Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Trích đăng “Kẻ ly hương” – Viet Thanh Nguyen

Trở thành một người tị nạn là biết chắc chắn rằng quá khứ không chỉ được đánh dấu bởi quãng thời gian đã trôi qua, mà còn bởi sự mất mát – mất mát những người thân yêu, quê cha đất tổ, bản sắc, bản ngã.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Kẻ ly hương

Tác giả: Viet Thanh Nguyen

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 11.2019

Lời giới thiệu

NGUYỄN THANH VIỆT

Tôi đã từng là người tị nạn, mặc dù bây giờ chắc không ai còn nhìn lầm tôi với một nạn dân nữa. Chính vì lẽ này, tôi cứ nhất quyết muốn được gọi là một nạn dân, vì nỗi cám dỗ để giả vờ rằng mình chưa từng bao giờ là một người tị nạn thật là mãnh liệt. Sẽ thật dễ dàng hơn nếu tôi tự gọi mình là người nhập cư, vờ như mình thuộc về một kiểu nhân loại du cư rày đây mai đó vốn ít gây tranh cãi hơn, ít rầy rà hơn, và ít dọa dẫm hơn những người tị nạn.

Tôi chào đời như một công dân và như một con người. Năm lên bốn tuổi tôi đã trở thành một cái gì đó thấp kém hơn con người, ít ra trong mắt những kẻ không nghĩ về các nạn dân như là con người. Giờ đây khi nhìn lại, tôi chẳng nhớ gì về trải nghiệm đã biến tôi thành một người tị nạn. Nó bắt đầu với việc mẹ tôi đã tự mình ra một quyết định sinh tử. Ba tôi bấy giờ đang ở Sài Gòn, và mọi đường dây liên lạc đã bị cắt đứt. Tôi không nhớ việc mẹ tôi đã chạy trốn khỏi quê nhà với anh trai mười tuổi của tôi và tôi, để lại phía sau người chị nuôi mới mười sáu tuổi của chúng tôi để trông coi sản nghiệp gia đình. Tôi không nhớ chị tôi, người mà ba mẹ tôi sẽ không được gặp lại trong gần hai mươi năm trời, người mà tôi sẽ không còn gặp lại trong gần ba mươi năm.

Anh trai tôi nhớ những xác lính dù treo lủng lẳng trên cây trong hành trình trốn chạy của chúng tôi, mặc dù tôi không nhớ gì về chuyện đó. Tôi cũng không nhớ liệu mình có đi bộ hết một trăm tám mươi tư cây số tới Nha Trang, hay mẹ tôi có bồng tôi không, hay chúng tôi có xoay xở leo lên được một trong những chiếc xe hơi, xe tải, xe ngựa, xe bò, xe mô tô, và xe đạp nằm ngổn ngang la liệt trên đường không. Có lẽ mẹ tôi nhớ nhưng tôi chưa bao giờ hỏi về cuộc di tản thảm khốc đó, hoặc về mười ngàn nạn dân và binh lính đang táo tác tháo chạy, hay cuộc tranh cướp tuyệt vọng để lên được một chiếc thuyền ở Nha Trang, hay vụ vài binh lính nổ súng vào thường dân để mở đường chạy lên thuyền, như về sau tôi đọc được trong những ghi chép về thời kỳ này.

Tôi không nhớ việc đã tìm gặp ba ở Sài Gòn, hoặc chúng tôi đã nơm nớp suốt một tháng chờ đợi ngày quân đội Cộng sản tiến đến rìa thành phố ra sao, hoặc chúng tôi đã xoay xở mọi cách để đến phi trường, rồi đến Đại sứ quán Mỹ, và cuối cùng đã bằng cách nào chen lấn qua những đám đông tại bến tàu để tìm tới một con thuyền, hoặc việc ba tôi đã bị thất lạc với chúng tôi nhưng vẫn quyết định tự mình lên một chiếc thuyền dù sao mặc lòng, và việc mẹ tôi đã quyết định một điều tương tự, hoặc làm thế nào chúng tôi đã cuối cùng tái hợp trên một con tàu lớn hơn. Tôi nhớ rằng chúng tôi đã gặp may mắn một cách khó tin, tìm được đường rời khỏi đất nước, khi mà nhiều triệu người không thể, và không lạc mất một ai, khi mà nhiều ngàn người đã bị như vậy. Không ai cả, ngoại trừ chị tôi.

Trong hầu hết quãng đời đã qua của mình, tôi đều nhớ chuyện những binh lính trên thuyền chúng tôi nổ súng vào một chiếc thuyền nhỏ hơn chứa đầy người tị nạn đang cố sấn lại gần. Nhưng khi tôi nhắc chuyện đó với anh trai nhiều năm sau, anh nói rằng không bao giờ có việc nổ súng cả.

Tôi không nhớ rất nhiều chuyện, và tôi lấy làm biết ơn vì điều ấy, bởi lẽ những chuyện tôi nhớ được đã đủ làm tôi tổn thương lắm rồi. Ký ức của tôi bắt đầu sau những lần dừng chân của chúng tôi tại một chuỗi các căn cứ quân sự của Mỹ ở Philippines, đảo Guam, và sau cùng là Pennsylvania. Để được rời trại tị nạn ở Pennsylvania, những người Việt tị nạn cần những người Mỹ đỡ đầu. Một người đỡ đầu đã nhận bảo trợ ba mẹ tôi, một người khác nhận nuôi anh tôi, một người khác nữa nuôi tôi. Trong hầu hết cuộc đời mình, tôi đã cố không nhớ về thời khắc này ngoại trừ ghi nhận nó như một sự kiện hiển nhiên, như một chuyện đã xảy ra với chúng tôi nhưng không để lại thiệt hại nào cả, nhưng sự thật không phải vậy. Là một nhà văn và cha của một bé trai bốn tuổi, cùng độ tuổi mà tôi đã trở thành người tị nạn, tôi phải nhớ, hoặc đôi khi tưởng tượng, không chỉ những gì đã xảy ra, mà cả cảm giác đã được trải nghiệm. Tôi phải hình dung đến tình cảnh của một người cha và một người mẹ có những đứa con bị bắt khỏi vòng tay mình. Tôi phải tưởng tượng cảm nhận của mình lúc bấy giờ, mặc dù tôi nhớ đến việc đã bị người cha đỡ đầu bắt đưa đi thăm cha mẹ tôi và khóc thét mỗi khi chia tay ra về.

Tôi nhớ đến cảnh sum họp với cha mẹ sau vài tháng và tuyết và sự giá lạnh và việc mẹ tôi biến mất khỏi cuộc đời chúng tôi trong một quãng thời gian tôi không thể nhớ và vì những lý do tôi không thể hiểu, và với một nhận biết mơ hồ rằng nó có gì đó liên quan tới vết thương nhói lòng của một người mất nước, mất gia đình, của cải, sự an toàn, và có lẽ cả chính bản thân mình. Nhớ lại điều này, tôi biết rằng tôi cũng đang tiên báo một thứ tương lai u ám nhất có thể, về những gì sẽ xảy đến với mẹ trong nhiều thập kỷ sắp tới. Mặc cho sự vắng mặt ngắn ngủi, hoặc có lẽ là rất lâu của mẹ, tôi nhớ mình đã tận hưởng cuộc sống ở Harrisburg, Pennsylvania, vì trẻ con có thể vui thú với những thứ mà người lớn không thể miễn là chúng có thể nô đùa, và tôi nhớ về chiếc ghế tràng kỷ nằm ở sân sau và những đứa trẻ hàng xóm lấy trộm kẹo Halloween của chúng tôi và anh trai đã giận dữ dắt tôi về nhà trước khi tự mình đánh bạo đi lấy lại những thứ đã mất.

Tôi nhớ việc di chuyển tới San Jose, California, vào năm 1978 và cha mẹ tôi mở một cửa hàng tạp hóa Việt thứ hai trong thành phố và tôi nhớ cuộc gọi vào ngày lễ Giáng Sinh mà anh tôi nhận được, báo cho anh biết rằng cha mẹ tôi đã bị bắn trong một vụ cướp có vũ trang, và tôi nhớ sự tình không đến nỗi tồi tệ lắm, chỉ là những vết thương phần mềm, họ đã trở lại làm việc không lâu sau đó, và tôi nhớ rằng những người duy nhất muốn mở cửa hàng trong khu buôn bán xập xệ San Jose là những người Việt tị nạn, và tôi nhớ đã bước xuống đường phố từ cửa hàng của ba mẹ tôi và trông thấy tấm bảng trên một tủ kính bày hàng ghi MỘT NGƯỜI MỸ NỮA ĐÃ SẬP TIỆM VÌ NGƯỜI VIỆT NAM, và tôi nhớ một tên găng-xtơ lẽo đẽo theo chúng tôi về đến nhà và gõ cửa và vung vẩy khẩu súng vào mặt tất cả chúng tôi và mẹ đã cứu chúng tôi với việc chạy vụt qua mặt y và lao ra ngoài vệ đường, nhưng tôi không nhớ chuyện hai cảnh sát bị bắn chết trước cửa tiệm của cha mẹ chúng tôi vì bấy giờ tôi đã đi học đại học xa nhà và cha mẹ tôi không muốn gọi điện làm tôi lo lắng.

Tôi nhớ tất cả những điều này vì nếu tôi không nhớ và viết chúng ra ắt có lẽ tất cả chúng sẽ tan biến vào hư vô, cũng như tất cả những cửa hàng Việt Nam đã biến mất, vì sau khi họ đã giúp hồi sinh khu buôn bán mà chẳng ai buồn đầu tư vào, thành phố San Jose nhận ra rằng khu buôn bán ấy còn có thể tốt hơn thế nhiều bèn bắt buộc tất cả chủ cửa hàng bán lại mọi sản nghiệp của họ và nếu bạn ghé thăm khu thương mại San Jose ngày nay bạn sẽ nhìn thấy một tòa thị chính khổng lồ, lấp lánh, mới tinh biểu trưng cho sự thịnh vượng của Thung lũng Silicon chỉ vừa vặn bắt đầu tồn tại năm 1978 nhưng bạn sẽ không thấy cửa tiệm của ba mẹ tôi vốn nằm bên kia đường đối diện tòa thị chính mới. Cái bạn sẽ thấy thay vì vậy là một bãi đỗ xe với vài chiếc xe hơi ở đó vì hội đồng thành phố nghĩ rằng quang cảnh một bãi đỗ xe trống trơn nhìn từ những cửa sổ và phòng giải lao của tòa thị chính hấp dẫn hơn quang cảnh một tiệm tạp hóa gia đình của người Việt phục vụ những người tị nạn.

Là những nạn dân không chỉ một mà đến hai lần, từ miền Bắc chạy vào miền Nam năm 1954 khi quốc gia bị chia đôi, cha mẹ tôi đã trải nghiệm một tình thế lưỡng phân đau đớn thường thấy của một người bị coi là kẻ xa lạ. Kẻ khác lạ tồn tại trong sự mâu thuẫn, hoặc có lẽ trong sự nghịch lý, hoặc như một thứ người vô hình, hoặc bị săm soi tận chân tơ kẽ tóc, nhưng hiếm khi được nhìn nhận một cách đàng hoàng tử tế. Trong hầu hết thời gian chúng ta không thấy kẻ khác hoặc là nhìn xuyên qua họ, bất kể kẻ khác ấy là ai với chúng ta, vì mỗi chúng ta – ngay cho dù bị một số người coi là kẻ khác lạ – vẫn có những kẻ khác lạ của riêng mình. Khi chúng ta nhìn kẻ khác lạ, kẻ khác lạ ấy không thật sự là con người đối với chúng ta, bởi cùng cách thức chúng ta định nghĩa về kẻ khác lạ, mà thay vào đó là một ấn tượng bất di bất dịch, một trò đùa, hay một nỗi ghê sợ. Trong trường hợp của người Việt tị nạn ở Mỹ, chúng tôi hiện thân cho bóng ma Á châu đến để phục vụ hoặc để đe dọa.

Vô hình và hiện diện mọi lúc khắp nơi, những người tị nạn bị thờ ơ và quên lãng bởi những người không phải người tị nạn cho đến khi họ biến thành một mối đe dọa. Những người tị nạn, như tất cả những người khác, bị coi là vô hình cho đến khi họ bị nhìn thấy ở khắp nơi, đe dọa tràn vào biên giới của chúng ta, xâm lấn văn hóa chúng ta, cưỡng hiếp phụ nữ chúng ta, dọa nạt con cái chúng ta, hủy hoại nền kinh tế chúng ta. Chúng ta những người làm ngơ và lãng quên thường không nhận thức đó là hành xử thô bạo, vì chúng ta không biết mình đang làm điều đó. Nhưng đôi khi chúng ta cố tình thờ ơ và lãng quên người khác. Khi chúng ta làm vậy, chúng ta chắc chắn ý thức rằng chúng ta đang gây tổn thương, đang hành xử thô bạo, dù đó là ở trên sân trường khi còn là những đứa trẻ hay là trên bình diện quốc gia. Khi những kẻ khác lạ này chống trả vì nhu cầu được nhìn thấy và nghe thấy – như những người tị nạn đôi khi làm – họ có thể trông giống như những bóng ma hăm dọa mà số phận của họ chính chúng ta đã gây ra và đã phủ nhận. Vậy thì chẳng có gì là lạ khi chúng ta không muốn thấy họ.

Khi tôi nói chúng ta, tôi muốn kể cả những người từng là những nạn dân. Có một vài cựu nạn dân đang cảm thấy yên ổn thoải mái trong sự vô hình của họ, trong sự an toàn với tư cách công dân mới của họ, vốn nhìn những người tị nạn hiện diện khắp nơi như những mối đe dọa và nói, “Đủ rồi.” Những cựu nạn dân này nghĩ rằng họ là những người tị nạn tốt, những người tị nạn đặc biệt, trong khi rất có thể họ chỉ đơn giản là những người may mắn, những người tị nạn có số phận tương hợp với bối cảnh chính trị của đất nước tiếp nhận họ. Những người Việt tị nạn đến Mỹ đã may mắn nhận được thiện tâm phát sinh từ một nước Mỹ mang nặng mặc cảm tội lỗi về cuộc chiến, và còn từ nỗi khao khát của một nước Mỹ muốn chứng tỏ rằng quốc gia tư bản chủ nghĩa và dân chủ tốt hơn nhiều so với quốc gia cộng sản chủ nghĩa mới thành hình mà những nạn dân đang sống chết tháo chạy. Những người tị nạn Cuba trong thập niên 1970 và 1980 được hưởng lợi từ một bối cảnh chính trị Mỹ tương tự, nhưng những nạn dân Haiti trong thời của mình thì không. Màu da đen của họ đã ngăn trở họ, cũng như việc là người Hồi giáo làm tổn thương nhiều nạn dân Syria ngày nay khi họ tìm kiếm nơi lánh nạn vậy.

Từ mọi điều tôi nhớ và mọi điều tôi không nhớ, tôi tin vào sự tương đồng về số phận con người giữa tôi và những nạn dân Syria và với 65,6 triệu người mà Liên Hiệp Quốc định nghĩa là người lưu vong. Trong số đó, 40,3 triệu là những người mất nhà mất cửa, lưu lạc tha hương ngay trong xứ sở; 22,5 triệu là những nạn dân phải trốn chạy liên miên trong đất nước mình; 2,8 triệu là những người tìm kiếm nơi lánh nạn. Nếu 65,6 triệu người này có quốc gia, quốc gia của họ sẽ lớn thứ hai mươi mốt thế giới, nhỏ hơn Thái Lan nhưng lớn hơn Pháp. Ấy vậy mà, họ không có một xứ sở cho riêng mình. Thay vì vậy, họ – để mượn cách diễn giải của sử gia nghệ thuật Robert Storr, người đang viết về vai trò của những người Việt Nam trong tâm thức nước Mỹ – là những kẻ phiêu bạt vô sở trú của lương tâm thế giới.

Những kẻ tha hương này hầu hết không được hoan nghênh ở nơi từ đó họ trốn chạy; không được hoan nghênh nơi họ đang ở, trong những trại tị nạn; và không được hoan nghênh nơi họ muốn đến. Họ đã phải chạy trốn dưới những điều kiện hết sức nghiệt ngã; họ mất hết thân bằng, quyến thuộc, nhà cửa, quê hương; họ bị giam cầm trong những trại tị nạn với những điều kiện dưới mức con người, không một kết cục rõ ràng về nơi lưu trú, và không một lối thoát dứt khoát nào; họ thường bị đe dọa trục xuất về bản thổ; và rất nhiều khả năng họ sẽ bị lãng quên, vốn là chỗ mà công việc của các nhà văn trở nên quan trọng, nhất là những nhà văn là người tị nạn hoặc từng là người tị nạn – nếu có thể vạch ra một sự khác biệt như vậy.

Liên Hiệp Quốc nói rằng người tị nạn sẽ thôi là người tị nạn nếu họ tìm được một ngôi nhà mới và cố định. Đã rất lâu kể từ khi tôi còn là một người tị nạn theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: “người bị buộc trốn chạy khỏi quê hương vì lý do bị bức hại, chiến tranh, hay bạo lực.” Nhưng tôi vẫn khắc sâu trong lòng mình những ký ức vỡ vụn của việc chính mình là một nạn dân, vì nơi mà một nhà văn nên đặt chân đến là nơi khổ đau mất mát, và vì một nhà văn cần phải biết đến cái cảm nhận của một kẻ xa lạ lạc lõng là như thế nào. Công việc của một nhà văn là bất khả nếu ông ta hay bà ta không thể khơi gợi trong tâm tưởng độc giả những thân phận con người, và chỉ thông qua những hành động ghi nhớ, tưởng tượng, và cảm thông như thế chúng ta mới có thể làm lớn lên trong chính mình khả năng cảm nhận người khác.

Nhiều nhà văn, có lẽ hầu hết nhà văn hay thậm chí là tất cả các nhà văn, là những người không cảm thấy hoàn toàn thoải mái yên ổn. Họ thường khi là những kẻ lạc lõng, những kẻ ly hương thất tán về mặt cảm xúc hoặc tinh thần hoặc xã hội ở mức độ này hay mức độ khác, vào lúc này hay lúc khác. Hay có lẽ chỉ riêng tôi cảm nhận như vậy chăng. Nhưng tôi không thể không nghi ngờ rằng chính là vì trạng huống lưu vong đày ải này mà các nhà văn bắt đầu hiện hữu, và chính đây là lý do nhiều nhà văn có mối đồng cảm và thông hiểu đến vậy với những kẻ ly hương thất tán cách này hay cách khác, dù đó là một kẻ thất cơ lỡ vận trong xã hội hay là cả một làn sóng hàng triệu con người vô gia cư gây ra bởi những thế lực ngoài tầm kiểm soát của họ. Trong trường hợp của tôi, tôi nhớ rõ thân phận lưu vong của mình đến nỗi mà giờ đây tôi có thể cảm nhận nguyên vẹn cảm giác của những phận đời ly hương. Tôi ghi nhớ nỗi bất công của cuộc sống lưu vong đến độ tôi có thể hình dung tác phẩm của tôi như một nỗ lực thực thi phần nào công lý cho những người bị bức bách ra đi. Điều không công bằng với những cuộc đời tị nạn, những con người vô tổ quốc, những kẻ tìm nơi nương náu, những kẻ không còn có mái nhà để về là gì đây? Khi nói tới công bằng, điều quan trọng không phải là liệu người dân ở đất nước cưu mang có nghĩ rằng họ không có nghĩa vụ hay nợ nần gì với các nạn dân hay là ngược lại. Giam giữ con người trong trại tập trung là trừng phạt họ khi mà họ không phạm một tội nào ngoài việc cố gắng cứu lấy sinh mệnh của chính mình và của người thân. Trại tị nạn là một người anh em họ hàng bất nhân đồng hạng với trại giam, trại tập trung, trại tử thần. Trại là nơi để chúng ta giam giữ những kẻ chúng ta không coi là con người hoàn toàn, và nếu chúng ta không chủ tâm tìm cách đưa họ đến chỗ chết trong hầu hết trường hợp, chúng ta cũng thường không tích cực tìm cách trả lại cho họ cuộc sống mà họ đã có trước kia, cuộc sống mà chúng ta đang có.

Chúng ta nên nhớ rằng công lý không giống như luật pháp. Nhiều điều luật nói rằng biên giới là bất khả xâm phạm, và rằng vượt biên trái phép là tội hình sự. Những người nhập cư trái phép vì lẽ ấy là những tội phạm và trại tị nạn là một thứ nhà tù. Nhưng nếu những đường biên giới là hợp pháp, liệu chúng cũng có công bằng chăng? Những khái niệm của chúng ta về biên giới đã thay đổi qua nhiều thế kỷ, cũng như những quan niệm về công lý và lòng nhân đạo của chúng ta vậy. Ngày nay chúng ta thường có thể di chuyển tự do giữa các thành phố trong một đất nước, ngay cho dù những thành phố ấy đã từng là những thực thể với những đường biên giới riêng của chúng và đã từng đánh nhau sứt đầu mẻ trán. Giờ đây chúng ta hãy quay nhìn lại thời kỳ của những thành bang – nếu chúng ta còn nhớ về chúng – và tôi ngờ rằng sẽ chẳng mấy ai trong chúng ta có mong muốn trở lại một điều kiện sống như thế.

Cũng vậy, chúng ta nên nhìn vào hiện trạng của những biên giới quốc gia và chúng ta nên hình dung về một thế giới công bình hơn nơi những ranh giới này là những cột mốc biểu thị văn hóa và bản sắc, quan trọng nhưng dễ dàng vượt qua, thay vì những biên giới pháp lý bày đặt ra để khoác lên bản sắc quốc gia chúng ta một diện mạo nghiệt ngã, sẵn sàng gây hấn và chiến tranh, chia rẽ chúng ta với những người khác. Sự tan rã của những biên giới là viễn kiến về một thế giới chủ nghĩa không tưởng, về nền hòa bình toàn cầu và một nơi chốn toàn cầu nơi không ai phải sống lưu vong, về nhân loại như một cộng đồng toàn cầu vốn cho phép những dị biệt văn hóa nhưng không phải loại dị biệt dẫn chúng ta đến chỗ áp bức, trừng phạt, hoặc giết chóc. Làm cho những đường biên giới trở nên dễ vượt qua, ấy là chúng ta đang đưa chúng ta lại gần hơn với người khác, và đưa người khác lại gần chúng ta hơn. Tôi thấy phấn chấn với một viễn cảnh như thế, nhưng vài người nhận thấy sự gần gũi này là điều vô cùng gây kinh hãi.

Nếu chưa thành tựu được cộng đồng toàn cầu này, ấy không phải tại vì đó là một giấc mơ hoàn toàn không tưởng, một cõi trời hư vô không được vẽ ra bởi bất kỳ biên giới nào. Có những thời khắc trong lịch sử nhân loại – và nhiều lần trong những tác phẩm văn học và văn hóa dân gian và thần học của mình – chúng ta đã đạt đến cảnh giới cao thượng nhất của phẩm cách trong khả năng mở lòng với tha nhân, cho kẻ đói ăn, cho kẻ rách rưới áo mặc, cho khách trọ nhà. Đây là điều chúng ta cần ghi nhớ khi chúng ta ấp ủ hy vọng và ra sức vì một tương lai, nơi mà thứ quan trọng không phải là biên cương, mà là con người. Đây là loại ký ức, ký ức về lòng nhân đạo của chúng ta, và sự bất nhân của chúng ta, mà các nhà văn có thể khơi dậy.

Chúng ta cần những câu chuyện để biểu đạt viễn kiến của một nhà văn, nhưng đồng thời để có thể thốt lên tiếng lòng của những người phải biền biệt câm nín. Nỗi khao khát lắng nghe sự câm lặng vô thanh này là một phép tu từ mãnh liệt đồng thời ẩn tàng nguy hiểm nếu nó ngăn chúng ta làm nhiều hơn là chỉ lắng nghe một câu chuyện hay đọc một quyển sách. Chỉ vì chúng ta đã nghe câu chuyện đó hay đọc quyển sách đó không có nghĩa đã có bất kỳ thay đổi gì cho những kẻ câm lặng. Những độc giả và nhà văn không nên tự đánh lừa mình rằng văn chương có thể thay đổi thế giới. Văn chương thay đổi thế giới của các độc giả và nhà văn, nhưng văn chương không thay đổi thế giới cho đến khi người ta nhảy ra khỏi ghế bành, lăn xả vào cuộc đời, và làm điều gì đó để đổi thay những tình cảnh mà văn chương đã nói lên. Bằng không văn chương sẽ chỉ là một vật thờ lố lăng đối với các độc giả và nhà văn, cho phép họ nghĩ rằng họ đang lắng nghe những kẻ câm lặng, trong khi thật ra họ chỉ đang nghe tiếng nói cá nhân của nhà văn mà thôi.

Vấn đề ở đây là những người mà chúng ta gọi là câm lặng thường khi không thật sự câm lặng. Nhiều người câm lặng thật ra đang luôn luôn giãi bày. Họ nói rất to, nếu bạn đến đủ gần để nghe họ, nếu bạn có khả năng lắng nghe, nếu bạn ý thức về những gì bạn không thể nghe. Vấn đề là phần lớn thế giới không muốn lắng nghe những kẻ câm lặng hoặc không thể nghe họ. Sự công bình chân chính là tạo ra một thế giới của những cơ hội xã hội, kinh tế, văn hóa, và chính trị vốn sẽ cho phép tất cả những con người câm nín này kể lại câu chuyện của họ và được nghe thấy, thay vì lệ thuộc vào một nhà văn hay một kiểu người đại diện nào đó. Không có sự công bình như thế, sẽ không bao giờ có hồi kết cho những làn sóng người lưu vong, cho việc tạo ra những con người càng câm lặng hơn nữa, hoặc, chính xác hơn, cho sự câm lặng khôn cùng của hàng triệu tiếng nói. Sự công bình chân chính sẽ là khi chúng ta không còn cần một tiếng nói cho những ai câm nín nữa.

Trong khi chờ đợi, chúng ta có quyển sách với những tiếng nói vang vọng mãnh liệt này, từ những cây bút vốn dĩ là những người tị nạn. Joseph Azam, đến từ Afghanistan, kể về quá trình tự chuyển biến dài lâu rốt cuộc đã dẫn tới việc tỉa tót cái tên cúng cơm của mình theo một hơi hướng rất Mỹ. David Bezmozgis, đến từ Liên bang Xô Viết, định cư ở Canada, nơi anh mô tả quá trình vun đắp mối tình đoàn kết thầm lặng với một người tị nạn mới đang cố gắng xin phép được ở lại. Fatima Bhutto, chào đời ở Afghanistan, có cha là một người Pakistan xuất thân từ một gia thế có bề dày làm chính trị, đã tự mình kinh qua những trải nghiệm của một nạn dân trong phiên bản thực tại ảo, và bất ngờ bị xúc động mãnh liệt. Bùi Thi, người trốn chạy cuộc chiến tranh Việt Nam để đến Hoa Kỳ, đã suy ngẫm về hành trang và những mảnh vỡ rời rạc của cuộc đời tị nạn qua những bức tranh được khắc họa sắc nét. Ariel Dorfman rời Chile và định cư ở Bắc Carolina, nơi ông bài xích đường lối chính trị của Donald Trump và tìm thấy hy vọng trong một siêu thị liên Mỹ La-tinh. Reyna Grande, người đến Mỹ như một người nhập cư không giấy tờ từ Mexico, đã nêu ra những câu hỏi quyết liệt về vấn đề định nghĩa: Điều gì làm cho anh trở thành người tị nạn thay vì người nhập cư?

Lev Golinkin, một người Liên Xô gốc Do Thái qua bao gian khổ đã tị nạn được ở Vienna, đã mô tả cuộc gắng sức triền miên tháng ngày để giữ lại được nhân tính khi trải nghiệm tị nạn hóa thành một bóng ma ghê khiếp. Meron Hadero, người đã đến Đức từ Ethiopia khi còn đỏ hỏn, quay trở lại Đức khi trưởng thành để tìm lại những trải nghiệm của phận đời lưu vong và nhập cư mà cô không còn nhớ.

Aleksandar Hemon, một người Chicago đến từ Bosnia, kể lại những trải nghiệm như nhân vật Candide của một đồng hương người Bosnia đã phải sống một cuộc đời quá đỗi bi tráng nhưng khôn cùng bất hạnh. Joseph một người tị nạn gốc Do Thái đến từ Hungary, miêu tả vị thế độc nhất vô nhị của Canada như một xứ sở dành cho những người ngoại cuộc, sau Mỹ, nhưng không hoàn toàn giống Mỹ (trong ý nghĩa tích cực). Porochista Khakpour cung cấp một tự truyện chân thực về cuộc hành trình của cô từ Iran đến Mỹ, bao gồm thân phận bấp bênh của cô với tư cách người Hồi giáo, người da nâu, và người Mỹ trong thời chiến. Marina Lewycka, sinh ra bởi một cặp vợ chồng người Ukrainia trong một trại “lưu vong”, định cư ở Anh với một căn cước Anh đàng hoàng tử tế – cho đến khi tâm cảm bài xích người nhập cư ngày một dâng cao khiến cô hoài nghi căn cước ấy. Maaza Mengiste, một nhà văn Mỹ đến từ Ethiopia, lần nọ trong một quán cà-phê Ý quan sát thấy hình ảnh khổ sở tàn tạ của một thanh niên da đen nhập cư, và cảm nhận nỗi đau của sự gắn bó giữa cô với anh ta và với nhiều người bị bức bách tha hương khác.

Dina Nayeri, sinh ra ở Iran, lớn lên ở Mỹ, và hiện là một cư dân Anh quốc, đã thách thức cái ý niệm rất phổ biến rằng những người tị nạn phải biết ơn bằng việc cho thấy lòng biết ơn là một cái bẫy như thế nào. Trần Vũ, một người Việt tị nạn đã đến Oklahoma, đưa ra một bảng phân loại nhiều lốt vỏ của người tị nạn: trẻ mồ côi, diễn viên, bóng ma. Novuyo Rosa Tshuma, có gia đình đã rời Zimbabwe để đặt chân đến một Nam Phi vừa hiếu khách vừa thù địch, mô tả nỗi sợ bị bức hại của người tị nạn như là nguồn cơn của nỗi khao khát tỏ ra khác thường, và vì lẽ ấy được chấp nhận. Kao Kalia Yang, một người tị nạn gốc Hmong đã cùng với gia đình đến Minnesota từ Lào, mãi ám ảnh với ký ức về những trẻ em tị nạn trong trại của cô đã vật lộn và chiến đấu để sinh tồn như thế nào.

Tất cả những nhà văn này chắc chắn đã viện đến những ký ức về quá khứ của chính họ và gia đình họ. Trở thành một người tị nạn là biết chắc chắn rằng quá khứ không chỉ được đánh dấu bởi quãng thời gian đã trôi qua, mà còn bởi sự mất mát – mất mát những người thân yêu, quê cha đất tổ, bản sắc, bản ngã. Chúng tôi muốn giãi bày tất cả những nỗi mất mát đau thương mà lẽ ra hãy còn chưa được nghe thấy ngoại trừ bởi chúng ta và những ai gần gụi và thân thương với chúng ta. Trong trường hợp của tôi, tôi nhớ đến những mất mát của cha mẹ tôi, và tôi nhớ giọng nói của họ. Tôi nhớ giọng nói của tất cả những người Việt tị nạn mà tôi đã gặp trong thời tuổi trẻ, khản cổ vì phải nhiều lần kể đi kể lại câu chuyện của mình. Nhưng tôi không nhớ giọng chị tôi. Tôi không nhớ giọng nói của tất cả những nạn dân đã chia sẻ cuộc di cư bi thảm với tôi và không đến được bến bờ, hoặc không sống sót. Nhưng tôi có thể hình dung về họ, và nếu tôi có thể hình dung về họ, ắt tôi cũng có thể nghe thấy họ. Đó là giấc mộng của nhà văn, rằng chỉ cần chúng tôi có thể nghe thấy những con người mà không ai khác muốn nghe này, ắt là chúng tôi cũng có thể khiến cho bạn nghe thấy họ.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.


Trích đăng

Một câu chuyện đầy cảm hứng về nghề tay trái hái ra tiền

Chris Guillebeau, qua giọng kể thu hút và một câu chuyện lôi cuốn pha lẫn hài hước, đã truyền tải thông điệp chính: Cơ hội kiếm tiền ở khắp mọi nơi. Bạn chỉ cần học cách nhìn ra chúng.

Published

on

By

Trích từ: Cây tiền
Tác giả: Chris Guillebeau
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 4.2021

Cây tiền được viết bởi tác giả best-seller của The New York Times – Chris Guillebeau, dùng giọng kể thu hút và một câu chuyện lôi cuốn pha lẫn hài hước để truyền tải thông điệp chính: Cơ hội kiếm tiền ở khắp mọi nơi. Bạn chỉ cần học cách nhìn ra chúng.

Sách kể câu chuyện về Jake Aarons – chàng trai trẻ đang bị khủng hoảng, cả trong đời sống tài chính lẫn tình cảm. Anh sẽ bị tống khỏi căn hộ đang thuê trong 30 ngày tới. Giữa tình cảnh ngặt nghèo, Jake tham gia một nhóm hành động gặp gỡ hàng tuần. Mỗi thành viên nhóm có nhiệm vụ chạy một mô hình kinh doanh ngoài công việc chính để kiếm thêm thu nhập, với điều kiện: chi càng ít vốn càng tốt trước khi mô hình kiếm được tiền.

Trong vòng một tuần, Jake đã vật lộn học cách kiếm 1000 USD, với sự giúp đỡ tận tình của các thành viên khác. Nhờ lòng kiên trì, nhẫn nại và ham học hỏi, Jake đã tích lũy được nhiều kỹ năng quan trọng và kiểm soát thành công cuộc sống của mình.

Mượn câu chuyện của Jake, quyển sách nêu lên những bài học hay, hữu hiệu trong kĩ năng quản lý tài chính thời hiện đại. Trong khi nhiều cuốn sách cùng thể loại gạch ra những đầu dòng “how to”, lời khuyên và các bước hướng dẫn hành động, Cây tiền khéo léo đi theo một hướng khác và không trùng lập với những tác phẩm bàn về tài chính hiện hành.

"Chris Guillebeau luôn là một trong những bộ óc truyền cảm hứng kinh doanh mạnh mẽ nhất - cung cấp cho chúng ta nhiều điều bổ ích, từ cẩm nang du lịch thế giới đến xây dựng cuộc sống thú vị. Giờ đây, với Cây Tiền, anh cho thấy mình cũng là bậc thầy kể chuyện. Nếu bạn đang mong mỏi làm việc để kiếm sống và phát triển sự nghiệp, đây là một cuốn sách đáng đọc."

*

HỒI 1

Này Jake, đang nghĩ đi đâu đấy? Anh còn nghe chứ?” Trong tâm trí, Jake Aarons cảm thấy mình hoàn toàn kiểm soát được cuộc sống. Không những anh đã ngừng lo lắng về các email rất đáng lo ngại nhận được ngay trước cuộc họp khách hàng này, mà cả những vấn đề mà chúng nói đến cũng không tồn tại. Anh còn tưởng tượng ra tương lai tươi sáng cùng bạn gái và một sự nghiệp xán lạn tại công ty truyền thông, tiếp thị, quảng cáo này.

Nhưng trong phòng họp nơi anh đang ngồi đây, đối diện với sếp và cách khách hàng hai ghế, họ lại vừa ký với công ty một hợp đồng lớn, vậy mà anh chẳng để tâm chút nào. Ngay cả khi mộng tưởng về một thực tại khác, anh cũng nhận thức được rằng thực tại đang phải bất ngờ đối mặt đây đáng chán hơn nhiều. Giá mà anh có thể...

“Này, mặt đất gọi Jake, tỉnh lại đi!”

“Sao? Ồ... xin lỗi. Tôi đang tổng hợp các suy nghĩ của mình”.

Anh “tua” lại trong óc vài phút gần nhất của cuộc họp, chuyển khỏi chế độ “lái tự động” để vào trạng thái nhớ các chi tiết chính. Năm con người đang ngồi chằm chằm nhìn anh. Đầu tiên, sếp anh, Jan, người đang dẫn dắt cuộc họp và cố gắng thu hút sự chú ý của anh. Tiếp theo là hai đại diện của Avery Tech, khách hàng đã thuê họ. Cách xa hơn vài ghế là Sloan, người mang danh hiệu “đầy vinh dự” mà Jake gán cho là CAO - Chief Asshole Officer - Giám đốc bỉ ổi. Đương nhiên, Sloan không biết mình được Jake gán cho biệt hiệu đầy cao quý đó. Trong thâm tâm, anh ta tự coi mình là “Cố vấn cao cấp”, dù cho công ty của họ không phân chia nhân viên theo cấp bậc. Cuối cùng, ngồi cạnh Sloan là Preena, một đồng nghiệp dễ mến hơn mà Jake đã coi là bạn trong suốt mười tháng làm việc tại Brightside.

Và sau đó là Jake. Giờ anh phải làm gì ấy nhỉ?

Mãi anh mới nhớ ra. Anh phải trình bày ý tưởng của nhóm mình để giúp Avery Tech thoát khỏi ngõ cụt và kiếm lời trở lại. Việc giúp các doanh nghiệp kiếm lời suy cho cùng chẳng phải là việc của công ty anh đó sao.

Suốt buổi sáng anh đã phân tâm, bị ám ảnh bởi một số tin tức đến không đúng lúc, nhưng giờ là lúc tỉnh táo lại rồi. Anh hắng giọng nhìn căn phòng, nhìn vào mắt Jan và các đại diện bên phía khách hàng.

“À ừ, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách xem xét các tài khoản truyền thông xã hội của quý vị. Tôi nghĩ rằng quý vị có thể tận dụng được nhiều điều hơn ở chúng”.

Cả nhóm chờ đợi. Tận dụng điều gì hả Jake? Phải rồi. Trình bày tiếp đi nào.

“Chúng ta sẽ nói chi tiết hơn khi tiến hành, nhưng tôi tự hỏi liệu công ty các vị có nghĩ đến việc tiếp cận một vài khách hàng hiện tại để nhận phản hồi không. Kiểu như, kiểm tra xem họ có đề xuất cải tiến nào hay không”.

Rồi xong, họ hết nghe anh nói rồi. Đó là những gì xảy ra khi bạn đến một cuộc họp trình bày ý tưởng mà không lận lưng theo ý tưởng nào.

Jan chữa cháy: “Không sao, Jake, tôi sẽ lo tiếp từ đây. À mà Sloan, anh có ý tưởng nào muốn trình bày không?”

Sloan, Giám đốc bỉ ổi, thế nào cũng nói được mấy câu xứng đáng điểm mười quảng cáo bản thân.

“Tất nhiên rồi”, Sloan đáp và không quên bắt lấy ánh mắt Jake trước khi nói tiếp. “Tôi đã đi sâu tìm hiểu số liệu phân tích trang web của công ty quý vị và nhận thấy một điều thực sự thú vị. Công ty mình bán chip bộ nhớ và thẻ nhớ cho máy tính, đúng chứ?”

Các đại diện khách hàng liền tươi tắn lại.

“Chà, nhưng có vẻ hầu hết những người truy cập vào trang web của quý vị không thực sự tìm kiếm thứ đó, ít nhất là không trực tiếp tìm kiếm chúng. Họ đang tìm kiếm các cụm từ như ‘lưu trữ dữ liệu’ và ‘bộ xử lý máy tính’. Không chỉ vậy, nếu tách người mua hàng khỏi những người chỉ truy cập website rồi thoát ra, những người vào website để tìm kiếm về ‘lưu trữ dữ liệu’ có khả năng mua cao hơn hai mươi sáu phần trăm”.

“Thật là thú vị”, Đại diện Một bên khách hàng nói, trong khi Đại diện Hai gật đầu và viết xuống điều gì đó.

“Tuy nhiên, cái cần nói là”, Sloan tiếp tục. “Quý vị không thực sự có chiến lược nhắm mục tiêu vào những người tìm kiếm về ‘lưu trữ dữ liệu’. Tôi nghĩ chúng ta nên bắt đầu từ điểm này. Rồi từ đó, chúng ta có thể xem lại việc nhắm vào đối tượng khách hàng, đưa ra thêm phương thức bán hàng gia tăng cho họ, hoặc khai thác thêm giá trị từ những khách hàng này”.

“Ừm”, Đại diện Một gật gù. “Quả thật chúng tôi không biết đến điều này”

Phần còn lại của cuộc họp triển khai từ đó. Jake trở lại trạng thái kẻ dự thính, Jan điều khiển cuộc họp, còn Sloan tô vẽ cho bản thân. Chỉ Jake biết rằng toàn bộ chuyện “đi sâu tìm hiểu những số liệu phân tích trang web công ty” này thực ra là ý của Preena. Nếu bóng đến chân, cô ấy sẽ đá nó, sẽ trình bày ý tưởng này, nhưng Sloan đã gạt cô ra để tự tung tự tác

Chính thói hành xử đó đã khiến Jake ưu ái đặt cho Sloan biệt hiệu “cao quý” kia. Anh ta luôn sẵn sàng “làm quá” mọi thứ, nhất là vì lợi ích của chính mình. Sáng ra luôn là người đi làm sớm nhất, còn chiều luôn là người cuối cùng rời khỏi công ty, và không quên để cho mọi người biết mình đi sớm về trễ như thế.

Thật không may, trong cấu trúc một công ty agency, chính hành vi tư lợi này lại được khen thưởng.

Về phần Jake, anh thường xuyên bị phân tâm, nhưng không đến mức đầu óc trên mây thế này. Nhất là trong cuộc họp có khách hàng, sếp và đối thủ của mình, anh đã cố gắng chuẩn bị. Nhưng sự thật là đầu óc anh giờ đang phải lo quá nhiều thứ. Hồi sáng sớm nay xảy ra sự việc khiến anh đứng ngồi không yên: Jake rốt cuộc đã đọc email gửi cho mình từ thứ Ba.

Việc đến thứ Sáu mới đọc email nhận vào thứ Ba với vài người có thể được xem là một hành động ngông cuồng. Có thể đầu óc bạn tin vào kiểu “mới sáng sớm đừng kiểm tra email” và quyết định đi xa thêm bước nữa “mới có vài ngày, vội gì kiểm tra email”. Và cuối cùng, việc đó có thể khiến bạn bị sa thải, hoặc tệ hơn thế.

Email đầu tiên thu hút sự chú ý của anh mang dòng tiêu đề đáng ngại:

Thông báo tình trạng thu nợ

Tin được gửi từ Công ty dịch vụ tài chính Midland, thông báo gần đây họ đã mua lại khoản nợ vay sinh viên của Jake và hiện đang muốn có một lịch trình thanh toán.

Tám năm trước, Jake đã phát hiện ra phép màu của các khoản vay sinh viên. “Đó là tiền miễn phí từ chính phủ!”. Bạn cùng phòng của anh nói như thể trúng xổ số.

“Tuyệt vời!”, Jake nói rồi ký vào các giấy tờ giúp anh nhận được một khoản tiền lớn trong tài khoản ngân hàng, cũng như một máy nướng bánh mì miễn phí mà anh chưa từng bóc hộp. Lúc đó anh nghĩ mình sẽ có đủ khả năng trả nợ... một ngày nào đó. Đấy chẳng phải cách phương thức cho vay này hoạt động sao? Ngoài ra, còn lâu mới đến hạn trả bất kỳ khoản vay nào.

Nhưng bây giờ dường như ngày xa xôi ở vùng đất tương lai đó cũng đã đến. Trong suốt ba năm đầu – năm cuối anh có học bổng lo – Jake đã vay tổng cộng 52.450.38 đô la. Hơn một nửa số tiền đó trả thẳng cho Đại học bang California ở Northridge. Số còn lại thì đã tiêu tán... đâu đó. Quy định cho vay nói rằng tiền vay chỉ có thể được dùng cho các chi phí học tập, mà theo cách lý giải của Jake thì nó đã được tiêu vào tiền thuê nhà, ăn uống, xăng xe, và một chuyến đi tới Ireland với anh trai Zach, và cả bia nữa.

Công ty Midland đang muốn anh trả nợ, kèm lãi suất, với lịch thanh toán bắt đầu từ tháng tới, yêu cầu anh trả khoản vay đầu tiên là 805.14 đô la. Thư thông báo còn hân hoan nói rằng nếu anh trả một khoản lớn hơn thì sẽ được chiết khấu.

Kế đến, Jake mở một email khác. Là từ Roland, người quản lý bất động sản đã cho anh thuê căn hộ hiện tại. Căn hộ này là nơi tuyệt nhất trong số những nơi anh từng ở, giá lại rẻ nữa. Kể cả anh Zach, người đang làm việc cho một công ty khởi nghiệp lớn ở San Francisco, cũng thấy ấn tượng với căn hộ này.

Thư Roland gửi có tiêu đề:

Thông báo pháp lý: thay đổi đơn vị thuê

Jake nhấp vào đường link liên kết.

Chào Jake,
Hy vọng cậu vẫn khỏe. Xin lỗi đã mang tin xấu đến cho cậu, nhưng người chủ căn hộ cậu thuê đang lên kế hoạch bán nó. Họ cần trả tiền dưỡng lão cho mẹ già, và họ muốn cậu rời đi ngay.
Theo luật, họ phải thông báo trước cho cậu hai mươi mốt ngày, và không may là họ không thể chờ lâu hơn thế. Họ cũng cần vào căn hộ để chụp ảnh, và một khi đã đăng bán, sẽ có khách đến xem nhà. Như thế chúng tôi cần hẹn trước một số lần để cậu ra khỏi nhà khi khách đến.
Một lần nữa, xin lỗi về tin tức này. Tôi biết căn hộ này là nơi tuyệt vời với cậu!
Roland Myers
Tập đoàn cho thuê

Nợ vay khó trả đã khổ rồi, không có nhà để ở còn tồi tệ hơn. Tin nhắn với thông báo hai mươi mốt ngày kia được gửi vào thứ Ba. Bây giờ là chiều thứ Sáu, nghĩa là... chỉ còn mười tám ngày nữa thôi sao?

Trước khi có màn phát biểu “xuất sắc” trước khách hàng lúc nãy, anh đã vắt óc nghĩ xem phải làm gì. Chẳng có giải pháp rõ ràng nào hiện ra. Anh gần như chỉ cảm thấy ngợp.

Sau cuộc họp, Jake ra ngoài nói chuyện với bạn mình. “Preena! Sao cô lại để Sloan làm điều đó với mình?”

“Sao nào, để hắn ăn cắp ý tưởng của tôi hả?”

“Đúng thế! Tôi thấy tất cả những giấy tờ được in ra để trên bàn của cô. Toàn bộ chuyện đi sâu vào các số liệu phân tích đều là ý của cô”.

“Chà, đúng vậy”, cô nhún vai. “Cách hắn làm chả hay ho gì. Nhưng tôi phải phản ứng thế nào? Cãi nhau trước mặt khách hàng? Hắn biết tôi sẽ không dám thách thức hắn. Mà nhân tiện, anh sao rồi? Anh có vẻ hơi phân tâm trong cuộc họp”.

Jake nói với cô về những email mà anh rốt cuộc cũng chịu đọc.

“Khó khăn rồi đấy, Jake. Tôi phải hoàn thành một số công việc cho khách hàng trước khi đến cuộc họp tiếp theo nên không thể chia sẻ thêm, nhưng hãy lên kế hoạch để nói về vấn đề này kỹ lưỡng hơn vào thứ Hai nhé”.

“Tất nhiên là được”. Trên đường trở về bàn làm việc của mình, anh đi ngang qua văn phòng của Sloan. Anh tưởng tượng hắn ngồi bên trong, đang đọc Binh pháp Tôn Tử và viết email cho quản lý để tóm tắt cuộc họp khách hàng mà hắn là diễn viên chính.

***

Làm việc đến tối muộn để xây dựng một chiến lược tốt hơn cho khách hàng mà anh đã làm thất vọng, Jake không để ý điện thoại của mình nhấp nháy lời nhắc nhở đến cuộc hẹn quan trọng nhất trong ngày: cuộc hẹn ăn tối với bạn gái Maya. Chỉ đến khi nghe tiếng chuông báo hiệu tin nhắn từ cô, anh mới nhìn xuống điện thoại.

“Này, Jake, nơi này dễ thương lắm! Em đến sớm vài phút và chộp được một bàn cạnh cửa sổ. Gặp anh sớm nhé!”

Sớm là một dự đoán lạc quan quá mức, nhưng Maya đâu có biết.

“Anh đến ngay đây!”. Jake vừa nhắn tin, vừa cầm lấy cái túi đeo chéo và chạy ra cửa, trong đầu nhẩm lượng giao thông sẽ phải vượt qua: phải mất ít nhất mười lăm phút, mà giờ này có khi mất đến hai mươi phút. Chết thật.

Có gì to tát chứ. Chỉ là kỷ niệm sáu tháng của hai đứa thôi.

Có gì to tát đâu, như 50.000 đô la anh nợ, như tài khoản tiết kiệm có chưa đầy 3.000 đô. Và việc anh cần làm chỉ là tìm cách bắt đầu trả nợ, đồng thời tìm nơi ở mới là được chứ gì.

Trên đường ra, Jan ra hiệu anh xuống gặp cô. “Này Jake, chúng ta gặp nói chuyện chút được không?”

“À được chứ, tôi sẽ chỉ trễ hẹn với Maya thôi...”

“Tôi nói nhanh thôi. Tôi có chút lo lắng về cậu. Với việc sáp nhập đang diễn ra, ban lãnh đạo sẽ phải đưa ra một số quyết định khó khăn”.

Dù mọi người gọi nó là vậy thì nó không hẳn là một sự sáp nhập. Brightside gần đây đã đạt được thỏa thuận để cho một công ty ở Bờ Đông lớn hơn nhiều mua lại như một phần trong mối quan hệ “đối tác chiến lược” với công ty này.

Cho đến nay, nhóm chuyển giao từ Philadelphia đã đến thăm trụ sở Nam California của Brightside hai lần, mỗi lần lại đưa ra những nhận xét vô thưởng vô phạt trong khi “ý tứ” đánh giá phong cách ăn mặc và trò chuyện suồng sã hơn ở khu Bờ Tây. Họ đã hứa sẽ “tôn trọng văn hóa nơi này”, mà theo Preena lý giải, điều đó đồng nghĩa với việc họ dự định thay đổi mọi thứ trong đó.

“Hãy nỗ lực thêm nếu được nhé”, Jan nói khi cô ra dấu rằng anh có thể đi. “Vài tuần tới đây sẽ ảnh hưởng rất lớn về mặt đánh giá”.

Jake cảm ơn sếp mình rồi bước ra ngoài, miệng hứa sẽ cải thiện. Anh gần như đã nghĩ lúc ra bãi đậu xe là Sloan đã cắt lốp xe của mình.

Nhưng lốp xe chẳng hề gì, chỉ hơi mòn một chút trên chiếc Mazda mười hai tuổi mà anh đã lái những sáu năm. Điều tốt nhất anh có thể nói về ngày hôm nay là anh không bị cảnh sát phạt chạy quá tốc độ trong khi lái vun vút đến nhà hàng. Tuy nhiên, khi đã đến nơi, anh cũng chưa nghĩ ra được cách nào để trả những khoản vay hoặc để tìm một nơi ở mới.

Biết đâu Maya sẽ nghĩ ra được cách nào đó. Anh sẽ hỏi cô – tất nhiên là sau khi xin lỗi vì đến muộn hơn ba mươi phút bữa ăn tối kỷ niệm của hai người họ.

Còn tiếp.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

“Mia và Isabelle yêu dấu…”

Thỉnh thoảng, khi các con tập chơi nhạc cụ, mẹ nhắm mắt lại để có thể nghe rõ hơn. Và khi mẹ làm vậy, lòng mẹ thường biết chắc rằng bất cứ lúc nào các con chơi violin hay piano, lúc các con đàn với niềm đam mê và sự tận tâm, âm nhạc với sức mạnh đặc biệt sẽ vẫy gọi mẹ và mẹ sẽ ở đó.

Published

on

By

Trích từ: Tháo gỡ phép màu
Tác giả: Julie-Yip Williams
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 3.2021

Julie-Yip Williams (1976 - 2018) là một phụ nữ Việt Nam gốc Hoa, theo gia đình sang Mỹ từ nhỏ. Cô bị khiếm thị bẩm sinh nhưng đã vượt khó, tốt nghiệp luật sư tại Harvard Law School, làm việc ở một văn phòng luật danh tiếng và có một gia đình nhỏ hạnh phúc. Cô sống cùng chồng và hai con gái tại Brooklyn. Ở tuổi ba mươi bảy, cô bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại tràng, khiến cuộc sống của cô hoàn toàn thay đổi. Julie qua đời vào tháng Ba năm 2018 sau một thời gian chống chọi với căn bệnh.

Quyển sách Tháo gỡ phép màu là cách Julie ghi lại hành trình cuộc đời mình.

“Một biên niên ký cảm động, tuyệt đẹp, đáng đọc và đáng được nhiều người say mê.” (Siddhartha Mukherjee, tác giả đoạt giải Pulitzer với The Emperor of All Maladies)

Tháo gỡ phép màu - Julie-Yip Williams

*

Xin chào, hoan nghênh. Tên tôi là Julie Yip-Williams. Tôi biết ơn và rất vinh dự khi các bạn có mặt ở đây. Câu chuyện này bắt đầu ở điểm cuối. Nghĩa là nếu bạn đang đọc những dòng này, thì tôi đã không còn nữa. Nhưng không sao cả.

Cuộc sống tôi tốt đẹp và cuộc đời tôi trọn vẹn. Biết bao điều xuất hiện nhiều hơn hẳn những gì mà tôi có thể tưởng đến, hoặc nhiều hơn hẳn những gì mà xuất thân vô cùng tầm thường của tôi cho phép tôi mong đợi. Tôi là một người vợ, một người mẹ, một người con, một người em, một người bạn, một người di cư, một bệnh nhân ung thư, một luật sư, và giờ là một nhà văn. Tôi luôn gắng sống một cách có thiện ý và thiện tâm, dù tôi chắc chắn mình cũng từng làm tổn thương người khác trên bước đường đời. Tôi nỗ lực hết mình để sống một cuộc đời mãn nguyện và đáng sống, để đương đầu một cách uyển chuyển với những thử thách tất yếu, và để nổi bật với sự hài hước của mình cùng tình yêu cho cuộc sống vẹn nguyên. Thế thôi. Tuy tôi đang hấp hối ở độ tuổi đầu bốn mươi, và sắp phải bỏ lại các con yêu quý của mình, tôi vẫn thấy hạnh phúc.

Cuộc đời tôi chẳng dễ dàng. Tôi sống sót qua thời thơ dại cứ như một phép màu, và tôi đến được nước Mỹ cứ như một điều kỳ diệu. Sinh ra trong cảnh mù lòa và nghèo đói ở Việt Nam, lại trong 8 | JULIE YIP-WILLIAMS thời chiến tranh, điều này lẽ ra đã định sẵn số phận cuộc đời và đóng kín vận mệnh của tôi. Tuy những điều đó đã lưu lại dấu vết nơi tôi, song chúng đã không ngăn được tôi. Cái chết kề cận dạy tôi rất nhiều về cách sống – về cách chủ động đối mặt với những sự thật phũ phàng, về cách đón nhận cả đau khổ lẫn vui sướng. Vòng tay ôm lấy những phần khắc nghiệt của cuộc đời có lẽ là trải nghiệm tự do lớn lao trong cuộc đời tôi.

Dù trực tiếp hay gián tiếp, chúng ta đều nếm trải những phần khắc nghiệt ấy. Những sự kiện mà chúng ta nghe được trên tin tức hay từ bạn bè, những bi kịch kết thúc với cái chết xảy ra cho những người khác ở các nơi khác, những điều ấy khiến chúng ta thấy buồn nhưng cũng thấy nhẹ nhõm và biết ơn vì chúng ta nghĩ, cảm ơn Chúa đã phù hộ con không bị như thế… – bão tố và động đất tàn khốc, đánh bom và xả súng bạo lực, tai nạn xe cộ, và tất nhiên, bệnh nan y. Những thứ ấy khiến tâm can ta rúng động vì chúng làm ta nhớ rằng ta cũng sẽ chết, rằng ta thật sự bất lực như thế nào trước những sức mạnh vô hình có thể khiến Trái đất phải run rẩy, hoặc khiến tế bào bị đột biến và đẩy cơ thể vào cảnh nổi loạn chống lại chính nó.

Ở đây, tôi bắt đầu viết ra trải nghiệm của mình về điều đó, cả về cuộc đời tôi đã sống và những gian nan tôi đã chịu – cả hai đều không toàn diện, bạn hiểu mà, song cũng đủ để bạn thấy rõ quãng đường mà tôi đã đi và thế giới mà tôi đã tạo dựng suốt đời mình. Và thứ vốn ban đầu chỉ là ghi lại cái chết yểu chực chờ đã trở thành – nếu như tôi không quá tự tin – thứ gì đó có ý nghĩa hơn nhiều: lời cổ vũ cho các bạn, những người vẫn đang sống. Hãy sống khi bạn còn đang sống, bạn nhé. Từ lúc phép màu khởi đầu, đến khi phép màu tháo gỡ.

Julie Yip-Williams
Tháng Hai năm 2018

CÁI CHẾT, PHẦN MỘT
Tháng Ba năm 1976, Tam Kỳ, miền Nam Việt Nam

Lúc tôi hai tháng tuổi, ba mẹ tôi, theo lệnh của bà nội, mang tôi đến chỗ ông thầy thuốc ở Đà Nẵng và đề nghị trả ông ấy vàng thỏi để bốc cho tôi thang thuốc đưa tôi vào giấc ngủ vĩnh hằng. Vì tôi mù bẩm sinh, nên đối với người bà gốc Hoa, tôi là thứ “hư hại”. Tôi sẽ là gánh nặng và nỗi xấu hổ của gia đình. Khó mà kiếm được tấm chồng. Ngoài ra, bà nội viện lý do rằng bà làm thế vì thương tôi – tôi sẽ thoát khỏi kiếp sống khốn khổ.

Sáng hôm đó, mẹ mặc cho tôi bộ đồ em bé cũ kỹ bám đầy những vết ố nâu vàng do phân của anh chị tôi để lại mà mẹ không thể giặt sạch được, dù đã vò vô số lần. Sau khi lệnh cho mẹ mặc cho tôi bộ quần áo này, bà nội đứng trước lối vào phòng ngủ của ba mẹ tôi, xem mẹ mặc đồ cho tôi. “Cho nó mặc thứ khác chỉ tổ lãng phí”, bà nói khi mẹ tôi mặc xong, như thể khẳng định sự đúng đắn trong lời chỉ dạy của bà.

Đó là bộ quần áo tôi sẽ mặc khi chết. Trong thời kỳ cùng quẫn như thế, chẳng ích lợi gì khi phí phạm một bộ đồ trẻ em còn tốt cho một đứa bé sắp sửa trở thành một thi hài.

Bi kịch gia đình tôi bắt đầu từ tâm điểm nóng bỏng của cuộc Chiến tranh lạnh. Miền Nam Việt Nam đã được trả tự do từ mười một tháng trước đó, nhưng chuỗi domino địa chính trị vẫn đổ ập vào cuộc đời của những người nhà Yip.

Vào năm 1972, chiến tranh rõ ràng đã chuyển sang hướng bất lợi cho miền Nam, và ba tôi rất sợ mất đi những thứ ít ỏi ông đang có khi liều mạng sống của mình cho một quốc gia mà ông – một người đàn ông dân tộc Hoa – cảm thấy chẳng có chút lòng tự hào dân tộc nào. Trong bốn năm phục vụ quân đội, vào những chuyến thăm nhà ngắn ngủi, ba tôi không bao giờ nói với bất cứ ai trong gia đình về những điều kinh khủng mà ông đã thấy hoặc đã làm. Những nỗ lực của bà nội hòng giúp ông tránh đi sự tồi tệ của chiến tranh bằng cách hối lộ để ông được nhận vào làm tài xế cho một vị đội trưởng quân đội đã không thành công như mẹ con ông hằng hy vọng. Ông thấy mình lái xe vào lãnh thổ của họ, chẳng rõ các tay bắn tỉa cùng mìn giấu ở đâu, ngủ trong rừng vào buổi tối, lo sợ bị cắt cổ khi ông đang ngủ trên nền rừng, và rồi giật mình thon thót bởi những tiếng nổ xé toạc sự im lặng của một khắc yên bình mong manh. Cuối cùng, nỗi sợ hãi thường trực về cái chết – hoặc tệ hơn, về việc mất tay chân, như đã xảy ra với một số người bạn của ông – đã lấn át hết mọi khái niệm về danh dự mà ông có cùng nỗi sợ về việc bị coi là thằng hèn. Một ngày nọ, ông đi khỏi trại lính với lý do lấy tiếp liệu cho chiếc xe jeep của ông và không quay đầu lại. Trong một tuần, ông đi bộ và đi nhờ xe đến Sài Gòn, rồi trốn trong Chợ Lớn (một quận cũ vốn là nơi cư trú của ít nhất một triệu người Hoa). Chợ Lớn là một nơi thật náo nhiệt với số dân cư không mặn mà với nỗ lực tham chiến nhiều đến mức ông có thể ẩn náu trong khi vẫn có thể đi lại tự do trong cộng đồng.

Bà nội tôi (sau khi được ba tôi nhắn cho biết ông đang ở đâu, người chẳng tin vào khả năng chung thủy của bất kỳ người đàn ông nào, kể cả con trai bà) đã đề nghị mẹ tôi vào Sài Gòn với ba. Vậy nên mẹ tôi, tay này xách chị Lyna mới được hai tuổi, tay kia bế anh Mau mới sinh, tiến vào Sài Gòn, và ở đó họ sống trong phấp phổng cùng ba tôi cho đến khi cuộc chiến kết thúc, chờ đến khi ông có thể an toàn quay về Tam Kỳ mà không sợ bị bắt bỏ tù, hoặc thậm chí tệ hơn, bị bắt tiếp tục phục vụ quân đội trong lúc tình hình đang tồi tệ đi nhanh chóng. Đó không phải lúc để có thêm một đứa con nữa.

Khi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng Tư năm 1975, ba mẹ tôi cùng với những người khác ở Sài Gòn vỡ òa vui sướng, vì chiến tranh cuối cùng đã kết thúc. Khi Sài Gòn giao thời, họ ăn mừng bằng cách tham gia vào đám đông cuồng nhiệt cướp phá những cửa hàng và nhà kho bị bỏ lại, lấy các thùng chứa gas cùng các bao gạo và bất cứ thứ gì khác mà đôi tay họ có thể khuân đi được. Họ ăn mừng bằng cách chào đón tin tôi sắp tới với thế giới này, và sau khi Sài Gòn thất thủ, họ cuối cùng đã về nhà ở Tam Kỳ, nơi tôi mở mắt chào đời vào một đêm tháng Một bình thường tám tháng sau đó. Tôi nặng hơn ba ký một chút, lớn theo chuẩn Việt Nam, nhưng không lớn đến mức khiến mẹ con tôi gặp nguy hiểm tính mạng trong quá trình sinh nở. Bệnh viện bẩn thỉu, và việc mổ lấy thai không phải là một lựa chọn hay trong những ngày ấy; chẳng ai biết cách thực hiện thủ thuật, có lẽ trừ khi ở Sài Gòn. Ba đặt tên 莉菁 cho tôi, phát âm là “Lijing” theo tiếng Quan Thoại và “Lising” theo tiếng Hải Nam, hiểu theo nghĩa đen là “tinh túy của hoa nhài”. Tên tôi có ý thể hiện sự hoạt bát, sức sống và vẻ đẹp. Mẹ tôi, người đã chờ đợi từ rất lâu, rất hồi hộp. Và bà nội tôi cũng vậy – lúc mới đầu thôi. Hai tháng sau, được quấn trong quần áo cũ của anh chị, tôi nằm trong vòng tay của ba, trên một chuyến xe đò, đi hai tiếng đồng hồ lên phía bắc đến Đà Nẵng theo quốc lộ 1, để nhận án tử.

CUỘC ĐỜI
Ngày 14 tháng Bảy năm 2017, Brooklyn, New York

Mia và Isabelle yêu dấu,

Mẹ đã lo hết tất cả chuyện hậu sự sau khi mẹ chết mà mẹ có thể nghĩ tới: mẹ đang thuê một đầu bếp với mức lương rất hợp lý cho các con và ba; mẹ đã để lại một danh sách hướng dẫn ai là nha sĩ của các con và lúc nào cần đóng học phí và lúc nào cần gia hạn hợp đồng thuê đàn violin và danh tính của người chỉnh âm đàn piano. Trong những ngày sắp tới, mẹ sẽ làm video về tất tần tật các chi tiết trong nhà để mọi người biết bộ lọc không khí nằm ở đâu và loại thức ăn cho chó của Chipper. Song mẹ đã nhận ra rằng mấy chuyện này chỉ là chuyện nhỏ, những vấn đề dễ giải quyết và tương đối không quan trọng trên cõi đời này.

Mẹ đã nhận ra mẹ sẽ làm các con vô cùng thất vọng, nếu chính người mẹ của các con lại không cố gắng giảm bớt nỗi đau mất mẹ, nếu mẹ không cố gắng nỗ lực giải quyết thứ có thể sẽ là câu hỏi lớn nhất trong cuộc đời non trẻ của các con. Các con sẽ mãi mãi là những đứa bé có mẹ chết vì ung thư, bị người khác nhìn với con mắt thông cảm xen lẫn thương hại (điều mà các con hiển nhiên sẽ oán ghét, dù cho mọi người có ý tốt). Việc mẹ các con qua đời sẽ dệt nên một mảnh trong cuộc đời các con như một vết nhơ rành rành trên một khung cảnh nguyên sơ. Các con sẽ thắc mắc khi các con thấy xung quanh tất cả mọi người khác đều còn đủ cha mẹ, Tại sao mẹ tôi lại phải bệnh rồi chết chứ? Thật không công bằng, các con sẽ khóc. Và các con sẽ tha thiết muốn có mẹ ở bên cạnh để ôm con khi bị bạn bè cư xử tệ, để nhìn các con bấm lỗ tai, để ngồi ở hàng ghế đầu vỗ tay thật lớn trong những buổi biểu diễn âm nhạc của các con, để làm vị phụ huynh phiền phức khăng khăng đòi chụp thêm tấm hình nữa với cô sinh viên mới tốt nghiệp, để giúp con mặc đồ trong ngày cưới của con, để bế đứa trẻ mới sinh từ tay con lúc con chợp mắt. Và mỗi lần các con khao khát có mẹ, lòng sẽ lại lần nữa đau đớn và các con sẽ tự hỏi tại sao.

Mẹ không biết liệu lời của mẹ có thể xoa dịu nỗi đau của các con hay không. Nhưng sẽ thật tắc trách nếu mẹ không làm thử.

Giáo viên dạy Sử năm lớp Bảy của mẹ, cô Olson – một người lập dị gàn dở nhưng cũng là một giáo viên tuyệt vời – từng bác bỏ lời phản đối “Thật không công bằng!” của đám thiếu niên (ví dụ, khi cô cho bọn mẹ làm kiểm tra đột xuất, hay khi bọn mẹ chơi trò được gọi là đố vui “Bất công”) với câu “Đời không công bằng đâu. Tập làm quen đi!”. Đâu đó trên đường đời, chúng ta lớn lên với suy nghĩ rằng nên có sự công bằng, rằng mọi người nên được đối đãi bình đẳng, rằng nên có sự ngang bằng trong đối xử cũng như cơ hội. Sự mong đợi đó chắc hẳn xuất phát từ việc được lớn lên ở một quốc gia giàu có, nơi luật pháp được thiết lập một cách chặt chẽ. Thậm chí lúc mới ở cái tuổi lên năm non nớt, cả hai con đều kêu gào đòi công bằng như thể đó là một quyền căn bản (chẳng hạn như, thật không công bằng khi Belle được xem phim còn Mia thì không). Nên có lẽ những mong muốn có được sự công bằng và bình đẳng đó đã hằn sâu vào tâm trí loài người và tinh thần đạo đức của chúng ta. Mẹ không chắc nữa.

Điều mẹ biết chắc là cô Olson đã đúng. Đời không công bằng. Các con sẽ ngốc nghếch mong đợi sự công bằng, ít nhất đối với vấn đề liên quan đến sự sống và cái chết, vấn đề ngoài phạm vi luật pháp, vấn đề không thể được bố trí hay bị nỗ lực của con người thao túng, vấn đề rõ ràng thuộc về Chúa hay may mắn hay số phận hay những thế lực khó hiểu, chưa được biết đến nào đó.

Dù lúc lớn lên không mồ côi mẹ, mẹ vẫn chịu tổn thương theo cách khác và ở cái tuổi non nớt hơn tuổi các con bây giờ mẹ đã hiểu được đời chẳng công bằng. Nhìn tất cả những đứa trẻ khác, những đứa có thể lái xe và chơi quần vợt và những đứa không phải dùng kính lúp để đọc, mẹ thấy đau y như kiểu mà có lẽ giờ các con có thể hiểu. Người ta cũng nhìn mẹ với sự thương hại, điều mà mẹ căm ghét. Mẹ cũng bị tước đi các cơ hội; mẹ luôn là người ghi lại tỷ số và không bao giờ được tham gia các trận đấu trong lớp thể dục. Bà ngoại không nghĩ mẹ đáng được đi học tiếng Hoa sau giờ học tiếng Anh tại trường như anh chị em của mẹ, vì bà cho rằng mẹ sẽ không thể nhìn thấy được các ký tự. (Dĩ nhiên, sau đó, mẹ học tiếng Hoa suốt thời gian học đại học rồi đi du học và tiếng Hoa của mẹ đã vượt qua anh chị em của mẹ). Đối với một đứa trẻ, chẳng có gì tệ hơn là khác biệt, theo kiểu tiêu cực, đáng thương như thế. Mẹ đã rất buồn. Mẹ khóc trong sự giận dữ cô độc. Giống như các con, mẹ có mất mát riêng của mẹ, sự mất mát thị lực, điều khiến mẹ gặp thêm nhiều mất mát khác. Mẹ đau khổ. Mẹ tự hỏi tại sao. Mẹ ghét sự bất công trong tất cả mọi thứ.

Các con bé bỏng của mẹ, mẹ không có câu trả lời cho câu hỏi tại sao này, ít nhất không phải bây giờ và không phải ở kiếp này. Nhưng mẹ biết rằng nỗi đau và sự chịu đựng có một giá trị phi thường. Nếu các con cho phép bản thân được trải nghiệm nó, được khóc, được cảm thấy ưu sầu và đau khổ, được tổn thương. Bước qua lửa đỏ và con sẽ xuất hiện ở phía bên kia, nguyên vẹn và mạnh mẽ hơn. Mẹ hứa đấy. Các con sau cùng sẽ tìm thấy sự thật, vẻ đẹp, trí tuệ và bình yên. Các con sẽ hiểu rằng chẳng có gì tồn tại mãi mãi, dù là nỗi đau hay hạnh phúc. Các con sẽ hiểu rằng niềm vui chẳng thể tồn tại nếu không có nỗi buồn. Sự khuây khỏa chẳng thể tồn tại nếu không có nỗi đau. Tình thương chẳng thể tồn tại nếu không có sự tàn nhẫn. Dũng cảm chẳng thể tồn tại nếu không có sự sợ hãi. Hy vọng chẳng thể tồn tại nếu không có thất vọng. Trí tuệ chẳng thể tồn tại nếu không có sự chịu đựng. Lòng biết ơn chẳng thể tồn tại nếu không có sự túng thiếu. Những nghịch lý đầy rẫy trên cõi đời này. Sống là một bài tập lèo lái đi giữa chúng.

Mẹ bị tước mất thị lực. Thế nhưng, tình trạng thể chất không may cá biệt ấy đã thay đổi mẹ theo hướng tốt hơn. Thay vì làm mẹ chìm đắm trong tủi thân, nó đã khiến mẹ thêm nhiều hoài bão. Nó khiến mẹ thêm tháo vát. Nó khiến mẹ thêm khôn khéo. Nó dạy mẹ nhờ người khác giúp đỡ, không xấu hổ với khiếm khuyết thân thể của mình. Nó buộc mẹ thành thật với chính mình và các giới hạn của bản thân, và cuối cùng, thành thật với những người khác. Nó dạy mẹ mạnh mẽ và kiên trì.

Các con bị tước mất người mẹ. Là mẹ các con, mẹ ước mình có thể bảo vệ các con khỏi đau khổ. Nhưng cũng chính vì là mẹ các con, mẹ muốn các con cảm nhận được nỗi đau, sống với nó, ôm ấp nó, và rồi học từ nó. Hãy trở thành những người mạnh mẽ hơn vì nó, bởi các con sẽ biết rằng các con mang trong mình sức mạnh của mẹ. Hãy trở thành người giàu tình thương hơn vì nó; thông cảm với những người đang chịu đựng những niềm đau riêng. Hãy tận hưởng cuộc đời cùng mọi vẻ đẹp cuộc sống vì nó; hãy sống với sự hăng say và lòng nhiệt huyết đặc biệt vì mẹ. Hãy biết ơn theo cách mà chỉ những ai đã mất mẹ từ rất sớm mới có thể biết, theo cách mà các con hiểu về sự vô thường và quý giá của cuộc đời. Đây là thử thách đối với các con bé bỏng của mẹ để tiếp nhận một bi kịch tồi tệ và biến nó thành cội nguồn vẻ đẹp, tình yêu, sức mạnh, lòng dũng cảm và trí tuệ.

Rất nhiều người có thể không đồng tình, nhưng mẹ luôn tin tưởng, luôn luôn, thậm chí khi mẹ còn là một cô nhóc hiểu chuyện sớm thường khóc một mình trên giường, rằng mục đích của chúng ta trên cuộc đời này là trải nghiệm tất cả những thứ mà chúng ta có thể trải nghiệm, để hiểu nhiều nhất có thể về thân phận con người mà chúng ta đúc kết được từ một kiếp sống, dù kiếp sống đó dài hay ngắn bao nhiêu. Chúng ta ở đây để cảm nhận nhiều loại cảm xúc phức tạp nảy sinh khi làm người. Và từ những trải nghiệm đó, linh hồn của chúng ta mở mang, trưởng thành, học hỏi, thay đổi, và chúng ta hiểu thêm một chút về ý nghĩa thật sự khi được làm người. Mẹ gọi đó là sự tiến hóa của linh hồn. Hãy biết rằng mẹ các con đã sống một cuộc đời phi thường, đầy nỗi khổ, niềm đau nhiều hơn mong đợi, đầu tiên là mù lòa và rồi thì ung thư. Và mẹ cho phép những nỗi khổ, niềm đau ấy định nghĩa mẹ, thay đổi mẹ, nhưng theo chiều hướng tích cực.

Trong những năm kể từ khi mẹ nhận được chẩn đoán, mẹ đã biết đến tình yêu và tình thương mà mẹ chưa bao giờ nghĩ là có thể xảy ra; mẹ đã tự mình chứng kiến và trải nghiệm mức độ sâu sắc nhất của sự quan tâm nơi con người, nó khiến mẹ trở nên vô cùng khiêm nhường và thôi thúc mẹ trở thành một người tốt hơn. Mẹ từng có một nỗi sợ khủng khiếp muốn đè bẹp mẹ, nhưng mẹ đã vượt qua nỗi sợ đó và tìm được lòng dũng cảm. Những bài học mà mù lòa và rồi ung thư dạy mẹ nhiều đến nỗi mẹ không kể ra đây hết được, nhưng mẹ hy vọng, khi các con đọc điều kế tiếp, các con sẽ hiểu làm cách nào có thể thay đổi theo cách tích cực từ bi kịch và các con sẽ học được giá trị thật sự của sự chịu đựng. Giá trị cuộc đời của một người không nằm trong số năm sống được, mà nằm trong cách người đó thấm nhuần những bài học từ cuộc đời ấy nhiều ra sao, trong cách mà người đó hiểu được và đúc kết những khía cạnh phức tạp, lộn xộn của trải nghiệm làm người nhiều thế nào. Mặc dù mẹ sẽ chọn ở với các con lâu hơn, giả như mẹ được lựa chọn, nếu các con có thể học hỏi từ cái chết của mẹ, nếu các con chấp nhận thử thách trở thành một người tốt hơn vì sự ra đi của mẹ, thì điều đó sẽ khiến linh hồn mẹ ngập tràn hạnh phúc và bình yên.

Các con sẽ cảm thấy cô đơn và bơ vơ, nhưng hãy hiểu rằng các con không chỉ có một mình. Đúng là chúng ta bước đi đơn độc trên cuộc đời này, vì chúng ta cảm nhận điều mà chúng ta cảm nhận một mình và mỗi chúng ta đều có lựa chọn của riêng bản thân. Nhưng việc tiếp cận và tìm được những người giống các con là hoàn toàn có thể, và khi làm vậy các con sẽ cảm thấy không quá cô đơn nữa. Đây là một điều khác trong số những nghịch lý cuộc sống mà các con sẽ học cách định hướng. Đầu tiên và trước hết, các con có thể nương tựa lẫn nhau. Các con là chị em, điều đó tạo ra gắn kết huyết thống và những trải nghiệm chung không giống bất cứ ai. Hãy tìm kiếm sự an ủi ở nhau. Hãy luôn tha thứ và yêu thương nhau. Tiếp đó, còn có ba mà. Rồi còn có Titi, cậu Mau, dì Nancy, dì Caroline, dì Sue và rất nhiều bạn bè thân thiết, tất cả họ đều biết và yêu mẹ rất nhiều – những người nghĩ đến các con, cầu nguyện cho các con và lo lắng cho các con. Tất cả năng lượng tình yêu từ những người này bao bọc các con, để rồi các con sẽ không thấy quá cô đơn nữa.

Và cuối cùng, dù mẹ đi bất cứ nơi đâu, một phần của mẹ sẽ luôn ở cạnh các con. Máu của mẹ chảy trong các con. Các con thừa hưởng những phần tốt nhất của mẹ. Mặc dù thân thể mẹ sẽ không còn ở đây, nhưng mẹ sẽ luôn dõi theo các con.

Thỉnh thoảng, khi các con tập chơi nhạc cụ, mẹ nhắm mắt lại để có thể nghe rõ hơn. Và khi mẹ làm vậy, lòng mẹ thường biết chắc rằng bất cứ lúc nào các con chơi violin hay piano, lúc các con đàn với niềm đam mê và sự tận tâm, âm nhạc với sức mạnh đặc biệt sẽ vẫy gọi mẹ và mẹ sẽ ở đó. Mẹ sẽ ngồi ngay đó, thúc giục con chơi lần nữa, lần nữa rồi lần nữa, thúc giục con đếm, chỉnh khuỷu tay, ngồi đúng tư thế. Và rồi mẹ sẽ ôm các con và nói cho các con biết các con đã làm tốt thế nào và mẹ tự hào về các con ra sao. Mẹ hứa đấy. Thậm chí sau khi các con đã chọn ngừng chơi từ lâu, mẹ vẫn sẽ đến bên các con vào những khoảnh khắc đặc biệt lẫn bình thường trong cuộc đời lúc các con sống với niềm đam mê và sự tận tâm trọn vẹn.

Đó có thể là khi các con đang đứng trên chóp núi, kinh ngạc trước vẻ đẹp phi thường và tràn đầy kiêu hãnh với khả năng của bản thân vì đã trèo lên đến đỉnh, hoặc khi lần đầu tiên các con ôm con mình trong vòng tay, hoặc khi các con đang khóc vì ai đó hay điều gì đó đã làm tan vỡ trái tim mềm yếu của mình, hoặc có lẽ là khi các con khổ sở thức suốt đêm để học bài hay làm việc. Hãy biết rằng mẹ các con từng cảm thấy những gì mà các con đang cảm thấy và mẹ luôn ở đó để ôm các con và thúc giục các con tiếp tục. Mẹ hứa đấy.

Mẹ thường mơ thấy khi mẹ qua đời, mẹ rốt cục sẽ biết cảm giác ra sao khi nhìn thế giới bằng đôi mắt không suy giảm thị lực, nhìn được tận ở phía đằng xa, thấy được những đặc điểm bé xíu trên một chú chim, được cầm lái một chiếc xe. Ôi, mẹ thật mong mỏi có thị lực hoàn hảo, dù tất cả những năm qua mẹ vẫn sống mà không có được nó. Mẹ mong mỏi cái chết sẽ giúp mẹ trở nên toàn vẹn, cho mẹ thứ mà mẹ bị tước mất trong kiếp này. Mẹ tin rằng giấc mơ ấy sẽ trở thành hiện thực. Tương tự, khi thời gian của các con đã đến, mẹ sẽ ở đó chờ các con, để các con cũng được trao cho thứ mà các con đã bị mất. Mẹ hứa đấy. Nhưng trong khi chờ đợi, hãy sống, các con yêu quý của mẹ. Hãy sống một cuộc đời đáng sống. Sống hết mình và trọn vẹn, một cách chín chắn, biết ơn, can đảm và thông thái. Hãy sống!

Mẹ yêu hai con mãi mãi và mãi mãi, đến vô cùng vô tận, vượt cả không gian và thời gian. Đừng bao giờ quên điều đó.

TỶ LỆ

Đáng lý đó là lễ cưới trong gia đình. Giữa mùa hè năm 2013, tất cả mọi người tụ tập ở Los Angeles để ăn mừng ngày hạnh phúc nhất đời người em họ tuyệt đẹp của tôi. Tôi đã không đến được. Josh và tôi cùng Mia và Belle từ New York bay đến, định ở lại cỡ một tuần. Khoảng một tháng trước đó tôi đã thấy khó chịu trong bụng – không quá rõ ràng, ngoại trừ cảm giác nó không được bình thường. Buồn nôn, quặn thắt và táo bón khiến tôi phải đến bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa khám, nhưng dường như chẳng có gì thật sự không ổn cả. Thế rồi tại Los Angeles, tôi bắt đầu ói mửa dữ dội, vì thế tôi nằm phòng cấp cứu khi lễ cưới diễn ra.

Nội soi đại tràng cho thấy một khối u ở giữa đại tràng ngang; đại tràng gần như hoàn toàn tắt nghẽn. Trong thuật ngữ chẩn đoán, “khối u” là thứ bạn hoàn toàn không muốn bác sĩ phát hiện bên trong bạn. Thậm chí trước khi làm sinh thiết, các bác sĩ đã khá chắc chắn đó là ung thư. Nhưng họ không biết đích xác cho đến khi bắt tay điều trị.

Tôi sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc mình tỉnh dậy sau ca phẫu thuật cắt bỏ nửa đại tràng trong phòng hồi sức. Josh đang được y tá Tim và bác sĩ D.C. – bác sĩ phẫu thuật của tôi – an ủi. Họ bảo anh phải tự chăm sóc bản thân để còn chăm sóc cho tôi. Tim hỏi anh ấy đã ăn tối chưa và, trước khi Josh kịp trả lời, đưa cho anh ấy miếng pizza trong phần ăn tối của mình. Thậm chí lúc còn đang mê man vì thuốc, tôi đã biết có chuyện gì đó thật sự tồi tệ khi tất cả mọi người đều quá quan tâm săn sóc Josh mà không phải tôi, người mới vừa phẫu thuật xong.

Nên lúc khuôn mặt trẻ trung của bác sĩ D.C. xuất hiện trước mắt tôi, tôi khàn khàn thốt lên, “Nguy kịch lắm sao?”. Dựa vào bầu không khí trong phòng, tôi hoàn toàn chắc chắn câu trả lời là phải.

Trái lại, bác sĩ D.C. nói, “Không, không nguy kịch lắm. Rất nghiêm trọng, nhưng không nguy kịch”. Ông giải thích cho tôi rằng ông đã cắt bỏ khối u thành công, nhưng ông tìm thấy một “khối di căn cỡ bằng hạt đậu” ở màng bụng gần khu vực bàng quang, đúng là phần di căn từ khối u chính. Tôi tự nhủ, Ừ, nghe cũng không đến nỗi nào – một khối di căn bằng hạt đậu cũng đã được cắt bỏ – vậy sao Josh lại suy sụp đến thế?

Tôi nằm đó trong trạng thái mơ màng vì thuốc, để những lời trò chuyện của mọi người cuốn qua tai khi cố gắng tỉnh táo hơn. Bác sĩ D.C. bảo tôi sẽ không nhớ nổi bất kỳ lời nào được nói ra trong tối hôm đó. Josh nói ông đừng quá đoan chắc như vậy. Tôi mỉm cười một mình. Nhiều năm bên cạnh tôi đã dạy Josh rằng tinh thần tôi giống như một chiếc bẫy thép, và dù đang lơ mơ vì thuốc hay không, tôi cũng chẳng quên bất cứ thứ gì (đặc biệt khi đó là thứ mà tôi có thể dùng để quật lại anh).

Thật ra, tôi nhớ được rất nhiều thứ trong buổi tối hôm đó. Bên cạnh việc cơ thể khó chịu vì mới vừa phẫu thuật xong, tôi nhớ mình đã nghĩ rằng phẫu thuật chắc hẳn diễn ra lâu hơn dự kiến hai tiếng rưỡi đồng hồ, vì bên ngoài trời đã nhá nhem tối. Tôi nhớ được anh và em họ tôi đã đến thăm tôi trong phòng bệnh. Tuy nhiên, trên hết, tôi nhớ mọi người cứ nói tới nói lui các con số. Một khối di căn. Giai đoạn IV. Sáu phần trăm, 8 phần trăm, 10 phần trăm, 15 phần trăm. Con số ba mươi.

Vì tôi có một khối di căn lan từ khối u chính sang phần khác trong cơ thể, bất chấp kích thước lây lan, tôi đã bị quẳng vào nhóm giai đoạn IV. Ung thư đại tràng giai đoạn IV gắn với tỷ lệ sống sót rất thấp, đâu đó trong tầm từ 6 đến 15 phần trăm. Bác sĩ D.C. lặp đi lặp lại với Josh trong tối đó rằng thống kê tỷ lệ sống sót vốn dựa trên một nghiên cứu cách đó ba mươi năm rồi, vì vậy không nên tin vào con số đó quá. Một khi tôi nắm được việc mọi người lo lắng về các con số, tôi hiểu ra tại sao Josh lại quá rối trí. Josh thích các con số. Anh ấy có thể thực hiện các phép tính phức tạp trong đầu. Lúc còn trong giai đoạn tìm hiểu nhau, vài lần anh ấy từng hỏi tôi rằng, “Em nghĩ tỷ lệ chúng ta lấy nhau là bao nhiêu?”. Anh ấy nhớ số điểm của từng trận Siêu cúp Bóng bầu dục Mỹ kể từ thời mới bắt đầu giải đấu. Anh ấy có thể nhớ được Roger Federer thua 5-3 trong hiệp hai vòng ba giải Wimbledon 2009. Đối với anh, cũng như đối với nhiều người khác, những con số tạo nên thứ tự trong một thế giới đầy hỗn loạn của sự ngẫu nhiên. Nên khi biết được vợ mình mắc ung thư đại tràng giai đoạn IV và thành thử khả năng sống có thể chỉ còn là con số lẻ năm năm, điều đó hiển nhiên thật quá tàn khốc.

Josh khóc nức nở đêm đó và sáng sớm hôm sau, khi anh tìm kiếm trên mạng hết lần này đến lần khác tỷ lệ sống sót của ung thư đại tràng giai đoạn IV trên chiếc ghế bố làm giường ngủ của anh. Màn hình iPad hắt lên mặt anh thứ ánh sáng ma quái trong bóng tối phòng bệnh. Anh không muốn thảo luận về các con số thống kê vì sợ chúng sẽ làm tôi buồn khổ, nhưng Josh không bao giờ có thể giấu tôi bất cứ điều gì – đó là một trong số các lý do mà tôi yêu anh nhiều đến vậy.

Và rồi anh cứ bán tín bán nghi khi thấy những con số thật sự không làm tôi khổ sở. “Thì sao nào?”, tôi nói. “Em không hiểu à?”, anh gặng hỏi, mong tôi hiểu được sự nghiêm trọng của tình hình.

Dù Josh yêu tôi nhiều như vậy, anh vẫn không thể thấu hiểu sự thật cơ bản về tôi, đơn giản vì anh không sống cuộc đời của tôi.

Anh không hiểu được sự tồn tại của tôi trên hành tinh này là bằng chứng cho thấy các con số ít ảnh hưởng đến tôi ra sao. Con số chẳng là cái đinh gì hết. Đêm đó tôi bảo anh thử quay về năm 1976, quay về cảnh hoang tàn và tuyệt vọng ngày đó, và thử tính tỷ lệ một bé gái mù may mắn sống sót qua cảnh nghèo đói không tưởng nổi, tỷ lệ cô bé ấy thoát khỏi vết nhơ vì mang trên mình một dị dạng cơ thể – thứ sẽ khiến cô bé không được bất kỳ người đàn ông nào yêu thương và không xứng đáng được làm mẹ của bất kỳ đứa trẻ nào, và tỷ lệ cô bé ấy chịu đựng được nỗi hổ thẹn khi biết rằng mình sẽ vĩnh viễn là gánh nặng của một gia đình đầy kiêu hãnh – những người sẽ phải chăm sóc cho cô như một kẻ tàn tật cả đời.

Tôi yêu cầu Josh thử tính tỷ lệ một cô bé sống sót trên biển rộng khi rất nhiều đàn ông trưởng thành đều bỏ mạng, tỷ lệ cô bé ấy giành được chút thị lực dù bị tổn thương thần kinh thị giác đã nhiều năm, tỷ lệ cô bé ấy đạt được thành công trong học vấn bất chấp kỳ vọng ít ỏi của gia đình bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết kiểu dân nhập cư, tỷ lệ cô bé ấy tốt nghiệp Trường Luật Harvard, tỷ lệ cô bé ấy gây dựng được sự nghiệp ngành luật của mình tại một trong những hãng luật đa quốc gia nổi tiếng nhất trên thế giới, và cuối cùng, tỷ lệ cô bé ấy cưới được một người đàn ông đẹp trai, tài giỏi đến từ miền Nam nước Mỹ và rồi có với anh ấy hai đứa con gái xinh đẹp. Đương nhiên, Josh không thể tính được những tỷ lệ này.

Josh bỏ ra hàng giờ để đọc các nghiên cứu y khoa, cố gắng tăng khả năng sống của tôi. Chỉ một chỗ di căn thay vì nhiều chỗ di căn sẽ tăng thêm phần trăm sống, cũng như tuổi tác và mức độ cân đối cơ thể, cũng như việc tôi được tiếp cận với hệ thống y tế tốt nhất trên thế giới, cũng như việc tôi có một hệ thống hỗ trợ tuyệt vời. Theo Josh, những yếu tố này tăng tỷ lệ sống vốn chỉ có năm năm của tôi lên đâu đó gần 60 phần trăm, mà đối với anh thế tốt hơn 6 phần trăm rất nhiều.

Thật lòng, với tôi 60 phần trăm nghe cũng chẳng to tát gì. Sự thật là bất cứ thứ gì thấp hơn 100 phần trăm đều chưa đầy đủ.

Song tất cả chúng ta đều biết, chẳng có gì trong cuộc sống là 100 phần trăm cả. Cơ hội một người phụ nữ dưới bốn mươi mắc phải ung thư trực tràng là 0,08 phần trăm theo công bố của tổ chức Mayo Clinic – Josh nói cho tôi biết chuyện này vì cá nhân tôi không tìm kiếm bất kỳ thứ gì trên mạng liên quan đến các con số thống kê. Con số này xem xét những phụ nữ mắc bệnh bởi cả hai nguyên nhân – do di truyền và không do di truyền. Khối u của tôi cho thấy không có dấu hiệu di truyền, nghĩa là khả năng tôi mắc phải ung thư đại tràng thậm chí còn thấp hơn 0,08 phần trăm. Vị bác sĩ nội khoa xuất chúng của tôi nói với tôi rằng trong ba mươi bảy năm hành nghề, ông chưa bao giờ gặp trường hợp người nào trẻ như tôi mắc ung thư đại tràng không do di truyền. Sao tôi không thấy rất đặc biệt nhỉ? Tôi có ít nhất 99,92 phần trăm cơ hội không mắc ung thư đại tràng tại giai đoạn này trong đời, song tôi lại dính phải.

Thế nên các con số chẳng có ý nghĩa gì. Chúng không đem đến sự bảo đảm, cũng không là nguồn cơn làm trầm trọng thêm vấn đề. Dĩ nhiên, sẽ tốt hơn nếu tôi ung thư giai đoạn I và không có di căn lây lan, song thậm chí khi tỷ lệ có lợi cho bạn, bạn vẫn có thể thua cuộc. Dù Josh vô cùng ám ảnh với tỷ lệ thống kê, anh ấy luôn kể tôi nghe khi đội đang lép vế thắng trận đấu bóng bầu dục hay bóng rổ và thách thức các tỷ lệ, “Đó là lý do chúng ta phải tiến hành trận đấu”.

Ờ thì, tôi ở đây để tiến hành trận đấu, và tôi chọn không sống và chết theo những gì mà những người lập nên tỷ lệ nói. Tôi chọn không đặt niềm tin vào số phần trăm của một số nhà nghiên cứu ẩn danh khi họ nhìn vào một đám số liệu khách quan. Thay vào đó, tôi chọn đặt niềm tin vào mình, vào cơ thể, trí tuệ và tinh thần của mình, vào những phần vốn đã nhuần nhuyễn trong nghệ thuật thách thức tỷ lệ của bản thân. Huấn luyện viên Taylor luôn nói với đội bóng bầu dục nghèo Panther trường Trung học Dillon của ông trong phim Ánh sáng đêm thứ Sáu (Friday Night Lights) rằng, “Mắt sáng, tâm đầy, không thể thua cuộc!”.

Tôi có mắt sáng và tâm đầy.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Ảnh đầu bài: cupofjo

Đọc bài viết

Trích đăng

Đến chết Jobs vẫn theo đuổi “thứ đó”

Quý vị sẽ chuẩn bị gì cho tương lai khi Trí thông minh nhân tạo vượt qua con người? Và sẽ tồn tại như thế nào?

Published

on

By

Trích từ: Eight - 8 cách làm chủ trí thông minh nhân tạo
Tác giả: Lee Ji-sung
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 12.2020

-  Vì sao Khoa Y Đại học Harvard bãi bỏ việc giảng dạy truyền thống?
-  Vì sao tập đoàn tài chính Goldman Sachs sa thải 598 nhân viên tài giỏi nhất?
-  Lý do Google và NASA thành lập Đại học Singularity?
-  Lý do IBM tuyển chọn nhân viên có trải nghiệm văn hóa nhân loại học?

Từ năm 2030 đến cuối thế kỷ 21, hàng tỷ người trên thế giới sẽ bị Trí thông minh nhân tạo (AI) “cướp” công ăn việc làm. Những ngành nghề lâu nay được xã hội kính trọng và đánh giá cao như nghề bác sĩ, dược sĩ, luật sư, giáo viên, nhân viên văn phòng... sẽ là những nạn nhân đầu tiên.

Lúc đó, thế giới lao dộng sẽ gồm một nhóm nhỏ những người điều khiển AI và số còn lại sẽ bị AI điều khiển với tên gọi “vô sản bấp bênh”. Vũ khí nào giúp bạn làm chủ Trí thông minh nhân tạo? Bí mật nằm ở những năng lực chỉ riêng con người mới có.

Chúng là gì? Làm sao đánh thức và phát triển vượt bậc những năng lực đó thông qua giáo dục và tự đào tạo? Cuốn sách này là cẩm nang không thể thiếu nếu bạn muốn LÀM-CHỦ-TRÍ-THÔNG-MINH-NHÂN-TẠO.

Eight - Lee Ji-sung

*

Xin hỏi quý vị

Hiện nay các trường đại học hàng đầu thế giới như Harvard, Stanford, MIT và các doanh nghiệp hàng đầu thế giới như Google, IBM đang ra sức đào tạo nhân tài làm chủ AI theo phương pháp “EIGHT”. Còn quý vị? Quý vị sẽ chuẩn bị gì cho tương lai khi Trí thông minh nhân tạo vượt qua con người? Và sẽ tồn tại như thế nào?

Hãy tưởng tượng quý vị đang đứng trên boong một con tàu đang bốc cháy dữ dội. Độ cao từ boong tàu tới mực nước biển là 50 mét, tương ứng với độ cao tầng 17 chung cư, nước biển phía dưới thì tối đen, lạnh lẽo, chuyển động dữ dội.

Quý vị sẽ làm gì?

Chạy lòng vòng trên boong tàu bốc cháy, bị lửa táp vào người rồi tử nạn? Hay can đảm nhảy từ boong tàu xuống biển?

Có lẽ quý vị sẽ trả lời thế này.

“Nếu là tôi, tôi sẽ nhảy xuống biển. Tôi sẽ không mắc sai lầm ngu ngốc vì sợ biển mà ở lại boong tàu đâu.”

Tháng 7 năm 1988, Andy Mochan có mặt trên boong tàu khoan dầu xảy ra tai nạn cháy nổ. Từ nơi ban đầu xảy ra vụ nổ, lửa nhanh chóng lan ra toàn bộ con tàu. Trên boong, lửa và khói đen cũng bắt đầu bốc lên. Không chần chừ, Andy Mochan lao xuống biển Bắc, nơi có những ngọn sóng lạnh lẽo. Việc nhảy từ độ cao tương ứng với tầng 17 của chung cư xuống biển chẳng khác gì đánh cược tính mạng, nhưng Mochan cho rằng so với việc tiếp tục ở lại trên boong tàu đang bốc cháy thì tỉ lệ sống sót sẽ cao hơn. May thay anh ấy đã sống, được cứu hộ không lâu sau khi nhảy xuống biển.

Chuyện vẫn chưa hết. Trên boong con tàu khoan dầu không ngừng bốc cháy còn có hơn 168 người khác. Tuy nhiên, họ cứ chạy tứ tán trên boong đến giây phút cuối cùng của cuộc đời một cách đầy tiếc nuối.

Tôi xin hỏi lại.

Nếu có mặt trên boong tàu đang bốc cháy đó, quý vị sẽ hành động như thế nào? Đánh cược mạng sống, một mình nhảy xuống biển? Hay ở lại cùng với 168 con người kia?

Ngay lúc này đây, con tàu khổng lồ mang tên Đại Hàn Dân Quốc đang cháy và chìm dần xuống biển. Người dân chạy tứ tán trên boong tàu, thậm chí trên tàu đang xảy ra chuyện gì họ cũng không biết và cũng không buồn tìm hiểu.

Quý vị sẽ làm gì? Quý vị sẽ giống như những người làm ngơ không biết thế giới đã thay đổi như thế nào, để cuối cùng đón nhận cái kết đáng tiếc? Hay sẽ lao xuống biển là cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đại diện cho Trí thông minh nhân tạo?

Vì sao đến chết Steve Jobs vẫn không rời Trí thông minh nhân tạo?

Tôi cũng không nhớ rõ hôm ấy là khi nào. Hôm ấy, khi bước ra ngoài, tôi cảm thấy dường như xung quanh đã thay đổi. Tất cả mọi người đều cầm thứ gì đó bóng bẩy trên tay, nhưng lúc đó tôi không để tâm quan sát kỹ. Đó là lần đầu tiên tôi tiếp cận với Iphone. Và tôi bắt đầu tò mò về Steve Jobs.

Dĩ nhiên, tôi đã biết rõ về Jobs từ lâu. Tôi từng bị thu hút bởi câu nói của Jobs “Nếu được dùng bữa trưa cùng với Socrates, tôi sẽ kể cho ông ấy nghe hết mọi công nghệ mà Apple có được”. Tôi không ngừng đọc, suy ngẫm và hiểu ra câu nói trên chỉ là lối diễn đạt theo phong cách riêng của Jobs cho cái gọi là “Phương pháp kinh doanh kiểu Socrates” mà các đại diện tiêu biểu là Peter Drucker của Mỹ và Charles Handy của châu Âu. Ngoài ra, tôi cũng biết thêm rằng bảng phả hệ trong ngành Kinh doanh hiện đại được nối tiếp theo thứ tự “các triết gia trước Socrates ®Socrates®Platon®Aristole®Vua Alexander®trường Cao học Luật Harvard®trường Cao học Kinh doanh Harvard®George Marshall®Peter Drucker, Charles Handy”. Ở đây tôi cũng tìm ra lời đáp cho câu hỏi “Làm sao ứng dụng phương pháp đối thoại của Socrates vào kinh doanh?”. Tôi đã mang tất cả sự thật cùng với câu trả lời tìm được vào bản thảo đang viết dở. Về sau, bản thảo đó được xuất bản thành sách với tựa đề Hãy lãnh đạo bằng cách đọc.

Trở lại câu chuyện về Iphone. Sau khi nhìn thấy Iphone, đúng hơn là nhìn thấy những người tôn thờ Jobs như giáo chủ và nâng niu chiếc Iphone như một quyển kinh thánh, tôi thật sự tò mò về Jobs. Tò mò mọi thứ về ông ấy, như suy nghĩ, triết lý, cảm xúc... Tôi đến hiệu sách mua tất cả các sách liên quan đến Jobs và Apple. Tôi còn đến ba thư viện mượn tất cả sách về Jobs và Apple. Nhưng tôi không mua Iphone. Lee Kun Hee – nhà sáng lập và đưa Samsung từ một doanh nghiệp hạng 3 trở thành tập đoàn Samsung hùng mạnh của hiện tại – từng nói thế này:

“Nếu quý vị đi xe buýt mà không biết nó được chế tạo như thế nào thì đó không phải là quý vị đi xe buýt mà là bị chất lên xe.”

Tôi muốn biết suy nghĩ, triết lý và cảm giác của người đã tạo ra chiếc Iphone, rồi sau đó sở hữu nó cũng không muộn.

Tôi của thời điểm đó là người như vậy. Một người vô cùng kiểu cách trong tất cả mọi việc, một người luôn luôn đập vỡ một phần chiếc cầu, và sau khi xác nhận được nó là cầu đá thì mới đi qua. Dĩ nhiên tôi của hiện tại đã khác sau khi sinh được hai đứa con. Tôi cố gắng sống như một dòng nước chảy.

Đến chết Jobs vẫn theo đuổi “thứ đó”

Hãy lãnh đạo bằng cách đọc được xuất bản vào tháng 11 năm 2010 và tái bản năm 2016, dài 432 trang. Vào thời điểm đó, thuật ngữ “nhân văn học” ở Hàn Quốc đã được giới học thuật sử dụng. Nhưng tất cả mọi người đều thốt lên: “Một quyển sách dài 368 trang với chủ đề ‘phải nhân văn’ ư? Thật là điên rồ”. Họ đều tin rằng sách của tôi sẽ thất bại. Thế nhưng thật bất ngờ, ngay lần xuất bản đầu tiên nó đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất với số lượng bản in cực lớn. Mượn lời diễn đạt của truyền thông lúc đó (chính miệng tôi nói thì đâm ra gượng gạo): quyển sách này đã thắp lên ngọn đuốc dẫn đường cho nhân văn học ở Hàn Quốc.

Khoảng bốn tháng sau khi quyển sách được xuất bản, tháng 3 năm 2011, ngọn đuốc ấy được châm thêm dầu. Tại sân khấu công bố Ipad 2, Steve Jobs tuyên bố: “Apple sinh ra từ điểm giao thoa giữa nhân văn học với khoa học và công nghệ.” Ngay lập tức, tuyên bố này gây xôn xao trong giới doanh nghiệp. Họ rỉ tai nhau rằng, “Yếu tố dẫn tới thành công của Jobs là nhân văn học”, “Bây giờ chúng ta phải theo nhân văn học thôi”. Con đường phát triển của doanh nghiệp hướng đến giới học thuật, các học giả nhạy bén bắt đầu sản xuất ra các bài giảng nhân văn học phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Trường đại học, Chính phủ, Quốc hội, chính quyền địa phương, tổ chức xã hội... đều thay đổi theo sự thay đổi của doanh nghiệp, cuối cùng cả nước bắt đầu nhộn nhịp theo đuổi nhân văn học.

Bản thân tôi cũng rơi vào vòng xoáy của trào lưu đó. Tới lúc định thần lại, tôi phát hiện mình đang đứng lớp giảng về nhân văn học trước các nhà tài phiệt, CEO và chính trị gia. Nhưng trong lòng tôi lại cảm thấy bất an. Chẳng phải tôi đã từng gánh món nợ bảo lãnh 2 tỷ won và sống trong căn phòng gác mái vốn là kho chứa đồ nhưng được sửa chữa trái phép sao? Lúc đó, tôi đã cầu nguyện rất nhiều để xin Chúa cứu giúp. Chỉ cần Chúa cho tôi thành công trong mảng viết lách thì tôi sẽ dành cả đời, cho đến chết, để sống vì những người gặp khó khăn như tôi lúc này.

Tôi rất thích được mời đến nơi nào đó sang trọng nhưng cũng rất đắn đo khi nghĩ đến lời cầu xin với Chúa lúc còn là một tác giả vô danh. Cũng may là sự rối rắm đó của tôi kéo dài không lâu. Một ngày nọ, tôi đoạn tuyệt mối quan hệ với xã hội thượng lưu. Dĩ nhiên, hiện tại tôi đã kết nối lại với một số người, nhưng nếu nghĩ lại tôi cũng không hiểu rốt cuộc tại sao mình lại đột ngột đưa ra phán quyết và hành động như thế.

Từ lúc đó, cùng với các thành viên trong hội Polle Polle (Fan Café), tôi bắt đầu công việc phổ cập giáo dục nhân văn học ở trung tâm thiếu nhi địa phương trong nước, giúp đỡ trẻ em nghèo cùng những người thoát ly khỏi Triều Tiên. Bên cạnh đó, tôi cũng bắt tay vào việc xây dựng trường học ở những nơi nghèo khó bên ngoài Hàn Quốc.

Tôi đặc biệt say mê dự án làng tị nạn ở nước ngoài. Từ Đông Nam Á, Ấn Độ qua Pakistan, Nga, Nam Mỹ đến những trại tị nạn ở Trung Đông, châu Phi và Syria đều thiếu trường học nên chúng tôi trực tiếp đến thăm và lưu lại khá lâu ở những nơi đó.

Cùng sinh hoạt với những người dân vốn khác nhau về ngôn ngữ, một ngày nọ tôi bắt đầu đọc sách và suy ngẫm.

Cả ngày ở một làng tị nạn tràn lan người bệnh vô gia cư và người ăn xin như Kolkata (Ấn Độ), tôi vừa đọc Kant vừa suy ngẫm về vấn đề “Làm triết học là gì?”.

Ở ngôi làng của tộc người Maasai châu Phi, nơi có độ cao 1.800 mét so với mực nước biển, không có điện cũng không có nước, tôi đọc Tham luận triết học luân lý của Ludwig Josef Johann Wittgenstein và nghĩ về “điều không thể nói”.

Khi qua đêm trong công-ten-nơ ở trại tị nạn Jordan Syria, nơi có đầy bom của IS, tôi đọc Tân Ước và suy ngẫm về ý nghĩa của hoang mạc mà Thánh Gioan Baotixita và Chúa Jesus từng trú ngụ. Ban ngày, tôi đã quan sát nơi này khi ngồi trên ô tô.

Chuyện xảy ra khi tôi hoạt động tình nguyện ở Tondo, Philippine, một trong ba thành phố nghèo nhất trên thế giới. Sau khi kết thúc lịch trình một ngày làm việc, tôi đi vào thành phố và ghé qua hiệu sách. Khắp nơi trong hiệu sách đều trưng bày quyển Steve Jobs (bản tiếng Anh) của Walter Isaacson, cuốn tiểu sử duy nhất được Steve Jobs công nhận. Tôi lật qua vài trang rồi rời khỏi hiệu sách trở về Tondo. Tuy nhiên, kỳ lạ là gương mặt của Steve Jobs được in lớn trên bìa sách cứ ám ảnh tôi mãi. Tôi đã bối rối trong chốc lát, nhưng ngay lập tức đưa ra quyết định:

“Tốt thôi! Mình sẽ chỉ nghĩ về Jobs cho đến khi ông ấy không còn xuất hiện trong tâm trí bất bình thường này nữa!”

Tôi bắt đầu cuộc chạm trán lạ lùng với Jobs. Khi đó bất chợt trong đầu tôi nảy ra câu hỏi.

“Mọi người đang nói về Jobs và nhân văn học, vậy nhân văn học mà Jobs nhắc đến là gì? Nhân văn học vốn dĩ được chia thành triết học – lịch sử – văn chương, trong đó riêng triết học đã bao gồm Triết học phương Tây, Triết học phương Đông, Triết học Ấn Độ,... Triết học phương Tây lại gồm Triết học cổ đại, Triết học trung đại, Triết học cận đại... Đâu chỉ có thế. Riêng Triết học cổ đại phương Tây thôi đã có nhiều triết gia rồi. Vậy nhân văn học của Jobs rốt cuộc là triết học, lịch sử, văn chương của những ai, ở thời đại nào? Liệu có phải Socrates từng được nhắc tới ở đầu chương sách này? Không. Lúc đó Jobs có nói là ông dựa trên phương pháp kinh doanh của bản thân. Nhân văn học kết hợp với khoa học công nghệ của Apple có lẽ bắt nguồn cội rễ từ Socrates nhưng đó không phải là Socrates. Vậy nhân văn học của Jobs rốt cuộc là gì?”

Vài ngày sau tôi trở về Hàn Quốc. Để có được lời đáp cho câu hỏi này, tôi đã tìm kiếm gần như tất cả các sách và bài giảng ở Hàn Quốc có nhắc tới Jobs, Apple và nhân văn học. Tôi còn gặp gỡ các học giả và chuyên gia ngành nhân văn có tiếng để thăm hỏi. Nhưng dù ở đâu, với ai, tôi cũng không tìm được câu trả lời. Tất cả đều hỏi tại sao tôi lại thắc mắc điều đó. Do vậy, tôi nghiên cứu về Jobs lại từ đầu. Tôi đọc và nghiền ngẫm lại toàn bộ các sách liên quan đến Jobs và Apple, chụp màn hình lưu lại các bài báo trong nước nói về Jobs. Những video nói về Jobs hay có Jobs xuất hiện tôi cũng tua đi tua lại để xem. Ví dụ như chương trình “Steve Jobs: Cuộc phỏng vấn bị đánh mất”, tôi tự tay bê toàn bộ phụ đề lưu vào laptop, đọc đi đọc lại hơn mười lần, hay mẩu quảng cáo “Think Different” huyền thoại của Apple phản ánh triết lý của Jobs tôi cũng xem đi xem lại hơn ba mươi lần.

Và cuối cùng tôi biết được sự thật: Nhân văn học của Jobs là triết học công cụ xuất hiện trong cuốn Tồn tại và Thời gian của triết gia Martin Heidegger; sự kết hợp giữa nhân văn học và khoa học công nghệ có nghĩa là tác nghiệp của Mark Weiser, người đứng đầu PARC (Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto); “Simple” (mẫu) là triết lý thiết kế của Trường dạy nghệ thuật Bauhaus ở Đức và triết lý thiết kế kiến trúc Mỹ được phát triển và kế thừa từ Louis Henry Sullivan ® Frank Lloyd Wright ® Joseph Eichler. Sau này, tôi nói rõ hơn về những điều này trong quyển Nhân văn học trong tôi.

Ngày 5 tháng 10 năm 2011, Steve Jobs qua đời. Nhiều người trên thế giới tiếc thương cho sự ra đi của Jobs. Làn sóng này cũng xảy ra ở Hàn Quốc. Bất chợt, tôi tò mò về sự ra đi của ông.

“Jobs đã làm gì trước khi chết? Lẽ nào ông lại không đóng góp một khoản tiền khổng lồ cho nơi nào đó, như bệnh viện ung bướu chẳng hạn? Và hẳn là ông đã dành trọn khoảng thời gian quý báu cuối cùng bên những người thân yêu?”

Khác với phỏng đoán của tôi, Jobs vẫn miệt mài nghiên cứu Trí thông minh nhân tạo.

Năm 2003, Cơ quan Chỉ đạo Dự án Nghiên cứu Quốc phòng tiên tiến (DARPA) thuộc quyền quản lý của Bộ Quốc phòng Mỹ, cùng với Viện Nghiên cứu Quốc tế Stanford (SRI International), xúc tiến dự án Trí thông minh nhân tạo CALO (Trợ lí nhận thức học và tổ chức) với mục đích nghiên cứu và phát triển Trí thông minh nhân tạo có khả năng học tập và suy luận đến có thể đối thoại với con người. Dự án huy động khoảng 300 chuyên gia về Trí thông minh nhân tạo và được tiến hành trong 5 năm. Viện Nghiên cứu Quốc tế Stanford đã tách riêng một phần của dự án này và cho khởi nghiệp. Tháng 4 năm 2010, Jobs chi khoảng 2.260 tỷ won mua lại doanh nghiệp này. Jobs trực tiếp chỉ đạo dự án Trí thông minh nhân tạo Iphone, phát triển phần mềm Siri. Jobs qua đời sau hôm công bố Iphone 4S có tích hợp trợ lí nhận dạng giọng nói Siri.

Chính vì vậy, trong một năm rưỡi trước khi qua đời, Jobs bỏ ra một số tiền khổng lồ mua lại doanh nghiệp start-up về Trí thông minh nhân tạo, trực tiếp chỉ huy dự án Trí thông minh nhân tạo và ngừng thở vào hôm sau ngày dự án đó được hoàn thành. Nói đơn giản, Jobs đã dồn hết sức sống còn lại của mình cho Trí thông minh nhân tạo. Sẽ thế nào nếu Jobs không dồn hết tâm huyết vào Trí thông minh nhân tạo cho đến lúc cuối đời? Biết đâu ông ấy sẽ sống thêm được một thời gian. Không chừng bây giờ ông ấy vẫn còn sống.

Thông qua nhiều cách, tôi biết việc quan trọng nhất mà Jobs đã làm được trước khi chết, tôi bị sốc nặng, mặt nghệch ra. Tôi không hiểu “Jobs bị gì vậy?”, “rốt cuộc Trí thông minh nhân tạo là cái quái gì?”. Đương nhiên, từ năm 2004, tôi đã biết các doanh nghiệp IT lẫy lừng của Mỹ đều tập trung vào Trí thông minh nhân tạo, dựa vào câu nói của Bill Gates “Tôi sẽ dẹp hết mọi việc sang một bên và chạy ngay tới nếu nơi đó có thông tin liên quan đến Trí thông minh nhân tạo” trong quyển Buffett & Gates on Success (tạm dịch Buffett và Bill Gates nói về thành công) được dịch và xuất bản bằng tiếng Hàn. Thế nhưng, khi đó với tôi, Trí thông minh nhân tạo là thứ nằm giữa ranh giới của khoa học viễn tưởng và khoa học. Không, nó gần với khoa học viễn tưởng hơn. Tuy nhiên khi lần theo hành tung của Jobs trước khi mất, tôi nhận ra Trí thông minh nhân tạo hoàn toàn không phải là khoa học viễn tưởng. Từ lúc này tôi nghiêm túc đón nhận Trí thông minh nhân tạo, chính thức bắt đầu nghiên cứu về nó. Tháng 3 năm 2015, tôi mang một phần nội dung nghiên cứu được vào Nhân văn học trong tôi.

Không ai quan tâm

Nhân văn học trong tôi leo lên vị trí số 1 của thể loại sách tổng hợp bán chạy nhất sau khoảng 2 tháng xuất bản. Quỹ tin tức về Nhân văn học trong tôi mà tôi thực hiện cùng với Daum (trang thông tin điện tử) đạt hơn 100 triệu won và tạo ra một đề tài lớn. Trong thâm tâm, tôi đã kỳ vọng rằng “mối quan tâm về Trí thông minh nhân tạo sẽ bùng nổ ở Hàn Quốc ngay thôi”. Nhưng rốt cục, chỉ mình tôi đơn thương độc mã nghĩ như thế trên đất nước Kim Chi này. Thật đó, không ai quan tâm đến Trí thông minh nhân tạo cả. Chán nản, tôi chọn cách quên nó đi.

Rồi một ngày nọ, theo tôi nhớ có thể là do AlphaGo, cả nước đã náo loạn. Tôi nhận được liên lạc từ nhà xuất bản. Họ bảo rằng một doanh nghiệp đề nghị tôi đến giảng cho họ về chủ đề “Trí thông minh nhân tạo và nhân văn học”. Thật thú vị. Và tôi đã đồng ý ngay.

Doanh nghiệp đó có khá nhiều nhân viên nên buổi thuyết giảng được chia thành hai lượt, sáng và chiều. Trong giờ ăn trưa hôm đó đã xảy ra một sự việc khiến tôi thay đổi ý nghĩ về Trí thông minh nhân tạo. Ngồi dùng cơm cùng Tổng giám đốc và ban lãnh đạo nhưng thật tình tôi không thể nuốt nổi cơm.

Lý do là vì sau lời mào đầu lê thê, ẩn ý sâu xa của ông Tổng: “Chắc nhà văn cũng quan sát thấy, công ty chúng tôi được nhiều người từ Trung Quốc, Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Đông và dĩ nhiên cả Mỹ và châu Âu thường xuyên lui tới. Thế nhưng, không biết từ bao giờ mọi người bắt đầu nói với nhau về Trí thông minh nhân tạo. Tôi tìm hiểu và biết rằng thế giới đang được tái cấu trúc, lấy Trí thông minh nhân tạo làm trung tâm. Vì vậy, công ty chúng tôi đã mời nhiều chuyên gia về Trí thông minh nhân tạo để nghe họ thuyết giảng. Nhưng tất cả đều chỉ trình bày đại loại như công nghệ Trí thông minh nhân tạo phát triển như thế này; trong tương lai do Trí thông minh nhân tạo mà thế giới sẽ thay đổi như thế này; Trí thông minh nhân tạo giống như SkyNet trong phim Kẻ hủy diệt, nó xuất hiện và biến nhân loại thành nô lệ của nó. Anh thử nghĩ xem, những chuyện đó liên quan gì đến chúng tôi? Việc quan trọng không phải là đưa ra đáp án cho câu hỏi “Chúng tôi cần chuẩn bị gì cho tương lai?” hay sao? Giờ đây chắc chắn sẽ sớm đến thời đại mà Trí thông minh nhân tạo vượt qua được con người. Vậy tóm lại lúc đó là khi nào, chúng tôi phải đào tạo, biến hóa bản thân như thế nào, nhân viên và con cái của nhân viên chúng tôi cũng phải học và chuẩn bị ra sao, họ phải cho chúng tôi biết những thứ đó chứ. May mắn là trong quyển Nhân văn học trong tôi của anh có thể hiện đôi chút nội dung như thế nên lần này chúng tôi đã mời anh. Cảm ơn nhà văn, dù bận rộn nhưng đã nhận lời đến đây”.

Từng thành viên ban lãnh đạo luân phiên đưa ra lời thắc mắc, người thì hỏi đứng trước thời đại Trí thông minh nhân tạo thì bản thân tôi phải chuẩn bị gì, người thì kể chi tiết con cái họ đang được cha mẹ chuẩn bị cho như thế nào và hỏi vậy định hướng và phương pháp của họ có đúng không, người khác lại hỏi tôi có thể cho họ lời khuyên không.

Tôi nhớ đó là bữa trưa khá mệt mỏi như cả ngày hôm đó, nhưng tôi nhận ra điều này:

“Ừ nhỉ, việc quan trọng là trả lời câu hỏi “Trong thời đại Trí thông minh nhân tạo thì tôi cần phải chuẩn bị gì?”. Đúng thế, việc cần thiết với tất cả mọi người chính là điều đó. Sau này mình phải nghiên cứu sâu hơn về nó.”

40.000 người đối đầu với 49.960.000 người

Buổi thuyết giảng ở doanh nghiệp đó có phải là bước ngoặt với tôi? Đột nhiên các lời đề nghị thuyết giảng về Trí thông minh nhân tạo bắt đầu ập tới xối xả. Ban đầu tôi từ chối “Ôi trời, tôi không phải là người nghiên cứu hay phát triển Trí thông minh nhân tạo gì cả, tôi chỉ là nhà văn thôi”. Trí thông minh nhân tạo không phải là chuyên môn của tôi nên tôi đã bối rối khi nhận được đề nghị thuyết giảng từ khắp cả nước chứ không phải một hai nơi.

Sự thực ở thời điểm đó tôi không hề có ý định sẽ viết quyển sách này. Bỗng một hôm khi đang đọc sách liên quan đến Trí thông minh nhân tạo ở thư viện, tôi vô tình biết được xã hội nhân loại tương lai sẽ chia thành “giai cấp ra chỉ thị cho Trí thông minh nhân tạo” và “giai cấp nhận chỉ thị của Trí thông minh nhân tạo”. Và cũng được biết chuyện các nước tiên tiến đã nỗ lực từ lâu để sản xuất ra nhiều nhất có thể các công dân phụ thuộc vào điện tử. Tôi đã sốc. Càng sốc hơn khi biết được sự thật tiếp theo. Hàn Quốc gần như không có người hiểu biết về lĩnh vực này. Truyền thông cũng không đả động đến.

Hỏng rồi. Tôi cảm thấy bất an, nếu cứ tiếp tục thế này thì sẽ lặp lại lịch sử của thời kỳ Đại Hàn Đế Quốc. Tôi bắt đầu tích lũy tài liệu để viết sách. Tôi gần như đã đọc hết các sách về Trí thông minh nhân tạo được xuất bản cũng như tất cả các tin tức liên quan mà truyền thông đã đăng. Bằng cách đó tôi đã thu thập tài liệu trong hơn một năm, và mất khoảng ba tháng để phân tích tài liệu.

Thế nhưng, thật khó để đặt bút viết. Trong suốt hai năm, tôi bận bịu với các bài giảng ở khắp nơi trên cả nước, đồng thời phải giải quyết nhiều công việc khác nên trong một tháng nhiều lắm chỉ viết được khoảng năm hay sáu lần. Tính bình quân mỗi lần giảng có khoảng 300 người nghe thì tất cả tôi đã giảng cho khoảng 40.000 người. Ngược lại, số người không được nghe giảng về Trí thông minh nhân tạo, số người được cho là không hề quan tâm đến Trí thông minh nhân tạo chiếm khoảng 49.960.000 người.

Hơn nữa, môi trường chung của Hàn Quốc thì sao? Hãy nhìn vào nhóm 8 trường hàng đầu Gangnam gần như giữ vai trò dẫn đường cho giáo dục Hàn Quốc. Ngay lúc này, mọi người không thấp thỏm lo lắng là do giáo dục đã bớt chạy theo hướng nhồi nhét chăng? Tất cả các nước tiên tiến đều tuyên bố rằng trong tương lai chỉ số thông minh (IQ) của Trí thông minh nhân tạo sẽ vượt qua mức 10.000 nên kiểu giáo dục học thuộc lòng hoàn toàn không có ý nghĩa, họ đang nỗ lực để giúp trẻ em phát triển năng lực mà Trí thông minh nhân tạo tuyệt đối không thể có. Minh họa cho điều này, không khác gì việc súng đã được phát minh và tất cả mọi người đều trang bị súng, chỉ riêng chúng ta vẫn còn dạy cho trẻ con cách chế tạo mũi tên tốt hơn một chút. Hay chuyện con người đã phát minh ra điện và mọi người đang tạo ra nền văn minh từ điện nhưng chỉ mỗi chúng ta lại đang dạy cho trẻ con cách làm nến có thể cháy lâu hơn một chút.

Còn Chính phủ và Quốc hội thì sao? Trong khi các cơ quan nghiên cứu trên thế giới và cả trong nước đang tranh nhau công bố các báo cáo về việc trong tương lai khoảng 10 năm tới thế giới sẽ thay đổi, lấy Trí thông minh nhân tạo làm trung tâm, các nghề nghiệp mang tính chuyên môn và dĩ nhiên bao gồm cả nghề lao động đơn giản, thậm chí các công việc kỹ thuật sẽ bị thay thế bởi Trí thông minh nhân tạo thì ở Hàn Quốc, Chính phủ và Quốc hội lại không đưa ra được đối sách nào cả. Khoan nói tới chuyện ra đối sách thiết thực, ngay cả việc hướng dẫn người dân như Chính phủ và Quốc hội Nhật đã làm: “Khi xin việc hãy lựa chọn công việc mà về sau không bị Trí thông minh nhân tạo thay thế”, họ còn không thể làm được.

Thế còn vấn đề Triều Tiên? Không riêng Yuval Noah Harari, các nhà khoa học hàng đầu của thế giới cũng khuyến cáo Hàn Quốc có thể trở thành quốc gia phải đương đầu với mối nguy hiểm lớn nhất trong thời đại của Trí thông minh nhân tạo. Một người như Kim Jong-un sau này có thể xây dựng đội quân robot bằng Trí thông minh nhân tạo. Thực tế, hiện nay điều khiến binh lính khiếp sợ nhất trong lúc giao chiến không phải là lính con người mà là lính robot được chế tạo từ Trí thông minh nhân tạo. Tóm lại, chúng ta phải nhìn vấn đề Triều Tiên trên quan điểm của thời đại Trí thông minh nhân tạo. Sự uy hiếp từ đội quân robot Trí thông minh nhân tạo sẽ không biến mất cho dù chế độ Kim Jong-un sẽ chấm dứt ở Triều Tiên, 200.000 tù nhân chính trị bị bắt giam được trả tự do và nhân quyền được khôi phục, từ Bắc chí Nam được thống nhất theo chủ nghĩa tự do dân chủ với vai trò chủ đạo của Đại Hàn Dân Quốc.

Ngoài ra, xung quanh Hàn Quốc còn có Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, những quốc gia có tiềm năng quân sự hùng mạnh, có thể xây dựng quân đội robot Trí thông minh nhân tạo mạnh mẽ hơn, đáng sợ hơn cả Triều Tiên. Ba quốc gia này có bốn điểm chung như sau.

Thứ nhất, đã từng giao tranh với Hàn Quốc.

Thứ hai, giữa họ cũng từng xảy ra giao tranh.

Thứ ba, các nước láng giềng đều có kế hoạch triển khai quân đội đến bán đảo Triều Tiên trong tình huống khẩn cấp. Trung Quốc đã bố trí khoảng từ 500 đến 1.200 tên lửa mang đầu đạn hạt nhân hướng về bán đảo Triều Tiên; chưa hết, họ còn có đội quân chuyên biệt phụ trách bán đảo Triều Tiên từ trước; Nga cũng cho quân đội tập trận cùng với đội quân này của Trung Quốc; Nhật thì tuyên bố nếu nguy cấp họ bắt buộc phải triển khai quân tự vệ lên bán đảo Triều Tiên.

Thứ tư, ngay thời điểm hiện tại họ đang đầu tư chi phí quân sự rất lớn để xây dựng quân đội vững mạnh.

Tóm lại Trung Quốc, Nga, Nhật Bản đều là những nước mạnh về kinh tế và quân sự. Ba quốc gia này liệu có ngồi yên trong thời đại Trí thông minh nhân tạo? Tuyệt đối là không rồi. Họ sẽ sản xuất ra đội quân robot Trí thông minh nhân tạo theo tiêu chuẩn hiện đại nhất của thế giới và đưa vào thực tiễn. Chúng ta phải nhìn thấy tương lai này và chuẩn bị đối phó với nó. Nếu không, chúng ta sẽ không bảo vệ được mình trong thời đại Trí thông minh nhân tạo.

Quốc gia đứng đầu thế giới về “tỷ lệ robot thay thế con người”

Toàn bộ tai ương về Trí thông minh nhân tạo do sự vô tri, vô năng của Chính phủ và Quốc hội gây ra sẽ trở thành gánh nặng cho người dân. Quý vị có biết quốc gia số 1 thế giới về “tỷ lệ robot thay thế con người” nằm ở đâu không? Chính là Hàn Quốc. Theo báo cáo do tổ chức Liên minh Robot thế giới (IFR) công bố, ở Hàn Quốc, cứ 10.000 người lao động thì có khoảng 462 đến 531 người bị robot thay thế, nhiều hơn mức trung bình 69 người của thế giới (số liệu năm 2016).

Sau này, nếu thời kỳ Trí thông minh nhân tạo chính thức bắt đầu thì Hàn Quốc có khả năng rất cao sẽ trở thành quốc gia số 1 trên thế giới tính theo tỷ lệ người bị Trí thông minh nhân tạo thay thế. Điều này có ý nghĩa gì? Có nghĩa là quý vị, người hiện đang đọc bài viết này có nhiều khả năng sẽ bị mất việc do Trí thông minh nhân tạo gây ra. Lỡ như tình huống đó xảy ra, quý vị và gia đình quý vị sẽ thế nào? Mới nghĩ thôi đã thấy kinh khủng. Có một việc còn kinh khủng hơn nữa. Quý vị hoàn toàn không biết về việc này, cũng như không hề có sự chuẩn bị nào để đối phó với nó.

Nhóm đặc quyền ở Hàn Quốc, cả cánh tả lẫn cánh hữu đều kém năng lực, nhưng dù sao ở Hàn Quốc họ vẫn là tập thể chuẩn bị tốt nhất cho tương lai. Từ sau sự kiện AlphaGo, họ đều đặn tham dự các diễn đàn hay các buổi diễn thuyết, buổi thảo luận về vấn đề Trí thông minh nhân tạo, chăm chỉ cóp nhặt kiến thức liên quan. Nếu không tin, quý vị hãy thử gõ từ khóa đại loại như “diễn đàn Trí thông minh nhân tạo” hay “diễn thuyết Trí thông minh nhân tạo”, “thảo luận Trí thông minh nhân tạo” vào mục tìm kiếm tin tức trên mạng mà xem.

Dĩ nhiên việc học tập, nghiên cứu Trí thông minh nhân tạo của nhóm đặc quyền chỉ dừng lại ở kiểu nhồi nhét. Thế nhưng thực tế họ là những người có nhiều hiểu biết nhất về Trí thông minh nhân tạo, có sự chuẩn bị tốt nhất cho thời đại Trí thông minh nhân tạo ở Hàn Quốc. Hơn nữa, ngoài tài sản và quyền lực, họ còn có cả mối quan hệ. Vì thế, dù thời đại Trí thông minh nhân tạo có xảy ra thì khả năng cao họ vẫn có thể sống tốt.

Nhưng đại đa số những người không có đặc quyền nào cả sẽ ra sao? Ở đây tôi sẽ nói cụ thể, đó là chuyện chúng ta sẽ mất việc làm, gia cảnh rơi vào khốn khó chỉ trong một buổi sáng và phải sống cuộc sống của kẻ nghèo khổ trong suốt phần đời còn lại.

Quý vị sẽ làm gì?

Cứ sống như hiện tại rồi một ngày nọ bị loại bỏ bởi Trí thông minh nhân tạo có tài năng vượt trội hơn quý vị?

Hay là ngay từ bây giờ quý vị sẽ biến mình thành người “Tôi-không-bị-Trí-thông-minh-nhân-tạo-thay-thế”, tức là trở thành chủ nhân của Trí thông minh nhân tạo?

Tôi hy vọng quý vị sẽ lựa chọn ý thứ hai. Tôi hy vọng quý vị sẽ là một cá thể mạnh mẽ có thể bảo vệ cho những người thật sự quan trọng với quý vị và cả bản thân quý vị trong tương lai.

Nếu quý vị bắt đầu bước đi trên con đường trở thành “Tôi-không-bị-Trí-thông-minh-nhân-tạo-thay-thế”, những người xung quanh quý vị cũng sẽ quan tâm đến con đường này. Và họ sẽ bắt đầu sánh bước cùng quý vị.

Chỉ khi người dân Hàn Quốc chuẩn bị cho tương lai theo cách như thế thì mới mở rộng được cánh cửa cường quốc Trí thông minh nhân tạo phía trước.

Tôi tin chắc là vậy.

Đây là lý do khiến tôi cầm bút sau hồi lâu lưỡng lự.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng