Nối kết với chúng tôi

Chuyện người cầm bút

‘Đừng gọi tôi là dân nhập cư, hãy gọi tôi là người tị nạn’: Một cuộc phỏng vấn với Viet Thanh Nguyen

Tiểu thuyết gia gốc Việt bàn về văn học tị nạn và khái niệm “thiên tài.”

Published

on

‘CALL ME A REFUGEE, NOT AN IMMIGRANT’: VIET THANH NGUYEN
Jon Wiener

Viet Thanh Nguyen là tác giả tiểu thuyết The Sympathizer nhận giải Pulitzer năm 2016, đồng thời cũng là người nhận danh hiệu “Thiên tài” từ Quỹ MacArthur. Viet Thanh Nguyen là chủ biên cuốn sách mới Kẻ ly hương, tác phẩm tập hợp 17 bài tiểu luận của 17 tác giả vốn xuất thân là người tị nạn từ khắp nơi trên thế giới.

Nội dung cuộc phỏng vấn đã có sự chỉnh lược.

Jon Wiener (JW): Anh khăng khăng mong muốn người khác gọi mình là người tị nạn chứ không phải là dân nhập cư. Vì sao?

Viet Thanh Nguyen (VTN): Khái niệm “nhập cư” ở Hoa Kỳ rất kiên cố. Chúng ta tự gọi mình là “quốc gia của dân nhập cư”; một phần huyền thoại lập quốc cho rằng dân nhập cư đã đến đây và hiện thực hóa giấc mơ Mỹ. Thậm chí trong khoảnh khắc này của lịch sử, khi thái độ bài ngoại vốn luôn hiện hữu đã dâng đến cao trào, thậm chí những người không ưa dân nhập cư cũng tin vào cái khái niệm “nhập cư” ở trên. Nhưng người tị nạn thì khác. Ở nơi đâu họ cũng là những kẻ không mời mà đến. Họ thuộc về một phạm trù pháp lý tách biệt. Họ thuộc về một phạm trù cảm xúc khác hẳn khi bàn về cách họ trải qua cảnh sống tị nạn – một phạm trù bị khinh thường, thậm chí bị chính những người tị nạn khác coi thường. Sẽ dễ dàng hơn nếu ai đó, như tôi chẳng hạn, quyết định tự cho mình là dân nhập cư hoặc giả vờ là dân nhập cư. Nhưng nếu tôi làm thế, tôi cảm thấy mình đang che giấu sự thật. Tôi cảm thấy những người như tôi, những người nhận được lợi ích từ việc tị nạn, cần phải công nhận sự tồn tại của mình với địa vị tị nạn và cổ vũ cho những người tị nạn mới ngày nay.

“Nhưng người tị nạn thì khác. Ở nơi đâu họ cũng là những kẻ không mời mà đến.”

JW: Anh trở thành người tị nạn năm 1975, khi chỉ mới 4 tuổi. Câu chuyện lúc đó như thế nào?

VTN: Cha mẹ tôi đang trốn chạy khỏi Chiến tranh Việt Nam. Họ ở phe thua cuộc. Họ nằm trong số những người may mắn đã xoay sở trốn thoát được; CIA ước tính có khoảng một triệu người Nam Việt Nam có mối quan hệ với chính phủ Mỹ muốn rời bỏ nhưng không thể. 130.000 người đã đến được Mỹ. Họ được phân bổ về bốn trại tị nạn, và gia đình tôi dừng chân tại trại Fort Indiantown Gap tại Pennsylvania. Đó là nơi ký ức tôi bắt đầu, trong một trại tị nạn – bị chia tách khỏi cha mẹ. Để rời khỏi những trại này, bạn phải có người bảo trợ. Một người bảo trợ nhận cha mẹ tôi, một người khác nhận anh trai 10 tuổi của tôi, và một người khác nữa nhận tôi khi đó 4 tuổi. Khi bạn 4 tuổi, bị chia cắt khỏi cha mẹ là một trải nghiệm khủng khiếp. Ngay lúc này, tôi đang phát ngôn với tư cách là cha của một cậu bé 4 tuổi. Nhìn cậu bé, tôi thấy được chính mình. Tôi tưởng tượng hoàn cảnh ấy hẳn rất đau đớn với tôi – và với cha mẹ tôi cũng thế. Đó là khoảnh khắc ký ức tôi bắt đầu. Tôi chưa bao giờ quên việc mình là người tị nạn – vì chính cảm giác thương đau ấy.

JW: Anh viết trong phần giới thiệu của Kẻ ly hương, rằng “Tôi không nhớ rất nhiều chuyện, và tôi lấy làm biết ơn vì điều ấy.” Vì sao lại thế?

VTN: Nếu bạn từng đọc về trải nghiệm của bất kỳ người tị nạn nào, bạn sẽ hiểu được những con người ấy đã chịu đựng rất nhiều để thoát khỏi cố hương và đặt chân lên quốc gia mới. Trong trường hợp của tôi, của những người Nam Việt Nam, trải nghiệm tị nạn rất kinh khủng. Rất, rất nhiều người đã thiệt mạng. Rất nhiều điều tồi tệ đã diễn ra với những người cố gắng trốn chạy. Vì thời điểm ấy tôi chỉ mới 4 tuổi nên không nhớ được gì. Anh trai của tôi, khi đó 10 tuổi, nhớ rằng có những xác lính treo lủng lẳng trên cây, trên con đường núi mà chúng tôi chạy khỏi thành phố quê nhà, đi bộ 180 cây số đến thành phố cảng để lên thuyền tới được Sài Gòn. Lớn lên, tôi đã nghiên cứu về con đường núi ấy. Nó tắc nghẽn mười nghìn người lính Nam Việt trốn chạy. Đó là một cơn ác mộng. Những người đã chứng kiến chuyện này sẽ không bao giờ có thể quên được. Đó là lý do tôi lấy làm biết ơn vì bản thân tôi không thực sự nhớ những điều ấy, và tôi có cái sự xa xỉ là tái hiện trải nghiệm này từ ký ức của những người khác.

JW: Anh từng phát biểu rằng, những người tị nạn như gia đình anh vừa “vô hình” mà vừa “hiển hiện quá sức rõ ràng”. Anh có thể giải thích ý anh là gì không?

VTN: Tình trạng của chúng tôi rất thường gặp trong những cộng đồng thiểu số hoặc nằm bên lề nước Mỹ (và bất cứ quốc gia nào khác). Chúng tôi vô hình, vì đa số người Mỹ không hề biết hoặc không hề quan tâm đến sự tồn tại của chúng tôi. Vì vậy, khi cuốn sách của tôi vừa ra mắt, nhiều người phản hồi với tôi rằng bản thân họ đã sống trong những năm 1975 và những năm tiếp theo khi người tị nạn Việt Nam bắt đầu xuất hiện tại Mỹ, nhưng “chúng tôi chẳng biết gì về họ, chúng tôi cũng chẳng buồn hỏi han.” Người tị nạn vô hình. Nhưng chúng tôi hiển hiện quá mức rõ ràng khi chúng tôi trở thành một vấn đề, khi gia nhập băng đảng tội phạm hoặc khi hưởng chính sách phúc lợi. Chúng tôi bập bềnh giữa trạng thái vô hình và chướng mắt. Nhưng không hề có khoảng giữa. Chúng tôi không có được sự xa xỉ của sự bình thường như bao người khác.

“Chúng tôi bập bềnh giữa trạng thái vô hình và chướng mắt. Nhưng không hề có khoảng giữa.”

JW: Anh từng có một câu văn tuyệt vời, miêu tả việc vừa là nhà văn vừa là người tị nạn: “tôi vẫn khắc sâu trong lòng mình những ký ức vỡ vụn của việc chính mình là một nạn dân.” Vì sao lại thế?

VTN: Tôi nghĩ rằng sẽ dễ dàng hơn nếu những người từng gánh chịu mất mát nghiêm trọng hoặc trải qua ký ức kinh khủng có thể quên được những việc đó. Đó là điều họ muốn. Tôi đã gặp rất nhiều người tị nạn phủ nhận thân thế của mình – họ muốn được gọi là dân nhập cư. Nếu bạn tự nhận mình là dân nhập cư, bạn hòa nhập. Mọi người sẽ căng tai lắng nghe câu chuyện xúc động về cách bạn đặt chân đến quốc gia này. Còn nếu bạn nói mình là người tị nạn, đó là cách nhanh nhất để cắt đứt một cuộc chuyện trò, bởi vì người ta không hiểu được trải nghiệm ấy. Vì thế, tôi vẫn khắc sâu trong lòng mình những ký ức vỡ vụn của việc chính mình là một nạn dân để nhắc nhở những người tị nạn và những người Mỹ khác rằng chúng tôi có tồn tại. Bên cạnh đó, nó khiến tôi cảm thông với người khác hơn. Nó khiến tôi cảm thông với những nạn dân và những gì mà họ đang trải qua, với tư cách là nhà văn và là một con người. Một số người từng là dân tị nạn nào đó sẽ nói, “Chúng tôi là những người tị nạn tốt. Chúng tôi xứng đáng ở đây. Tất cả những người mới từ Trung Đông, hay ví dụ Syria, họ là những người tị nạn tồi. Họ khác biệt. Chúng ta cần phải đóng sầm cửa vào mặt họ.” Tôi nghĩ điều này căn bản là sai trái.

JW: Mục đích của những cuốn sách như Kẻ ly hương là giúp chúng ta tưởng tượng cuộc đời của người tị nạn, nhưng anh nói trong phần dẫn sách rằng sự tưởng tượng này có thể khiến chúng ta tự lừa phỉnh chính mình. Ý của anh là gì?

VTN: Đây là một phần vấn đề của văn học. Sức mạnh của văn học được xây dựng trên sự đồng cảm: cả sự đồng cảm của tác giả và sự đồng cảm của độc giả – những người khao khát muốn hiểu được những tính cách khác, những con người khác từ những mảnh đất khác. Đây là một điều rất mạnh mẽ, nhưng nó cũng lừa dối vì nó là một sự xa xỉ. Chúng ta muốn biết về tình huống kinh hoàng X và con người đáng thương Y, và khi chúng ta đã đọc câu chuyện của họ, trái tim của chúng ta trở nên ấm áp và trái tim được đánh động. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta chẳng làm gì cả? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đặt cuốn sách này xuống và nhặt cuốn sách khác lên? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không tham gia vào các tổ chức cứu trợ và quyên góp tiền? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không quyết định chính quyền bằng việc bầu cử? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không biểu tình trên đường phố? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không hành động? Tôi nghĩ đó là hiểm họa của văn chương. Dẫu văn chương đánh thức cảm xúc trong ta, nó cũng dụ dỗ ta rơi vào trạng thái tự mãn rằng mình đã làm được một cái gì đó, đơn giản chỉ bằng việc đọc về trải nghiệm kinh khủng của ai đó.

JW: Gần đây, anh đã viết một bài báo trên tờ The New York Times với tựa đề “Đừng gọi tôi là thiên tài.” Dĩ nhiên, anh là người nhận giải “Thiên tài MacArthur.” Vì sao anh không muốn người khác dùng từ này để miêu tả mình?

VTN: Đầu tiên, hãy để tôi khẳng định rằng mình không viết tiêu đề đó. Cả bài viết thật ra là những vấn đề liên quan đến “thiên tài,” chứ không phải là về chuyện tại làm sao mà tôi không muốn được gọi là thiên tài. Ngày nay, khi chúng ta sử dụng từ “thiên tài,” thường thì ta đang bàn đến một cá nhân nào đó sở hữu một tài năng hay thành tựu đáng kể, và chúng ta hoan hô và nâng tầm người này. Trong trường hợp của tôi, nó liên quan đến cái nhãn dán mà người ta đính lên một người như tôi: một nhà văn đến từ một cộng đồng thiểu số bên lề. Tôi đã được gọi là “giọng nói đại diện cho những người vô thanh.” Rất nhiều nhà văn như tôi đã được gọi như thế. “Giọng nói đại diện cho những người vô thanh” là những gì chúng ta nghĩ đến khi có ai đó viết về những trải nghiệm mà chúng ta chưa từng bắt gặp. Nó đáng nhẽ là một lời khen tặng. Nhưng nó nguy hiểm, bởi vì khi chúng ta gọi ai đó là giọng nói đại diện cho những người vô thanh, những gì ta thực sự đang ám chỉ là ta không muốn nghe tất cả những giọng ấy, những giọng đang tồn tại ngoài kia. Dễ dàng hơn khi chỉ cần nghe từ một người.

Tôi nghĩ điều tương tự cũng đúng với “thiên tài.” Những thành tựu tôi đạt được với tư cách nhà văn một phần xuất phát từ những nỗ lực chăm chỉ từ phía tôi, nhưng cũng một phần bởi vì lịch sử của những người đã hi sinh trước tôi, những nhà văn đã đi trước tôi, những giọng nói đã bị quên lãng. Các tác phẩm của tôi ra đời nhờ vào những tranh đấu xã hội và chính trị của người Mỹ gốc Á, người Mỹ gốc Phi, và những người khác đã tạo ra không gian để người như tôi không bị xét xử và phân biệt đối xử vì sự tồn tại đơn thuần của chính tôi. Tôi không nghĩ mình là giọng nói cho những người “vô thanh,” bởi vì họ thực sự, thực sự rất lớn tiếng. Tác phẩm của tôi thuộc diện văn học, nhưng cũng nằm trong những phong trào xã hội và chính trị có mục đích để đưa ra nhiều tiếng nói, nhưng cũng đồng thời thay đổi thời thế, để không còn ai “vô thanh” ngoài kia nữa.

Hết.

Mèo Heo dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Jon Wiener, đăng tại The Nation.


Tìm hiểu thêm về tác phẩm Kẻ ly hương


Chuyện người cầm bút

Lê Khải Việt và những cảm hứng mong được kể lại

“Trên những trang sử, theo một nghĩa nào đó, không ai có thể có căn cước xác định.”

Published

on

By

Tôi đọc Chuyến bay tháng ba tình cờ vào đúng những ngày cuối tháng Tư đỏ lửa, nhưng không phải của hơn 45 năm trước mà là ở thời, ngày và giờ hiện tại. Thật trùng hợp khi mà đây cũng là một cuốn sách (phần nhiều) nói về chiến tranh, và hơn hết, còn về những điều đến nay ta vẫn không thể biết ai đúng, ai sai, ai phải, ai trái. Những dòng đầu của Lê Khải Việt làm tôi nhớ nhiều tới The Sympathizer của Viet Thanh Nguyen. Đơn cử cả hai đều viết về chiến tranh, đều là hành trình lội ngược về ký ức; nhưng còn hơn thế, đó là nỗ lực nhằm lộn trái cái tôi, đi sâu vào trong câu hỏi muôn đời của cái căn bản nhất và cốt tủy nhất khi sinh ra dưới nhân dáng con người.

Tôi cũng rất thích Austerlitz của W. G. Sebald vì những dòng hồi tưởng dài ngoằng, về những nhà ga và những con người nay đã chìm vào dĩ vãng. Càng thích hơn nữa những tấm ảnh trong cuốn sách ấy, vì đó là những hiện-thực-hóa câu văn để cho tâm trí bớt phần mỏi mệt vì những tưởng tượng phải vắt kiệt ra để tiêu hóa chúng. Và trong cuốn sách này, ngôi miếu cũ với ký hiệu EE vòng ngoài chữ C, tấm ảnh về chiếc trực thăng trên nóc chuồng cu vào ngày 29 tháng Tư hay cảnh chạy loạn của một gia đình đông đúc từ An Lộc chạy ra Sài Gòn… thực sự khiến tôi thích thú. Tôi hỏi anh về cảm hứng viết nên cuốn sách này, bởi nhẽ, những tấm ảnh, tư liệu hay những tưởng tượng khơi nguồn ngòi bút là một ấn tượng vô cùng sâu xa mà ta không thể chối cãi, dẫu ở vị thế nào hay chịu ảnh hưởng ra sao.

*

Dễ thấy một vài câu chuyện trong Chuyến bay tháng ba được khơi nguồn dựa trên những tư liệu lịch sử. Vậy quá trình sáng tạo nên cuốn sách này diễn ra thế nào, thưa anh?

Tôi khởi viết những truyện ngắn trong tập này từ cảm hứng của người viết, chứ không phải từ tư liệu lịch sử. Đương nhiên, khi viết tôi dựa trên những tư liệu lịch sử nhất định chứ không hoàn toàn hư cấu. Ví dụ như chi tiết về người đội trưởng toán biệt kích là dựa theo chuyện có thật của một vị cựu binh Mỹ ở Việt Nam mà vài năm trước người ta bàn tán khá sôi nổi. Ngoài cuốn sách của tác giả Vistica (The Education of Lieutenant Kerrey – Người viết) về chuyện này, tôi còn đọc một vài cuốn hồi ký khác của những biệt kích Navy SEAL để hy vọng miêu tả chân thực hơn.

Những chi tiết trong những truyện khác đều dựa vào những gì tôi đã đọc được trong sách lịch sử. Đó là phần tư liệu. Quay trở lại câu hỏi chính. Tôi viết những truyện ngắn trong cuốn sách này hoàn toàn dựa vào cảm hứng muốn kể lại cái gì đó, bằng cách nào đó, về một cuộc chiến và một thực tại mà tôi hình dung được. Về chuyện sáng tạo, thông thường trước khi viết tôi hay đọc lại vài trang của những tác giả ưa thích. Điều đó đem lại một chút kích thích để tay mình đỡ ngại ngùng hơn trên bàn phím.

*

Và cũng phải khẳng định rằng, đối với tôi, đây dường như không phải là một tuyển tập truyện ngắn dẫu cho dung lượng vừa phải của những kết cấu cấu thành nên nó. Mà cách gọi khác (có vẻ toàn diện và đầy đủ hơn) rằng chính nhưng văn bản này của Lê Khải Việt đã xây nên một bức tranh khớp nối hoàn hảo giữa ba thành tố - ký ức, thời gian và sự chuyển dời, để làm nên một cõi nhân tình thế thái mênh mông và đầy chuyển động. Trong đây ẩn chứa những câu chuyện tình của anh bộ đội và cô học sinh, những mưu mô tiếm quyền tự sâu bản chất hay những mối quan hệ đời sống đã đến hồi kết… mà anh gọi rằng là những “đoản văn vô thưởng vô phạt”. Nhưng rốt cuộc rồi liệu có hay không cũng không quan trọng, bởi lẽ, cái lững thững, lơ lửng; cái mất kết nối hay vô căn cước này đã xuất hiện tràn khắp một vùng không gian – có thể là những đặc trưng chiến tranh, mà cũng có thể rất là con người; không chút ngơi nghỉ hay khi vắng bóng.

*

Nói về thể loại của Chuyến bay tháng ba, liệu có thể cho rằng đây là một “tập truyện ngắn” bởi những sợi dây liên kết dẫu cho mong manh nhưng có tồn tại giữa các văn bản?

Nếu có một liên kết chung nào, như một chất liệu nền, thì đó là chiến tranh. Thật ra cũng có một hai truyện trong tập này chỉ là những đoản văn vô thưởng vô phạt, không dính dáng gì đến chiến tranh.

Nhân vật trong các câu chuyện của anh thường không có một căn cước xác định. Liệu đó là đặc tính của ký ức – sự bất định, hay ngầm ý rằng ai rồi cũng sẽ trở thành “nạn nhân” trong chính “trang sử” riêng bản thân mình?

Tôi cũng không rõ nữa. Có lẽ trên những trang sử, theo một nghĩa nào đó, không ai có thể có căn cước xác định.

*

Là tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, thế nhưng Chuyến bay tháng ba đưa tôi đi vào nhiều vùng từ trường khác nhau của các cách viết mới lạ. Tôi phát hiện một chút Kafka trong Đấu tranh, một chút George Saunders trong Căn phòng, và sau này, cả một chút lửng lơ của Sâm Thương hay Phan Triều Hải (như anh trả lời trong cuộc phỏng vấn) ở Ăn tối hay Ba điều ước. Nếu một người ngủ dậy bỗng chốc biến thành gián, thì ở đây bạn sẽ thấy loài rồng trên nóc miếu thờ trở về trong mơ. Nếu cặp đôi bị đưa vào phòng thí nghiệm thử loại Verbaluce ™ của một nhà khoa học dở hơi nào đó; thì căn phòng và một chỗ trũng trong cuốn sách này sẽ là điểm tụ phối cảnh làm trầm trọng hơn não trạng đã phân hai cực bởi do chiến tranh.

*

Một vài khoảnh khắc anh viết dễ gợi nhớ tới màu sắc của Franz Kafka hay George Saunders. Những nhà văn nào đã có tác động rất lớn lên anh?

Chắc chắn là Franz Kafka rồi. George Saunders cũng rất hay nhưng tôi chỉ mới đọc một cuốn của ông. Gần đây thì có Ray Bradbury. Tác giả Việt Nam thì Phạm Công Thiện, Nguyễn Huy Thiệp, Phan Triều Hải.

*

Và như đã nói, bởi những ý tưởng vượt thoát ra khỏi chiến tranh, tiếm quyền, tội ác… – bỗng chốc tôi nhận ra anh chỉ đang mượn ký ức như lớp vỏ ngoài của loài tôm sông. Cái lớp nhờ nhờ, sệt sệt mà ta đem đun hay đi nướng lên thành ra đỏ tươi vô cùng bắt mắt ấy thật ra vô nghĩa. Những điều xấu xa ẩn giấu trong đây qua lớp từ ngữ nay được mài khảm thành những cổ vật chìm giấu nghìn năm, nhưng có điểm chung là dù cho chúng được xử lý theo cách nào thì, rồi cũng sẽ vô dụng như lớp vỏ ấy, không một chút lợi cho vật bị ăn và người muốn ăn. Tôi hỏi anh vì sự vô nghĩa lý của chiến tranh, nhưng ngay cả khi chiến tranh xong rồi; niềm tỵ hiềm của người Việt hải ngoại với chính sách nhập cư của Trump, việc rút ra khỏi các chương trình bảo vệ khí hậu, việc xâm chiếm của đô thị hóa… thế sao vẫn còn? Anh không trải lời nhưng tôi biết một mặt nào đó, thinh lặng là câu trả lời tốt nhất.

*

Dễ thấy anh mượn chiến tranh chỉ như bộ mặt cho những “trò con trẻ” ẩn giấu đằng sau nhân tình thế thái. Dưới góc nhìn của một tác giả văn chương, anh nghĩ chất liệu đời sống có ảnh hưởng thế nào đến một cây viết?

Rõ ràng là cuộc sống chung quanh ảnh hưởng rất lớn đến một người viết. Ví dụ gần và rõ nhất là sự khác biệt trong văn chương của hai miền đất nước khi cuộc chiến diễn ra. Ở nước ngoài, ví dụ trường hợp Raymond Carver, ta có thể thấy sự thay đổi trong văn phong những tập truyện khi đời sống của ông thay đổi xoay quanh chứng nghiện rượu và cuộc hôn nhân trễ.   

Định hình nên cách viết riêng với cuốn sách đầu tay này, tôi hỏi anh thêm về những suy nghĩ rất riêng đối với nền văn chương hiện nay. Một thời đã qua của những tài năng sáng rực như Trần Dần, Nguyễn Huy Thiệp; một thời tiếp nối của Thuận, Nguyễn Bình Phương; hay vươn ra nước ngoài ở phía bên kia địa cầu với Ocean Vương và Linda Lê. Những nhà văn Việt Nam ở ngay tại đây và thời điểm này đối với văn học trong nước dường như đang đi xa quá. Họ không đủ sâu cũng chẳng đủ sát, họ nhợt nhạt, phai mờ và chìm nghỉm trong sự chọn lựa của độc giả. Họ ca ngợi những niềm ngây ngô tưởng như khó bề gọi thành văn chương. Họ già nua, cũ kỹ, hay nói như lời Nguyễn Huy Thiệp, rằng họ “tự phát thành danh” để “tùy tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa”.

*

Văn chương phương Đông hầu như luôn hướng về những bi kịch từ trong quá khứ. Liệu anh có nghĩ đã đến lúc những cây viết trẻ nên chuyển dịch sang những vấn đề mới hơn, sát sao hơn, ngay-bây-giờ và ở-tại-đây?

Tôi không nghĩ mình đọc đủ nhiều để nhận định về chuyện này. Tuy nhiên, đề tài mà tác giả lựa chọn để viết không nên bị bó buộc trong bất cứ giới hạn hay thành kiến. Quan trọng là tác giả đó viết hay hay dở, có chạm đến người đọc được không. Ngoài ra, những tác phẩm về quá khứ cũng có thể đang nói về hiện tại.

*

Từ quá khứ xa xưa hiện về trong ký ức đến cái hiện đại ào vào đời sống hiện nay, từ những xung đột ngoại quan đến những đối lập đời sống nội vi, từ vấn đề di dân đến người Việt hải ngoại ủng hộ các chính sách hạn chế nhập cư, từ biến đổi khí hậu đến đô thị hóa... Chuyến bay tháng ba là một nỗ lực tìm về những con người chung đã kịp chuyển hóa và bị đặt vào trong cảnh huống lưỡng nan của tình thế làm người. Sau rốt, những hệ giá trị đạo đức nào còn lại? Hay thậm chí, thực chất còn không hiện diện chính khái niệm ấy? Tác phẩm đầu tay của một cây bút hoàn toàn mới, nhưng gợi mở và đầy dấu ấn.

Hết.

minh (thực hiện)

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Trần Vân Anh: Về lòng can đảm, tôi nghĩ mình có bao la

Published

on

By

Tran Van Anh Hom nay me co vui khong

Tác giả Trần Vân Anh là một chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm: Editor-in-chief của Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt, Content Manager tại Tập đoàn CMG.Asia, Senior Beauty Editor của Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion…

Nhưng bên cạnh những chức danh đó, chị còn là một người mẹ.

Tác giả từng trải qua trầm cảm khi một mình nuôi dạy hai đứa con khiếm khuyết, rồi tự chữa lành, vượt mặc cảm khi nhận ra: bản thân phải hạnh phúc thì mới trở thành một người mẹ tốt của hai con.

Quyển sách Hôm nay mẹ có vui không? không là một cuốn sách nuôi dạy con khuôn mẫu. Nó mang dáng dấp của một cuốn nhật ký của bản thân tác giả hơn, nơi chị nhìn lại, suy ngẫm, và viết nên chính cuộc đời mình. Không đơn thuần là hành trình làm mẹ, đó còn là hành trình của người phụ nữ hiện đại, sai lầm rồi trưởng thành, sống vì con, và vì cả chính mình.

*

Chị có nhiều năm làm viết về mảng làm đẹp, sở hữu một website về làm đẹp vì sao chị lại viết cuốn sách đầu tay về chủ đề tâm lý giáo dục cho phụ nữ chứ không phải về chủ đề làm đẹp?

Tôi coi làm mẹ là sự nghiệp lớn nhất cuộc đời mình. Cho dù tôi rất yêu nghề nhưng phải thú thật là tôi luôn cố gắng cân bằng và dành ưu tiên cho việc làm mẹ nhiều hơn. Thế nên tôi luôn tìm tòi, học hỏi, khám phá bản thân cũng như từ những người xung quanh sao cho sự nghiệp làm mẹ của mình dễ chịu nhất, các con lớn lên hồn nhiên vui vẻ nhất. Cuốn sách Hôm nay mẹ có vui không? chính là những đúc kết khởi đầu chân thật nhất của tôi về sự nghiệp làm mẹ.

Là một người mẹ đơn thân, lại có công việc bận rộn, làm thế nào chị hoàn thành tốt vai trò làm mẹ đồng thời có một cuộc sống cá nhân vui vẻ?

Thời gian và lòng can đảm là hai thứ cần thiết nhất để một người mẹ đơn thân vừa có thể làm mẹ tốt vừa có thể tận hưởng cuộc sống cá nhân.

Vì thời gian là hạn hẹp trong một ngày nên tôi phải sắp xếp mọi thứ sao cho hợp lý nhất. Sai lầm lớn nhất của phụ nữ chúng ta là ôm đồm mọi thứ một mình trong khoảng thời gian hạn hẹp ấy. Tôi không như vậy, tôi sắp xếp và cùng thực hiện nó việc với các con. Có thể mọi thứ sẽ không hoàn hảo nhất, nhưng không sao, mẹ con tôi tự xoay sở và vui với những gì đang có.

Về lòng can đảm, tôi nghĩ mình có bao la. Vậy nên tôi không sợ bất cứ khó khăn, vất vả nào. 

Theo chị, điều gì là khó khăn nhất với phụ nữ hậu ly hôn?

Cảm giác chông chênh là không thể tránh khỏi. Cho dù bạn chủ động ly hôn thì cũng phải mất một thời gian để cuộc sống quay trở lại bình thường. Ngoài ra, nếu có con cái, người phụ nữ còn phải chăm sóc phần tinh thần - cảm xúc cho những đứa con của mình khi ba mẹ chúng không còn sống chung nữa.

Vậy nên, vực lại tinh thần là điều khó khăn nhất đối với phụ nữ.

Tháng 3 là tháng người ta nói về nữ quyền, chị nghĩ nữ quyền là gì?

Nữ quyền chắc chắn không phải là làm sao đẩy đàn ông vào bếp nấu nướng hoặc bắt chồng làm việc nhà. Theo tôi nữ quyền là quyền được đẹp, được độc lập tự do nhất là trong tư tưởng và cái quyền này đã có, chỉ là phụ nữ có dám dành lấy hay không thôi. Tôi cũng nghĩ rằng, nữ quyền chính là nữ tính - một đặc quyền rất riêng của phụ nữ. Ta vẫn hạnh phúc mà không phải trở thành "như đàn ông" đó mới là hay! 

Theo chị điều người đàn ông cần làm để khiến người phụ nữ hạnh phúc?

Cũng còn tuỳ xem người phụ nữ đó coi trọng điều gì nhất trong cuộc sống. Vậy nên trong cuốn sách Hôm nay mẹ có vui không? tôi có đề cập đến ngôn ngữ tình yêu. Một cô gái chỉ cảm nhận tình yêu thông qua sự chăm sóc mà người đàn ông lại chỉ biết nói lời hay thì không được. Hoặc cô vợ thích quà mà anh chồng không biết tặng quà cũng không xong.

Với riêng cá nhân tôi thì một người đàn ông cho tôi tự nhiên được là chính mình sẽ khiến tôi hạnh phúc nhất.

Đó có phải là lý do chị chọn lấy người nước ngoài sau ly hôn? Phải chăng đàn ông Việt Nam không cho chị điều ấy?

Trai tây trai ta cũng đều có ưu và nhược điểm cả. Tôi thấy xung quanh bạn bè nhiều người chồng người cha tốt, có lẽ tôi không may mắn gặp được (cười).

Nhưng phải thú nhận một điều rằng phụ nữ hiện đại thật sự sẽ có xu hướng thích đàn ông phương Tây hơn. Có thể là nền văn hoá của họ coi trọng phụ nữ hơn chúng ta, họ được sinh ra trong bầu không khí tự do phóng khoáng và bình đẳng giới. Những người đàn ông chứng kiến bà, mẹ, chị em gái của mình tự do, độc lập, không phán xét nhau, không khắc nghiệt với bản thân và người khác. Lối sống của chính những phụ nữ đó là nền tảng văn hoá để đàn ông phương Tây có cách hành xử văn minh hơn.

Chị có cho con trai đọc sách của mình không? Cảm xúc con chị như thế nào

Tôi "bắt" các con đọc sách của mẹ (cười). Tôi bảo chúng rằng các con nên biết là mẹ viết gì về các con trong sách chứ, lỡ nói xấu thì sao. Gấu Tôm đều bất ngờ về cuộc sống thời thơ ấu của mẹ. Các con tự hào vì mẹ ra sách, hai đứa còn xin mẹ kí để đem tặng cô giáo.

Dự định trong tương lai của chị sau quyển sách này?

Tôi có nhiều đam mê và dự định lắm, nhưng năm nay bên cạnh viết sách, tôi ưu tiên các cho các hoạt động cộng đồng. Đầu năm 2021 tôi vừa hoàn thành công trình thư viện cho bà con ở thôn 2, Hoà Ninh, Di Linh Lâm Đồng với 1521 quyển sách chọn lọc. Tôi tin rằng con cái học thông qua việc làm của ba mẹ. Tôi lao động chăm chỉ, tận hưởng thành quả lao động của mình và chia sẻ với những người xung quanh, các con tôi luôn đồng hành cùng mẹ trong tất cả các hoạt động ấy!

*

Kết thúc bài phỏng vấn, xin được trích cảm nhận của nhà thơ, nhà báo Khánh Chi về tác giả Trần Vân Anh cũng như về quyển sách Hôm nay mẹ có vui không:

---
“Vân Anh chia sẻ bản thân mình, như cách cô sống. Cô hạnh phúc, vui sướng khi được bày tỏ, mở rộng con người mình, bóc từng lớp tâm lý, đời sống của mình để tự hiểu mình nhiều hơn. Và người đọc cứ thế mà đi theo cô trong hành trình dẫn dắt đó. Có ai đó, bắt gặp mình trong cô, sẽ nhận về thêm những kinh nghiệm sống. Có ai đó hoàn toàn khác cô thì sẽ như có thêm biên độ mới để hiểu biết về những cuộc đời đi qua tổn thương và tự phục hồi.”
---

Hết.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Tháng 3 Phụ Nữ, điểm mặt 6 tác giả nữ nổi bật

Published

on

By

Họ hiện đại, nhưng cũng nặng lòng với truyền thống. Họ làm việc toàn thời gian, nhưng cũng tận hưởng cuộc sống toàn thời gian. Nhân tháng 3 Phụ Nữ, Bookish.vn điểm lại những gương mặt tác giả nữ đã đồng hành cùng Phương Nam trong thời gian qua.

Đặng Nguyễn Đông Vy

Hãy tìm tôi giữa cánh đồng, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Những lối về ấu thơ

Với lối viết tinh tế, nhã nhặn, tác giả Đặng Nguyễn Đông Vy đã chia sẻ với người đọc những điều mình cảm nhận một cách sâu sắc về cuộc đời.

Với Hãy tìm tôi giữa cánh đồng, tất cả là ký ức nhưng chị nhìn qua đôi mắt đầy xao xuyến, trái tim đầy nhân hậu. Những khoảng đời dù rất riêng nhưng sao qua lời chị viết, trở nên thật gần gũi với những ai từng có một quê nhà để mà nhớ. Người ta có thể nhìn ra một góc tâm hồn tác giả, và có lẽ nhờ đã viết một cách chân thật với lòng mình, những câu chuyện gửi gắm có thể vượt qua cảm xúc riêng để biến thành cảm xúc của người đọc.

Tác giả Đặng Nguyễn Đông Vy

Hãy tìm tôi giữa cánh đồng là thuở ban đầu trong trẻo nhất trước khi được tiếp nối với những tâm tình trong Những lối về ấu thơ và giọng văn gần gũi, thẳng thắn hơn trong Nếu biết trăm năm là hữu hạn.

Bút danh Phạm Lữ Ân là sự kết hợp của hai nhà báo viết cho giới trẻ, cũng là một đôi vợ chồng Phạm Công Luận - Đặng Nguyễn Đông Vy. Nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái nhìn trong trẻo, tinh tế và sắc sảo với sự từng trải, thương yêu và khoan dung, những bài viết chung của họ đã đưa ra được những kiến giải đầy thú vị và vô cùng sâu sắc về cuộc đời, không chỉ cho giới trẻ mà cho bất cứ ai trong chúng ta, ở bất kỳ lứa tuổi nào.

"Viết được một bài viết nhỏ để nói lên cảm xúc của mình, và được người đọc cảm nhận, có lẽ cũng là một điều hạnh phúc", chị Đông Vy chia sẻ.

Nếu biết trăm năm là hữu hạn (ấn bản đặc biệt)

Trần Vân Anh

Hôm nay mẹ có vui không?

Tác giả Trần Vân Anh là một chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm, Editor-in-chief của Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt, Content Manager tại Tập đoàn CMG.Asia, Senior Beauty Editor của Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion...

Nhưng bên cạnh những tittle đó, chị là một người mẹ. Quyển sách Hôm nay mẹ có vui không? là câu chuyện của tác giả về quá trình tìm lại chính mình, tự chữa lành, là con đường thoát khỏi trầm cảm, tìm lại niềm vui, sự cân bằng, thanh thản trong tâm hồn.

Và trong hành trình của chị Vân Anh, rất nhiều người tìm thấy chính mình trong đó, qua chị Vân Anh – người mẹ hay qua Gấu – Tôm, người con.

Tác giả Trần Vân Anh

Hôm nay mẹ có vui không? mang dáng dấp một cuốn nhật ký của cá nhân tác giả, nơi chị nhìn lại, suy ngẫm, và viết nên chính cuộc đời mình. Đó không đơn thuần là hành trình làm mẹ, đó còn là hành trình của người phụ nữ hiện đại, sai lầm rồi trưởng thành, sống vì con, vì gia đình, và vì cả chính mình.

Bởi lẽ không có công thức trong việc dạy con, không có phương pháp nào là đúng hay sai nhưng chắc chắn có nhiều con đường để trở thành một người mẹ tốt. Một trong những con đường đơn giản nhất đó là trở thành một người mẹ hạnh phúc.

“Vân Anh chia sẻ bản thân mình, như cách cô sống. Cô hạnh phúc, vui sướng khi được bày tỏ, mở rộng con người mình, bóc từng lớp tâm lý, đời sống của mình để tự hiểu mình nhiều hơn. Và người đọc cứ thế mà đi theo cô trong hành trình dẫn dắt đó. Có ai đó, bắt gặp mình trong cô, sẽ nhận về thêm những kinh nghiệm sống. Có ai đó hoàn toàn khác cô thì sẽ như có thêm biên độ mới để hiểu biết về những cuộc đời đi qua tổn thương và tự phục hồi”, trích lời Nhà thơ - nhà báo Khánh Chi.

Hôm nay mẹ có vui không?

Trần Vân Anh:

  • Chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm
  • Editor-in-chief: Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt
  • Media Director: Kilala Communication
  • Content Manager: Tập đoàn CMG.Asia
  • Senior Beauty Editor: Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion

Lê Mai Anh

Your Brand Talks

Tác giả Lê Mai Anh là Thạc sĩ MBA về Truyền thông trong Quản trị Doanh nghiệp & Lãnh đạo năm 2018, Đại học Cumbria – Anh quốc; từng đoạt giải thưởng Diamond – ASEAN PR Excellence Awards năm 2019; hiện là Giám đốc quản lý kinh doanh của Hãng tin Reuters và Giám đốc Quốc gia PR Newswire tại Việt Nam.

Với hơn 15 năm kinh nghiệm trong mảng truyền thông và quan hệ báo chí, tác giả đã từng tư vấn và làm việc với nhiều tập đoàn lớn trong và ngoài nước ở các mảng viễn thông, du lịch, khách sạn, F&B, công nghệ và start-up.

Lê Mai Anh - tác giả Your Brand Talks

Your brand talks mang dáng dấp của một tư liệu giáo trình, khi các kiến thức được tác giả sắp xếp trình tự, logic. Bắt đầu từ định nghĩa, sau đó phân loại, rồi đi đến thực hành với các cách thức hiệu quả để xây dựng thương hiệu cá nhân. Song, điểm khác là chị Lê Mai Anh viết với tâm thế một người đồng hành, chứ không phải người thầy, người cô dẫn dắt bạn đi trên con đường định nghĩa bản thân ấy.

Nói như nhà báo Đào Hồng Hạnh là quyển sách “không có nhiều thuật ngữ chuyên ngành lấp lánh, không dạy đời”, mà ngược lại, như một lời tâm tình, sẻ chia từ chính những gì tác giả đã trải qua, nhẹ nhàng mà tinh tế.

Quyển Your Brand Talks được tác giả hi vọng “phần nào giúp bạn tìm ra các giá trị căn bản nhất của bản thân, biết được những nhân tố có thể xây dựng hình ảnh và thương hiệu cá nhân một cách hiệu quả. Và điều quan trọng cuối cùng là cuốn sách có thể truyền cảm hứng đến bạn ít nhiều bằng những câu chuyện hết sức đời thường nhưng biết đâu bạn có thể thấy mình ở trong đó.”

Lê Mai Anh:

  • Cử nhân chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, trường Đại học Ngoại Thương, năm 2005
  • Thạc sĩ MBA về Truyền thông trong Quản trị Doanh nghiệp và Lãnh đạo năm 2018, Đại học Cumbria – Anh quốc
  • Giải thưởng Diamond – ASEAN PR Excellence Awards năm 2019 tại Kuching, Malaysia
  • Giám đốc quản lý kinh doanh của Hãng tin Reuters tại Việt Nam, phụ trách các thị trường: Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar và Philippines
  • Giám đốc Quốc gia PR Newswire tại Việt Nam
  • Hiện là đồng chủ tịch của Hiệp hội VNPR (mạng lưới những người làm nghề Quan hệ công chúng tại Việt Nam)
  • Giảng viên trường Đại học Nguyễn Tất Thành
  • Với hơn 15 năm kinh nghiệm trong mảng truyền thông và quan hệ báo chí, tác giả đã từng tư vấn và làm việc với nhiều tập đoàn lớn trong và ngoài nước ở các mảng viễn thông, du lịch, khách sạn, F&B, công nghệ và start-up

Hồ Đắc Thiếu Anh

Mứt Việt, Món cuốn xanh, Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội

Nghệ nhân Hồ Đắc Thiếu Anh có lẽ không là gương mặt quá xa lạ với bạn đọc Việt Nam. Cô được biết đến với nhiều tựa sách ẩm thực hay, đẹp mắt, và quan trọng nhất, thấm đẫm truyền thống, văn hóa quê hương.

"Nhà thơ ẩm thực" là cách bạn đọc vẫn hay gọi cô Thiếu Anh. Xuất phát là một nhà thơ, cô trở thành một nghệ nhân ẩm thực tài hoa bởi tình yêu to lớn đối với ẩm thực quê hương, kèm theo đó là tâm tư muốn lưu giữ, truyền bá trọn vẹn tinh hoa của ẩm thực dân tộc qua từng trang sách.

"Tốt nghiệp đại học kinh tế nhưng lại chọn thơ văn để lập nghiệp. Từng câu chữ trau chuốt là cách tôi yêu quê hương và tôn trọng độc giả. Rồi tôi lại đem thơ văn vào trong ẩm thực, dạy nấu ăn bằng cách kể về câu chuyện riêng của từng món. Ngay từ khi tôi còn trẻ, nhiều người đã gọi cách tôi theo đuổi đam mê là dấn thân bất chấp, còn tôi lại gọi là sống trọn”, nghệ nhân tâm sự trong cuộc phỏng vấn với báo Thanh Niên.

Hậu trường chụp ảnh quyển sách Món cuốn xanh.
Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội

Cuốn sách mới nhất được giới thiệu, Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội là công trình tâm huyết của cô Hồ Đắc Thiếu Anh, một người nặng lòng với ẩm thực cung đình Huế, tuyển lựa những công thức nấu nướng truyền thống nhất của dân tộc. Cuốn sách phù hợp để trưng bày trên bàn trà ngày Tết, là một kho tàng chuyện hay để người nhà kể cho nhau nghe dịp xuân về.

"Hy vọng Bánh Việt truyền thống mùa lễ hội không những giúp lan tỏa được phần nào nét đẹp truyền thống trong đời sống hiện đại để con cháu sau này biết đến các món bánh của ông bà ngày xưa; mà còn góp phần quảng bá nét văn hóa tinh túy của bánh Việt với bạn bè quốc tế", tác giả chia sẻ.

Món cuốn xanh

Nghệ nhân Hồ Đắc Thiếu Anh

  • Quê quán: Thừa Thiên Huế
  • Hội viên chuyên ngành Văn hóa Ẩm thực Liên hiệp các Hiệp hội UNESCO VIệt Nam
  • Thành viên Ban cố vấn Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam

Nguyễn Hồ Tiếu Anh

  • Giám đốc Công ty Ẩm thực Ngon và Lành
  • Hội viên chuyên ngành Văn hóa Ẩm thực Liên hiệp các Hiệp hội UNESCO Việt Nam
  • Hội viên Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam

Lăng Vi

Nồi niêu xoong chảo

Tác giả Lăng Vi từng là biên tập viên tạp chí văn hóa Nhật Bản – Kilala, là người khởi tạo và xây dựng trang Fanpage Vợ Chồng Son với hơn 9.000 người yêu thích và theo dõi. Chính mẹ của chị là người đã truyền cảm hứng và nuôi dưỡng niềm yêu thích nấu nướng để chị thực hiện nên tập sách đặc biệt Nồi niêu xoong chảo. Đây cũng là lần đầu tiên một cuốn sách kỹ năng ẩm thực trẻ trung và bắt mắt ra đời do chính tác giả viết nội dung và vẽ minh họa.

"Mong rằng cuốn sách này sẽ có thể truyền cảm hứng nấu nướng cho bạn, thôi thúc bạn mơ mộng về một căn bếp riêng, nơi bạn có thể hoàn toàn được là chính mình, và tận hưởng việc nấu nướng như một niềm vui trong cuộc sống", tác giả chia sẻ về Nồi niêu xoong chảo.

Tác giả Lăng Vi

Nồi niêu xoong chảo ra đời để làm một người bạn đồng hành trong những bước đi đầu tiên với những ai mới tập tành nấu nướng. Quyển sách không chỉ tổng hợp các kiến thức cơ bản cần thiết mà còn chia sẻ những hướng dẫn rất cụ thể từ việc chọn mua dụng cụ, nguyên liệu thực phẩm, cách bày trí gian bếp, kỹ thuật trong thao tác nấu hoặc trang trí món ăn, kinh nghiệm xây dựng thực đơn và bảo quản thành phẩm...

Thông qua nó, bạn có thể hình dung một cách tổng quát về chuyện bếp núc để tự tin thử sức và khám phá.

Nồi niêu xoong chảo

Lăng Vi:

  • Sinh năm 1990
  • Cung Xử Nữ
  • Nhóm máu B
  • Thích ăn, nấu ăn, vẽ, nghe nhạc, bày bừa, sách, những gì xinh đẹp, dễ thương…
  • Trước đây làm biên tập viên tạp chí văn hóa Nhật Bản, hiện đang làm freelance tại Sài Gòn

Giang Vũ

30 món mứt ngon của người Việt

Là nhà báo chuyên viết về mảng ẩm thực và du lịch, tác giả Giang Vũ viết và chụp ảnh các món ăn ngon, di sản ẩm thực, và điểm du lịch trên khắp các miền đất nước. Chị đặc biệt tâm huyết với mảng sách “cook book” nên đã đầu tư nhiều thời gian để làm sách nhằm lưu giữ công thức các món ăn truyền thống, đồng thời tôn vinh vẻ đẹp của ẩm thực Việt.

Trong cuốn sách 30 món mứt ngon của người Việt, chị vừa là người soạn công thức, vừa là người trình bày và chụp ảnh từng món mứt, giúp bạn đọc có thể làm theo một cách dễ dàng. Đồng thời cho thấy tâm huyết to lớn của chị trong mỗi ấn phẩm được tạo ra, sao cho chỉn chu và truyền tải tốt nhất.

Tác giả Giang Vũ
30 món mứt ngon của người Việt (bìa cứng)

"Đã đến lúc, tôi cần phải ghi lại kiến thức đồ sộ của ẩm thực Việt, giữ gìn nó như một di sản phi vật thể cho muôn đời sau. Và tôi đã chọn cách ghi lại gia tài đó bằng một cuốn sách nấu ăn, bắt đầu con đường khám phá cách nấu món Việt dài lâu của mình trước tiên bằng 30 món mứt Việt. Có những món mứt ra đời ở Việt Nam, có những món mứt hình thành trong quá trình giao thoa văn hóa với các nước phương Tây. Mứt Việt rất đẹp, rất công phu và đòi hỏi sự khéo léo – thế mạnh của con người Việt Nam.

Những món mứt trong cuốn sách này được làm bằng tình yêu từ trái tim tôi đối với ẩm thực Việt. Hãy làm theo từng bước như đã hướng dẫn, chắc chắn bạn cũng sẽ vô cùng thích thú khi tạo ra các món mứt vừa ngon, vừa đẹp, vừa lành. Tôi hy vọng, dựa trên cuốn sách cơ bản này, bạn sẽ sáng tạo ra nhiều món mứt tuyệt vời và đẹp mắt hơn thế nữa”, tác giả Giang Vũ chia sẻ.

*

Nhân dịp Tháng 3 Phụ Nữ, Bookish.vn gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến những người viết nữ của Phương Nam, cũng như toàn thể phái đẹp của thế giới. Phụ nữ đẹp nhất khi là chính mình, và biết thương chính mình!

Hết.

Sách Phương Nam phải đọc nhân tháng Phụ Nữ

Đọc bài viết

Cafe sáng