Phía sau trang sách

The Sympathizer: Tự do văn chương, tự do văn hóa, tự do tư tưởng

Nếu cái tự do được văn chương bảo bọc đem đến những câu văn đậm thời đại mới; thì cái tự do được tư tưởng bảo hộ lại mang đến sự thật khôn cưỡng.

Published

on

Viet Thanh Nguyen là cái tên không mấy xa lạ với độc giả Việt Nam những năm gần đây kể từ khi tập truyện ngắn Người tị nạn và tập tiểu luận Kẻ ly hương được chuyển ngữ và giới thiệu tại Việt Nam. Cũng như những tác gia gốc Việt hiện đang sinh sống tại nước ngoài như Thuận, Linda Lê, Ocean Vương, Doan Bui… Viet Thanh Nguyen đồng thời góp tên mình vào danh sách những nhà văn bên kia xứ sở có lối nhìn vào quê nhà một cách rất khác. Là nhà văn gốc Việt đầu tiên giành giải Pulitzer ở hạng mục Fiction cho tiểu thuyết đầu tay – The Sympathizer – cuốn tiểu thuyết lạ lẫm, khắc sâu và vươn những xúc tu khác lạ vào trong khoảng dài lịch sử đã qua, bơm vào đó thứ adrenalin kích thích, tân thời và, dĩ nhiên, cũng khá truân chuyên cho việc tiếp cận đa số.

Cùng với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Người Mỹ trầm lặng của Graham Greene và Những thứ họ mang của Tim O’Brien, The Sympathizer của Viet Thanh Nguyen có thể nói là bốn cuốn tiểu thuyết chiến tranh Việt Nam nổi tiếng và được quan tâm nhiều nhất trong những năm qua. Lấy bối cảnh cuộc chiến tranh Quốc – Cộng những ngày cuối cùng trước khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, The Sympathizer là câu chuyện của một điệp viên hai mang và những xung động thời khắc – con người xung quanh dữ kiện ấy. Viet Thanh Nguyen mở ra một hành trình mới lạ khi tiếp cận sự kiện dưới con mắt của một phe khác, của lịch sử chỉ đúng một phần và lần đầu tiên (có lẽ) được trưng ra dưới ánh sáng ban ngày. Ở đó lần mò như bầy kiến nheo nhóc theo chân điệp viên nằm vùng, ta thấy đồng thời là những diễn biến chính trị – lịch sử, là cuộc sống kham khổ sau cơn tị nạn, là chuyện phục quốc, quá trình hợp nhất bản thân, những tư duy triết học – văn hóa – văn chương… The Sympathizer đồng thời là một tác phẩm văn chương đậm chất Pulitzer, nhưng cũng là tuyển truyện ngắn dưới định danh tiểu thuyết cuốn hút, khai phá và mới mẻ.

Xây dựng nhân vật chính lấy cảm hứng từ điệp viên tình báo Phạm Xuân Ẩn vào những ngày Saigon thất thủ cuối tháng 4 nóng bức, Viet Thanh Nguyen khôn khéo khi xây dựng vẻ hai mang, để đồng thời vừa khai thác cái thật cá nhân, nhưng cũng thật chung quy về thời khắc cuối cùng. Mở đầu tiểu thuyết là một khẳng định chắc nịch: “Tôi là một gián điệp, một kẻ mai phục, một con ma, một kẻ hai mang”. Tôi và cái tôi – hai bản thể hiện thân, những tranh giành lý tưởng, đồng thời là bản chất thật sự đời sống; nhưng cũng đồng thời nhân đôi hướng đi câu chuyện, biến The Sympathizer không còn đơn thuần là cuốn tiểu thuyết phản ánh chiến tranh, mà sâu trong nó là cơn dằn vặt những dằn xé tự thân.

1.
Hiện thực

Như đã nói trên, The Sympathizer là một tiểu thuyết dưới dạng chuỗi truyện ngắn dài tập. Theo suốt câu chuyện của viên Đại úy nằm vùng, ở mỗi chương tiếp theo, tác giả đồng thời cài cắm vào đó câu chuyện di dân, cuộc sống tị nạn, câu chuyện văn hóa bản địa, sự xâm nhập – chiếm hữu – hòa hợp, thuyết gia đình, giải phóng tình dục, giấc mơ Mỹ,… Cuốn sách có thể nói, dù ở góc độ nào, như một tra cứu điển hình cho thời đoạn lịch sử trước và sau thời khắc năm 75 trên ba chân kiềng là thế mạnh của Viet Thanh Nguyen: văn chương – thi ca – triết học. Có lẽ vì tính tuần tự và sự thống nhất trong mạch kể, The Sympathizer vượt qua điểm yếu của tập truyện ngắn trước đó Người tị nạn – khi bị giới hạn bởi hình thức (truyện ngắn) và cả nội dung (tị nạn), khi dẫu đã xoay chuyển dưới nhiều hình thức – nó cũng không đủ che giấu cái manh mún mạch truyện hoặc cái hiếu kỳ nửa vời – khi những người sống ngay trong lòng đất nước không thấy một đột phá hay mới mẻ nào; có chăng là cái hiếu kỳ của những con mắt chưa thấu trải đời ở những vùng đất cách đó ngàn dặm.

Ở đó, cuộc sống tị nạn và sự thất thế của chế độ cũ được Viet Thanh Nguyen viết ra rất đậm thực tế. Có lẽ cũng từng là người tị nạn, anh hiểu rõ và chắt lọc những gì làm suy yếu đi bản lai diện mục, làm con người ta tổn thương hơn cái mới mẻ của nơi đất hứa. Trong đó, anh viết: “tình trạng tàn tạ ẩn sau những căn nhà chung cư trợ cấp như một thứ bệnh ung thư di căn đang gặm nhấm hủy hoại úa nhàu những con người đang chịu thử thách ngày lại ngày qua mòn mỏi mang hội chứng u uất trầm cảm không sao tránh khỏi theo chuỗi ngày lưu vong. […] Thêm vào đó là vai trò của đàn bà trẻ con vốn dễ bị tổn thương và dễ làm mồi cho những tiêm nhiễm xa lạ phương Tây. Bọn nhóc con gây phiền muộn cứ cãi lại họ không phải bằng ngôn ngữ mẹ đẻ mà bằng tiếng ngoại ngữ mà mấy nhóc đã học mau hơn bố nhiều. Còn các bà vợ hầu hết buộc phải đi tìm việc làm, và trong môi trường làm việc mới họ đã chuyển đổi khác đi không còn là những đóa sen yêu kiều hiền thục thuở xưa như các ông nghĩ nữa”.

Ở đó, giá trị gia đình bị hạ thấp, bản lai diện mục suy vong, con người đấu tranh với cơn hậu chấn tâm lý; tất cả là tổng hòa của cái đã mất, của tình trạng ly hương, của nỗi nhớ nhà, của khát khao chiến đấu, của quyền lực, của lẽ sống, của động cơ,… tất cả làm họ như bó bột vào thứ hoàn cảnh tàn tạ, vật vờ như những bóng ma để hiện thân ra ngoài là những trang phục kiệt suy “Họ dạo quanh cửa hiệu, tán gẫu với nhau, chân mang những đôi giày rẻ tiền đại hạ giá, trên mình khoác những bộ y phục thùng thình chẳng vừa với người mặc thường được rao bán với giá rẻ và một đổi một. Nào cà vạt mu soa tất vớ mang vội vào, cả món xa xỉ đĩ thỏa nước hoa, những thứ những tưởng che lấp được mùi bại trận lịch sử cay đắng còn rành rành kia”.

Những lề thói này hoàn toàn không mới và không phải không có tiền lệ ở những tác phẩm ly hương dài trước đó; nhưng bỏ qua lớp vỏ văn chương mà đôi lần ông cố khoác lên lớp truyện ngắn của mình, lần này bằng cái thực tế, Viet Thanh Nguyen đã thành công khi khắc họa được trạng thái vật vờ ấy. The Sympathizer dễ nói là cuốn sách ổn, ổn hơn rất nhiều các tuyến truyện ngắn trước kia, đơn giản, một góc nhìn và không quá sức.

2.
Nhân bản

Ngoài xây dựng hiện thực cuộc sống như thế, ở The Sympathizer ta cũng đồng thời nhận thấy hiện thân của nhân bản. Nó có thể là cái nhân bản cá nhân, nhưng cũng có thể thuộc về nhân quần xã hội. Như chi tiết cuộc nói chuyện với những cô gái phường vẫy trước khi lên chuyến bay sơ tản quân lực VNCH cuối cùng, Viet Thanh Nguyen bằng góc nhìn của nhân vật tôi, bằng một suy ngẫm sâu xa nào đó vẫn nhìn thấy “trái tim vàng son còn đập” trong lòng ngực các cô gái. Ông không coi họ là những kẻ bỏ đi – như chính họ tưởng tượng khi phe chiến thắng ập vào – mà bằng góc nhìn của người từng trải, ông thấy ở đó là sự cảm thông sâu sắc với người đàn bà, với người phụ nữ, với mẹ ông, với Lan. Ông viết: “Tôi vốn dành cho các nàng gái giang hồ một sự tôn trọng nhất định, họ quen gian giảo nhưng dẫu sao cũng còn rộng rãi […] Chỉ nơi những góc khuất, hay nơi tối tăm sâu thẳm nhất của những trà đình tửu điếm ăn chơi mới có nàng gái điếm mà trong ngực luôn đập rộn một trái tim vàng. Tôi bảo đảm với bạn rằng nếu có một phần thân thể của gái ăn sương được làm bằng vàng, thì đó không phải là trái tim mà là một chút gì ta tin vẫn còn sót lại nơi một khía cạnh khác của nàng đó là dấu chỉ của một người diễn tuồng vẫn còn giữ cái tâm sòng phẳng”.

Cái nhân bản ấy đôi khi còn được xây dựng bằng lòng căm thù. Tưởng chừng việc xây dựng một nhân vật hai mang, một kẻ nằm vùng đã đủ thuận lợi bao quát bối cảnh; nhưng không, Viet Thanh Nguyen cũng đồng thời xây dựng nhân vật ấy đậm tính văn chương – với những đỉnh trào lên xuống của kiếp người lê thê, của nền móng kịch nghệ cần có; và ở đó, là hình tượng người Cha theo cả hai nghĩa – người cha sinh học và Cha xứ Công giáo; người bỏ rơi ông, cho ông ghẻ lạnh hơn sự ấm êm. Cái nhân bản khi yêu thiết tha mẹ ông được phân bổ rải rác suốt chiều dài tiểu thuyết, cái nhân bản khi căm thù cha ông, quăng thẳng vào nỗi căm thù những lời nguyền chuốc: “vậy nên tôi đã tưởng tượng ra một tia sấm sét, một con voi điên, một căn bệnh hiểm nghèo, một thiên thần giáng xuống sau lưng ông trên bục giảng, thổi tiếng kèn vào tai ông để triệu hồi ông trở về với đấng Tạo hóa”.

Và sâu xa hơn cả là cái nhân bản dành cho con người, cho những đồng bào khốn khổ của ông – những người chỉ mong muốn độc lập, tự do, nhưng rồi bị cuốn vào cuộc chiến vô ích. Ở đó, ông viết, như thể ngay từ khi sinh ra từ buồng ói của người mẹ, chính những đứa trẻ ngây thơ đã bắt đầu phải chọn – phe bên này hay bên kia – không thể lưng lửng, không thể dửng dưng, không một gợi ý, cứ thế mà chọn. Hay, cái dằn vặt của nhân vật tôi khi hạ sát những người vô tội, là Thiếu tá trác táng, là Sonny – để rồi đến nỗi hai bóng ma ấy như loài tầm gửi cộng sinh cùng cuộc sống suốt đời.

3.
Văn chương

Nhìn chung, lối viết của Viet Thanh Nguyen không quá mới lạ, không hẳn có gì đột phá, nhưng phải thừa nhận một điều, anh rất thông minh khi tổng hòa được những chi tiết thiết yếu cần có của một tiểu thuyết hay. Anh biết khi nào bám sườn hay dịch xa một đoạn, biết sắp xếp trình tự tiểu thuyết, biết tạo tình huống dẫn dắt sang mảnh đất triết lý – lí luận mà người phương Tây vốn rất ưa. Việc thắng Pulitzer năm 2016 cho hạng mục Fiction khi đọc The Sympathizer không khó giải thích. Bởi lẽ anh biết người đọc muốn gì và không ngại cuốc thuổng trên mảnh đất đặc trưng ấy. Tuy là cuốn sách về chiến tranh Việt Nam, nhưng nó không thiếu những vấn đề lớn lao, từ giấc mơ Mỹ đến văn hóa Hollywood, từ tinh thần dân chủ Mỹ đến giải phóng tình dục, đôi khi là đối ngẫu Đông Tây và cách văn hóa – nghệ thuật gắn kết cách mạng.

Những tư duy này của Viet Thanh Nguyen không quá khó hiểu, nhưng đôi khi nhìn lại, liệu có quá cần thiết? Đặt một trường hợp khác, Con sẻ vàng của Donna Tart từng bị ta thán vì độ dày của nó, có người còn bảo đưa vào tay cô sẽ còn cắt giảm 1/3 thời lượng để bảo vệ môi trường?! Nhưng với người đọc bảo thủ – như người viết bài này – cái hay của Donna Tart là dùng những nhân sinh quan của bà gắn chặt vào cuộc đời nhân vật vốn rất cần kíp cho một tác phẩm lớn. Còn The Sympathizer, vốn dĩ sở hữu một nền tảng bối cảnh hợp lý, một góc nhìn mới lạ, cách xây dựng tình tiết khó đi vào lối cụt; nên khi thêm thắt những “tính chất Pulitzer” này vào, ít nhiều gây hoang mang. Chẳng hạn vấn đề văn hóa – nghệ thuật gắn với Cách mạng bằng trích dẫn Mao, có thể là một gợi mở tốt. Cũng như thế, những khác biệt văn hóa Đông – Tây, công cuộc giải phóng tình dục trong chủ thuyết Cộng sản cũng có thể khai thác. Nhưng văn hóa Hollywood, tập tính dân chủ Mỹ hay luận bàn về chế độ Cộng sản phương Đông đầy triết lý của học giả nổi danh và dành riêng đến hơn hai chương để khai phá cái văn hóa điện ảnh hay cái lí luận triết gia này, liệu có cần thiết?

Dĩ nhiên, không thể nói những đổi mới văn chương này là không cần thiết. Rõ ràng nó góp phần nâng The Sympathizer lên một nấc nữa, khi đó không phải là những khai thác chiến tranh bình thường – như Graham Greene với hình tượng phụ nữ (từng vấp phải không ít khó chịu từ nơi bản quốc). Nhưng một mặt khác, vốn bản thân là người tị nạn từ khi lên 4, với trí nhớ và trải nghiệm không quá đặc sắc, đòi hỏi Viet Thanh Nguyen phải dựa trên những mẫu vật, những câu chuyện được kể đi kể lại hay đi thực địa. Nhìn xuyên suốt cuốn sách này, ta thấy giọng văn hồ hởi của người xa quê tìm về nguồn cội, tuôn trào, thấm đẫm. Và cũng đôi khi, chính sự tăng động (hay năng động cực điểm – nói đúng hơn) làm câu văn không suôn sẻ, một cách gần như còn chứa cảm tính. Viet Thanh Nguyen đôi khi vẫn không tiết chế để chọn cái cần kíp đem vào văn chương; mà như thể từ những vết sẹo thiếu ăn ngày cũ nơi bản xứ, anh dọn đầy ứ một bàn và khiến người thưởng (hay người đọc tác phẩm của anh) ngấy đến tận cổ. Nhưng nhìn chung, sự khôn ngoan khi biết khai thác để nâng tầm tác phẩm dường như che lấp những khuyết điểm này; và dĩ nhiên là cuốn tiểu thuyết đầu tay, biết đâu sau The Sympathizer sẽ là một cuốn sách khác biết kiềm chế và chắt lọc nhiều hơn? Hy vọng một ngày nào đó.

4.
Tự do

Tự do góp phần làm nên tính chất văn chương của tác phẩm này. Không thể chỉ nói tác phẩm mang những giá trị cũ, nó đủ mới – đủ tự do để nhắc đến những tư tưởng mới. Được bảo bọc trong vỏ “văn chương”, Viet Thanh Nguyen tha hồ khai thác những góc khuất thường được cho là ý nhị trong văn hóa phương Đông, của tự do con người, tháo khỏi guồng xích, đi ra ánh sáng. Như thể anh viết: “Nếu có cuộc cách mạng thực sự xảy ra thì ắt nó phải không được tách lìa với công cuộc giải phóng tình dục”. Thiết nghĩ, tư tưởng này không gì mới mẻ, nhưng nhờ tự do văn chương, ít ra nó cũng đâm nát cái đạo đức giả, cái lạm dụng tôn giáo vẫn được giấu kín: “chốn muôn màu về tình dục của người đồng tính, lưỡng tính, lẫn ấu dâm nam lúc nào cũng rêu rao là không bao giờ có, thực ra là được che kín bên dưới tấm áo choàng của Vatican”.

Chính tự do cũng mang đến đỉnh cao văn chương, khi cái bó buộc không còn đè nén như những quả tạ, từ đó người viết thả mình theo những suy tưởng cá nhân. Như đoạn văn sau chỉ là một câu chuyện nhỏ trong toàn tiểu thuyết, nhưng đứng dưới góc độ cá nhân – sự giải phóng bản thân này dường như là điểm sáng nhất của toàn tiểu thuyết. Phóng túng, khoan thai mà man dã, anh viết: “Còn nếu bảo thủ dâm, ngay cả thủ dâm với một con mực ống đã chết đứ đừ mà mắc tội là có được nó đồng ý hay không nữa ư? Cường điệu quá phải không? Tôi, cá nhân tôi, khẳng định thế giới sẽ đẹp hơn nhiều nếu người ta luôn lảm nhảm ám ảnh trong đầu hai chữ ‘thủ dâm’ nhiều hơn là hai chữ ‘giết người’”. Là một cá nhân đứng giữa hai bờ lịch sử, giữa hai nền văn hóa Đông – Tây rất ít chạm nhau, Viet Thanh Nguyen sở hữu trong mình cái giao hòa của thời đại, của văn hóa. Tự do, dĩ nhiên, anh không ngại khi khai thác cuộc chiến dưới một góc nhìn cá nhân, tự do văn chương, tự do tư tưởng, tự do văn hóa – ba trụ cột chính làm nên tính tự do của The Sympathizer. Nếu cái tự do được văn chương bảo bọc đem đến những câu văn đậm thời đại mới; thì cái tự do được tư tưởng bảo hộ lại mang đến sự thật khôn cưỡng. Anh viết The Sympathizer trong khi lịch sử đã được định đoạt, những gì quá vãng đã lùi lại xa; và cũng bởi dĩ nhiên lịch sử được viết ra bởi kẻ chiến thắng, và con người vốn bản chất được sinh trong nỗi tị hiềm; ít ra anh đã dũng cảm cho thấy lịch sử từ phe thảm bại, từ những gì vẫn còn trầm tích dưới đáy biển sâu. Không tiện trích dẫn những điều thuộc về một phạm trù khác, không còn văn chương để mà bảo bọc một bài điểm sách – chỉ xin được dẫn một câu không quá động chạm, không quá xách động, nhưng đúng và đủ: “Cuộc cách mạng của chúng ta chẳng qua chỉ cố tiên khởi trong việc thay đổi chính trị nhưng hậu ý là để thu lấy quyền lực. Trong cái biến hình này, chúng ta cũng không phải là kẻ mới mẻ gì. Há chẳng phải người Pháp người Mỹ cũng làm có khác chi cái trò biến hình đó đâu? Chính họ rêu rao cách mạng trước rồi thì họ đã biến thành đế quốc, thực dân và kẻ chiếm đóng cái xứ nhược tiểu khó nhai của chúng ta, tước đoạt quyền dân tộc tự quyết dưới danh nghĩa cứu lấy chúng ta. Đành rằng công cuộc cách mạng của chúng ta tốn nhiều thời gian hơn so với họ và được coi là đẫm máu hơn nhưng khoảng thời gian đã tốn mất kia rất đáng. Bởi khi học đòi theo những thói nết xấu xa nhất của các ông chủ người Pháp và rồi là kẻ đến thế họ, người Mỹ, chúng ta đã mau chóng chứng tỏ mình mới là kẻ xuất sắc nhất chớ bọn họ vẫn còn kém”.

*

Diêm Liên Khoa – nhà văn có nhiều sách cấm và gây tranh cãi nhất Trung Quốc – từng phát biểu rằng: “Nghệ thuật cũng sẽ không vì bạn sống ở quốc gia nào đó, trong hoàn cảnh và thời đại nào đó chịu sự áp bức của chính trị, quyền lực đối với bạn mà nhấc thêm một quả cân nặng ký đặt lên bàn cân thành tựu của bạn. Cho dù đã đặt lên rồi thì tới một ngày nào đó, khi cảm thấy chưa công bằng và thỏa đáng, nó sẽ lặng lẽ lấy quả cân ấy ra khỏi bàn cân”. Ở đây ta thấy, bằng bốn chân kiềng hiện thực – nhân bản – văn chương – tự do và nhất là tự do, ít nhất nó đã nhấc quả cân Pulitzer lên sức nặng cho cuốn sách này về mặt văn chương. Ở mặt giá trị, tuy cấm nhưng nó cho ta góc nhìn vô cùng mới mẻ vào trong câu chuyện từ lâu bị phong tỏa bởi nền chính trị. Tuy là tiểu thuyết đầu tay và dĩ nhiên còn nhiều sạn, nhiều chỗ chưa tới – nhưng hy vọng, với tự do và ba chân kiềng ấy, Viet Thanh Nguyen sẽ không lặng lẽ để mất quả cân cho sự cân bằng.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Ảnh đầu bài: ig@almightyalicia

Các trích dẫn được dẫn theo bản chuyển ngữ của Lê Tùng Châu.

Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Tìm hiểu thêm về nhà văn Viet Thanh Nguyen


Phía sau trang sách

Dư Hoa: “Ở tuổi 21, tôi bị cuốn hút bởi Kawabata”

Published

on

By

Là một trong những nhà văn thuộc thế hệ tiên phong của văn học Trung Quốc sau thời mở cửa, Dư Hoa là tên tuổi lớn luôn được chờ đón mỗi khi có tác phẩm mới ra mắt. Văn nghiệp của ông tương đối đa dạng với nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại, từ hiện thực, châm biếm cho đến huyền ảo… Những năm gần đây cùng với Tàn Tuyết, ông được nhắm đến cho vị trí mới nhất của giải Nobel Văn Chương sau đúng một “giáp” mà Mạc Ngôn đã giành được vào năm 2012.

Bài phỏng vấn sau đây được đăng tải trên The Paris Review số mùa đông 2023.

Quay về giai đoạn đầu đời, ông đã đọc gì khi còn trẻ?

Ngoài tuyển tập của Mao Trạch Đông, thì tất cả những gì mà chúng tôi có là sách y học, sách cấp 1, cấp 2 và toàn là Lỗ Tấn. Cũng vì thế nên hồi đó tôi không thích ông ấy chút nào, mặc dù sau này tôi lại thấy thích. Vào những ngày sau Cách mạng Văn hóa, khi thư viện trong thị trấn mở cửa trở lại, thì có khoảng 30 hay 40 cuốn mà họ gọi là văn học cách mạng. Loại này được phép và tôi đã đọc tất cả. Nhưng có một số ít tiểu thuyết được truyền khắp trường một cách bí mật, để khi đến tay của tôi thì nó đã mất bìa trước hoặc là bìa sau, thiếu 10 trang đầu hay 10 trang cuối, do đó mà tôi thậm chí còn không biết nó có tựa là gì hay ai viết ra. Theo kinh nghiệm của tôi, ta có thể sống mà không biết câu chuyện bắt đầu thế nào, nhưng không chịu được khi không biết rõ cái kết. Nó như là cực hình vậy. Vì vậy tôi đã tự mình bịa ra cái kết, và các bạn cùng lớp thường tụ tập xung quanh để nghe những ý tưởng này. Bây giờ nghĩ lại, tôi nhận ra rằng đó có thể là nơi sự nghiệp viết văn của mình bắt đầu.

Các tác phẩm đã chuyển ngữ của Dư Hoa

Ông có bị ảnh hưởng bởi thế hệ tác giả Trung Quốc đi trước không?

Khi tôi bắt đầu viết văn, văn học lúc ấy chủ yếu là văn học vết thương. Chúng bày tỏ sự phẫn nộ đối với Cách mạng Văn hóa. Tôi quan tâm đến Vương Tăng Kỳ vì ông ấy xử lí nỗi đau tinh thần theo cách vô cùng độc đáo. Tôi đã đọc truyện của ông ấy vào năm 1980 và thấy rằng chúng rất hay. Những người giỏi nhất trong thế hệ đó có một điểm chung là họ rất khuyến khích các nhà văn trẻ; trong khi những người hạng 2, hạng 3 thì đối xử tệ với thế hệ tôi, như thể chúng tôi đang đe dọa chiếm lấy vị trí của họ vậy.

Tuy nhiên nhà văn tôi say mê nhất vẫn là Kawabata. Tôi đã đọc Vũ nữ Izu và tôi say mê ông ấy trong vòng 4 năm. Tôi đọc mọi thứ mà mình có được, từ Ngàn cánh hạc, Cố đô, Xứ tuyết, mà tôi vẫn nghĩ là hay nhất...  Kawabata đã dạy tôi rằng chính chi tiết, chứ không phải cốt truyện, mới tạo nên thứ gì đó đáng đọc, rằng những tác phẩm vĩ đại không phải là chuỗi sự kiện mà là tập hợp chi tiết khó quên. Đó là điều mà độc giả cảm động, cốt truyện chỉ đơn thuần là thú vị thôi. Ở tuổi 21, tôi hoàn toàn bị cuốn hút bởi một trong những câu chuyện của ông. Đó là về một người phụ nữ có chồng sắp cưới đang tham chiến, và lo lắng rằng anh sẽ chết trận. Khi ấy cô đã đến thăm một ngôi nhà đang xây dựng dở ở khu vực lân cận, và suy đoán xem ai sẽ sống ở đó khi nó hoàn thành. Nó khá cổ điển và đã trở thành lý tưởng của tôi, về một câu chuyện không có nhân vật chính, chỉ có các nhân vật phụ mà thôi. Ông ấy đã cho tôi thấy không cần phải viết theo tiến trình tường thuật chặt chẽ, mà cũng có thể đảo ngược lại nó.

Với ông thì viết tiểu thuyết có khác biệt nhiều so với khi viết truyện ngắn không?

Tôi luôn cảm thấy viết truyện ngắn giống như là làm một công việc có hạn định vậy. Tôi có thể thực hiện chúng theo lịch trình, và chắc chắn sẽ hoàn thành được trong 1 hoặc là vài ngày. Tiểu thuyết thì không thể làm theo cách đó. Qua nhiều năm làm việc, ý thức của anh thay đổi cuốn sách. Anh hiểu sâu hơn về các nhân vật, anh và họ như sống cùng nhau. Khi tôi viết được nửa chừng cuốn sách, họ bắt đầu nói những điều theo ý mình. Đôi khi tôi nghĩ những điều ấy thậm chí còn tốt hơn khi tự mình tưởng tượng.

Cảnh trong phim Phải sống (1994) của Trương Nghệ Mưu chuyển thể từ tiểu thuyết Sống của Dư Hoa. Ảnh MUBI

Ông đã nói việc viết lách chia đôi cuộc đời?

Vâng, anh sống một cuộc đời tưởng tượng và một cuộc đời khác trong thực tế. Khi cuộc sống đầu tiên phát triển, cuộc sống thứ hai co lại, không cách nào khác cả. Anh càng viết nhiều, thế giới tưởng tượng này càng giãn ra. Và cuộc sống còn lại là ngồi trên ghế, hoàn toàn im lặng, nơi cơ thể anh vẫn còn ở đó. Hoặc có thể chân của anh nhịp lên nhịp xuống, Mạc Ngôn chính là kiểu ấy, khi ông chìm đắm vào việc viết [1].

Ông viết có dễ dàng không, có nhiều bản nháp không?

Nhìn chung, mất đâu đó khoảng một năm để hoàn thành cuốn sách. Tôi thường viết tay, sau đó tôi sẽ xem xét bản nháp trong 1 hoặc là 2 tháng để chỉnh sửa, rồi lại đặt nó ở một chỗ khác, rồi 1 hoặc 2 tháng tiếp theo sẽ chỉnh sửa tiếp. Vào thời điểm bản thảo thứ hai được tinh chỉnh, tôi gần như đã hình dung được nó sẽ diễn ra thế nào. Nhưng trong khi tôi đang chỉnh sửa, tôi thường rơi nước mắt... Chỉ khi đọc hết qua một lần đọc, anh mới hiểu được sức mạnh của nó. Hồi đó chúng tôi không có khăn giấy, và cuối cùng điều tôi phải làm là quấn chiếc khăn quanh tay, dùng nó lau mặt và viết bằng tay còn lại.

Ông có thường khóc khi viết không?

Tôi nghĩ nếu một nhà văn thậm chí không thể tự xúc động với những gì mình viết thì có lẽ họ cũng sẽ không lay động được độc giả của mình. Tôi nhớ khi tôi viết Huynh đệ tôi đã khóc rất nhiều, có cả nước mũi những thứ khác, đến nỗi vợ tôi sẽ bước vào và nhìn thấy một núi khăn giấy đã qua sử dụng ở bên cạnh mình. Lúc này chúng tôi đã có khăn giấy.

Nhưng những cuốn sách đó cũng khá buồn cười.

Sống cần một chút hài hước vì nếu không thì tôi sẽ không thể tiếp tục được. Tôi nghe nói rằng nó rất khó đọc. Trương Nghệ Mưu, đạo diễn bộ phim chuyển thể, đã nói với tôi rằng người xem sẽ khó cảm nhận được nó, nhưng tôi cũng cảm thấy thế!

Ông nghĩ gì về cái kết hạnh phúc hơn của bộ phim?

Tôi yêu bộ phim. Chỉ có kẻ ngốc mới trung thành với nguyên tác, bởi họ là kẻ không có ý tưởng riêng, tất cả những gì họ có thể làm là lùng sục tài liệu và tái hiện nó. Nhân tiện, tôi chưa bao giờ xem bộ phim truyền hình dài tập này. Phim quá dài, mà nếu TV cứ bật mãi thì tôi không chịu nổi.

Kawabata là một trong những nguồn cảm hứng của Dư Hoa

Ông có tưởng tượng cuốn sách sẽ trở thành một tác phẩm kinh điển không?

Với tựa đề Sống, cuốn sách không hề có ý định chết đi! Nhưng mong muốn lớn nhất của tôi là tạp chí nào đó đăng nó nhiều kì và đặt nó lên đầu mục lục, điều mà cuối cùng tôi cũng làm được. Tôi chưa bao giờ có thể tưởng tượng được nó sẽ bán chạy. Tôi nghe nói nó đã bán được tới 20 triệu bản ở Trung Quốc, không bao gồm sách nói, sách điện tử hoặc các bản lậu. Nhà xuất bản của tôi nói rằng tôi phải bán được ít nhất 50 triệu bản lậu đấy.

Phiên bản tiếng Anh của Sống cũng khá tốt. Bây giờ anh nhận được tiền bản quyền 2 năm 1 lần phải không [2].

Không. Đến giờ họ vẫn chưa cho tôi một xu nào cả.

Không thể nào thế!

Tôi sẽ hỏi han về vấn đề này. Nhưng ông có thấy phiền khi sách của mình bị sao chép lậu không?

Tôi không phản đối. Tất cả những bộ phim tôi xem đều là phim lậu, và với tất cả các nhà làm phim ngoài kia, tôi xin lỗi, nhưng những thể loại tôi thích không chiếu ở rạp, vì vậy đó là cách duy nhất tôi có thể xem chúng! Nhân tiện, thật đáng kinh ngạc khi Liên hoan phim Cannes kết thúc vào tháng 5 và đến tháng 8 hoặc tháng 9, thì chúng ta có thể xem phim với phụ đề được dịch.

Ông có thường xuyên gặp khó khăn hoặc bỏ dở công việc không?

Nhà văn Dư Hoa. Ảnh The Paris Review

Hiện tại, tôi có 3 cuốn sách vẫn đang dang dở, tôi cứ tự nhủ mình không được làm gì khác ngoài việc cố gắng hồi sinh hết cả 3 cuốn. Nhưng thời gian để làm việc đó ngày càng ít đi, và cũng thật khó để anh có thể hồi tưởng bản thân thật sự ở đó như khi mới bắt đầu viết. Tôi đã mất tận 21 năm để hoàn thành Thành phố bị mất.

Ông đã duy trì lại mạch cảm xúc đó bằng cách nào?

Những ghi chú của tôi cực kì quan trọng. Trong tất cả những cuốn sách của tôi, nó là cuốn nhắc đến lịch sử sâu sắc nhất, vì vậy tôi cần phải thực hiện rất nhiều nghiên cứu về lịch sử và văn chương. Chỉ riêng điều đó thôi đã mất của tôi gần 2 năm. Tôi đã thu thập được nhiều chi tiết tuyệt vời và nó truyền cảm hứng cho tôi.Dịch từ bài phỏng vấn củaMichael Berry.

Chú thích:

[1] Mạc Ngôn và Dư Hoa từng ở chung phòng trong kí túc xá của trường đại học.

[2] Người thực hiện cuộc phỏng vấn là dịch giả tiếng Anh của tiểu thuyết Sống.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Một Holocaust khác lạ của Georges Perec

Published

on

By

Là một trong những thành viên của nhóm văn chương tiên phong OuLiPo với những sáng tạo về mặt hình thức, cùng Italo Calvino và Raymond Queneau, Georges Perec là một tác giả có sự đổi mới về nghệ thuật viết. Trong đó W, hay Ký ức tuổi thơ ra mắt vào năm 1975 được coi là một trong những tác phẩm vô cùng đỉnh cao.

Những thử nghiệm văn chương

Xưởng Văn Chương Tiềm Tàng hay OuLiPo là nhóm nhà văn và nhà toán học chủ trương đổi mới, cách tân nghệ thuật. Có thể kể đến Italo Calvino với Lâu đài của những số phận giao thoa, khi kết hợp giữa văn chương và bài tarot hay Perec với cuốn tiểu thuyết Đồ vật từng giành giải Renaudot, khi nội dung cuốn sách chỉ được tạo thành từ việc liệt kê đồ vật thường ngày. Ông cũng có một tác phẩm hơi hướng trinh thám mà toàn văn bản không có chữ “e”. W, hay ký ức tuổi thơ cũng nằm trong xu hướng này.

Cuốn sách gồm 2 mạch truyện, một là tự truyện của chính tác giả về cuộc đời mình trước, trong và sau Thế chiến thứ II. Mạch truyện còn lại là sản phẩm thiên về tưởng tượng, khi Perec tạo ra hòn đảo tên là W, nơi cư dân trên đảo sống như một làng thể thao của thế vận hội Olympic. Có thể nhận thấy những nét chấm phá về xu hướng phản địa đàng (dystopia) ở nơi chốn này. Cả 2 câu chuyện được đặt xen kẽ và phản ánh nhau bằng những khoảng trống đã được xây dựng một cách khéo léo.


Về mặt từ ngữ, W không phải là một cái tên đến thật ngẫu nhiên. Cũng như cấu tạo, nó được tạo thành từ 2 chữ V đính kết vào nhau, và 2 chữ V lại được tạo thành từ một chữ X được cắt ngang ra, mà trong tiếng Pháp nó cũng có nghĩa là giá cưa gỗ. Nếu ta thêm thắt một vài chi tiết ở chữ X này, nó sẽ biến thành biểu tượng chữ vạn (卐), và rồi phân rã thành một ngôi sao đính kết trên chính ve áo của người Do Thái (✡). Như vậy về mặt cấu tạo, vùng đất mà Perec đã tưởng tượng ra chính là dấu chỉ cho những gì ông đã trải qua, những gì ông không còn nhớ và cả những gì giờ được vay mượn.

Như ở đầu sách trong những văn bản có tính tự truyện ông đã viết rằng: “Tôi không có ký ức tuổi thơ. Cho đến năm tôi gần mười hai tuổi, tiểu sử của tôi chỉ có vài dòng: tôi mất cha năm bốn tuổi, mất mẹ năm sáu tuổi; tôi sống qua thời chiến tranh trong các khu nội trú khác nhau ở Villard-de-Lans. Năm 1945, vợ chồng chị ruột của cha tôi đã nhận nuôi tôi”. Việc không có mối nối nào đối với ký ức rồi sẽ biến thành một sự đứt gãy, và rồi những gì mà nhà văn làm đó là lấp vào khoảng trống rất nhiều trải nghiệm mình đã chứng kiến, lấy nó từ nơi người khác, và rồi biến nó thành ra của mình hoặc làm một việc hoàn toàn mới mẻ đó là sáng tác.


Trong những đoạn văn mang tính tự truyện được viết ngập ngừng và đầy khoảng trống, nhịp độ của riêng Perec cũng cho ta thấy được sự hoài nghi của bản thân ông. Cũng như W.G.Sebald quẩn quanh bên một nhà ga mà không thể nhớ cái tên Austerlitz tưởng rất quen thuộc là từ đâu ra, Perec cũng thế. Ông viết ký ức lớn nhất mà mình có được là vào năm 1942, ở nhà ga Lyon, khi mẹ mua cho ông một cuốn truyện tranh và rồi thấy bà vẫy chiếc mùi soa màu trắng ở nơi sân ga lúc tàu khởi hành. Cả 2 nhà văn đều được gửi đi trên những toa tàu dành cho trẻ con, để tránh diễn biến phức tạp có thể xảy ra, từ đó nhà ga như chốn lưu lạc của những linh hồn, để họ mãi tìm và rồi tuyệt vọng.

Ở những đoạn khác, Perec cũng đã cài cắm cho ta thấy được vì sao ông lại mang theo ý tưởng tạo ra vùng đất hư cấu của bản thân mình. Trong khi sự khuyết thiếu trong tiểu sử khiến ông an lòng một thời gian dài, thì khi càng lớn, sự khô khan khách quan và hiển lộ trong suốt ngày càng làm ông khó mà chịu nổi. Từ đó ông bắt đầu quan sát. Ông nhớ một cách rõ ràng mình đến với Chúa tận tụy ra sao, ông biết mình đã nhận vơ “di sản” một vụ tai nạn từ người anh họ khiến cho cánh tay bị gập ra sau đặc biệt thế nào… Ông cũng chỉnh sửa những dòng tự truyện mà mình đã biết cách đó vài năm, dù những chú thích cũng không được chắc là hoàn toàn đúng. Chính trong sự quanh quẩn đó, hình ảnh những con người đặc biệt bắt đầu hiện ra, đưa ông vào chốn W tương đối đặc biệt.

Ký ức là hòn đảo tâm trí

W theo đó là một hòn đảo mà tại nơi đây thể thao là quan trọng nhất. Trong khi những người già, phụ nữ, trẻ em bị co cụm trong một khu riêng, thì phần lớn đảo được dành cho những thanh niên đang tuổi trưởng thành. Ở đó gồm có nhiều làng, mỗi làng sẽ cử ra những thành viên riêng lẻ để thi đấu đối kháng với nhau, có khi ở quy mô nội bộ, có khi là 2 làng liên kế, và cũng có khi là những hội lễ như Olympic nơi mà tất cả đều đấu với nhau. Ở đó có các môn như chạy đua nước rút, vượt chướng ngại vật, phóng lao, ném lao cũng như nhiều môn tổng hợp…

Theo Perec viết, “không xã hội loài người nào có thể cạnh tranh được với W”, bởi việc sáng tạo nên nó như được hình thành từ những chủng tộc người Aryan thượng đẳng mà Hitler đã từng một lần ôm mộng bá chủ. Struggle for life là luật ở đây, nơi chỉ chiến thắng và những thành tích mới là quan trọng, còn việc thua cuộc sẽ đưa người ta đi vào cái chết. Khán giả có thể ca ngợi những người chiến thắng, nhưng sẽ không tha cho kẻ bại trận. Chỉ một tiếng kêu đòi hỏi hành hình, điều đó cũng có nghĩa là cái chết đến từ Trung Cổ đang chờ đợi họ.

Nhưng cũng nực cười như một xã hội không có công bằng, trong thứ thiết chế tưởng được kết cấu với các lề luật được quy định trước, thì sự bất công mới luôn là thứ được giới chóp bu ham thích ban phát. Những người thắng cuộc sẽ được ban phát những món ăn ngon và thức rượu quý mà họ không có, để rồi nếu không sáng suốt, họ sẽ thất bại vào ngày hôm sau và rồi bị tước tất cả danh dự. Ở xứ W không có tuyệt đối, chỉ có tương đối. Một người có thể có hết tất cả vào ngày hôm nay, nhưng rồi hôm sau sẽ lại mất cả.

Mua Sách - W hay là ký ức tuổi thơ - Nhã Nam Official tại FishingBook | Tiki

Phụ nữ ở đây chiếm một số lượng vô cùng ít ỏi. Khi sinh nở, chỉ một bé gái là được giữ lại trên 5 bé trai. Vào các ngày lễ chiến thắng, họ bị thả ra như những “thỏ sắt” trong trận đua chó mà phía sau là những vận động viên sẽ cưỡng hiếp họ. Cũng như Chuyện người tùy nữ của Margaret Atwood, giới nữ ở nơi chốn này chỉ được sinh ra dùng cho sinh sản. Những người đàn ông vì những tham vọng cũng như giải phóng cơn khát dục tình, sẽ làm hại nhau bằng đủ mọi cách, từ liên minh, gian lận cho đến giết người, mà dĩ nhiên thế mạnh luôn luôn thuộc về những người mạnh nhất.

Không thể không thấy hòn đảo W chính là mô hình thu nhỏ của trại diệt chủng mà mẹ Perec đã từng bước vào rồi nằm mãi lại. W hay là chữ X được tái định hình trở thành bàn xẻ sinh mạng con người. Việc bỏ tên riêng ở xứ W và được thay bằng một hệ thống các quy tắc phức tạp chẳng phải là việc xóa bỏ danh tính của người Do Thái, xăm lên tay họ những dãy số dài rồi nó sẽ trở thành dấu chỉ của họ đó sao. Và cũng chẳng phải việc đánh dấu những chữ W lên lưng áo khoác của những người trưởng thành cũng tương tự với ngôi sao sáng chói mà những người Do Thái sẽ phải đeo trên ngực mình? Những người phụ nữ bị lạm dụng, những người đàn ông phải luôn chiến đấu giành giật sự sống… để đến cuối cùng họ bị giáng cấp, và chỉ là một trò chơi của giới chóp bu nắm giữ quyền lực.

Như vậy hòn đảo W chính là nỗ lực mà Perec cố gắng thấu hiểu về cuộc đời của mẹ mình, kể từ thời điểm chiếc khăn mùi xoa được vẫy giữa nơi nhà ga Lyon là ấn tượng cuối cùng mà ông sở hữu. Ở đó “những vận động viên ném tạ mà những quả tạ của họ là những cục sắt cùm chân, những vận động viên nhảy cao với cổ chân đeo xích, những vận động viên nhảy xa ngã huych xuống chiếc hố chứa đầy nước phân bón”. Tất cả vô nghĩa, tất cả cuồng loạn và chỉ hướng về một xã hội tàn nhẫn, bạo lực và cũng là nơi cả nhân loại này không còn là người.

Bằng tài năng sáng tạo và những cách tân trong nghệ thuật viết, Georges Perec đã viết nên một cuốn sách thuộc dòng Holocaust khác lạ và ấn tượng. Chính việc tưởng tượng ra vùng đất W hoàn toàn hư cấu, mang chất phản địa đàng đã tạo nên nét đặc biệt cho tác phẩm này, thêm phần đả kích cũng như châm biếm sự mất nhân chính, tạo nên tiếng nói vô cùng mạnh mẽ.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đế chế ký hiệu: Có một nước Nhật rất riêng của Roland Barthes

Published

on

Đế chế ký hiệu là tập tiểu luận không thể bỏ lỡ đối với những ai yêu mến và muốn tìm hiểu về văn hóa nước Nhật – chính xác hơn – là một nước Nhật từ góc nhìn độc đáo của nhà ký hiệu học Roland Barthes.

Tác phẩm Đế chế ký hiệu tập hợp 26 bài viết có tính chất phân mảnh của Roland Barthes về nước Nhật với nhiều bài ngẫu nhiên, xoay quanh các chủ điểm như: Ngôn ngữ lạ, Nước và mẩu vụn, Đũa, Pachinko, Nhà ga, Gói, Ba lối viết, Món ăn giải trung tâm, Tri giác/Vô tri giác, Trong/Ngoài, Cúi chào, Bẻ khóa nghĩa, Miễn nghĩa, Phụ tiết, Hiệu văn phòng phẩm, Lối viết bằng bạo lực, Buồng ký hiệu… Những từ khóa chính được đề cập trong sách có thể kể đến là: bộ mã, rỗng và đầy, đi và viết.

Roland Barthes – tác giả của Đế chế ký hiệu – là nhà ký hiệu học, nhà hậu cấu trúc luận, nhà phê bình văn học nổi tiếng người Pháp. Đế chế ký hiệu được Roland Barthes sáng tác sau chuyến đi Nhật dài ngày theo lời mời của nhà văn Maurice Pinguet – lúc bấy giờ đang giữ chức vụ là giám đốc Viện Pháp-Nhật ở Tokyo.

Đế chế ký hiệu không chỉ là một bức tranh độc đáo về xã hội Nhật Bản mà còn là áng văn xuôi mang vẻ đẹp của văn chương đích thực, giúp độc giả có thể tận hưởng được niềm hân hoan khi chìm đắm trong những dòng suy tư sâu sắc của Roland Barthes. Hãy thử đọc cách ông miêu tả về món tempura, ta sẽ cảm nhận rõ sự hài hòa mĩ mãn khi trí tuệ và cảm xúc song hành với nhau trong một lối văn điêu luyện:

“Món tempura thoát khỏi ý nghĩa mà chúng ta thường gán cho món chiên, tức là sự nặng nề. Bột tìm lại ở đó bản chất của nó là thứ hoa đã được phân tán, hòa loãng, nhẹ nhõm đến mức thành sữa, chứ không còn là chất sệt; gặp dầu, thứ sữa vàng óng ánh ấy mỏng manh đến mức bao lấy mảnh thức ăn một cách không hoàn hảo, để lộ ra màu hồng của tôm, màu xanh của ớt, màu nâu của cà tím, qua đó tước đi của đồ chiên cái tạo nên món tẩm bột rán kiểu Tây, tức là vỏ, là bọc, là đặc.” (Khe)

Khi thưởng thức Đế chế ký hiệu, độc giả không cần phải đọc theo trình tự tuyến tính mà có thể linh hoạt chọn đọc bất kì phần nào trong sách; bởi lẽ, từng bài viết trong cuốn sách là một lát cắt đơn lẻ, vừa độc lập với cái chung và đồng thời vẫn thuộc về cái chung là đề tài văn hóa Nhật Bản. Tùy theo nền tảng tri thức của từng người, việc đón nhận những văn bản trong sách có thể nằm ở nhiều cấp độ khác nhau. Chính vì thế, để hiểu sâu hơn về tác phẩm này, trước khi lật những trang đầu tiên của sách, người đọc nên tìm hiểu một chút về cuộc đời Roland Barthes và những nét đặc trưng của văn hóa nước Nhật. Từ đó, độc giả sẽ có thể thưởng thức sách trong tinh thần phản biện, soi chiếu những luận điểm của tác giả dưới nhiều góc nhìn khác nhau.

Một trong những điểm độc đáo nhất của Đế chế ký hiệu có lẽ là việc nước Nhật được miêu tả trong sách không hoàn toàn là nước Nhật dựa trên thực tế; chính xác hơn, đó là nước Nhật trong trí tưởng tượng của Barthes. Điều này mở ra một không gian riêng để ông có thể tự do tái diễn giải lại nước Nhật theo góc nhìn cá nhân với những quan sát mới lạ, độc đáo, đúng như lời nhận xét của nhà văn Maurice Pinguet:

“Nước Nhật, nước Nhật ấy, nước Nhật của anh ấy – đối với Roland Barthes – là điều không tưởng của cái thèm muốn.”

Chính vì vậy, Đế chế ký hiệu có thể khiến người đọc cảm thấy những gì mình từng hiểu biết về nước Nhật hoàn toàn bị đảo ngược vì nước Nhật mà tác giả trình hiện trong sách hoàn toàn khác với nước Nhật trong những tác phẩm văn học, điện ảnh do chính người Nhật sáng tạo. Tinh thần lạ hóa này có thể truyền nhiều cảm hứng cho các độc giả đang muốn viết văn, hoặc sáng tạo nghệ thuật nói chung.

Thông qua tác phẩm Đế chế ký hiệu, Roland Barthes cho người đọc thấy một tấm gương rất đẹp về người lữ khách khi đặt chân đến đất nước xa lạ đã cố gắng quan sát mọi thứ một cách tinh tường bằng việc tôn trọng sự khác biệt. Đó cũng là tinh thần ta cần phải học hỏi trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay.

Hoàng Đức Nhiên

Đọc bài viết

Cafe sáng