Phía sau trang sách

The Sympathizer: Tự do văn chương, tự do văn hóa, tự do tư tưởng

Nếu cái tự do được văn chương bảo bọc đem đến những câu văn đậm thời đại mới; thì cái tự do được tư tưởng bảo hộ lại mang đến sự thật khôn cưỡng.

Published

on

Viet Thanh Nguyen là cái tên không mấy xa lạ với độc giả Việt Nam những năm gần đây kể từ khi tập truyện ngắn Người tị nạn và tập tiểu luận Kẻ ly hương được chuyển ngữ và giới thiệu tại Việt Nam. Cũng như những tác gia gốc Việt hiện đang sinh sống tại nước ngoài như Thuận, Linda Lê, Ocean Vương, Doan Bui… Viet Thanh Nguyen đồng thời góp tên mình vào danh sách những nhà văn bên kia xứ sở có lối nhìn vào quê nhà một cách rất khác. Là nhà văn gốc Việt đầu tiên giành giải Pulitzer ở hạng mục Fiction cho tiểu thuyết đầu tay – The Sympathizer – cuốn tiểu thuyết lạ lẫm, khắc sâu và vươn những xúc tu khác lạ vào trong khoảng dài lịch sử đã qua, bơm vào đó thứ adrenalin kích thích, tân thời và, dĩ nhiên, cũng khá truân chuyên cho việc tiếp cận đa số.

Cùng với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Người Mỹ trầm lặng của Graham Greene và Những thứ họ mang của Tim O’Brien, The Sympathizer của Viet Thanh Nguyen có thể nói là bốn cuốn tiểu thuyết chiến tranh Việt Nam nổi tiếng và được quan tâm nhiều nhất trong những năm qua. Lấy bối cảnh cuộc chiến tranh Quốc – Cộng những ngày cuối cùng trước khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, The Sympathizer là câu chuyện của một điệp viên hai mang và những xung động thời khắc – con người xung quanh dữ kiện ấy. Viet Thanh Nguyen mở ra một hành trình mới lạ khi tiếp cận sự kiện dưới con mắt của một phe khác, của lịch sử chỉ đúng một phần và lần đầu tiên (có lẽ) được trưng ra dưới ánh sáng ban ngày. Ở đó lần mò như bầy kiến nheo nhóc theo chân điệp viên nằm vùng, ta thấy đồng thời là những diễn biến chính trị – lịch sử, là cuộc sống kham khổ sau cơn tị nạn, là chuyện phục quốc, quá trình hợp nhất bản thân, những tư duy triết học – văn hóa – văn chương… The Sympathizer đồng thời là một tác phẩm văn chương đậm chất Pulitzer, nhưng cũng là tuyển truyện ngắn dưới định danh tiểu thuyết cuốn hút, khai phá và mới mẻ.

Xây dựng nhân vật chính lấy cảm hứng từ điệp viên tình báo Phạm Xuân Ẩn vào những ngày Saigon thất thủ cuối tháng 4 nóng bức, Viet Thanh Nguyen khôn khéo khi xây dựng vẻ hai mang, để đồng thời vừa khai thác cái thật cá nhân, nhưng cũng thật chung quy về thời khắc cuối cùng. Mở đầu tiểu thuyết là một khẳng định chắc nịch: “Tôi là một gián điệp, một kẻ mai phục, một con ma, một kẻ hai mang”. Tôi và cái tôi – hai bản thể hiện thân, những tranh giành lý tưởng, đồng thời là bản chất thật sự đời sống; nhưng cũng đồng thời nhân đôi hướng đi câu chuyện, biến The Sympathizer không còn đơn thuần là cuốn tiểu thuyết phản ánh chiến tranh, mà sâu trong nó là cơn dằn vặt những dằn xé tự thân.

1.
Hiện thực

Như đã nói trên, The Sympathizer là một tiểu thuyết dưới dạng chuỗi truyện ngắn dài tập. Theo suốt câu chuyện của viên Đại úy nằm vùng, ở mỗi chương tiếp theo, tác giả đồng thời cài cắm vào đó câu chuyện di dân, cuộc sống tị nạn, câu chuyện văn hóa bản địa, sự xâm nhập – chiếm hữu – hòa hợp, thuyết gia đình, giải phóng tình dục, giấc mơ Mỹ,… Cuốn sách có thể nói, dù ở góc độ nào, như một tra cứu điển hình cho thời đoạn lịch sử trước và sau thời khắc năm 75 trên ba chân kiềng là thế mạnh của Viet Thanh Nguyen: văn chương – thi ca – triết học. Có lẽ vì tính tuần tự và sự thống nhất trong mạch kể, The Sympathizer vượt qua điểm yếu của tập truyện ngắn trước đó Người tị nạn – khi bị giới hạn bởi hình thức (truyện ngắn) và cả nội dung (tị nạn), khi dẫu đã xoay chuyển dưới nhiều hình thức – nó cũng không đủ che giấu cái manh mún mạch truyện hoặc cái hiếu kỳ nửa vời – khi những người sống ngay trong lòng đất nước không thấy một đột phá hay mới mẻ nào; có chăng là cái hiếu kỳ của những con mắt chưa thấu trải đời ở những vùng đất cách đó ngàn dặm.

Ở đó, cuộc sống tị nạn và sự thất thế của chế độ cũ được Viet Thanh Nguyen viết ra rất đậm thực tế. Có lẽ cũng từng là người tị nạn, anh hiểu rõ và chắt lọc những gì làm suy yếu đi bản lai diện mục, làm con người ta tổn thương hơn cái mới mẻ của nơi đất hứa. Trong đó, anh viết: “tình trạng tàn tạ ẩn sau những căn nhà chung cư trợ cấp như một thứ bệnh ung thư di căn đang gặm nhấm hủy hoại úa nhàu những con người đang chịu thử thách ngày lại ngày qua mòn mỏi mang hội chứng u uất trầm cảm không sao tránh khỏi theo chuỗi ngày lưu vong. […] Thêm vào đó là vai trò của đàn bà trẻ con vốn dễ bị tổn thương và dễ làm mồi cho những tiêm nhiễm xa lạ phương Tây. Bọn nhóc con gây phiền muộn cứ cãi lại họ không phải bằng ngôn ngữ mẹ đẻ mà bằng tiếng ngoại ngữ mà mấy nhóc đã học mau hơn bố nhiều. Còn các bà vợ hầu hết buộc phải đi tìm việc làm, và trong môi trường làm việc mới họ đã chuyển đổi khác đi không còn là những đóa sen yêu kiều hiền thục thuở xưa như các ông nghĩ nữa”.

Ở đó, giá trị gia đình bị hạ thấp, bản lai diện mục suy vong, con người đấu tranh với cơn hậu chấn tâm lý; tất cả là tổng hòa của cái đã mất, của tình trạng ly hương, của nỗi nhớ nhà, của khát khao chiến đấu, của quyền lực, của lẽ sống, của động cơ,… tất cả làm họ như bó bột vào thứ hoàn cảnh tàn tạ, vật vờ như những bóng ma để hiện thân ra ngoài là những trang phục kiệt suy “Họ dạo quanh cửa hiệu, tán gẫu với nhau, chân mang những đôi giày rẻ tiền đại hạ giá, trên mình khoác những bộ y phục thùng thình chẳng vừa với người mặc thường được rao bán với giá rẻ và một đổi một. Nào cà vạt mu soa tất vớ mang vội vào, cả món xa xỉ đĩ thỏa nước hoa, những thứ những tưởng che lấp được mùi bại trận lịch sử cay đắng còn rành rành kia”.

Những lề thói này hoàn toàn không mới và không phải không có tiền lệ ở những tác phẩm ly hương dài trước đó; nhưng bỏ qua lớp vỏ văn chương mà đôi lần ông cố khoác lên lớp truyện ngắn của mình, lần này bằng cái thực tế, Viet Thanh Nguyen đã thành công khi khắc họa được trạng thái vật vờ ấy. The Sympathizer dễ nói là cuốn sách ổn, ổn hơn rất nhiều các tuyến truyện ngắn trước kia, đơn giản, một góc nhìn và không quá sức.

2.
Nhân bản

Ngoài xây dựng hiện thực cuộc sống như thế, ở The Sympathizer ta cũng đồng thời nhận thấy hiện thân của nhân bản. Nó có thể là cái nhân bản cá nhân, nhưng cũng có thể thuộc về nhân quần xã hội. Như chi tiết cuộc nói chuyện với những cô gái phường vẫy trước khi lên chuyến bay sơ tản quân lực VNCH cuối cùng, Viet Thanh Nguyen bằng góc nhìn của nhân vật tôi, bằng một suy ngẫm sâu xa nào đó vẫn nhìn thấy “trái tim vàng son còn đập” trong lòng ngực các cô gái. Ông không coi họ là những kẻ bỏ đi – như chính họ tưởng tượng khi phe chiến thắng ập vào – mà bằng góc nhìn của người từng trải, ông thấy ở đó là sự cảm thông sâu sắc với người đàn bà, với người phụ nữ, với mẹ ông, với Lan. Ông viết: “Tôi vốn dành cho các nàng gái giang hồ một sự tôn trọng nhất định, họ quen gian giảo nhưng dẫu sao cũng còn rộng rãi […] Chỉ nơi những góc khuất, hay nơi tối tăm sâu thẳm nhất của những trà đình tửu điếm ăn chơi mới có nàng gái điếm mà trong ngực luôn đập rộn một trái tim vàng. Tôi bảo đảm với bạn rằng nếu có một phần thân thể của gái ăn sương được làm bằng vàng, thì đó không phải là trái tim mà là một chút gì ta tin vẫn còn sót lại nơi một khía cạnh khác của nàng đó là dấu chỉ của một người diễn tuồng vẫn còn giữ cái tâm sòng phẳng”.

Cái nhân bản ấy đôi khi còn được xây dựng bằng lòng căm thù. Tưởng chừng việc xây dựng một nhân vật hai mang, một kẻ nằm vùng đã đủ thuận lợi bao quát bối cảnh; nhưng không, Viet Thanh Nguyen cũng đồng thời xây dựng nhân vật ấy đậm tính văn chương – với những đỉnh trào lên xuống của kiếp người lê thê, của nền móng kịch nghệ cần có; và ở đó, là hình tượng người Cha theo cả hai nghĩa – người cha sinh học và Cha xứ Công giáo; người bỏ rơi ông, cho ông ghẻ lạnh hơn sự ấm êm. Cái nhân bản khi yêu thiết tha mẹ ông được phân bổ rải rác suốt chiều dài tiểu thuyết, cái nhân bản khi căm thù cha ông, quăng thẳng vào nỗi căm thù những lời nguyền chuốc: “vậy nên tôi đã tưởng tượng ra một tia sấm sét, một con voi điên, một căn bệnh hiểm nghèo, một thiên thần giáng xuống sau lưng ông trên bục giảng, thổi tiếng kèn vào tai ông để triệu hồi ông trở về với đấng Tạo hóa”.

Và sâu xa hơn cả là cái nhân bản dành cho con người, cho những đồng bào khốn khổ của ông – những người chỉ mong muốn độc lập, tự do, nhưng rồi bị cuốn vào cuộc chiến vô ích. Ở đó, ông viết, như thể ngay từ khi sinh ra từ buồng ói của người mẹ, chính những đứa trẻ ngây thơ đã bắt đầu phải chọn – phe bên này hay bên kia – không thể lưng lửng, không thể dửng dưng, không một gợi ý, cứ thế mà chọn. Hay, cái dằn vặt của nhân vật tôi khi hạ sát những người vô tội, là Thiếu tá trác táng, là Sonny – để rồi đến nỗi hai bóng ma ấy như loài tầm gửi cộng sinh cùng cuộc sống suốt đời.

3.
Văn chương

Nhìn chung, lối viết của Viet Thanh Nguyen không quá mới lạ, không hẳn có gì đột phá, nhưng phải thừa nhận một điều, anh rất thông minh khi tổng hòa được những chi tiết thiết yếu cần có của một tiểu thuyết hay. Anh biết khi nào bám sườn hay dịch xa một đoạn, biết sắp xếp trình tự tiểu thuyết, biết tạo tình huống dẫn dắt sang mảnh đất triết lý – lí luận mà người phương Tây vốn rất ưa. Việc thắng Pulitzer năm 2016 cho hạng mục Fiction khi đọc The Sympathizer không khó giải thích. Bởi lẽ anh biết người đọc muốn gì và không ngại cuốc thuổng trên mảnh đất đặc trưng ấy. Tuy là cuốn sách về chiến tranh Việt Nam, nhưng nó không thiếu những vấn đề lớn lao, từ giấc mơ Mỹ đến văn hóa Hollywood, từ tinh thần dân chủ Mỹ đến giải phóng tình dục, đôi khi là đối ngẫu Đông Tây và cách văn hóa – nghệ thuật gắn kết cách mạng.

Những tư duy này của Viet Thanh Nguyen không quá khó hiểu, nhưng đôi khi nhìn lại, liệu có quá cần thiết? Đặt một trường hợp khác, Con sẻ vàng của Donna Tart từng bị ta thán vì độ dày của nó, có người còn bảo đưa vào tay cô sẽ còn cắt giảm 1/3 thời lượng để bảo vệ môi trường?! Nhưng với người đọc bảo thủ – như người viết bài này – cái hay của Donna Tart là dùng những nhân sinh quan của bà gắn chặt vào cuộc đời nhân vật vốn rất cần kíp cho một tác phẩm lớn. Còn The Sympathizer, vốn dĩ sở hữu một nền tảng bối cảnh hợp lý, một góc nhìn mới lạ, cách xây dựng tình tiết khó đi vào lối cụt; nên khi thêm thắt những “tính chất Pulitzer” này vào, ít nhiều gây hoang mang. Chẳng hạn vấn đề văn hóa – nghệ thuật gắn với Cách mạng bằng trích dẫn Mao, có thể là một gợi mở tốt. Cũng như thế, những khác biệt văn hóa Đông – Tây, công cuộc giải phóng tình dục trong chủ thuyết Cộng sản cũng có thể khai thác. Nhưng văn hóa Hollywood, tập tính dân chủ Mỹ hay luận bàn về chế độ Cộng sản phương Đông đầy triết lý của học giả nổi danh và dành riêng đến hơn hai chương để khai phá cái văn hóa điện ảnh hay cái lí luận triết gia này, liệu có cần thiết?

Dĩ nhiên, không thể nói những đổi mới văn chương này là không cần thiết. Rõ ràng nó góp phần nâng The Sympathizer lên một nấc nữa, khi đó không phải là những khai thác chiến tranh bình thường – như Graham Greene với hình tượng phụ nữ (từng vấp phải không ít khó chịu từ nơi bản quốc). Nhưng một mặt khác, vốn bản thân là người tị nạn từ khi lên 4, với trí nhớ và trải nghiệm không quá đặc sắc, đòi hỏi Viet Thanh Nguyen phải dựa trên những mẫu vật, những câu chuyện được kể đi kể lại hay đi thực địa. Nhìn xuyên suốt cuốn sách này, ta thấy giọng văn hồ hởi của người xa quê tìm về nguồn cội, tuôn trào, thấm đẫm. Và cũng đôi khi, chính sự tăng động (hay năng động cực điểm – nói đúng hơn) làm câu văn không suôn sẻ, một cách gần như còn chứa cảm tính. Viet Thanh Nguyen đôi khi vẫn không tiết chế để chọn cái cần kíp đem vào văn chương; mà như thể từ những vết sẹo thiếu ăn ngày cũ nơi bản xứ, anh dọn đầy ứ một bàn và khiến người thưởng (hay người đọc tác phẩm của anh) ngấy đến tận cổ. Nhưng nhìn chung, sự khôn ngoan khi biết khai thác để nâng tầm tác phẩm dường như che lấp những khuyết điểm này; và dĩ nhiên là cuốn tiểu thuyết đầu tay, biết đâu sau The Sympathizer sẽ là một cuốn sách khác biết kiềm chế và chắt lọc nhiều hơn? Hy vọng một ngày nào đó.

4.
Tự do

Tự do góp phần làm nên tính chất văn chương của tác phẩm này. Không thể chỉ nói tác phẩm mang những giá trị cũ, nó đủ mới – đủ tự do để nhắc đến những tư tưởng mới. Được bảo bọc trong vỏ “văn chương”, Viet Thanh Nguyen tha hồ khai thác những góc khuất thường được cho là ý nhị trong văn hóa phương Đông, của tự do con người, tháo khỏi guồng xích, đi ra ánh sáng. Như thể anh viết: “Nếu có cuộc cách mạng thực sự xảy ra thì ắt nó phải không được tách lìa với công cuộc giải phóng tình dục”. Thiết nghĩ, tư tưởng này không gì mới mẻ, nhưng nhờ tự do văn chương, ít ra nó cũng đâm nát cái đạo đức giả, cái lạm dụng tôn giáo vẫn được giấu kín: “chốn muôn màu về tình dục của người đồng tính, lưỡng tính, lẫn ấu dâm nam lúc nào cũng rêu rao là không bao giờ có, thực ra là được che kín bên dưới tấm áo choàng của Vatican”.

Chính tự do cũng mang đến đỉnh cao văn chương, khi cái bó buộc không còn đè nén như những quả tạ, từ đó người viết thả mình theo những suy tưởng cá nhân. Như đoạn văn sau chỉ là một câu chuyện nhỏ trong toàn tiểu thuyết, nhưng đứng dưới góc độ cá nhân – sự giải phóng bản thân này dường như là điểm sáng nhất của toàn tiểu thuyết. Phóng túng, khoan thai mà man dã, anh viết: “Còn nếu bảo thủ dâm, ngay cả thủ dâm với một con mực ống đã chết đứ đừ mà mắc tội là có được nó đồng ý hay không nữa ư? Cường điệu quá phải không? Tôi, cá nhân tôi, khẳng định thế giới sẽ đẹp hơn nhiều nếu người ta luôn lảm nhảm ám ảnh trong đầu hai chữ ‘thủ dâm’ nhiều hơn là hai chữ ‘giết người’”. Là một cá nhân đứng giữa hai bờ lịch sử, giữa hai nền văn hóa Đông – Tây rất ít chạm nhau, Viet Thanh Nguyen sở hữu trong mình cái giao hòa của thời đại, của văn hóa. Tự do, dĩ nhiên, anh không ngại khi khai thác cuộc chiến dưới một góc nhìn cá nhân, tự do văn chương, tự do tư tưởng, tự do văn hóa – ba trụ cột chính làm nên tính tự do của The Sympathizer. Nếu cái tự do được văn chương bảo bọc đem đến những câu văn đậm thời đại mới; thì cái tự do được tư tưởng bảo hộ lại mang đến sự thật khôn cưỡng. Anh viết The Sympathizer trong khi lịch sử đã được định đoạt, những gì quá vãng đã lùi lại xa; và cũng bởi dĩ nhiên lịch sử được viết ra bởi kẻ chiến thắng, và con người vốn bản chất được sinh trong nỗi tị hiềm; ít ra anh đã dũng cảm cho thấy lịch sử từ phe thảm bại, từ những gì vẫn còn trầm tích dưới đáy biển sâu. Không tiện trích dẫn những điều thuộc về một phạm trù khác, không còn văn chương để mà bảo bọc một bài điểm sách – chỉ xin được dẫn một câu không quá động chạm, không quá xách động, nhưng đúng và đủ: “Cuộc cách mạng của chúng ta chẳng qua chỉ cố tiên khởi trong việc thay đổi chính trị nhưng hậu ý là để thu lấy quyền lực. Trong cái biến hình này, chúng ta cũng không phải là kẻ mới mẻ gì. Há chẳng phải người Pháp người Mỹ cũng làm có khác chi cái trò biến hình đó đâu? Chính họ rêu rao cách mạng trước rồi thì họ đã biến thành đế quốc, thực dân và kẻ chiếm đóng cái xứ nhược tiểu khó nhai của chúng ta, tước đoạt quyền dân tộc tự quyết dưới danh nghĩa cứu lấy chúng ta. Đành rằng công cuộc cách mạng của chúng ta tốn nhiều thời gian hơn so với họ và được coi là đẫm máu hơn nhưng khoảng thời gian đã tốn mất kia rất đáng. Bởi khi học đòi theo những thói nết xấu xa nhất của các ông chủ người Pháp và rồi là kẻ đến thế họ, người Mỹ, chúng ta đã mau chóng chứng tỏ mình mới là kẻ xuất sắc nhất chớ bọn họ vẫn còn kém”.

*

Diêm Liên Khoa – nhà văn có nhiều sách cấm và gây tranh cãi nhất Trung Quốc – từng phát biểu rằng: “Nghệ thuật cũng sẽ không vì bạn sống ở quốc gia nào đó, trong hoàn cảnh và thời đại nào đó chịu sự áp bức của chính trị, quyền lực đối với bạn mà nhấc thêm một quả cân nặng ký đặt lên bàn cân thành tựu của bạn. Cho dù đã đặt lên rồi thì tới một ngày nào đó, khi cảm thấy chưa công bằng và thỏa đáng, nó sẽ lặng lẽ lấy quả cân ấy ra khỏi bàn cân”. Ở đây ta thấy, bằng bốn chân kiềng hiện thực – nhân bản – văn chương – tự do và nhất là tự do, ít nhất nó đã nhấc quả cân Pulitzer lên sức nặng cho cuốn sách này về mặt văn chương. Ở mặt giá trị, tuy cấm nhưng nó cho ta góc nhìn vô cùng mới mẻ vào trong câu chuyện từ lâu bị phong tỏa bởi nền chính trị. Tuy là tiểu thuyết đầu tay và dĩ nhiên còn nhiều sạn, nhiều chỗ chưa tới – nhưng hy vọng, với tự do và ba chân kiềng ấy, Viet Thanh Nguyen sẽ không lặng lẽ để mất quả cân cho sự cân bằng.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Ảnh đầu bài: ig@almightyalicia

Các trích dẫn được dẫn theo bản chuyển ngữ của Lê Tùng Châu.

Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Tìm hiểu thêm về nhà văn Viet Thanh Nguyen


Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Tâm tư của bạch tuộc: Bước vào thế giới của một giống loài “rất kì”

Published

on

By

Hơn nửa năm trước người ta vẫn còn cau mày khi Titane – bộ phim gây nhiều tranh cãi của nữ đạo diễn Julia Ducournau chiến thắng giải Cành cọ vàng. Ở thời điểm đó, chuyện tình giữa một cô gái và chiếc xe hơi bị coi là… không chấp nhận được. Nếu thế, hãy lùi lại thêm một năm, để đến với bộ phim khác chiếu trên Netflix, My Octopus Teacher, về mối tình giữa anh thợ lặn và… cô bạch tuộc. Dễ thấy phản ứng của khán giả trong hai trường hợp đều y hệt nhau. Họ lăm lăm phê phán, chỉ trích; và đúng là khó mà trách được họ. Thế nhưng nếu đã đọc Tâm tư của bạch tuộc của nhà tự nhiên học và nhà biên kịch Sy Montgomery, cùng đó là những suy tư vượt khỏi biên giới, thì chắc hẳn bạn sẽ nghĩ khác.

Đầu tiên phải khẳng định rằng Tâm tư của bạch tuộc không hẳn là cuốn sách tranh giành quyền lợi hay là mượn tiếng đáp lời hỗ trợ cho loài vật này, mà đó là cuốn sách của một con người, viết cho loài người và dưới ánh sáng trí tuệ con người. Sy Montgomery đứng trên lập trường của mẹ thiên nhiên – vị thẩm phán tối cao – dưới hình hài Sapiens, giống loài có tiếng nói và có khả năng lan truyền thông tin, vốn thường tự cho rằng mình thông minh nhất. Bạch tuộc là một đối tượng nghiên cứu thú vị, khi không chỉ từ khi My Octopus Teacher trình chiếu thì người ta mới thấy nó “kì”, mà hơn một thế kỷ trước, trong tranh ảnh shunga Nhật Bản, giống loài này cũng đã xuất hiện trong tranh của Hokusai. Giấc mơ của vợ ngư phủ là một họa phẩm như thế, đầy hoan lạc, thèm muốn cũng như sung mãn, mang khát khao hòa mình cùng với tự nhiên của đảo quốc vốn đã cô lập tứ phương.

Thế nhưng bỏ qua những nét văn hóa vốn rất đặc trưng của người Đông Phương, thì phía Tây phương duy vật lại duy trì một não trạng khác. Như một dẫn chứng trong cuốn sách này về nhà tự nhiên học Jane Goodall đã phải che giấu phát hiện của mình về loài tinh tinh, chỉ vì sợ hãi mình bị buộc tội đang nhân cách hóa, nghĩa là, phóng chiếu cảm xúc chỉ con người có lên đối tượng nghiên cứu – ở đây là loài tinh tinh – và là một lỗi vô cùng nghiêm trọng của khoa học hiện đại. Không riêng gì Jane Goodall, mà ngay từ khởi thủy Wittgenstein cũng đã viết rằng: “Nếu sư tử có thể nói, chúng ta cũng không thể hiểu được nó”. Và nếu sư tử là loài động vật rất gần con người, là động vật có vú, chung lớp với mèo; thì hãy nghĩ thử, nếu ai cho rằng bạch tuộc có thể yêu con người, thích giao tiếp với con người như trong My Octopus Teacher, thì hẳn bạn sẽ thế nào?

Do đó, quan điểm cho rằng bạch tuộc có suy nghĩ, cảm xúc và tính cách riêng chỉ mới gần đây mới có sức mạnh ở một mức độ nào đó. Với ba trái tim, một bộ não quấn quanh cổ họng và được bao phủ bởi một lớp nhầy thay vì là tóc; bạn sẽ tự hỏi nó giống con người ở đâu, khi có 8 chi và máu có màu xanh lam chứ không phải đỏ, vì chứa đồng chứ không phải sắt, vận chuyển oxy. Tâm tư của bạch tuộc không đi sâu phân tích làm thế nào bạch tuộc thông minh tiệm cận con người, mà đó là sự đồng cảm hòa vào thiên nhiên của một người viết mở lòng và đầy cởi mở, dành cho những ai cũng chung góc nhìn như thế, về một giống loài còn nhiều xa lạ.

Sy Montgomery cùng những đồng nghiệp của bà tại Thủy cung New England đã kịp gắn kết với nhau bằng chính chất nhờn bạch tuộc như chất bôi trơn xã hội. Ở đây bà đã tiếp cận và lần đầu chạm vào những con bạch tuộc Thái Bình Dương thật nhất và cũng sinh động nhất. Đó là Athena hiền lành, Octavia quyết đoán, Kali hiếu kì và Karma vui vẻ. Cùng Scott, Ben và Wilson – những người phụ trách bể thủy cung, Montgomery dấn bước vào việc đọc vị bạch tuộc, bởi nhẽ như Scott – người theo sát giống loài này, tiết lộ bạch tuộc có nhiều biểu cảm hơn bất kì loại nào mà anh từng biết. Anh cũng nói thêm “Chúng ta có thơ ca, vũ điệu, âm nhạc và văn học. Nhưng dù có giọng nói, trang phục, cọ vẽ, đất sét hay công nghệ, liệu chúng ta có thể hiểu được những gì con bạch tuộc biểu đạt chỉ qua một làn da hay không?”

Và đó chính là khởi đầu cho những dịp gặp gỡ tràn đầy năng lượng với Kali, cho những tháng ngày ở cữ với Octavia hay sự điềm tĩnh, vừa phải mà cũng dịu dàng với Athena. Trước một giống loài có phần tinh vi và vượt ra khỏi hiểu biết thông thường, Montgomery mở rộng phạm vi nghiên cứu, mà may mắn thay cũng là sở thích có phần mới mẻ của bà – lặn biển. Từ biển Cozumel ở Mexico đến vùng Mooréa, Polynesia thuộc Pháp; để cuối cùng ta cũng biết rằng bất cứ cá thể bạch tuộc nào cũng là một sinh vật tinh vi tầm cỡ quốc tế, trong một quãng đời hoang dã tiếp xúc biết bao những giống loài khác, còn con người bé nhỏ chỉ như những tên quê mùa tỉnh lẻ.

Cõi lòng rộng mở và truyền cảm hứng của Montgomery dẫn dắt người đọc qua từng cá thể bạch tuộc, từng bể thủy cung như những trạm thập tự giá, mà ở đó vẻ đẹp và sự kỳ bí của đại dương giúp ta mộ đạo và rửa tội hết lần này đến lần khác. Những ngày chứng kiến Octavia chăm sóc hàng ngàn quả trứng vô sinh lúc cuối đời mình vừa kiên trì, vừa dịu dàng, vừa huy hoàng mà cũng vinh quang; hay lúc biết được Kali chuyển màu thiếu nước rũ mình cách xa bể cá – không cho chúng ta ấn tượng của những sinh vật bậc cao nhìn xuống bậc thấp, mà đó là sự đồng cảm giữa những nhân vật trong một vở kịch, giữa những sinh linh chiếm giữ vị trí ngang hàng trong chính bữa tiệc của mẹ thiên nhiên.

Bạch tuộc ở đó cũng là chứng nhân cho những sự kiện lướt qua đời sống. Chúng không đơn thuần là những sinh thể đẹp đẽ của bể thủy cung, mà cũng đồng thời dạy ta cách sống và nhìn thấy nhau. Đó là Wilson cùng với người vợ trong cơn bạo bệnh, hiến tặng mọi thứ quý giá trong những lần lặn biên. Đó là Anna trải qua khủng hoảng trong việc trưởng thành mất đi một người bạn tốt. Đó còn là chị em Christa và Danny tự kỉ, là Marion và những cơn đau, nhưng đều chung hết sức mạnh và khát vọng sống. Con người cũng như bạch tuộc, quyến rũ, bạo liệt, đa nhiệm và đầy bí ẩn. Montgomery một cách tài tình viết nên cuốn sách không hướng về riêng chỉ một giống loài, mà qua các trải nghiệm của bà, sự hài hòa với tự nhiên nổi lên sáng rõ và đầy sức sống.

*

Tâm tư của bạch tuộc cũng như hành động lặn biển của Montgomery, là chất LSD quyến rũ con người vào thế giới đó, để thấy chúng ta nhỏ bé và bất cứ điều bình thường nhất nào của đại dương cũng là một thế giới lớn đối với con người. Từ những con sứa, rùa biển, cá rồng… cho đến chim cánh cụt, trăn Nam Mỹ, Tâm tư của bạch tuộc dạy ta cách sống và cách suy nghĩ như một “quái vật”. Bởi nhẽ những lời phỉ báng danh phẩm qua hàng thế kỷ dưới dạng ngôi sao phản diện của Jules Vernehay nỗi ám ảnh của Victor Hugolà quá sức chịu đựng. Mỗi loài bạch tuộc trong bể thủy cung qua từng đời một có suy nghĩ, cảm xúc và tính cách riêng; từ đó định kiến hạ thấp trí tuệ cũng như cảm xúc của những loài khác dần dần mất đi, triệt tiêu chủ nghĩa hoài nghi; chỉ đến khi ấy chúng ta mới rõ vị trí của mình, trong lòng thiên nhiên. Một cuốn sách mở cho những tâm hồn về với nguồn cội.

“Các loài động vật không phải đồng sự, không phải đàn em mà là những sinh vật được ban tặng những giác quan mở rộng mà chúng ta đã mất và không bao giờ đạt được, sống bằng tiếng nói mà chúng ta không bao giờ nghe được. Chúng là những dân tộc khác, bị cuốn vào mạng lưới sự sống với thời đại của chúng ta, là những bạn tù của sự huy hoàng và tàn phá trên trái đất” – Nhà tự nhiên học Henry Beston.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Người mắt kép: Những con người kết nối, những câu chuyện lồng vào nhau

Published

on

“Cô ơi, hai mắt màu khác nhau thì thế giới mà nó nhìn thấy có giống nhau không?”

Nếu bạn thắc mắc về nhan đề của sách thì câu thoại trên đã phần nào hé mở cho ta biết thế nào là người mắt kép. Và để biết vai trò của người mắt kép trong câu chuyện, tôi nghĩ bạn hãy cầm sách lên và khám phá vai trò của người ấy.

Nội dung bài viết dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Người mắt kép.

*

Mỗi cuốn sách đều chứa đựng một kho tàng - một thế giới chờ người đọc, người nghe khám phá nó. Tiểu thuyết Người mắt kép kể về những con người với số phận riêng biệt, những vùng đất với số phận đặc thù. Ở một tầng sâu hơn, cuốn sách còn đề cập đến vấn đề khí hậu, vấn đề sinh thái trong văn học và sự trả thù của tự nhiên.

Mỗi người có một cuộc đời riêng biệt nhưng kết nối

Cuộc sống vốn dĩ không có kịch bản, không có đạo diễn, cũng chẳng có nhà sản xuất, chỉ có những kẻ tự quyết định lấy cuộc đời của mình. Trong cuộc trú chân vô cùng ngắn ngủi của chúng ta trên mẫu hành tinh bé nhỏ, chuyện gì cũng có thể xảy ra được cả. Mỗi người có một cuộc đời riêng và để ta gặp được nhau, phải có một “sự tình cờ” nào đó liên kết chúng ta lại.

Người mắt kép kể câu chuyện của Atile’i - một thanh niên 15 tuổi sống ở đảo Wayo Wayo, cậu trai với hành trình dong buồm ra biển lớn vì truyền thống lâu đời của nơi này. Sự tăng trưởng dân số trên đảo dẫn đến sự tăng trưởng sản lượng tiêu thụ và thiếu đất sinh sống. Người con trai thứ, sau 180 lần trăng tròn, phải tự chèo thuyền ra biển, như một lời hứa với Kabang và chưa một ai ra khơi trở về được cả. Anh em sinh đôi ra đời chỉ cách nhau vài giây thôi; nhưng với Atile’i, người ta vẫn phân biệt con trai đầu, con trai thứ. Đứa con trai thứ là người phải lên thuyền ra khơi - sự khác nhau vài giây đó đã tạo nên một vận mệnh khác.

Song hành với đó, sự chối bỏ thực tại luôn ẩn chứa trong mỗi người khi ta không tìm được hạnh phúc, khi hiện tại là sự sống hẫng hụt. Sự thất vọng với thế giới hiện tại khiến con người muốn tìm một thế giới riêng. Alice là một nữ giáo sư sống cùng gia đình nhỏ trong căn nhà xinh đẹp bên bờ biển. Chồng và con trai cô mất tích trong một chuyến leo núi, cô khát khao được kết liễu mạng sống của mình, cô cho đi toàn bộ tài sản vật chất để ra đi mà không phải nghĩ ngợi gì. Ý định chưa kịp thực hiện thì cô gặp Ohiyo, một con mèo cho cô cảm giác cô cần phải chăm sóc nó vì biết đâu đứa con trai bé bỏng của cô ngoài kia chưa chết và đang có người chăm sóc nó như vậy. Một kẻ chỉ vài ngày trước đem cho đi toàn bộ tài sản của mình, vài ngày sau lại đi sắm sửa “gia tài” cho “kẻ khác”.

Hai con người ở hai thế giới, tưởng chừng chẳng bao giờ gặp nhau, bằng một sự tình cờ do đại dương mang đến, Alice gặp Atile’i, hai người dù chẳng biết ngôn ngữ của nhau nhưng họ dần hiểu được lời nói của đối phương. Từ đây, những câu chuyện về cuộc đời họ dần được kể rõ hơn, họ cho nhau niềm tin để sống tiếp cuộc đời của mình.

Sự giận dữ của mẹ thiên nhiên

Ngay cả nếu chúng ta vẫn tiếp tục chạy đủ nhanh và trì hoãn được sự suy sụp của hệ sinh thái thì bản thân cuộc đua cũng tạo nên những vấn đề cực kì lớn. Sau nhiều thế kỉ tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học, đáng ra cuộc sống phải yên ổn và thanh bình hơn - ít nhất là ở các nước tiên tiến. Nhưng bất chấp những thành tựu, chúng ta vẫn lắm lúc thấy áp lực và không tìm được sự hài lòng.

Trong quá trình đọc Người mắt kép, tôi đã nghĩ thật nhiều đến những bộ phim hoạt hình của Ghibli Studio: Laputa Castle In The Sky Laputa (1989), Mononoke Hime (1997), Ponyo (2008),… vấn đề môi trường và cuộc sống con người, những câu hỏi ám ảnh tôi, trên rừng xuống biển. “Có một đảo rác từ ngoài biển trôi vào nơi này”, có một vực xoáy rác, cuốn mọi thứ con người thải ra biển, đem vào lại đất liền để trả lại toàn bộ cho con người.

Cuộc mưu cầu quyền năng thời hiện đại được thúc đẩy bởi liên minh khoa học và tiến bộ kinh tế. Những kí ức của Alice về năm tháng sống cùng ngoại, lúc chưa có nhà máy hóa dầu, mùa đông có rất nhiều người tập trung đến đấy để ngắm chim, rút đầu lại đứng phía sau của ống nhòm như đang kì vọng cuộc sống của mình sẽ có gì đổi khác. Nhưng khi nhà máy ấy hoàn thành, từ đó hầu như không còn nhà nào để mở cửa. “Những ống khói hì hục bốc lên làn khói đen”. Khi một thảm hoạ sinh thái ập đến, người nghèo luôn chịu tác động nhiều hơn người giàu, ngay cả khi thảm kịch ấy do chính người giàu gây ra.

“Chuyện gì thế này? Những thứ này từ đâu đến?”

Toàn bộ những gì con người gây ra cho trái đất, con người phải nhận lại hết. Vực xoáy rác là minh chứng, thiên nhiên đã trả lại cho con người tất cả, vốn lẫn lãi. Con người cần trái đất, con người cần tự nhiên; không có con người trái đất vẫn có thể sống, nhưng không có trái đất, con người sẽ không thể tồn tại được.

Hành trình thiên nhiên đáp trả đó không phải đột ngột theo cách bất ngờ, đó là một quá trình. Tự nhiên đã nhiều lần nhắc nhở, cảnh báo, con người không nghe nên tự nhiên mới dùng hành động để cho con người thấy: “Con người - các ngươi đã thật sự làm ta giận dữ”. Vực xoáy rác khổng lồ cũng chỉ là lời nhắc nhở thôi, như lúc nhà máy hóa dầu quê ngoại của Alice vậy. Cũng giống như những con người ở đảo Wayo Wayo vậy, họ đã thay đổi bằng cách “hiến tế” người con trai thứ như lời hứa giảm số người dân, đảm bảo số người dân ít hơn số cây trong đảo. Và những con người sống ở đất liền, nếu không giảm lượng rác thải tạo ra, rồi cũng chẳng còn nơi để sống đâu. Sự hủy diệt sẽ làm biến mất tất cả. Khi chẳng còn khỏe mạnh, mẹ thiên nhiên sẽ thật sự nổi giận và trả lại con người cơn thịnh nộ của mình.

Chuộc tội như thế nào cho đúng?

Ngày xửa ngày xưa, tất cả mọi vật đều bắt chước lẫn nhau, hòn đảo bắt chước rùa biển, cây cối bắt chước đám mây, cái chết bắt chước sự sống. Thiên nhiên đã tồn tại trước, sau đó rất lâu, con người mới xuất hiện trên trái đất.

Một câu hỏi lớn buộc chúng ta phải tự đặt ra cho chính mình và mọi người. Liệu con người và thiên nhiên có thể chung sống hòa bình? Rốt cục nguyên tắc phân loại là thực sự theo quy luật của tự nhiên hay theo quy tắc của con người? Loài người nhận thức được sự căm phẫn của thiên nhiên, nhưng có khả năng nào để chúng ta chuộc lại lỗi lầm hay không? Khả năng cao là không.

Chẳng ai muốn đón nhận cơn cuồng nộ của thiên nhiên đâu nhỉ? Mèo nhỏ Ohiyo là sự dịu dàng xua tan nỗi đau với Alice. Tôi nghĩ rằng chính sự dịu dàng trong cách con người đối xử với nhau, đối xử với thiên nhiên sẽ làm nguôi ngoai phần nào cơn giận dữ.

Kết.

“Vậy thứ khiến chúng ta sợ hơn đó là con người. Bất luận là người đó nói bảo vệ chúng ta hay người muốn dỡ nhà chúng ta đều đáng sợ cả, vì họ sẽ không nói với chúng ta tại sao, vì cái tại sao của những người dân bản địa chúng ta không giống nhau đúng không?” Mỗi người chúng ta thuộc về một thể loại riêng. Một số sống đời bi kịch, số khác sống đời hài kịch, số tiếp trú ngụ trong những vở kịch của tôn giáo, có kẻ chọn tiếp cận nó như phim hành động, nhưng xét cho cùng, tất cả đều là câu chuyện

Những thất vọng và niềm tin, mỗi người, ai cũng có câu chuyện cho riêng mình, không ai giống ai, có người mải mê tạo nên những câu chuyện, có người mải mê đi tìm những câu chuyện, có người lắng nghe những câu chuyện của những người khác. Và cuối cùng mỗi chúng ta, khi đặt dấu chấm hết cho cuộc đời mình, chúng ta sẽ có một câu chuyện để người khác nhớ về chúng ta.

“Rồi sẽ có một ngày
Em muốn rời bỏ thành phố phồn hoa
Rồi sẽ có một ngày
Em sẽ muốn trông thấy
Một nơi như thiên đường mà thuở ấu thơ mẹ kể”.

Hết.

Hoàng Anh

Ảnh đầu bài: Elle Việt Nam

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH Siêu Đẳng: Một góc nhìn khác về động vật

Published

on

Em có muốn trở lại sống trong ống cống không? Và ăn rác rưởi của con người? Vì loài chuột vẫn sống như thế. Nhưng thực tế là chúng ta không còn là chuột nữa. Chúng ta là thứ được bác sĩ Schultz tạo ra. Một thứ hoàn toàn mới.

Hình thức nhân hóa các loài vật để tạo nên một câu chuyện, một huyền thoại giống như con người không phải là hiếm; và dĩ nhiên, không thiếu những tác phẩm thành công. Đồi thỏ của Richard Adams từng bị e ngại về độ dày quá lớn cho một tác phẩm thiếu nhi; thế nhưng không thể phủ nhận sức ảnh hưởng của nó cho đến ngày nay. Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng – tác phẩm đoạt Huân chương Newberry năm 1972 thì ngược lại, không cần quá dày cũng đủ làm nên một huyền thoại.

Tác phẩm kể về nhà chuột Frisby và những khó khăn họ gặp phải khi đối mặt với chuyến chuyển nhà mùa hè. Góa chồng, bà Frisby một mình nuôi nấng bốn người con, trong đó Timothy, đứa nhỏ nhất, lại đang viêm phổi và có thể trở nặng bất cứ lúc nào, nếu họ đánh liều di chuyển sang căn nhà mùa hè. Thế nhưng băng đã tan, nhà Fitzgibbon đã bắt đầu cày bừa, đâu là giải pháp cho bà mẹ này?

Bài viết dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng.

Thiên nhiên đa dạng

Cũng như những tác phẩm khác, nhà văn Robert C.O’Brien dồn ép câu chuyện đến bước đường cùng, để ta thấy sức khám phá và hành trình chứng minh bản thân của những loài vật tuy nhỏ kích thước nhưng can đảm là có thừa. Thiên nhiên trong tác phẩm của ông điển hình nhưng cũng tuyệt đẹp, với những giúp đỡ, sẻ chia cũng như sự đồng cảm của những loài vật dành cho nhau.

Có thể thấy được sự tương đồng với Đồi thỏ khi cả hai tác phẩm đều bắt nguồn từ việc nơi ở của mình bị con người đe dọa. Mối quan hệ giữa con người và động vật trong tác phẩm của O’Brien không quá cay đắng. Ông cho mỗi tuyến nhân vật một ý nghĩa để hành động, không phản chiếu hay đánh giá phiến diện bất kì ai. Rốt cuộc thì nhà chuột Frisby hay gia đình ông Fitzgibbon cũng cần sống, và điều này càng làm tăng thêm vị thế của gia đình chuột, khi không cầu xin sự thương cảm từ phía người đọc, mà trong tác phẩm này, họ có chỗ đứng cũng như tầm nhìn vô cùng độc lập.

Một trong những yếu điểm của truyện thiếu nhi là nó quá… phi thực. Nếu chỉ dành cho trẻ con, thì không có gì để nói. Nhưng để lưu danh và dành cho nhiều độ tuổi khác nhau, mà mỗi một người có thể nhìn nó theo thế giới quan của mình, như Hoàng tử bé, như Totto-chan bên cửa sổ… thì không phải là dễ. Và tác giả O’Brien giải quyết điều này vô cùng logic. Tác phẩm của ông không chứa đựng sự ngẫu nhiên hay phép thần thông quảng đại nào, mà như nói trên, mọi thứ đều có lý do, và ông cho độc giả một lý do mang tính dự báo, và rất có thể trở thành hiện thực trong những ngày này.

Phân chia cốt truyện thành hai tuyến song song, bên cạnh việc tìm giải pháp cho lần chuyển nhà trong khi Timothy thì đang bệnh nặng; O’Brien cũng khéo léo lồng ghép quá trình Chuột cống, Chuột đồng trốn khỏi phòng thí nghiệm NIMH, và cũng từ đây lí giải vì sao những tình tiết sau đó vô cùng logic. Từng là những loài chuột thí nghiệm, quần thể Chuột cống và Chuột đồng sở hữu bộ gen đặc biệt, trong thử nghiệm giúp học và tiếp thu nhanh. Từ đó, một thế hệ Chuột mới ra đời, toàn năng và không thể phá hủy.

Điều đó cũng lý giải vì sao có một cộng đồng chuột với đủ thứ thiết bị, từ hành lang, sách vở, đèn đóm, máy phát điện, kho hạt… cho đến những bài thuốc gây mê con mèo lởn vởn xung quanh. Các nhân vật này trong tác phẩm của O’Brien nhiều cá tính và đậm dấu ấn, khiến bất cứ lúc nào người đọc cũng tìm thấy được một nhân vật đặc biệt, như Cây Phỉ của Đồi Thỏ, thì tác phẩm này có Chuột Nicodemus, Justin, Arthur, Brutus, quạ Jeremy, bác cú, thầy Ages… những cá tính nổi bật và đậm nét.

Tính nhân văn

Sự đẹp đẽ trong quần thể nhỏ nhắn của các loài vật đã được truyền tải một cách trọn vẹn, từ tình mẹ con ấm áp thiêng liêng của cô chuột Frisby tần tảo nuôi con thơ dại trong mùa đông khắc nghiệt và khan hiếm thức ăn; cho đến việc cứu quạ Jeremy mà không màng đến tính mạng. Bất cứ một việc thiện nào trong tác phẩm này cũng đều dẫn đến một việc tốt khác, cứ thế cái tốt đẹp và lòng tốt nhân đôi, càng lan tỏa thêm sự đồng cảm và tình yêu thương.

Cũng chính sự cứu mạng đó mà bác cú đã mách chị Frisby dời nhà sang mé bế phong – hay vùng tam giác đổ bóng của ngọn đá lớn ông Fitzgibbon bỏ qua khi cày. Cũng chính nhờ sự giúp đỡ của chồng mình chống lại Rồng, mà cộng đồng Chuột cống mới có một thế giới riêng, và những dự án bí mật sau này.

Thế nhưng, nỗi bật nhất vẫn là thế cân bằng giữa các loài vật trong tiểu thuyết này. Chuột Cống không ngại sử dụng thân thể to lớn của mình để cứu Chuột Đồng, Chuột Chù tuy nhiều chuyện nhưng không ngại đứng ra bảo vệ những đứa con của chị Frisby; và dĩ nhiên, những chú chuột ấy cũng có thể diện, cảm xúc, cũng như những nhận thức rất con người.

Khi đã trở thành một giống loài được chọn, 20 chú chuột ấy biết rõ mình không còn thuộc về phường đầu trộm đuôi cướp hay ưa phá hoại của cải của con người nữa. Họ từ bỏ chợ nông sản và những cống rãnh hôi thối của đường phố, mà quây mình ở điền trang Boniface tự trau dồi học hỏi đương lúc gia chủ đi vắng. Từ chiếc xe bỏ hoang của Ông Đồ chơi rong mà họ xây dựng nơi an cư cho riêng mình, và chỉ mình mình.

Thế cân bằng ấy còn nằm ở việc họ không tự bằng lòng với việc ăn ấm mặc êm, trở nên sung túc với điện và nước lấy trộm của con người, hay những hạt giống, ngũ cốc sẵn có từ nhà Fitzgibbon. Trong sự phát triển ngang tầm cỡ con người, họ đã nuôi lớn kế hoạch tự xây dựng Thung lũng Gai, để gieo hạt, trồng trọt dù biết trước là sẽ gian khổ. Họ cũng như con người, tự mình phá hủy cái cung điện nguy ngoa khoét vào đá để bản thân không quay trở lại hưởng thụ được, khi tương lai phía trước là bất định.

Tác phẩm này của O’Brien đạt đến hàng kinh điển bởi nhẽ, nó khai thác một góc nhìn rất mới và đầy biến động về con người và tự nhiên. Loài chuột biết suy nghĩ, biết tự nuôi sống bản thân; chúng độc lập đứng trước con người, chứng minh và thể hiện mình. Con người hay Homo Sapiens từ trước đến nay vẫn tự nhủ bản thân là giống loài riêng biệt duy nhất thông minh; thì ở tác phẩm này, có đôi khi ta phải nhìn lại, rốt cuộc rồi thì con người cũng là động vật, cũng được tạo thành từ các nguyên tử, phân tử từ thủa sơ khai. Họ không có đặc quyền gì đặc biệt, bởi nhẽ, họ đã quen với sự thống trị của bản thân trong thế giới vô tri. Và O’Brien đã bắt một cái bập bênh, để chính họ nhìn lại vị thế của mình.

*

Bằng câu chuyện phiêu lưu đậm màu cổ tích nhưng không thiếu logic và những suy tư rất sâu và xa của con người, Mẹ Frisby và Hội chuột NIMH siêu đẳng không chỉ thể hiện tình cảm thân ái giữa các loài vật hay thế giới nhân hóa kì diệu; mà đồng thời, cũng giúp con người ngộ ra được vị trí và vai trò của chính họ, trong tự nhiên và những giống loài tồn tại trên Trái Đất này. Một tác phẩm hay và chứa đựng nhiều bài học đáng quý.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Cafe sáng