Chuyện người cầm bút

Một cuộc chuyện trò với Wu Ming-yi, tác giả Người mắt kép

Published

on

Về Người mắt kép:

Trong cuốn tiểu thuyết Người mắt kép vừa được giới thiệu, chuyển ngữ và ra mắt gần đây; có một quy luật trên đảo Wayo Wayo rằng: người con trai thứ trong mỗi gia đình vào ngày tròn mười lăm tuổi phải dong talawaka (một kiểu thuyền độc mộc tự làm) ra biển như vật hiến tế cho Kabang – Thần Biển. Atile’i là một cậu bé như thế, với thiên tư bơi lội và tài đi biển, đã quyết tâm bất chấp vận mệnh để trở thành người đầu tiên sống sót trở về.

Cũng trong lúc đó, Alice Shih – một người phụ nữ vừa mất chồng và con trai trong một tai nạn leo núi, đang âm thầm chuẩn bị tự sát trong ngôi nhà bên bờ biển của mình. Nhưng kế hoạch ấy sẽ mãi gián đoạn, khi vòng xoáy rác ập vào bờ biển Đài Loan, cuốn theo Atile’i.

Sau sự kiện ấy, Alice nhờ sự hợp sức của Atile’i lần theo dấu vết người chồng quá cố lên núi, với hy vọng giải đáp được sự bí ẩn về việc mất tích của cậu con trai. Trong cuộc hành trình của họ, ký ức là những chướng ngại; các mối liên kết bắt đầu thành hình; trong khi những bí ẩn đen tối dần được hé lộ sẽ buộc Alice phải đặt câu hỏi về tất cả những gì cô nghĩ mình biết.

Câu chuyện hài hước và đầy đau buồn này gợi lên rất nhiều những cung bậc cảm xúc khác nhau. Nó nhắc tôi nhớ trí tưởng tượng trong các tiểu thuyết đôi khi cũng có quyền năng mang đến góc nhìn rộng mở và “vượt trội” hơn những sự thật vẫn đang diễn ra trước mắt, về biến đổi khí hậu, về môi trường… mà ta vẫn còn mù mờ. Phép ẩn dụ về đôi mắt kép cũng đồng thời ám chỉ những góc nhìn đa dạng của thiên nhiên xung quanh. Wu Ming-Yi là một trong nhiều tiểu thuyết gia mà tôi từng trò chuyện hoàn toàn không có chủ ý viết về biến đổi khí hậu ngay lúc ban đầu, nhưng những vấn đề này đã đến với anh và câu chuyện của mình vô cùng tự nhiên.

“Chúng ta chưa từng đọc thứ gì như cuốn tiểu thuyết này. Chưa bao giờ. Nam Mỹ đã trao cho chúng ta chủ nghĩa hiện thực huyền ảo – còn Đài Loan thì trao cho chúng ta gì đây? Một cách kể mới về hiện thực mới của chúng ta, đẹp đẽ, thú vị, đáng sợ, phi lý, chân thật. Hoàn toàn không ủy mị nhưng cũng chưa bao giờ tàn bạo, Wu Ming-Yi đối xử với sự yếu ớt của con người và của thế giới bằng sự dịu dàng đầy can đảm.”– Ursula K. Le Guin, tác giả của Mê cung xứ hải địa, Bến bờ xa nhất…

Đài Loan đang có nhiệt độ ấm hơn, và cũng tương tự nhiều nơi trên thế giới, được dự báo sẽ phải đối mặt với nước biển dâng cao và những cơn bão cực mạnh. Nằm trong làn sóng các nhà hoạt động vì khí hậu trẻ, Kaisanan Ahuan đến từ Thị trấn Puli, Đài Loan – một thành viên của những sắc dân thiểu số, từng chia sẻ thế này trên tờ The Guardian:

Là người dân bản địa Đài Loan, chúng tôi đặc biệt dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu. Truyền thống của chúng tôi bắt nguồn sâu xa từ sự hài hòa vốn có với tinh thần tự nhiên. Chúng tôi phải đối mặt với mất mát đau thương do các hiện tượng thời tiết ngày càng trở nên khắc nghiệt.

Trò chuyện với Wu Ming-Yi:

Mary: Người mắt kép kể về hai câu chuyện: một thần thoại và một đương đại, về những cá thể bị ảnh hưởng bởi sự nóng lên toàn cầu và những vấn đề cá nhân của bản thân họ. Đó là sự tưởng tượng mới mẻ trong cách kể chuyện đầy độc đáo. Điều gì khiến anh lựa chọn viết nó?

Wu Ming-Yi: Nhiều năm trước tôi đã nghe đến thông tin về các xoáy rác ở biển Bắc Thái Bình Dương. Ngay cả khi không có những tấm ảnh chụp, một chuỗi những cảnh tượng cứ thế vẫn ám ảnh tôi hết đêm đến ngày. Khi thời gian trôi qua, chúng trở nên gắn kết và thành một khối thống nhất trong tâm trí tôi. Nó làm tôi nhớ đến nơi mình đang sống, Hualian. Hualian là một thành phố nhỏ hướng ra bờ Thái Bình Dương. Tôi hay đứng đó ngắm nhìn những cánh chim bay. Lúc đó ý tưởng về việc rất có thể một ngày nào đó tất cả rác thải sẽ bay ngược về để gặp người đã tạo ra chúng – chính chúng ta. Ngoài ra, với sự hiểu biết về biến đổi khí hậu và sự đam mê với biển, tôi bắt đầu chương đầu tiên của Người mắt kép.

Mary: Tôi thích câu chuyện về Atile’i và hòn đảo Wayo Wayo. Điều này có điểm chung nào với các truyền thuyết có thật của Đài Loan không?

Wu Ming-Yi: Về mạch truyện này, tôi đã nghiên cứu rất nhiều cuốn sách trong lĩnh vực dân tộc học, và dĩ nhiên, có tồn tại một hòn đảo xinh đẹp mang tên Lanyu và những cư dân của nó là người bản địa Tao. Do đó, Wayo Wayo được tôi phôi thai như là một nhóm dân cư sống đời tập trung vào biển, có một khả năng nào đó sẽ giao tiếp được với các nền văn minh khác dựa trên đất liền. Tôi cũng tham vọng mô tả sự phức tạp của các chủng tộc và sắc tộc Đài Loan bản địa. Do đó, tôi đã thêm bộ tộc Bunun vào câu chuyện của mình.

Mary: Câu chuyện về Alice cũng thú vị không kém. Ngôi nhà của cô ấy thực sự đang chìm trong nước biển dâng, và đồng thời cũng phải đối mặt với sự mất mát và đau buồn tột độ. Điều gì đã khiến anh nghĩ mình phải tạo nên được nhân vật này?

Wu Ming-Yi: Tôi sống giữa Đài Bắc và Hualian. Đài Bắc là thành phố lớn mà mọi người đang cố quên đi bản thân vẫn được che chở dưới bàn tay của tự nhiên; trong khi Hualian là một vùng đất khá nhỏ nằm ở khúc giao giữa một ngọn núi cao 3.000 foot và biển Thái Bình Dương. Những người sống gần tự nhiên có thể cảm nhận được ​​những thay đổi và xúc động hơn trước thực tế môi trường ngày càng xấu đi. Sự tuyệt vọng trong đời sống cá nhân đan xen với nỗi thất vọng gấp bội khi nhận thức về môi trường. Tôi đã xây dựng Alice vì muốn bày tỏ cảm giác này.

Mary: Người mắt kép đề cập đến một số tác động môi trường như biến đổi khí hậu, xoáy rác, săn bắt cá voi, xây dựng – quy hoạch và săn hải cẩu. Thật ngạc nhiên khi anh xây dựng những vấn đề này thành một cuốn tiểu thuyết trong khi chỉ như đang kể về một câu chuyện tuyệt vời. Anh có nghĩ tiểu thuyết có thể trở thành công cụ để khám phá các vấn đề về môi trường không?

Wu Ming-Yi: Những vấn đề này đến với câu chuyện một cách tự nhiên. Trên thực tế, tôi không chủ ý cho thêm chúng vào. Trong quá trình tạo ra các nhân vật, những sự kiện trên chỉ đơn giản là có xuất hiện trong cuộc sống của họ, vì vậy tôi buộc mình xem xét sự thật ẩn sâu trong những vấn đề mà bạn đề cập. Bản thân tôi cũng từng tham gia một số nhóm hoạt động về môi trường, và mặc dù có vài chủ đề vẫn còn lạ lẫm với độc giả đại chúng, nhưng tôi hiểu rõ và muốn được giới thiệu đến đông đảo độc giả hơn.

Mary: Anh thấy Đài Loan thay đổi thế nào trong thời kỳ môi trường ô nhiễm, trái đất nóng lên…?

Wu Ming-Yi: Đài Loan đang trở thành nạn nhân của biến đổi môi trường do các doanh nghiệp phương Tây thiết lập các ngành công nghiệp ô nhiễm cao ở đây. Tất nhiên, Đài Loan phải tự trách mình vì chính phủ không chú ý đến việc bảo vệ môi trường. Hiện tại, Đài Loan đang đứng trước một sự lựa chọn: đó là trở thành điển hình về môi trường cho Đông Nam Á; hoặc, bị bỏ rơi trên con đường tăng trưởng kinh tế. Một số người cho rằng mục tiêu kép này có thể đạt được đồng thời, nhưng là một quốc gia có nguồn lực hạn chế, với thực tế là dân số đang giảm nhanh chóng, cũng như sức ép từ phía Trung Quốc hiện tại; thì có thể nói ý tưởng này như đang mơ hảo. Đài Loan phải tìm bằng được giá trị của mình như một phần của nền văn minh nhân loại, đồng thời phải quan tâm hơn đến những vẻ đẹp tự nhiên. Đài Loan do đó rất nên quyết tâm chống ô nhiễm để tạo ra tác động tích cực chống lại sự nóng lên toàn cầu.

*

Wu Ming-Yi sinh năm 1971 tại Đài Loan, và cũng là nơi anh hiện sinh sống. Là một nhà văn, nhà thiết kế, nhiếp ảnh gia, giáo sư văn chương, nhà sưu tầm bướm và nhà hoạt động về môi trường; anh giảng dạy môn viết sáng tạo tại Đại học Quốc gia Dong Hwa từ năm 2000 và hiện là giáo sư Khoa tiếng Trung. Wu Ming-Yi là tác giả của nhiều cuốn sách viết về thiên nhiên, trong đó Người Mắt KépChiếc xe đạp mất cắp đã được dịch và giới thiệu tại Việt Nam. Cuốn tiểu thuyết thứ hai, The Way of Butterflies (tạm dịch: Đường bay của những con bướm) đã được trao Giải Sách mở rộng của Thời báo Trung Hoa (China Times Open Book Award) vào năm 2003. Cuốn tiểu thuyết đầu tay, Routes in the Dream (Tạm dịch: Đường về trong những giấc mơ) cũng được vinh danh là một trong mười cuốn sách viết bằng tiếng Trung hay nhất do tạp chí Asian Weekly bình chọn. Trong khi đó Chiếc xe đạp mất cắp đã đưa anh trở thành người Đài Loan đầu tiên lọt vào danh sách để cử Man Booker Quốc tế. Người Mắt Kép là cuốn sách đầu tiên của anh được dịch sang tiếng Anh.

Hết.

Cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi Mary Woodbury cho tờ dragonfly.eco.
minh dịch.

Chuyện người cầm bút

Nhật Chiêu: Truyện tuyệt ngắn không dễ viết

Published

on

By

Lời tiên tri của giọt sương (xuất bản năm 2011) do nhà văn Nhật Chiêu chấp bút là tập truyện tuyệt ngắn và truyện một câu đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam. Qua đó, Nhật Chiêu cũng là một trong những nhà văn tiên phong cho thể loại này ở Việt Nam. Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn về truyện tuyệt ngắn.

Tại sao ông lại viết truyện tuyệt ngắn?

Có người gọi truyện tuyệt ngắn và truyện một câu là Hint fiction, tức là truyện có số lượng trên dưới khoảng 25 từ, là loại truyện khơi gợi một cái gì lớn hơn và phức tạp hơn với số lượng chữ ít ỏi nhất. Trong văn chương, tôi thích những gì khơi gợi hơn là những gì thuyết lí, phô bày lộ liễu. Sự khơi gợi sẽ đưa ta đến chân trời khoáng đạt, còn sự phô bày lộ liễu chỉ là hủy diệt mà thôi.

Có nhiều ý kiến cho rằng khi chuyển sang viết truyện tuyệt ngắn là ông đang chọn hướng đi dễ dãi với mình hơn, ông viết truyện tuyệt ngắn vì ông không thể viết những truyện dài. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Truyện một câu không hề dễ như người ta tưởng tượng. Bởi vì ngay cả trên thế giới, dù thể loại này đã tồn tại trước Việt Nam thì số lượng tác giả thành công cũng như tác phẩm thành công là rất hiếm. Nếu hỏi truyện một câu trên thế giới mà được nhớ đến và thường được trích dẫn thì chỉ có một, hai trường hợp. Trong đó, có Augusto Monterroso - tác giả Guatemala với truyện một câu: Khủng long gồm 8 chữ chữ như sau: “Thức dậy, con khủng long vẫn còn đó.” Truyện này được nhiều nhà văn lớn, trong đó có Italo Calvino ca ngợi hết lời, là đề tài cho nhiều tiểu luận khác nhau. Nếu truyện một câu là dễ dàng thì thử hỏi vì sao ít truyện một câu đạt được thành tựu đến thế. Người ta vẫn nói thơ Haiku dễ làm nhưng thật ra có bao nhiêu bài thơ Haiku được nhớ đến như là tuyệt tác. Tại sao quanh đi quẩn lại cũng chỉ là Basho, Issa, Buson, Shiki? Cho nên hãy cứ tạm xem truyện một câu hoặc hai, ba câu cũng giống như trường hợp thơ Haiku. Dễ hay khó không chắc gì quyết được và cũng chẳng cần tranh luận. Ai cảm thấy nó dễ thì cứ thử viết chơi vài trăm truyện. Thế thôi, bao giờ cũng vậy, dễ nhất là nói. Làm lại là một chuyện khác.

Trong văn học của nhiều nước vẫn luôn luôn tồn tại những nhà văn chỉ viết truyện ngắn. Như vậy, ngắn hay dài không phải là thước đo và thật sự càng ngày càng có xu hướng nhiều nhà văn viết truyện tuyệt ngắn. Tôi có rất nhiều tập truyện tuyệt ngắn của nhiều nhà văn loại này như Augusto Monterroso hoặc như tập truyện Hint fiction do Robert Swartwood tuyển của nhà xuất bản lừng danh Norton, hoặc các tập sách mang tên Flash fiction, Micro fiction…Mỗi ngày tôi đều đọc một vài truyện tuyệt ngắn hoặc truyện một câu của các nhà văn trên thế giới mà tôi đã may mắn sưu tầm được và càng đọc tôi càng thấy khó viết. Đó là ý kiến của tôi.

Là người đi tiên phong ở thể loại truyện tuyệt ngắn, trong quá trình viết, điều gì khiến ông cảm thấy khó khăn nhất?

Do thói quen thường xuyên đọc thơ Haiku và công án Thiền tông, đôi khi chỉ có vài từ hoặc chỉ duy nhất một từ, tôi từng ao ước trong thể loại truyện này cũng có những hình thức tương tự. Nhưng vấn đề là làm sao để cho dài ngắn thế nào thì truyện cũng phải có cái gọi là diễn biến truyện, nghĩa là có tính chất tự sự. Muốn vậy, phải có phương pháp, có cách sử dụng ngôn từ đặc biệt. Nếu không thì mọi sự sẽ thành nhảm và ai cũng làm được dễ dàng. Ví dụ: truyện có chữ Đất sẽ chẳng có nghĩa lí gì nếu như nó không có một tiêu đề thích hợp để gợi lên một vận động của truyện. Tiêu đề ở đây là Sử thi nàng Sita và “toàn văn” của truyện nhờ cái tiêu đề đó mà phát tiết ý nghĩa.

Khó khăn lớn nhất theo tôi vẫn là làm sao để nó đến được với người đọc một cách thuyết phục. Điều này không một tác giả nào có thể nắm chắc. Có những cái thuộc về thói quen, thành kiến, tầm đón đợi, thiếu thông tin… sẽ là những chướng ngại cho việc người đọc bước vào văn bản mà không e dè. Còn trong khi sáng tác, tôi cảm thấy mình quen thuộc với thể truyện tuyệt ngắn như thể có “nhân duyên gắn kết” - theo cách nói của Hoàng Lương, người viết lời bạt cho Lời tiên tri của giọt sương.

Ảnh: Thiên Kim
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Nhà văn Nhật Chiêu: Văn học nước ngoài nên được dạy như văn học Việt Nam

Published

on

By

Những tác phẩm văn học nước ngoài (VHNN) được đưa vào sách giáo khoa như một phần học chính thức bên cạnh văn học Việt Nam (VHVN). Thế nhưng, vì trong đề thi tốt nghiệp, đại học, đa phần tập trung vào VHVN nên việc giảng dạy VHNN trong nhà trường còn nhiều bất cập. Nhiều trường vì chạy đua theo thành tích nên đã không giảng dạy VHNN mà dành giờ học đó để tập trung ôn thi cho VHVN. Trước thực trạng trên, Bookish đã có cuộc trao đổi với nhà văn, nhà giáo Nhật Chiêu - người có nhiều công trình nghiên cứu về văn học của các nước trên thế giới.

Thầy nghĩ sao về việc hiện nay nhiều trường không giảng dạy VHNN hoặc dạy rất sơ sài?

Đối với tôi, điều này không có gì là lạ cả. Đó là do các phần kiến thức thuộc về VHNN ít khi được đưa vào đề thi nên mới xảy ra tình trạng như thế. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nếu đã đưa VHNN vào chương trình giảng dạy thì phải làm sao cho đồng nhất việc dạy ở tất cả các trường. Còn nếu có trường dạy, trường không vì chỉ học cho biết thêm thì đừng nên đưa vào chương trình.

Theo quan điểm của thầy thì có nên cho giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN không?

Tôi không bức xúc về chuyện hiện nay VHNN chỉ được dạy như một kiến thức phụ trong môn Văn ở trường nhưng đúng là nếu để giờ học VHNN bằng với giờ học VHVN thì sẽ tốt hơn rất nhiều. Đây là một việc nên làm. Cũng giống như khi ta học Toán, đó là một sự tổng hợp từ nhiều nền Toán học trên thế giới. Ta đâu có phân biệt, hay nói là đang học “Toán học Việt Nam”. Tương tự như vậy, tôi muốn môn Văn học cũng được nhìn nhận như thế. Càng học được từ nhiều nước khác nhau, ta càng có cái nhìn toàn diện và quan điểm đúng đắn hơn.

Theo thầy, việc học VHNN ngày xưa và bây giờ có gì khác nhau?

Ngày xưa, vào thời tôi thậm chí còn không có môn VHNN. Môn Văn được gọi bằng những cái tên như: “Việt Văn”, “Quốc Văn”, “Văn học Hán-Nôm”, “Văn học Việt-Hán”. Như vậy là ngay cái tên môn học cũng đã xác định rất rõ là chỉ dạy VHVN. Việc đặt tên môn Văn học như chương trình bây giờ là chính xác hơn.

Nếu là vậy thì ngày xưa thầy học VHNN từ những nguồn nào, bắt đầu từ khi nào mà thầy có ý thức nên học VHNN?

Từ bé đến nay, tôi chưa học VHNN một giờ nào theo nghĩa đến trường học. Tôi tự học chủ yếu qua sách báo, những tác phẩm nghiên cứu dịch thuật. Tôi bắt đầu có ý thức về việc này từ năm lớp 6. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ nếu VHNN được dạy một cách đàng hoàng, chính thức trong nhà trường thì vẫn vui hơn. Điều này cũng giống như khi bạn yêu mến một bản nhạc nào đó. Bạn có thể tự nghe nó một mình ở nhà cũng được nhưng cảm giác đến nhà hát nghe nhạc sống vẫn thích hơn phải không nào?

Thầy nghĩ như thế nào khi có người nói rằng việc học VHNN quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của học sinh. Cụ thể là các em sẽ suy nghĩ và viết văn theo cách của người phương Tây, của nước ngoài, không còn là của người Việt Nam nữa?

Đối với bản thân tôi, những chuyện khi tôi viết văn là những chuyện có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào. Và tôi thích văn chương như thế hơn là phải tự bó buộc mình khi viết với suy nghĩ rằng: “Tôi là người Việt Nam. Tôi chỉ viết những chuyện thuộc về Việt Nam.” Chẳng hạn như một trong những truyện cực ngắn mới nhất của tôi có câu như thế này: “Là người cuối cùng được phóng vào vũ trụ, anh nhìn thấy trái đất nổ tan.” Đó là chuyện có thể xảy ra ở bất cứ đâu mà cũng có thể chẳng xảy ra ở đâu cả. Nó chỉ nói về cảm giác của một con người cô đơn, lạc loài nói chung. Tôi muốn nhắn với các bạn như thế này: “Cứ viết những gì mình thích, những gì mình nghĩ.”

Ảnh: Ông Đồ Nghệ
Bài viết: Kodaki

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Cafe sáng