Chuyện người cầm bút

Viet Thanh Nguyen, giám khảo gốc Á đầu tiên của giải Pulitzer, và vai trò mới vượt quá lằn ranh văn chương

Published

on

Cuộc đời của Viet Thanh Nguyen đã thay đổi khi anh đoạt giải Pulitzer năm 2016 trong hạng mục tiểu thuyết cho cuốn tiểu thuyết đầu tay gây sửng sốt, The Sympathizer. Trong những năm gần đây, Nguyen – trưởng khoa Tiếng Anh tại Đại học Nam California – đã trở thành cây viết xã luận ​​cho tờ The New York Times, nhận được Học bổng MacArthur (hay còn được gọi là quỹ “tài trợ thiên tài”), tham gia nói chuyện vòng quanh đất nước và thậm chí còn xuất hiện trên chương trình truyền hình Late Night with Seth Meyers.

Một vai trò mới

Thành tựu mới nhất của anh là một trong những dấu mốc đáng ghi nhớ khi góp mặt vào Hội đồng giám khảo Pulitzer với tư cách là thành viên người Mỹ gốc Á đầu tiên trong lịch sử 103 năm của tổ chức này. Theo luật định, nhiệm kỳ này kéo dài ba năm và có thể gia hạn hai lần, tối đa là chín năm.

“Họ đã mời tôi vài lần trước đó, nhưng tôi không thể tham gia vì còn nhiều việc và vẫn đang cố gắng hoàn thành phần tiếp theo của The Sympathizer. Khi họ quay lại vài tháng trước và ngỏ ý, khi đó tôi vừa hoàn thành cuốn tiểu thuyết mới với tựa đề The Committed. Tôi coi trọng ý tưởng về quyền công dân, dù cho đó là phục vụ đất nước hay văn học hay người Mỹ gốc Á, vì vậy tôi gật đầu và đồng ý tham gia.”

R. O. Kwon, tác giả cuốn sách bán chạy The Incendants, nói rằng lẽ ra đã không phải mất quá nhiều thời gian để Hội đồng giám khảo Pulitzer mời một thành viên người Mỹ gốc Á nhưng bây giờ đã có. “Tôi nghĩ điều đó thật tuyệt vời, và may mắn cho chúng tôi – Việt là một nhà văn xuất sắc, đột phá và là đại diện vững chắc cho những giọng nói bị thiệt thòi. Anh mở những cánh cửa và luôn chào đón những người khác.”

Về văn chương của người Mỹ gốc Á

Thời thế đã thay đổi từ ngày anh tốt nghiệp đại học California, Berkeley, nơi trưởng khoa tuyên bố rằng anh không thể viết luận án về văn học Mỹ gốc Việt vì đề tài ấy quá co cụm. Thay vào đó, anh mở rộng nghiên cứu sang văn chương người Mỹ gốc Á. Cuốn sách đầu tiên Race and Resistance: Literature and Politics in Asian America (tạm dịch Chủng tộc và Kháng cự: Văn học và chính trị người Mỹ gốc Á) xuất bản năm 2002, là một nghiên cứu văn chương về người Mỹ gốc Á bắt đầu với Onoto Watanna 1896 và kết thúc với Lois-Ann Yamanaka 1996.

“Đối với nhiều nhà văn người Mỹ gốc Á được xuất bản từ cuối thế kỷ 19 cho đến những năm 1990, họ hiểu rằng bản thân ít được biết đến và những câu chuyện của họ cũng thế […] Có rất nhiều áp lực đối với họ, bởi đó là những người tiên phong. Họ biết gia đình và cộng đồng sẽ nhìn vào những tác phẩm này. Có nhiều cảm giác mãnh liệt trong việc họ là người phơi bày cục diện ấy.”

Viet Thanh Nguyen nhớ lại anh đã từng có thể theo kịp tất cả tác phẩm do người Mỹ gốc Á viết, nhưng giờ đây anh thấy điều đó là không tưởng bởi sự bùng nổ gần đây của thơ, tiểu thuyết và hồi ký. “Trong tất cả các lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật ở đất nước này, đặc biệt là trong văn học; những người Mỹ gốc Á mới thật sự là người thành công và sung mãn nhất” – Nguyễn, người viết cuốn sách phi hư cấu Không gì chết đi bao giờ: Việt Nam và ký ức chiến tranh và tập truyện ngắn Người tị nạn, nói. Anh cũng biên tập Kẻ ly hương, gồm 17 bài tiểu luận của các nhà văn tị nạn, và gần đây nhất đồng sáng tác cuốn sách thiếu nhi Chicken of the Sea với con trai mình, Ellison Nguyễn, khi đó 5 tuổi.

Theo anh, dù ngành xuất bản chủ yếu vẫn là địa hạt của người da trắng, nhưng người Mỹ gốc Á đã đạt được thành công trong văn học một phần vì đây là loại hình nghệ thuật có chi phí thâm nhập thấp. “Một loại hình nghệ thuật càng đắt tiền, thì những người bị loại trừ càng khó thâm nhập. Đó là lý do tại sao có Hollywood, nơi chống lại sự thay đổi và tồn tại định kiến nhất với những câu chuyện của người Mỹ gốc Á; trong khi trong văn chương, đặc biệt là thơ, rất ít tốn kém, là nơi những người bị loại trừ có cơ hội. Bởi vì ai cũng có thể viết. “

Anh tin rằng gánh nặng đại diện mà các tác giả người Mỹ gốc Á đã từng cảm thấy giờ không còn quá nặng nề với các nhà văn ngày nay, điều này cho phép tạo ra sự lập dị và tính thể nghiệm nhiều hơn. Nguyễn cho biết tiểu thuyết của chính mình có lợi vì được xuất bản sau khi văn học Việt – Mỹ “đã có vài thập kỷ thực sự phát triển”. The Sympathizer được phát hành vào năm 2015 trùng đúng 40 năm kết thúc Chiến tranh Việt Nam, đề cập đến vai trò của Hoa Kỳ tại Việt Nam dưới giọng kể của một người nửa Việt, nửa Pháp không tên làm việc như một điệp viên hai mang trong hậu quốc chiến tranh.

Phần tiếp theo rất được mong đợi sẽ nối tiếp cuốn tiểu thuyết đoạt nhiều giải thưởng này. The Committed, một tiểu thuyết giật gân lấy bối cảnh ở Paris, sẽ được xuất bản vào tháng Ba. Anh nói: “Tôi nghĩ điều quan trọng là phải điều tra và tìm lại những gì người Pháp đã làm ở Việt Nam, bởi Pháp và Mỹ là hai trong số những cường quốc thuộc địa lớn trong thế kỷ trước, và tầm nhìn của họ về dân chủ, tự do và giải phóng chắc chắn là rất quan trọng trong cuộc đời tôi và quyết định số phận của rất nhiều người ở rất nhiều quốc gia.

Nói thẳng sự thật

Nguyễn đã tận mắt chứng kiến những tác động lâu dài của chiến tranh, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân. Anh đến Hoa Kỳ năm 1975 cùng gia đình với tư cách là người tị nạn khi đó 4 tuổi và ban đầu được định cư tại một trại ở Fort Indiantown Gap, Pennsylvania. Họ bị chia tách và sống với những người bảo lãnh khác nhau trong vài tháng trước khi được đoàn tụ để chuyển đến San Jose, California, nơi cha mẹ anh mở một trong những cửa hàng tạp hóa Việt Nam đầu tiên trong thành phố.

Cha mẹ của Nguyễn làm việc mệt mỏi hàng giờ quanh năm và bị thương trong một vụ cướp có vũ trang tại cửa hàng của họ vào đêm Giáng sinh. Khi anh còn là một thiếu niên, gia đình của anh là nạn nhân của một cuộc xâm nhập có chủ đích, trong đó kẻ đột nhập chĩa súng vào mặt họ. Khi Nguyễn trở thành sinh viên đại học tại Berkeley, nơi sau này anh nhận bằng tiến sĩ Anh, anh đã cống hiến cho công bằng xã hội và viết op-eds [bài xã luận với quan điểm cá nhân độc lập] cho tờ báo của trường.

“Tôi luôn thẳng thắn,” anh nói. “Cuốn sách đã cho tôi một nền tảng lớn để nói tất cả những gì tôi luôn muốn nói.” Là một nhà phê bình văn hóa, anh đề cập đến mọi thứ: từ hiển hình khuôn mẫu ở Hollywood đến phản ứng của chính phủ với Covid-19 và thậm chí cả cộng đồng mình. “Cộng đồng người Mỹ gốc Việt là nhóm gốc Á duy nhất có đại đa số ủng hộ Trump, và tôi không quá băn khoăn khi lên tiếng về sự phân biệt chủng tộc, đồng lõa và đạo đức giả của họ. Nếu người Mỹ gốc Á đứng về phía bất công, công việc của chúng ta vẫn là phải chỉ trích chính cộng đồng ấy”.

Hết.

Ngô Thuận Phát dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Victoria Namkung, đăng tại NBC News.

*



Chuyện người cầm bút

Haruki Murakami rất “pretentious”!

Published

on

Haruki Murakami rất “pretentious”! Bạn tôi nói với tôi như vậy. Nhân vật của ông thường luôn là những gã trai ngầu lạnh và luôn mồm nói về nhạc jazz. “Pretentious” không có từ tương đương trong tiếng Việt, dịch sát nghĩa là “cố tỏ ra hoặc nghe có vẻ quan trọng hay khôn khéo hơn bạn thực sự là, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và văn chương.”

Bạn tôi học guitar từ nhỏ, chơi đàn hay và ca tình cảm nhưng chưa bao giờ chê bai gu nhạc thị trường của tôi. Nhưng đọc truyện Murakami có vài lần tôi thấy xấu hổ thật, vì giống như ông đang trỏ tay vào mặt tôi và lêu lêu: “Mi không biết chi về âm nhạc cả, cái đồ tầm thường.” Thế là tôi cũng cảm thấy ông Murakami có chút gì đó pretentious thật.

Tôi chột dạ nhìn lại bản thân, vì thấy mình cũng pretentious, nhất là khi nghe ai đó đã qua tuổi teen mà vẫn khen 50 sắc thái với Chạng vạng là tôi bĩu môi trong lòng. Nhưng giờ thì chỉ nói với họ là nếu có cơ hội đọc nhiều hơn, họ sẽ thấy một thế giới khác đẹp hơn thế giới trong những cuốn sách thành công về mặt thương mại nhưng có rất ít giá trị văn chương.

Từ khi nhận ra mình pretentious, tôi thấy nó tràn lan khắp nơi. Tôi vừa đọc một bài phỏng vấn một nhà văn trẻ, trong bài bạn kể tên một loạt nhà văn bạn từng đọc và yêu thích như: Marcel Proust, James Joyce, Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare… Nabokov, Oscar Wilde, Shakespeare là những cái tên quen thuộc nhưng Proust và Joyce là đô hạng nặng. Hai ông không phải là tác giả dành cho số đông. Người ta hay đùa với nhau: “Cuộc đời thì quá ngắn còn Proust thì quá dài.” Thế nên nếu ai đó nói họ đã đọc Proust và Joyce trong tiếng Anh thì tôi xin kính họ một lạy (vì tôi được biết cuốn sách In Search of Lost Time 4.215 trang của Proust mới được dịch sang tiếng Việt một phần nhỏ, còn cuốn nổi tiếng nhất của Joyce là Ulysse thì chắc còn khuya).

Thế nên sau khi kính bạn nhà văn này một lạy, tôi vào tìm Facebook của bạn và thấy rất nhiều bài viết bình về văn, thơ, nhạc, phim. Trong một bài viết bình phim, tôi đếm được 20 tên đạo diễn bạn liệt kê, trong đó có 18 vị tôi không biết tên vì tôi không xem phim nhiều. Những bài viết ngôn từ rất êm và mượt nhưng tôi không hiểu mô tê gì. Trong tôi lại trào lên cảm giác khi đọc truyện nhạc jazz của ông Murakami. Phía dưới rất nhiều like, rất nhiều share, rất nhiều comment.

Tôi nghĩ chẳng lẽ thơ ca phim ảnh (nghệ thuật nói chung) có thể cao vời đến mức nó chỉ là đặc quyền của một nhóm người để bình và hiểu? Rằng những người như tôi (ngoại đạo nhưng có một mức cảm thụ nghệ thuật trung bình) không thể nào cảm nổi? Tôi không tin. Khoa học, triết học - khó cảm hơn nghệ thuật gấp nhiều lần - vẫn có thể được dịch ra ngôn ngữ bình dị (như cuốn triết học Thế giới của Sophie hay những bài giải thích về vũ trụ của nhà vật lý Brian Greene). Tôi tin người ta không cần trang sức cho văn chương và nghệ thuật với lớp xiêm y ngôn từ bóng bẩy, để chúng nghe có vẻ “văn chương” và “nghệ thuật”. Tôi có cảm tưởng, bạn nhà văn – dù sở hữu kiến thức dày (với những cái tên nổi tiếng bạn dẫn ra và những bài viết thâm hậu của bạn) – có chút gì đó pretentious.

Đó cũng là lý do tôi không thích bài viết của các KOL trên mạng, vì bài viết của đa số họ, dù là chia sẻ cá nhân, vẫn mang vẻ không thực thà. Giống như họ đang cố phô ra tất cả những gì họ có (và lắm lúc phô hơn những gì họ có) cho đám đông của họ. Họ pretentious. Tôi tin khởi phát, trong lòng một người viết thực thà (hay người vẽ, người làm thơ…) có một nỗi niềm cần được giãi bày và họ chuyển hóa nó thành con chữ, thành hình vẽ, thành câu thơ. Sau khi tác phẩm hoàn thành, họ có nhu cầu chia sẻ cho công chúng. Nhưng nhu cầu chia sẻ là nhu cầu đến sau nhu cầu giãi bày. Thông thường chỉ những người làm marketing mới luôn giữ trong đầu một target audience (khách hàng mục tiêu). Họ viết cho target audience và cố làm mọi cách để gây ấn tượng với những người đó. Ở trong nghề marketing, tôi biết những người làm nghề này có thể pretentious đến mức nào.

Tôi nghĩ cuộc đời sẽ đẹp hơn khi nó thực thà và không diêm dúa. Nên văn chương và nghệ thuật hay những gì liên quan đến văn chương và nghệ thuật – vốn dĩ xuất phát từ cuộc đời – cũng nên thực thà và giản dị vậy. Hãy để văn chương và nghệ thuật tồn tại trước hết vì bản thân chúng và người sáng tạo ra chúng, hơn là vì ai đó ngoài kia. Như bạn tôi, một người chơi đàn hay và ca tình cảm, thường đàn hát một mình trong phòng và thi thoảng lắm mới đàn cho người khác cùng nghe.

Ưm, xin lỗi, nếu tôi có lỡ nghe pretentious.

Nguyễn Bích Trâm

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Abdulrazak Gurnah – nhà văn đoạt giải Nobel không ai biết tới

Published

on

Tôi muốn viết một chút về việc Abdulrazak Gurnah – nhà văn đã đoạt giải Nobel năm 2021. Như hầu hết mọi người ở đây, tôi chưa bao giờ nghe nói về ông trước đây. Cũng không sao cả, có điều tôi tự nhận mình là người đọc nhiều, và tôi bị hấp dẫn bởi những tác giả/tác phẩm/thể loại không quen thuộc với số đông, bao gồm cả văn học châu Phi.

Nhưng có một điều thú vị là chưa ai từng nghe nói đến Abdulrazak Gurnah. Ông không nằm trong shortlist những tác giả nổi bật nào cả (dù rõ ràng tên ông xuất hiện trong list lưu hành nội bộ của giải Nobel). Cược Stephen King thắng còn dễ hiểu hơn. Nhưng cũng chẳng sao. Đã có nhiều tác giả gây ra cú sốc lớn khi đoạt giải Nobel. Tôi nghĩ đến Kertesz (2002). Tương tự với Tranströmer (2011). Có điều là chắc chắn, giờ đây, Gurnah sẽ được biết đến nhiều hơn khi ông thắng giải Nobel.

Và có rất nhiều nhà văn lớn hội đủ các yếu tố nhưng không giành được giải, bao gồm: Joyce, Tolstoy, Twain, Ibsen, Zola và Proust. Tôi xin mạnh miệng khẳng định rằng tất cả họ đều đóng góp cho văn chương nhiều hơn Winston Churchill (người đoạt giải Nobel năm 1953). Vì vậy, nếu nhà văn yêu thích của bạn không thắng giải, dù đó là Atwood hay Ngugi, thì họ cũng không đơn độc. Đã có khoảng 120 giải Nobel được trao kể từ khi Sully Prudhomme thắng giải lần đầu tiên năm 1901 (không có giải nào được trao trong Thế chiến 2). Và một lần nữa, hiện nay, hầu hết mọi người cũng chưa từng nghe đến cái tên Sully Prudhomme.

Gurnah có xứng đáng không? Tôi không biết. Tôi chưa đọc bất kì tác phẩm nào của ông. Nhưng dường như ông đã gây ấn tượng với nhiều người. Sự lựa chọn này có phải vì lý do chính trị? Có lẽ. Sự thật là vô số tác phẩm ở các quốc gia khác đã bị làm ngơ trong nhiều năm trời vì Nobel được xem là giải thưởng của giới tinh bông châu Âu. Bao nhiêu tác giả Ấn Độ đã thắng giải kể từ thời của Tagore năm 1913? Zero. Bao nhiêu tác giả Trung Quốc được xướng tên kể từ khi Cao Hành Kiện đoạt giải năm 2000? Một – Mạc Ngôn. (Công bằng mà nói, tôi kiểu đã hy vọng Tàn Tuyết sẽ là người phụ nữ châu Á đầu tiên giành giải này. Một ngày nào đó. Biết đâu…). Tuy nhiên, Ấn Độ và Trung Quốc chiếm đến một phần tư dân số thế giới và cả hai quốc gia này đều có truyền thống văn học lâu đời, phong phú. Thực tế mà nói, truyền thống văn học Trung Quốc có lẽ cũng phong phú và đa dạng như phương Tây. Chỉ là không được tiếp cận rộng rãi.

Vậy, đây là quyết định mang tính chính trị? Vâng, theo một giác độ nào đó thì tất cả những tác phẩm hay đều mang tính chính trị. Nó phản ánh đời sống và các chuẩn mực xã hội, nó là tấm gương phản chiếu thế giới mà chúng ta đã tạo ra.

Thế thì Abdulrazak Gurnah có xứng đáng không? Có thể. Ủy ban Nobel đã công bố rằng Gurnah giành giải vì “sự thâm nhập không khoan nhượng và nhân ái của ông đối với những tác động của chủ nghĩa thực dân và số phận của những người tị nạn trong hố sâu ngăn cách giữa các nền văn hóa và lục địa.” Số phận của những người tị nạn và những người bị gạt ra bên lề xã hội là một trong những vấn đề lớn trong thế giới của chúng ta, và tôi tin rằng nó sẽ còn trở nên quan trọng hơn do hậu quả của tình trạng quá tải dân số và biến đổi khí hậu. Đây chắc chắn là một vấn đề ở Hoa Kỳ. Ở châu Âu vấn đề này thậm chí còn đáng chú ý hơn. Châu Âu đang thay đổi. Scandinavia đang thay đổi (hai bộ phim tôi làm gần đây nói về một người tị nạn Afghanistan ở Đan Mạch và một người tị nạn Chile ở Thụy Điển). Chúng ta đang thay đổi. Thế giới của chúng ta đang thay đổi. Và những người hàng xóm mới của chúng ta cũng đang thay đổi.

Nhưng tôi bận tâm điều gì? Đó là Gurnah rất khó tìm. Tôi đã tìm trên eBay. Chỉ có duy nhất hai bản của cuốn sách nổi tiếng nhất của ông – Paradise (được đề cử giải thưởng Booker và Whitbread ở Hoa Kỳ) với giá là 127 đô la. Tôi chắc rằng sớm muộn gì cũng sẽ thay đổi thôi, nhưng hiện tại, rất khó tiếp cận Gurnah.

Vì vậy, tôi khá vui khi ông chiến thắng. Ông mở ra cánh cửa đi vào một phần thế giới đang thay đổi của chúng ta – thế giới mà đã bị che khuất quá lâu. Và điều này ngày càng trở nên quan trọng hơn. Tôi đang bắt đầu cuộc hành trình vào thế giới của Gurnah với cuốn “Memory of Departure”. Đây là cuốn sách đầu tiên ông viết và tôi thích cái bìa của nó – đây là cách tôi thường dùng để đánh giá một cuốn sách… Tôi tự hỏi không biết có ai muốn đọc chung với tôi không?

Nguyễn Bích Trâm
dịch từ bài viết của Danny Wool
Tiêu đề do dịch giả tự đặt.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Về thơ

Thơ với tôi là không khí của những buổi trưa ấy. Máy điều hòa chạy lặng lẽ, tĩnh tại và một ánh mắt dõi nhìn những dòng thơ. Thế giới rời rạc nhưng được kết nối.

Published

on

By

Tôi muốn viết về thơ vào những ngày đầu tiên của tuổi mới. Thực ra, tôi muốn viết về thơ vào những ngày cuối cùng của tuổi cũ. Chính xác hơn thì tôi muốn viết về thơ vào ngày 15.6 khi vừa viết xong hai bài thơ mới sau khoảng thời gian khá lâu không viết được dòng thơ nào thì ý tứ cho hai bài thơ ấy bất ngờ đến với tôi vào một ngày thứ sáu buồn bã, nhiều nước mắt và tôi viết một mạch là xong không những một mà hai bài. Điều này đối với tôi thật đặc biệt. Vì từ trước đến nay, tôi luôn viết thơ rất chậm, cũng giống như viết bất kì thứ gì khác, review về sách hay phim, truyện ngắn hay tiểu thuyết (đã quá lâu rồi tôi không viết tiểu thuyết, đã năm năm có chẵn). Tôi đã không thể viết được thơ một mạch trong vòng vài chục phút hay vài tiếng đồng hồ như bao người. Đa phần những bài thơ tôi viết nhanh thì mất một, hai ngày hay một tuần, lâu thì có khi mất cả tháng hoặc đến hai, ba tháng cũng có nếu tính từ lúc hình thành ý tưởng cho đến khi thận trọng viết một câu rồi hai câu, rồi gọt giũa lại câu từ, hình ảnh và rồi hoàn tất cả bài. Tôi viết thơ mà chậm như người ta viết truyện ngắn vậy, thế nên đến ngày nay, nhiều khi tôi vẫn còn phân vân không biết những gì mình viết ra có phải là thơ không, bởi lẽ dường như thơ là chỗ cho những khoảnh khắc và cảm xúc, hoặc suy tưởng trong những khoảnh khắc, một lát cắt thời gian ngắn gọn hơn là một dòng chảy chậm chạp, rề rà, trôi ngắc ngoải lâu lắc lâu lơ như thế. Càng ngày tôi càng làm mọi thứ một cách chậm chạp và trì hoãn. Chẳng hạn như những dòng này cũng là một ví dụ điển hình cho sự chậm chạp và trì hoãn ấy, lẽ ra tôi đã phải viết nó từ cách nay một tháng hơn, ngay lúc cảm xúc còn mãnh liệt, cuồng nhiệt, dữ dội, hân hoan và buồn bã rồi lại được giải phóng khỏi buồn bã sau khi viết hai bài thơ ấy. Nhưng tôi đã trì hoãn, để rồi bây giờ sau một tháng mới khởi sự viết lại, tôi giống như một người thấy cơm ngon, nóng hổi trước mặt lại không chịu ăn ngay, để khi nó nguội rồi lại dụng công hâm nóng mặc cho việc thưởng thức sự nguội lạnh đôi khi cũng là một cái hay, nó nhắc nhở ta về những điều đã mất nhưng không mất đi hoàn toàn đôi lúc còn tạo ra những cảm xúc ngang trái hơn là việc phải chịu cảnh nó vĩnh viễn không còn hiện diện nữa: cơm vẫn còn đó, nó không thay đổi về lượng, những phép tính về vật chất, nhưng nó thay đổi về tính, nó không còn nóng nữa, nó đã nguội, dù hâm nóng nó thì trạng thái nóng sau khi đã từng nguội lạnh vẫn rất khác so với cái nóng nguyên sơ ban đầu. Vậy nên, tôi không đoan chắc những gì tôi sắp viết dưới đây còn giữ được đầy đủ tinh chất của cái nóng trong hạt cơm vào tháng sáu ngày hôm ấy hay không; nhưng chí ít, tôi sẽ cố gắng tái tạo lại hình dạng vật chất của nó, hình dạng của bát cơm ấy, của thơ, của nỗi buồn, của bầu trời màu cam đỏ ngoài khung cửa sổ như muốn đốt cháy hết những tòa nhà nó bao trùm.

Vì sao tôi muốn viết về thơ?

Đơn giản vì tôi chợt nhận ra mình đã viết kha khá về sách, phim, nhạc, về việc viết, việc đọc, về ti tỉ những thứ vụn vặt tôi góp nhặt trong cuộc sống, nhưng hình như tôi chưa từng một lần nghiêm túc viết về thơ, về việc viết thơ của tôi, một lần trải lòng dông dài về nó thật sự theo kiểu cách của tôi. Trước đây, tôi chỉ viết vài ba phiến đoạn lắn ngắn về thơ vào khoảng năm 2012 khi đang buồn tình. Không hẳn là bây giờ, tôi đã có thêm những suy nghĩ mới, nghiêm túc hơn về thơ so với hồi đó. Có lẽ, tư duy trong thơ tôi vẫn vậy. Chỉ là đột nhiên tôi muốn hồi tưởng lại mối quan hệ giữa tôi và thơ, những gì chúng tôi đã trải qua cùng nhau để suy nghĩ về tương lai. Nếu không viết ra thì tôi sẽ khó lòng hệ thống được những suy nghĩ trong đầu mình.

Hồi học cấp hai và cấp ba, đôi lúc tôi cảm thấy mình thích viết thơ còn hơn cả truyện ngắn hay tiểu thuyết. Với suy nghĩ trẻ con khi đó thì lí do chỉ đơn giản là vì thơ viết nhanh, dễ, thiên về cảm xúc hơn so với hai thứ kia: vừa mất thời gian hơn, vừa khó hơn, vừa dụng công và tính toán nhiều hơn. Tôi vẫn còn nhớ vào những năm cuối cấp hai, tôi mua một loạt tuyển tập thơ in thành cuốn nhỏ do nhà xuất bản Đồng Nai làm, với những nhà thơ Việt Nam chủ yếu từ phong trào Thơ Mới. Tôi đọc say sưa và có những bài thích quá, còn cố gắng lẩm nhẩm đọc nhiều lần để học thuộc, không hiểu sao khi ấy tôi rất thích việc có thể đọc làu làu những bài thơ mình thích cho người khác nghe, tôi cũng thích hình ảnh một người tri thức hễ đụng đến nhà thơ nào là đều có thể trích dẫn ra vài câu thơ của nhà thơ đó, tôi cho rằng việc ấy rất ngầu và muốn mình cũng làm được. Thời ấy, tôi vẫn còn sến súa (có lẽ bây giờ vẫn vậy) và hay mơ mộng yêu đương nên một trong những bài thơ mà tôi thích nhất lúc chuyển giao giữa học cấp hai và cấp ba là bài Em gần gũi, em xa xôi của Tế Hanh. Không hiểu sao tôi lại thấy rất đồng cảm khi đọc bài này, có lẽ vì khi ấy tôi yêu đơn phương nhiều quá chăng.

Vào năm cấp ba, không nhớ rõ là lớp 10 hay 11, tôi làm thơ liên tục, kiểu thơ tình con cóc nhảy ra nhảy vào mà đến bây giờ đọc lại, tôi vẫn còn thấy xấu hổ, chỉ muốn độn thổ, không hiểu sao lúc ấy mình lại có thể viết như thế. Chính vì là thơ tình (có lẽ không thể gọi là thơ) nên tôi viết rất nhanh, chỉ cần có cảm xúc thì ào ào mấy chục phút là xong. Khi ấy, tôi không hề biết đến việc gọt giũa câu chữ, chọn từ cho thật kĩ, hình ảnh cho thật đắt, tôi chỉ viết theo cảm xúc và khi đọc lại thì sửa sao cho nghe có tí vần điệu là được. Tôi vẫn còn nhớ mình lấy một xấp giấy khổ A4 có kẻ sẵn hàng ngang đã ố vàng được kế thừa từ hai bà chị để viết lên đó những bài thơ tình sến súa bằng chữ viết tay nguệch ngoạc xấu xí của mình. Tôi viết có lẽ cũng khoảng vài chục bài với xấp giấy đó. Không phải khi ấy tôi không biết gõ máy tính, sự thực thì tôi đã viết thơ trên máy tính được một khoảng thời gian trước đó, nhưng tự tôi cũng nhận thấy chúng thật sự dở. Rồi tôi nghe nói rằng quay về viết tay có khi sẽ viết hay hơn vì khi viết tay, bạn được kết nối trực tiếp với những gì bạn viết, con chữ không phải đột nhiên hiện lên như nhảy xổ vào bạn trên màn hình trắng với con chuột nhấp nháy đằng sau, tôi nhớ rằng có ai đó đã nói viết tay như một dòng chảy, bạn tạo ra một dòng chảy xuyên suốt từ não xuống bàn tay, xuống những đầu ngón tay cầm bút, xuống cây bút, xuống ngòi bút, xuống những dòng mực, và những dòng mực truyền xuống những trang giấy, miên man, bất tận không ngừng. Chính sự liên tục và kết nối mật thiết này sẽ khiến cho bạn có khả năng xuất thần hơn khi viết bằng tay so với đánh máy, bạn dễ nảy ra những ý tưởng táo bạo hơn vì dòng chảy mạnh mẽ đó đôi khi sẽ cuốn trôi bạn đến những bến bờ bạn không thể ngờ tới. Vân vân và mây mây. Vì những lập luận hết sức thuyết phục đó, tôi cũng thử thay đổi một phen, trong vòng một, hai tháng viết liền tù tì mấy chục bài thơ bằng tay lên giấy. Tôi cố gắng không đọc lại chúng quá nhiều khi vừa viết xong để giữ cho bản thân sự bất ngờ trong tương lai khi đọc lại lúc nhập liệu vào máy tính. Và khi nhận thấy đã viết đủ nhiều, tôi quyết định đánh máy lại. Khoảnh khắc đó, tôi nhận ra một sự thật chua chát: dù đã viết tay, thơ tôi dở vẫn hoàn dở; thậm chí, có vẻ như vì chữ viết tay của tôi xấu quá, tôi khiến chính tôi mất đi cảm hứng, những bài thơ viết tay dường như còn dở tệ hơn so với những bài thơ đánh máy. Tôi vốn ghét sự xấu xí và nguệch ngoạc, tôi thích sự cẩn thận, chỉn chu, tươm tất, vì thế tôi ghét chữ viết của chính mình bởi nó luôn chỉ ra điều ngược lại. Vừa viết và vừa liên tục nhìn thấy thứ mình ghét mỗi lúc một xuất hiện dày đặc thêm có lẽ là nguyên nhân khiến tôi cảm thấy thơ viết tay của mình dở hơn thơ đánh máy. Chưa kể, vấn đề còn nhọc nhằn hơn khi giờ đây tôi phải rị mọ đọc lại những dòng chữ xấu xí của mình, cố đoán già đoán non ở một số chỗ xem tôi đã viết gì, và rồi phải nhập lại những dòng thơ chính mình cũng không thấy có gì thú vị. Nhưng tôi không thể bỏ phứt nó đi luôn mà không nhập, với bản tính cố hữu là một người thích sưu tầm, nhặt nhạnh, thích giữ lại hơn là vứt đi, tôi vẫn cứ gõ lại những gì chính tôi cũng không thích lắm, nỗi thất vọng của tôi, sự kì vọng hoài công. Trải nghiệm không mấy vui vẻ đó khiến tôi quyết định sau này, tôi sẽ đánh máy trong hầu hết các trường hợp có thể nếu không bị bắt buộc phải viết tay. Với nét chữ xấu xí của mình, tôi vừa khiến cho việc viết tay dở hơn đánh máy, vừa khiến cho mình mất thời gian nhiều hơn khi phải gõ lại những gì mình đã viết. Đương nhiên, đó chỉ là sự bao biện của tôi: viết dở là viết dở, chẳng liên quan gì đến tay hay máy, vấn đề nằm ở tư duy và trải nghiệm đọc, sự chịu khó tìm tòi học hỏi – đó là tất cả những thứ tôi đã thiếu vào năm cấp ba (bây giờ, cũng không hẳn là tôi đã có vẹn toàn những phẩm tính này mọi lúc, mọi nơi).

Tôi vẫn còn nhớ vào năm cấp hai, khi tôi cố gắng viết truyện, cố gắng viết sao cho hay và hấp dẫn, đồng thời cũng cố gắng cải thiện điểm văn lẹt đẹt năm phẩy mấy ở trường để không bị khống chế học sinh giỏi thì tôi đã rất thất vọng khi hai bà chị - những độc giả duy nhất của tôi lúc đó bảo truyện tôi chán, còn điểm văn trong trường thì chính thức biến tôi thành học sinh khá dù điểm trung bình các môn cộng lại là trên tám phẩy. Mọi thứ dường như khựng lại, ở yên một chỗ, không sao tiến triển được. Chị ba khi ấy khuyên tôi: “Muốn viết hay, trước hết em cần phải đọc nhiều đã. Không cần phải cố gắng viết quá nhiều đâu, cứ đọc nhiều rồi tự dưng một lúc nào đó sẽ viết hay.” Tôi biết lời khuyên này cũng chí lí (sau này thì tôi nhận ra rằng nó quá chính xác, đến nỗi gần như một thứ chân lí), nhưng không hiểu sao đứa tôi lúc đó lại không chịu nghe theo. Tôi đã ham viết hơn ham đọc. Tôi nhớ ngày ấy mình có thích một ca sĩ nào đó, và người ấy có nói câu này (chẳng biết có phải là Đàm Vĩnh Hưng không): “Hát hay không bằng hay hát.” Thế là tôi cũng đem câu ấy áp dụng y hệt vào việc viết: “Viết hay không bằng hay viết.” Đó giống như câu thần chú của tôi mỗi lần tôi buồn vì bị điểm văn kém, mỗi lần tôi nản lòng không muốn viết truyện nữa khi về nhà sau những giờ học hay trong suốt ba tháng hè lủi thủi một mình. Tôi đã niệm câu thần chú đó để trấn an mình, để tiếp tục viết những câu chuyện cứ đè nén trong đầu, những câu chuyện mà tôi nghĩ mình không thể không viết ra (ngày nay, khi đọc lại những truyện tôi đã viết hồi cấp hai, cấp ba và thậm chí là cấp một, tôi cảm thấy rất xấu hổ, tôi sẽ chỉ giữ lại nó cho riêng mình như một tập album lưu lại những hình ảnh về đời sống văn chương đã xa xưa của tôi). Nhưng đương nhiên, kì tích không thể xảy ra ngay trong những năm cấp ba ấy chỉ vì tôi cố gắng viết nhiều, cứ cắm đầu cắm cổ mà viết trong khi chẳng chịu đọc gì, chất dinh dưỡng nạp vào không đủ thì những gì xuất ra làm sao thơm ngon được. Giá mà lúc ấy, tôi có thể thay câu: “Viết hay không bằng hay viết” thành “Viết hay không bằng hay đọc” sớm hơn. Vào những năm đại học, khi tôi cố gắng dành thời gian để đọc nhiều hơn, kiềm nén ham muốn viết thì khi viết trở lại, tôi thấy kết quả thay đổi rõ rệt. Sự thay đổi đó đến với tôi thật bất ngờ. Tôi bỏ viết hẳn năm đầu đại học chỉ để đọc, rồi khi so sánh những gì mình vừa viết với những gì đã viết một năm trước đó, tôi gần như không tin được là lối viết của mình đã thay đổi nhiều như thế. Tôi có cảm giác giống như một kì tích, giống như một năm đã qua không hề tồn tại, nó chỉ là cái chớp mắt, đêm trước tôi vẫn còn viết rất ngô nghê, ngủ một giấc tỉnh dậy và thử viết thì chợt nhận ra sự ngô nghê đó đã bớt đi chút ít, theo một cách không ngờ tới, tôi bỗng dưng biết được mình sẽ viết như thế nào, sắp xếp câu chữ ra sao. Nhưng dù có cảm giác như thế, tôi biết nó không phải là một kì tích, nó là sự hồi đáp của văn chương khi tôi bỏ ra đủ cố gắng cần phải có để bước qua giai đoạn mới. Tôi nhận ra rằng cũng giống như viết, khi bạn đọc, thời gian trôi qua rất nhanh. Việc đọc dường như vừa kéo dài vừa rút ngắn lại dòng thời gian tự nhiên.

Chuyện ít đọc tạo ra một cục diện dở tệ với tôi những năm trung học: viết văn trong trường điểm kém, viết truyện dở và đương nhiên là viết thơ cũng dở. Việc chỉ đọc những nhà thơ tình viết theo thể thơ tự do trong phong trào Thơ Mới khiến định nghĩa của tôi về thơ bị bó hẹp đi rất nhiều. Tôi không biết cách triển khai một bài thơ như thế nào ngoài việc dùng thật nhiều tính từ mĩ miều để miêu tả cảm xúc rồi cường điệu nó lên. Đương nhiên, đến ngày nay tôi vẫn không cho rằng phong cách của Thơ Mới là như vậy. Chỉ đơn giản là lúc đó tôi không biết làm một bài thơ cũng cần chút tư duy lí trí, một ý nghĩ làm nền để bài thơ có thể đứng vững – hoặc có thể thơ không cần đứng vững, nó có thể điên cuồng nghiêng ngả chuệch choạc như một người lướt khướt say nhưng lối viết của tôi luôn cần giữ lại chút tỉnh táo, tôi không thể hoàn toàn điên nên khi chỉ viết theo cảm xúc thuần nhất, thơ của tôi dễ bị rơi vào trạng thái sến một cách vô duyên. Vào năm đầu đại học, sau khi dành hẳn một năm đọc sách (chỉ truyện ngắn và tiểu thuyết), tôi gần như bỏ hẳn viết thơ trong ba năm: 2008, 2009, 2010. Đơn giản vì khi ấy, truyện ngắn và tiểu thuyết khiến tôi thích thú hơn, tôi vẫn không đọc thơ đủ nhiều để biết cách viết một bài thơ.

Tôi không muốn viết chi tiết về năm 2011 dù chính năm ấy đã tạo ra sự biến chuyển lớn trong cách suy nghĩ của tôi về thơ, là năm tôi đã viết ra được một số bài thơ dù chỉ đếm trên đầu ngón tay nhưng sau này tôi không có cảm giác xấu hổ khi đọc lại. Đó là năm tôi đã gặp em. Trước khi gặp em, như một cơ duyên, tôi đã đọc hết toàn bộ khoảng trăm bài thơ em viết được đăng trên mạng. Nếu không gặp em năm đó, tôi nghĩ mình đã bỏ hẳn thơ vì trong suốt ba năm chỉ tập trung vào truyện ngắn và tiểu thuyết, tôi nhận thấy thơ không thú vị bằng hai thứ kia bởi tôi vẫn không biết cách triển khai thơ khác đi. Tôi đã nghĩ thơ không thật sự phù hợp với nhịp sống và cách tư duy của tôi – đến bây giờ tôi vẫn cho là như vậy. Nhưng mùa hè năm ấy, em đã chỉ tôi lối để thỉnh thoảng bước vào thơ, nhìn ngắm khung cảnh đẹp đẽ nơi ấy bằng Wislawa Szymborska, Joseph Brodsky, Charles Bukowski… và bằng chính em. Bỗng dưng tôi biết cách viết một bài thơ như thế nào dù việc ấy chỉ xảy ra đôi khi.

Năm 2012 có lẽ là năm tôi đọc thơ nhiều nhất tính cả đến thời điểm hiện tại. Đó là lúc em đã bỏ đi. Sau những trận khóc vào sáng sớm khi vừa tỉnh dậy, sau những lần cầu nguyện được gặp em trong mơ mỗi tối trước khi ngủ, đến tháng chín năm ấy, tôi quyết định gạt đi những ủ rũ tiêu cực để tìm em trong thơ, bằng cách đọc thơ theo tên tác giả từ A – Z như em đã có lần nói rằng đó là cách em đọc. Tôi tìm em thật tích cực như thế cũng là để lần cuối cùng chia tay em thật tích cực trong tư tưởng. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ấy, tôi tranh thủ đọc thơ vào những buổi trưa tĩnh lặng khi đèn đã tắt, khi mọi người đã ngủ, một không khí không khác gì buổi đêm được tạo dựng trong phòng. Thơ với tôi là không khí của những buổi trưa ấy. Máy điều hòa chạy lặng lẽ, tĩnh tại và một ánh mắt dõi nhìn những dòng thơ. Thế giới rời rạc nhưng được kết nối. Và quả thực, khi đọc nhiều ta có thể viết nhiều. Đó là khoảng thời gian tôi đã làm được điều tưởng chừng không thể: viết ba mươi bài thơ trong vòng một tháng. Đến nay, vẫn chưa khi nào tôi viết được thơ nhiều như thế.

Trong một ngày tháng sáu năm 2018, tôi nằm trên băng ghế dựng tạm từ ba chiếc ghế rời, tắt hết đèn vào lúc năm rưỡi hơn, dõi mắt nhìn ra khung cửa với bầu trời xanh vương chút xám, tiếng mưa rơi xối xả bên ngoài làm âm thanh nền cho cảnh tượng ấy. Tôi suy nghĩ về thơ trong sự cô tịch bình yên đó. Thế giới như đang phân mảnh khi tôi nằm trên ba chiếc ghế rời, ngoài kia là tiếng mưa rơi. Bỗng nhiên tôi có cảm giác thơ chính là như thế, là cảnh tượng này, không gian này, thời gian này, là tôi đang nằm đây. Thơ là một dòng chảy kết nối tất cả sự rời rạc lại với nhau. Như căn phòng những buổi trưa ấy. Như căn phòng buổi chiều mưa này. Nhưng không phải theo phương pháp cơ học. Cũng không phải theo cơ cấu cắt ghép như một môn thủ công nào đó. Và khả thể mới do thơ tạo ra từ những mảnh vụn cũng không hề vững chãi và thực tế, cũng không có tham vọng vững chãi hay thậm chí là trường tồn. Nó chờ đợi để tiếp tục được phân mảnh và tạo ra những mối liên kết khác: như cách những hạt mưa rơi độc lập nhưng hòa quyện vào nhau, như những chiếc ghế tuy có vẻ là cố định nhưng vị trí của chúng chỉ là tạm bợ, người ta có thể dễ dàng dịch chuyển chúng đến bất cứ nơi đâu, kết hợp chúng với bất cứ thứ gì để tạo ra những ngữ cảnh mới, những cách hiểu mới cho một cái ghế. Thơ cũng giống như thế. Nó ở đó nhưng không ở đó. Người ta thường nói một nửa sự thật không phải là sự thật, một nửa tình yêu không phải là tình yêu. Nhưng với tôi, một nửa thơ thì vẫn là thơ. Bởi lẽ khác với những thứ kia – những thứ đòi hỏi một sự vẹn toàn thì mới đích thực là nó, thơ chối bỏ sự toàn bích như một thể thống nhất. Bạn chỉ có thể nắm một phần và rồi hình dung thể thống nhất của nó theo cách nghĩ của bạn. Hình dáng một bài thơ tùy biến trong đầu mỗi người theo cách như thế. Chính sự nửa vời ấy là vẻ đẹp của thơ. Vẻ đẹp của nỗi mơ hồ mênh mông xa vắng.

Trong buổi chiều mưa đơn độc tưởng chừng như vô tận ấy, khi nằm trên những chiếc ghế rời và ngước nhìn bầu trời xanh xám ngoài kia, tôi đã viết những dòng-có-lẽ-là-thơ này:

“tôi thu mình trong màu xanh ô cửa sổ
nằm trên ba chiếc ghế xếp cạnh nhau
giang sơn nhỏ hình thành khi ngoài kia
tiếng mưa rơi tựa sóng vỗ
căn phòng này sẽ trôi cùng tôi đến đâu
giữa thành phố mười triệu dân này”

Vũ Lập Nhật

Đọc bài viết

Cafe sáng