Book trailer

Đừng nói chúng ta không lợi quyền: Bức chân dung về những bản ngã bị đánh mất

Published

on

“Nếu bạn đang đi ngược chiều gió, giữ cho lưng thẳng tắp thôi cũng được xem là một thành tựu.” Triết gia Wittgenstein như phóng tầm nhìn vượt thời đại khi viết ra điều này. Rằng, trong thời kì văn hóa nghèo nàn, “tiềm năng của cá nhân bị lãng phí khi phải vượt qua các lực lượng đối lập và lực cản ma sát.”

Sự tiêu hao năng lượng vô nghĩa này đã miêu tả hoàn hảo số phận của các nhạc sĩ cổ điển trong cuộc Cách mạng Văn hóa Trung Quốc. Âm nhạc họ cống hiến bị cấm. Nhạc cụ họ chơi bị phá hủy. Họ bị tra tấn và làm nhục, bị buộc tội phản quốc và phải đến lao động trong các trang trại và nhà máy ở làng quê. Những phẩm chất nghệ sĩ của họ, kĩ thuật điêu luyện của họ, thông qua những qui định tàn nhẫn, trở thành sâu mọt đạo đức gây nguy hại quốc gia.

Điều họ có thể làm chỉ là bảo vệ, duy trì cái bản ngã nghệ sĩ yếu ớt, vất vưởng còn sót lại trong người. Điều đó khiến nhiều người chịu không nổi và kết cục, tự tử. Sống với hai nhân dạng khác nhau là điều không thể với hàng triệu người. Trong đó có nhân vật trong tác phẩm Đừng nói chúng ta không lợi quyền, tiểu thuyết của Madeleine Thien.

Đừng nói chúng ta không lợi quyền lọt vào danh sách rút gọn của Giải Man Booker năm 2017, là cuốn tiểu thuyết thứ ba của cây viết nữ Madeleine Thien. Đó là một tác phẩm đẹp, song sầu thảm. Cuốn sách gây ấn tượng ở nhiều khía cạnh: Nó ghi dấu ấn trong ký ức bằng một dư ảnh; nó khám phá thành công những ý tưởng lớn hơn về chính trị và nghệ thuật; nó mang đậm chất sử thi của một cuốn tiểu thuyết Nga thế kỷ 19, trải qua ba thế hệ và kết hợp giữa bờ của hai lục địa.

Bạn có thể ngay lập tức bắt nhịp văn phong của tác giả từ những dòng mở đầu của quyển sách: “Trong vòng một năm, cha bỏ chúng tôi hai lần. Lần đầu tiên là khi ông kết thúc cuộc hôn nhân, và lần thứ hai, là khi ông tự kết liễu mình.”

Và thế là câu chuyện bắt đầu: Li-ling, tên tiếng Anh là Marie, là một nhà toán học người Canada gốc Hoa, kể lại cho chúng ta sự ra đi đột ngột, bí ẩn của cha cô – ông tự tử bằng cách nhảy từ cửa sổ tầng 9 khi cô mới 10 tuổi. Năm đó là năm 1989, và cái chết của ông gần như trùng khớp với vụ thảm sát ở Quảng trường Thiên An Môn, mặc dù ông đang ở Hong Kong vào thời điểm đó. Hai tháng sau, Marie và mẹ cô nhận được thư từ một phụ nữ ở Trung Quốc yêu cầu họ cung cấp chỗ ở cho con gái bà, Ai-ming, người đang gặp rắc rối với chính phủ vì cuộc biểu tình.

Marie và mẹ cô không phải ngẫu nhiên mà được lựa chọn. Cha của Ai-ming, Chim Sẻ là một nhà soạn nhạc. Ông là thầy của cha Marie – Kai, vào những năm 1960, khi họ cùng học tại Nhạc viện Thượng Hải. Kai chưa bao giờ nói về điều này với con gái mình. Cô biết cha mình đã chơi piano cho Mao Trạch Đông, nhưng nhà cô thậm chí không có một cây đàn piano.

Dần dần, Marie xâu chuỗi lại được lại cuộc đời của cha cô và lịch sử đất nước – thông qua những câu chuyện của Ai-ming, thông qua tìm tòi của riêng cô, và thông qua một loạt sổ ghi chép (hầu hết bị lãng quên) được tìm thấy trong các tài liệu cá nhân của Kai. Tài liệu mật này được gọi là “Những bản ghi”, một cuốn tiểu thuyết chắp vá, được sao chép, sửa đổi và cập nhật mỗi khi nó chuyển cho người sở hữu mới. Cuốn sách bị cấm, chỉ được truyền tay một cách bí mật dành cho “những người kháng chiến, gián điệp và những kẻ mộng mơ”.

Từ Những bản ghi, tác giả khéo léo bung mở những nút thắt, xâu chuỗi những cột mốc để gợi ra câu chuyện lớn hơn.

Trung tâm của quyển sách là Chim Sẻ, Kai và Zhuli, bộ ba người bạn gắn bó với nhau nhờ chia sẻ chung tình yêu với âm nhạc cổ điển. Kai là một đứa trẻ mồ côi tỉnh lẻ và là một nghệ sĩ dương cầm tài năng. Chim Sẻ, giáo viên của anh, là một nhà soạn nhạc nhút nhát. Zhuli, em họ của Chi Sẻ, một thiếu nữ kém anh 10 tuổi, là một nghệ sĩ vĩ cầm và có sức hút quyến rũ. “Khi Zhuli chơi nhạc,” tác giả viết, “như thể cô ấy thổi bay bụi trần và tạo ra thứ âm nhạc thực sự.”

Câu chuyện của Đừng nói chúng ta không lợi quyền được kể trên cái nền âm nhạc. Tác giả sở hữu phong cách hiếm có trong việc miêu tả lí trí là “con tin” của trái tim, ý nói tiếng gọi bên trong nội tâm nhân vật bao giờ cũng to lớn hơn tiếng gọi của thế giới bên ngoài, mà trong bối cảnh của cuốn sách, là tiếng gọi của Đảng và đất nước.

Dần dần, mâu thuẫn đến khi những sinh viên tại Nhạc viện Thượng Hải bắt đầu thực hiện các bài luận, họ thắc mắc “Âm nhạc này có gì hay, khi những thứ bùa mê sáo rỗng này chỉ lôi kéo giai cấp tư sản và cô lập người nghèo?”

Zhuli, Kai và Chim Sẻ mỗi người đưa ra những lựa chọn khác nhau về cách sinh tồn sau những động thái bạo lực nhắm vào vào danh tính “người nghệ sĩ” tại đất nước. Dù vậy, không ai trong số họ thực sự hạnh phúc với sự lựa chọn của mình.

Madeleine Thien ghi nhận một cách thẳng thắn, đau thương về sự suy đồi đạo đức, sự tê liệt của cuộc sống trong bối cảnh Cách mạng Văn hóa. Tại đó, mỗi cá nhân sống giả tạo ngay trong cuộc đối thoại với nhau hằng ngày, họ chỉ trao được cho nhau những lời ca tụng chiếu lệ dành cho Đảng và Chủ tịch Mao. Các mô tả của tác giả về sự tàn bạo của Lực lượng Vệ binh Đỏ rất thẳng thắn, trực quan đến mức khiến người ta khó chịu, chẳng hạn như “Cha mẹ của Zhuli, chủ sở hữu tài sản, bị trói như gà, bị đánh đập và bị đưa vào trại cải tạo.”

Cao trào của quyển sách là cuộc biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn. Đó là một đoạn văn điêu luyện, nơi tác giả miêu tả mọi xúc giác của con người, của sự sống thông qua con chữ. “Người bán mì phấn khởi đang cho đồ ăn. Một tấm nệm đang cháy bao trùm lấy một chiếc xe tải quân đội…”, “Chim Sẻ co rúm người dưới sức nặng của một công nhân bị đạn xuyên qua.”

Sau khi đọc xong, người đọc vẫn phải tự hỏi liệu lịch sử có đơn giản là định mệnh lặp lại chính nó hay không. Một phụ huynh phàn nàn với Chim Sẻ: “Những đứa trẻ này nghĩ rằng tất cả là tùy thuộc vào chúng. Họ không hiểu gì về số phận.”

Giống như “Những bản ghi” được cất giấu và viết tiếp, quyển sách Đừng nói chúng ta không lợi quyền có thể chính là viễn cảnh của đất nước trong tương lai: Hàm ý rằng Trung Quốc vẫn còn là một công trình dang dở, chưa hoàn thiện – giống như tác phẩm âm nhạc Bản giao hưởng số 3 của Chim Sẻ, một tuyệt tác âm nhạc thực sự, mà anh ta buộc phải giấu trên gác mái. Rồi anh đánh mất nó, như cách anh đánh mất chính nhân cách người nghệ sĩ trong mình.

Phải đến nhiều năm sau, Chim Sẻ mới có thể sáng tác trở lại. Nhưng anh ấy không thể hoàn thành tác phẩm cụ thể đó. Những ghi chú mà anh tìm kiếm đã bị vùi sâu vào quá khứ.

Hết.

Uyên dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Jennifer Senior, đăng tại The New York Times.

*

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Book trailer

Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng tái xuất với diện mạo hoàn toàn mới

Published

on

Đoạt huân chương Newbery từ năm 1972, tác phẩm của Robert C. O’Brien vẫn chinh phục trái tim độc giả nhỏ tuổi qua bao thế hệ dù đã hơn 30 năm trôi qua kể từ lần đầu phát hành. Tác phẩm lần đầu xuất bản ở Việt Nam dưới cái tên Mẹ Frisby và gia đình chuột vào thời điểm 2012. Trong lần tái bản này, cuốn sách đoạt giải Newbery sẽ mang tên mới là Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng, nội dung được biên tập lại kèm theo nhiều hình ảnh minh họa sinh động.

Khắc họa loài vật trong bối cảnh sinh tồn

Câu chuyện trong Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng xoay quanh cuộc phiêu lưu của chị chuột Frisby góa bụa cùng đàn con, khi cả gia đình phải chuyển nhà để ông chủ trang trại Fritzgibbon chuẩn bị cày cấy vườn rau cho vụ mùa mới. Nhưng Timothy, bé trai út trong nhà lại đang mắc viêm phổi nặng và không thể di chuyển giữa tiết trời lạnh giá. Quyết cứu con mình, chị Frisby đã bất ngờ rơi vào cuộc phiêu lưu có mèo và quạ, có thành phố bí ẩn dưới góc vườn. Để rồi cuộc gặp gỡ với những chú chuột NIMH phi thường và hào hiệp đã giúp mẹ con chị thoát khỏi tình thế tiến thoái lưỡng nan.

Tuy gắn mác truyện thiếu nhi, điểm đặc sắc của cuốn sách đoạt giải Newbery là lối hành văn và những tình tiết đậm chất hiện thực, mô tả sống động khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ với những chu trình tự nhiên khắc nghiệt.

Mối quan hệ đa chiều giữa chuột và con người

Loài chuột trong truyện được khắc họa rất thú vị khi chúng có thể tự ý thức về bản chất “thích trộm cắp” của giống loài. Trăn trở vì luôn phải sống phụ thuộc vào con người, chúng muốn bứt khỏi tình cảnh đó. Nhưng cũng như con người, loài chuột trong Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng không đầu hàng trước trở ngại mà biết tự nâng cấp cuộc sống của mình bằng nhiều phương tiện khác nhau. Thật thú vị khi Robert C. O’Brien đưa những chi tiết mô tả phòng thí nghiệm, điện nước, vật dụng cơ khí… trong một tác phẩm ngỡ như truyện cổ tích về loài vật.

Tác giả đứng vào thế trung lập khi đánh giá mối quan hệ giữa con người với loài vật, xét trên phương diện cả hai phe đều phải vật lộn vì mục đích sinh tồn. Đồng thời, người lớn cũng có thể đọc tác phẩm để khám phá một góc nhìn độc đáo về thế giới loài vật, chiêm nghiệm về vị thế của chúng ta giữa tự nhiên bao la.

Tranh minh họa sống động, đáng yêu

Trở lại với diện mạo mới, tác phẩm Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng có thêm phần tranh minh họa in màu của họa sĩ Việt Nam với những màu sắc tươi sáng, tạo hình nhân vật dễ thương, giúp bạn đọc hình dung rõ hơn về thế giới của loài vật được mô tả qua những câu chữ.

Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng mang đến câu chuyện đậm chất phiêu lưu giả tưởng, vừa gần gũi, đề cao tình mẫu tử mà không hề giáo điều hay phán xét. Sở hữu nội dung hấp dẫn, thông điệp ý nghĩa và phần hình thức bắt mắt, tác phẩm thiếu nhi đoạt giải Newbery hứa hẹn sẽ là món quà phù hợp với trẻ nhỏ lẫn người lớn vào mùa lễ tết sắp tới.

Về giải thưởng Newbery:

Xuất hiện từ năm 1922 ở Mỹ, Newbery Medal là giải thưởng danh giá dành cho sách thiếu nhi đầu tiên trên thế giới, được Hiệp hội Dịch vụ Thư viện cho Trẻ em (ALSC) trao tặng các tác giả có đóng góp quan trọng cho nền văn học trẻ em Mỹ. Tại Việt Nam đã có những đầu sách đoạt huân chương Newbery được xuất bản, bao gồm Mẹ Frisby và hội chuột NIMH siêu đẳng, Charlotte và Wilbur, Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên, Hòn đảo cá heo xanh

Về tác giả:

Robert C. O’Brien tên đầy đủ là Robert Leslie Carroll Conly, sinh ngày 11.1.1918 ở Brooklyn, New York. Ông theo học trường William College và tốt nghiệp Đại học Rochester. Sau đó ông trở thành nhà văn kiêm nhà báo của tờ Newsweek , National Geographic cùng nhiều tờ báo khác. Ông sống tại New York, rồi chuyển đến Washington cùng vợ và bốn đứa con.

Sau khi Robert C. O’Brien qua đời (ngày 5.3.1973), cuốn tiểu thuyết Z for Zachariah đã được vợ và con gái ông tiếp tục chấp bút dựa theo những phác thảo còn lại.

Các tác phẩm của ông bao gồm: The Silver Crown; Mrs. Frisby and the Rats of NIMH; A Report from Group 17Z for Zachariah.

Đọc bài viết

Book trailer

2030: Những xu hướng lớn sẽ định hình thế giới tương lai – Hành trang cho xã hội mai sau

Published

on

Thế giới mà chúng ta sống đang thay đổi nhanh hơn bao giờ hết. Nếu như ngày trước, con người mất hàng nghìn năm để hình thành các xã hội sơ khai, thì giờ đây, chỉ trong khoảng thời gian nửa thế kỉ, một người có thể chứng kiến biết bao cuộc chiến bừng lên rồi dập tắt, biết bao thể chế từ lúc hưng thịnh cho đến khi suy tàn.

2030 là mốc thời gian mà tác giả Mauro F. Guillén đặt ra trong cuốn sách viết về tương lai. Năm 2030 thoạt nghe thật gần nhưng với tốc độ phát triển vũ bão của khoa học, công nghệ thông tin và quá trình toàn cầu hóa ngày nay, 10 năm cũng đủ tạo ra vô vàn biến động nằm ngoài trí tưởng tượng của chúng ta.

Cộng với những tác động tàn phá từ dịch bệnh Covid-19, tác giả Mauro F. Guillén khẳng định con người của năm 2030 không thể tiếp tục sống theo lối truyền thống. Vậy nên cuốn sách của ông ra đời nhằm giúp độc giả có một cái nhìn khái quát về các xu hướng đang diễn ra trên toàn cầu, đồng thời tự trang bị trước những cơ hội lẫn thách thức của thế giới mới để không bị tụt lại phía sau.

Được viết bằng văn phong hấp dẫn đan xen các dẫn chứng khoa học, 2030: Những xu hướng lớn sẽ định hình thế giới tương lai là một bản phân tích sâu rộng, chặt chẽ và đầy thuyết phục về xã hội loài người trong thập niên tới, trải dài trên nhiều lĩnh vực từ nhân khẩu học, kinh tế, đô thị hóa cho đến những cách tân công nghệ mới nhất như tiền điện tử và trí tuệ nhân tạo.

Tác giả Mauro F. Guillén

Qua đó, cuốn sách nêu bật những ý quan trọng:

  • Trong thập niên tới, số trẻ sơ sinh sẽ ít đi do hiện tượng giảm sinh toàn cầu. Thay vào đó, thế hệ “đầu bạc” có thêm cơ hội tiến vào thị trường việc làm, trở thành nhóm khách hàng được các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu.
  • Tầng lớp trung lưu mới và cũ sẽ tranh giành vị thế khi trọng tâm tiêu dùng toàn cầu dịch chuyển sang các lục địa nằm ngoài châu Âu và Mỹ.
  • Xuất hiện thêm nhiều phụ nữ giàu có khiến cơ cấu quyền lực của xã hội dần chuyển hóa, nhưng họ cũng phải đối mặt với nhiều áp lực hơn và xu hướng này có thể dẫn đến xung đột giữa các nhóm phụ nữ khác nhau trong xã hội.
  • Các thành phố tăng trưởng mạnh mẽ tạo ra hàng loạt vấn đề mới như biến đổi khí hậu, khủng hoảng nhu cầu nước và đất đai.
  • Hàng loạt công nghệ đột phá như AI (trí tuệ nhân tạo), xe điện, in 3D, công nghệ nano… mở ra rất nhiều tiềm năng để giải quyết các vấn đề xã hội, đồng thời cũng đưa đến nhiều tình thế nan giải khi các phương thức truyền thống và lớp người lao động cũ bị thế chỗ. 

Còn rất nhiều dự đoán thú vị về nền kinh tế chia sẻ, thế giới không tư hữu, các dự đoán về blockchain (chuỗi khối) và tiền tê tương lai đang chờ bạn đọc khám phá.

Về tác giả:

Mauro F. Guillén là diễn giả, nhà tư vấn uy tín cho nhiều doanh nghiệp, một chuyên gia hàng đầu về xu hướng toàn cầu. Ông từng tốt nghiệp Xã hội học ở Đại học Yale và Kinh tế học ở Tây Ban Nha. Ông đồng thời cũng là một nhà tư tưởng, học giả và giáo viên đoạt giải thưởng tại Trường Wharton, nơi ông giữ chức Giáo sư Zandman về Quản lý Quốc tế và giảng dạy trong Chương trình Quản lý Nâng cao hàng đầu cùng nhiều khóa học khác cho giám đốc điều hành, MBAs và sinh viên đại học.

Hiện nay, ông là Giám đốc kiêm Hiệu trưởng của Trường Kinh doanh Cambridge Judge và là thành viên của Queen's College tại Đại học Cambridge.

Những cuốn sách đã xuất bản: The Architecture of Collapse, Global Turning PointsEmerging Markets Rule.

Đọc bài viết

Book trailer

Giải Booker 2021 gọi tên nhà văn người Nam Phi Damon Galgut

Published

on

Sau hai lần lọt vào danh sách rút gọn, cuối cùng tiểu thuyết gia kiêm nhà soạn kịch Damon Galgut đã nhận giải Booker Prize (cùng khoản tiền mặt 50,000 bảng Anh) cho tiểu thuyết The Promise. Ông là nhà văn người Nam Phi thứ ba nhận được vinh dự này, sau J. M. Coetzee và Nadine Gordimer.

Lần đầu tiên là “một người chiến thắng”

Khi Damon Galgut hay tin The Promise lọt vào danh sách rút gọn Giải Booker 2021, ông đã rất bồn chồn. Từng hai lần lọt vào vòng short-list (năm 2003 và 2010), và cả hai lần gánh nặng của danh hiệu được đề cử “có lẽ đã bào đi vài năm tuổi đời tôi”.

Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Guardian, Galgut chia sẻ: “Trong vài tuần đầu, anh được coi là một trong sáu người thắng cuộc; rồi đột nhiên, rất đột nhiên, tất cả sự chú ý đang đổ dồn vào anh bỗng biến mất, và rồi chỉ có duy nhất một người chiến thắng, còn lại đều là những kẻ bại trận.”

Nhưng năm nay mọi chuyện đã khác. Hội đồng chấm giải Booker đã viết những lời ca ngợi đứa con tinh thần của ông, vì “phong cách kể chuyện khác thường cân bằng giữa sự hoa mỹ kiểu Faulkner với tính chính xác của Nabokov, phá bỏ giới hạn, là minh chứng cho sự phát triển rực rỡ của tiểu thuyết thế kỷ 21”.

Damon Galgut vào khoảnh khắc công bố kết quả Giải Booker 2021. Ảnh: The Washington Newsday

Giới phê bình văn học đã ví von lối viết thử nghiệm của ông với các bậc thầy chủ nghĩa hiện đại như Virginia Woolf, James Joyce và William Faulkner; đồng thời một số khác ghi nhận tác phẩm của ông nợ một lời cảm ơn đến nhà văn đồng hương J. M. Coetzee.

Lời giễu nhại cay độc giữa thời đại phân biệt chủng tộc

The Promise, tiểu thuyết thứ chín của Damon Galgut, là bức chân dung vừa hiểm ác vừa ngớ ngẩn đến mức ảm đạm về gia đình nhà Swart - hậu duệ thực dân Hà Lan - đang cố gắng níu giữ trang trại, đất đai và địa vị của họ ở Nam Phi thời hậu phân biệt chủng tộc.

Những ý tưởng đầu tiên được sinh ra từ cuộc trò chuyện với người bạn vừa đi dự một loạt đám tang của người nhà. Từ đó, Galgut bắt đầu viết một cuốn tiểu thuyết xoay quanh trọng tâm là một gia đình - “chỉ là một đám người Nam Phi da trắng đơn điệu,” - khi người mẹ quyền uy qua đời vì ung thư năm 1986, cũng là lúc Nam Phi đang rung chuyển vì bất ổn chính trị. Tiêu đề The Promise đề cập đến lời hứa (và thất hứa) của gia đình Swart, rằng sẽ trao nhà và đất cho người quản gia da đen tận tụy, đồng thời cũng ám chỉ sự bội tín, về cái viễn cảnh bình đẳng xã hội thời hậu phân biệt chủng tộc mãi mãi chẳng thể thành hình.

The Promise, tiểu thuyết thứ chín của Damon Galgut, là bức chân dung vừa hiểm ác vừa ngớ ngẩn đến mức ảm đạm về gia đình nhà Swart - hậu duệ thực dân Hà Lan - đang cố gắng níu giữ trang trại, đất đai và địa vị của họ ở Nam Phi thời hậu phân biệt chủng tộc. Ảnh: CNN

The Promise đạm bạc, đâu đó hiểm ác, đâu đó hóm hỉnh cay độc. Khi cuốn sách khép lại, chỉ có duy nhất một người mang họ Swart sống sót. Galgut ghi chép tỉ mỉ tiến trình tử vong của con người; những công việc vụn vặt của nhà tang lễ được trình bày qua các tình tiết tẻ ngắt, cũng như thứ mùi khó ngửi của kẻ sống và người chết. Galgut liên tục đề cập đến cái thứ gì đó đắng chát hay bị chôn vùi ở “lõi chua” của cả người nhà Swart và đất nước Nam Phi, và có lẽ ngay trong chính bản thân sự sống: “bản chất của mọi thứ đều là sự dối trá.”

Cuốn tiểu thuyết còn ghi lại những thăng trầm của một Nam Phi đang thay da đổi thịt - khởi đầu bằng buổi nhậm chức của Nelson Mandela. Tuy nhiên, các nhân vật da trắng vẫn thản nhiên bác bỏ sự tồn tại của người da màu. Sự tự mãn, thụ động của nhà Swart chỉ có thể cứu chuộc bằng lời hứa bị trì hoãn từ lâu - rằng quản gia Salome có thể thừa hưởng ngôi nhà khiêm tốn trên mảnh đất mà cô đang sống. Galgut mượn sự thất hứa này để khắc họa tình trạng băng hoại đạo đức nghiêm trọng trong cộng đồng người da trắng tại Nam Phi.

Những ảnh hưởng từ J. M. Coetzee

Mặc dù phần lớn The Promise có bối cảnh tại những thập kỷ trước, nhưng chủ thể của cuốn sách - hậu quả của chủ nghĩa thực dân và nạn phân biệt chủng tộc, câu hỏi còn bỏ ngỏ, rằng ai mới thuộc về mảnh đất này - vẫn còn vang vọng tại đất nước Nam Phi. “Câu chuyện đất đai, ai đang sở hữu nó, ai đã từng sở hữu nó, ai sẽ sở hữu nó trong tương lai, đây là trọng tâm trên bàn tròn chính trị Nam Phi hiện nay”.

Văn chương của Galgut từ lâu đã được mang lên bàn cân so sánh với các tác phẩm của người đồng hương J. M. Coetzee - nhà văn chuyên chắt lọc những bạo lực của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc thành những câu chuyện ngụ ngôn u ám. Cả hai tác giả đều viết về những gì hội tụ tại ngã ba chính trị, tinh thần và thể xác; cơn ác mộng mang tên phân biệt chủng tộc vấn vít với nhu cầu dai dẳng của thân xác phàm trần. Coetzee có thể khơi dậy niềm vui hiện sinh nghiệt ngã từ hoàn cảnh khốn khó của các nhân vật chính. Trong khi đó, Galgut trong The Promise là một nhà văn trào phúng, nghiêng hẳn về cái vô cảm và đạo đức giả trong các nhân vật của ông.

Văn chương của Galgut từ lâu đã được mang lên bàn cân so sánh với các tác phẩm của người đồng hương J. M. Coetzee - nhà văn chuyên chắt lọc những bạo lực của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc thành những câu chuyện ngụ ngôn u ám. Ảnh: Micheline Pelletier/Corbis

Tuy nhiên, cả hai nhà văn đều viết về những cái xấu xa; và khi anh em nhà Swart trôi theo số phận thê lương, Galgut lại theo đuổi viễn kiến của Coetzee về cái khó của loài người, mà trạng thái mặc định là nỗi đau. Tôi đau, vì vậy tôi tồn tại.

Hết.

Mèo Heo lược dịch từ New York Time.

Đọc bài viết

Cafe sáng