môn. Cuốn tiểu thuyết được ca ngợi rộng khắp trong giới phê bình Anh ngữ và từng lọt vào danh sách rút gọn của giải Man Booker, cũng như nằm trong đề cử Huy chương Andrew Carnegie cho tác phẩm hư cấu xuất sắc. Mới đây, Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền đã thắng hai giải thưởng văn học uy tín nhất Canada: giải Toàn quyền Canada cho tác phẩm hư cấu và giải thưởng Giller. Dẫn lời ban giám khảo giải Toàn quyền Canada, cuốn sách được nhận định là “một tiểu thuyết thanh lịch, đa sắc, hoàn hảo, tựa như một tẩu pháp2 trình bày đời sống các cá nhân, tập thể và các thế hệ bị vướng vào mớ bòng bong lịch sử.”

David Chariandy (DC): Chúc mừng những danh hiệu mới nhất, Madeleine. Tôi biết chị đã có một năm vô cùng bận rộn.

Madeleine Thien (MT): Tôi thấy như mình đang bay qua hầm gió! Nhưng cảm giác vẫn ổn.

DC: Là người ngưỡng mộ tác phẩm của chị từ lâu, tôi muốn bắt đầu bằng một câu hỏi về cách mà chị đã chuyển từ tiểu thuyết trước đó, Dogs at the Perimeter nói về nội chiến Cambodia, sang Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền với bối cảnh cách mạng văn hóa Trung Quốc và những cuộc biểu tình tại Thiên An Môn. Cả hai tiểu thuyết đều bàn về những cá nhân bị cuốn vào lịch sử đau thương của tổ quốc, nhưng ở Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền có sự chuyển hướng nổi bật sang âm nhạc. Làm thế nào và tại sao mà âm nhạc, đặc biệt là nhạc cổ điển phương Tây lại trở thành đội hợp phối tràn đầy năng lượng trong cuốn tiểu thuyết này?

MT: Tôi thấy buồn không tưởng sau Dogs at the Perimeter, vì tôi bắt đầu nghĩ rằng bản thân ngôn ngữ mâu thuẫn với chính những điều ta cần ở nó: để nghe, để nói, để hiểu. Ngôn ngữ thật mỏng manh. Ngôn từ có quyền năng xóa bỏ và bóp méo nhiều thứ. Công bằng, lý trí, dân chủ, tự do, lòng tốt, sự thật – chúng ta sử dụng những từ này phục vụ cho các ý định khác xa nhau. Chúng ta dùng chúng để phục vụ cho cả nhân đạo và bạo lực sâu sắc.

Một trong những nền tảng nghệ thuật và câu hỏi mang tính khái niệm trong Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền, là làm thế nào để ngôn ngữ tự nó hoàn thiện, làm sao để gắn kết một từ và ý nghĩa của nó khi chúng rất dễ bị tách ra? Làm cách nào để chúng ta tìm được ngôn từ để tư duy theo nhiều lối khác nhau? Âm nhạc, toán học, nghệ thuật thị giác, với những hình thái ký hiệu riêng biệt, đều làm thực tế trở nên phức tạp. Lấy ví dụ, Bản giao hưởng số 5 của Dimitri Shostakovich nổi tiếng với những cách diễn giải khác nhau. Cách hiểu đầu tiên (và ơn trời là phổ biến nhất, vì chính cách hiểu này có lẽ đã cứu sống Shostakovich), rằng nó “đại diện cho những lý tưởng cao đẹp nhất của Hiện thực Xã hội chủ nghĩa…[và] lời đáp trả sáng tạo của một nhà soạn nhạc Xô Viết đến những lời phê phán công tâm”. Cách hiểu thứ hai là sự công khai thương tiếc vì bạo lực thảm khốc xảy ra trong suốt các chiến dịch chính trị và thanh trừng của Stalin.

Trong kỷ nguyên Baroque và Lãng mạn, âm nhạc cổ điển phản ánh những đổi thay chính trị và trong Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền, nó nói lên nhiều điều về các nhạc sĩ Trung Quốc sống giữa thời cách mạng. Âm nhạc bộc lộ những ý tưởng phản thời thế, nó giữ cho cuộc sống muôn màu, nó là giọng nói đa tầng nghĩa. Hình thái âm nhạc, xét theo phương diện cấu trúc, đặt ra câu hỏi làm sao để sự thay đổi mang tính cách mạng có thể sản sinh ra giữa vòng tuần hoàn cũ mèm của những việc đã xảy ra? Làm sao để ta mở lòng mình chào đón những bước nhảy đột phá mà không phá hủy tổng quan?

“Âm nhạc bộc lộ những ý tưởng phản thời thế, nó giữ cho cuộc sống muôn màu, nó là giọng nói đa tầng nghĩa.”

DC: Trong đoạn gần mở đầu Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền, khi Marie nghe Bản Sonata số 4 cho piano và violin của Bach, cô đã mô tả: “Thuật đối âm giữ nhà soạn nhạc, nhạc công, thậm chí cả thinh không ở cùng với nhau; còn âm nhạc, với những làn sóng xoắn ốc giữa khổ đau và hân hoan, là tất cả những gì tôi còn nhớ”. Tôi bị ấn tượng bởi, dù vô tình hay cố ý, trải nghiệm nghe nhạc của Marie luôn gắn bó chặt chẽ với những hồi tưởng của cô về cuộc đời của cha mình.

MT: Vô tình là từ hoàn toàn chính xác. Những gì cô ấy nghe thấy, tức âm nhạc, thứ nghệ thuật trừu tượng này, chứa đựng những mâu thuẫn – những điều cô ấy biết và không biết, những điều cô ấy đồng thời yêu thương và chối bỏ, cô ấy là ai và không thể chẳng trở thành ai – trôi qua trong đúng một giây phút. Trong khi đó, ngôn ngữ lại tuyến tính. Đôi khi tôi nghĩ thử nghiệm trong nghệ thuật kể chuyện phần nào đó thách thức sự tuyến tính của ngôn ngữ, mãnh liệt hơn là sự tuyến tính của thời gian. Hình tượng, mô-típ, cộng hưởng, vọng âm, và những gì Mikhail Bakhtin gọi là giọng-nước đôi3, tất cả làm bóp méo những giá trị bề mặt phẳng lặng và chồng chéo các ý tưởng khác nhau trong khi vẫn giữ được mọi thứ rõ ràng. Việc này giống như gấp tờ giấy phẳng phiu để tạo ra nhiều chiều hơn.

DC: Trong một dịp phỏng vấn và giao lưu đọc sách gần đây, chị đã gợi ý ngắn gọn rằng kết cấu của Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền dựa trên Bản giao hưởng Goldberg Variations của Glenn Gould. Ý của chị lúc đó là gì?

MT: Goldberg Variations bắt đầu với một giai điệu rất đơn giản, theo sau bởi ba mươi biến tấu và đối âm dựa trên mô-típ cho điệu nhạc cơ bản, cuối cùng kết thúc bằng các điệp khúc. Khi ta trở ngược lại từ đầu, ta đã đi xuyên qua nhiều thế giới. Cứ như thể Bach đang nói với chúng ta, khởi đầu và kết thúc, sinh và tử đưa chúng ta trở lại cùng một nơi, nhưng ở giữa là những biến thể phi thường của niềm vui và nỗi buồn cùng nhiều trạng thái mà ta chẳng thể gọi tên. Âm nhạc là cả sự cụ thể (sóng âm) lẫn phù du (ký ức, cảm xúc), nó đồng thời gợi lên sự cụ thể và phù du trong chúng ta.

Tôi muốn sử dụng mô hình của Bach và những cảm quan chuyển động của ông để viết một cuốn tiểu thuyết đã biết được khởi đầu và kết thúc (được lịch sử ghi lại), nhưng vẫn tự do trong cách hiểu câu chuyện. Mọi việc vẫn lặp lại, nhưng bạn không thể dự đoán trước được điều gì. Lịch sử vẫn quen thuộc: khát vọng hướng tới utopia4, cách mạng, những cơ chế hủy diệt khoác lớp vỏ sáng tạo (để kiến tạo thế giới mới, chúng ta phải hủy diệt cái cũ, hoặc những slogan kiểu: “nếu cái đẹp chống lại cái xấu, hãy chọn cái xấu”, v.v) và ngược lại. 

Tôi nghĩ tới mô tả của Italo Calvino về thành phố vô hình Berenice, thành phố bất công, nơi đồng thời chứa một Berenice khác, thành phố công bằng. Chúng liên tục chuyển hóa lẫn nhau, cái này nằm trong cái kia, vô cùng tận. Hạt mầm cái ác mãi mãi bén rễ bên trong cái thiện; tình yêu công lý đâm chồi mỗi khi bị đốn hạ.

“Hạt mầm cái ác mãi mãi bén rễ bên trong cái thiện; tình yêu công lý đâm chồi mỗi khi bị đốn hạ.”

DC: Khi đề cập đến Cách mạng Văn hóa và sự kiện Thiên An Môn, Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền đại diện cho các sự kiện mang tính toàn cầu. Nhưng đồng thời, thành công lớn của cuốn sách cũng nằm ở việc gợi mở đời sống phong phú thường ngày và xúc cảm thân mật duy trì xuyên suốt tiểu thuyết. Chị đã viết cuốn sách phức tạp này như thế nào, bởi thực tế chị có thể được coi là một nhà văn Canada, là “người phương Tây”, hay “người Trung Quốc tha hương”. Giống như nhân vật Marie trong tiểu thuyết của mình, chị dường như sinh sống trong một nền văn hóa và xã hội tách biệt với Trung Quốc đương đại.

MT: Anh nói đúng rồi, David. Thật là phức tạp. Tôi thực sự bị cách li về mặt văn hóa và ngôn ngữ. Nhưng đồng thời, giữa tôi và nền văn hóa Trung Hoa có sự thân thuộc trẻ thơ (nhiều năm học thư pháp, lớp múa truyền thống, phim truyền hình Hồng Kông những năm 80, gia đình, v.v). Tôi luôn cảm thấy tuy lịch sử có vẻ xa xăm (Cambodia, Indonesia, Chile, Ghana, Iraq, liên tu bất tận), trên thực tế nó phơi bày chính chúng ta. Chúng là những câu chuyện liên quan đến ta mà ta cố quên.

Tôi nghĩ, cho dù tôi viết ra thứ gì đó gần gũi hay xa lạ, tôi luôn tự vấn về những gì tôi cho rằng mình biết. Những giả thuyết về thế giới chiếm phần lớn không gian não bộ của ta. Kiến thức có sẵn có thể che mù chuyện xảy ra trước mắt. Đó là niềm vui và cũng là thách thức lớn khi tôi viết Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền. Tôi không phải nhạc sĩ, tôi không sống thời Cách mạng Văn hóa, và tôi xem những cuộc biểu tình ở Thiên An Môn năm 1989 trên truyền hình. Tôi bắt đầu từ chỗ biết rất ít, nhưng tôi tin rằng sự chu đáo, sáng tạo cùng kỷ luật bằng cách nào đó sẽ mang cả thế giới phức tạp vào trong tầm nhìn của tôi. Có lẽ khát khao nghệ thuật chính là làm cho cái gì đó trở nên sống động. Nghệ thuật có quá nhiều khuôn phép, thậm chí khó chịu, và lại ràng buộc cùng tự do.

Ảnh: Nhà Sách Phương Nam Nguyễn Văn Bình, TP. HCM

DC: Tôi cho rằng chị không quan tâm lắm đến những người có thể đe dọa kiểm duyệt hay những hậu quả nghiêm trọng vì những gì chị viết.

MT: Đúng, rất đúng. Có hàng tá chủ đề nhạy cảm tại Trung Quốc, các nhà văn phải quyết định họ sẽ sáng tạo ra sao trong tình cảnh như vậy. Và kết quả thật mê hoặc, đầy đủ từ giả tưởng đến ngụ ngôn rồi tất cả mọi thứ ở giữa, kể cả siêu-ảo5, thể loại mà Ning Ken gọi là “chaohuan”.

Tôi luôn nghĩ đến việc chúng ta sử dụng sự tự do của mình như thế nào, và dùng nó ít ỏi ra sao. Ở Bắc Mỹ, nhận thức khán giả, văn hóa xuất bản, tiền tài, giải thưởng, chương trình MFA6, hội nhóm và xu hướng, v.v, tất cả đều định hình nền văn học và quyết định của tác giả. Bắc Mỹ thật lạ bởi giới nghệ sĩ dễ dàng cảm thấy họ cần phải áp đặt giới hạn cho chính mình. Thỉnh thoảng điều khó nhận thấy nhất là khi chúng ta lựa chọn gói gọn mình trong khoảng không gian bó hẹp, mà Doris Lessing gọi là nhà tù tự thân.

DC: Trong tiểu thuyết Dogs at the Perimeter, nhân vật Janie tiến hành tổ chức sắp xếp và giải thích các “tháp nghiên cứu chứa những ghi chú, đoạn trích, bản sao phỏng vấn hay những bản thu âm” của việc ban hành tội diệt chủng do Khmer Đỏ ủy quyền và lưu giữ. Công việc của Janie khiến tôi nghĩ rằng phải chăng các nhà văn luôn tìm cách lí giải tận cùng những sự kiện thảm khốc như Holocaust7 hay Transalantic Slavery8 để rồi đối mặt với văn khố khủng khiếp do những kẻ bạo tàn tạo ra.  

Tuy nhiên, trong Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền, Marie dựng nên một “kho lưu trữ” rất khác biệt. Cô ấy thừa hưởng từ cha mình một loạt sổ tay đề Những Bản Ghi, hóa ra là một mớ lộn xộn và gần như là “tiểu thuyết” vô hình. Nó thực sự là kho tàng chứa đựng những huyền thoại, lịch sử, trải nghiệm chép tay ngày càng dài ra sau mỗi lần đổi chủ. Thông qua Những Bản Ghi, Marie đủ sức chắp nối cuộc đời cha cô cùng lịch sử Trung Quốc hiện đại. Chị có thể chia sẻ một chút về bước ngoặt này không, khi mà cuốn tiểu thuyết chuyển từ bạo lực in hằn trên thư khố sang những mảnh đời được sinh ra từ ghi chép vụn vặt?

MT: Đó là điểm mấu chốt, khi những kẻ chiến thắng hay kẻ thủ ác thường lưu giữ những bản ghi như là chứng cứ của tài năng và sức mạnh, thậm chí là quyền định đoạt số phận con người. Bọn chúng mưu toan định hình lại thế giới. Văn thư có thể mở và đóng, tạo cho người giữ nó ảo giác họ kiểm soát được khởi đầu lẫn kết thúc câu chuyện. Và rằng họ chính là thượng đế, nắm giữ dòng chảy thời gian.

Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền đưa ra lập luận: tất cả chúng ta đều là tác giả. Tiểu thuyết, thơ ca, hình ảnh, bản sao sự vật, khổ nhạc, bản thu âm, tất tần tật, đóng vai trò bản ghi không chính thức, một bản ghi lộn xộn, rộng mở và hỗn độn tựa dòng sông. Không ai định được mở đầu hay kết thúc. Những Bản Ghi không ngừng mở ra nhiều biến thế, mãi mãi dang dở chẳng tìm thấy tác giả đích thực. Đối với độc giả, họ sẽ chẳng thể hiểu nó là tấm gương soi ngược quá khứ hay là ảnh tượng của một tương lai đang tới gần. Độc giả cũng chẳng biết nó là chuyện bịa hay lịch sử. Tất cả mọi điều họ biết là Những Bản Ghi đã cầm giữ họ, và họ chẳng thể quên được. Nó đã trở thành họ.

DC: Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền được tạo ra bởi phụ nữ cũng như kể về họ. Tuy câu chuyện liên quan đến nỗ lực “tìm” cha của Marie, nó được trần thuật qua giọng kể của cô và kết nối bằng tình bạn với người phụ nữ ở Vancouver tên là Ai-Ming. Hơn nữa, cuốn tiểu thuyết cẩn trọng ghi lại cuộc sống của những thế hệ phụ nữ trước đó, tỉ như người dì và người bà vĩ đại của Ai-Ming (Swirl và Đại Dao Mẫu), đặc biệt là con gái của Đại Dao Mẫu, Zhuli – cô trở thành nghệ sĩ vĩ cầm tài giỏi. Chị đã bao giờ có ý định lên đường khám phá đồng thời lan tỏa những số phận phức tạp của phụ nữ Trung Quốc trong cuộc cách mạng hay chưa?

MT: Tôi nghĩ ban đầu mình không có ý định đó, nhưng đó lại là cách tôi trải nghiệm thế giới. Khi nói về các nhân vật của tôi, họ gần như hoàn toàn là chính họ, cả đàn ông lẫn phụ nữ. Họ bước vào thế giới với khí khái mạnh mẽ, đặc biệt trường hợp của Đại Dao Mẫu, đó là cái tôi cá nhân chống lại cái tôi xã hội. Đó là điều mà ta thường gọi là con người chống đối xã hội. Tôi cho rằng anh đã hiểu đúng. Trong tiểu thuyết này, vì nhiều lý do mà Kai và Chim Sẻ đã chấp nhận hoặc thỏa hiệp hoặc từ bỏ cái tôi của mình, còn Đại Dao Mẫu, Swirl hay Zhuli cự tuyệt điều đó. Họ tinh khôi từ tận bên trong, và ít khi ảo tưởng.

DC: Cuốn tiểu thuyết của chị mang đến cái nhìn thoáng qua về hàng triệu sinh mạng bị tước đoạt bởi nạn đói tàn khốc Đại Nhảy Vọt tạo ra, cũng như những mạng sống đánh mất trong Cách mạng Văn hóa và sự kiện Thiên An Môn. Tuy vậy, phần ám ảnh nhất trong câu chuyện không chỉ là việc chối bỏ bản thân mà còn phải tạo ra cái tôi mới dưới sự kiểm soát của nhà nước. Tôi nghĩ ở điểm này cuốn sách khắc họa những mật nghị căng thẳng, những phiên đấu tố, và không thể thiếu những cá nhân như người cha Jiang Kai của Marie – tái hiện thông qua lời tự thú bị ép buộc cùng thứ nghi thức mệt mỏi “tự phê bình”.

MT: Vâng, con người mới. Một xã hội tân thời cùng một Trung Quốc hiện đại sinh ra từ bạo lực cách mạng. Vậy câu hỏi có thể đặt ra là xã hội cũ biến đi đâu? Câu trả lời là có lẽ nó đã nhập vào vào bên trong con người: thành như ký ức, như hệ giá trị xưa cũ hay lòng kiên trung chẳng bật thành lời. Vậy nên mỗi người phải tự gột sạch chính mình thông qua tự phê bình cùng các phiên đấu tố. Anh đã đưa ra một nhận định đau buồn và chính xác rằng nhà nước kiếm soát cái tôi cá nhân, rằng cái tôi đó bị đem đi phục vụ nhà nước, Đảng và ý thức hệ. Đó là chế độ quân phiệt, chẳng khác gì việc tạo ra binh sĩ hay người tiêu dùng, đó là cách chúng ta khống chế suy nghĩ để lợi dụng thể chất và tinh thần của cá nhân. Cái ý tưởng rằng chính phủ có thể chiếm hữu cái tôi và thể xác của cá nhân có vẻ không thể bị tiêu diệt, nhưng ta phải cố tiêu diệt nó.

“Cái ý tưởng rằng chính phủ có thể chiếm hữu cái tôi và thể xác của cá nhân có vẻ không thể tiêu diệt, nhưng ta phải cố tiêu diệt nó.”

DC: Khi Marie đọc lời tự phê bình của cha, cô ấy diễn tả cái cách mình “lướt xuyên qua nhiều cái tôi mà ông ấy cố hình thành, cái tôi bị ruồng bỏ và được tái tạo, cái tôi muốn tan biến nhưng không thể”. Tôi tự hỏi liệu có mối liên hệ nào ở đây với hình thức cũng như giọng kể trong tiểu thuyết của chị. Mặc dù Marie là người duy nhất lên tiếng trong câu chuyện, nhưng những gì độc giả chúng tôi bắt gặp lại là một lượng đáng kinh ngạc các quan điểm cùng nhân vật nổi trội tại nhiều thời điểm và bối cảnh. Câu chuyện khởi đầu với chỉ một giọng kể về người cha đã mất sau cùng vỡ thành vô vàn lăng kính của cái tôi.

MT: Đẹp thật đấy, David. Tôi cho rằng mỗi nhân vật là một ô cửa hay cổng vào, một loạt cánh cửa dẫn người đọc bước qua. Với tôi, Marie là người bảo tồn những bản ghi. Nói về hồ sơ Thiên An Môn – tập hợp các tài liệu bí mật được tuồn ra khỏi Trung Quốc, ghi lại phản ứng từng ngày từng giờ của chính phủ trước các cuộc biểu tình tại Thiên An Môn – những phần tử vô danh thu thập chúng được gọi là “Người Biên dịch”. Marie là loại người như thế. Cô chưa bao giờ chấp nhận cha mình tự sát. Nhưng chuyện cô kể chẳng phải chuyện cha cô, càng không phải tiểu sử. Thay vào đó cô kể câu chuyện về những người ông ấy quý mến – Chim Sẻ cùng Zhuli – và tôi đồ rằng cô kể như vậy để nhắc bản thân luôn nhớ tới khả năng yêu thương vô bờ bến của người cha. Hệ quả của tình yêu là trên thực tế câu chuyện đã chuyển dịch vì nó mang Ai-Ming (con gái Chim Sẻ, rời Trung Quốc sau cuộc biểu tình năm 1989) bước vào đời cô. Tôi thích cách anh dùng từ lăng kính.

DC: Chiến thắng giải Giller của chị diễn ra ngay trước ngày kết thúc cuộc bầu cử sôi động và đầy lo âu của nước Mỹ. Nhiều người lo ngại đến tương lai nền dân chủ Mỹ. Marie tuyên bố ở gần cuối tiểu thuyết một dòng thế này: “Cuối cùng, tôi tin những trang này cùng Những Bản Ghi đáp lại ước ao kiên định của chúng ta: hiểu về thời đại mà ta đang sống”. Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền giúp ta hiểu hiện thời như thế nào?

MT: Tôi nghĩ cuốn sách giúp ta hiểu hiện thời theo lối khó đi. Thông qua việc dõi theo từng li từng tí các chiến dịch chính trị tại Trung Quốc, mà trước tiên là tạo ra những tình trạng theo đó bất cứ ai cũng có thể bị coi là kẻ thù của nhân dân; kế tiếp thiết lập giọng điệu và ngôn ngữ phù hợp với diễn văn chính trị. Với tôi, khi bài diễn văn trở nên chói tai, khi chỉ có hét lên mới nghe được thì có nghĩa chúng ta đang trong thời điểm nguy hiểm. Đồng nghĩa với việc tất cả chúng ta chỉ được chọn một quan điểm cực đoan và sự va chạm giữa các giá trị cực đoan dẫn tới bạo lực. Cuộc bầu cử ở Mỹ chứng minh hết lần này tới lần khác, người ta sử dụng “chúng tôi” hay “họ” và chúng tôi/họ đổi chỗ tùy thuộc ai được nhắc tới trong diễn văn. Đó là ham muốn thuần túy của con người. Cả hai thái cực cực đoan đều không chấp nhận hồ nghi, tiết chế hay hòa nhập. Cực đoan sẽ dẫn đến yêu cầu thanh lọc. Sự thanh lọc sau cùng ăn sâu vào máu bất kể chủng tộc, đẳng cấp. Tình trạng này làm cho các chiến dịch chính trị ở Trung Quốc càng thêm bạo tàn, do chúng là công cụ thanh lọc.

Đọc trích đăng chương 1 tại đây

DC: Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền là chiến thắng phi thường của nghiệp viết, tôi biết nhiều người sẽ đọc rồi luận bàn nó những năm sắp tới. Tuy vậy, tôi tự hỏi liệu tôi có nên kết thúc cuộc phỏng vấn bằng việc đề cập đến cuốn tiểu thuyết trước đó của chị, Dogs at the Perimeter, tôi mừng khi nghe dự kiến nó sẽ sớm được Norton xuất bản ở Mỹ. Phải chăng lúc viết Đừng Nói Chúng Ta Không Lợi Quyền đã giúp chị rõ hơn về các dự định cũng như định khu chính trị trong cuốn tiểu thuyết trước?

MT: Tôi thích câu hỏi này, nhưng thật khó nhìn lại những cuốn sách theo lối trừu tượng rồi đi nói về dự định. Chúng là cách tôi nhận thức và do đó là cách tôi sống. Tôi luôn luôn có nhiều câu hỏi. Khi sống sót sau các sự kiện thảm khốc, bản năng con người tôi là nhìn về phía sau để xem lại khoảnh khắc đỉnh điểm của chuyện đã xảy ra, để thấy con đường tôi đi trông ra làm sao. Tại sao ta chọn cái này mà không phải cái kia? Điều gì làm ta tin tưởng, điều gì làm ta mù quáng? Tư duy cho phép ta xuyên ngược qua từng ô cửa để hồi tưởng lại mỗi dấu chân của mình, và từ sự am hiểu đó ta hình dung ra cuộc sống tiếp diễn thế nào. Để mà sống tốt hơn. Tôi nghĩ Dogs at the Perimeter là cuốn sách định hình con người tôi, bởi câu chuyện thật cam go và là nhiệm vụ bất khả thi. Tôi đặt niềm tin vào cuốn tiểu thuyết ấy, vì nó tựa hòn đá nhỏ xíu chìm trong đại dương.

Hết.

3V dịch.

Bản gốc được thực hiện bởi David Chariandy, đăng tại Literary Hub

Ảnh đầu bài: Lithub.com

Chú thích:

David Chariandy sống tại Vancouver và là giảng viên Anh ngữ tại đại học Simon Fraser. Tiểu thuyết đầu tay của ông mang tên Soucouyant xuất bản quốc tế rộng rãi đồng thời được đề cử 11 giải thưởng và danh hiệu.

  1. Trong bài viết gốc ghi là Do Not Say We Have Nothing nên người dịch giữ nguyên kiểu viết hoa các chữ cái đầu.
  2. Tẩu pháp (fugue) là tiến trình nhạc Phức điệu trong đó một chủ đề được trình bày lúc ban đầu bằng mối tương quan chủ âm/át âm, sau đó được khai triển bằng kỹ thuật Đối âm. Thuật ngữ Tẩu pháp còn ám chỉ một tác phẩm âm nhạc nhiều chương (tương tự như thuật ngữ Sonata) có cấu trúc chặt chẽ, với quá trình sáng tác có tính cách luận lý (logic) (theo wikipedia). Ở đây ý của ban giám khảo có lẽ muốn nói cuốn tiểu thuyết giống như một bản nhạc.
  3. Nguyên bản là double-voicedness.
  4. Từ mô tả xã hội không tưởng, hay vườn địa đàng trần gian được Thomas More sử dụng đầu tiên.
  5. Nguyên bản là ultra-unreal.
  6. Master of Fine Arts – Thạc sĩ Mỹ Thuật.
  7. Nạn diệt chủng người Do Thái của Đức Quốc xã.
  8. Buôn bán nô lệ từ châu Phi xuyên Đại Tây Dương sang châu Mỹ ở thời kỳ đầu chủ nghĩa thực dân.

Đọc tất cả những bài viết của 3V.


1 Comment

1 Bình luận

  1. Quốc Việt

    Tháng Năm 20, 2019 at 12:22 chiều

    Lên bài rồi này, mừng quá :3

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyện người cầm bút

Lê Khải Việt và những cảm hứng mong được kể lại

“Trên những trang sử, theo một nghĩa nào đó, không ai có thể có căn cước xác định.”

Published

on

By

Tôi đọc Chuyến bay tháng ba tình cờ vào đúng những ngày cuối tháng Tư đỏ lửa, nhưng không phải của hơn 45 năm trước mà là ở thời, ngày và giờ hiện tại. Thật trùng hợp khi mà đây cũng là một cuốn sách (phần nhiều) nói về chiến tranh, và hơn hết, còn về những điều đến nay ta vẫn không thể biết ai đúng, ai sai, ai phải, ai trái. Những dòng đầu của Lê Khải Việt làm tôi nhớ nhiều tới The Sympathizer của Viet Thanh Nguyen. Đơn cử cả hai đều viết về chiến tranh, đều là hành trình lội ngược về ký ức; nhưng còn hơn thế, đó là nỗ lực nhằm lộn trái cái tôi, đi sâu vào trong câu hỏi muôn đời của cái căn bản nhất và cốt tủy nhất khi sinh ra dưới nhân dáng con người.

Tôi cũng rất thích Austerlitz của W. G. Sebald vì những dòng hồi tưởng dài ngoằng, về những nhà ga và những con người nay đã chìm vào dĩ vãng. Càng thích hơn nữa những tấm ảnh trong cuốn sách ấy, vì đó là những hiện-thực-hóa câu văn để cho tâm trí bớt phần mỏi mệt vì những tưởng tượng phải vắt kiệt ra để tiêu hóa chúng. Và trong cuốn sách này, ngôi miếu cũ với ký hiệu EE vòng ngoài chữ C, tấm ảnh về chiếc trực thăng trên nóc chuồng cu vào ngày 29 tháng Tư hay cảnh chạy loạn của một gia đình đông đúc từ An Lộc chạy ra Sài Gòn… thực sự khiến tôi thích thú. Tôi hỏi anh về cảm hứng viết nên cuốn sách này, bởi nhẽ, những tấm ảnh, tư liệu hay những tưởng tượng khơi nguồn ngòi bút là một ấn tượng vô cùng sâu xa mà ta không thể chối cãi, dẫu ở vị thế nào hay chịu ảnh hưởng ra sao.

*

Dễ thấy một vài câu chuyện trong Chuyến bay tháng ba được khơi nguồn dựa trên những tư liệu lịch sử. Vậy quá trình sáng tạo nên cuốn sách này diễn ra thế nào, thưa anh?

Tôi khởi viết những truyện ngắn trong tập này từ cảm hứng của người viết, chứ không phải từ tư liệu lịch sử. Đương nhiên, khi viết tôi dựa trên những tư liệu lịch sử nhất định chứ không hoàn toàn hư cấu. Ví dụ như chi tiết về người đội trưởng toán biệt kích là dựa theo chuyện có thật của một vị cựu binh Mỹ ở Việt Nam mà vài năm trước người ta bàn tán khá sôi nổi. Ngoài cuốn sách của tác giả Vistica (The Education of Lieutenant Kerrey – Người viết) về chuyện này, tôi còn đọc một vài cuốn hồi ký khác của những biệt kích Navy SEAL để hy vọng miêu tả chân thực hơn.

Những chi tiết trong những truyện khác đều dựa vào những gì tôi đã đọc được trong sách lịch sử. Đó là phần tư liệu. Quay trở lại câu hỏi chính. Tôi viết những truyện ngắn trong cuốn sách này hoàn toàn dựa vào cảm hứng muốn kể lại cái gì đó, bằng cách nào đó, về một cuộc chiến và một thực tại mà tôi hình dung được. Về chuyện sáng tạo, thông thường trước khi viết tôi hay đọc lại vài trang của những tác giả ưa thích. Điều đó đem lại một chút kích thích để tay mình đỡ ngại ngùng hơn trên bàn phím.

*

Và cũng phải khẳng định rằng, đối với tôi, đây dường như không phải là một tuyển tập truyện ngắn dẫu cho dung lượng vừa phải của những kết cấu cấu thành nên nó. Mà cách gọi khác (có vẻ toàn diện và đầy đủ hơn) rằng chính nhưng văn bản này của Lê Khải Việt đã xây nên một bức tranh khớp nối hoàn hảo giữa ba thành tố - ký ức, thời gian và sự chuyển dời, để làm nên một cõi nhân tình thế thái mênh mông và đầy chuyển động. Trong đây ẩn chứa những câu chuyện tình của anh bộ đội và cô học sinh, những mưu mô tiếm quyền tự sâu bản chất hay những mối quan hệ đời sống đã đến hồi kết… mà anh gọi rằng là những “đoản văn vô thưởng vô phạt”. Nhưng rốt cuộc rồi liệu có hay không cũng không quan trọng, bởi lẽ, cái lững thững, lơ lửng; cái mất kết nối hay vô căn cước này đã xuất hiện tràn khắp một vùng không gian – có thể là những đặc trưng chiến tranh, mà cũng có thể rất là con người; không chút ngơi nghỉ hay khi vắng bóng.

*

Nói về thể loại của Chuyến bay tháng ba, liệu có thể cho rằng đây là một “tập truyện ngắn” bởi những sợi dây liên kết dẫu cho mong manh nhưng có tồn tại giữa các văn bản?

Nếu có một liên kết chung nào, như một chất liệu nền, thì đó là chiến tranh. Thật ra cũng có một hai truyện trong tập này chỉ là những đoản văn vô thưởng vô phạt, không dính dáng gì đến chiến tranh.

Nhân vật trong các câu chuyện của anh thường không có một căn cước xác định. Liệu đó là đặc tính của ký ức – sự bất định, hay ngầm ý rằng ai rồi cũng sẽ trở thành “nạn nhân” trong chính “trang sử” riêng bản thân mình?

Tôi cũng không rõ nữa. Có lẽ trên những trang sử, theo một nghĩa nào đó, không ai có thể có căn cước xác định.

*

Là tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, thế nhưng Chuyến bay tháng ba đưa tôi đi vào nhiều vùng từ trường khác nhau của các cách viết mới lạ. Tôi phát hiện một chút Kafka trong Đấu tranh, một chút George Saunders trong Căn phòng, và sau này, cả một chút lửng lơ của Sâm Thương hay Phan Triều Hải (như anh trả lời trong cuộc phỏng vấn) ở Ăn tối hay Ba điều ước. Nếu một người ngủ dậy bỗng chốc biến thành gián, thì ở đây bạn sẽ thấy loài rồng trên nóc miếu thờ trở về trong mơ. Nếu cặp đôi bị đưa vào phòng thí nghiệm thử loại Verbaluce ™ của một nhà khoa học dở hơi nào đó; thì căn phòng và một chỗ trũng trong cuốn sách này sẽ là điểm tụ phối cảnh làm trầm trọng hơn não trạng đã phân hai cực bởi do chiến tranh.

*

Một vài khoảnh khắc anh viết dễ gợi nhớ tới màu sắc của Franz Kafka hay George Saunders. Những nhà văn nào đã có tác động rất lớn lên anh?

Chắc chắn là Franz Kafka rồi. George Saunders cũng rất hay nhưng tôi chỉ mới đọc một cuốn của ông. Gần đây thì có Ray Bradbury. Tác giả Việt Nam thì Phạm Công Thiện, Nguyễn Huy Thiệp, Phan Triều Hải.

*

Và như đã nói, bởi những ý tưởng vượt thoát ra khỏi chiến tranh, tiếm quyền, tội ác… – bỗng chốc tôi nhận ra anh chỉ đang mượn ký ức như lớp vỏ ngoài của loài tôm sông. Cái lớp nhờ nhờ, sệt sệt mà ta đem đun hay đi nướng lên thành ra đỏ tươi vô cùng bắt mắt ấy thật ra vô nghĩa. Những điều xấu xa ẩn giấu trong đây qua lớp từ ngữ nay được mài khảm thành những cổ vật chìm giấu nghìn năm, nhưng có điểm chung là dù cho chúng được xử lý theo cách nào thì, rồi cũng sẽ vô dụng như lớp vỏ ấy, không một chút lợi cho vật bị ăn và người muốn ăn. Tôi hỏi anh vì sự vô nghĩa lý của chiến tranh, nhưng ngay cả khi chiến tranh xong rồi; niềm tỵ hiềm của người Việt hải ngoại với chính sách nhập cư của Trump, việc rút ra khỏi các chương trình bảo vệ khí hậu, việc xâm chiếm của đô thị hóa… thế sao vẫn còn? Anh không trải lời nhưng tôi biết một mặt nào đó, thinh lặng là câu trả lời tốt nhất.

*

Dễ thấy anh mượn chiến tranh chỉ như bộ mặt cho những “trò con trẻ” ẩn giấu đằng sau nhân tình thế thái. Dưới góc nhìn của một tác giả văn chương, anh nghĩ chất liệu đời sống có ảnh hưởng thế nào đến một cây viết?

Rõ ràng là cuộc sống chung quanh ảnh hưởng rất lớn đến một người viết. Ví dụ gần và rõ nhất là sự khác biệt trong văn chương của hai miền đất nước khi cuộc chiến diễn ra. Ở nước ngoài, ví dụ trường hợp Raymond Carver, ta có thể thấy sự thay đổi trong văn phong những tập truyện khi đời sống của ông thay đổi xoay quanh chứng nghiện rượu và cuộc hôn nhân trễ.   

Định hình nên cách viết riêng với cuốn sách đầu tay này, tôi hỏi anh thêm về những suy nghĩ rất riêng đối với nền văn chương hiện nay. Một thời đã qua của những tài năng sáng rực như Trần Dần, Nguyễn Huy Thiệp; một thời tiếp nối của Thuận, Nguyễn Bình Phương; hay vươn ra nước ngoài ở phía bên kia địa cầu với Ocean Vương và Linda Lê. Những nhà văn Việt Nam ở ngay tại đây và thời điểm này đối với văn học trong nước dường như đang đi xa quá. Họ không đủ sâu cũng chẳng đủ sát, họ nhợt nhạt, phai mờ và chìm nghỉm trong sự chọn lựa của độc giả. Họ ca ngợi những niềm ngây ngô tưởng như khó bề gọi thành văn chương. Họ già nua, cũ kỹ, hay nói như lời Nguyễn Huy Thiệp, rằng họ “tự phát thành danh” để “tùy tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa”.

*

Văn chương phương Đông hầu như luôn hướng về những bi kịch từ trong quá khứ. Liệu anh có nghĩ đã đến lúc những cây viết trẻ nên chuyển dịch sang những vấn đề mới hơn, sát sao hơn, ngay-bây-giờ và ở-tại-đây?

Tôi không nghĩ mình đọc đủ nhiều để nhận định về chuyện này. Tuy nhiên, đề tài mà tác giả lựa chọn để viết không nên bị bó buộc trong bất cứ giới hạn hay thành kiến. Quan trọng là tác giả đó viết hay hay dở, có chạm đến người đọc được không. Ngoài ra, những tác phẩm về quá khứ cũng có thể đang nói về hiện tại.

*

Từ quá khứ xa xưa hiện về trong ký ức đến cái hiện đại ào vào đời sống hiện nay, từ những xung đột ngoại quan đến những đối lập đời sống nội vi, từ vấn đề di dân đến người Việt hải ngoại ủng hộ các chính sách hạn chế nhập cư, từ biến đổi khí hậu đến đô thị hóa... Chuyến bay tháng ba là một nỗ lực tìm về những con người chung đã kịp chuyển hóa và bị đặt vào trong cảnh huống lưỡng nan của tình thế làm người. Sau rốt, những hệ giá trị đạo đức nào còn lại? Hay thậm chí, thực chất còn không hiện diện chính khái niệm ấy? Tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, nhưng gợi mở và đầy dấu ấn.

Hết.

minh (thực hiện)

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Trần Vân Anh: Về lòng can đảm, tôi nghĩ mình có bao la

Published

on

By

Tran Van Anh Hom nay me co vui khong

Tác giả Trần Vân Anh là một chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm: Editor-in-chief của Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt, Content Manager tại Tập đoàn CMG.Asia, Senior Beauty Editor của Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion…

Nhưng bên cạnh những chức danh đó, chị còn là một người mẹ.

Tác giả từng trải qua trầm cảm khi một mình nuôi dạy hai đứa con khiếm khuyết, rồi tự chữa lành, vượt mặc cảm khi nhận ra: bản thân phải hạnh phúc thì mới trở thành một người mẹ tốt của hai con.

Quyển sách Hôm nay mẹ có vui không? không là một cuốn sách nuôi dạy con khuôn mẫu. Nó mang dáng dấp của một cuốn nhật ký của bản thân tác giả hơn, nơi chị nhìn lại, suy ngẫm, và viết nên chính cuộc đời mình. Không đơn thuần là hành trình làm mẹ, đó còn là hành trình của người phụ nữ hiện đại, sai lầm rồi trưởng thành, sống vì con, và vì cả chính mình.

*

Chị có nhiều năm làm viết về mảng làm đẹp, sở hữu một website về làm đẹp vì sao chị lại viết cuốn sách đầu tay về chủ đề tâm lý giáo dục cho phụ nữ chứ không phải về chủ đề làm đẹp?

Tôi coi làm mẹ là sự nghiệp lớn nhất cuộc đời mình. Cho dù tôi rất yêu nghề nhưng phải thú thật là tôi luôn cố gắng cân bằng và dành ưu tiên cho việc làm mẹ nhiều hơn. Thế nên tôi luôn tìm tòi, học hỏi, khám phá bản thân cũng như từ những người xung quanh sao cho sự nghiệp làm mẹ của mình dễ chịu nhất, các con lớn lên hồn nhiên vui vẻ nhất. Cuốn sách Hôm nay mẹ có vui không? chính là những đúc kết khởi đầu chân thật nhất của tôi về sự nghiệp làm mẹ.

Là một người mẹ đơn thân, lại có công việc bận rộn, làm thế nào chị hoàn thành tốt vai trò làm mẹ đồng thời có một cuộc sống cá nhân vui vẻ?

Thời gian và lòng can đảm là hai thứ cần thiết nhất để một người mẹ đơn thân vừa có thể làm mẹ tốt vừa có thể tận hưởng cuộc sống cá nhân.

Vì thời gian là hạn hẹp trong một ngày nên tôi phải sắp xếp mọi thứ sao cho hợp lý nhất. Sai lầm lớn nhất của phụ nữ chúng ta là ôm đồm mọi thứ một mình trong khoảng thời gian hạn hẹp ấy. Tôi không như vậy, tôi sắp xếp và cùng thực hiện nó việc với các con. Có thể mọi thứ sẽ không hoàn hảo nhất, nhưng không sao, mẹ con tôi tự xoay sở và vui với những gì đang có.

Về lòng can đảm, tôi nghĩ mình có bao la. Vậy nên tôi không sợ bất cứ khó khăn, vất vả nào. 

Theo chị, điều gì là khó khăn nhất với phụ nữ hậu ly hôn?

Cảm giác chông chênh là không thể tránh khỏi. Cho dù bạn chủ động ly hôn thì cũng phải mất một thời gian để cuộc sống quay trở lại bình thường. Ngoài ra, nếu có con cái, người phụ nữ còn phải chăm sóc phần tinh thần - cảm xúc cho những đứa con của mình khi ba mẹ chúng không còn sống chung nữa.

Vậy nên, vực lại tinh thần là điều khó khăn nhất đối với phụ nữ.

Tháng 3 là tháng người ta nói về nữ quyền, chị nghĩ nữ quyền là gì?

Nữ quyền chắc chắn không phải là làm sao đẩy đàn ông vào bếp nấu nướng hoặc bắt chồng làm việc nhà. Theo tôi nữ quyền là quyền được đẹp, được độc lập tự do nhất là trong tư tưởng và cái quyền này đã có, chỉ là phụ nữ có dám dành lấy hay không thôi. Tôi cũng nghĩ rằng, nữ quyền chính là nữ tính - một đặc quyền rất riêng của phụ nữ. Ta vẫn hạnh phúc mà không phải trở thành "như đàn ông" đó mới là hay! 

Theo chị điều người đàn ông cần làm để khiến người phụ nữ hạnh phúc?

Cũng còn tuỳ xem người phụ nữ đó coi trọng điều gì nhất trong cuộc sống. Vậy nên trong cuốn sách Hôm nay mẹ có vui không? tôi có đề cập đến ngôn ngữ tình yêu. Một cô gái chỉ cảm nhận tình yêu thông qua sự chăm sóc mà người đàn ông lại chỉ biết nói lời hay thì không được. Hoặc cô vợ thích quà mà anh chồng không biết tặng quà cũng không xong.

Với riêng cá nhân tôi thì một người đàn ông cho tôi tự nhiên được là chính mình sẽ khiến tôi hạnh phúc nhất.

Đó có phải là lý do chị chọn lấy người nước ngoài sau ly hôn? Phải chăng đàn ông Việt Nam không cho chị điều ấy?

Trai tây trai ta cũng đều có ưu và nhược điểm cả. Tôi thấy xung quanh bạn bè nhiều người chồng người cha tốt, có lẽ tôi không may mắn gặp được (cười).

Nhưng phải thú nhận một điều rằng phụ nữ hiện đại thật sự sẽ có xu hướng thích đàn ông phương Tây hơn. Có thể là nền văn hoá của họ coi trọng phụ nữ hơn chúng ta, họ được sinh ra trong bầu không khí tự do phóng khoáng và bình đẳng giới. Những người đàn ông chứng kiến bà, mẹ, chị em gái của mình tự do, độc lập, không phán xét nhau, không khắc nghiệt với bản thân và người khác. Lối sống của chính những phụ nữ đó là nền tảng văn hoá để đàn ông phương Tây có cách hành xử văn minh hơn.

Chị có cho con trai đọc sách của mình không? Cảm xúc con chị như thế nào

Tôi "bắt" các con đọc sách của mẹ (cười). Tôi bảo chúng rằng các con nên biết là mẹ viết gì về các con trong sách chứ, lỡ nói xấu thì sao. Gấu Tôm đều bất ngờ về cuộc sống thời thơ ấu của mẹ. Các con tự hào vì mẹ ra sách, hai đứa còn xin mẹ kí để đem tặng cô giáo.

Dự định trong tương lai của chị sau quyển sách này?

Tôi có nhiều đam mê và dự định lắm, nhưng năm nay bên cạnh viết sách, tôi ưu tiên các cho các hoạt động cộng đồng. Đầu năm 2021 tôi vừa hoàn thành công trình thư viện cho bà con ở thôn 2, Hoà Ninh, Di Linh Lâm Đồng với 1521 quyển sách chọn lọc. Tôi tin rằng con cái học thông qua việc làm của ba mẹ. Tôi lao động chăm chỉ, tận hưởng thành quả lao động của mình và chia sẻ với những người xung quanh, các con tôi luôn đồng hành cùng mẹ trong tất cả các hoạt động ấy!

*

Kết thúc bài phỏng vấn, xin được trích cảm nhận của nhà thơ, nhà báo Khánh Chi về tác giả Trần Vân Anh cũng như về quyển sách Hôm nay mẹ có vui không:

---
“Vân Anh chia sẻ bản thân mình, như cách cô sống. Cô hạnh phúc, vui sướng khi được bày tỏ, mở rộng con người mình, bóc từng lớp tâm lý, đời sống của mình để tự hiểu mình nhiều hơn. Và người đọc cứ thế mà đi theo cô trong hành trình dẫn dắt đó. Có ai đó, bắt gặp mình trong cô, sẽ nhận về thêm những kinh nghiệm sống. Có ai đó hoàn toàn khác cô thì sẽ như có thêm biên độ mới để hiểu biết về những cuộc đời đi qua tổn thương và tự phục hồi.”
---

Hết.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Tháng 3 Phụ Nữ, điểm mặt 6 tác giả nữ nổi bật

Published

on

By

Họ hiện đại, nhưng cũng nặng lòng với truyền thống. Họ làm việc toàn thời gian, nhưng cũng tận hưởng cuộc sống toàn thời gian. Nhân tháng 3 Phụ Nữ, Bookish.vn điểm lại những gương mặt tác giả nữ đã đồng hành cùng Phương Nam trong thời gian qua.

Đặng Nguyễn Đông Vy

Hãy tìm tôi giữa cánh đồng, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Những lối về ấu thơ

Với lối viết tinh tế, nhã nhặn, tác giả Đặng Nguyễn Đông Vy đã chia sẻ với người đọc những điều mình cảm nhận một cách sâu sắc về cuộc đời.

Với Hãy tìm tôi giữa cánh đồng, tất cả là ký ức nhưng chị nhìn qua đôi mắt đầy xao xuyến, trái tim đầy nhân hậu. Những khoảng đời dù rất riêng nhưng sao qua lời chị viết, trở nên thật gần gũi với những ai từng có một quê nhà để mà nhớ. Người ta có thể nhìn ra một góc tâm hồn tác giả, và có lẽ nhờ đã viết một cách chân thật với lòng mình, những câu chuyện gửi gắm có thể vượt qua cảm xúc riêng để biến thành cảm xúc của người đọc.

Tác giả Đặng Nguyễn Đông Vy

Hãy tìm tôi giữa cánh đồng là thuở ban đầu trong trẻo nhất trước khi được tiếp nối với những tâm tình trong Những lối về ấu thơ và giọng văn gần gũi, thẳng thắn hơn trong Nếu biết trăm năm là hữu hạn.

Bút danh Phạm Lữ Ân là sự kết hợp của hai nhà báo viết cho giới trẻ, cũng là một đôi vợ chồng Phạm Công Luận - Đặng Nguyễn Đông Vy. Nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái nhìn trong trẻo, tinh tế và sắc sảo với sự từng trải, thương yêu và khoan dung, những bài viết chung của họ đã đưa ra được những kiến giải đầy thú vị và vô cùng sâu sắc về cuộc đời, không chỉ cho giới trẻ mà cho bất cứ ai trong chúng ta, ở bất kỳ lứa tuổi nào.

"Viết được một bài viết nhỏ để nói lên cảm xúc của mình, và được người đọc cảm nhận, có lẽ cũng là một điều hạnh phúc", chị Đông Vy chia sẻ.

Nếu biết trăm năm là hữu hạn (ấn bản đặc biệt)

Trần Vân Anh

Hôm nay mẹ có vui không?

Tác giả Trần Vân Anh là một chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm, Editor-in-chief của Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt, Content Manager tại Tập đoàn CMG.Asia, Senior Beauty Editor của Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion...

Nhưng bên cạnh những tittle đó, chị là một người mẹ. Quyển sách Hôm nay mẹ có vui không? là câu chuyện của tác giả về quá trình tìm lại chính mình, tự chữa lành, là con đường thoát khỏi trầm cảm, tìm lại niềm vui, sự cân bằng, thanh thản trong tâm hồn.

Và trong hành trình của chị Vân Anh, rất nhiều người tìm thấy chính mình trong đó, qua chị Vân Anh – người mẹ hay qua Gấu – Tôm, người con.

Tác giả Trần Vân Anh

Hôm nay mẹ có vui không? mang dáng dấp một cuốn nhật ký của cá nhân tác giả, nơi chị nhìn lại, suy ngẫm, và viết nên chính cuộc đời mình. Đó không đơn thuần là hành trình làm mẹ, đó còn là hành trình của người phụ nữ hiện đại, sai lầm rồi trưởng thành, sống vì con, vì gia đình, và vì cả chính mình.

Bởi lẽ không có công thức trong việc dạy con, không có phương pháp nào là đúng hay sai nhưng chắc chắn có nhiều con đường để trở thành một người mẹ tốt. Một trong những con đường đơn giản nhất đó là trở thành một người mẹ hạnh phúc.

“Vân Anh chia sẻ bản thân mình, như cách cô sống. Cô hạnh phúc, vui sướng khi được bày tỏ, mở rộng con người mình, bóc từng lớp tâm lý, đời sống của mình để tự hiểu mình nhiều hơn. Và người đọc cứ thế mà đi theo cô trong hành trình dẫn dắt đó. Có ai đó, bắt gặp mình trong cô, sẽ nhận về thêm những kinh nghiệm sống. Có ai đó hoàn toàn khác cô thì sẽ như có thêm biên độ mới để hiểu biết về những cuộc đời đi qua tổn thương và tự phục hồi”, trích lời Nhà thơ - nhà báo Khánh Chi.

Hôm nay mẹ có vui không?

Trần Vân Anh:

  • Chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm
  • Editor-in-chief: Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt
  • Media Director: Kilala Communication
  • Content Manager: Tập đoàn CMG.Asia
  • Senior Beauty Editor: Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion

Lê Mai Anh

Your Brand Talks

Tác giả Lê Mai Anh là Thạc sĩ MBA về Truyền thông trong Quản trị Doanh nghiệp & Lãnh đạo năm 2018, Đại học Cumbria – Anh quốc; từng đoạt giải thưởng Diamond – ASEAN PR Excellence Awards năm 2019; hiện là Giám đốc quản lý kinh doanh của Hãng tin Reuters và Giám đốc Quốc gia PR Newswire tại Việt Nam.

Với hơn 15 năm kinh nghiệm trong mảng truyền thông và quan hệ báo chí, tác giả đã từng tư vấn và làm việc với nhiều tập đoàn lớn trong và ngoài nước ở các mảng viễn thông, du lịch, khách sạn, F&B, công nghệ và start-up.

Lê Mai Anh - tác giả Your Brand Talks

Your brand talks mang dáng dấp của một tư liệu giáo trình, khi các kiến thức được tác giả sắp xếp trình tự, logic. Bắt đầu từ định nghĩa, sau đó phân loại, rồi đi đến thực hành với các cách thức hiệu quả để xây dựng thương hiệu cá nhân. Song, điểm khác là chị Lê Mai Anh viết với tâm thế một người đồng hành, chứ không phải người thầy, người cô dẫn dắt bạn đi trên con đường định nghĩa bản thân ấy.

Nói như nhà báo Đào Hồng Hạnh là quyển sách “không có nhiều thuật ngữ chuyên ngành lấp lánh, không dạy đời”, mà ngược lại, như một lời tâm tình, sẻ chia từ chính những gì tác giả đã trải qua, nhẹ nhàng mà tinh tế.

Quyển Your Brand Talks được tác giả hi vọng “phần nào giúp bạn tìm ra các giá trị căn bản nhất của bản thân, biết được những nhân tố có thể xây dựng hình ảnh và thương hiệu cá nhân một cách hiệu quả. Và điều quan trọng cuối cùng là cuốn sách có thể truyền cảm hứng đến bạn ít nhiều bằng những câu chuyện hết sức đời thường nhưng biết đâu bạn có thể thấy mình ở trong đó.”

Lê Mai Anh:

  • Cử nhân chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, trường Đại học Ngoại Thương, năm 2005
  • Thạc sĩ MBA về Truyền thông trong Quản trị Doanh nghiệp và Lãnh đạo năm 2018, Đại học Cumbria – Anh quốc
  • Giải thưởng Diamond – ASEAN PR Excellence Awards năm 2019 tại Kuching, Malaysia
  • Giám đốc quản lý kinh doanh của Hãng tin Reuters tại Việt Nam, phụ trách các thị trường: Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar và Philippines
  • Giám đốc Quốc gia PR Newswire tại Việt Nam
  • Hiện là đồng chủ tịch của Hiệp hội VNPR (mạng lưới những người làm nghề Quan hệ công chúng tại Việt Nam)
  • Giảng viên trường Đại học Nguyễn Tất Thành
  • Với hơn 15 năm kinh nghiệm trong mảng truyền thông và quan hệ báo chí, tác giả đã từng tư vấn và làm việc với nhiều tập đoàn lớn trong và ngoài nước ở các mảng viễn thông, du lịch, khách sạn, F&B, công nghệ và start-up

Hồ Đắc Thiếu Anh

Mứt Việt, Món cuốn xanh, Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội

Nghệ nhân Hồ Đắc Thiếu Anh có lẽ không là gương mặt quá xa lạ với bạn đọc Việt Nam. Cô được biết đến với nhiều tựa sách ẩm thực hay, đẹp mắt, và quan trọng nhất, thấm đẫm truyền thống, văn hóa quê hương.

"Nhà thơ ẩm thực" là cách bạn đọc vẫn hay gọi cô Thiếu Anh. Xuất phát là một nhà thơ, cô trở thành một nghệ nhân ẩm thực tài hoa bởi tình yêu to lớn đối với ẩm thực quê hương, kèm theo đó là tâm tư muốn lưu giữ, truyền bá trọn vẹn tinh hoa của ẩm thực dân tộc qua từng trang sách.

"Tốt nghiệp đại học kinh tế nhưng lại chọn thơ văn để lập nghiệp. Từng câu chữ trau chuốt là cách tôi yêu quê hương và tôn trọng độc giả. Rồi tôi lại đem thơ văn vào trong ẩm thực, dạy nấu ăn bằng cách kể về câu chuyện riêng của từng món. Ngay từ khi tôi còn trẻ, nhiều người đã gọi cách tôi theo đuổi đam mê là dấn thân bất chấp, còn tôi lại gọi là sống trọn”, nghệ nhân tâm sự trong cuộc phỏng vấn với báo Thanh Niên.

Hậu trường chụp ảnh quyển sách Món cuốn xanh.
Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội

Cuốn sách mới nhất được giới thiệu, Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội là công trình tâm huyết của cô Hồ Đắc Thiếu Anh, một người nặng lòng với ẩm thực cung đình Huế, tuyển lựa những công thức nấu nướng truyền thống nhất của dân tộc. Cuốn sách phù hợp để trưng bày trên bàn trà ngày Tết, là một kho tàng chuyện hay để người nhà kể cho nhau nghe dịp xuân về.

"Hy vọng Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội không những giúp lan tỏa được phần nào nét đẹp truyền thống trong đời sống hiện đại để con cháu sau này biết đến các món bánh của ông bà ngày xưa; mà còn góp phần quảng bá nét văn hóa tinh túy của bánh Việt với bạn bè quốc tế", tác giả chia sẻ.

Món cuốn xanh

Nghệ nhân Hồ Đắc Thiếu Anh

  • Quê quán: Thừa Thiên Huế
  • Hội viên chuyên ngành Văn hóa Ẩm thực Liên hiệp các Hiệp hội UNESCO VIệt Nam
  • Thành viên Ban cố vấn Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam

Nguyễn Hồ Tiếu Anh

  • Giám đốc Công ty Ẩm thực Ngon và Lành
  • Hội viên chuyên ngành Văn hóa Ẩm thực Liên hiệp các Hiệp hội UNESCO Việt Nam
  • Hội viên Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam

Lăng Vi

Nồi niêu xoong chảo

Tác giả Lăng Vi từng là biên tập viên tạp chí văn hóa Nhật Bản – Kilala, là người khởi tạo và xây dựng trang Fanpage Vợ Chồng Son với hơn 9.000 người yêu thích và theo dõi. Chính mẹ của chị là người đã truyền cảm hứng và nuôi dưỡng niềm yêu thích nấu nướng để chị thực hiện nên tập sách đặc biệt Nồi niêu xoong chảo. Đây cũng là lần đầu tiên một cuốn sách kỹ năng ẩm thực trẻ trung và bắt mắt ra đời do chính tác giả viết nội dung và vẽ minh họa.

"Mong rằng cuốn sách này sẽ có thể truyền cảm hứng nấu nướng cho bạn, thôi thúc bạn mơ mộng về một căn bếp riêng, nơi bạn có thể hoàn toàn được là chính mình, và tận hưởng việc nấu nướng như một niềm vui trong cuộc sống", tác giả chia sẻ về Nồi niêu xoong chảo.

Tác giả Lăng Vi

Nồi niêu xoong chảo ra đời để làm một người bạn đồng hành trong những bước đi đầu tiên với những ai mới tập tành nấu nướng. Quyển sách không chỉ tổng hợp các kiến thức cơ bản cần thiết mà còn chia sẻ những hướng dẫn rất cụ thể từ việc chọn mua dụng cụ, nguyên liệu thực phẩm, cách bày trí gian bếp, kỹ thuật trong thao tác nấu hoặc trang trí món ăn, kinh nghiệm xây dựng thực đơn và bảo quản thành phẩm...

Thông qua nó, bạn có thể hình dung một cách tổng quát về chuyện bếp núc để tự tin thử sức và khám phá.

Nồi niêu xoong chảo

Lăng Vi:

  • Sinh năm 1990
  • Cung Xử Nữ
  • Nhóm máu B
  • Thích ăn, nấu ăn, vẽ, nghe nhạc, bày bừa, sách, những gì xinh đẹp, dễ thương…
  • Trước đây làm biên tập viên tạp chí văn hóa Nhật Bản, hiện đang làm freelance tại Sài Gòn

Giang Vũ

30 món mứt ngon của người Việt

Là nhà báo chuyên viết về mảng ẩm thực và du lịch, tác giả Giang Vũ viết và chụp ảnh các món ăn ngon, di sản ẩm thực, và điểm du lịch trên khắp các miền đất nước. Chị đặc biệt tâm huyết với mảng sách “cook book” nên đã đầu tư nhiều thời gian để làm sách nhằm lưu giữ công thức các món ăn truyền thống, đồng thời tôn vinh vẻ đẹp của ẩm thực Việt.

Trong cuốn sách 30 món mứt ngon của người Việt, chị vừa là người soạn công thức, vừa là người trình bày và chụp ảnh từng món mứt, giúp bạn đọc có thể làm theo một cách dễ dàng. Đồng thời cho thấy tâm huyết to lớn của chị trong mỗi ấn phẩm được tạo ra, sao cho chỉn chu và truyền tải tốt nhất.

Tác giả Giang Vũ
30 món mứt ngon của người Việt (bìa cứng)

"Đã đến lúc, tôi cần phải ghi lại kiến thức đồ sộ của ẩm thực Việt, giữ gìn nó như một di sản phi vật thể cho muôn đời sau. Và tôi đã chọn cách ghi lại gia tài đó bằng một cuốn sách nấu ăn, bắt đầu con đường khám phá cách nấu món Việt dài lâu của mình trước tiên bằng 30 món mứt Việt. Có những món mứt ra đời ở Việt Nam, có những món mứt hình thành trong quá trình giao thoa văn hóa với các nước phương Tây. Mứt Việt rất đẹp, rất công phu và đòi hỏi sự khéo léo – thế mạnh của con người Việt Nam.

Những món mứt trong cuốn sách này được làm bằng tình yêu từ trái tim tôi đối với ẩm thực Việt. Hãy làm theo từng bước như đã hướng dẫn, chắc chắn bạn cũng sẽ vô cùng thích thú khi tạo ra các món mứt vừa ngon, vừa đẹp, vừa lành. Tôi hy vọng, dựa trên cuốn sách cơ bản này, bạn sẽ sáng tạo ra nhiều món mứt tuyệt vời và đẹp mắt hơn thế nữa”, tác giả Giang Vũ chia sẻ.

*

Nhân dịp Tháng 3 Phụ Nữ, Bookish.vn gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến những người viết nữ của Phương Nam, cũng như toàn thể phái đẹp của thế giới. Phụ nữ đẹp nhất khi là chính mình, và biết thương chính mình!

Hết.

Sách Phương Nam phải đọc nhân tháng Phụ Nữ

Đọc bài viết

Cafe sáng