Nối kết với chúng tôi

Book trailer

Đừng nói chúng ta không lợi quyền: Bức chân dung về những bản ngã bị đánh mất

Published

on

“Nếu bạn đang đi ngược chiều gió, giữ cho lưng thẳng tắp thôi cũng được xem là một thành tựu.” Triết gia Wittgenstein như phóng tầm nhìn vượt thời đại khi viết ra điều này. Rằng, trong thời kì văn hóa nghèo nàn, “tiềm năng của cá nhân bị lãng phí khi phải vượt qua các lực lượng đối lập và lực cản ma sát.”

Sự tiêu hao năng lượng vô nghĩa này đã miêu tả hoàn hảo số phận của các nhạc sĩ cổ điển trong cuộc Cách mạng Văn hóa Trung Quốc. Âm nhạc họ cống hiến bị cấm. Nhạc cụ họ chơi bị phá hủy. Họ bị tra tấn và làm nhục, bị buộc tội phản quốc và phải đến lao động trong các trang trại và nhà máy ở làng quê. Những phẩm chất nghệ sĩ của họ, kĩ thuật điêu luyện của họ, thông qua những qui định tàn nhẫn, trở thành sâu mọt đạo đức gây nguy hại quốc gia.

Điều họ có thể làm chỉ là bảo vệ, duy trì cái bản ngã nghệ sĩ yếu ớt, vất vưởng còn sót lại trong người. Điều đó khiến nhiều người chịu không nổi và kết cục, tự tử. Sống với hai nhân dạng khác nhau là điều không thể với hàng triệu người. Trong đó có nhân vật trong tác phẩm Đừng nói chúng ta không lợi quyền, tiểu thuyết của Madeleine Thien.

Đừng nói chúng ta không lợi quyền lọt vào danh sách rút gọn của Giải Man Booker năm 2017, là cuốn tiểu thuyết thứ ba của cây viết nữ Madeleine Thien. Đó là một tác phẩm đẹp, song sầu thảm. Cuốn sách gây ấn tượng ở nhiều khía cạnh: Nó ghi dấu ấn trong ký ức bằng một dư ảnh; nó khám phá thành công những ý tưởng lớn hơn về chính trị và nghệ thuật; nó mang đậm chất sử thi của một cuốn tiểu thuyết Nga thế kỷ 19, trải qua ba thế hệ và kết hợp giữa bờ của hai lục địa.

Bạn có thể ngay lập tức bắt nhịp văn phong của tác giả từ những dòng mở đầu của quyển sách: “Trong vòng một năm, cha bỏ chúng tôi hai lần. Lần đầu tiên là khi ông kết thúc cuộc hôn nhân, và lần thứ hai, là khi ông tự kết liễu mình.”

Và thế là câu chuyện bắt đầu: Li-ling, tên tiếng Anh là Marie, là một nhà toán học người Canada gốc Hoa, kể lại cho chúng ta sự ra đi đột ngột, bí ẩn của cha cô – ông tự tử bằng cách nhảy từ cửa sổ tầng 9 khi cô mới 10 tuổi. Năm đó là năm 1989, và cái chết của ông gần như trùng khớp với vụ thảm sát ở Quảng trường Thiên An Môn, mặc dù ông đang ở Hong Kong vào thời điểm đó. Hai tháng sau, Marie và mẹ cô nhận được thư từ một phụ nữ ở Trung Quốc yêu cầu họ cung cấp chỗ ở cho con gái bà, Ai-ming, người đang gặp rắc rối với chính phủ vì cuộc biểu tình.

Marie và mẹ cô không phải ngẫu nhiên mà được lựa chọn. Cha của Ai-ming, Chim Sẻ là một nhà soạn nhạc. Ông là thầy của cha Marie – Kai, vào những năm 1960, khi họ cùng học tại Nhạc viện Thượng Hải. Kai chưa bao giờ nói về điều này với con gái mình. Cô biết cha mình đã chơi piano cho Mao Trạch Đông, nhưng nhà cô thậm chí không có một cây đàn piano.

Dần dần, Marie xâu chuỗi lại được lại cuộc đời của cha cô và lịch sử đất nước – thông qua những câu chuyện của Ai-ming, thông qua tìm tòi của riêng cô, và thông qua một loạt sổ ghi chép (hầu hết bị lãng quên) được tìm thấy trong các tài liệu cá nhân của Kai. Tài liệu mật này được gọi là “Những bản ghi”, một cuốn tiểu thuyết chắp vá, được sao chép, sửa đổi và cập nhật mỗi khi nó chuyển cho người sở hữu mới. Cuốn sách bị cấm, chỉ được truyền tay một cách bí mật dành cho “những người kháng chiến, gián điệp và những kẻ mộng mơ”.

Từ Những bản ghi, tác giả khéo léo bung mở những nút thắt, xâu chuỗi những cột mốc để gợi ra câu chuyện lớn hơn.

Trung tâm của quyển sách là Chim Sẻ, Kai và Zhuli, bộ ba người bạn gắn bó với nhau nhờ chia sẻ chung tình yêu với âm nhạc cổ điển. Kai là một đứa trẻ mồ côi tỉnh lẻ và là một nghệ sĩ dương cầm tài năng. Chim Sẻ, giáo viên của anh, là một nhà soạn nhạc nhút nhát. Zhuli, em họ của Chi Sẻ, một thiếu nữ kém anh 10 tuổi, là một nghệ sĩ vĩ cầm và có sức hút quyến rũ. “Khi Zhuli chơi nhạc,” tác giả viết, “như thể cô ấy thổi bay bụi trần và tạo ra thứ âm nhạc thực sự.”

Câu chuyện của Đừng nói chúng ta không lợi quyền được kể trên cái nền âm nhạc. Tác giả sở hữu phong cách hiếm có trong việc miêu tả lí trí là “con tin” của trái tim, ý nói tiếng gọi bên trong nội tâm nhân vật bao giờ cũng to lớn hơn tiếng gọi của thế giới bên ngoài, mà trong bối cảnh của cuốn sách, là tiếng gọi của Đảng và đất nước.

Dần dần, mâu thuẫn đến khi những sinh viên tại Nhạc viện Thượng Hải bắt đầu thực hiện các bài luận, họ thắc mắc “Âm nhạc này có gì hay, khi những thứ bùa mê sáo rỗng này chỉ lôi kéo giai cấp tư sản và cô lập người nghèo?”

Zhuli, Kai và Chim Sẻ mỗi người đưa ra những lựa chọn khác nhau về cách sinh tồn sau những động thái bạo lực nhắm vào vào danh tính “người nghệ sĩ” tại đất nước. Dù vậy, không ai trong số họ thực sự hạnh phúc với sự lựa chọn của mình.

Madeleine Thien ghi nhận một cách thẳng thắn, đau thương về sự suy đồi đạo đức, sự tê liệt của cuộc sống trong bối cảnh Cách mạng Văn hóa. Tại đó, mỗi cá nhân sống giả tạo ngay trong cuộc đối thoại với nhau hằng ngày, họ chỉ trao được cho nhau những lời ca tụng chiếu lệ dành cho Đảng và Chủ tịch Mao. Các mô tả của tác giả về sự tàn bạo của Lực lượng Vệ binh Đỏ rất thẳng thắn, trực quan đến mức khiến người ta khó chịu, chẳng hạn như “Cha mẹ của Zhuli, chủ sở hữu tài sản, bị trói như gà, bị đánh đập và bị đưa vào trại cải tạo.”

Cao trào của quyển sách là cuộc biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn. Đó là một đoạn văn điêu luyện, nơi tác giả miêu tả mọi xúc giác của con người, của sự sống thông qua con chữ. “Người bán mì phấn khởi đang cho đồ ăn. Một tấm nệm đang cháy bao trùm lấy một chiếc xe tải quân đội…”, “Chim Sẻ co rúm người dưới sức nặng của một công nhân bị đạn xuyên qua.”

Sau khi đọc xong, người đọc vẫn phải tự hỏi liệu lịch sử có đơn giản là định mệnh lặp lại chính nó hay không. Một phụ huynh phàn nàn với Chim Sẻ: “Những đứa trẻ này nghĩ rằng tất cả là tùy thuộc vào chúng. Họ không hiểu gì về số phận.”

Giống như quyển Những bản ghi được cất giấu và viết tiếp, quyển sách có thể chính là viễn cảnh của đất nước trong tương lai.

Hàm ý rằng Trung Quốc vẫn còn là một công trình dang dở, chưa hoàn thiện – giống như tác phẩm âm nhạc Bản giao hưởng số 3 của Chim Sẻ, một tuyệt tác âm nhạc thực sự, mà anh ta buộc phải giấu trên gác mái. Rồi anh đánh mất nó, như cách anh đánh mất chính nhân cách người nghệ sĩ trong mình. Phải đến nhiều năm sau, Chim Sẻ mới có thể sáng tác trở lại. Nhưng anh ấy không thể hoàn thành tác phẩm cụ thể đó. Những ghi chú mà anh tìm kiếm đã bị vùi sâu vào quá khứ.

Hết.

Uyên dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Jennifer Senior, đăng tại The New York Times.

*

Book trailer

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam: Ghi lại lịch sử qua ảnh chụp

Published

on

By

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam là quyển sách đầu tiên về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đầu viết bằng Anh ngữ. Từ khối tư liệu khổng lồ nhưng phân tán trong các kho lưu trữ, bảo tàng, bộ sưu tập tư nhân, trong đó có bộ sưu tập của riêng mình, Terry Bennett đã dựng lại con đường ra đời và phát triển của nhiếp ảnh tại Việt Nam kể từ khi những bức ảnh đầu tiên được chụp vào giữa thế kỷ XIX cho đến giữa những năm 1950.

Quyển sách là tác phẩm tiếp theo của Terry Bennett trong công trình nghiên cứu của ông về nền nhiếp ảnh Đông Á. Cũng như các tác phẩm trước, Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam được nghiên cứu và tham khảo một cách cẩn thận bởi tác giả.

Trong hơn 500 bức ảnh được sưu tầm, nhiều tư liệu hiếm và lần đầu tiên được xuất bản. Quyển sách đi theo dòng thời gian, ghi lại những mốc sử từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa Pháp, cuộc kháng chiến của dân tộc, từ đó dẫn đến độc lập và sự tái khẳng định bản sắc chính mình. “Để hiểu được lịch sử đương đại Việt Nam và can thiệp của Pháp trong quá trình dựng nước, những bức hình chụp đóng vai trò lịch sử quan trọng.”, Terry Bennett chia sẻ.

Quyển sách khắc họa văn hóa rộng lớn của Việt Nam với nhiều dân tộc khác nhau, đồng thời giới thiệu hơn 240 nhiếp ảnh gia và studio trong cùng thời kỳ bên cạnh các phụ lục tập trung vào bưu thiếp, ảnh chân dung hoàng gia.

Phần lớn nội dung Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam nói về sự nghiệp của các nhiếp ảnh gia người Pháp và các nước khác, những hình chụp và tiệm ảnh của họ tại Việt Nam. Dù vậy, quyển sách cũng liệt kê rất nhiều hình chụp cùng danh tính của các nhiếp ảnh gia người Việt và tiệm ảnh của họ.

“Nhiếp ảnh thế kỷ XIX không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật. Nhiếp ảnh gia thời kỳ này quan tâm đến nghệ thuật và tự thân họ cũng là những nghệ sĩ.

Việc chụp chân dung thời kỳ đầu khó lòng diễn ra nếu người chụp không có đôi chút thấu nhạy nghệ thuật cũng như khả năng đồng cảm với chủ thể. Khác với thời đại kỹ thuật số ngày nay, việc cho ra đời một tấm hình duy nhất vào thế kỷ XIX đòi hỏi công sức và tiền bạc đáng kể.” – tác giả chia sẻ.

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam - Terry Bennett

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam là một công trình nghiên cứu dày công của tác giả và là bước khởi đầu cho những nghiên cứu đồ sộ hơn sau này. Như Terry Bennett chia sẻ, cuốn sách của ông chỉ nhằm mục đích giới thiệu chủ đề, cung cấp thông tin và tư liệu nghiên cứu.

Các nguồn tài liệu tham khảo cũng chủ yếu là của phương Tây, đặc biệt là Pháp, nên cuốn sách chưa là một pho sử đầy đủ về nhiếp ảnh ở Việt Nam. Dù vậy, nó ít nhất có thể cung cấp một phác thảo ban đầu, một tấm bản đồ sơ khởi ghi chép lại các cung đường nơi nhiều dấu chân đã đi qua.

Công cuộc nghiên cứu vẫn còn dài và sẽ được các nghiên cứu sau này bồi đắp thêm, nhất là từ các nhà nghiên cứu người Việt – những người có thể dễ dàng tiếp cận các bộ lưu trữ địa phương và quốc gia.

“Mặc dù hiện nay ở Việt Nam chưa có một bảo tàng nhiếp ảnh tầm cỡ quốc gia, hay bất kỳ bộ sưu tập nào cho ảnh chụp thời kỳ đầu, tôi cảm nhận rằng người Việt đang ngày một quan tâm hơn đến lịch sử nghệ thuật thị giác (phim ảnh và mỹ thuật) của đất nước. Mối quan tâm này chắc chắn sẽ dẫn đến việc khai phá các nguồn tư liệu chưa từng thấy trước đây ở Việt Nam. Việc kết nối lại các bức ảnh vô danh với tác giả ban đầu của chúng là điều rất đáng làm.” - tác giả cho hay.

Dựa trên kinh nghiệm tích lũy từ những quyển viết về nhiếp ảnh Nhật Bản và Trung Quốc thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam của Terry Bennett phác họa nên bức tranh đầy đủ, chi tiết của nền nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đầu đến năm 1954. Đây hứa hẹn là cẩm nang hỗ trợ quý báu cho những ai quan tâm đến lịch sử nhiếp ảnh hoặc những nhà sưu tầm tư liệu, cũng như cung cấp những khung sườn đầu tiên cho các nghiên cứu tiếp theo cùng lĩnh vực.

Về tác giả:

Terry Bennett là người Anh sống tại London, đã sưu tầm và nghiên cứu nhiếp ảnh Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc thế kỷ XIX trong nhiều năm.

Ông là một chuyên gia về nhiếp ảnh thời kỳ đầu của vùng Viễn Đông, với kiến thức chuyên môn về những người tiên phong trong lĩnh vực nhiếp ảnh, đã từng xuất bản các quyển sách Early Japanese Images, Korea: Caught in Time và là đồng tác giả của Japan: Caught in Time.

  • Sách được phát hành với các phiên bản: bìa mềm, bìa cứng và bìa cứng đặc biệt. Đối với phiên bản bìa cứng, bạn đọc được tặng kèm postcard
  • 100 bản bìa cứng đặc biệt được đánh số ngẫu nhiên dành cho bạn đọc thích sưu tầm
  • 504 trang giấy couche in tạp chí và in màu
Đọc bài viết

Book trailer

Cuộc thập tự chinh thứ nhất: Giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây

Published

on

Jerusalem lâu nay vốn vẫn được xem như là trung tâm của thế giới, là nơi giao nhau của ba lục địa Á Âu Phi, là nơi hành hương quan trọng của ba tôn giáo lớn bao gồm Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo. Trong hơn 3000 năm lịch sử của mình, Jerusalem đã trải qua nhiều thảm kịch khác nhau: bị thiêu rụi, tấn công và trao qua tay các chính quyền đô hộ. Trong cuốn du ký Con đường hồi giáo, tác giả Nguyễn Phương Mai đã viết rằng: Đằng sau những đường phố lát đá lộng lẫy của thành Jerusalem là cuộc sống tín ngưỡng cực điểm, là sự căng thẳng đến tột cùng của xung khắc tôn giáo như một quả bóng đầy hơi có thể bục tung bất cứ lúc nào. Ở Jerusalem, mỗi hòn đá là một câu chuyện kinh thánh, mỗi người dân là một tín đồ sẵn lòng tử vì đạo, mỗi ngọn gió tràn qua cũng có mùi thánh thần, một lời nói bâng quơ cũng có thể trở thành điều tiên tri chờ ngày ứng nghiệm.

Và do đó, Jerusalem thăng trầm như số kiếp của một đời người bị những bên thay nhau giằng xé. Vào quãng thời gian năm 1095 tại xứ Clermont miền Nam nước Pháp, Giáo hoàng đương nhiệm Urban II - bằng lời hiệu triệu đầy kích động thông qua tội ác của người Thổ, người Hồi đối với những Kitô Hữu xứ phương Đông - đã kêu gọi tầng lớp quý tộc đảm đương cuộc viễn chinh vào trong đất Thánh. Bằng lời hiệu triệu đầy tính cách mạng nhân danh Chúa mà mọi tầng lớp trong xã hội phương Tây đã đứng lên đi theo tiếng gọi của cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Thế nhưng nguyên nhân gốc rễ hình thành nên cuộc chiến này, cũng như những gì đã thực sự diễn ra để định hình nên thế giới ngày nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Mối tương quan giữa phương Đông và phương Tây trong những tư liệu để lại từ lâu vẫn đặt ra những câu hỏi về sự xác thực, liệu ta nên tin về phía bên nào khi ai cũng đang che giấu một điều gì đó?

Và với Cuộc thập tự chinh thứ nhất - Tiếng gọi từ phương Đông của tác giả Peter Frankopan, ta đã phần nào hiểu được những điều cốt lõi nhất của cuộc chiến này. Với một sự kiện có phần quan trọng nhằm định hình nên thời Trung cổ, Frankopan đã đứng trung dung giữa hai góc nhìn phương Đông và phương Tây. Ông dựa trên những tư liệu để lại của cuốn Alexiad (do Anna Komnene - con gái của Hoàng đế xứ Byzantium viết) và những dữ liệu phương Tây từ những hiệp sỹ, tu sỹ - những người châu Âu tham gia cuộc thập tự chinh để lại. Điều thành công nhất của tác phẩm này là bởi những suy đoán dựa trên cơ sở của những phân tích vô cùng hợp lý, khi có sự kết hợp giữa các sử liệu khác nhau của Frankopan. Ông có quan điểm cởi mở và rất khách quan; không phô trương, bợ đỡ hay coi phương Tây là phe đúng đắn trong sự kiện này; từ đó chính tính khách quan làm nên được sự cuốn hút cho tác phẩm.

Như thể đầu tiên là những gốc rễ sâu xa bắt nguồn nên cuộc Thập tự chinh. Nếu các sử gia phương Tây vẫn luôn khắc họa hình ảnh một lòng kính Chúa và nhân danh Chúa của những người lính Kito đặc biệt sùng tín; thì Frankopan đã cho ta thấy một điều ngược lại. Thay vì tin vào những điều có sẵn từ lâu, nay ông chứng minh gốc rễ của cuộc Thánh chiến đã được bắt nguồn từ phía phương Đông, từ kinh đô Constantinople xứ Byzantine, từ Hoàng đế Alexios I chứ không phải từ phía Giáo hoàng hay những ca ngợi thiêng liêng khác. Ông cũng cho rằng động cơ một phần nằm ở Giáo hoàng Urban II khi vị này muốn giành lại thế ưu tiên từ phía giáo hội thành Rome, trong một nỗ lực nhằm thống nhất Kito giáo phương Đông và phương Tây. Trong khi những người tham gia cuộc Thánh chiến này với mục đích cứu chuộc tội lỗi và hy vọng nhận được “món quà tinh thần” nhiều hơn là lòng nhiệt thành được phận sự Chúa.

Những sự thật này có thể gây shock cho những luận điểm ta vốn quen nghe. Còn hơn thế nữa, Frankopan cũng giành công lý về lại cho Hoàng đế Alexios I trước những điều tiếng vốn vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Theo đó một chân dung Hoàng đế hiện lên xuyên suốt cuộc Thập tự chinh đầy tính toán nhưng cũng tuân thủ những lời hứa từ phía phe mình. Khi người Thổ lần lượt chiếm được những cứ điểm quan trọng như Nicea, Antioch hay thậm chí là thành Jerusalem, Hoàng đế Alexios đã phát đi lời kêu gọi giúp đỡ từ phía Giáo hoàng. Một mặt ông muốn đánh đuổi quân Thổ ra khỏi mảnh đất thiêng liêng, nhưng mặt khác ông lại e ngại chính sự phản trắc từ phía kinh thành đã từng xảy ra ở trong quá khứ. Đứng trước cuộc hành quân đầy gian khó này, công tác hậu cần được ông chuẩn bị một cách hoàn hảo. Nhưng khi đội quân phương Tây tiến vào, một nỗi lo khác bắt đầu xuất hiện, khi họ liệu có nối gót người Thổ chiếm lại chính những vùng đất ở vùng Tiểu Á họ vừa giải phóng? Chính sự chân trong chân ngoài này đã khắc họa chân dung một Hoàng đế đầy e ngại và có phần chần chừ, khiến không ít những nhà quý tộc như Bohemond xứ Taranto một mực cho rằng ông đã bội ước và đòi chiếm lại vùng Antioch.

Tác giả Peter Frankopan. Nguồn: The Guardian

Song song cùng những sự thật vừa được chứng minh, sự hùng vĩ của cuộc Thập tự chinh đầu tiên cũng được Frankopan khắc họa một cách hoàn hảo. Trước một quy mô hơn 70 nghìn người từ lúc bắt đầu đến khi đến được thành Thánh thì chỉ còn lại vỏn vẹn có 1/3, những cuộc chiến ác liệt xua đuổi quân Thổ ở Antioch, ở Jerusalem, những mưu chước của Hoàng đế Alexios hiện lên sinh động mà đầy hoành tráng. Ở đó chính trong cuộc chiến chống lại người Thổ hay dân du mục Pecheneg, ta thấy hiện lên một lý tưởng lớn với những mong muốn chống lại ly giáo, thấy được bản sắc vùng miền cũng như những tranh cãi thế tục và phân chia giữa hai giáo hội thành Rome và Constatinople. Với cuốn sách thứ hai tiếp theo Những con đường tơ lụa, Peter Frankopan bằng sự trung dung và tính khách quan đã khái quát nên Cuộc thập tự chinh đầu tiên đầy hoành tráng và được giải thích cặn kẽ dưới một góc nhìn Đông phương. Mới lạ, mạnh mẽ và đầy thuyết phục; đây là cuốn sách giúp ta hiểu thêm về thời Trung cổ, về tiêu chuẩn hóa cho các cuộc Thập tự chinh tiếp sau và hơn hết chính là hành trình giành lại sự thật từ tiếng nói phương Tây.

Hết.

Sa Nguyên

Đọc bài viết

Book trailer

Đặt ống nghe nơi trái tim của tự nhiên để lắng nghe ‘khúc hát của cây’

Hãy chạm chiếc ống nghe vào làn da phong cảnh, để nhận ra bên đưới ấy có gì chuyển động. Hãy lắng nghe để nhận ra những gì tồn tại. Hãy lắng nghe để nhận ra giọng nói và thành viên của gia đình mình.

Published

on

By

khuc hat cua cay david haskell

Tất cả chúng ta – cây cối, con người, côn trùng, chim chóc… là một mạng lưới sự sống. Không có chuyện “tự nhiên” tách rời và chia cắt khỏi con người.

Vì vậy, hãy chạm chiếc ống nghe vào làn da phong cảnh, để nhận ra bên đưới ấy có gì chuyển động.

Trong tác phẩm Khúc hát của cây của David Haskell, thiên nhiên được chọn là nhân vật trung tâm, tác giả đã để các loài cây cất lên tiếng nói của mình về trái đất, con người và cả mối quan hệ phụ thuộc của đôi bên. Mà ở đó, con người chỉ đóng vai trò lắng nghe, nghe thật chân thành, những bản nhạc du dương réo rắt và cả những rung động nhỏ nhẹ nhất trong không khí mang nhịp điệu về một cuộc đời.

Khúc hát của cây gồm 3 chương, mỗi chương là những âm thanh cây cối khác biệt:

  • Chương 1 gồm Ceibo, Linh sam nhựa thơm, Cọ Sabal, Tần bì xanh, Cây mitsumata. Đây là những loài cây hiện sống tách biệt với đời sống con người, song vẫn luôn lặng lẽ giữ sợi dây liên kết với chúng ta suốt chiều dài lịch sử.
  • Chương 2 gồm Cây phỉ, Hồng sam và thông ponderosa, Cây phong lá đỏ. Đây là những cây mà tàn tích của nó là tương lai của con người. Chẳng hạn như khi gỗ phong được dùng làm đàn vĩ cầm, nó được chuyển hóa sang cuộc đời thứ hai cũng lâu dài và phong phú như cuộc đời thứ nhất.
  • Chương 3 gồm Cây dương, Lê Callery, Ô liu, Thông trắng Nhật Bản. Đây là những cây sống trong đô thị, nơi mối quan hệ con người – công nghệ tưởng chừng nổi bật hơn hẳn so với mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.
    Đúng là mối thâm giao giữa chúng ta và cây cối không trội nổi lên trên bề mặt đô thị, song chúng vẫn âm thầm quấn chặt những dây leo vào từng ngõ ngách của đời sống văn hóa, tinh thần chúng ta, bền bỉ và không thể cắt đứt.

Mỗi loài cây được trao cơ hội để giãi bày. David Haskell đặt ống nghe nơi trái tim của tự nhiên, đưa người đọc đến khắp các vùng đất trên thế giới để cùng thấu cảm những giãi bày đó. Đó có thể là tiếng rên chia cắt của cây ô liu ở vùng tranh chấp Trung Đông, là nhịp đập gỗ phong vang lên từ cây đàn vĩ cầm, hay lời kể của cọ Sabal về một câu chuyện cuộc đời không ngừng vận động để tồn tại.

Theo Haskell, cây xanh đại diện cho linh hồn của rừng, cho thấy cái quy luật nhân quả vể sự phát triển của các sinh vật trong vũ trụ. Tự thân cây xanh đã mang vẻ đẹp thuần túy nhờ vào cấu trúc bên trong, cơ chế vận hành và sự liên kết của nó với các sinh thể tự nhiên khác. Vẻ đẹp ấy còn ẩn chứa cả bề dày lịch sử và văn hóa, mang nặng ký ức của một thời đại, một bộ tộc hay đơn giản là lưu giữ truyền thống tốt đẹp của một gia đình.

Hãy lắng nghe để nhận ra những gì tồn tại.

Hãy lắng nghe để nhận ra giọng nói và thành viên của gia đình mình.

Xuyên suốt quyển sách, David Haskell khuyên người đọc lắng nghe tự nhiên. Vì chỉ có như thế, ta mới đủ rung động để nghe được những thanh âm đẹp đẽ khác của cuộc sống. Lắng nghe cây cối, những kết nối tuyệt diệu, giúp chúng ta hiểu làm thế nào sống trong các mối quan hệ mang lại nguồn gốc, bản chất và vẻ đẹp cuộc sống.

Mỗi loài cây được chú thích địa điểm, tọa độ cụ thể, tác giả xem thế giới tự nhiên như những thực thể sống.

“Tôi áp vành tai vào thân cây, tìm kiếm hào quang của miền sinh thái. Tôi không nghe thấy anh hùng nào, cá nhân nào làm nên tiêu điểm của lịch sử. Thay vào đó, từ trong tiếng hát, là bao ký ức sống động về cây cối, kể về cuộc sống cộng đồng, về mạng lưới những mối quan hệ.

Con người chúng ta thuộc về vòng hội thoại này, với tư cách cùng huyết thống và là thành viên bằng xương bằng thịt.”

David George Haskell là một nhà văn, cũng là một nhà quan sát tự nhiên sắc sảo. Quyển sách Khúc hát của cây thành hình từ đôi tai của một nhà thơ và con mắt của một nhà tự nhiên học. Quyển sách bao hàm nhiều kiến thức từ sinh học, lịch sử đến văn hóa… trong khi vẫn giữ được sợi dây văn chương và nhạc tính xuyên suốt.

Khoa học, trữ tình và đầy suy tư. Khúc hát của cây được xem là bản tình ca về cây xanh, là cuộc thám hiểm vể đời sống sinh học của chúng, đồng thời cũng là bản phân tích mang tính triết học tuyệt vời về vai trò của cây xanh trong lịch sử loài người và văn hóa hiện đại". - Science Friday, The Best Science Books of 2017

Nhận xét về sách:

"Đây là cuốn sách cho việc nuôi dưỡng tinh thần. Khúc hát của cây là lời biện luận mạnh mẽ chống lại cách thức mà con người làm đứt gãy chính những mối liên kết sinh học đem lại môi trường sống cho họ trên thế giới. Hãy lắng nghe như cách mà David Haskell đặt ống nghe nơi trái tim của tự nhiên - và khám phá những vần thơ lẫn âm nhạc tồn tại bên trong nó." - Peter Wohlleben, tác giả Đời sống bí ẩn của cây

"Khúc hát của cây lãng mạn và đầy tri thức, chứa đựng cả vẻ đẹp lẫn cảm giác mất mát." - Elizabeth Kolbert, người thắng giải Pulitzer, tác giả Đợt tuyệt chủng thứ 6

"Với đôi tai của một nhà thơ và con mắt của một nhà tự nhiên học, Haskell đã tìm lại bản thân chúng ta trong cuộc đấu tranh sáng tạo vĩ đại của cuộc sống và kêu gọi chúng ta tránh xa những con người vô cảm. Khúc hát của cây muốn nhắc nhở rằng chúng ta không cô độc và chưa bao giờ cô độc." - Neil Shea, nhà văn, National Geographic

Về tác giả:

David Haskell là nhà nghiên cứu khoa học, văn chương và tư tưởng về thế giới tự nhiên, ông là Giáo sư sinh vật học và môi trường tại Đại học miền Nam và Guggenheim. Cuốn sách đầu tiên của ông, tác phẩm The Forest Unseen (2012) đã lọt vào chung khảo giải Pulitzer (2013), đoạt giải thưởng Sách hay nhất của Viện Hàn lâm Quốc gia (2013), giải Văn chương viết về Môi trường Reed (2013), giải Sách ngoài trời Quốc gia (2012) đồng thời đoạt Á quân giải Văn chương Khoa học PEN E.O. Wilson (2013)...

Cùng với những nghiên cứu mang tính học thuật của mình, David Haskell cũng xuất bản các bài tiểu luận, xã luận và thơ ca.

“Khoa học và Nghệ thuật” của chúng ta là tự nhiên và hoang dại như chúng đã từng. Chúng ta không thể đứng ngoài lề bản nhạc cuộc sống. Âm nhạc này làm nên chúng ta; đó là bản chất của chúng ta”. – trích David Haskell

Đọc bài viết

Cafe sáng