Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

The Sympathizer: Tự do văn chương, tự do văn hóa, tự do tư tưởng

Nếu cái tự do được văn chương bảo bọc đem đến những câu văn đậm thời đại mới; thì cái tự do được tư tưởng bảo hộ lại mang đến sự thật khôn cưỡng.

Published

on

Viet Thanh Nguyen là cái tên không mấy xa lạ với độc giả Việt Nam những năm gần đây kể từ khi tập truyện ngắn Người tị nạn và tập tiểu luận Kẻ ly hương được chuyển ngữ và giới thiệu tại Việt Nam. Cũng như những tác gia gốc Việt hiện đang sinh sống tại nước ngoài như Thuận, Linda Lê, Ocean Vương, Doan Bui… Viet Thanh Nguyen đồng thời góp tên mình vào danh sách những nhà văn bên kia xứ sở có lối nhìn vào quê nhà một cách rất khác. Là nhà văn gốc Việt đầu tiên giành giải Pulitzer ở hạng mục Fiction cho tiểu thuyết đầu tay – The Sympathizer – cuốn tiểu thuyết lạ lẫm, khắc sâu và vươn những xúc tu khác lạ vào trong khoảng dài lịch sử đã qua, bơm vào đó thứ adrenalin kích thích, tân thời và, dĩ nhiên, cũng khá truân chuyên cho việc tiếp cận đa số.

Cùng với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Người Mỹ trầm lặng của Graham Greene và Những thứ họ mang của Tim O’Brien, The Sympathizer của Viet Thanh Nguyen có thể nói là bốn cuốn tiểu thuyết chiến tranh Việt Nam nổi tiếng và được quan tâm nhiều nhất trong những năm qua. Lấy bối cảnh cuộc chiến tranh Quốc – Cộng những ngày cuối cùng trước khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, The Sympathizer là câu chuyện của một điệp viên hai mang và những xung động thời khắc – con người xung quanh dữ kiện ấy. Viet Thanh Nguyen mở ra một hành trình mới lạ khi tiếp cận sự kiện dưới con mắt của một phe khác, của lịch sử chỉ đúng một phần và lần đầu tiên (có lẽ) được trưng ra dưới ánh sáng ban ngày. Ở đó lần mò như bầy kiến nheo nhóc theo chân điệp viên nằm vùng, ta thấy đồng thời là những diễn biến chính trị – lịch sử, là cuộc sống kham khổ sau cơn tị nạn, là chuyện phục quốc, quá trình hợp nhất bản thân, những tư duy triết học – văn hóa – văn chương… The Sympathizer đồng thời là một tác phẩm văn chương đậm chất Pulitzer, nhưng cũng là tuyển truyện ngắn dưới định danh tiểu thuyết cuốn hút, khai phá và mới mẻ.

Xây dựng nhân vật chính lấy cảm hứng từ điệp viên tình báo Phạm Xuân Ẩn vào những ngày Saigon thất thủ cuối tháng 4 nóng bức, Viet Thanh Nguyen khôn khéo khi xây dựng vẻ hai mang, để đồng thời vừa khai thác cái thật cá nhân, nhưng cũng thật chung quy về thời khắc cuối cùng. Mở đầu tiểu thuyết là một khẳng định chắc nịch: “Tôi là một gián điệp, một kẻ mai phục, một con ma, một kẻ hai mang”. Tôi và cái tôi – hai bản thể hiện thân, những tranh giành lý tưởng, đồng thời là bản chất thật sự đời sống; nhưng cũng đồng thời nhân đôi hướng đi câu chuyện, biến The Sympathizer không còn đơn thuần là cuốn tiểu thuyết phản ánh chiến tranh, mà sâu trong nó là cơn dằn vặt những dằn xé tự thân.

1.
Hiện thực

Như đã nói trên, The Sympathizer là một tiểu thuyết dưới dạng chuỗi truyện ngắn dài tập. Theo suốt câu chuyện của viên Đại úy nằm vùng, ở mỗi chương tiếp theo, tác giả đồng thời cài cắm vào đó câu chuyện di dân, cuộc sống tị nạn, câu chuyện văn hóa bản địa, sự xâm nhập – chiếm hữu – hòa hợp, thuyết gia đình, giải phóng tình dục, giấc mơ Mỹ,… Cuốn sách có thể nói, dù ở góc độ nào, như một tra cứu điển hình cho thời đoạn lịch sử trước và sau thời khắc năm 75 trên ba chân kiềng là thế mạnh của Viet Thanh Nguyen: văn chương – thi ca – triết học. Có lẽ vì tính tuần tự và sự thống nhất trong mạch kể, The Sympathizer vượt qua điểm yếu của tập truyện ngắn trước đó Người tị nạn – khi bị giới hạn bởi hình thức (truyện ngắn) và cả nội dung (tị nạn), khi dẫu đã xoay chuyển dưới nhiều hình thức – nó cũng không đủ che giấu cái manh mún mạch truyện hoặc cái hiếu kỳ nửa vời – khi những người sống ngay trong lòng đất nước không thấy một đột phá hay mới mẻ nào; có chăng là cái hiếu kỳ của những con mắt chưa thấu trải đời ở những vùng đất cách đó ngàn dặm.

Ở đó, cuộc sống tị nạn và sự thất thế của chế độ cũ được Viet Thanh Nguyen viết ra rất đậm thực tế. Có lẽ cũng từng là người tị nạn, anh hiểu rõ và chắt lọc những gì làm suy yếu đi bản lai diện mục, làm con người ta tổn thương hơn cái mới mẻ của nơi đất hứa. Trong đó, anh viết: “tình trạng tàn tạ ẩn sau những căn nhà chung cư trợ cấp như một thứ bệnh ung thư di căn đang gặm nhấm hủy hoại úa nhàu những con người đang chịu thử thách ngày lại ngày qua mòn mỏi mang hội chứng u uất trầm cảm không sao tránh khỏi theo chuỗi ngày lưu vong. […] Thêm vào đó là vai trò của đàn bà trẻ con vốn dễ bị tổn thương và dễ làm mồi cho những tiêm nhiễm xa lạ phương Tây. Bọn nhóc con gây phiền muộn cứ cãi lại họ không phải bằng ngôn ngữ mẹ đẻ mà bằng tiếng ngoại ngữ mà mấy nhóc đã học mau hơn bố nhiều. Còn các bà vợ hầu hết buộc phải đi tìm việc làm, và trong môi trường làm việc mới họ đã chuyển đổi khác đi không còn là những đóa sen yêu kiều hiền thục thuở xưa như các ông nghĩ nữa”.

Ở đó, giá trị gia đình bị hạ thấp, bản lai diện mục suy vong, con người đấu tranh với cơn hậu chấn tâm lý; tất cả là tổng hòa của cái đã mất, của tình trạng ly hương, của nỗi nhớ nhà, của khát khao chiến đấu, của quyền lực, của lẽ sống, của động cơ,… tất cả làm họ như bó bột vào thứ hoàn cảnh tàn tạ, vật vờ như những bóng ma để hiện thân ra ngoài là những trang phục kiệt suy “Họ dạo quanh cửa hiệu, tán gẫu với nhau, chân mang những đôi giày rẻ tiền đại hạ giá, trên mình khoác những bộ y phục thùng thình chẳng vừa với người mặc thường được rao bán với giá rẻ và một đổi một. Nào cà vạt mu soa tất vớ mang vội vào, cả món xa xỉ đĩ thỏa nước hoa, những thứ những tưởng che lấp được mùi bại trận lịch sử cay đắng còn rành rành kia”.

Những lề thói này hoàn toàn không mới và không phải không có tiền lệ ở những tác phẩm ly hương dài trước đó; nhưng bỏ qua lớp vỏ văn chương mà đôi lần ông cố khoác lên lớp truyện ngắn của mình, lần này bằng cái thực tế, Viet Thanh Nguyen đã thành công khi khắc họa được trạng thái vật vờ ấy. The Sympathizer dễ nói là cuốn sách ổn, ổn hơn rất nhiều các tuyến truyện ngắn trước kia, đơn giản, một góc nhìn và không quá sức.

2.
Nhân bản

Ngoài xây dựng hiện thực cuộc sống như thế, ở The Sympathizer ta cũng đồng thời nhận thấy hiện thân của nhân bản. Nó có thể là cái nhân bản cá nhân, nhưng cũng có thể thuộc về nhân quần xã hội. Như chi tiết cuộc nói chuyện với những cô gái phường vẫy trước khi lên chuyến bay sơ tản quân lực VNCH cuối cùng, Viet Thanh Nguyen bằng góc nhìn của nhân vật tôi, bằng một suy ngẫm sâu xa nào đó vẫn nhìn thấy “trái tim vàng son còn đập” trong lòng ngực các cô gái. Ông không coi họ là những kẻ bỏ đi – như chính họ tưởng tượng khi phe chiến thắng ập vào – mà bằng góc nhìn của người từng trải, ông thấy ở đó là sự cảm thông sâu sắc với người đàn bà, với người phụ nữ, với mẹ ông, với Lan. Ông viết: “Tôi vốn dành cho các nàng gái giang hồ một sự tôn trọng nhất định, họ quen gian giảo nhưng dẫu sao cũng còn rộng rãi […] Chỉ nơi những góc khuất, hay nơi tối tăm sâu thẳm nhất của những trà đình tửu điếm ăn chơi mới có nàng gái điếm mà trong ngực luôn đập rộn một trái tim vàng. Tôi bảo đảm với bạn rằng nếu có một phần thân thể của gái ăn sương được làm bằng vàng, thì đó không phải là trái tim mà là một chút gì ta tin vẫn còn sót lại nơi một khía cạnh khác của nàng đó là dấu chỉ của một người diễn tuồng vẫn còn giữ cái tâm sòng phẳng”.

Cái nhân bản ấy đôi khi còn được xây dựng bằng lòng căm thù. Tưởng chừng việc xây dựng một nhân vật hai mang, một kẻ nằm vùng đã đủ thuận lợi bao quát bối cảnh; nhưng không, Viet Thanh Nguyen cũng đồng thời xây dựng nhân vật ấy đậm tính văn chương – với những đỉnh trào lên xuống của kiếp người lê thê, của nền móng kịch nghệ cần có; và ở đó, là hình tượng người Cha theo cả hai nghĩa – người cha sinh học và Cha xứ Công giáo; người bỏ rơi ông, cho ông ghẻ lạnh hơn sự ấm êm. Cái nhân bản khi yêu thiết tha mẹ ông được phân bổ rải rác suốt chiều dài tiểu thuyết, cái nhân bản khi căm thù cha ông, quăng thẳng vào nỗi căm thù những lời nguyền chuốc: “vậy nên tôi đã tưởng tượng ra một tia sấm sét, một con voi điên, một căn bệnh hiểm nghèo, một thiên thần giáng xuống sau lưng ông trên bục giảng, thổi tiếng kèn vào tai ông để triệu hồi ông trở về với đấng Tạo hóa”.

Và sâu xa hơn cả là cái nhân bản dành cho con người, cho những đồng bào khốn khổ của ông – những người chỉ mong muốn độc lập, tự do, nhưng rồi bị cuốn vào cuộc chiến vô ích. Ở đó, ông viết, như thể ngay từ khi sinh ra từ buồng ói của người mẹ, chính những đứa trẻ ngây thơ đã bắt đầu phải chọn – phe bên này hay bên kia – không thể lưng lửng, không thể dửng dưng, không một gợi ý, cứ thế mà chọn. Hay, cái dằn vặt của nhân vật tôi khi hạ sát những người vô tội, là Thiếu tá trác táng, là Sonny – để rồi đến nỗi hai bóng ma ấy như loài tầm gửi cộng sinh cùng cuộc sống suốt đời.

3.
Văn chương

Nhìn chung, lối viết của Viet Thanh Nguyen không quá mới lạ, không hẳn có gì đột phá, nhưng phải thừa nhận một điều, anh rất thông minh khi tổng hòa được những chi tiết thiết yếu cần có của một tiểu thuyết hay. Anh biết khi nào bám sườn hay dịch xa một đoạn, biết sắp xếp trình tự tiểu thuyết, biết tạo tình huống dẫn dắt sang mảnh đất triết lý – lí luận mà người phương Tây vốn rất ưa. Việc thắng Pulitzer năm 2016 cho hạng mục Fiction khi đọc The Sympathizer không khó giải thích. Bởi lẽ anh biết người đọc muốn gì và không ngại cuốc thuổng trên mảnh đất đặc trưng ấy. Tuy là cuốn sách về chiến tranh Việt Nam, nhưng nó không thiếu những vấn đề lớn lao, từ giấc mơ Mỹ đến văn hóa Hollywood, từ tinh thần dân chủ Mỹ đến giải phóng tình dục, đôi khi là đối ngẫu Đông Tây và cách văn hóa – nghệ thuật gắn kết cách mạng.

Những tư duy này của Viet Thanh Nguyen không quá khó hiểu, nhưng đôi khi nhìn lại, liệu có quá cần thiết? Đặt một trường hợp khác, Con sẻ vàng của Donna Tart từng bị ta thán vì độ dày của nó, có người còn bảo đưa vào tay cô sẽ còn cắt giảm 1/3 thời lượng để bảo vệ môi trường?! Nhưng với người đọc bảo thủ – như người viết bài này – cái hay của Donna Tart là dùng những nhân sinh quan của bà gắn chặt vào cuộc đời nhân vật vốn rất cần kíp cho một tác phẩm lớn. Còn The Sympathizer, vốn dĩ sở hữu một nền tảng bối cảnh hợp lý, một góc nhìn mới lạ, cách xây dựng tình tiết khó đi vào lối cụt; nên khi thêm thắt những “tính chất Pulitzer” này vào, ít nhiều gây hoang mang. Chẳng hạn vấn đề văn hóa – nghệ thuật gắn với Cách mạng bằng trích dẫn Mao, có thể là một gợi mở tốt. Cũng như thế, những khác biệt văn hóa Đông – Tây, công cuộc giải phóng tình dục trong chủ thuyết Cộng sản cũng có thể khai thác. Nhưng văn hóa Hollywood, tập tính dân chủ Mỹ hay luận bàn về chế độ Cộng sản phương Đông đầy triết lý của học giả nổi danh và dành riêng đến hơn hai chương để khai phá cái văn hóa điện ảnh hay cái lí luận triết gia này, liệu có cần thiết?

Dĩ nhiên, không thể nói những đổi mới văn chương này là không cần thiết. Rõ ràng nó góp phần nâng The Sympathizer lên một nấc nữa, khi đó không phải là những khai thác chiến tranh bình thường – như Graham Greene với hình tượng phụ nữ (từng vấp phải không ít khó chịu từ nơi bản quốc). Nhưng một mặt khác, vốn bản thân là người tị nạn từ khi lên 4, với trí nhớ và trải nghiệm không quá đặc sắc, đòi hỏi Viet Thanh Nguyen phải dựa trên những mẫu vật, những câu chuyện được kể đi kể lại hay đi thực địa. Nhìn xuyên suốt cuốn sách này, ta thấy giọng văn hồ hởi của người xa quê tìm về nguồn cội, tuôn trào, thấm đẫm. Và cũng đôi khi, chính sự tăng động (hay năng động cực điểm – nói đúng hơn) làm câu văn không suôn sẻ, một cách gần như còn chứa cảm tính. Viet Thanh Nguyen đôi khi vẫn không tiết chế để chọn cái cần kíp đem vào văn chương; mà như thể từ những vết sẹo thiếu ăn ngày cũ nơi bản xứ, anh dọn đầy ứ một bàn và khiến người thưởng (hay người đọc tác phẩm của anh) ngấy đến tận cổ. Nhưng nhìn chung, sự khôn ngoan khi biết khai thác để nâng tầm tác phẩm dường như che lấp những khuyết điểm này; và dĩ nhiên là cuốn tiểu thuyết đầu tay, biết đâu sau The Sympathizer sẽ là một cuốn sách khác biết kiềm chế và chắt lọc nhiều hơn? Hy vọng một ngày nào đó.

4.
Tự do

Tự do góp phần làm nên tính chất văn chương của tác phẩm này. Không thể chỉ nói tác phẩm mang những giá trị cũ, nó đủ mới – đủ tự do để nhắc đến những tư tưởng mới. Được bảo bọc trong vỏ “văn chương”, Viet Thanh Nguyen tha hồ khai thác những góc khuất thường được cho là ý nhị trong văn hóa phương Đông, của tự do con người, tháo khỏi guồng xích, đi ra ánh sáng. Như thể anh viết: “Nếu có cuộc cách mạng thực sự xảy ra thì ắt nó phải không được tách lìa với công cuộc giải phóng tình dục”. Thiết nghĩ, tư tưởng này không gì mới mẻ, nhưng nhờ tự do văn chương, ít ra nó cũng đâm nát cái đạo đức giả, cái lạm dụng tôn giáo vẫn được giấu kín: “chốn muôn màu về tình dục của người đồng tính, lưỡng tính, lẫn ấu dâm nam lúc nào cũng rêu rao là không bao giờ có, thực ra là được che kín bên dưới tấm áo choàng của Vatican”.

Chính tự do cũng mang đến đỉnh cao văn chương, khi cái bó buộc không còn đè nén như những quả tạ, từ đó người viết thả mình theo những suy tưởng cá nhân. Như đoạn văn sau chỉ là một câu chuyện nhỏ trong toàn tiểu thuyết, nhưng đứng dưới góc độ cá nhân – sự giải phóng bản thân này dường như là điểm sáng nhất của toàn tiểu thuyết. Phóng túng, khoan thai mà man dã, anh viết: “Còn nếu bảo thủ dâm, ngay cả thủ dâm với một con mực ống đã chết đứ đừ mà mắc tội là có được nó đồng ý hay không nữa ư? Cường điệu quá phải không? Tôi, cá nhân tôi, khẳng định thế giới sẽ đẹp hơn nhiều nếu người ta luôn lảm nhảm ám ảnh trong đầu hai chữ ‘thủ dâm’ nhiều hơn là hai chữ ‘giết người’”. Là một cá nhân đứng giữa hai bờ lịch sử, giữa hai nền văn hóa Đông – Tây rất ít chạm nhau, Viet Thanh Nguyen sở hữu trong mình cái giao hòa của thời đại, của văn hóa. Tự do, dĩ nhiên, anh không ngại khi khai thác cuộc chiến dưới một góc nhìn cá nhân, tự do văn chương, tự do tư tưởng, tự do văn hóa – ba trụ cột chính làm nên tính tự do của The Sympathizer. Nếu cái tự do được văn chương bảo bọc đem đến những câu văn đậm thời đại mới; thì cái tự do được tư tưởng bảo hộ lại mang đến sự thật khôn cưỡng. Anh viết The Sympathizer trong khi lịch sử đã được định đoạt, những gì quá vãng đã lùi lại xa; và cũng bởi dĩ nhiên lịch sử được viết ra bởi kẻ chiến thắng, và con người vốn bản chất được sinh trong nỗi tị hiềm; ít ra anh đã dũng cảm cho thấy lịch sử từ phe thảm bại, từ những gì vẫn còn trầm tích dưới đáy biển sâu. Không tiện trích dẫn những điều thuộc về một phạm trù khác, không còn văn chương để mà bảo bọc một bài điểm sách – chỉ xin được dẫn một câu không quá động chạm, không quá xách động, nhưng đúng và đủ: “Cuộc cách mạng của chúng ta chẳng qua chỉ cố tiên khởi trong việc thay đổi chính trị nhưng hậu ý là để thu lấy quyền lực. Trong cái biến hình này, chúng ta cũng không phải là kẻ mới mẻ gì. Há chẳng phải người Pháp người Mỹ cũng làm có khác chi cái trò biến hình đó đâu? Chính họ rêu rao cách mạng trước rồi thì họ đã biến thành đế quốc, thực dân và kẻ chiếm đóng cái xứ nhược tiểu khó nhai của chúng ta, tước đoạt quyền dân tộc tự quyết dưới danh nghĩa cứu lấy chúng ta. Đành rằng công cuộc cách mạng của chúng ta tốn nhiều thời gian hơn so với họ và được coi là đẫm máu hơn nhưng khoảng thời gian đã tốn mất kia rất đáng. Bởi khi học đòi theo những thói nết xấu xa nhất của các ông chủ người Pháp và rồi là kẻ đến thế họ, người Mỹ, chúng ta đã mau chóng chứng tỏ mình mới là kẻ xuất sắc nhất chớ bọn họ vẫn còn kém”.

*

Diêm Liên Khoa – nhà văn có nhiều sách cấm và gây tranh cãi nhất Trung Quốc – từng phát biểu rằng: “Nghệ thuật cũng sẽ không vì bạn sống ở quốc gia nào đó, trong hoàn cảnh và thời đại nào đó chịu sự áp bức của chính trị, quyền lực đối với bạn mà nhấc thêm một quả cân nặng ký đặt lên bàn cân thành tựu của bạn. Cho dù đã đặt lên rồi thì tới một ngày nào đó, khi cảm thấy chưa công bằng và thỏa đáng, nó sẽ lặng lẽ lấy quả cân ấy ra khỏi bàn cân”. Ở đây ta thấy, bằng bốn chân kiềng hiện thực – nhân bản – văn chương – tự do và nhất là tự do, ít nhất nó đã nhấc quả cân Pulitzer lên sức nặng cho cuốn sách này về mặt văn chương. Ở mặt giá trị, tuy cấm nhưng nó cho ta góc nhìn vô cùng mới mẻ vào trong câu chuyện từ lâu bị phong tỏa bởi nền chính trị. Tuy là tiểu thuyết đầu tay và dĩ nhiên còn nhiều sạn, nhiều chỗ chưa tới – nhưng hy vọng, với tự do và ba chân kiềng ấy, Viet Thanh Nguyen sẽ không lặng lẽ để mất quả cân cho sự cân bằng.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Ảnh đầu bài: ig@almightyalicia

Các trích dẫn được dẫn theo bản chuyển ngữ của Lê Tùng Châu.

Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Tìm hiểu thêm về nhà văn Viet Thanh Nguyen


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

‘Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao’ để thấy những điều tử tế

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống. Là nguồn năng lượng tích cực, đó là câu chuyện của những người lạ mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu trong đời sống hàng ngày.

Published

on

By

nhin lai cuoc song dep biet bao review

Thời đại bùng nổ của instagram đã mang đến nhiều điều mới mẻ mà từ trước đến nay ta chưa bao giờ thấy được. Tính giản tiện (một giao diện vô cùng dễ chịu) và ngắn gọn (nếu muốn tăng tương tác trong một thời đại ai ai cũng bận rộn) là hai yếu tố căn bản nhất định hình nên tính instagrammable. Những dòng thơ ngắn gọn của Rupi Kaur cùng các nét vẽ sketch line-art như minh chứng rõ nhất cho làn sóng này. Quả thật instagram có một sức mạnh kỳ lạ, nó cuốn hút người đọc không chỉ về mặt câu chữ, mà còn hình ảnh, âm thanh, hiệu ứng và sự lan tỏa. Không chỉ Rupi Kaur chọn đó là nơi những vầng thơ của mình xuất hiện, tài khoản drawings_for_my_grandchildren của ông Chan và bà Marina tính đến nay đã có hơn 412 ngàn người theo dõi, kéo theo đó là sự quan tâm của những kênh truyền thông lớn là cũng một đại diện như thế.

Cũng như Rupi Kaur dùng instagram như cách chia sẻ, phơi bày những cảm xúc cá nhân của mình; ông Chan và bà Marina với những bức họa do chính ông vẽ và bà đề từ đã khơi gợi một sự thân quen của phần đông những người theo dõi. Những ‘tác phẩm’ của hai ông bà có thể nói dễ làm người ta không thể không nhớ, khi đó là những trải nghiệm ai cũng trải qua, và là câu chuyện không của riêng ai. Trên nền của những bức tranh, bà Marina đã diễn đạt lại những suy tư về các đứa cháu của mình. Động cơ ban đầu hình thành nên ý tưởng ấy cũng xuất phát từ việc mong muốn bọn trẻ có thể hiểu được ông bà chúng từng như thế nào, và do đó, đây là một cuốn album kỷ niệm của thời đại mới, nơi những nét vẽ phơi bày tình yêu, còn tính lưu trữ cũng như cảm xúc đi suốt dài hạn.

Điều nổi bật nhất trong hàng loạt những tác phẩm của hai ông bà đó là tình yêu thương vô cùng sâu đậm dành cho những đứa cháu của mình. Như bà chia sẻ, mỗi khi bế chúng trên tay, những đứa bé ấy đều ngay lập tức trở thành con cái của chính bà – những nhân dáng nhỏ mà bà từng bế rất lâu trước đây; nên vì thế, Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao không chỉ là những gửi gắm của ông bà đến các đứa cháu, mà suy rộng ra hơn, đó còn là tình cảm thiêng liêng nói chung của các ông bố, bà mẹ trên thế gian này. Ở đó thông qua giấc mơ, những điều nhỏ nhặt đẹp đẽ… bà khắc họa lại hành trình trưởng thành nhanh và ngọt lịm của những đứa trẻ, từ Lua còn nằm nôi cho đến Arthur và Allan đã có thể tự mình đến trường.

Trong những trò làm nũng, chạy bộ, đá bóng, lái xe scooter cùng nhau, những đứa trẻ ấy trở thành đại diện của những phép màu. Đó có thể là những khoảnh khắc nhỏ chơi bóng với bố, là khi nô đùa vào lúc mùa hạ bên bể bơi của nhà bạn ông… những kỷ niệm đẹp và lung linh diệu kỳ.

Độc giả không cần tưởng tượng hay cố truy sâu, trong từng câu chữ hay nét phác họa của hai ông bà ta đều thấy được điều ngầm ý này một cách chan chứa tình thương và đầy hy vọng. Bà Marina trong một bức vẽ từng hoài nghi về vai trò của mình trong cuộc chạy tiếp sức giữa các thế hệ gia đình, nhưng rồi bà đúc kết lại, cây đuốc cầm trên nắm tay không phải là một vật chất, nó là ngọn lửa yêu thương muôn đời gìn giữ và sẽ truyền lại rất lâu về sau, giữa ông bà và các thế hệ của gia đình mình.

Quyển nhật ký của thời đổi mới

Việc lập ra tài khoản instagram ấy không chỉ dụng ý như tập album lưu giữ những kỷ niệm với con cháu mình, mà đó còn như một quyển nhật ký của thời đổi mới về những suy tư phản ánh ký ức một thời của họ.

Di cư đến Brazil vào năm 1981, hơn 30 năm sống xa Hàn Quốc nên tất cả những trăn trở của hai ông bà ta đều thấy được dấu ấn văn hóa phương Đông. Đó là những suy tư mang đậm tính thiền, về sự chuyển động, xoay chuyển của vòng thời gian; khi xuân đến cũng là xuân đang qua, hay thời gian đã đến trước khi ta kịp nhận ra. Trong nhân dáng của những suy nghĩ đậm tính nhân sinh ấy, những ký ức về người bố cho mình nằm lên người nhằm tránh cái rét mùa đông hay bài hát ru vào ngày Bố Mẹ gợi nhớ đến người mẹ của mình… Tất cả sâu sắc và đậm nét hơn mọi thứ trên đời.

Việc lập ra tài khoản instagram ấy không chỉ dụng ý như tập album lưu giữ những kỷ niệm với con cháu mình, mà đó còn như một quyển nhật ký của thời đổi mới về những suy tư phản ánh ký ức một thời của họ.

Những năm sống ở Hàn Quốc ấy còn là cảm giác mong muốn bé lại khi sống cuộc đời cùng những đứa cháu. Người ông mong nhớ Chiến dịch Ấm đỏ của Đôi quân Cứu tế vào mỗi mùa đông giúp đỡ người nghèo. Ông nhớ một thời vàng son khi mình lên đồ thật ngầu, hát vang nhạc pop để tìm yến oanh. Còn sâu sắc hơn là những ánh xạ của thế hệ này và thế hệ ông bà, của những cặp đôi thể hiện tình cảm trên những băng ghế, của nhóm BTS mà gợi nhớ họ về sự cuồng nhiệt với The Beattles một thời đã từng.

Song song những ký ức ấy, Brazil nơi hai ông bà gắn bó hơn 30 năm cũng hiện lên đầy sắc màu và sức sống. Đó là xứ sở của những con người bình dị, họ sống chan hòa và không thiệt hơn. Là nơi phong cảnh từ phía ngọn núi Jaraguá đang đứng sừng sững giữa một trận mây. Là nơi người ta yêu tỏi đến mức cho nó vào khi nấu cơm. Và cũng là nơi mọi người luôn giúp đỡ nhau, trong một thời khắc khi hai ông bà ngay cả một tiếng Bồ Đào Nha cũng không hề rõ; nhưng với đời sống chan hòa ấy, mọi sự đã đến và lớn dần lên trong trái tim của những con người tử tế.

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống. Là nguồn năng lượng tích cực, đó là câu chuyện của những người lạ mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu trong đời sống hàng ngày. Là một bà cụ hoài nhớ tuổi trẻ trên chuyến tàu điện, là hai người lạ đầy vẻ lo toan, là người nghệ sĩ ngao du bossa nova, là người bán bắp và sự chan hòa không tính thiệt hơn, là những người nghèo nuôi chó như bạn tri kỉ hay cho mèo hoang ăn… Tất cả hiện lên trong từng nét vẽ của ông Chan là sự tử tế, lòng yêu thương và đúng như cuốn sách này mong muốn truyền tải, Nhìn lại cuộc sống thật đẹp biết bao.

Những câu chuyện kể mà hai ông bà mong muốn thể hiện là những lát cắt vô cùng ngẫu nhiên ở mọi khoảnh khắc đời sống.

Thế nhưng nó cũng thực tế và đầy cảm hứng với mối nghi ngại của đời sống hiện nay, với bụi mịn, ô nhiễm; với đô thị hóa và những khoảng trời sao đã bị chen lấn và thu nhỏ lại. Ở đó những con người liều lĩnh, đầy vô tâm đẩy tê giác Sudan đến lúc tuyệt diệt. Họ giam cá voi sát thủ làm vật giải trí, họ thấy từng đàn cá voi vào biển tự sát vì rác thải nhựa tràn ngập trong dạ dày chúng… Nhưng họ không biết rồi đến một ngày mình cũng sẽ giống những con vật đó, như Tilikum bị giam ở nơi hồ bơi, họ bị cách ly khỏi đời sống này, khi mùa xuân đến không thể đạp xe, mà còn ngược lại được khuyên ở nhà. Đó không chỉ là hiện thực đời sống, đó còn là những lo lắng cho thế hệ sau đầy bấp bênh và thiếu kết nối.

Với Nhìn lại cuộc sống đẹp biết bao, qua những nét vẽ của ông Chan và lời kể chuyện của bà Marina; những bài học về lòng biết ơn, về sự chia sẻ và lòng cảm thông, về vẻ đẹp của tự nhiên và việc tận hưởng mọi thứ xung quanh thay vì chỉ riêng nhìn về phía trước… đã hiện lên một cách rõ ràng và đầy sinh động. Đó tuy là lát cắt nhỏ của những khoảnh khắc đời thường, thế nhưng nó khiến người ta tốt hơn, cảm thấy hòa nhập hơn và trên hết là cái đẹp sẽ luôn lan tỏa.

Trong một bức ảnh mà bà muốn ông vẽ cho các cháu những chiếc cầu vồng tràn ngập hy vọng; nhưng không đâu xa, đây chính là hy vọng mới mà mỗi một người có thể tìm thấy. Đầy cảm xúc và truyền cảm hứng trong một thời đại của bận bịu, phớt lờ và thiếu kết nối.

Hết.

Chiêu Dương.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi khoảng cách thế hệ khiến con đường “Về nhà với mẹ” thêm xa

Published

on

Trong những ngổn ngang mệt nhoài của cuộc đời, lắm lúc người ta chỉ mơ được về nhà với mẹ. Về để thấy mình luôn hoài bé nhỏ. Về để thấy mình luôn được yêu thương. Về để sống trong những bình yên dung dị suốt cả thời thơ ấu mà ngưỡng cửa trưởng thành đôi khi đã tàn nhẫn cướp mất đi. Nhà là một nơi chốn thiêng liêng dung chứa tất cả mọi thương yêu và sự che chở của cha mẹ. Cha mẹ nào cũng sẵn lòng chờ con. Đứa con nào cũng có thể trở về, dù thành công hay là thất bại. Thế nhưng với Green, một cô gái đang gặp phải những vấn đề khó khăn trong cuộc sống của mình, thì việc phải dọn về sống chung với mẹ - cùng với một cô bạn gái khác – lại là một quyết định không mấy dễ dàng, cho cả ba người…

Mâu thuẫn bắt đầu kể từ khi người mẹ nhận ra sự xuất hiện của Rain trong căn nhà mình. Sự xuất hiện đó đã làm bà lo lắng và bất an vô cùng.  Dù muốn dù không, bà đã không thể từ chối ngay từ đầu. Bà không quen với việc một người lạ nào đó cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt và cùng sống với bà trong căn nhà này. Nhưng vượt trên những nỗi lo đó, điều bà trăn trở nhất chính là mối quan hệ giữa Rain và Green. Cả hai cô gái này không đơn thuần chỉ là những người bạn. Họ yêu nhau. Liệu có một tình yêu thật sự tồn tại giữa hai người con gái?

Trên đời làm sao chấp nhận một tình yêu như vậy, người mẹ vẫn luôn nghĩ? Điều gì đã khiến cho con gái mình trở thành một đứa không bình thường? Green đã hơn ba mươi tuổi, lại là một người học rộng hiểu nhiều, thì lẽ ra Green phải hiểu điều gì đúng, điều gì không đúng chứ? Tại sao nó lại yêu con gái? Tại sao nó không chọn một cuộc sống bình thường như bao người? Tại sao nó cứ thích làm cho bà mẹ già này khổ tâm vì nó? Bà cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi, nhưng vẫn không thay đổi được điều gì. Rồi cứ thế, những bất an ngủ ngầm mỗi lúc càng lớn hơn, nó vô tình tạo nên một hố sâu khoảng cách, đẩy ba con người ở hai thế hệ này đi xa hơn…

Mỗi ngày trôi đi, khi chăm sóc Jen trong viện dưỡng lão, bà đã không ngừng nghĩ về tương lai của mình và của đứa con gái ngu ngốc kia. Jen đã từng là một phụ nữ trẻ sống trong ánh hào quang lẫy lừng với một quá khứ đáng tự hào, nhưng bây giờ đây, lúc cái thân xác này đã trở nên già cỗi, Jen phải nương nhờ vào sự chăm sóc viện dưỡng lão, chỉ vì Jen không có gia đình, chỉ vì Jen không có người thân. Và mặc dù được xếp vào một viện dưỡng lão cao cấp với số tiền lớn đủ để tận hưởng một cuộc sống tiện nghi tuổi về già, Jen lại phải nhận lấy sự chăm sóc hững hờ từ những nhân viên điều dưỡng với một chế độ hà khắc vô cùng. Để rồi khi cảm thấy Jen là một gánh nặng, người ta đã tàn nhẫn chuyển bà sang một nơi khác, tồi tệ hơn, chỉ vì thể nào rồi bà cũng sẽ chết. Nhìn thấy những chuyện đau lòng đó, người mẹ không thể nào tránh khỏi xót xa. Jen một đời sống vì cộng đồng, để rồi những thời khắc cuối cùng lại trở nên thê thảm đến như vậy. Rồi còn mình, rồi còn đứa con gái của mình, cuộc sống sau này sẽ như thế nào đây, nếu như không có ai chăm sóc, người mẹ đã thầm nghĩ.

Càng nghĩ, bà càng lo nhiều hơn. Con người ta đang sống trong thời đại luôn cảm thấy sợ hãi về những ánh nhìn của người khác dành cho mình. Hàng xóm đã bắt đầu bàn tán ra vào về mối quan hệ giữa Green và Rain. Thời cuộc cũng đã lên tiếng khi trường của Green bắt đầu sa thải những giáo viên đồng tính mà không có lí do. Green mỗi ngày đều cố gắng đấu tranh để giành lại công bằng cho chính mình và cộng đồng LGBT, dẫu sự đấu tranh đó phải đánh đổi rất nhiều bằng máu và nước mắt. Những con người kia, ai cũng cho là mình đúng – dưới góc nhìn của mình, nhưng không ai thử một lần đặt mình vào vị trí của người khác để nhìn nhận ra vấn đề. Đúng, vấn đề là nằm ở đó.

Về mặt người mẹ, bà không ngừng đau khổ trước những trăn trở này. Bà luôn muốn Green trở về là một đứa con gái bình thường, lấy chồng, có con, sống một cuộc đời giống như những người khác, để không phải có một kết thúc buồn bã giống như Jen. Nhưng bà càng cố gắng hướng cuộc sống của Green theo mong muốn của bà, thì kết quả lại càng trở nên tệ hại. “Tại sao phải lấy chồng hay có con mới là lập gia đình? Mẹ, Rain là gia đình của con. Cô ấy không phải bạn bè. Suốt bảy năm qua bọn con đã sống như gia đình. Gia đình là cái gì? Không phải là chỗ dựa tinh thần, là người luôn ở cạnh mình sao? Tại sao như thế này được coi là gia đình, như thế kia lại không?” Mối quan hệ giữa hai mẹ con ngày càng tệ. Bà nhận ra bà đã thay đổi rất nhiều, bất mãn hơn, cộc cằn hơn khi nói chuyện với Green. Và Rain, cũng chính là một thứ đáng ghét nhất trong cuộc đời của bà. Những mâu thuẫn nối tiếp mâu thuẫn. Ba con người với những suy nghĩ và cách sống khác nhau đã không thể nào hàn gắn dù vẫn đang sống dưới một mái nhà, trong một bầu không khí…

Chỉ đến khi những giọt nước mắt rơi, và máu đã đổ xuống…

Mọi sự hi sinh nào cũng đều có ý nghĩa.

Điều gì là đúng và điều gì là không đúng theo cách nhìn của người đời, đến giờ phút này nó không còn quan trọng nữa. “Giá như mọi thứ lại quay trở về vị trí ban đầu. Giá như cuộc sống luôn suôn sẻ thuận lợi. Nhưng có lẽ đang đợi tôi phía trước sẽ là một cuộc sống luôn phải đấu tranh và chịu đựng không ngừng nghỉ. Thế nên điều tôi nghĩ bây giờ không phải là ngày mai xa xôi nữa. Mà là hiện tại tôi đang đối mặt. Tôi sẽ chỉ nghĩ về những chuyện đã xảy ra ngày hôm nay và cách mình đã thu xếp mọi chuyện suôn sẻ. Và tôi cũng tin rằng, mình chỉ có thể vượt qua những ngày mai dài đằng đẵng theo cách như vậy mà thôi.”

Những ngày tiếp theo đó, ngay cả bản thân người mẹ cũng không biết rằng rồi mọi chuyện sẽ đi về đâu, nhưng bà đã tin, việc cần làm ngay lúc này, chính là đối mặt với hiện tại. Đối mặt, chứ không phải là trốn chạy. Và khi người ta đã có đủ dũng khí để đối mặt, cũng giống như người ta đủ can đảm để chấp nhận một sự thật nào đó. Sự thật thì mãi luôn luôn là sự thật, dù nó có bị người ta thêu dệt bởi vài ba cái ý niệm dối trá nào để bao biện cho một lí do nào khác.

Đọc đến những trang cuối cùng của cuốn sách, tôi hiểu ra được sức mạnh của sự thấu hiểu lớn lao đến nhường nào. Người ta ghét nhau vì người ta không thấu hiểu nhau. Người ta hờn giận nhau cũng vì thế. Vậy điều quan trọng ở đây là gì? Là tại sao người ta lại không cùng ngồi lại và nói với nhau? Nhưng điều này đôi khi thật khó, bởi ai cũng có những suy nghĩ của riêng mình, ai cũng có một cái tôi thật cao và nhất quyết không chịu nhân nhượng trước bất kì lý lẽ nào chống đối lại mình. Bởi vì vậy mà mới nói, sức mạnh của sự thấu hiểu lớn lao đến nhường nào. Nó lớn đến nỗi, người ta cứ nghĩ là mình sẽ không bao giờ làm được.

Nếu như Green và Rain không dọn về sống cùng với mẹ, nếu như không có những mâu thuẫn, tranh cãi giận hờn giữa cả ba người, thì có lẽ những trăn trở trong lòng nhau vẫn luôn hoài tồn đọng. Có phải chăng, thứ có thể giải đáp những khúc mắc đó, chính là sự thấu hiểu yêu thương? Cuốn sách cũng từ đó khép lại, nhẹ nhàng và rất đỗi đời thường…

Được viết theo lời kể của nhân vật người mẹ, Về nhà với mẹ mở ra một góc nhìn mới về những suy nghĩ, nhận định và cách phản ứng với vấn đề của các bậc phụ huynh. Cha mẹ đôi khi có những suy nghĩ thật khác với con cái, và những suy nghĩ đó có thể đúng hoặc có thể sai, nhưng chung quy lại, tất cả những gì cha mẹ làm đều xuất phát từ yêu thương và mong muốn con mình được tốt đẹp. Cuốn sách như chiếc cầu nối hai khoảng cách thế hệ lại với nhau. Các bậc cha mẹ có cơ hội để hiểu rõ cuộc sống của con cái, còn con cái thì cảm thông và nhìn nhận được suy nghĩ của cha mẹ. Chỉ cần thấu hiểu nhau, thì giận hờn nào cũng sẽ được xóa bỏ.

Tác giả Kim Hye Jin đã rất khéo léo khi xây dựng một bối cảnh xã hội Hàn Quốc hiện đại với nhiều kiểu người, nhiều câu chuyện rất thật, để từ đó làm bật nổi lên những góc nhìn đa chiều với nhiều vấn đề nhức nhối âm thầm trong cuộc sống. Về nhà với mẹ không chỉ gợi lên những suy tư, nỗi niềm của một người mẹ trước cuộc sống bấp bênh của con gái mình, mà còn phản ánh cái nhìn khắt khe của xã hội dành cho cộng đồng LGBT và phơi bày tâm lý con người trước những khía cạnh đạo đức, giàu nghèo, tình người… Dù được viết bằng ngôn từ đơn giản thân thuộc, nhưng những câu văn của tác giả đều để lại trong lòng độc giả những triết lí sống vô cùng sâu sắc về những tư tưởng và nhân sinh quan mới mẻ, có thể thay đổi được quan niệm đã cũ của một con người.

Và khoảng cách thế hệ chỉ khiến con đường về nhà với mẹ thêm xa hơn, chứ không phải là không bao giờ tới…

Hết.

Lâm Lâm

Ảnh đầu bài: Nhã Nam


Bài viết chung chủ đề

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Tàn ngày để lại: Về một người đàn ông tự dối lòng

Published

on

Kazuo Ishiguro nói ông viết Tàn ngày để lại trong vòng 4 tuần, bằng cách đưa bản thân vào trạng thái mơ hồ nhưng tỉnh táo cao độ gọi là crash. Trạng thái kỳ dị ấy kết hợp cùng một giọng điệu trần thuật bậc thầy đã tạo ra một thiên tiểu thuyết vô tiền khoáng hậu về một người quản gia, mà rộng hơn, về một cách làm người.

Nếu tìm một người dẫn chuyện muốn đứng ngoài câu chuyện của mình, hòng nắm bắt những suy nghĩ chủ quan bằng giọng kể dường như khách quan ở ngôi thứ nhất, thì Stevens là lựa chọn không thể tốt hơn. Xuất phát từ điểm nhìn của một quản gia tận tụy hết mực, Stevens để cho câu chuyện đời mình rỉ rả chảy qua lỗ khóa thời gian chậm rãi nhưng kiệt lực. Thông qua đó, Stevens phong kín cảm xúc của mình đến độ nếu không thực tâm chú mục vào phía bên kia, – tức phía không được phơi ra trên bề mặt tiểu thuyết – ta không tài nào nhận ra được sự vỡ vụn trong tâm hồn ông.

Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Tàn ngày để lại.

1. Khi những điều người ta muốn viết lại không nằm trên giấy

Như Márquez đã từng nói, người ta ai cũng có ba cuộc đời: công khai, riêng tư và bí mật cân bằng với nhau. Riêng với Stevens, công việc quản gia làm cho khía cạnh riêng tư và bí mật trở thành một đám mờ không hơn những bụi mây bên rìa cuộc sống.

Giả như có ai đó thử định nghĩa cuộc đời bằng những gì người ta đã làm thì Stevens còn lâu mới với tới được khung đó, bởi dẫu cho tất cả công việc của ông, sự tận tụy, chỉn chu, trung thành và ý thức “phẩm cách” nghề nghiệp của mình, Stevens chỉ đang dẫm vào bước chân người cha để rồi hóa thân thành cái bóng cho chủ nhân mình. Cuộc đời ông thực chất nằm ở phía âm tính, phía những việc dù muốn hay không, vẫn chưa làm được.

Mối tương quan kỳ quặc đó còn vận cả vào trong cuốn tiểu thuyết – hồi ký, khi cuộc đời Stevens thực chất nằm ở những câu chuyện không được kể. Thử chọn bất kỳ một thời điểm, một sự việc nào, người ta đều có thể tìm thấy dấu vết ngụy trang ẩn tàng. Nhìn vào cách mọi việc diễn ra, từ khởi hành cho tới kết thúc, sự bình thản, nghiêm trang luôn chực chờ đổ vỡ bởi giọng nhỏ nuối tiếc đi kèm. Cũng phải thôi, công bằng mà nói, khi con người đã đi đến bên kia sườn dốc, lẽ đương nhiên sẽ thôi thúc người ta trở ngược lại mà ngắm nhìn cảnh sắc mình đã lỡ bỏ qua chứ không phải những cảnh người ta đã thấy hàng bao lần. Hơn nữa, với một người sống qua nhiều đời chủ nhân, đi qua hai cuộc thế chiến thì mong muốn giấu mình lại càng trở nên mãnh liệt. Đứng trước đống hoang tàn sau chiến tranh, sở mục một thời vàng son đã trở thành dĩ vãng, người ta lại càng có cớ tô vẽ những điều tốt đẹp mà bỏ quên những khía cạnh khác. Câu hỏi lớn về “phẩm cách” tồn tại như một cách níu kéo cân bằng mong manh giữa một cuộc đời lý tưởng đang trên đà sụp đổ. Bởi nếu không bám vào đó, liệu cuộc đời Stevens sẽ còn ý nghĩa gì chăng? Điều đó giải thích tại sao cứ dăm trang sách, người ta lại bắt gặp nỗi tiếc nuối cá nhân xen vào giữa lòng đắc thắng với công việc chính là vì vậy.

Nhưng không phải toàn bức tranh đều mang màu xám. Cho đến cuối, Stevens ít ra cũng đã thành công giải thoát mình khỏi thế lưỡng nan cuộc đời.

Có ích gì khi người ta trăn trở quá nhiều rằng mình đã có thể hay chẳng thể làm gì để nắm giữ tiến trình cuộc đời mình? Hẳn nhiên nếu những người như quý vị và tôi ít nhất cũng gắng khiến phần công sức nhỏ bé của mình góp vào những gì thật sự chân chính và đáng giá, thì cũng đủ rồi. Và nếu có ai trong chúng ta sẵn sàng hy sinh nhiều điều trong đời để theo đòi những tâm nguyện ấy, thì hẳn nhiên chính bản thân việc ấy, bất chấp kết quả có ra sao, cũng đáng tự hào mãn nguyện rồi.

Thử đặt Stevens và cha ông lên cùng bàn cân, giữa một người mãn nguyện đầy tự hào với một người ra đi trong tiếc nuối, chừng đó đủ thấy sự giải thoát bản thân khỏi những trăn trở cuộc đời đem lại sức nặng đến dường nào. Dẫu sao thì con người cũng phải vượt thoát khỏi những hình bóng tinh thần để giữ mình hiện hữu với thế giới. Đó mới là cuộc sống.

2. Sức nặng trong lời tự thú của một người đàn ông

Nếu bỏ qua mớ lý thuyết “phẩm cách” ngoắc ngoéo đeo đuổi Stevens suốt công cuộc Tây tiến, vứt hết bộ cánh quản gia bám theo ông suốt ba mươi lăm năm cuộc đời để tập trung bóc tách sự thật ẩn sâu dưới những lớp tự thoại liên thiên, thì không khó để người ta nhận ra đâu là cốt lõi con người ông. Nói thẳng ra, là câu chuyện của Stevens với cô Kenton.

Cảnh trong phim Tàn ngày để lại (The Remains of the Day), ra mắt năm 1993.

Với tất cả sự lý tính làm nên con người Stevens, không thể mong đợi một chuyện tình kiểu mẫu của hai người bọn họ được. Khi nói chuyện tình kiểu mẫu, có nghĩa người ta muốn ám chỉ Cuốn theo chiều gió, Jane Eyre hay Cỏ chân ngỗng, cũng có nghĩa là những chuyện vẫn không thường xảy ra bất chấp việc chúng thường được trích dẫn. Thậm chí, Stevens còn không chủ định để lộ bất kỳ dấu hiệu nào cho bất cứ ai trong toàn tiểu thuyết. Sự thể Kenton phát hiện ra Stevens vẫn thường đọc những chuyện tình ướt át không đi khỏi khuôn khổ tình cờ. Để mà nói, những gì xảy đến giữa họ cũng u ám hệt như dãy hành lang phụ dành cho gia nhân phía sau Dinh Darlington, chỉ được nhìn nhận ở mặt lưng của cuốn hồi ký. Hai người không hẹn mà gặp cùng tham gia vào trò chơi tình ái chẳng mấy hấp dẫn khi một người phải cố sức thể hiện đồng thời giấu kín tình cảm của mình với người kia và ngược lại. Dễ hiểu trò đi dây này rồi sẽ kết thúc trong nước mắt. Nhưng nếu không có những giọt nước mắt muộn màng của cô Kenton, thì ắt hẳn Stevens sẽ mang theo tình cảm của mình xuống mồ. Khoảnh khắc ông thừa nhận tình yêu dành cho bà cũng là thời điểm trái tim ông vụn vỡ.

Thực vậy – có gì mà không thừa nhận điều này chứ? – vào giây phút ấy, tim tôi như tan vỡ.

Thực vậy – dẫu cho suốt chiều dài hơn ba trăm trang tiểu thuyết, không dưới ba mươi lần ông tự nói với mình hay với người khác, cách này hay cách khác, bằng giọng Anh mẫu mực không thể nghi ngờ tính chân thực trong câu chuyện ông kể, dù cho tất cả những thứ đó – chỉ duy nhất lần này Stevens dám can đảm thú nhận tình cảm của mình. Khi một người đàn ông bày tỏ tình cảm – công khai, riêng tư hay bí mật – nhất là thứ tình cảm được ủ chượp hơn ba mươi năm trong hầm giam “phẩm cách”, thì dường như chẳng còn gì để kể, để mà nói nữa. Thời gian sẽ dừng lại ngay lúc ấy để xúc cảm cuốn đi tất cả. Tuy vậy, không phải mọi thứ đều kết thúc. Mặc cho chuyến hành trình về miền Tây nước Anh đã đi đến điểm cuối, mặc cho cuốn hồi ký cá nhân sắp ngưng giọng, giờ đây cuộc đời thật của Stevens mới chỉ vừa bắt đầu. Cuộc đời ông chỉ vừa bước sang buổi tối. Và buổi tối mới là phần hay nhất trong ngày, là thời điểm thu vén ánh tàn sau ngày dài làm việc, khi trái tim mỏi mệt được chữa lành và an nghỉ.

3. Tàn ngày để lại

Suy cho cùng, đâu có thể quay ngược thời gian được nữa. Người ta không thể ngâm ngợi mãi những gì đã có thể xảy ra. Người ta cần phải nhận ra mình đang có một thứ cũng tốt gần bằng thế, thậm chí còn hơn thế, và biết cảm kích vì điều đó.

Đến một lúc nào đó trong đời, khi sự sai khác về không - thời gian chẳng thể cản nổi lời mời gọi ký ức, người ta sẽ lộn ngược cuộc đời mình lại mà suy nghĩ, ngâm ngợi về những chuyện đã và chẳng xảy ra. Công cuộc xét lại đó có thể xuất hiện dưới hình dạng một cuộc nổi loạn tuổi thiếu niên, trá hình bên trong khủng hoảng tiền – trung niên, mà cũng có thể đơn thuần như một cơn gió nhẹ tuổi xế chiều. Khi thời khắc đến, người ta không khỏi ngăn mình tiếc nuối đôi chút. Suy cho cùng, đó là cả một cuộc đời.

Lẽ tất yếu, người ta luôn tìm thấy hình ảnh đời thường nào đó cốt gán lên nó mớ ý nghĩa trôi qua trong khoảnh khắc quá khứ đã bỏ lại sau lưng. Rất nhiều lần Stevens thoát ly thực tại để đi tới công cuộc xét lại đó, và bất kỳ ai cũng dễ dàng làm được. Tất cả những gì người ta cần làm là đứng trước biển, nhưng tại sao lại là biển? Có lẽ bởi sự mênh mang vô bờ bến, cũng có thể sự uốn lượn tuần hoàn của những con sóng, hay sự bàng bạc của mặt nước khi tàn ngày, dù sao thì cảm giác không – thời gian trước biển mang độ siêu thực nhất định, dễ dàng châm ngòi cho quả pháo ký ức.

Stevens đã chọn cầu tàu ven biển để đóng gói cuộc đời. Tại sao không? Đứng trước biển, đám đông tản mác, rặng phi lao gió lộng, rồi một con tàu nơi đường chân trời, rồi thì chỉ còn có bản thân. Người ta sẽ không ngần ngại ban cho con tàu đó ý nghĩa cuộc đời, với vô số bờ biển nó đã đi qua, cuối cùng cập bến nơi người ta đang đứng đây. Luôn luôn là bến bờ tiếc nuối. Mấy ai trong đời chịu từ bỏ những trăn trở khi tàn ngày mà nhìn nhận lại rằng, bờ biển ta đang đứng chỉ là một trong vô vàn mẫu ngẫu nhiên mà tạo hóa dẫn lối mà kiếm tìm cái đẹp trong nó. Rất có thể Stevens đã kiếm tìm một hình ảnh như vậy để vin cuộc đời ông vào. Và có vô số Stevens khác đứng trên cầu tàu đón ánh tàn chiều hôm ấy.

*

Có những ý nghĩ chỉ hiện hữu trong tâm trí mà không thể diễn tả thành lời. Cũng có những lời không thể hiện hữu trong tưởng tượng. Tàn ngày để lại là một câu chuyện như thế, nó thúc ép ta phải trở đi trở lại giữa tâm trí và ngôn từ, hòng kiếm tìm một sự thật khả dĩ về cách sống, cách làm người.  

Hết.

3V

Ảnh đầu bài: A.N (Thanh Niên)

Đọc bài viết

Cafe sáng