Trích đăng

Chương 1 “Thay đổi tí hon, Hiệu quả bất ngờ” – James Clear

“Thay đổi tí hon – Hiệu quả bất ngờ” là quyển cẩm nang thiết thực giúp bạn cải thiện thói quen mỗi ngày được Công ty Sách Phương Nam liên kết xuất bản và phát hành vào tháng 11 năm 2019.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Thay đổi tí hon, hiệu quả bất ngờ

Tác giả: James Clear

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: Tháng 10.2019

Giới thiệu sách:

Thay đổi tí hon – Hiệu quả bất ngờ là quyển cẩm nang thiết thực giúp bạn cải thiện thói quen mỗi ngày được Công ty Sách Phương Nam liên kết xuất bản và phát hành vào tháng 11 năm 2019. Tác giả của sách, James Clear, một trong những chuyên gia hàng đầu về hình thành thói quen, là người sáng tạo The Habits Academy, trang jamesclear.com của anh có hàng triệu lượt truy cập mỗi tháng. Anh cũng là diễn giả thường xuyên tại các công ty nằm trong bảng xếp hạng Fortune 500. Trong Thay đổi tí hon – Hiệu quả bất ngờ, James Clear đã chắt lọc những kiến thức đã được chứng minh từ tâm lý học, truyền tải một cách đơn giản những vấn đề tưởng chừng khó tiếp cận, nhằm đưa ra những cách thức dễ dàng ứng dụng vào đời sống và công việc hằng ngày.


Chương 1

Sức Mạnh Đáng Kinh Ngạc Của Thói Quen Nguyên Tử1

Số phận của British Cycling thay đổi vào một ngày năm 2003. Tổ chức này, vốn là cơ quan quản lý vận động viên đua xe đạp chuyên nghiệp ở Great Britain2, lúc ấy vừa mới thuê Dave Brailsford về làm giám đốc hiệu năng3. Vào lúc đó, các tay đua chuyên nghiệp ở Great Britain đã phải chịu đựng sự tầm thường gần một trăm năm. Từ năm 1908, các tay đua nước Anh chỉ giành được một huy chương vàng ở các kỳ Thế vận hội, và thậm chí thành tích của họ còn tệ hơn trong cuộc đua xe đạp lớn nhất hành tinh – Tour de France. Trong 110 năm, không có tay đua Anh nào thắng giải này.

Thực tế là thành tích của các tay đua Anh đã kém ấn tượng đến mức một trong những hãng sản xuất xe đạp hàng đầu châu Âu đã từ chối bán xe đạp cho đội tuyển bởi vì họ lo sợ bị ảnh hưởng doanh số nếu các tay đua chuyên nghiệp khác nhìn thấy đội Anh dùng đồ của hãng mình.

Brailsford được thuê về để đưa British Cycling vào quỹ đạo mới. Điều làm ông khác biệt với các huấn luyện viên khác là cam kết bền bỉ của ông với chiến lược mà ông gọi là “lợi ích cộng gộp”4, vốn là triết lý tìm kiếm những cải thiện vi tiểu trong mọi thứ bạn làm. Brailsford nói, “Toàn bộ nguyên lý đến từ ý tưởng rằng nếu bạn chia nhỏ mọi thứ bạn có thể nghĩ đến về việc chạy xe đạp, thì khi bạn cải thiện từng mẩu nhỏ ấy dù chỉ 1%, bạn sẽ nhận được sự gia tăng đáng kể khi bạn ghép mọi thứ trở lại với nhau.”

Brailsford và các huấn luyện viên của mình bắt đầu thi hành các điều chỉnh nhỏ mà bạn hẳn là mong đợi từ một đội đua xe đạp chuyên nghiệp. Họ thiết kế lại các yên xe sao cho dễ chịu hơn và bôi cồn vào lốp xe để bám dính tốt hơn. Họ yêu cầu các tay đua mặc loại quần đùi gia nhiệt bằng điện5 để duy trì nhiệt độ lý tưởng cho cơ bắp trong khi đạp xe và dùng cảm biến phản hồi sinh học để giám sát phản ứng của mỗi vận động viên với một loại bài tập nhất định. Đội ngũ đã thử nghiệm nhiều loại vải khác nhau trong một đường hầm thổi gió và yêu cầu các tay đua ngoài trời chuyển sang bộ trang phục đua xe trong nhà, được chứng minh là nhẹ hơn và tối ưu hơn về mặt khí động học.

Nhưng họ không dừng ở đấy. Brailsford và đội của ông còn tiếp tục tìm kiếm 1% cải thiện ở những khía cạnh đã bị coi nhẹ lẫn các khía cạnh không ai ngờ tới. Họ thử nhiều loại gel xoa bóp để xem loại nào giúp hồi phục cơ bắp nhanh nhất. Họ thuê một bác sĩ hướng dẫn cho mỗi tay đua cách rửa tay tốt nhất để giảm thiểu nguy cơ bị cảm cúm. Họ chọn loại gối và nệm mang đến giấc ngủ ngon nhất cho mỗi tay đua. Họ thậm chí còn sơn màu trắng bên trong thành xe tải của đội tuyển, để giúp đội phát hiện các hạt bụi nhỏ xíu dễ dàng bị bỏ qua nhưng hoàn toàn có thể làm giảm giá trị hiệu năng của những chiếc xe đạp đã được tinh chỉnh tối ưu.

Khi tất cả hàng trăm cải thiện nhỏ nhặt này tích tụ lại, kết quả ập đến nhanh hơn tưởng tượng của bất kỳ ai.

Chỉ năm năm sau khi Brailsford nắm quyền, đội British Cycling chiếm lĩnh các hạng mục đua xe đạp đường trường và đua xe đạp trong nhà tại Olympic 2008 ở Bắc Kinh, tại đó họ đã đạt thành tích đáng kinh ngạc là giành được 60% huy chương vàng của bộ môn. Bốn năm sau, khi Olympic đến London, người Anh đã nâng tầm bản thân bằng chín kỷ lục Olympic và bảy kỷ lục thế giới.

Cùng năm đó, Bradley Wiggins trở thành cua-rơ người Anh đầu tiên thắng giải Tour de France. Năm tiếp theo, đồng đội của anh Chris Froome cũng thắng cuộc đua, và anh ấy thắng tiếp các giải năm 2015, 2016, và 2017, giúp đội Anh đạt thành tích năm lần thắng giải Tour de France trong sáu năm.

Chỉ trong mười năm từ 2007 đến 2017, các tay đua nước Anh đã vô địch thế giới 178 lần và giành được sáu mươi sáu huy chương vàng Olympic, Paralympic, và năm lần quán quân Tour de France, trong một cuộc chạy đua thành công nhất của lịch sử đua xe đạp6.

Điều này xảy ra như thế nào? Làm sao một đội tuyển có thành tích bình thường trước đây lại chuyển mình thành nhà vô địch thế giới chỉ nhờ những thay đổi nhỏ nhặt, mà trông thoáng qua có vẻ chỉ mang lại tối đa là một khác biệt khiêm tốn? Vì sao những cải thiện nhỏ tích lũy thành kết quả đáng kể, và làm sao để bạn có thể tái tạo lại phương pháp này trong cuộc sống của mình?

VÌ SAO THÓI QUEN NHỎ  TẠO KHÁC BIỆT LỚN

Thật dễ cho ta đánh giá cao tầm quan trọng của một khoảnh khắc xác định nào đó và coi nhẹ giá trị của việc tạo ra các tiến bộ nhỏ hằng ngày. Rất thường khi, ta tự thuyết phục bản thân rằng thành công lớn cần phải có hành động lớn. Từ việc giảm cân, tạo dựng sự nghiệp, viết một quyển sách, cho đến thắng một chức vô địch, hay đạt được mục tiêu bất kỳ nào khác, chúng ta đều luôn ép buộc bản thân phải tạo ra một cải tiến kinh thiên động địa khiến ai cũng nhớ tới.

Trong khi đó, cải thiện 1% lại chẳng đáng kể – đôi khi nó còn chẳng được nhận thấy – nhưng nó có thể vô cùng ý nghĩa, đặc biệt là về lâu về dài. Khác biệt mà một tiến bộ nho nhỏ có thể tạo ra theo thời gian là rất đáng nể. Đây là cách bài toán được tính: Nếu bạn có thể đạt được 1% tốt hơn vào mỗi ngày trong vòng một năm, bạn sẽ đạt được kết cuộc tốt hơn ba mươi bảy lần khi hoàn thành. Ngược lại, nếu mỗi ngày bạn tệ đi 1% thì trong một vòng một năm bạn sẽ suy giảm xuống gần như bằng không. Thứ mới đầu là một chiến thắng nho nhỏ hay một trở ngại vụn vặt sẽ tích tụ thành cái gì đó lớn hơn.

Hình 1: Tác động của các thói quen nhỏ tích lũy theo thời gian. Ví dụ, nếu bạn có thể đạt được chỉ 1% tốt hơn mỗi ngày, thì sau một năm bạn sẽ đạt một kết quả tốt hơn gấp gần 37 lần.

Thói quen là lợi nhuận cộng gộp của sự cải thiện bản thân. Tương tự như tiền bạc tăng theo cấp số nhân thông qua lãi kép, tác động của thói quen sẽ nhân lên khi bạn lặp lại chúng. Thoạt trông chúng có vẻ tạo ra rất ít khác biệt trong một ngày bất kỳ nào đấy, nhưng tác động của chúng tính theo tháng và năm có thể rất to lớn. Chỉ khi nhìn lại hai năm, năm năm, hay thậm chí là mười năm sau đó thì giá trị của thói quen tốt và cái giá phải trả cho thói quen xấu mới trở nên thật rõ ràng trước mắt.

Khái niệm này có thể khó được đánh giá cao trong đời sống thường nhật. Chúng ta thường bỏ phí các thay đổi nhỏ bởi trông chúng chẳng có giá trị mấy tại thời điểm đó. Nếu bạn bắt đầu tiết kiệm ngay bây giờ, bạn vẫn chưa thành triệu phú ngay được. Nếu bạn đến phòng tập gym ba ngày liên tiếp, bạn chưa thể lập tức thon thả. Nếu bạn học tiếng Quan Thoại một giờ liền tối nay, bạn cũng chưa thể thành thạo một ngôn ngữ. Chúng ta thay đổi một ít, nhưng kết quả dường như không bao giờ đến ngay, thế là ta trượt trở lại nếp cũ.

Không may là, tốc độ chuyển biến chậm lại là điều kiện thuận lợi cho thói quen xấu trượt dài. Nếu hôm nay bạn ăn một bữa kém lành mạnh, kim đo của cái cân không dịch chuyển mấy. Nếu tối nay bạn làm việc muộn và bỏ quên gia đình mình, họ sẽ tha thứ cho bạn thôi. Nếu bạn trì hoãn dự án của mình tới ngày mai, rồi cũng sẽ có đủ thời gian cho bạn hoàn thành sau đó. Rất dễ hủy bỏ một quyết định đơn lẻ.

Nhưng khi chúng ta lặp lại 1% sai sót, ngày qua ngày, bằng cách lặp lại các quyết định tệ hại, nhân bản các sai lầm vụn vặt, và hợp lý hóa những cái cớ nhỏ nhặt, thì các lựa chọn độc hại sẽ ghép lại thành kết cuộc độc hại. Đó là quá trình tích lũy rất nhiều bước đi sai lầm – 1% sụt giảm đây đó – cuối cùng dẫn đến một rắc rối to.

Tác động gây ra bởi một thay đổi trong các thói quen của bạn tương tự với tác động gây ra khi bạn dịch chuyển chỉ vài độ quỹ đạo của một chiếc máy bay. Hãy tưởng tượng bạn đang bay từ Los Angeles đến thành phố New York. Nếu một phi công từ sân bay LAX điều chỉnh hướng bay chỉ 3,5 độ về phía Nam, bạn sẽ hạ cánh ở Washington, D.C., thay vì New York. Một thay đổi nhỏ như thế gần như khó nhận ra được khi cất cánh – mũi máy bay chỉ chệch đi một vài mét – nhưng khi khuếch đại lên toàn bộ nước Mỹ thì bạn sẽ đáp xuống một nơi cách đó hàng trăm cây số7.

Tương tự, một thay đổi nhỏ trong thói quen thường ngày có thể hướng cuộc đời bạn đến một điểm hạ cánh rất khác. Đưa ra một quyết định tốt hơn 1% hay tệ hơn 1% dường như vô nghĩa vào thời điểm ấy, nhưng trải qua một khoảng thời gian đủ dài để tạo nên một đời người, các lựa chọn này sẽ quyết định sự khác biệt giữa việc bạn là ai và bạn đã có thể là ai. Thành công là sản phẩm của thói quen hằng ngày – không phải của một cuộc biến hình một-lần-trong-đời.

Điều đó nghĩa là, không cần biết hiện tại bạn thành công hay thất bại như thế nào. Điều thật sự có giá trị là liệu thói quen của bạn có đang đặt bạn trên con đường dẫn đến thành công hay không. Bạn nên quan tâm đến quỹ đạo hiện giờ của mình hơn là kết quả hiện tại. Nếu bạn tiêu xài vượt mức thu nhập mỗi tháng thì quỹ đạo của bạn vẫn không ổn, dù cho bạn là triệu phú. Nếu các thói quen tiêu xài này không đổi, kết cuộc sẽ chẳng tốt lắm đâu. Ngược lại, dù là bạn đang phá sản nhưng nếu bạn chịu khó tiết kiệm một ít mỗi tháng, thì bạn đang trên con đường dẫn đến tự do tài chính – kể cả khi bạn đang di chuyển chậm hơn mình mong muốn.

Kết quả của bạn chính là thước đo chậm cho các thói quen của bạn. Giá trị ròng của bạn chính là thước đo chậm của các thói quen tài chính. Cân nặng của bạn là thước đo chậm của thói quen ăn uống. Kiến thức của bạn là thước đo chậm của thói quen học hỏi. Đồ đạc của bạn là thước đo chậm của thói quen dọn dẹp. Bạn nhận được từ chính những hành động lặp đi lặp lại của mình.

Nếu bạn muốn dự đoán điểm đến của bạn trong đời, điều cần làm chính là lần theo đường cong quỹ đạo của các thành tựu nhỏ hoặc thất bại nhỏ, và xem xem lựa chọn hằng ngày của bạn gộp lại sau mười hay hai mươi năm sẽ như thế nào. Bạn có đang tiêu nhiều hơn số tiền mình kiếm được mỗi tháng? Bạn có đang chịu khó đến phòng tập gym mỗi tuần? Bạn có đang đọc sách và học hỏi điều mới mỗi ngày? Những trận chiến nho nhỏ như vậy chính là điều sẽ định nghĩa cái tôi tương lai của bạn.

Thời gian sẽ phóng đại đường biên giữa thành công và thất bại. Nó sẽ nhân lên bất kỳ thứ gì bạn nuôi dưỡng. Thói quen tốt biến thời gian trở thành đồng minh. Thói quen xấu biến thời gian trở thành kẻ thù.

Thói quen chính là con dao hai lưỡi. Thói quen xấu có thể bào mòn bạn bao nhiêu thì thói quen tốt có thể bồi đắp bạn lên bấy nhiêu, điều này là lý do vì sao việc hiểu cặn kẽ chi tiết là điểm mấu chốt. Bạn cần hiểu được cách thức thói quen hoạt động và làm thế nào thiết kế chúng theo cách bạn ưa thích, để tránh nửa nguy hiểm kia của lưỡi dao.

THÓI QUEN CÓ THỂ CỘNG GỘP VÌ LỢI ÍCH CỦA BẠN HOẶC CHỐNG LẠI BẠN

Cộng gộp tích cực Cộng gộp tiêu cực
Hiệu suất cộng gộp Hoàn thành thêm một nhiệm vụ bất kỳ tự thân nó đã là một chiến công trong một ngày của bạn, tuy vậy nó còn đóng góp giá trị thêm vào toàn bộ sự nghiệp của bạn. Việc bạn có thể tự động hóa một nhiệm vụ cũ hoặc thành thạo một kỹ năng mới còn có thể có tác dụng lớn hơn nữa. Bạn có thể thực hiện càng nhiều nhiệm vụ mà không cần suy nghĩ bao nhiêu thì não bạn càng được tự do tập trung vào các lĩnh vực khác bấy nhiêu. Căng thẳng cộng gộp Bực bội từ vụ kẹt xe. Gánh nặng làm cha mẹ. Nỗi lo phải cân đối thu chi. Cơn căng thẳng từ chuyện huyết áp hơi cao một chút. Tự thân những nguồn cơn gây căng thẳng phổ biến này hoàn toàn có thể được quản lý. Nhưng nếu chúng cứ dai dẳng nhiều năm thì những căng thẳng nhỏ nhặt này có thể tích tụ thành rắc rối to về sức khỏe.
Kiến thức cộng gộp Học một điều mới không làm cho bạn trở thành thiên tài, nhưng một cam kết học hỏi suốt đời có thể có tác dụng chuyển đổi. Thêm nữa, mỗi quyển sách bạn đọc không chỉ dạy bạn điều gì đó mới mẻ mà còn mở ra những lối suy nghĩ khác lạ cho các ý tưởng cũ. Như Warren Buffett nói, “Đó là cách kiến thức vận hành. Kiến thức tích lũy như quy tắc lãi kép vậy.” Suy nghĩ tiêu cực cộng gộp Bạn càng nghĩ mình vô dụng, ngu ngốc hay xấu xí nhiều bao nhiêu thì bạn càng tạo điều kiện cho bản thân diễn dịch cuộc đời theo hướng đó nhiều bấy nhiêu. Bạn sẽ mắc kẹt trong vòng lặp suy nghĩ ấy. Điều này cũng đúng với cách bạn nhìn nhận người khác. Một khi bạn đã rơi vào vòng xoáy thói quen nghĩ về người khác là hung dữ, bất công hay ích kỷ thì bạn sẽ thấy những loại người này ở khắp mọi nơi.
Mối quan hệ cộng gộp Mọi người sẽ phản hồi hành vi trả lại cho bạn. Nghĩa là, bạn càng giúp người nhiều thì càng nhiều người mong muốn giúp đỡ bạn. Trở nên tử tế hơn một chút trong mọi tương tác có thể giúp bạn có thêm các kết nối vừa rộng vừa bền vững theo thời gian. Thịnh nộ cộng gộp Bạo động, biểu tình hay các phong trào đám đông thường hiếm khi là kết quả của một sự kiện đơn lẻ. Thay vào đó, hàng loạt các vụ gây hấn nhỏ lẻ và các rắc rối thường ngày đã chậm rãi nhân lên cho tới khi một sự kiện nào đấy làm lệch cán cân và thịnh nộ lan ra như cháy rừng.

TIẾN TRÌNH DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO

Tưởng tượng bạn đang có một viên nước đá nằm trên bàn ngay trước mặt. Căn phòng thì lạnh, bạn có thể thấy được hơi thở lạnh của mình. Nhiệt độ phòng đang là hai mươi lăm độ8. Thật chậm rãi, nhiệt độ phòng bắt đầu tăng lên.

Hai mươi sáu độ.

Hai mươi bảy.

Hai mươi tám.

Viên đá vẫn nằm nguyên xi trên bàn trước mặt bạn.

Hai mươi chín độ.

Ba mươi.

Ba mươi mốt.

Vẫn không có gì xảy ra.

Thế rồi, ba mươi hai độ9. Viên đá bắt đầu tan. Chỉ xê dịch một độ, dường như không có khác biệt nào xảy ra trong các lần điều chỉnh nhiệt độ trước đó, nhưng đã dần mở khóa cho một biến đổi lớn lao.

Thời điểm đột phá thường là kết quả của vô số hành động trước đó, chúng tích lũy thành tiềm năng cần thiết để khơi nguồn cho một thay đổi lớn. Mô thức này xuất hiện ở mọi nơi. Ung thư dành 80% đời mình sống trong lặng lẽ không ai phát hiện, thế rồi đột phát chiếm lĩnh cơ thể người bệnh chỉ trong vài tháng. Bạn khó có thể phát hiện ra một mầm tre trong năm năm đầu đời bởi vì chúng mọc một bộ rễ sâu trong lòng đất trước khi vươn lên mặt đất hơn 27m chỉ trong sáu tuần.

Tương tự, thói quen thường không tạo ra khác biệt cho tới khi bạn vượt qua ngưỡng tới hạn và mở khóa một tầng hiệu năng mới. Đâu đó trong giai đoạn đầu và giữa của mỗi cuộc hành trình, thường thường sẽ có một Thung lũng Thất vọng.

Bạn kỳ vọng mình sẽ tăng tiến theo một con đường tuyến tính và thật là bực mình khi các thay đổi dường như chẳng có tác dụng gì trong những ngày đầu tiên, những tuần hay thậm chí là những tháng đầu. Cảm giác như mình chẳng đi đến đâu cả. Nhưng nó chính là con dấu xác nhận của bất kỳ một quá trình tích lũy nào: Các kết quả mạnh mẽ nhất đang đợi đằng sau.

Đây là một trong những nguyên nhân cốt lõi vì sao ta khó xây dựng thói quen bền vững như vậy. Mọi người tạo ra các thay đổi nhỏ, không nhìn thấy kết quả hữu hình, và quyết định dừng lại. Bạn nghĩ, “Mình đã chạy bộ mỗi ngày suốt cả tháng, vì sao mình không thấy cơ thể có chút thay đổi nào hết vậy?” Một khi loại suy nghĩ này xuất hiện thì ta rất dễ gạt bỏ thói quen tốt qua một bên. Thế nhưng để tạo ra một khác biệt có ý nghĩa thì thói quen cần phải tồn tại đủ lâu để đột phá giai đoạn bình nguyên này – tôi gọi đó là Bình nguyên Năng lực tiềm ẩn10.

Nếu bạn thấy mình đang vật lộn mãi với một thói quen mới có lợi hay là phá bỏ một thói quen cũ có hại, thì điều đó không có nghĩa là bạn đã đánh mất khả năng cải thiện. Thường đó là do bạn vẫn chưa vượt qua được Bình nguyên Năng lực tiềm ẩn. Than thở về chuyện mình chưa thành công dù đã nỗ lực thì cũng tựa như đang càm ràm vì sao cục nước đá không tan ra khi bạn gia nhiệt cho nó từ hai mươi lăm lên ba mươi mốt độ. Công sức của bạn không hề bỏ phí đâu; nó chỉ là đang tích lũy. Tất cả biến đổi sẽ xảy ra vào độ thứ ba mươi hai.

Một khi bạn đột phá tầng Bình nguyên Năng lực tiềm ẩn, người đời sẽ gọi đó là thành công trong một đêm. Người ngoài sẽ chỉ thấy được biến cố kịch tính nhất thay vì những sự kiện âm thầm diễn ra trước đó. Chỉ có bạn biết đó là toàn bộ công sức mình đã kiên trì từ rất lâu – cả khi bạn cảm thấy mình không tiến bộ chút nào – đã làm cho bước nhảy hôm nay trở nên khả dĩ.

Điều này tựa như áp lực địa chất phiên bản con người vậy. Hai mảng kiến tạo có thể va chạm xay xát với nhau trong hàng triệu năm, áp lực dần dần tích tụ theo thời gian. Rồi một ngày nào đó, chúng cọ xát lên nhau thêm một lần nữa, theo cùng một kiểu đã diễn ra từ trước tới giờ, nhưng lần này sức ép trở nên quá lớn. Một trận động đất nổ ra. Thay đổi có thể mất rất nhiều năm trước khi toàn bộ xảy ra một lần.

Thành thạo một cái gì đó đòi hỏi sự nhẫn nại. Đội San Antonio Spurs, một trong những đội bóng rổ thành công nhất lịch sử giải NBA, treo một câu trích ngôn từ nhà cải cách xã hội Jacob Riis trong phòng thay đồ của họ: “Khi dường như không có thứ gì hiệu quả, thì tôi đi ra ngoài quan sát một người cắt đá đang đập vào tảng đá, có lẽ cũng phải trăm lần mà không thấy có một vết nứt nào cả. Vậy mà vào lần gõ thứ một trăm lẻ một, tảng đá nứt làm đôi, và tôi hiểu rằng không phải cái nhát gõ cuối cùng đó làm nó vỡ ra – mà là toàn bộ những gì xảy ra trước đó.”

Hình 2: Chúng ta thường kỳ vọng tiến trình sẽ diễn ra tuyến tính. Hoặc giả ít nhất là ta muốn nó xảy ra nhanh. Thực tế là kết quả từ nỗ lực của ta thường có độ trễ nhất định. Phải đến nhiều tháng hay nhiều năm sau ta mới nhận ra giá trị thực sự của công sức đã bỏ ra trước đó. Điều này có thể dẫn đến “thung lũng thất vọng”, nơi người ta cảm thấy thoái chí sau khi đã bỏ ra hàng tuần hàng tháng trời nỗ lực mà không đạt được kết quả gì. Tuy vậy, công sức này không hề bỏ phí. Chỉ đơn giản là công sức đang được tích lũy. Phải đến rất lâu sau đó thì giá trị trọn vẹn của các nỗ lực trước đây mới lộ diện.

Những điều lớn lao luôn đến từ các khởi đầu nho nhỏ. Hạt mầm của mỗi thói quen đều bắt nguồn từ một quyết định nhỏ lẻ. Nhưng khi quyết định ấy được lặp đi lặp lại, một thói quen sẽ nảy nòi và lớn mạnh. Rễ của nó sẽ bám vào đất và cành nhánh sẽ phát triển. Nhiệm vụ phá bỏ một thói quen có hại cũng tựa như đào bỏ tận gốc một cây sồi lâu năm bên trong chúng ta. Và xây dựng một thói quen tốt cũng giống như khi bạn đang tưới tắm một bông hoa xinh xắn tại thời điểm này.

Nhưng điều gì quyết định liệu ta có thể gắn bó với một thói quen đủ lâu để vượt qua Bình nguyên Năng lực tiềm ẩn và đột phá bờ bên kia? Điều gì đã khiến cho một số người trượt vào các thói quen không mong muốn trong khi người khác thì đang tận hưởng các tác động kép của thói quen tốt?

TẠM QUÊN ĐI MỤC TIÊU,  CHÚ TÂM VÀO HỆ THỐNG

Có một niềm tin phổ biến cho rằng cách tốt nhất để đạt được cái mình muốn trong đời – chẳng hạn như lấy lại vóc dáng, kiến tạo một sự nghiệp thành công, thư giãn hơn và bớt lo âu, dành thêm thời gian ở với gia đình và bạn bè – là phải đặt ra các mục tiêu cụ thể và thi hành được.

Trong nhiều năm, đây cũng từng là cách tôi xây dựng thói quen cho mình. Mỗi cái đều là một mục tiêu cần hoàn thành. Tôi lập mục tiêu cho điểm số tôi muốn trong trường, mục tiêu cho số cân tôi muốn nâng trong phòng tập, mục tiêu cho lợi nhuận muốn kiếm được cho công ty. Tôi hoàn thành được một số, nhưng đa phần là thất bại. Cuối cùng thì tôi bắt đầu nhận ra kết quả của mình có rất ít sự liên quan đến mục tiêu mình đặt ra, và lại cực kỳ liên quan đến hệ thống mà tôi đã theo.

Điểm khác biệt giữa hệ thống và mục tiêu là gì? Tôi học được điều này từ Scott Adams, họa sĩ đứng sau bộ truyện tranh Dilbert. Mục tiêu là về các kết quả bạn muốn đạt được. Hệ thống là về quá trình dẫn đến các kết quả ấy.

  • Nếu bạn là một huấn luyện viên, mục tiêu của bạn hẳn là giành một chức vô địch. Hệ thống là cách thức bạn tuyển mộ cầu thủ, quản lý các trợ huấn, và thi hành chương trình tập luyện.
  • Nếu bạn là một doanh nhân, mục tiêu của bạn hẳn là xây dựng một doanh nghiệp triệu đô. Hệ thống có thể là cách bạn thử nghiệm các ý tưởng sản phẩm, thuê nhân viên, và chạy các chiến dịch tiếp thị.
  • Nếu bạn là một nhạc công, mục tiêu của bạn có thể là chơi một tác phẩm mới. Hệ thống của bạn có thể là tần suất bạn luyện tập, cách bạn chia nhỏ và xử lý những phân đoạn khó, và cách bạn nhận phản hồi từ nhạc sư.

Bây giờ đến câu hỏi thú vị: Nếu bạn hoàn toàn phớt lờ mục tiêu và chỉ tập trung vào hệ thống thôi, thì bạn có thành công không? Lấy ví dụ, nếu bạn là một huấn luyện viên bóng rổ và bạn bỏ qua hoàn toàn mục tiêu giành chức vô địch, bạn chỉ tập trung vào những mục mà đội bạn tập luyện hằng ngày, thì bạn vẫn đạt được kết quả ấy chứ?

Tôi cho là được.

Mục tiêu của mọi môn thể thao là hoàn thành với số điểm cao nhất, thế nhưng thật là kỳ cục nếu suốt cả trận đấu ta chỉ chăm chăm nhìn vào bảng hiển thị điểm số. Cách thức duy nhất để thực sự chiến thắng là làm cho mình tốt hơn mỗi ngày.

Nhà vô địch Super Bowl11 ba lần Bill Walsh từng nói, “Điểm số tự nó đến.” Điều này cũng đúng cho các lĩnh vực khác trong đời. Nếu bạn muốn kết quả tốt hơn thì bạn nên quên việc đặt mục tiêu đi. Thay vì vậy hãy tập trung vào hệ thống.

Ý tôi là gì? Mục tiêu hoàn toàn vô dụng à? Tất nhiên là không phải thế. Mục tiêu có tác dụng rất tốt trong việc định hướng, nhưng hệ thống mới thực sự hiệu quả cho việc tiến bộ. Hàng đống vấn đề sẽ phát sinh nếu bạn dành quá nhiều thời gian nghĩ về mục tiêu và không còn đủ thời giờ thiết kế hệ thống thực hiện mục tiêu ấy nữa.

Vấn đề 1: Người thắng lẫn kẻ thua đều có cùng mục tiêu

Việc thiết lập mục tiêu đang là nạn nhân của định kiến về người sống sót. Chúng ta tập trung vào người đã chiến thắng – những kẻ sống sót – và hiểu sai rằng các mục tiêu tham vọng dẫn tới thành công của họ chính là nguyên nhân của chiến thắng, trong khi đã bỏ qua những người có cùng mục tiêu đấy nhưng đều không thành công.

Mỗi một vận động viên Olympic đều mong muốn giành được huy chương. Mỗi một ứng viên tìm việc đều mong muốn giành được vị trí. Và nếu người thành công lẫn người thất bại đều chia sẻ cùng một mục tiêu, thì mục tiêu không phải là thứ phân biệt người thắng với kẻ bại. Không phải mục tiêu thắng giải Tour de France là lực đẩy cho các tay đua nước Anh vươn lên vị trí dẫn đầu. Có lẽ mỗi một năm trước khi thật sự bước lên bục vinh quang, họ đều mong mỏi thắng cuộc – như tất cả các đội thi đấu khác. Mục tiêu đã luôn ở đó. Chỉ khi họ thi hành hệ thống các cải tiến nhỏ liên tục thì họ mới đạt được kết quả khác đi.

Vấn đề 2: Đạt được mục tiêu chỉ là một thay đổi tạm thời

Tưởng tượng bạn có một căn phòng bừa bộn và bạn đặt mục tiêu dọn dẹp nó. Nếu bạn gom đủ năng lượng để thu dọn thì bạn sẽ có một căn phòng sạch sẽ gọn gàng – vào lúc này. Nhưng nếu bạn tiếp tục duy trì tính luộm thuộm hoặc vẫn giữ thói tích trữ đồ đạc từ lúc đầu đã dẫn tới một căn phòng lộn xộn như bây giờ, thì sớm muộn gì bạn cũng sẽ lại thấy một núi đồ linh tinh, và ngồi cầu mong mình có thêm một liều động lực nào đấy. Bạn sẽ thấy mình mãi chạy theo một kết quả như cũ bởi vì bạn không thay đổi hệ thống đằng sau nó. Bạn xử lý một triệu chứng mà không xem xét nguyên nhân.

Đạt được mục tiêu chỉ thay đổi cuộc sống của bạn trong khoảnh khắc. Đó là quan niệm phản trực giác về sự cải thiện. Ta nghĩ ta cần phải thay đổi kết quả, nhưng kết quả không phải là vấn đề. Cái chúng ta thật sự cần thay đổi là các hệ thống đã dẫn tới kết quả này. Khi bạn xử lý vấn đề trên bình diện kết quả, bạn chỉ giải quyết được ở mức độ tạm thời. Để cải thiện được tốt hơn, bạn cần giải quyết vấn đề ở cấp độ hệ thống. Sửa chữa đầu vào rồi thì đầu ra tự chúng sẽ thay đổi.

Vấn đề 3: Mục tiêu sẽ giới hạn hạnh phúc của bạn

Có một giả định ngầm đằng sau mỗi mục tiêu là: “Chừng nào tôi đạt được mục tiêu, tôi mới hạnh phúc.” Vấn đề trong trạng thái tinh thần của người đặt-mục-tiêu-lên-hàng-đầu đó là, họ liên tục đặt hạnh phúc qua một bên cho đến khi đạt được cột mốc tiếp theo. Tôi đã rơi vào cái bẫy này nhiều lần tới mức tôi đã thôi không đếm nữa. Hàng năm trời với tôi, hạnh phúc luôn là thứ gì đó xa vời mà chỉ có cái tôi tương lai mới được hưởng. Tôi tự hứa với lòng là, khi nào tôi lên được mười ký phần cơ, hoặc giả công ty của tôi được lên báo New York Times thì mình sẽ được thư giãn.

Thêm nữa, mục tiêu tạo ra một mâu thuẫn “hoặc cái này – hoặc cái kia”: Hoặc bạn đạt được mục tiêu mình đề ra và thành công, không thì bạn thất bại và đáng thất vọng. Bạn tự đóng khung tinh thần mình vào một phiên bản hạn hẹp về hạnh phúc. Đây là một sai lầm. Thường thì con đường đời thực sự của ta hiếm khi sẽ khớp hoàn toàn với hành trình ban đầu ta vẽ ra trong đầu. Giới hạn mức độ hài lòng của bản thân vào một kịch bản trong khi có rất nhiều con đường dẫn đến thành công, thì thật vô lý.

Trạng thái tinh thần của người đặt-hệ-thống-lên-hàng-đầu lại có chứa thuốc giải. Khi bạn yêu cái quá trình hơn là sản phẩm thì bạn không cần đợi bản thân cho phép mình hạnh phúc. Bạn hài lòng khi thấy hệ thống của mình đang vận hành. Và một hệ thống có thể thành công trong nhiều hình thái khác nhau, không chỉ theo một cách mà bạn hình dung ban đầu.

Vấn đề 4: Mục tiêu sẽ trục trặc với các quá trình dài hạn

Sau cùng thì, một tư duy hướng tới mục tiêu có thể tạo ra hiệu ứng “yo-yo”12. Rất nhiều tay đua luyện tập vất vả hàng tháng trời, nhưng khi họ vượt qua vạch đích thì họ thôi không tập luyện nữa. Cuộc đua không còn ở đó để làm động lực cho họ. Khi tất cả khổ luyện của bạn chỉ tập trung vào một mục tiêu nhất định thì sau khi mục tiêu ấy đã đạt được, cái gì còn lại để thúc đẩy bạn tiến bước? Đây là lý do rất nhiều người phát hiện bản thân mình trượt về các thói quen cũ sau khi hoàn thành một mục tiêu.

Mục đích của việc đặt mục tiêu là thắng cuộc chơi. Mục đích của việc xây dựng hệ thống là để tiếp tục cuộc chơi. Tư duy dài hạn thực sự là phải giảm tư duy gắn với mục tiêu. Nó không phải chỉ là chuyện hoàn thành một mục tiêu đơn lẻ nào. Nó là câu chuyện về vòng tuần hoàn của việc cải thiện liên tục và tinh chỉnh bất tận. Sau cùng thì, chính sự cam kết của bạn với quá trình mới là thứ quyết định tiến trình của bạn.

HỆ THỐNG CÁC THÓI QUEN NGUYÊN TỬ

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc thay đổi thói quen thì vấn đề có khi không nằm ở bạn, mà ở hệ thống bạn đang có. Các thói quen xấu lặp đi lặp lại không phải vì bạn không muốn thay đổi, mà vì bạn đang có một hệ thống thay đổi chưa phù hợp.

Đừng vươn đến tầm mục tiêu. Hãy đặt chân trên bình diện hệ thống.

Hãy tập trung vào hệ thống tổng thể hơn là một mục tiêu đơn lẻ, đó chính là chủ đề cốt lõi của quyển sách này. Nó cũng là một trong những ý nghĩa sâu xa đằng sau cụm từ nguyên tử. Đến lúc này, bạn hẳn đã nhận ra thói quen nguyên tử là từ để chỉ một thay đổi nhỏ, một lợi nhuận biên, một cải thiện 1%. Thế nhưng thói quen nguyên tử không phải chỉ là một thói quen cũ bất kỳ nào, dù nhỏ bao nhiêu. Chúng là những thói quen nhỏ, thành phần của một hệ thống lớn hơn. Cũng giống như nguyên tử là khối thành phần tạo nên phân tử, thì thói quen nguyên tử chính là khối thành phần tạo nên các kết quả phi thường.

Thói quen cũng tương tự như nguyên tử trong đời sống chúng ta vậy. Mỗi thói quen là một đơn vị nền tảng đóng góp vào sự tiến bộ chung của bạn. Đầu tiên, các nếp sinh hoạt nhỏ này dường như không đáng kể, nhưng nhanh thôi chúng sẽ bồi đắp lẫn nhau và thúc đẩy các thành công lớn hơn, rồi nhân lên đến một mức độ vượt xa khỏi giá trị đầu tư ban đầu của chúng. Chúng vừa nhỏ lại vừa vĩ đại. Đây chính là ý nghĩa của cụm thói quen nguyên tử – một nếp sống hoặc một thói quen thường xuyên không chỉ nhỏ và dễ làm, mà còn là khởi nguồn của một sức mạnh phi thường; một thành tố của hệ thống tăng trưởng cộng gộp.

Tóm tắt chương

  • Thói quen là lợi nhuận cộng gộp của việc phát triển bản thân. Đạt được 1% tốt hơn mỗi ngày sẽ vô cùng có lợi về lâu dài.
  • Thói quen là một con dao hai lưỡi. Chúng có thể làm việc cho bạn, nhưng cũng có thể chống lại bạn, đó là lý do vì sao việc hiểu rõ ngọn ngành là cần thiết.
  • Các thay đổi nhỏ thường có vẻ như không tạo nên khác biệt mấy cho tới khi bạn vượt qua ngưỡng tới hạn. Kết quả mạnh mẽ nhất của bất kỳ quá trình cộng gộp nào cũng có độ trễ. Bạn cần nhẫn nại.
  • Một thói quen nguyên tử là một thói quen nhỏ, thành phần của một hệ thống lớn hơn. Giống như nguyên tử là khối thành phần tạo nên phân tử, thói quen nguyên tử chính là khối thành phần tạo nên các kết quả phi thường.
  • Nếu bạn muốn kết quả tốt hơn, thì hãy quên việc đặt mục tiêu đi. Thay vào đó, hãy tập trung vào hệ thống.
  • Đừng vươn đến tầm mục tiêu. Hãy đặt chân trên bình diện hệ thống.

Chú thích:

  1. Atomic Habits.
  2. Great Britain (Đại Anh, đảo Anh) bao gồm England (nước Anh), Scotland và Wales. (BT)
  3. Performance director.
  4. The aggregation of marginal gains.
  5. Electrically heated overshorts.
  6. Vào thời điểm quyển sách này được in (bản gốc năm 2018 – ND), đã có thêm tin tức mới về đội British Cycling được đăng tải. Bạn có thể đọc thêm về suy nghĩ của tôi tại trang atomichabits.com/cycling. (TG)
  7. Tôi rất rất phấn khích và đã thực sự ngồi tính thử. Washington, D.C., cách thành phố New York tầm 225 dặm (~362km). Giả thiết rằng bạn đang bay trên một chiếc 747 hoặc Airbus A380, điều chỉnh hướng bay chỉ 3,5 độ khi bạn rời khỏi Los Angeles nhiều khả năng làm cho mũi máy bay dịch chuyển khoảng từ 7,2 đến 7,6 feet, hoặc từ 86 đến 92 inches (~2,2 – 2,3m). Một điều chỉnh rất nhỏ trong phương hướng có thể dẫn tới một thay đổi đáng kể ở điểm đến. (TG)
  8. 25 độ F gần bằng -4 độ C. (ND)
  9. 32 độ F = 0 độ C. (ND)
  10. Plateau of Latent Potential.
  11. Super Bowl là trận chung kết tranh ngôi vô địch bóng bầu dục thường niên của Liên đoàn Bóng bầu dục Quốc gia của Mỹ (NFL – National Football League). (ND)
  12. “Yo-yo” effect (hiệu ứng yo-yo): chỉ vòng lặp giảm cân – tăng cân khi một người ăn kiêng quá mức khiến cho cơ thể tăng cân trở lại nhanh chóng. (ND)

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Cùng Phạm Công Luận tâm tình về Đường sách Nguyễn Văn Bình

Published

on

By

Trích từ: Với ngày như lá tháng như mây
Tác giả: Phạm Công Luận
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 01.2022

Nơi đầm ấm với sách và cà phê

Hơn ba mươi năm trước, đường Nguyễn hậu bên hông Bưu điện thành phố có quầy nhận bưu phẩm phát nhanh. Hàng tuần, tôi đến đó nhận đồ gửi từ Hà Nội vào, là một vali kẽm chứa những xấp giấy can để in báo, mà người trong cơ quan gọi là “hòm kẽm”. Con đường Nguyễn Hậu đó, sau này đổi tên thành đường Nguyễn Văn Bình, luôn ẩm ướt vào mùa mưa vì những tán cây bên lề đường đọng nhiều nước, thả xuống mặt đường. Mùa khô, đi xuyên đường này từ Bưu điện thành phố để qua phía Hai Bà Trưng, thấy có nhiều xe hơi đậu la liệt. Con đường như bị bỏ quên, dù nằm ngay trung tâm thành phố. Trên xe máy của tôi, cái vali kẽm nảy lên kêu lục cục vì mặt đường bị tróc nhựa nhiều chỗ, để lâu không tu sửa.

Khi con đường vắng vẻ này biến thành Đường Sách thành phố, tôi thầm phục những người khởi xướng đã có mắt xanh chọn đúng nơi chốn với vị trí trung tâm và sự biệt lập của nó. Nó đã lột xác để trở thành một con đường có sức quyến rũ với hai di sản kiến trúc đặc biệt bên cạnh, dù đôi lúc rất đông đúc và sôi động (điều gì có sức quyến rũ thì tất nhiên nhiều người tìm đến). Nếu đến sớm, khoảng 8 giờ sáng, đường còn vắng người đi dạo, chỉ có vài người nhàn tản ngồi uống cà phê ở hai quán đầu và cuối đường. Ban mai Sài Gòn xanh mát, nhìn góc nào trên con đường cũng đẹp với hàng sách có cửa kính, kệ sách, giỏ hoa lá và bảng trang trí. Thỉnh thoảng có những đợt gió thổi thả lá li ti xuống trông như mưa bụi.

Có lần trong quán café ở đây, tôi ngồi giữa nhóm người Sài Gòn cao tuổi sống ở nước ngoài. Họ nhắc chuyện góc đường Lê Lợi hồi trước 1975 có dãy sạp bán sách cũ, chuyện họa sĩ Ngy Cao Uyên mang tranh vào sân bay để đổi những thanh gỗ mang về xây trụ sở Hội Họa sĩ Trẻ hồi năm 1966 trên đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng). Một anh nhắc chuyện phòng trà Anh Vũ, nghe nói là phòng trà đầu tiên ở Sài Gòn, nhưng các anh chỉ có thể đến đó ăn cơm giá rẻ dàn cho học sinh sinh viên vào ban ngày, thèm thuồng nhìn các tấm áp phích giới thiệu chương trình ca nhạc buổi tối mà mơ có dịp đến một lần. Các anh bảo con đường này khiến họ có cảm hứng nhớ về ngày xưa khi còn trẻ, thích ngồi quán café vỉa hè vì lúc đó còn nhiều đường phố vắng vẻ, yên tĩnh. Các anh đồng ý là nếu về thăm quê hương, dù có đi du lịch ra Bắc ra Trung vẫn không thể thiếu chuyện ra Đường Sách uống cà phê tán gẫu, hẹn bạn bè và mua sách. Một anh họa sĩ từ Pháp về, bảo mỗi lần ra đây, anh có thể gặp ít nhất ba bốn người bạn quen trên facebook. Nhờ đó, anh cảm thấy không lẻ loi như mấy lần trước về chơi, quanh quẩn với gia đình và vài người bạn cũ.

Tôi mua được nhiều sách hay trên con đường này. Nhưng nhớ nhất, không phải là sách, mà là một bộ card postal dạy làm món ăn tây của Kim studio, một cơ sở sản xuất các bộ card dạy nấu ăn qua hình ảnh. Bộ ảnh mười hai tấm đựng trong một phong bì rất tinh tế, dạy cách làm các món bánh như croissant, bánh plum cake, bánh champagne, bánh lưỡi mèo. Nó đặc biệt vì nhà tôi đã từng làm cho các em ăn đủ món nhờ làm theo hướng dẫn từ đó, trong ngôi nhà thời thơ ấu của gia đình tôi.

Đường sách cung cấp tri thức, hẳn rồi, nhưng còn nhiều thứ khác nữa. Là nơi diễn thuyết công cộng, luôn nhiều tâm huyết và ít điệu đà trịnh trọng như trong vài salon. Là nơi đậm đà niềm vui, khi ngồi giữa bạn bè thanh cảnh thích đọc và thích sống nhẹ nhàng như mình. Là nơi nhìn người đẹp qua lại. Nơi thỉnh thoảng nhận ra vài người Sài Gòn xưa qua phong thái, giọng nói, cách trò chuyện và ăn mặc. Là nơi uống ly cà phêm ấm trong không khí lạnh buổi sáng, như ông cha ta trăm năm trước bên ly xây chừng ở chợ Cũ, quán cà phê Nguyễn Văn Đắc bên hông chợ Bến Thành hay trên vỉa hè khách sạn Continental.

Năm năm trôi qua, ở đây tôi đã có những ngày giáp Tết thật vui bên bạn bè. Đã cùng bạn Phúc Tiến đưa hai nhà văn Nhật Tiến và Đỗ Phương Khanh đi dạo, xem sách trong ánh nắng tháng Giêng chỉ vài năm trước khi ông bà mất. tôi may mắn có vài cuốn sách xuất bản trong thời gian này nên có vài buổi giới thiệu sách ở đây, bất ngờ gặp được những độc giả thích bộ sách Sài Gòn chuyện đời của phố và nhờ tác giả ký tên.

Đó là những kỷ niệm đẹp. Nhưng niềm vui lớn nhất, vẫn thường lặp lại, là mua được vài cuốn sách mình thích. Sau đó, nếu quán cà phê cuối đường còn chỗ trống, có thể ngồi nhấm nháp chất nước nâu sánh ở đó và giở vài trang, thả tâm trí vào những con chữ. Con đường dễ thương này chắc chắn đã từng và sẽ tiếp tục mang đến nhiều niềm vui nhẹ nhàng như vậy cho rất nhiều người.

Đường sách khiến tôi yêu và gắn bó thành phố này nhiều hơn.

Với Ngày Như Lá Tháng Như Mây

Tập tản văn Với ngày như lá tháng như mây tiếp nối mạch cảm hứng và tình yêu bền bỉ như nguồn nước không bao giờ cạn mà tác giả Phạm Công Luận dành cho mảnh đất Sài thành. Trải dài qua 30 bài viết, tập tản văn chứa đựng một cuộc du hành trong tâm tưởng của tác giả, đưa người đọc trôi về thời xa vắng của đất Sài Gòn – Gia Định trên dưới nửa thế kỷ trước.

Đọc bài viết

Trích đăng

Chương 1 “Đôi mắt trũng sâu” (Dean Koontz)

Published

on

By

Trích từ: Đôi mắt trũng sâu
Tác giả: Dean Koontz
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 03.2022

Sáu phút đầu tiên của buổi sáng thứ Ba, trên đường về nhà sau buổi tập muộn cho chương trình biểu diễn mới, Tina Evans nhìn thấy con trai mình là Danny đang trong một chiếc xe của người lạ. Nhưng Danny chết đến nay hơn cả năm rồi.

Dự định mua một quart sữa và ổ bánh mì nguyên cám nên Tina dừng lại ở một cửa hàng mở cửa hai mươi bốn giờ cách nhà cô hai dãy phố và đậu xe trong màn bụi mờ vàng vọt của ánh sáng đèn hơi natri, bên cạnh một chiếc station wagon hiệu Chevrolet màu kem bóng loáng. Đứa bé trai ngồi ghế phía trước, đang chờ ai đó trong cửa hàng. Tina chỉ có thể nhìn thấy một bên mặt của cậu bé, đủ để cô há hốc nhận ra trong đau đớn.

Danny.

Cậu bé khoảng độ mười hai tuổi, bằng tuổi với Danny. Mái tóc đen dày như của Danny, cái mũi y hệt Danny, và một khuôn cằm khá thanh mảnh cũng giống Danny.

Tina thầm gọi tên con trai mình, như thể lo sợ nếu gọi to hơn sẽ làm dáng hình yêu dấu này tan biến.

Không biết cô đang chăm chú nhìn mình, cậu bé đưa một tay lên miệng và cắn nhẹ vào khớp đốt ngón tay cái, giống như Danny đã bắt đầu làm khoảng một năm trước khi chết. Tina đã cố gắng phá bỏ thói quen xấu đó của con nhưng không thành công.

Giờ đây khi quan sát đứa bé này, dường như sự giống nhau giữa nó và Danny còn hơn cả sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đột nhiên Tina nghe thấy từng tiếng thình thịch của tim mình, còn miệng thì trở nên khô khốc và chua chát. Cô vẫn chưa thích nghi được với nỗi mất mát đứa con độc nhất của mình, bởi vì bản thân không bao giờ muốn – hay thử – làm quen với nó. Việc chấp nhận sự giống nhau giữa cậu bé này với Danny rất dễ khiến Tina lầm tưởng rằng nỗi mất mát từ đầu đã không tồn tại.

Có thể… có thể cậu bé này chính là Danny. Tại sao lại không nhỉ? Càng suy xét thì câu chuyện càng có vẻ ít điên rồ hơn. Xét cho cùng, cô chưa bao giờ nhìn thấy thi thể của con. Cảnh sát và những người mai táng đã khuyên rằng không nên nhìn vì cơ thể Danny đã bị rách toạc và giập nát một cách khủng khiếp. Rợn người và kiệt sức vì đau buồn nên cô đã làm theo lời khuyên của họ, tang lễ của Danny đã được cử hành với quan tài đóng kín nên những người đưa tiễn không thể nhìn mặt cậu lần cuối. Biết đâu họ đã nhầm khi nhận diện thi thể. Danny có thể đã không chết trong vụ tai nạn. Có lẽ cậu chỉ bị một chấn thương nhẹ ở đầu nhưng nghiêm trọng vừa đủ để bị… mất đi ký ức. Đúng rồi. Mất trí nhớ. Có lẽ trong vô thức Danny đã rời khỏi chiếc xe buýt vỡ nát và được tìm thấy cách xa hiện trường vụ tai nạn hàng dặm đường, không có giấy tờ tùy thân, không thể nói cho ai biết mình là ai hay từ đâu đến. Hoàn toàn có thể, đúng không? Cô đã từng xem những câu chuyện tương tự trong các bộ phim. Chắc chắn rồi. Mất trí nhớ. Và nếu quả đúng như vậy thì có thể người ta đã đưa cậu bé đến một trung tâm cứu trợ trẻ em để bắt đầu cuộc sống mới. Và rồi bây giờ Danny ngồi trong một chiếc wagon hiệu Chevrolet màu kem, đang được mang đến trước mặt cô nhờ định mệnh và nhờ…

Ý thức được cái nhìn chằm chằm nên cậu bé quay mặt về phía Tina. Cô nín thở khi khuôn mặt ấy chầm chậm hướng về phía mình. Khi nhìn nhau qua hai lớp kính cửa sổ và ánh sáng kỳ lạ của đèn huỳnh quang, Tina có cảm giác như thể họ đang giao tiếp xuyên qua một vực thẳm mênh mông của không gian, thời gian và định mệnh. Nhưng rồi sự thật không thể khác, ảo ảnh của cô tan vỡ vì cậu bé không phải là Danny.

Rời mắt khỏi cậu bé và tập trung vào đôi tay, Tina nhận ra mình đang ghì chặt vô-lăng đến mức khiến tay tê nhức.
“Chết tiệt.”

Cô giận dữ với chính mình. Thường tự cho mình là người phụ nữ có trình độ, luôn điềm tĩnh, cứng cỏi và có thể đương đầu với bất kỳ thử thách nào trong đời, thế mà cuộc sống của Tina đã bị xáo động vì vẫn mãi không thể chấp nhận cái chết của Danny.

Theo sau cú sốc ban đầu, cô đã phải bắt đầu đối phó với sang chấn tâm lý hậu tang lễ. Dần dần, ngày qua ngày, tuần nối tiếp tuần, cô đã để Danny lại phía sau với nỗi tiếc thương, với cảm giác tội lỗi, với nước mắt pha lẫn nhiều cay đắng, nhưng cũng có lòng quyết tâm và kiên định. Trong năm vừa qua cô đã đạt được nhiều bước tiến trong sự nghiệp, và nhờ cậy guồng quay công việc tất bật như một loại thuốc morphine1 để làm vơi bớt nỗi đau cho đến khi vết thương lành hẳn.

Thế rồi một vài tuần mới đây thôi, cô lại bắt đầu rơi vào lại tình trạng khủng khiếp đã từng nhấn chìm mình ngay khi vừa nhận hung tin. Sự cự tuyệt của cô cương quyết đến mức phi lý. Một lần nữa, cô lại bị chấp niệm ám ảnh rằng con mình còn sống. Thời gian đúng ra phải làm vơi bớt nỗi thống khổ của cô, nay lại kéo cô quay về với sự đau thương. Cậu bé trong chiếc station wagon này không phải người đầu tiên cô lầm tưởng là Danny; trong những tuần gần đây, Tina đã nhìn thấy đứa con trai đã mất của mình trong nhiều chiếc xe khác, ở những sân trường mà cô lái xe ngang qua, trên tuyến đường dãy phố, hay giữa một rạp chiếu phim.

Ngoài ra, gần đây một giấc mơ về chuyện Danny vẫn còn sống cứ lặp đi lặp lại làm cho cô phiền muộn. Mỗi lần như vậy, Tina không thể đối mặt với thực tại suốt vài giờ sau khi thức giấc. Cô cứ ngờ ngợ giấc mơ là điềm báo trước rằng rồi một ngày Danny sẽ trở lại với mình, bằng cách nào đó mà cậu bé đã sống sót và sẽ sớm quay về trong vòng tay của cô.

Đó là một hình ảnh tưởng tượng ấm áp tuyệt vời, nhưng cô không thể duy trì nó được lâu. Mặc dù Tina luôn chống cự, nhưng sự thật nghiệt ngã vẫn dần dần len lỏi, liên tục hạ gục cô không thương xót, buộc cô phải thừa nhận rằng giấc mơ không phải là điềm báo. Tuy nhiên, Tina biết rằng khi giấc mơ lại đến với mình, cô sẽ tìm thấy nguồn hy vọng mới như đã từng có rất nhiều lần trước đây.

Nhưng chuyện đó không ổn chút nào.

Bệnh thật, cô tự mắng mình.

Cô liếc nhìn chiếc station wagon và thấy cậu bé vẫn đang nhìn mình chòng chọc. Rồi cô trừng trừng nhìn hai bàn tay đang ghì chặt của mình và cố buông tay khỏi vô-lăng.

Đau buồn có thể khiến con người ta phát điên. Cô đã nghe nói vậy và tin điều đó, nhưng không cho phép nó xảy đến với mình. Cô sẽ đủ cứng rắn để giữ kết nối với thực tại – cho dù thực tại có phũ phàng thế nào đi nữa. Cô không thể tự cho phép mình nuôi dưỡng hy vọng.

Cô yêu Danny bằng cả tâm can, nhưng cậu đã bỏ cô mà đi. Bị rách toạc và giập nát trong một tai nạn xe buýt với mười bốn cậu bé khác, chỉ là một nạn nhân của một thảm kịch lớn hơn. Biến dạng đến mức không thể nhận ra. Chết.

Lạnh lẽo.

Thối rữa.

Trong quan tài.

Dưới mộ sâu.

Mãi mãi.

Môi run rẩy. Cô muốn khóc, cần được khóc, nhưng đã kìm được.

Đứa bé trai trong chiếc Chevy đã mất hứng thú với cô. Cậu bé lại đang chăm chú nhìn vào mặt tiền của cửa hiệu tạp hóa và chờ đợi.

Tina rời chiếc Honda của mình. Trời đêm mát mẻ một cách dễ chịu, khí hậu khô-sa-mạc. Cô hít một hơi thật sâu và bước vào cửa hàng. Không khí trong đó làm cô lạnh đến thấu xương, cộng thêm ánh đèn huỳnh quang sáng chói và không gian quá trống trải nên khó có thể khơi gợi trí tưởng tượng.

Cô mua một quart sữa không béo và ổ bánh mì còn nguyên cám cắt mỏng sẵn cho người ăn kiêng, vì mỗi lát chỉ chứa nửa lượng calorie1 của một lát bánh mì thông thường. Tuy không còn là vũ công nữa mà làm việc ở khâu sản xuất chương trình trong hậu trường, nhưng cô vẫn cảm thấy thể chất và tâm lý mình tốt nhất khi cân nặng không vượt quá thời còn là một nghệ sĩ biểu diễn.

Năm phút sau cô đã về đến nhà. Đó là căn nhà trệt nằm khiêm tốn trong một khu phố yên tĩnh. Những cây ô-liu và tràm gió uể oải lay động trong làn gió nhẹ phảng phất của hoang mạc Mojave.

Tina vào bếp nướng hai lát bánh mì, phết lên đó một lớp mỏng bơ đậu phộng, rót một ly sữa không béo và ngồi vào bàn.

Dù đặc biệt kén ăn nhưng bánh mì nướng bơ đậu phộng là một trong những món ưa thích của Danny từ khi mới chập chững biết đi. Khi còn rất nhỏ cậu đã gọi nó là “pơ dậu phọng”.

Giờ đây vừa nhắm mắt vừa nhai bánh mì nướng, Tina vẫn có thể nhìn thấy hình ảnh của Danny – mới ba tuổi đầu, miệng và cằm lấm lem bơ đậu phộng – cười toe toét bập bẹ, Bánh mì nướng pơ dậu phọng nữa, nữa đi mà.

Giật mình mở mắt vì hình ảnh của con trai trong tâm trí cô quá sống động, nó giống ảo ảnh hơn là ký ức. Ngay lúc này cô không muốn nhớ rõ ràng đến vậy.

Nhưng đã quá muộn. Trái tim se thắt lại trong lồng ngực, môi bắt đầu run rẩy, và Tina gục đầu xuống bàn. Cô khóc.

*

Đêm hôm đó Tina lại mơ thấy Danny còn sống. Bằng cách nào đó. Ở một nơi nào đó. Còn sống. Và cậu cần cô.

Trong giấc mơ, Danny đang đứng ở rìa một hẻm núi sâu không đáy, còn Tina thì ở phía bên kia, đối diện với cậu, nhìn qua vực thẳm mênh mông. Danny đang gọi cô. Cậu bé cô đơn và sợ hãi. Tina đau khổ vì không thể nghĩ ra cách nào để đến với con mình. Trong khi đó, bầu trời ngày càng tối sầm lại; những đám mây dông to lớn như nắm tay siết chặt của những người khổng lồ trên trời đã vắt cạn tia sáng cuối ngày. Tiếng khóc của Danny hòa cùng giọng của cô càng lúc càng trở nên chói tai và tuyệt vọng, vì biết rằng nếu không gặp được nhau trước khi màn đêm buông xuống thì họ sẽ chia xa mãi mãi; trong màn đêm đang đến, một cái gì đó đang rình rập Danny, một thứ đáng sợ sẽ tóm chầm lấy nếu cậu chỉ có một mình giữa đêm tối. Đột nhiên, chớp giật đảo lộn bầu trời, rồi đến một tiếng sấm nổ kinh hoàng và màn đêm bất thình lình sập xuống tối đen, bóng tối mịt mù và vô tận.

Tina Evans ngồi thẳng dậy trên giường, cô tin chắc đã nghe thấy một tiếng động trong nhà. Nó không đơn thuần là tiếng sấm đến từ giấc mơ. Âm thanh mà cô nghe thấy phát ra khi cô đã tỉnh thức, một tiếng động thật sự chứ không phải do tưởng tượng.

Cô chăm chú lắng nghe, sẵn sàng tung chăn và bước khỏi giường. Im lặng ngự trị không gian.

Dần dần sự nghi ngờ bắt đầu len lỏi. Thời gian gần đây cô vẫn hay bị giật mình. Đêm nay không phải là đêm đầu tiên cô bị huyễn hoặc về một kẻ đột nhập đang rình rập ngôi nhà của mình. Bốn hoặc năm lần trong suốt hai tuần qua, cô đã lấy khẩu súng lục ở tủ đầu giường và lục soát căn nhà, từng phòng một, nhưng không tìm thấy ai cả. Gần đây cô đã phải chịu rất nhiều áp lực cả về đời sống riêng tư lẫn nghề nghiệp. Có lẽ những gì nghe thấy đêm nay chỉ là tiếng sấm nổ ra trong giấc mơ.

Tina vẫn cảnh giác trong vài phút, nhưng đêm thật yên bình nên cuối cùng phải thừa nhận là trong nhà chỉ có mình cô. Khi nhịp tim chậm dần, cô lại nằm xuống gối.

Những lúc như vậy cô lại ước mình và Michael vẫn còn bên nhau. Cô nhắm mắt lại và tưởng tượng đang nằm bên cạnh rồi xích lại gần anh trong bóng tối, đụng chạm, vuốt ve, áp người vào và nằm trong vòng tay che chở của anh. Michael sẽ dỗ dành và trấn an cho đến khi giấc ngủ của cô quay trở lại.

Dĩ nhiên, nếu cô và Michael đang ở trên giường ngay lúc này thì tình thế lại khác hoàn toàn. Họ sẽ không làm tình. Họ sẽ cãi nhau. Anh ta sẽ cưỡng lại tình cảm của cô, xua đuổi cô bằng cách gây sự. Anh ta sẽ khơi mào từ một chuyện không đâu rồi trêu tức cô cho đến khi chuyện cãi nhau vặt vãnh leo thang thành cuộc chiến hôn nhân. Đó là những gì đã diễn ra trong mấy tháng cuối cùng họ ở bên nhau. Anh ta luôn sôi sục tâm lý thù địch và kiếm cớ trút giận lên cô.

Tình yêu sâu đậm khiến Tina tổn thương và đau buồn khi mối quan hệ của họ đổ vỡ. Nhưng phải thừa nhận là cô có phần cảm thấy nhẹ nhõm vì cuối cùng nó cũng chấm dứt.

Cô đã mất cả con lẫn chồng trong cùng một năm, người đàn ông rồi đến thằng bé, đứa con trai nằm dưới mộ sâu và người chồng đổi dạ thay lòng. Trong mười hai năm hôn nhân, Tina đã trở thành một con người khác và phức tạp hơn chính cô trong ngày cưới của họ, nhưng Michael thì chẳng hề thay đổi chút nào – và lại không thích con người mới của cô. Họ bắt đầu như những người tình, chia sẻ mọi chuyện trong cuộc sống thường nhật – thành công và thất bại, niềm vui và sự thất vọng – nhưng khi ly hôn xong, họ đã trở thành hai người xa lạ. Mặc dù Michael vẫn đang sống trong thành phố, chỉ cách cô không đầy một dặm (1,6km), nhưng ở một khía cạnh nào đó, anh ta cũng xa cách và không thể chạm tới giống như Danny.

Cô thở dài cam chịu và mở to đôi mắt.

Bây giờ tuy không còn buồn ngủ nữa, nhưng Tina biết mình cần phải nghỉ ngơi nhiều hơn. Cô cần phải tươi tắn và tỉnh táo vào sáng mai.

Ngày mai là một trong những ngày trọng đại nhất đời cô: 30 tháng Mười hai. Bình thường ngày đó chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt cả. Nhưng ngày 30 tháng Mười hai này chính là dấu mốc cho toàn bộ tương lai của cô dù thế nào chăng nữa.

Trong mười lăm năm, kể từ khi cô vừa tròn mười tám tuổi, hai năm trước khi kết hôn với Michael, Tina Evans đã sống và làm việc ở Las Vegas. Cô khởi nghiệp với vai trò vũ công – không phải showgirl1 mà là một vũ công thực thụ cho Lido de Paris, một chương trình biểu diễn trên sân khấu hoành tráng tại Khách sạn Stardust. Lido là một trong những chương trình biểu diễn xa hoa và lãng phí khó tin đến mức không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào trên thế giới ngoài Vegas, vì chỉ ở Vegas mới có một chương trình trị giá hàng triệu đô-la có thể được tổ chức từ năm này qua năm nọ mà chẳng quan tâm mấy đến lợi nhuận; những khoản tiền kếch xù như vậy đã được chi cho các màn dàn dựng công phu và những bộ trang phục trau chuốt, cũng như cho dàn diễn viên và ê-kíp sản xuất đông đảo, miễn là doanh thu từ bán vé và đồ uống đủ bù cho chi phí sản xuất thì khách sạn thường vẫn hài lòng. Rốt cuộc cũng chẳng có gì kỳ lạ vì chương trình chỉ là sự quyến rũ, chèo kéo với mục đích duy nhất là đưa vài ngàn người vào khách sạn mỗi đêm. Khi đến cũng như khi rời khỏi khán phòng, đám đông phải băng qua tất cả các bàn xí ngầu, bàn xì dách và cò quay roulette cũng như những dãy máy đánh bạc lấp lánh, và đó mới chính là nơi tạo ra lợi nhuận. Tina yêu thích công việc nhảy múa với Lido, và cô đã gắn bó hai năm rưỡi cho đến khi biết mình có thai. Cô đã xin nghỉ để dưỡng thai, sinh Danny và dành toàn bộ thời gian ở bên con trong những tháng đầu đời. Khi Danny được sáu tháng tuổi, Tina bắt đầu tập luyện để lấy lại vóc dáng và giành được vị trí trong dàn hợp xướng của một chương trình biểu diễn mới ở Vegas sau ba tháng miệt mài luyện tập. Cô đã xoay xở để vừa là một vũ công giỏi vừa là một người mẹ tốt, mặc dù điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng; thương yêu Danny và đam mê công việc của mình, cô đã chu toàn cả hai nhiệm vụ.

Tuy nhiên, cách đây năm năm, vào dịp sinh nhật lần thứ hai mươi tám của mình, cô bắt đầu nhận ra là mình chỉ còn, nếu may mắn, mười năm để làm một vũ công biểu diễn, nên cô đã quyết định lập nghiệp trong vai trò khác để tránh bị đào thải ở tuổi ba mươi tám. Cô nhận được vị trí biên đạo múa cho một chương trình kịch thời sự bèo bọt, một kiểu bắt chước rẻ tiền đầy ảm đạm so với Lido trị giá hàng triệu đô-la, và cuối cùng kiêm luôn cả phần việc của người lo trang phục. Rồi cô chuyển qua một loạt vị trí tương tự trong các rạp lớn hơn, sau đó là trong các khán phòng nhỏ với bốn hoặc năm trăm chỗ ngồi ở các khách sạn hạng hai với ngân sách chương trình hạn hẹp. Có lúc cô chỉ đạo kịch thời sự, rồi lại xoay qua sản xuất cái này chỉ đạo cái kia. Cô ngày càng được nể trọng trong thế giới giải trí dây mơ rễ má của Vegas, và tin rằng mình đang gần kề với thành công hơn bao giờ hết.

Gần một năm trước, ngay sau cái chết của Danny, Tina đã được mời chào công việc chỉ đạo và hợp tác sản xuất một chương trình khổng lồ trị giá mười triệu đô-la sẽ được dàn dựng trong khán phòng chính hai-ngàn-chỗ-ngồi của Golden Pyramid, một trong những khách sạn lớn nhất và sang trọng nhất ở Dải1. Lúc đầu, quả thật trái ngang vì một cơ hội tuyệt vời như thế lại đến trước khi cô có đủ thời gian để khâu vá vết thương của mình, như thể định mệnh thật quá hời hợt và vô cảm khi cho rằng có thể an bài và bù đắp cho cái chết của Danny chỉ bằng cách trao tặng cho cô cơ hội việc làm trong mơ. Thế nhưng, dù đang cay đắng và chán nản – hoặc cũng có thể là vì – cảm thấy hoàn toàn trống rỗng và vô dụng, cô đã nhận lời.

Chương trình mới có tên gọi là Magyck! bởi vì các tiết mục tạp kỹ xen lẫn những tiết mục nhảy múa đều là các màn ảo thuật, vả lại bản thân những tiết mục đồng diễn này tập trung vào các hiệu ứng đặc biệt công phu và được xây dựng xung quanh chủ đề siêu nhiên. Lắt léo chữ nghĩa trong tên gọi không phải là ý tưởng của Tina, nhưng hầu hết phần còn lại của chương trình là sáng tạo của riêng cô, và cô vẫn luôn hài lòng với thành quả của mình. Cũng kiệt sức nữa. Cả năm nay vụt trôi với mười hai đến mười bốn giờ làm việc mỗi ngày, chẳng có kỳ nghỉ mà cũng hiếm khi được nghỉ cuối tuần. Tuy nhiên, dù bận tâm cho Magyck! nhiều như thế, cô vẫn hết sức khó khăn trong việc chấp nhận cái chết của Danny. Cách đây một tháng, lần đầu tiên cô nghĩ rằng cuối cùng mình cũng đã bắt đầu vượt qua được nỗi đau buồn. Cô có thể nhớ đến con mà không tuôn nước mắt, đến thăm mộ con mà không còn bị mất tự chủ vì tiếc thương. Sau khi cân nhắc mọi chuyện, cô cảm thấy khá hơn, thậm chí có phần nào đó phấn khởi. Cô sẽ không bao giờ quên Danny, đứa trẻ ngọt ngào đó là một phần to lớn của cô, nhưng cô không còn phải sống cuộc đời quanh quẩn với khoảng trống mà cậu để lại. Vết thương lòng đã lành lặn tuy vẫn còn nhạy cảm với nỗi đau.

Đó là suy nghĩ của Tina một tháng trước đây. Trong một hoặc hai tuần qua cô ngày càng tiến bộ và dần học cách chấp nhận sự thật. Thế nhưng những giấc mơ mới lại bắt đầu, hơn nữa chúng còn tồi tệ hơn hàng loạt cơn ác mộng đã đến với cô ngay sau khi Danny chết.

Có lẽ những trăn trở về phản ứng của công chúng với Magyck! khiến cô nhớ lại mối lo âu lớn hơn về Danny.

Trong chưa đầy mười bảy giờ nữa – vào lúc tám giờ đêm ngày 30 tháng Mười hai – Khách sạn Golden Pyramid sẽ trình diễn một buổi ra mắt đặc biệt dành cho khách mời VIP1 xem Magyck!, và ngay đêm sau, đêm Giao thừa, chương trình sẽ mở cửa đón công chúng. Nếu phản ứng của khán giả nhiệt tình và tích cực như Tina hy vọng, tương lai tài chính của cô sẽ được đảm bảo, vì theo hợp đồng cô sẽ nhận được hai chấm năm phần trăm trên tổng doanh thu, trừ doanh số bán rượu, sau năm triệu đầu tiên. Nếu Magyck! thành công và chiếm lĩnh sân khấu trong bốn hoặc năm năm, như đôi khi xảy ra với các chương trình thành công khác ở Vegas, cuối cùng cô sẽ lên hàng triệu phú. Tất nhiên, nếu sản phẩm là một thất bại, nếu nó không làm thỏa mãn khán giả, sự nghiệp của cô có thể sẽ xuống dốc và trở lại làm việc trong các rạp nhỏ một lần nữa. Ngành nghề biểu diễn, dù dưới bất kỳ hình thức nào, là một công việc tàn nhẫn.

Rõ ràng cô có lý do xác đáng để mà lo lắng. Nỗi sợ hãi đến ám ảnh của cô về những kẻ đột nhập vào nhà, những giấc mơ đầy bất an về Danny, sự đau buồn trở lại của cô – tất cả những điều này có thể nảy sinh từ nỗi trăn trở về Magyck!. Nếu quả đúng như vậy thì các triệu chứng đó sẽ biến mất ngay sau khi số phận của chương trình được định đoạt. Chỉ cần cố gắng vượt qua trong vài ngày tới, với tâm trạng phần nào thanh thản sau đó, cô có thể tự chữa lành vết thương cho mình.

Trước tiên cô buộc phải ngủ đôi chút. Vào lúc mười giờ sáng mai, cô có lịch hẹn gặp hai đại lý điều hành tour đang có ý định đặt trước tám ngàn vé cho Magyck! trong ba tháng đầu biểu diễn. Sau đó vào lúc một giờ, toàn bộ dàn diễn viên và ê-kíp sản xuất sẽ tập hợp lại để tổng duyệt lần cuối.

Cô giũ gối, trải lại khăn giường và tròng vào chiếc áo ngủ ngắn của mình. Cô cố gắng thư giãn bằng cách nhắm mắt lại và hình dung một cơn thủy triều đêm đang dịu dàng vỗ về bờ biển ánh màu bàng bạc.

Cạch!

Cô ngồi phắt dậy trên giường.

Có một thứ gì đã bị ngã đổ đâu đó trong nhà. Hẳn nó phải là một vật thể hình dạng to lớn bởi vì âm thanh phát ra đủ lớn để đánh thức cô dậy mặc dù đã bị các bức tường ngăn cách bao bọc.

Dù có là gì đi nữa… nó cũng không đơn giản tự ngã đổ. Nó đã bị va đụng. Những vật thể to nặng không thể tự ngã đổ trong căn phòng vắng.

Cô nghiêng đầu, chăm chú lắng nghe. Một âm thanh khác nhẹ hơn theo sau tiếng động trước. Tuy kéo dài không đủ lâu để Tina xác định được nguồn gốc nhưng nó có vẻ gì đó lén lút. Lần này mối đe dọa không phải do cô tưởng tượng ra nữa. Ai đó thực sự đang ở trong nhà.

Cô bật đèn ngay khi ngồi bật dậy trên giường. Mở ngăn kéo của chiếc tủ đầu giường. Khẩu súng lục đã được lắp đạn sẵn. Cô mở hai chốt an toàn.

Dừng lại nghe ngóng một lát.

Trong sự tĩnh mịch của đêm sa mạc, Tina tưởng như mình có thể cảm nhận được kẻ xâm nhập cũng đang lắng nghe, lắng nghe cô.

Cô bước xuống khỏi giường và xỏ chân vào đôi dép lê.

Cầm súng bằng tay phải, cô lặng lẽ đến bên cửa phòng ngủ.

Cô có cân nhắc việc gọi cảnh sát, nhưng sợ sẽ tự biến mình thành một kẻ ngốc. Mọi chuyện sẽ ra sao nếu họ đến, với đèn chớp nháy và còi hụ inh ỏi – và rồi chẳng tìm thấy ai? Suốt hai tuần qua nếu cô cứ viện đến cảnh sát mỗi khi nghĩ rằng mình nghe thấy một kẻ rình mò trong nhà, có lẽ họ chẳng mất nhiều thời gian để kết luận cô là một kẻ thần kinh có vấn đề. Vì kiêu hãnh nên Tina không thể chịu đựng nổi suy nghĩ mình xuất hiện với vẻ hoảng hốt trước mặt hai gã cớm có nụ cười nhăn nhở, để rồi sau đó trong khi nhâm nhi bánh rán và cà phê, họ sẽ đem cô ra làm trò cười. Cô phải tự mình lục soát ngôi nhà, chỉ mình cô mà thôi.

Hướng khẩu súng lên trần nhà, cô lên đạn.

Hít một hơi thật sâu, cô mở khóa cửa phòng ngủ và bước nhẹ ra hành lang.

(Còn tiếp)

Đọc bài viết

Trích đăng

Truyện ngắn: Thằng Lùn – trích Xứ tháng Mười

Trích truyện ngắn “Thằng lùn” trong tuyển tập “Xứ tháng Mười” của Ray Bradbury.

Published

on

By

Trích từ: Xứ tháng Mười
Tác giả: Ray Bradbury
Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book
Phát hành: tháng 03.2022

THẰNG LÙN

Aimee ngắm bầu trời, lặng lẽ.

Đêm nay là một trong những đêm hè oi ả im lìm. Sân bến  tàu  bê-tông  vắng  bóng  người,  những  bóng  đèn  vàng, trắng, đỏ giăng mắc cháy sáng như bầy côn trùng lơ lửng bên trên khoảng không đông đặc. Những người quản lý đủ loại gian hàng trò chơi hội chợ đứng bất động, những xác ướp bằng sáp đang tan chảy, không nói năng, mắt nhìn đờ đẫn, không trừ một ai.

Hai khách đã đi qua đây từ một giờ trước. Hai kẻ lẻ loi ấy giờ đang ngồi trên tàu lượn cao tốc, la hét như điên khi đoàn tàu xé màn đêm chói lóa lao thẳng xuống, quay tròn, quay tròn những vòng vô nghĩa.

Aimee chầm chậm đi băng qua bãi biển, mấy vòng gỗ ném cọc bám nhớp nháp trong hai bàn tay. Cô dừng lại sau quầy bán vé trước cửa MÊ CUNG NHÀ KÍNH. Cô thấy bóng mình biến dạng  gớm  guốc  trong  ba  tấm  gương  dợn  sóng bên ngoài Mê Cung. Một ngàn bản sao mệt mỏi của bóng cô tan biến vào lối đi phía bên kia, những ảnh hình nóng hổi giữa vùng gương lạnh trong veo.

Cô bước vào trong quầy vé đứng nhìn hồi lâu cần cổ gầy guộc của Ralph Banghart. Hắn cắn giữa hai hàm răng dài ố vàng lởm chởm một điếu xì-gà chưa châm lửa trong khi bày bộ bài tơi tả ra chơi một mình trên kệ quầy.

Lúc  chiếc  tàu  lượn  quay  rú  lên  rồi  lại  lao  xuống  kinh động như núi lở, cô sực nhớ ra và lên tiếng.

“Loại người nào thích lên tàu lượn cao tốc?”

Ralph Banghart nhấm nhá điếu xì-gà cả ba mươi giây. “Những kẻ muốn chết. Tàu lượn là dễ chết nhất.” Hắn ngồi lắng nghe tiếng súng trường nổ mơ hồ vọng ra từ gian trò chơi bắn súng. “Cái nghề làm hội chợ chó chết này đúng là điên rồ. Chẳng hạn như thằng lùn kia. Cô gặp nó chưa? Tối nào cũng vậy, bỏ một đồng xu, chạy vào Mê Cung Nhà Kính ra tít đằng sau, tới buồng Khổng Lồ. Rồi cô sẽ thấy thằng lùn tịt này chạy thẳng tới đó cho coi. Thiệt tình!”

“Ờ, đúng,” Aimee thốt lên, cô đã nhớ ra. “Em luôn thắc mắc không biết làm người lùn thì cảm giác ra sao. Gặp người lùn nào em cũng thấy thương hại.”

“Tôi cứ muốn tóm lấy nó mà co kéo thun giãn chơi.” “Đừng nói thế chứ!”

“Trời đất,” Ralph đưa bàn tay rảnh rỗi vỗ đùi cô. “Lúc nào cô cũng có thái độ kỳ cục như vậy với những thằng cha thậm chí cô còn chưa gặp.” Hắn lắc đầu cười khúc khích.

“Nó với bí mật của nó. Chỉ có điều nó không biết là tôi biết đó nghe? Thế mới hay chứ!”

“Tối nay nóng.” Cô bồn chồn xóc xóc mấy vòng gỗ lớn trong những ngón tay ướt mồ hôi.

“Đừng  lái  qua  chuyện  khác.  Nó  sẽ  tới  đây,  dù  nắng hay mưa.”

Aimee dợm bước đi.

Ralph nắm lấy khuỷu tay cô. “Này! Cô khùng sao chứ? Không muốn thấy thằng lùn đó à? Suỵt!” Ralph quay lại. “Nó đến rồi kìa!”

Chỉ có mỗi bàn tay Thằng Lùn, đen đúa và lông lá, hiện ra với một đồng xu bạc khi cố với lên ô cửa quầy vé. “Một vé!” Một tiếng nói lanh lảnh như giọng trẻ con.

Bất giác, Aimee chồm tới.

Thằng Lùn ngước nhìn cô, rành rành một gã xấu xí, tóc đen, mắt đen bị lèn chặt trong máy ép, bị vắt nặn và nhồi nhét cho nhỏ choắt thêm, từng chút một, bẻ quặp lui tới, oằn oại ngược xuôi, cho đến khi chỉ còn một đống phẫn nộ nhợt nhạt, bộ mặt sưng húp không hình thù, bộ mặt mà ta phải mở căng mắt tỉnh thức lúc hai và ba và bốn giờ sáng, nằm bẹp trên giường, chỉ có cơ thể say ngủ.

Ralph xé chiếc vé màu vàng làm đôi. “Một vé!”

Dường như hoảng sợ vì cơn dông sắp đến, Thằng Lùn kéo chặt ve áo choàng đen quanh cổ rồi lắc lư hấp tấp bước đi. Một thoáng sau, mười ngàn thằng lùn lang thang lạc loài bò quằn quại giữa những mặt gương, như một đàn bọ hung đen cuống quýt, rồi biến mất.

“Mau!”

Ralph ôm cứng Aimee rồi lôi cô theo hành lang âm u đằng sau những tấm gương. Cô thấy tay hắn vỗ về cô suốt quãng đường đi ngược xuyên qua đường hầm dẫn tới một vách ngăn mỏng có lỗ nhỏ quan sát.

“Chuyện này hay,” hắn cười khúc khích. “Đó… nhìn đi.” Aimee ngần ngừ, rồi úp mặt vào vách ngăn.

“Cô… thấy… nó… không?” Ralph thì thào.

Aimee nghe tim mình đập dồn. Trọn một phút trôi qua. Trong  đó  Thằng  Lùn  đứng  giữa  căn  buồng  nhỏ  màu xanh. Mắt gã nhắm nghiền. Gã chưa sẵn sàng mở mắt nhìn. Giờ thì gã mở hai mi mắt lên rồi ngắm tấm gương lớn trước mặt. Và điều nhìn thấy được trong gương khiến gã mỉm cười. Gã nháy mắt, gã xoay tròn, gã đứng quay sang một bên, gã vẫy tay, gã cúi chào, gã lóng ngóng nhún nhảy khẽ khàng.

Và tấm gương lặp lại từng chuyển động với đôi cánh tay dài ngoằng, với một thân hình cao thêm, cao thêm, với cái nháy mắt to lớn và bóng hồi vọng khổng lồ của điệu múa, kết thúc bằng cái cúi chào vĩ đại!

“Tối nào cũng một trò đó,” Ralph thầm thì vào tai Aimee. “Hay thật đấy chứ?”

Aimee  quay  lại,  hướng  gương  mặt  bất  động  về  phía Ralph nhìn chăm chăm một hồi lâu, không nói năng gì. Rồi cứ như không tự kiềm chế được, cô từ từ quay đầu rất chậm, rất chậm trở lại lỗ quan sát căng mắt nhìn lần nữa. Cô nín thở. Cô thấy đôi mắt mình bắt đầu rướm lệ.

Ralph vừa huých nhẹ cô vừa thì thào.

“Này, thằng oắt lùn đó đang làm gì lúc này?

Nửa giờ sau, hai người cứ uống cà phê trong quầy vé mà chẳng ai nhìn ai khi Thằng Lùn từ trong những tấm gương đi ra. Gã bỏ mũ xuống và dợm bước tới quầy vé nhưng thấy Aimee lại hấp tấp bỏ đi.

“Anh ta muốn cái gì đó,” Aimee nói.

“Đúng.” Ralph dí nát điếu thuốc, vẻ bâng quơ. “Tôi còn biết nó muốn cái gì nữa kìa. Nhưng nó không dám hỏi. Có một đêm nó nói léo nhéo lí nhí, ‘Tôi chắc là mấy tấm gương đó đắt tiền lắm.’ Ôi, tôi giả ngu. Tôi nói, Ờ, đắt lắm. Coi bộ nó nhìn tôi như chờ đợi, rồi thấy tôi không nói gì nữa thì nó đi về, nhưng đêm sau nó lại hỏi. ‘Tôi chắc mấy tấm gương đó cũng phải đến cả năm chục, cả trăm đô?’ Chắc là thế, tôi nói vậy. Rồi tôi chia bài ra chơi một mình.”

“Ralph,” cô gọi.

Hắn ngước lên. “Sao cô nhìn tôi kỳ vậy?”

“Ralph,”  cô  nói,  “sao  không  bán  cho  anh  ta  một  tấm gương nào dư thừa của anh đi?”

“Này, Aimee, tôi có xía vào chuyện quản lý gian hàng ném vòng của cô không?”

“Mấy tấm gương đó bao nhiêu tiền?”

“Tôi có thể mua hàng xài rồi với giá ba mươi lăm đô.” “Thế sao anh không chỉ cho anh ta biết chỗ mua một tấm?”

“Aimee, cô khờ lắm.” Hắn đặt tay trên đầu gối cô. Cô nhích đầu gối ra. “Cho dù tôi chỉ nó chỗ mua thì cô tưởng nó sẽ mua sao? Không đời nào. Lý do? Nó mắc cỡ. Đấy, nó mà biết tôi thấy nó rửng mỡ trước tấm gương trong buồng Khổng Lồ thì nó sẽ không bao giờ quay lại đây đâu. Nó cứ làm bộ như đi vào Mê Cung cho lạc chơi, giống như mọi người. Vờ như nó chẳng quan tâm đến cái buồng đặc biệt ấy. Lúc nào cũng chờ dịp gian hàng này vắng khách, lúc tối khuya, để nó độc chiếm cái buồng cuối cùng đó. Những lúc gian hàng này đắt khách thì có trời mới biết đêm đêm nó giải khuây bằng cái trò gì. Không đâu, xin thưa, nó không dám mua gương ở bất kỳ đâu. Nó không hề có bạn bè, mà có đi chăng nữa nó cũng chẳng dám nhờ họ mua giúp một thứ như vậy. Sĩ diện mà, xin thề, sĩ diện. Lý do duy nhất khiến nó nói chuyện đó với tôi là vì tôi thực tế là người độc nhất mà nó quen biết. Hơn nữa, nhìn nó coi…, làm sao nó có đủ tiền mua tấm gương như vậy được. Nó có thể để dành, nhưng một thằng lùn thì làm đếch gì ra tiền mà để dành? Không ở trong gánh xiếc thì thứ như nó cả đống ngoài kia, đầy đường đầy chợ.

“Em thấy kỳ lạ. Em thấy buồn.” Aimee nhìn đăm đăm ra lối đi lót ván vắng ngắt. “Anh ta ở đâu vậy?”

“Dưới  khu  Flytrap  ngay  bờ  biển.  Ở  Ganghes  Arms. Mà sao?”

“Em si tình anh chàng đó mất rồi, nếu anh muốn biết.” Hắn ngoác miệng cười, răng vẫn cắn điếu xì-gà. “Aimee,”

Hắn nói. “Cô đúng là tiếu lâm hết sức.”

***

Một đêm ấm, một sáng nóng, rồi một trưa cháy bỏng. Mặt biển chói lóa kim tuyến và thủy tinh.

Aimee tản bộ tới, từ các lối đi chật hẹp trong hội chợ ra ngoài biển nóng, men theo bóng râm, tay ôm năm sáu tờ tạp chí bạc màu vì nắng. Cô mở cánh cửa bong tróc, gọi vọng vào vũng tối hầm hập. “Ralph?” Cô lần bước qua hành lang thâm u sau những tấm gương, gót giày nhấn xuống sàn gỗ. “Ralph?” Có người uể oải trở mình trên chiếc giường xếp vải bố.

“Aimee hả?”

Hắn ngồi dậy rồi vặn một bóng đèn tù mù vào đui đèn trên chiếc bàn có gương soi. Mắt nhắm mắt mở, hắn nheo nheo nhìn cô. “Kìa, trông cô hệt như con mèo vừa nuốt được con chim.”

“Ralph, em tới về chuyện gã tí hon!”

“Thằng lùn, Aimee, thằng lùn, cưng ơi. Tí hon là do tế bào, bẩm sinh đã vậy. Còn lùn dị dạng là do tuyến nội tiết…” “Ralph!  Em vừa biết được một chuyện tuyệt hay về anh ta!”

“Trời ơi là trời,” hắn nói với hai bàn tay đang chìa ra như làm chứng cho điều hắn không tin. “Cái cô này! Ai quan tâm cóc khô gì tới một thằng lùn xấu xí…”

“Ralph!” Cô chìa mấy tờ tạp chí ra, mắt sáng lên. “Anh ta là nhà văn! Ai mà nghĩ ra chứ!”

“Hôm nay nóng bức quá rồi, nghĩ ngợi làm chi.” Hắn lại ngả lưng ra rồi quan sát cô, miệng thoáng cười.

“Em tình cờ đi ngang qua Ganghes Arms, và gặp ông Greeley, ông quản lý. Ông ta bảo máy chữ gõ rào rào cả đêm trong phòng ông Lớn!”

“Thằng lùn đó mà tên là Lớn?” Ralph buột miệng cười rống lên.

“Viết truyện trinh thám đăng báo để sống qua ngày. Em tìm được một truyện của anh ta ở chỗ bán tạp chí cũ, và rồi, Ralph, biết gì không?

“Tôi đang mệt đây, Aimee.”

“Anh chàng nhỏ bé này có tâm hồn bao la như trời đất; anh ta có tất cả trong đầu!”

“Thế sao nó không viết cho các tạp chí lớn đi, cô nói tôi nghe coi?”

“Chắc là vì anh ta e ngại… Chắc anh ta không tự biết là có thể làm như thế. Chuyện thường tình. Người ta thường không tự tin vào bản thân. Nhưng nếu anh ta chỉ cần thử thôi, em dám cá anh ta có thể bán truyện ngắn cho bất kỳ đâu trên đời.”

“Thế sao nó không giàu có, tôi hỏi cô đấy?”

“Chắc là vì anh ta chưa nghĩ tới do cuộc sống khổ sở. Ai mà chẳng thế? Thân phận nhỏ nhoi thế kia? Em cho là khó lòng nghĩ tới bất cứ điều gì ngoài chuyện quá nhỏ nhoi và chuyện sống trong căn hộ một buồng rẻ tiền.”

“Xì!” Ralph cười nhạo. “Cô nói cứ như là bà trùm từ thiện.” Aimee  đưa  tờ  tạp  chí  lên.  “Để  em  đọc  anh  nghe  một đoạn truyện trinh thám của anh ta. Truyện có đủ súng ống và du côn, nhưng do một người lùn thuật lại. Em dám cá là mấy tay biên tập chẳng bao giờ đoán được tác giả này biết rõ mình đang viết cái gì. Ồ, xin anh đừng ngồi ì ra đó, Ralph! Nghe này.”

Và cô bắt đầu đọc to.

Tôi là một thằng lùn và tôi là kẻ giết người. Hai chuyện này không thể tách rời. Cái này là nguyên nhân của cái kia.

Kẻ  bị  tôi  giết  thường  chặn  tôi  giữa  đường  khi  tôi  hai mươi mốt tuổi, đưa hai tay nhấc bổng tôi lên, hôn trán tôi, hát ư ử loạn xạ những bài ru con, lôi tôi vào chợ, ném tôi lên mấy chiếc cân và quát tháo với ông hàng thịt “Cân cho đàng hoàng! Đừng có lấy ngón cái mà đè đĩa cân nghe chưa!”

Bạn có hiểu cuộc đời cả hai đã đi tới kết cục giết người ra sao không? Thằng ngu đó, kẻ hành hạ thân xác và tâm hồn tôi đó!

Còn thời thơ ấu của tôi: cha mẹ tôi đều nhỏ con, không hẳn là lùn, không hẳn. Của thừa kế của cha tôi đã cho cả gia đình sống trong một ngôi nhà búp bê, một thứ kỳ lạ giống như chiếc bánh cưới phủ kem xoắn ốc trắng tinh – những căn phòng nhỏ xíu, bàn ghế nhỏ xíu, tranh ảnh nhỏ xíu, cả đồ trang sức chạm đá, cả những miếng hổ phách có côn trùng mắc kẹt bên trong, tất cả đều tí tẹo, tí tẹo, tí tẹo! Thế giới Khổng Lồ xa vời quá, một tin đồn xấu xa bên kia bức tường vườn nhà. Tội nghiệp mẹ cha! Họ chỉ muốn những gì tốt đẹp nhất cho tôi. Họ giữ riết tôi như chiếc lọ sứ, nhỏ bé và quý báu, trong thế giới của kiến, trong những căn phòng tổ ong, trong thư viện li ti, trong mảnh đất có những cửa cái to bằng con bọ hung và cửa sổ to bằng con bướm mối. Mãi tới bây giờ tôi mới thấy được tầm vóc loạn tâm thần kỳ vĩ của cha mẹ tôi! Họ hẳn đã mơ tưởng sẽ sống đời đời, luôn giữ gìn tôi như con bướm khô trong hộp kính. Nhưng cha tôi chết trước, rồi một đám cháy nuốt chửng ngôi nhà tí hon, cái tổ ong bầu ấy, cùng mọi tấm gương soi bé bằng con tem và căn phòng bằng lọ muối bên trong. Mẹ cũng chết luôn! Và còn lại tôi một mình, nhìn tàn lửa rơi, bị quẳng ra ngoài thế giới của Quái Vật và Người Khổng Lồ, bị thực tế như trận đất lở cuốn phăng, quăng quật, lăn lóc, và nát bấy dưới chân vách núi!

Tôi phải mất một năm mới thích ứng được. Không thể nào nghĩ tới một nghề với chút công việc phụ thêm. Dường như đời này không có chỗ nào dành cho tôi. Và rồi, một tháng trước, Kẻ Khủng Bố đó bước vào đời tôi, ấn một cái mũ đàn bà lên mái đầu khờ khạo của tôi, và hét với đám bạn: “Tao muốn tụi bay xem con lùn này!”

Aimee ngừng đọc. Ánh mắt cô bồn chồn và tờ tạp chí run rẩy khi cô đưa cho Ralph. “Anh đọc hết đi. Phần còn lại là câu chuyện giết người. Viết được lắm. Anh thấy vậy không? Lùn mà hay! Lùn mà hay!”

Ralph quẳng tờ tạp chí qua một bên rồi uể oải châm điếu thuốc. “Tôi thích đọc truyện cao bồi hơn.”

“Ralph, anh phải đọc truyện này. Cần có người nói cho ông Lớn biết là anh ta viết tốt lắm và khuyến khích anh ta viết tiếp.”

Ralph nhìn cô, đầu nghiêng một bên. “Thế ai sẽ nói cho nó biết? Chà chà, chúng ta là cánh tay mặt của Đấng Cứu Thế đấy à?”

“Đừng nói cái giọng đó chứ!”

“Tỉnh lại đi, đồ khùng! Nếu tự nhiên cô ào ào nói ra điều đó, nó sẽ nghĩ cô đang bố thí lòng thương hại. Nó sẽ gào rống xua đuổi cô cút khỏi nhà nó.”

Aimee ngồi xuống, ngẫm nghĩ từ tốn lại, cố xoay trở vấn đề xem xét mọi góc cạnh. “Em không biết. Có lẽ anh đúng. Ồ, không phải lòng thương hại đâu, Ralph, thật đó. Nhưng có thể đối với anh ta thì giống như thế. Em phải cẩn thận hết sức.”

Hắn nắm vai cô lắc tới lắc lui, mấy ngón tay bấu nhẹ. “Trời, trời, mặc kệ nó đi, tôi chỉ yêu cầu cô điều đó; cô sẽ hao tâm tốn sức mà chỉ thêm rắc rối chứ chẳng được gì. Trời, Aimee, chưa hề thấy cô sốt sắng chuyện gì như chuyện này. Thôi, hôm nay nghỉ làm đi chơi, tôi với cô, đi ăn trưa, đổ ít xăng, rồi phóng xe dọc bờ biển đi xa hết cỡ, bơi lội, ăn chiều, xem phim gì hay hay ở thị trấn nhỏ đâu đó… bỏ mẹ cái hội chợ này đi, được không? Một ngày vui đã đời không lo toan. Tôi đã để dành được ít tiền đây rồi.”

“Đó là vì em thấy anh ta khác biệt,” cô nói, mắt nhìn sâu vào bóng tối. “Đó là vì anh ta là người đáng nể mà tụi mình không thể nào bằng được…, anh và em và tất cả lũ chúng ta ở bến tàu này. Ngộ thật, ngộ thật đó. Cuộc đời đã định cho anh ta chẳng được tích sự gì ngoài những gánh xiếc rong, thế mà anh ta lại ở cái xứ này. Và cuộc đời đã định cho tụi mình không phải làm trong gánh xiếc rong, nhưng tụi mình cũng lại ở đây, thế đấy, ở tít tận đây trên cái cầu tàu ngoài biển này. Nhiều lúc tưởng chừng xa bờ đến cả triệu dặm. Ralph, làm sao tụi mình có thân xác này nhưng anh ta lại có được trí óc và có thể nghĩ ra nhiều điều mà tụi mình thậm chí không bao giờ ngờ tới?”

“Nãy giờ tôi nói gì cô đâu có nghe!” Ralph nói.

Cô ngồi còn hắn đứng bên trên, tiếng nói xa vắng. Mắt cô khép hờ và hai bàn tay cô đặt trên đùi, run rẩy.

“Tôi không thích vẻ mặt tinh ranh của cô lúc này,” cuối cùng hắn lên tiếng.

Aimee từ từ mở ví lấy ra một cuộn giấy bạc rồi bắt đầu đếm. “Ba mươi lăm, bốn mươi đô la. Đủ. Em sẽ điện thoại cho Billie Fine nhờ ông ta gửi một tấm gương biến dạng loại cao tới nhà ông Lớn nhỏ con ở Ganghes Arms. Đấy, em sẽ làm thế!”

“Cái gì?”

“Thử nghĩ xem, Ralph, anh ta sẽ sung sướng biết bao khi có tấm gương đó trong phòng riêng bất cứ khi nào anh ta cần tới. Em mượn điện thoại anh nhé?”

“Cứ việc, đúng là khùng.”

Ralph quay lưng thật nhanh rồi bỏ đi về cuối đường hầm. Tiếng cửa đóng sầm.

Aimee chờ một lúc rồi đưa tay nhấc điện thoại, bắt đầu quay số, chậm chạp đến đau khổ. Cô ngừng lại giữa những con số, nín thở, nhắm mắt, tự hỏi thầm nếu trót mang phận nhỏ nhoi trên đời này, và nếu một ngày có người gửi cho một tấm gương đặc biệt thì sẽ như thế nào. Một tấm gương trong phòng riêng nơi ta có thể ẩn náu cùng chiếc bóng phản chiếu to lớn của bản thân, chói sáng, và viết hết truyện này đến truyện khác, không cần phải bước ra thế gian nếu không cần thiết. Khi đó, một mình, cùng ảo ảnh tuyệt diệu toàn vẹn hình hài trong căn phòng ấy thì sẽ như thế nào. Điều này sẽ khiến ta buồn hay vui, nó sẽ giúp ích hay là phá hoại chuyện văn chương? Cô hết ngẩng lại cúi đầu, suy nghĩ, suy nghĩ mãi. Ít ra thì như thế sẽ chẳng có ai khinh thường ta. Đêm đêm, có thể lén thức giấc lúc ba giờ sáng lạnh lẽo, ta có thể nháy mắt rồi nhảy múa vòng quanh rồi mỉm cười rồi vẫy tay với chính mình, vụt lớn, vụt lớn, cao đẹp ngời ngời trong tấm gương rực rỡ.

Tiếng nói vang trong điện thoại, “Billie Fine đây.” “Ôi, Billie!” cô thổn thức.

Đêm tràn lấp cầu tàu. Biển đen gầm gừ dưới những tấm ván. Ralph ngồi lạnh tái trong chiếc quan tài bằng kính của mình,  tay  chia  bài,  mắt  nhìn  đăm  đăm,  môi  mím  chặt.  Ở khuỷu tay hắn, một kim tự tháp tàn thuốc cứ cao dần. Khi Aimee đi men dưới hàng bóng đèn màu xanh và đỏ rực, tươi cười, vẫy chào, hắn vẫn cứ từ từ, chầm chậm đặt từng quân bài xuống. “Chào Ralph!” cô gọi.

“Chuyện tình ra sao rồi?” – Hắn vừa hỏi vừa uống nước đá lạnh trong chiếc cốc bẩn. “Các chàng minh tinh, tài tử thế nào?”

“Em vừa đi mua chiếc mũ mới,” cô mỉm cười đáp. “Ôi, em thấy sướng quá! Anh biết tại sao không? Ngày mai Billie Fine sẽ cho gửi một tấm gương đi! Ta mà thấy được nét mặt của anh chàng nhỏ bé đó thì hay phải biết!”

“Tôi không giỏi tưởng tượng đâu.”

“Ối trời, bộ anh tưởng em sẽ lấy anh ta làm chồng hay sao.”

“Sao lại không? Bỏ nó vào va-li xách đi khắp nơi. Thiên hạ sẽ hỏi, Chồng cô đâu? Cô chỉ cần mở nắp ra, la lên, Nó đây này! Giống cái kèn bằng bạc. Lôi nó ra khỏi hộp bất cứ lúc nào, thổi một bài, cất vô hộp trở lại. Kiếm cái xô đựng cát nhỏ đặt sau hiên nhà cho nó đứng.”

“Em đang thấy sướng quá,” cô nói.

“Phải nói là nhân đức mới đúng.” Ralph không nhìn cô, miệng hắn căng ra. “N-h-â-n-đức. Tôi chắc mọi chuyện đều do tôi theo dõi thằng đó qua lỗ ván nẻ để làm trò vui chứ gì? Đó là lý do cô mua cho nó tấm gương đó chớ gì? Những người như cô rảnh quá mà, toàn phá hoại niềm vui của kẻ khác.”

“Anh nói thế thì em sẽ không đến chỗ anh uống nước nữa. Em thà không chơi với ai còn hơn chơi với người hèn hạ.” Ralph thở hắt một hơi thật dài. “Aimee, Aimee. Cô không

hiểu là cô chẳng thể giúp ích gì cho thằng cha đó sao? Nó là thằng khùng. Và cái trò điên rồ của cô cũng chẳng khác gì cô nói với nó: Cứ khùng nữa đi, tôi sẽ giúp anh, anh bạn”.

“Dù gì cũng là chuyện ngàn năm một thuở, có sai lầm cũng tốt nếu mình nghĩ việc làm này sẽ giúp người khác vui sướng,” cô nói.

“Cầu  Chúa  cứu  vớt  tôi  thoát  khỏi  những  kẻ  thiện tâm, Aimee.”

“Im đi! Im đi!” cô la lên, rồi không nói thêm gì nữa.

Hắn để cho im lặng đọng lại hồi lâu, rồi đứng dậy, đặt chiếc cốc dính đầy dấu tay qua một bên.

“Trông quầy vé cho tôi được chớ?”

“Được. Nhưng sao vậy?”

Cô thấy mười ngàn bóng hình trắng lạnh của hắn khệnh khạng  đi  theo  các  hành  lang  thủy  tinh,  giữa  những  mặt gương, môi hắn mím chặt và những ngón tay múa máy.

Cô ngồi trong quầy vé cả phút rồi bất chợt rùng mình. Một chiếc đồng hồ nhỏ kêu tích tắc trong quầy và cô lật bộ bài ra, từng lá một, đợi chờ. Cô nghe tiếng búa, gõ, nện, gõ, nện, văng vẳng trong Mê Cung; một lúc im lìm, một lúc chờ đợi thêm, rồi mười ngàn bóng hình gấp lại, mở ra, và tan rã, Ralph vừa sải bước vừa nhìn mười ngàn bóng hình cô ngồi trong quầy vé hồi vọng hai bên lối ra. Cô nghe tiếng cười khẽ khi hắn đi xuống đường dốc.

“Này, có gì mà anh cao hứng thế?” Cô ngờ vực hỏi. “Aimee,” hắn nói thản nhiên, “tụi mình không nên cãi nhau. Cô bảo ngày mai Billie sẽ gửi tấm gương đó tới cho ông Lớn à?”

“Anh không định làm trò quái quỷ gì đấy chứ?”

“Tôi ấy à?” Hắn thế chỗ cô trong quầy vé và vớ lấy bộ bài, miệng ậm ừ, mắt bừng sáng. “Không đời nào, ối trời, không đời nào.” Hắn không nhìn cô mà liền chia bài phành phạch. Cô đứng sau lưng hắn. Mi mắt phải của cô hơi máy. Cô hết khoanh tay rồi lại buông thõng xuống. Một phút trôi qua. Âm thanh duy nhất là tiếng sóng biển dưới gầm cầu ván tăm tối, tiếng Ralph hít thở trong bầu khí nóng, tiếng sột soạt khe khẽ của những lá bài. Bầu trời trên cầu tàu oi bức, dày đặc mây. Ngoài khơi xa, những ánh chớp lờ mờ vụt lóe lên.

“Ralph,” cuối cùng cô lên tiếng. “Thoải mái đi, Aimee,” hắn nói.

“Về chuyện anh muốn đi chơi biển ở miệt dưới…” “Ngày mai,” hắn nói. “Có thể tháng sau. Có thể năm sau.

Thằng Ralph Banghart này là người kiên nhẫn. Tôi không lo đâu, Aimee. Hiểu chưa?” Hắn giơ một bàn tay lên. “Tôi bình thản lắm.”

Cô chờ cho một đợt sóng ngoài biển tan biến.

“Em không muốn làm anh nổi khùng đâu, vậy thôi. Em không muốn chuyện gì xấu xảy ra, hứa với em đi.”

Gió  lúc  nóng  lúc  lạnh  thổi  qua  cầu  tàu.  Có  mùi  mưa trong gió. Đồng hồ kêu tích tắc. Aimee bắt đầu toát mồ hôi khi nhìn những lá bài xê dịch, xê dịch. Xa xa vọng về tiếng những tấm bia trúng đạn và tiếng nổ ở gian hàng trò chơi bắn súng.

Và rồi, gã ta kìa.

Đang lắc lư đi qua cổng chính vắng tanh của khu hội chợ, dưới những bóng đèn như côn trùng, gương mặt méo mó  và  u  ám,  mỗi  chuyển  động  là  một  gắng  gượng.  Gã  đi suốt đoạn đường dài ra cầu tàu trong lúc Aimee quan sát. Cô muốn nói với gã, Đây là đêm cuối cùng của anh, lần cuối cùng anh sẽ tự làm mình xấu hổ vì phải tới đây, lần cuối cùng anh phải chịu đựng con mắt theo dõi của Ralph, dù là lén lút. Cô ước gì mình có thể la lên và cười to và nói điều đó ngay trước mặt Ralph. Nhưng cô lặng thinh.

“Xin chào, xin chào!” Ralph rống lên. “Tối nay miễn phí, gian hàng mời! Đặc biệt dành cho khách quen!”

Thằng Lùn ngước lên, giật mình, đôi mắt đen bắn ra một khối bối rối bềnh bồng. Miệng gã nặn không nên lời cám ơn rồi gã quay lưng, một tay đưa lên cổ kéo chặt hai ve áo nhỏ tí quanh cuống họng co thắt, tay kia thầm ghì xiết đồng xu bạc. Ngoái lại, gã khẽ gật đầu, và rồi hàng trăm gương mặt thống khổ, giày vò, ám màu âm u kỳ lạ dưới ánh đèn, bước lang thang qua những hành lang thủy tinh.

“Ralph,” Aimee kéo khuỷu tay hắn. “Có chuyện gì thế?” Hắn ngoác miệng cười. “Tôi cũng đang nhân đức đây,

Aimee, nhân đức.” “Ralph,” cô kêu lên.

“Suỵt,” hắn nói. “Nghe đi.”

Trong quầy vé, họ chờ đợi giữa im lặng oi bức lê thê. Rồi, từ rất xa, văng vẳng, một tiếng rú.

“Raph!” Aimee kêu lên.

“Nghe đi, nghe đi!” Hắn nói.

Một tiếng rú nữa, lại rú và lại rú, rồi tiếng va đập rồi tiếng  quăng  quật  rồi  tiếng  đổ  vỡ,  âm  thanh  cuống  cuồng vọng khắp mê cung. Kìa, kìa, dội ngược và đối chọi loạn xạ, từ mặt gương này sang mặt gương khác, vừa la thét điên loạn vừa nức nở khóc, mặt đẫm lệ, miệng há hốc, ông Lớn xuất hiện. Gã nhào ra bầu trời đêm hầm hập, cuống cuồng nhìn quanh, rên rỉ, rồi chạy mất hút xuống bến tàu.

“Ralph, có chuyện gì thế?”

Ralph ngồi vừa cười ầm vừa vỗ đùi. Cô tát vào mặt hắn. “Anh đã làm gì?”

Hắn cố nín cười nhưng không được. “Theo tôi. Tôi sẽ cho cô thấy!”

Và  rồi  cô  vào  mê  cung,  hấp  tấp  chạy  qua  những  tấm gương trắng lóa, vết son môi đỏ rực như lửa phản chiếu cả ngàn lần trong cái hang động sáng bạc hừng hực nơi những người đàn bà điên loạn dị kỳ như cô đuổi theo một tên đàn ông tươi cười, đang chạy phăng phăng.

“Theo tôi!” hắn la to. Và họ lao tới căn buồng tí xíu sặc mùi bụi bặm.

“Ralph!”

Họ đứng ở ngưỡng cửa căn buồng nhỏ nơi Thằng Lùn đêm nào cũng đến cả năm nay. Cả hai đứng ở nơi Thằng Lùn đứng đêm đêm, trước khi gã mở mắt nhìn hình tượng thần kỳ trước mặt.

Aimee chầm chậm lê chân, một bàn tay đưa ra trước, bước vào căn buồng lờ mờ tối.

Tấm gương đã bị đổi.

Tấm  gương  mới  khiến  ngay  cả  những  người  bình thường cũng bé, bé, bé thêm; nó khiến ngay cả những kẻ cao lớn cũng thành nhỏ nhoi, tối tăm, dị dạng thấp kém hơn khi lại gần.

Aimee đứng trước tấm gương ấy, một ý nghĩ phản chiếu, nếu gương này biến người lớn thành nhỏ, khi đứng đây, trời ơi, thì sẽ như thế nào với một gã lùn, gã lùn tí hon, gã lùn u ám, gã lùn cô đơn và kinh hoảng?

Cô quay lưng và suýt vấp ngã. Ralph đang đứng nhìn cô. “Ralph,” cô thốt lên. “Trời ơi, sao anh lại làm thế?”

“Aimee, trở lại đây!”

Cô  băng  qua  những  tấm  gương,  vừa  chạy  vừa  khóc. Căng mắt nhìn qua màn lệ thật khó tìm đường, nhưng cô đã lần được lối ra. Cô đứng chớp mắt nhìn cầu tàu vắng lặng, rồi dợm chạy theo một hướng, đổi hướng khác, không biết về đâu, rồi thôi. Ralph chạy tới sau lưng cô, nói gì đó, một giọng nói xa xăm và khác lạ, như đang loáng thoáng sau một bức tường đêm khuya.

“Tôi không muốn nghe nữa,” cô nói.

Có ai đang chạy lên cầu tàu. Đó là Kelly, chủ gian hàng bắn súng. “Này, mấy người có thấy một thằng lùn mới chạy qua không? Thằng lùn đó giật một khẩu súng ở chỗ tôi, đã nạp đạn, rồi chạy mất tiêu, tôi không kịp bắt lại. Mấy người giúp tôi tìm nó với?”

Rồi Kelly đi luôn, vừa chạy hết tốc lực vừa quay đầu qua lại tìm kiếm giữa các căn lều bạt, khuất xa dần dưới những hàng bóng đèn giăng mắc rực đỏ rực vàng rực xanh.

Aimee ngần ngừ một lúc rồi cất bước. “Aimee, cô đi đâu?”

Cô nhìn Ralph như thể hai kẻ vừa rẽ qua một góc đường, hai người xa lạ, tình cờ chạm mặt và lướt qua nhau. “Chắc là…,” cô nói, “Tôi sẽ giúp mọi người đi tìm.”

“Cô chẳng làm gì được đâu.”

“Dù sao cũng phải thử. Ôi, Ralph, lỗi tại tôi cả! Lẽ ra tôi đừng điện thoại cho Billie Fine! Lẽ ra tôi đừng đặt mua tấm gương và khiến anh nổi khùng tới mức làm như thế! Lẽ ra chính tôi phải đi gặp ông Lớn, chứ không phải mua cái thứ điên khùng đó gửi tới! Tôi phải đi tìm người đó, dù có chết cũng phải đi tìm.”

Chầm  chập  xoay  người  lại,  hai  má  ướt  đẫm,  cô  nhìn những tấm gương dựng trước Mê Cung, trên một tấm gương là bóng phản chiếu của Ralph. Cô không thể rời mắt khỏi hình ảnh ấy; nó thu hút cô đứng sững, miệng há hốc, toàn thân run lẩy bẩy buốt lạnh.

“Aimee, sao vậy? Cô làm sao…?”

Hắn nhận ra hướng cô đang nhìn và quay ngoắt lại xem chuyện gì. Hắn sửng sốt.

Hắn quắc mắt nhìn tấm gương sáng rực đó.

Một con người kinh tởm, xấu xa, nhỏ mọn, cao chỉ chừng sáu tấc, bộ mặt bị bóp dẹp dưới vành mũ rơm kiểu xưa, đang

quắc mắt nhìn đáp trả. Ralph đứng đó trừng trừng nhìn bóng mình, hai bàn tay chống nạnh.

Aimee từ từ bước đi rồi bắt đầu nhanh chân và bắt đầu chạy. Cô chạy xuống bến tàu vắng lặng và cơn gió nóng phun những hạt mưa lớn bỏng rát trên trời dội xuống đầu trong lúc cô chạy thật xa.

Ảnh: Joseph Mugnaini

Hết.

Đọc bài viết

Cafe sáng