KOMOaudio

Chương 1 “Quốc gia tái thiết” – Jonathan Tepperman

Trong tác phẩm Quốc gia tái thiết, trưởng ban biên tập của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Jonathan Tepperman đã nêu ra mười vấn đề khó khăn, tưởng như vô vọng, mà các quốc gia phải đối mặt, đồng thời giới thiệu mười giải pháp tiềm năng dựa trên những câu chuyện thành công từ các nhà lãnh đạo và chính phủ khác nhau trên thế giới.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Quốc gia tái thiết

Tác giả: Jonathan Tepperman

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: Tháng 12.2019

Giới thiệu sách:

Con người hiện đang sở hữu nhiều công nghệ tối tân và có khả năng sống lâu hơn bao giờ hết. Chúng ta đã thừa kế di sản của hàng triệu năm tiến hóa, và đó là một phước lành vượt xa khả năng hiểu biết của chính chúng ta. Song, không ít nhà nghiên cứu cho rằng xã hội loài người đang bước vào thời kỳ suy giảm đáng báo động. Tình trạng dân nhập cư, người tị nạn, sự nghèo đói và bệnh tật gia tăng đã gây nên nỗi kinh hoàng khắp thế giới. Các chính phủ đã đối mặt với những vấn đề nan giải đó ra sao?

Trong tác phẩm Quốc gia tái thiết, trưởng ban biên tập của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Jonathan Tepperman đã nêu ra mười vấn đề khó khăn, tưởng như vô vọng, mà các quốc gia phải đối mặt, đồng thời giới thiệu mười giải pháp tiềm năng dựa trên những câu chuyện thành công từ các nhà lãnh đạo và chính phủ khác nhau trên thế giới.

1

LỢI ÍCH CHO MỌI NGƯỜI

Brazil đã san sẻ sự giàu có của nó như thế nào

“NGHE NÀY.” LULA TỰA THÂN HÌNH CHẮC NỊCH trên tay vịn ghế ngồi và ghé mặt lại gần tôi, trừng mắt. “Đôi khi tôi làm cho những người bạn học thức của tôi phiền lòng khi nói ra. Nhưng người thầy số một trong đời tôi chính là người đàn bà đã sinh ra và chết đi trong mù chữ: mẹ tôi,” ông nói. “Với tất cả sự kính trọng dành cho các chuyên gia và học giả, họ chẳng biết gì về người nghèo cả. Họ biết nhiều về những con số thống kê, nhưng điều đó khác hẳn, anh hiểu không? Với người trí thức, việc dúi vào tay người nghèo 50 đô la là việc từ thiện; một học sĩ không có ý niệm gì về việc người nghèo có thể làm gì với nó. Nhưng đó là vì tại trường đại học, họ không dạy bạn phải quan tâm tới người nghèo như thế nào. Và đó là vì hầu hết các chuyên gia không bao giờ trải qua những gì mà người nghèo chịu đựng mỗi ngày. Họ không bao giờ phải đi làm với cái bụng đói. Họ không bao giờ sống trong ngôi nhà ngập nước, hoặc phải chờ xe buýt ba tiếng đồng hồ. Với các chuyên gia, một vấn đề xã hội như bất bình đẳng chỉ là những con số. Nhưng tôi tiếp lấy vấn đề xã hội đó và biến nó thành một vấn đề chính trị, vấn đề thực tế. Và rồi tôi cố gắng giải quyết nó.”

Đó là vào tháng 12 – mùa hè ở Brazil – Lula và tôi ngồi trong văn phòng riêng bề bộn của ông ở Ipiranga, một khu trung lưu hơi nhếch nhác của São Paulo. Tôi đến để hỏi ngài cựu Tổng thống Brazil – tên chính thức là Luiz Inácio Lula da Silva, mặc dù không ai gọi ông như vậy – rằng ông đã làm điều đó như thế nào. Làm cách nào Lula đã biến bất bình đẳng thành điều mà ông vừa mô tả như là vấn đề có thể xử lý về mặt chính trị – và rồi giải quyết nó thành công một cách đáng ngạc nhiên như vậy?

Cảm giác muốn tìm kiếm câu trả lời thật cấp bách. Suy cho cùng, sự bất bình đẳng thu nhập đã bùng nổ trên khắp thế giới trong những năm gần đây, trở thành nguồn cơn bất an vô cùng trên thế giới. Vực thẳm ngăn cách giữa giới siêu giàu và phần còn lại có vẻ mở rộng không vãn hồi ở hầu khắp mọi nơi. Và không ai biết phải làm gì với nó.

Một lý do cho sự bất lực này là tăng trưởng kinh tế – từ lâu được coi như chìa khóa để cải thiện sự thịnh vượng nói chung – đã không còn có tác dụng như mong đợi. Mặc dù các chính khách thường đổ lỗi cuộc khủng hoảng bất bình đẳng hiện nay cho Đại suy thoái và những dư chấn của nó, giả thuyết này không đứng vững được. Vì nếu bạn nhìn vào nhiều quốc gia với khoảng cách thu nhập đã mở rộng khủng khiếp trong vài năm qua, bạn sẽ đi đến phát hiện lạ thường: danh sách này bao gồm một vài nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh nhất thế giới, như Trung Quốc.

Điều này có nghĩa là việc đưa các nền kinh tế đang chệch choạng của thế giới trở lại đúng đường hướng không thôi sẽ không giúp ích nhiều để thu hẹp các hố sâu thu nhập. Nó có thể chỉ càng tạo ra thêm nhiều Trung Quốc mà thôi. Để thật sự giải quyết vấn đề bất bình đẳng đòi hỏi cách tiếp cận sáng tạo và thông minh hơn nhiều.

Cuộc săn lùng chiến lược đã được tiến hành tốt, với các chuyên gia và các nhà lãnh đạo quốc gia ngày càng tuyệt vọng đang nặn óc tìm câu trả lời. Trong số những giải pháp được đề xuất đến nay, nổi tiếng nhất có lẽ là của Thomas Piketty, nhà kinh tế học siêu sao người Pháp đã kêu gọi áp đặt một loại thuế tài sản toàn cầu trong tác phẩm best-seller năm 2014 của mình.

Không khó để hiểu vì sao có nhiều người say mê ý tưởng này đến vậy. Nó đơn giản một cách cảm động, một tuyệt chiêu lấy của người giàu chia cho kẻ nghèo. Nhưng có hai vấn đề lớn với kế hoạch của Piketty, cũng như những phương pháp cực đoan tương tự đối với sự bất bình đẳng. Thứ nhất, chúng sẽ không bao giờ có tác dụng, vì những lý do chính trị lẫn chuyên môn; giới tinh hoa toàn cầu quá giỏi trong việc bảo vệ lợi ích của mình và né tránh những khoản thuế được cho là phải đóng.

Và thứ hai, những chiến lược gây tranh cãi như vậy là quá mức cần thiết.

Trong khoảng chục năm qua, Brazil đã chứng tỏ có một cách tốt hơn, ít cực đoan hơn, và thân thiện với thị trường hơn nhiều để chống lại sự bất bình đẳng. Phương pháp này đã được thử thách, và nó có hiệu quả.

Người đàn ông ngồi đối diện tôi trong ngày nóng nực ấy ở Ipiranga là người đã làm cho điều đó xảy ra, đã chủ trì một trong những cuộc cải biến xã hội thành công nhất, ít gây xáo trộn nhất mà thế giới từng chứng kiến.

TRONG ĐỜI THỰC, thậm chí còn hơn cả tiểu thuyết, mọi chuyện thường diễn ra theo những kịch bản có thể dự báo trước. Người đẹp lấy được chồng giàu. Chính trị gia gây quỹ được nhiều hơn với mái tóc dầy hơn thắng cuộc. Người giàu càng giàu thêm, và số còn lại bị chơi xỏ. Những chiến thắng khó khăn và bất ngờ thì cực hiếm hoi.

Song họa hoằn chúng vẫn xảy ra, và đây là một trong những trường hợp như vậy. Vì thế trước khi giải thích điều này diễn ra như thế nào – Brazil đã thành công ra làm sao – thật đáng để xem xét điều gì khiến cho cái kết có hậu này có vẻ khó tin, và do đó, truyền cảm hứng đến vậy.

Trước hết là bối cảnh của câu chuyện. Thật khó để hình dung Brazil ngày nay có thể là hình mẫu cho bất cứ cái gì. Quốc gia này là một mớ hỗn độn, tan tác bởi cuộc khủng hoảng này đến cuộc khủng hoảng khác. Khi mọi chuyện bung bét, quốc hội bị tê liệt và các lực lượng chính trị lao đao bởi các vụ bê bối tham nhũng cấp thượng tầng. Bản thân Lula đã bị nghi ngờ khi trở thành đối tượng của một cuộc điều tra mở rộng.

Hơn nữa, mãi cho đến rất gần đây, ý tưởng rằng Brazil có thể có điều gì đó để dạy thế giới về sự bất bình đẳng ắt hẳn nghe như một chuyện đùa. Trong nhiều thập kỷ, đất nước này không chỉ có vấn đề với sự bất bình đẳng mà thôi – bản thân nó vấn đề. Quốc gia lớn nhất Mỹ Latin này nằm trong số những nơi chốn bất bình đẳng nhất hành tinh, tình trạng đồng nghĩa với sự bất công xã hội tàn tệ. Hẳn nhiên rồi, nó được phú cho một nền dân số lớn, trẻ trung và dồi dào tài nguyên thiên nhiên (bao gồm vị trí thứ tám thế giới về dự trữ nước ngọt và nằm trong số các quốc gia có trữ lượng lớn nhất về dầu và khí đốt xa bờ). Nhưng khi nói tới việc phân phối của cải, Brazil làm tệ hơn mức mà bạn có thể tưởng tượng; ngay cả một Haiti bé nhỏ, chìm trong tăm tối còn công bằng hơn. Xuyên suốt những năm 1980 và 1990, mặc dù Brazil đã chuyển từ chế độ độc tài sang dân chủ và những cải cách táo bạo của Tổng thống Fernando Henrique cuối cùng đã đưa mức lạm phát phi mã xuống tầm kiểm soát, đại bộ phận dân chúng cùng khổ của nó vẫn kẹt cứng trong cảnh cơ hàn ở nông thôn và các khu ổ chuột ở thành thị trong khi một thiểu số may mắn vút bay trên những siêu đô thị không thể quản lý của quốc gia bằng trực thăng riêng. Khi thế kỷ mới bắt đầu ló dạng, khoảng một phần ba dân số Brazil sống lay lắt dưới lằn ranh đói nghèo của thế giới (thường được định nghĩa bằng mức sống dưới 2 đô la một ngày), và khoảng 15% dân chúng sống cảnh bần cùng (dưới 1,25 đô la mỗi ngày).

Nhưng đó là thời khắc mà Brazil rốt cuộc bắt đầu thay đổi, thoạt đầu chậm chạp và sau đó với tốc độ khủng khiếp kể từ năm 2003. Đến năm 2011 nền kinh tế của nó, nhờ có những cải cách của Cardoso và sự khích lệ sau đó của Lula, đã tăng trưởng với tốc độ đáng kể 4% một năm và tỉ lệ thất nghiệp xuống thấp kỷ lục. Và lần này, phúc lợi đã thật sự được sẻ chia rộng rãi. Trong cùng giai đoạn này, gần bốn mươi triệu người Brazil đã thoát khỏi đói nghèo để gia nhập tầng lớp trung lưu. Thu nhập bình quân hộ gia đình tăng vọt lên 27%. Và, có lẽ ấn tượng nhất, mức độ bất bình đẳng hạ thấp đột ngột – trong khi nó đang tăng lên ở hầu khắp mọi nơi.

ĐIỀU GÂY KINH NGẠC không kém tốc độ của cuộc chuyển biến này là nhân dạng của người đàn ông chịu trách nhiệm nhiều nhất về nó.

Trước khi dính phải các vụ bê bối gần đây, Lula đã trở thành hình tượng nổi bật – trong năm 2012 ông rời nhiệm sở với tỉ lệ ủng hộ 87%, không lâu sau khi Tổng thống Obama gọi ông là “nhà chính trị được yêu mến nhất hành tinh” – đến nỗi thật khó để nhớ việc ông từng là nhân vật gây phân cực ra sao vào năm 2002, khi chiến dịch đưa ông vào chức vụ tổng thống bắt đầu khởi động. Râu ria tua tủa và ánh mắt dữ dội, với thân thể của một công nhân bốc vác thấp bè, ứng viên này gây hoang mang cho giới tinh anh Brazil, các tập đoàn, các nhà đầu tư, và nhiều đối tác ngoại quốc của nó – nhất là Mỹ.

Vấn đề nằm ở cá nhân con người. Trong khi vị tiền nhiệm của Lula, Cardoso, là người chủ trương ôn hòa và một học sĩ lịch thiệp, Lula lại xù xì và thô ráp đến mức người ta có thể tưởng tượng được nơi ông có một điều gì đó mà ông không hề cố gắng che giấu. Thực vậy, ông là người con kiêu hãnh của miền đông bắc cơ cực của đất nước. Sinh năm 1945 tại bang Pernambuco khô cằn sỏi đá, Lula là con thứ bảy trong tám anh chị em. Gia đình ông lay lắt cơ hàn và càng khốn đốn hơn nữa khi mà, không lâu sau khi Lula chào đời, cha ông bỏ nhà ra đi và chết trong cảnh nát rượu. Điều này đã đẩy cả gia đình lâm vào bế tắc đến nỗi vị tổng thống tương lai đã buộc phải bỏ học sau khi xong lớp hai để đi đánh giày. Năm mười tuổi ông tự học đọc, và năm mười bốn tuổi Lula bằng cách nào đó đã tìm được việc làm trong một nhà máy, nơi ông mất ngón tay út trái sau vụ tai nạn lao động. Không lâu sau đó, ông đã để hết tâm trí vào phong trào lao động mạnh mẽ ở Brazil và tìm thấy thiên hướng của mình. Thăng tiến nhanh chóng qua các cấp bậc của Công đoàn Luyện kim São Bernardo, Lula đã trở thành nhà lãnh đạo của tổ chức này vào tuổi ba mươi. Và vào năm 1980 – thời điểm Brazil vẫn còn bị thống trị bởi tập đoàn quân sự – ông đã giúp sáng lập Đảng Công nhân cánh tả (được biết đến là đảng PT, viết tắt tiếng Bồ Đào Nha) trong niềm hy vọng trao cho tầng lớp bị áp bức tiếng nói mạnh mẽ hơn trên vũ đài chính trị quốc gia.

Đến thời điểm cuộc bầu cử năm 2002, Lula đã ra tranh cử tổng thống – và thất bại – những ba lần. Dù không bao giờ là một nhà Marxist (khác với nhiều đồng chí trong đảng PT), các chiến dịch trước đó của ông nổi bật lên bởi lời kêu gọi quốc hữu hóa ngành công nghiệp và cho vỡ nợ quốc gia. Với luận điệu như vậy cộng với gốc gác cần lao và chiến dịch vận động cùng lời hứa xóa bỏ đói nghèo, Lula đã hoàn toàn làm kinh hãi giai cấp giàu có ở Brazil và các nhà tư bản nước ngoài khi ông rốt cuộc nổi bật lên trong các cuộc thăm dò ý kiến. Như Mac Margolis, nhà báo kỳ cựu ở Rio, nhớ lại, sự trỗi dậy của Lula khiến cho nhiều người Brazil – vốn lo sợ “người đàn ông râu ria bù xù của liên minh cánh tả sẽ giành được ghế tổng thống và biến Brazil thành một Cuba ngoại cỡ” – toát mồ hôi hột.

Bất chấp việc bản thân Lula quả quyết rằng “Brazil đã thay đổi, đảng Công nhân đã thay đổi, và tôi đã thay đổi,” ít người tin vào điều đó. Ở Hoa Kỳ, đảng viên Cộng hòa Henry Hyde, chủ tịch Ủy ban Quan hệ Quốc tế Hạ viện, đã cáo buộc ông là một “người cực đoan thân Castro.” Còn Goldman Sachs bắt đầu công bố một “Lula thử biểu” với mục đích theo dõi rủi ro cho các nhà đầu tư nếu đảng PT giành thắng lợi. Ngay cả George Soros cũng đã cảnh báo rằng chiến thắng của Lula sẽ mang đến sự hỗn loạn. Các ngân hàng ngoại quốc dễ hoảng sợ bắt đầu cắt giảm tín dụng. Và nền kinh tế yếu ớt của Brazil, vốn vừa bắt đầu hồi phục, đã quay đầu lặn sâu. Các chỉ số chứng khoán chính lao dốc 30%. Các nhà đầu tư cũng bắt đầu bán tháo cổ phần, khiến cho dòng vốn 12 tỉ đô la chảy ồ ạt ra khỏi quốc gia chỉ trong vài tháng. Và đồng real của Brazil giảm giá trị 40% so với đồng đô la Mỹ, chạm mức thấp chưa từng có vào thời điểm sắp khép lại năm 2002.

Song người Brazil đã đủ mệt mỏi với kết cấu xã hội phong kiến ở quốc gia này và nỗi đau đớn gây ra bởi các cải cách cấu trúc và những biện pháp khắc khổ cần thiết nhưng không được lòng người của Cardoso khiến cho Lula rốt cuộc vẫn giành chiến thắng. Khi người đàn ông xù xì của liên minh chuẩn bị nhậm chức và nền kinh tế tiếp tục oằn mình dưới phong ba bão táp, quốc gia này đã chuẩn bị tinh thần cho một cuộc đương đầu bi tráng tất phải đến.

NHƯNG MỘT SỰ THỂ KHÔI HÀI đã xảy ra: cơn đại chấn đó không bao giờ đến.

Lula quả thực đã nhậm chức với cuộc cách mạng nung nấu trong đầu. Nhưng nó hóa ra là một kiểu chuyển biến rất khác so với điều mà những người bảo thủ chỉ trích ông lo sợ. Cả những thất bại trước đó lẫn những phản ứng xấu xí dành cho chiến thắng sau cùng của ông đều không làm suy yếu cam kết của Lula đối với việc thay đổi xã hội. Nhưng – và xem ra đây là chữ nhưng then chốt của toàn bộ câu chuyện – chúng đã thay đổi sâu sắc cách thức ông hoạch định để làm cho sự thay đổi ấy diễn ra. Tất cả những sự thất bại và tranh cãi bủa vây đã thúc đẩy Lula nghiêm túc tiến hành tự vấn lương tâm. Giữa những năm 1993 và 2001, ông và José Graziano da Silva, một nhà nông học hói đầu đậm râu gốc Mỹ vốn là một trong những cố vấn thân cận nhất của ông (dù cùng họ Silva, hai người này không phải họ hàng), đã đi khoảng 90.000 kilômét khắp Brazil trong những chuyến vi hành mà họ gọi là caravanas da cidadania. Và vị chính khách đã xuất hiện như một người ôn hòa, đầy tinh thần hòa giải, và lọc lõi về chính trị hơn nhiều khiến hầu hết mọi người không kịp nhận ra.

Trong tất cả những bài học mà thất bại đã dạy cho vị tổng thống mới, bài học quan trọng nhất là ông sẽ không bao giờ tiến xa nếu cố cai trị vì lợi ích của chỉ một phần Brazil mà thôi. Nếu muốn sử dụng quyền hành mới được trao để thật sự thay đổi tình hình, trước hết ông phải lôi kéo về mình nhiều người hoài nghi có thế lực. Và điều này có nghĩa là phải tìm một phương án để đảm bảo sao cho công cuộc thay đổi làm lợi cho mọi người.

Và thế là kẻ kích động quần chúng đã hóa thân thành Người hòa giải vĩ đại. Lula gạt bỏ tất cả những diễn ngôn về vỡ nợ và tái phân phối của cải ra khỏi từ vựng của mình. Ông cắt tóc và bắt đầu mặc com lê. Và ông chấn chỉnh bản thân thành hình tượng mà Margolis gọi là “CEO-whisperer, người bạn của tầng lớp trung lưu, [và] người bênh vực nền dân chủ thị trường trọng pháp.” Dù bước dịch chuyển về phía tầng lớp trung lưu này đã gây ra nhiều tiếng lầm bầm trong nội bộ đảng PT – “nhiều thành viên trong đảng, và người trong các hiệp hội thương mại, hoàn toàn không thích ý tưởng này,” Lula nhớ lại – ông vẫn giữ vững niềm tin. Vào ngày nhậm chức, Lula đã cam kết bảo lưu các chính sách tài chính và tiền tệ chặt chẽ của Cardoso. Và không lâu sau lễ nhậm chức vào tháng 1 năm 2003, ông bắt đầu hành động, chỉ định Henrique Meirelles – cựu ủy viên quản trị được trọng vọng của BankBoston và thành viên trong đảng của Cardoso, đảng PSDB – điều hành ngân hàng trung ương Brazil. Ông cũng bổ nhiệm Antonio Palocci, một người ôn hòa khác, làm bộ trưởng tài chính. Đoạn Lula bắt đầu chĩa mũi dùi vào ngân sách quốc gia trương phình của Brazil, cắt giảm chi tiêu khoảng 4 tỉ đô la trong năm đầu và áp đặt một mục tiêu thặng dư ngân sách thậm chí khắt khe hơn mức Quỹ Tiền tệ Quốc tế đề nghị.

Kết quả nhìn thấy ngay lập tức. Nhiều địch thủ từng công kích ông xuyên suốt chiến dịch năm ngoái đã im hơi lặng tiếng. Vào tháng 3 năm 2003, Mohamed El-Erian, giám đốc điều hành của quỹ đầu tư trái phiếu khổng lồ PIMCO, tuyên bố rằng những nước đi đầu tiên của ngài tổng thống – “từ công bố chính sách, đến bổ nhiệm, và thi hành” – là “rất tốt.” Các thị trường tán thành điều đó; trong vòng sáu tháng sau lễ nhậm chức của Lula, giá trị trái phiếu Brazil đã tăng lên 20%. Ngay cả Goldman Sachs cũng ngượng ngùng thừa nhận rằng những cảnh báo trước đó của nó là sai lầm.

Tuy nhiên, cùng lúc ve vãn những gã lắm tiền nhiều của, Lula còn dốc sức trên một mặt trận khác, chuẩn bị sử dụng vốn liếng chính trị đang lên của mình để tiến hành một chiến dịch phúc lợi xã hội mới vô cùng tham vọng. Triển khai vài tháng sau khi đắc cử, chiến dịch Fome Zero (Không còn đói nghèo) bao gồm hơn bốn mươi chương trình khác nhau được điều hành bởi gần hai mươi bộ của chính phủ. Nhưng sáng kiến đứng ở vị trí nòng cốt của chiến dịch là Bolsa Família (Trợ cấp gia đình), một nỗ lực chống đói nghèo vốn mang tính đột phá với quy mô, sự tham vọng, và thiết kế của nó.

BOLSA FAMÍLIA KẾT HỢP vài sáng kiến tỏ ra có tính quyết định đối với thành công cuối cùng của chương trình – cả trên phương diện chính sách cũng như chính trị.

Trước hết, thay vì cấp cho người nghèo hàng hóa hay dịch vụ, như hầu hết chương trình phát triển khác lúc bấy giờ, Bolsa Família thử làm một điều gì đó táo bạo hơn nhiều: chỉ đưa tiền mà thôi. Brazil thật sự đã bắt đầu thử nghiệm phương pháp này vài năm trước đó. Năm 1995, hai thành phố Campinas và Brasília đã thực thi các chương trình phát-tiền-mặt trên cơ sở thử nghiệm. Chúng tỏ ra có hiệu quả trong việc cải thiện đói nghèo đến mức sớm được mô phỏng bởi hơn một trăm chính quyền địa phương khác. Và Tổng thống Cardoso đã cho thử nghiệm kế hoạch tương tự trên quy mô toàn quốc vào năm 2001, dù số tiền phát ra rất nhỏ và việc thực hiện có sai sót. Tuy vậy, kết quả vẫn đầy hứa hẹn khiến cho Lula, nghe theo lời khuyên của Graziano, quyết định gộp tất cả chương trình khác nhau này vào một sáng kiến quốc gia mới được tổ chức hợp lý – và mở rộng ra trên quy mô lớn hơn nhiều so với hình dung của hầu hết chuyên gia.

Bất chấp sự thành công của những thử nghiệm Campinas và Brasília, Bolsa Família gây tranh cãi kịch liệt khi Lula lần đầu thực hiện vào tháng 10 năm 2003. Lúc bấy giờ, hầu hết các chuyên gia và tổ chức quốc tế vẫn coi ý tưởng đưa tiền cho người nghèo là một sai lầm nguy hiểm. Đơn giản là theo trực giác, nó có vẻ gì đó kỳ khôi. Nó cũng ra mặt thách thức nhiều thập kỷ nghiên cứu khoa học xã hội và những gì mà Ngân hàng Thế giới từ lâu coi là cách làm tốt nhất. “Các chuyên gia không chấp nhận ý tưởng này,” Lula nhớ lại. “Họ thích cho người nghèo nhu yếu phẩm hàng ngày, hoặc làm cái gì đó cho họ hơn.” Như Lena Lavinas, nhà kinh tế học tại Đại học liên bang Rio de Janeiro, nói với tôi, đó là vì lý lẽ cho rằng “người nghèo không biết dùng nguồn lực một cách đúng đắn.” Dịch ra: người ta cho rằng người nghèo sẽ tiêu hoang số tiền vào rượu chè, thuốc lá, hoặc những món đồ lòe loẹt vô giá trị. Các nhà làm chính sách, không phải người dân, biết rõ nhất, vì vậy họ nên là người ra quyết định.

Thế nhưng ba cái nhìn sáng suốt đã thuyết phục Lula và các cố vấn của ông bác bỏ ý niệm này. Thứ nhất, kinh nghiệm của chính Brazil đã chứng tỏ rằng các nỗ lực trên quy mô lớn nhằm giảm đói nghèo thông qua phân phối hàng hóa, như chương trình lương thực đồ sộ mà Cardoso đã thực hiện vào cuối những năm 1990, thường rơi tõm vào các khuôn mẫu rắc rối và đắt đỏ. Việc cấp nhu yếu phẩm cho người nghèo là cực kỳ phức tạp, tốn kém, và không hiệu quả. Nó cũng đòi hỏi một bộ máy quan liêu cồng kềnh, vốn tạo ra vô số cơ hội cho sự tham nhũng – vấn nạn kinh niên ở Brazil.

Thứ hai, một vài cuộc nghiên cứu học thuật có tính bước ngoặt (mà về sau được xác nhận bởi hàng loạt nghiên cứu tiếp theo) bắt đầu củng cố điều mà Lula đã biết rất rõ: rằng người hiểu rõ nhất người nghèo thật sự cần gì là những người như mẹ ông – ấy là, bản thân người nghèo. Nghiên cứu mới cũng chứng tỏ rằng, khi được trao cơ hội, các gia đình cơ cực thường không chi tiêu hoang phí. Hầu hết chi tiêu khá hợp lý – nhất là khi số tiền ấy rơi vào tay người mẹ, không phải những người cha, như trong chương trình Bolsa Família.

Cuối cùng, Lula nhận thức rằng làn sóng tư hữu hóa đã quét qua Mỹ Latin trong những năm tám mươi và chín mươi – khi các chính phủ bán tháo hầu hết mọi thứ từ sân bay và nhà máy năng lượng cho đến các nhà cung ứng dịch vụ – đã bỏ mặc hàng trăm triệu dân thường tụt lại phía sau, vì quá nghèo để tham gia vào nền kinh tế thị trường đang rộng mở. Lula và đội ngũ cố vấn của ông cho rằng thay vì trải qua cơn ác mộng tái quốc hữu hóa các doanh nghiệp lớn, cách tốt nhất và đơn giản nhất để đảo ngược quá trình chặn cửa người nghèo này là cho một ít tiền mặt vào túi họ.

Vậy đó là điều mà họ quyết tâm làm.

NHƯ NGÀI TỔNG THỐNG và những phụ tá đã đặt định, tư cách để được hỗ trợ theo chương trình Bolsa Família rất đơn giản. Bất kỳ gia đình nào có thể chứng minh đang sống trong cảnh nghèo cùng cực – bấy giờ được định nghĩa là dưới 50 real (khoảng 42 đô la) một người mỗi tháng – sẽ đủ tư cách nhận tiền, cũng như những gia đình nghèo vừa phải vốn kiếm ít hơn 100 real mỗi đầu người.

Nhưng Lula cũng quyết định rằng Bolsa Família không đơn giản là phát tiền khơi khơi như thế. Tham gia vào chương trình là điều dễ dàng, nhưng để lưu lại với nó đòi hỏi phải làm việc. Những người tham gia sẽ phải đáp ứng vài điều kiện, hay contrapartidas (trách nhiệm bên tương ứng): đảm bảo rằng tất cả các con từ 6 đến 15 tuổi phải có mặt ở trường ít nhất 85% thời gian; đảm bảo mọi đứa con dưới 7 tuổi được chủng ngừa; và cam đoan rằng cả mẹ lẫn con đều đi kiểm tra y tế đều đặn. (Thai phụ cũng được yêu cầu đi khám thai và nuôi con bằng sữa mẹ.)

Lula có hai lý do rất thông minh để áp đặt những quy tắc ấy. Thứ nhất, trong khi bản thân ông có thể đào ra con đường thoát khỏi đói nghèo bằng chín đầu ngón tay của mình, ông biết rằng ông là một cá biệt may mắn khi làm được điều đó. Với hầu hết người Brazil, nhân khẩu học là định số: nếu bạn sinh ra trong nghèo đói, bạn cũng sẽ chết trong nghèo đói. Thực vậy, các nghiên cứu học thuật đương thời chứng tỏ rằng mối tương quan giữa số tiền cha mẹ kiếm được so với mức thu nhập sau này của con cái họ cao hơn ở Brazil so với hầu hết các quốc gia khác. Lý do cho sự thiếu cơ hội vươn lên này là nhiều người Brazil cảm thấy buộc phải để cho các con đi làm thay vì đến trường, ngay cho dù làm như vậy là tước đoạt của chúng những công cụ có thể giúp chúng cải thiện cuộc sống sau này. Lula quyết tâm phá tan cái bẫy nhiều thế hệ này bằng cách chống lại sự nghèo đói hôm nay ngày mai. Nói bằng ngôn ngữ thực tế, điều đó có nghĩa là tạo điều kiện – và đòi hỏi – các bậc cha mẹ trao cho con cái những lợi thế lớn lao, dưới dạng giáo dục, chăm sóc y tế, và dinh dưỡng, hơn là chính họ từng được hưởng.

Nhưng động cơ của Lula trong việc thiết kế Bolsa Família theo cách ông đã làm chỉ phần nào liên quan tới chính sách. Người hòa giải vĩ đại vừa tìm thấy nhiệt huyết với con đường trung dung này cũng đang ấp ủ một tư duy chiến lược: ông biết rằng điều kiện chặt chẽ đi kèm chương trình viện trợ của ông sẽ khiến nó dễ thuyết phục phần còn lại của xã hội hơn. Và ông biết mình cần mọi sự giúp đỡ có thể tìm được. Trước Lula, hầu hết các chương trình cứu trợ xã hội ở Brazil mang hình thức kế hoạch bảo hiểm vốn làm lợi một cách bất xứng cho các tầng lớp trung và thượng lưu (khó lòng đủ tư cách được hưởng trợ cấp chính phủ nếu bạn không làm việc trong nền kinh tế chính quy). Với Bolsa Família, đây là lần đầu tiên một Tổng thống Brazil thật sự đưa việc chống đói nghèo và bất bình đẳng vào trung tâm nghị trình (dù các chính trị gia trước đây từng làm điệu bộ với nó.) Điều này gần như đảm bảo một trận chiến khó tránh.

Quả nhiên, sự phản đối bắt đầu nổi lên ngay khi chương trình được giới thiệu vào đầu tháng 10 năm 2003. Bolsa Família chẳng những công khai thách thức thông lệ lâu nay, vả chăng một vài nhà kinh tế học còn biện luận rằng chính phủ nên đầu tư vào cơ sở hạ tầng như trường học thay vì chăm lo người nghèo bằng cách đưa tiền cho họ. Số khác nói rằng không nên chỉ bảo các bậc cha mẹ phải làm gì với con cái họ. Và các ngài học giả bảo thủ thì cảnh báo rằng việc trao tiền mặt sẽ tạo ra một tầng lớp sống bám vào phúc lợi, mà tiếng Bồ Đào Nha gọi là assistencialismo. (Đừng bao giờ quên sự kiện rằng ý tưởng trao tiền mặt đã được ấp ủ đầu tiên bởi thần tượng của cánh hữu, nhà kinh tế học người Mỹ Milton Friedman.) Như Tereza Campello, Bộ trưởng Phát triển Xã hội, nhớ lại, trong ngày đầu của chương trình Bolsa Família, những người chỉ trích liên tục công kích bà bằng một châm ngôn lạc hậu rằng dạy người ta cách câu thì hơn cho cá. “Phe đối lập cáo buộc chúng tôi sắp sửa tạo ra một đám người lười biếng,” Lula nói với tôi.

Hiến pháp Brazil cho tổng thống khả năng thực hiện Bolsa Família bằng chính thẩm quyền hành pháp của mình. Nhưng luật cũng quy định rằng ông cần sự phê chuẩn của quốc hội để thay mới chương trình trong vòng 1 năm. Điều đó có nghĩa Lula phải đảm bảo có được sự ủng hộ rộng rãi nếu muốn chương trình mang chữ ký của ông sống sót – và contrapartidas là chìa khóa để ông đạt được nó. “Ý tưởng ở đây là chứng minh rằng chúng tôi không trao tiền khơi khơi,” Lula giải thích với tôi. “Chúng tôi phải xây dựng lòng tin, ngay cả trong số những người hoài nghi về chương trình này.” Như Ariel Fiszbein và Norbert Schady, hai nhà kinh tế học của Ngân hàng Thế giới, ghi lại, điều kiện giúp Lula thực hiện điều đó chính là tạo ấn tượng phổ biến rằng Bolsa Família không phải là chiêu dỗ dành người nghèo, nhưng đúng ra là một kiểu giao ước xã hội mới theo đó những người thụ nhận phải làm phần việc của mình. Việc bắt người thụ hưởng thể hiện “bằng chứng rõ ràng của sự cam kết” với “những hành vi tích cực” mà chương trình yêu cầu khiến họ cảm thấy xứng đáng hơn, tạo cho công chúng cảm tưởng rằng họ đã kiếm được số tiền đó.

Tất nhiên, việc đơn giản công bố những điều kiện chính thức là chưa đủ; phải có cả hình phạt cho người không tuân thủ. Với mục đích đó, các kiến trúc sư của Bolsa Família đã thiết kế một hệ thống các mức phạt tăng dần cho những người không làm tròn phần việc của mình. Những người phá luật sẽ nhận được lời cảnh cáo; nếu họ vẫn không tuân thủ, phúc lợi sẽ bị đình chỉ, và nếu vấn đề tiếp diễn, họ rốt cuộc sẽ bị gạt khỏi chương trình.

Trong khi sắc lệnh như vậy trông có vẻ tốt trên giấy, Lula sớm phát hiện ra rằng để mọi người thật sự coi trọng chúng đòi hỏi liều thuốc mạnh hơn: bằng cớ không thể chối cãi là ban hành luật. Năm 2004, chính quyền Lula trở nên bận tâm tới việc mở rộng phạm vi chương trình (số người thụ hưởng tăng từ 3,8 triệu gia đình, hay gần 16 triệu người, vào cuối năm 2003 lên gần gấp ba năm 2006) đến nỗi nó đã thôi chú ý nhiều tới việc liệu những người thụ hưởng mới này có giữ vững cam kết của mình. Khi mà, một phần năm trôi qua, chính phủ phát hiện ra rằng chỉ có 55% số trường công lập Brazil báo cáo việc những người thụ hưởng Bolsa Família có đáp ứng được chỉ tiêu cho con đến trường, bèn quyết định tạm thời đình chỉ những nỗ lực giám sát hoàn toàn.

Lựa chọn này có thể gây cảm tưởng về sự quan liêu; chính quyền chỉ đang cố mua thời gian để dọn nhà cho ngăn nắp. Và điều đó quả thật là một thảm họa. Ngày 17 tháng 10, chỉ vài ngày trước cuộc bầu cử thành phố toàn quốc, Fantástico, chương trình thời sự tối Chủ nhật nổi tiếng đã phát phóng sự điều tra về những người nhận không xứng đáng đã lạm dụng chương trình Bolsa Família. (Hãy nghĩ tới những lời ta thán thời Reagan về các nữ hoàng phúc lợi lái Cadillac và bạn sẽ hình dung ra giọng điệu của bài phóng sự.) Cả thế giới truyền thông Brazil nhao nhao nhảy vào câu chuyện, lên án chính phủ từ khắp mọi nơi. Công chúng đùng đùng nổi giận; chỉ trong một tuần sau bài phóng sự của Fantástico, chính phủ đã nhận được vài ngàn lời kêu ca giận dữ.

Cảm nhận sự nguy hiểm, Lula quyết định đương đầu trực diện với những người chỉ trích. “Chúng tôi đã rút ra bài học nào từ thời khắc này? Sự khiêm tốn,” ông nói với tôi. “Bạn phải thừa nhận rằng một chương trình rất lớn sẽ có những sai sót. Bạn phải thú nhận chúng. Và sau đó bạn phải sửa chữa.” Với mục đích đó, Lula lập ra Bộ Phát triển Xã hội mới (được biết đến bởi từ viết tắt tiếng Bồ của nó, MDS) để tập trung giám sát Bolsa Família. Rời bỏ truyền thống chính trị bảo trợ bấy lâu của Brazil, ông bố trí nhân lực cho bộ mới với các nhà kỹ trị được đào tạo tới nơi tới chốn (bao gồm nhiều thành viên của đảng PSDB đối lập) thay vì những cánh hẩu cùng đảng phái. Vào tháng 1 năm 2005, ông đích thân chủ trì một chiến lược liên bộ hoàn toàn mới nhằm cải thiện việc thực thi Bolsa Família; trong số những biện pháp khác, ông thiết lập một cơ quan đăng kiểm thống nhất toàn quốc để theo dõi mọi người từng hưởng trợ cấp chính phủ dưới mọi hình thức, tập trung vào các tiêu chuẩn thích hợp của Bolsa Família, tiến hành các cuộc kiểm toán chính quy và kiểm tra đột xuất, lập ra các ủy ban giám sát công dân và những đường dây nóng, và yêu cầu người tham gia chương trình phải được chứng thực lại mỗi 2 năm.

Đến giữa năm 2006, việc giám sát và thực thi đã cải thiện mạnh mẽ: vào tháng 6 năm đó, MDS đã gạt khoảng nửa triệu người nhận không đủ tư cách ra khỏi danh sách. Người Brazil chú ý, và bị ấn tượng. Làn sóng chỉ trích Bolsa Família nhanh chóng lắng dịu, và sự ủng hộ của công luận dành cho chương trình bắt đầu tăng lên. Thật vậy, một phân tích năm 2010 về dữ liệu thăm dò và luận bàn của truyền thông đối với Bolsa Família của Kathy Lindert và Vanina Vincensini, hai chuyên gia từ Ngân hàng Thế giới, cho thấy rằng bằng việc áp đặt những điều kiện viện trợ nghiêm ngặt, chính quyền Lula đã hợp pháp hóa Bolsa Família với các cử tri Brazil, tạo ra sự nhiệt tình rộng khắp đối với nó từ cả hai đầu của phổ chính trị.

CŨNG HỮU DỤNG như là contrapartidas trong việc nâng cao tính phổ biến của Bolsa Família, có hai sự đổi mới khác tỏ ra quan trọng không kém.

Thứ nhất, với tất cả tham vọng của mình, Bolsa Família đã, và vẫn rẻ bèo so với hầu hết các chương trình phúc lợi xã hội ở Brazil và nhiều nơi khác. Hôm nay, hơn một thập niên sau thực hiện, Bolsa Família đã vươn ra với khoảng 14 triệu gia đình, chừng 55 triệu người Brazil – một con số khổng lồ. Song vì Lula và đội ngũ cố vấn của ông nhận ra rằng chỉ cần một số tiền rất nhỏ để tạo nên một khác biệt rất lớn trong cuộc sống một gia đình nghèo, các khoản thanh toán cá nhân (vốn khác nhau tùy theo thu nhập và số nhân khẩu trong gia đình) là rất nhỏ: mỗi người nhận bình quân chừng 65 đô la một tháng, và mức trợ cấp cao nhất là 200 đô la. Kết quả, “tổng số tiền chi cho Bolsa Família” – bất chấp quy mô của nó – “là con số không,” như lời của Yoshiaki Nakano, chủ nhiệm khoa kinh tế của Viện nghiên cứu Getúlio Vargas Foundation ở São Paulo. Đây tất nhiên là lối nói cường điệu, nhưng không nói quá. Sự thật là một trong các chương trình chống đói nghèo tham vọng nhất thế giới hiện tiêu tốn của người đóng thuế Brazil chưa tới phân nửa của một phần trăm tổng GDP 2,2 ngàn tỉ đô la của đất nước – ít hơn nhiều so với mức 12% mà chính phủ chi cho trợ cấp hưu trí, chẳng hạn (một cơ chế hỗ trợ kém tiến bộ hơn nhiều). Mặc dù khó có thể thực hiện những so sánh chính xác trên bình diện quốc tế, song có bằng chứng cho thấy rằng Bolsa Família là một trong những chương trình chống đói nghèo rẻ nhất so với bất kỳ đâu. Thực vậy, nghiên cứu năm 2011 của chính phủ Anh xác nhận rằng chương trình Bolsa Família tiêu tốn của quốc gia ít hơn 30% mỗi đầu người so với các chương trình viện trợ truyền thống, một phần nhờ chi phí hành chính tối thiểu của nó.

Một khía cạnh sau cùng trong thiết kế của Bolsa Família cũng giúp Lula giành được sự ủng hộ rộng khắp: chương trình có kết cấu sao cho rốt cuộc nó sẽ làm lợi cho tất cả người Brazil, chứ không chỉ tầng lớp dưới cùng. Như Lula giải thích khi ông lần đầu giới thiệu Bolsa Família, “Khi hàng triệu người có thể đến siêu thị để mua sữa, mua bánh mì, nền kinh tế sẽ hoạt động tốt hơn. Những người cùng khổ sẽ trở thành người tiêu dùng.” Bằng việc trao tiền để người nghèo chi tiêu theo cách họ muốn, Lula đã tạo ra điều mà Lavinas, nhà kinh tế học phúc lợi ở Rio, gọi là “một phương pháp chống đói nghèo thân thiện với thị trường.” Thực vậy, chính cây bút Joge Castaneda, cựu bộ trưởng ngoại giao bảo thủ của Mexico, người đã trở thành ký giả chuyên mục và tự nhận là nhà phê bình nghiêm khắc đối với lực lượng cánh tả Mỹ Latin, đã gọi Bolsa Família là một “chương trình phúc lợi sáng tạo” rất “tân tự do… như người ta có thể hiểu.”

Phương diện này của chiến dịch chống đói nghèo của Lula đã gây kinh ngạc cho những người chỉ trích ở cánh hữu, vốn vẫn hoài nghi ông. Nhưng nét thân thiện của Bolsa Família chỉ là một biểu hiện của đường lối phi chính thống tài tình mà Lula sẽ theo đuổi suốt nhiệm kỳ tổng thống của mình. Như Bernardo Sorj, nhà xã hội học tại Đại học São Paulo, đã diễn đạt với tôi vào một chiều nọ ở Rio, tài năng của Lula như một chính trị gia – và bí mật thành công của ông – là xem thường các tín điều truyền thống. Thiên khiếu lớn nhất của Lula, Sorj nói, là khả năng “không ở cánh tả lẫn cánh hữu, nhưng là một biến hóa sinh động, và một người hoàn toàn thực tế.” Né tránh ý thức hệ, cách tiếp cận cơ bản của Tổng thống Lula là “làm cho mọi người hạnh phúc.”

Là người nghiên cứu Lyndon Johnson (Tổng thống Hoa Kỳ thứ 36) kỹ lưỡng, Lula – người thậm chí đã thông tỏ thói quen của LBJ trong việc gây bối rối và dụ hoặc người đối thoại (trong suốt buổi phỏng vấn, ngài tổng thống nhiều lần chạm tay tôi để nhấn mạnh câu chuyện, sau đó bắt đầu siết chặt bắp tay, và rồi, về cuối buổi gặp mặt, nắm tay tôi liền mấy phút) – đồng thời còn là bậc thầy vận động lôi kéo, người thậm chí đã xoay sở để thu phục các nhân vật quốc tế đối lập như Tổng thống George W. Bush. Xuyên suốt nhiệm kỳ của mình, Lula đã tìm cách giữ vững các nguyên tắc nền tảng, mà ông phụng sự qua những chính sách xã hội tiến bộ, đồng thời (đặc biệt ở nhiệm kỳ đầu) chấp nhận thương đau để “tôn trọng các quy tắc căn bản của nền kinh tế tự do hiện đại,” như cách diễn đạt của Sorj. Trước tiên “thuần hóa” những kẻ cực đoan trong đảng, Lula sau đó cam đoan đi cam đoan lại với những thành phần kinh tế chủ chốt – các nhà đầu tư và các chính phủ nước ngoài – thông qua những chính sách kinh tế vĩ mô bảo thủ. Ông cũng ve vãn các doanh nghiệp lớn bằng cách, chẳng hạn, đưa ra những khoản vay lãi suất thấp cho các công ty lớn từ Ngân hàng phát triển quốc gia Brazil thuộc sở hữu nhà nước.

Kết quả là một danh hiệu độc đáo của cái mà El-Erian của PIMCO gọi là “chủ nghĩa dân túy theo nguyên tắc tài chính.” Lula không ngần ngại về điều mình làm. “Tôi không cảm thấy xấu hổ khi nói với bạn rằng dưới thời cầm quyền của tôi, mọi người đều thắng, từ người nghèo nhất cho đến người giàu nhất,” ông thổ lộ. Từ chối bị trói buộc bởi vấn đề đảng phái hay giai cấp, ngài tổng thống trước sau luôn tìm cách đạt được những thành quả lớn nhất cho số đông nhất. Ông biết mục tiêu này đôi khi có thể mất phương hướng. “Đôi khi những người bạn cũ tìm đến tôi và nói, ‘Coi nào, Lula! Ông từng là một công nhân ngành thép! Ông không khó chịu khi các chủ ngân hàng đang làm ra nhiều lợi nhuận đến thế ư?” ông kể lại. “Tôi sẽ nói, ‘Không – điều tôi lo lắng là liệu họ có đang thua lỗ hay không.’ Nếu có một điều mà tôi không lấy làm xấu hổ, đó là lợi nhuận. Nhưng tôi muốn mọi người biết rằng triết lý của tôi, từ thâm tâm, là của một người mẹ. Không ai công bằng hơn một người mẹ. Ngay cho dù có ba trăm đứa con, bà sẽ đối xử với tất cả như nhau. Đó là điều tôi thường nói với người dân: rằng tôi cai trị vì tất cả. Và tôi cảm thấy rất tự hào rằng tôi duy trì quan hệ tốt đẹp với mọi người: từ những điền chủ lớn nhất cho đến những người không ruộng đất; từ những chủ nhà băng lớn nhất cho đến nhân viên của họ.”

Chiến lược ấy thành công rực rỡ. Tính thực dụng không thương xót và cách tiếp cận mọi-người-cùng-thắng của Lula hẳn đã, trong vòng vài năm, biến ông thành “thần tượng của mọi người,” Sorj nói. “Ông đã xoay sở để trở thành người hùng tại Davos tại Diễn đàn Xã hội Thế giới” – một phiên bản dân túy của Diễn đàn kinh tế thế giới ở Thụy Sĩ. “Và đó là một kỳ công không dễ dàng.”

*

TRONG KHI CÁC MỸ TỪ bao dung trước sau như một của Lula hữu ích về mặt chính trị, người Brazil (như bao người dân khác) vẫn biết rằng nói thì dễ hơn làm. Chính việc tạo ra những thành quả mà rốt cuộc Lula đã thu phục được người dân. Với những thành quả đó – từ mức tăng trưởng GDP bình quân gần 4% xuyên suốt nhiệm kỳ đến thành công vang dội trong cuộc chiến chống đói nghèo và bất bình đẳng – là cực kỳ ấn tượng. Dù chi phí dành cho Bolsa Família có thể nhỏ bé, nhưng sức tác động của nó tỏ ra thật to lớn. Chẳng những nó sau cùng đã vươn ra tới hơn một phần tư tổng dân số (và 85% người nghèo), nhưng số tiền thanh toán, dù ít ỏi, đã làm tăng gấp đôi thu nhập của các gia đình cơ cực nhất. Trong 3 năm đầu tiên, Bolsa Família đã cắt giảm mức nghèo đói cùng cực xuống 15%, và đến năm 2014, tỉ lệ người Brazil sống trong cảnh bần cùng đã giảm từ 9% xuống dưới 3% – mức độ mà Ngân hàng Thế giới coi là tương đương với thành tích xóa đói giảm nghèo. Cùng lúc đó, Bolsa Família đã giúp đưa tổng cộng 36 triệu người thoát khỏi đói nghèo, tạo ra điều mà Matias Spektor, nhà khoa học chính trị và cây bút chuyên mục của tờ báo lớn nhất Brazil, Folha de São Paulo, mô tả với tôi là “cuộc chuyển biến mười năm lớn nhất đối với kết cấu giai cấp của một quốc gia kể từ trường hợp Nhật Bản sau Thế chiến II.”

Về phần bất bình đẳng, các nghiên cứu gần đây đã quy công Bolsa Família cho việc giúp thu hẹp khoảng cách thu nhập tổng thể xuống một phần ba và xếp nó là nhân tố đóng góp quan trọng thứ hai cho sự chuyển biến này sau sự tăng trưởng kinh tế nói chung. Theo Tereza Campello, Bộ trưởng Phát triển Xã hội, thu nhập của 20% dân nghèo nhất Brazil đã tăng lên 6.2% giữa những năm 2002 và 2013; trong khi thu nhập của 5% dân giàu nhất Brazil chỉ tăng có 2.6%. (Điều này tương phản sâu sắc với tình hình ở Hoa Kỳ, nơi, trong cùng giai đoạn, thu nhập của 10% dân giàu nhất tăng 2.6% trong khi thu nhập của 10% dân nghèo nhất giảm 8.6%.) Bất chấp chính phủ Brazil đã tiến hành một số chương trình hỗ trợ xã hội quan trọng khác bao gồm các biện pháp tăng lương tối thiểu đột xuất, và bất chấp nền kinh tế tăng trưởng cũng giúp ích đáng kể, hầu hết chuyên gia đồng ý rằng Bolsa Família xứng đáng được ghi công lớn vì đã cải thiện toàn diện cuộc sống người nghèo trong nước. Bolsa Família cũng tỏ ra là tấm đệm đỡ quan trọng khi mức tăng trưởng của Brazil đã chững lại trong những năm gần đây. Nền kinh tế tổng thể của quốc gia có thể bị tổn thương hôm nay, nhưng nhờ có lớp giảm xóc do Bolsa Família mang lại, đại đa số dân chúng không – hay chí ít không khốn khổ nhiều như họ đã từng với nhiều cuộc khủng hoảng trong quá khứ của quốc gia.

Bolsa Família cũng đã tạo ra những bước tiến dài về phía mục tiêu của Lula là chấm dứt vòng luẩn quẩn đói nghèo giữa các thế hệ: bằng việc giúp gia tăng tỉ lệ tiêm chủng lên đến 99% dân số, bằng việc hạ thấp tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở những vùng nghèo nhất Brazil xuống 16%, và bằng việc gia tăng 26% khả năng đạt được mức-cân-nặng-theo-độ-tuổi lành mạnh. Tỉ lệ tử vong trẻ em đã giảm xuống 40% trong thập kỷ qua, đặc biệt tỉ lệ tử vong vì suy dinh dưỡng đã giảm 58% – một trong những mức giảm ấn tượng nhất từng thấy ở bất cứ đâu. Trong khi đó, số trẻ em bị buộc phải đi làm thay vì đến trường đã giảm 14%. Những người thụ hưởng Bolsa Família giờ đây tự hào có tỉ lệ tốt nghiệp cao gấp đôi con em nghèo nằm ngoài chương trình, và sáng kiến này được ghi nhận đã cải thiện tỉ lệ đến trường ở những vùng nghèo khổ nhất nước lên 14%. Một hệ quả đáng vui mừng: tỉ lệ biết chữ toàn quốc cũng tăng lên.

Chương trình này cũng đã tạo ra những thay đổi ít hiển nhiên hơn và khó tiên đoán hơn – dù không kém phần quan trọng – trong cuộc sống và thái độ của những công dân nghèo nhất. Nghiên cứu chứng tỏ rằng Bolsa Família đã trao cho phụ nữ Brazil nhiều quyền hạn hơn bằng việc để họ làm chủ các trương mục ngân hàng của gia đình; chẳng hạn, phụ nữ tham gia Bolsa Família có thêm 10% cơ hội để khẳng định đặc quyền đối với vấn đề tránh thai trong hôn nhân. Và chương trình dường như đã tạo tác động mạnh mẽ đến cảm thức tự chủ của người nghèo. Một khảo sát gần đây tiến hành với 1400 người thụ hưởng Bolsa Família trong ba thành phố khác nhau cho thấy rằng thay vì cảm thấy xấu hổ bởi sự lệ thuộc vào chương trình của chính phủ, ba phần tư số người thụ hưởng nói rằng họ tự hào được tham gia chương trình và rằng, bằng việc tạo điều kiện để họ chăm lo cho gia đình một cách tử tế mà không phải ngửa tay xin xỏ, Bolsa Família đã giúp họ “sống cuộc sống tự quyết và có phẩm cách hơn.”

Những người Brazil ghi danh trong chương trình thậm chí đã biểu đạt niềm tin sâu sắc hơn vào nền dân chủ của đất nước. Đây có vẻ là một kết quả kỳ lạ đối với chương trình phúc lợi, nhưng Spektor giải thích rằng Bolsa Família – vốn, nhờ có sự giám sát chặt chẽ và dùng thẻ ngân hàng điện tử để chuyển tiền, đã đánh bay tham nhũng một cách đáng khâm phục1 – “phá vỡ các cơ chế chính trị giam hãm người nghèo quá lâu trong cảnh bần cùng. Bolsa đã tống cổ những ông trùm móc ngoặc với chính quyền xuống địa ngục vì bỗng nhiên bạn có một nhóm rất nhỏ những người ở Brasília xa tít mù – tất cả đều có học vị tiến sĩ từ các trường đại học phương Tây – trao tiền trực tiếp cho người nghèo.” Trong cuộc trò chuyện của chúng tôi, Lula diễn đạt thẳng thừng hơn: “Một phần lý do Bolsa Família thành công như vậy là vì tiền được trao trực tiếp, không qua trung gian. Người nhận chỉ cần cầm thẻ tới ngân hàng để rút tiền nên họ không nợ ân huệ từ bất kỳ ai, dù đó là tổng thống, thống đốc, đại biểu quốc hội, hay thị trưởng.” Cuối cùng, đúng như Lula đã hứa, Bolsa Família mang đến sự kích thích đáng kể cho toàn bộ nền kinh tế. Bằng việc trao người nghèo tiền để chi tiêu, chương trình đã làm gia tăng mức tiêu thụ nội địa, một động lực kinh tế đặc biệt quan trọng đối với quốc gia như Brazil, vốn lảng tránh hầu hết hoạt động nhập khẩu. Trong khi phần lớn tiền được chi cho thức ăn, Lula nói rằng “trong số những người nhận phúc lợi theo chương trình Bolsa, 80% mua ti vi, 79% mua tủ lạnh, và 50% mua máy giặt. Bởi vậy cái dường như là chương trình chỉ dành cho người sống trong điều kiện của thế kỷ 18 đã giúp đáp ứng nhu cầu của các nhà sản xuất hiện đại, tạo ra hàng triệu việc làm. Mọi người đều thắng.” Điều này nghe có vẻ khoa trương, nhưng những con số không biết nói dối: các nhà kinh tế học tính toán rằng, kể từ khi thực thi, Bolsa Família đã gia tăng mức tăng trưởng GDP 1,78 real với mỗi 1 real chi tiêu.

DANH SÁCH DÀI những thành tựu hợp lại đã làm cho Bolsa Família được ưa thích một cách khó tin ở Brazil; các cuộc thăm dò cho thấy tỉ lệ tán thành nó vào khoảng 75%. Mọi người đều hạnh phúc với nó, Lavinas nói với tôi. “Người nghèo vì họ bớt nghèo, và người giàu vì chương trình này quá rẻ nên họ chẳng để tâm.” Ngay cả tầng lớp trung lưu, theo truyền thống là bộ phận bảo thủ nhất trong số cử tri Brazil, cũng chấp nhận Bolsa Família. Như Spektor lý giải, nhóm này “lớn lên trong một đất nước vốn luôn trở nên tồi tệ hơn. Khi Brazil dân chủ hóa [vào giữa những năm 1980], bạo lực gia tăng, bất bình đẳng gia tăng, lạm phát gia tăng. Chúng tôi bị cuốn vào suy nghĩ rằng mọi chuyện thật khủng khiếp. Nếu bạn hy vọng về một tương lai, bạn cần học tiếng Anh và biến khỏi đây. Giờ thì, bỗng nhiên, tôi lại thích ở đây hơn bất kỳ nơi nào khác. Và đó là nhờ Bolsa.”

Sự hăng hái trên mọi lĩnh vực như thế lần đầu được biểu thị trong suốt chiến dịch tái tranh cử của Lula năm 2006. Bất chấp các số liệu tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và sự ân cần vươn tay về cả cánh hữu lẫn cánh tả, Lula đã phải đương đầu với trận gió ngược dữ dội nổi lên trong cuộc đua. Hàng loạt các vụ bê bối tham nhũng gây bẽ mặt đã nổ ra trong năm 2005 và 2006, dẫn đến sự từ chức bắt buộc của nhiều người trong đội ngũ cố vấn cấp cao của ông. (Không liên quan tới những luận điệu gần đây xung quanh công ty dầu khí nhà nước, Petrobras, vụ bê bối lớn nhất cũng được biết đến là mensalão, là những cáo buộc cho rằng chính phủ đã thanh toán lợi tức hàng tháng cho các đồng minh trong quốc hội để mua chuộc sự ủng hộ của họ.) Những cáo buộc đã giáng một đòn nặng nề vào số phiếu của Lula, và nhiều nhà phân tích bắt đầu tiên đoán rằng ông sẽ thua trong hiệp đầu tiên (Brazil tổ chức bầu cử chia làm hai giai đoạn). Vậy mà khi người Brazil sau cùng đi bỏ phiếu, Lula chẳng những sống sót qua vòng đầu; ông nghiền nát đối thủ của mình, Geraldo Alckmin của đảng PSDB, tới 22 điểm trong cuộc đua thêm.

Lý giải? Bất chấp tất cả nỗi tức giận và bối rối trước thái độ thờ ơ rõ ràng của Lula với nạn hối lộ (sự thờ ơ sau này sẽ khiến ông gặp rắc rối hơn nữa), sau cùng vẫn có nhiều người Brazil chọn bỏ phiếu cho ví tiền của họ. Đặc biệt là với những người nghèo và ít học, đối tượng hưởng lợi nhiều nhất từ Bolsa Família. Theo một cuộc phân tích bầu cử được thực hiện bởi hai học giả Mỹ, Wendy Hunter và Timothy J. Power, 60% những người kiếm ít hơn năm lần mức lương tối thiểu chọn người đương chức trong năm đó, và Lula giành được tới 85% số phiếu của vùng đông bắc kém phát triển.

Việc những người Brazil với cuộc sống được đổi thay nhờ chính sách của chính phủ muốn đền đáp nhà hảo tâm của mình xem ra không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng bất chấp gốc gác của mình, màn trình diễn mạnh mẽ của Lula giữa những người nghèo năm 2006 đã thật sự phá vỡ khuôn khổ bầu cử trước kia. Trước năm đó, hầu hết các cử tri nghèo lảng tránh ông và đảng PT, mà họ coi là một đảng phái của những trí thức. Trên thực tế, dù xuất thân từ cánh tả, hầu hết những người ủng hộ Lula trong bốn chiến dịch trước đều đến từ những tỉnh giàu hơn của đất nước. Người nghèo đã luôn nhìn ông, theo lời Spektor, như “một gã có hàm râu buồn cười, hứa hẹn cách mạng. Và vì họ đã bị chơi xỏ bởi hệ thống chính trị Brazil bấy lâu nay,” những lời hứa này “có vẻ điên rồ đối với họ.” Bởi vậy họ đã cự tuyệt Lula – cho đến năm 2006, đó là khi Bolsa Família vẽ lại bản đồ cử tri.

Sự đổi ý này không gây phương hại tới các chính khách khác ở Brazil, và trong những năm sau đó, gần như tất cả họ đã nhiệt thành kế tục sáng kiến của Lula. Tổng thống Dilma Rousseff, người kế nhiệm được chọn lựa cẩn thận của Lula, đã mở rộng phạm vi chương trình và gia tăng mức phúc lợi lên vài lần. Bà thậm chí khởi xướng chương trình Busca Ativa (Chủ động Tìm kiếm), đưa các nhân viên xã hội gan dạ đến các ngõ ngách xa xôi nhất đất nước – đôi khi bằng thuyền đi xuyên rừng – tìm kiếm thêm nhiều người nghèo để ghi vào danh sách. Và cả hai đối thủ của bà trong cuộc tranh cử năm 2014 đều hứa hẹn sẽ mở rộng Bolsa Família hơn nữa. Làm khác đi tức là “tự sát về chính trị,” nói như Thiago de Aragão, một cố vấn chính trị ở Brasília.

Sự hăng hái này không có nghĩa là Bolsa Família hoàn hảo. Trong khi chương trình giúp Brazil đạt được bước tiến lịch sử, quốc gia này vẫn còn có quá nhiều bất công. Dưới bàn tay vụng về của người được Lula che chở, mức tăng trưởng kinh tế đã chững lại và nợ quốc gia tăng lên vùn vụt. Và mặc cho tầm với rộng lớn của Bolsa Família, khoảng 28 triệu người Brazil vẫn đang sống trong đói nghèo. Một vài chuyên gia lo ngại rằng bằng việc tập trung thái quá vào nhu cầu của trẻ em, chương trình đã làm ngơ các bậc phụ huynh (những người bị cắt đứt hoàn toàn phúc lợi khi con họ đến tuổi mười bảy). Các học giả nữ quyền như Maxine Molyneux của Đại học College London cảnh báo rằng “bằng việc đặt điều kiện ‘về trách nhiệm làm mẹ tốt’ để trao tiền”, các sáng kiến như Bolsa Família đã củng cố hơn nữa vai trò giới tính truyền thống. Lavinas, trong số những điều khác, chỉ ra rằng trong khi chính phủ Brazil đã làm tốt việc đưa trẻ em đến trường, nó thật sự kém cỏi trong việc cải thiện chất lượng giáo dục – một trong nhiều lý do khiến đám đông người Brazil ồ ạt đổ xuống đường phản đối các dịch vụ kém cỏi của chính quyền vào năm 2013.

Tác động tích cực của Bolsa cũng bị giảm đáng kể bởi hệ thống thuế phản tiến bộ của Brazil, vốn dựa dẫm quá đáng vào thuế tiêu thụ; những mức phí này, vốn đánh vào hầu như mọi mặt hàng có thể tưởng tượng và nhiều loại dịch vụ, ngốn hết một phần lớn – lên đến 55%, theo một vài ước tính – vốn liếng của Bolsa Família. Cuối cùng, các nhà phân tích tài chính công kích Bolsa Família đã giảm bớt bất công với cái giá của sự tăng trưởng tổng thể, trong khi một số người Brazil vẫn khăng khăng cho rằng biện pháp trao tiền mặt chỉ khiến người ta lệ thuộc hơn vào nó mà thôi.

Bolsa Família, nói cách khác, tất nhiên có thể và nên được cải thiện. Ngoài ra đất nước này còn vô cùng cần đến những cải cách về thuế, chăm sóc y tế, và giáo dục, cũng như đầu tư thật nhiều vào cơ sở hạ tầng. Nhưng rất nhiều chứng cứ đã bác bỏ ít nhất là hai cáo buộc sau cùng được liệt kê ở trên. Những số liệu thống kê của chính phủ cho hay rằng 75% số người trưởng thành nhận trợ cấp Bolsa Família có làm việc, và với những người nói chung không làm – họ sống trong những khu vực có quá ít cơ hội việc làm. Phát hiện này không gây nhiều ngạc nhiên khi bạn xét đến sự kiện rằng, như Wendy Hunter chỉ ra, các khoản trợ cấp của Bolsa Família ít ỏi đến độ “không ai có đầu óc tỉnh táo sẽ chịu nhận chúng thay vì có một việc làm tử tế.”

Sau nữa cũng đừng ngạc nhiên khi mà, mặc cho sự bất toàn của mình, những người hâm mộ chương trình có số lượng áp đảo hơn những người chỉ trích nó. Nancy Birdsall, giám đốc Trung tâm Phát triển Toàn cầu (nhóm chuyên gia cố vấn của Washington), đã gọi Bolsa Família “gần như là viên đạn thần kỳ cho sự phát triển mà bạn có được.” Những người tán thưởng khác đi từ New York Times, vốn cho rằng Bolsa Família “có lẽ là chương trình chống đói nghèo của chính phủ quan trọng nhất mà thế giới từng thấy,” cho đến The Economist, quả quyết nó là “một thành công choáng váng.”

Tuy nhiên, có lẽ bằng chứng tốt nhất cho sự tài hoa của thiết kế Bolsa Família – cũng như cách tiếp cận phi chính thống, dành-cho-mọi-người mà Lula thường trình bày và sau đó phổ biến nó – là sự kiện rằng kể từ khi thực thi chương trình, hơn sáu mươi ba quốc gia đã cử chuyên gia tới Brazil để sao chép mô hình. Trên thực tế, chỉ trong vài năm khởi đầu Bolsa Família, Bộ Phát triển Xã hội bị dìm trong hàng đống thư xin lời khuyên từ nước ngoài đến nỗi nó đã tổ chức các hội nghị chuyên đề mỗi năm hai lần về cách thức tổ chức chương trình tương tự ở nơi khác. Từ thời điểm những dòng này được viết, ít nhất bốn mươi quốc gia khác đã đi theo bước ấy, bao gồm hầu hết các quốc gia Mỹ Latin cũng như Bangladesh, Indonesia, Ma Rốc, Nam Phi, và Thổ Nhĩ Kỳ (và còn nhiều nơi khác nữa).

Sức hấp dẫn của Bolsa Família thậm chí đã lan sang thế giới giàu có. Vào tháng 4 năm 2007, thị trưởng Michael Bloomberg – một chính trị gia khác nổi tiếng với thái độ phớt lờ những tín điều chính thống và thu tóm những ý tưởng tốt nhất từ bất kỳ đâu có thể tìm được – đã triển khai Cơ hội cho Thành phố New York (Opportunity NYC), chương trình trao tiền có điều kiện theo kiểu Bolsa Família đầu tiên của thế giới phát triển, trên cơ sở thử nghiệm. Những chương trình như Bolsa Família phức tạp và vận hành tốn kém hơn ở các nước giàu có, vì các lý do hiển nhiên, và chương trình thí điểm ở New York đúng như dự báo đã bị chỉ trích bởi những người bảo thủ (vốn cằn nhằn về chi phí và sự kiện rằng nó trả tiền để người ta làm điều mà đằng nào họ cũng làm) cũng như tự do (những người gọi nó là cử chỉ hạ cố). Thế nhưng một phân tích của Trung tâm nghiên cứu đói nghèo quốc gia (NPC) thuộc Đại học Michigan cho thấy rằng dù có vài khiếm khuyết, chương trình đã có sức tác động đặc biệt tốt với những gia đình tham dự. Đó là lý do mà cả New York lẫn Memphis gần đây đã triển khai một chương trình thử nghiệm nữa lấy cảm hứng từ Bolsa Família, gọi là Family Rewards 2.0, vốn dựa trên nỗ lực đầu tiên của Bloomberg, và của Lula trước đó – thêm một bằng chứng nữa, nếu cần, về sức hấp dẫn toàn cầu của cuộc thể nghiệm vĩ đại ở Brazil.

Chú thích:

  1. Một điều đáng ghi nhận là mặc dù thanh danh của Lula đã bị tổn hại bởi cuộc điều tra tham nhũng gần đây, không một ai đặt vấn đề về sự thành công hay tính chính trực của Bolsa Família.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

KOMOaudio

Niên lịch miền gió cát: Tôi không muốn tồn tại, tôi muốn sống

Published

on

“Việc coi đất đai như một tổ hợp cộng đồng là một khái niệm cơ bản trong sinh thái học, nhưng việc coi đất đai như một thứ để yêu thương, trân trọng lại là một phần mở rộng của đạo đức.

Sự thật rằng đất đai hàm ẩn các giá trị văn hóa là một sự thật lâu đời nhưng gần đây đã rơi vào quên lãng”.

Từ thời cổ đại, nhà triết học Hy Lạp Protagore (thế kỉ V trước công nguyên) đưa ra tuyên bố nổi tiếng: “Con người là thước đo của mọi thứ”. Trong Sáng thế, loài người được ban cho quyền “thống trị” cá dưới nước và chim trên trời cùng mọi sinh vật di chuyển trên mặt đất. Đó là chưa kể đến vô số những hình thức biểu đạt khác đồng thuận với quan điểm lấy con người làm trung tâm - hơn lấy sinh thái làm trung tâm. Vậy thật sự điều đó có đúng hay không? Tôi nghĩ rằng chúng ta cần xem xét lại các mối quan hệ về sự cân bằng giữa tự nhiên với tự nhiên và tự nhiên với con người. Niên lịch miền gió cát là một cuốn sách hé lộ phần nào câu trả lời, và cũng là một cuốn sách nên đọc với những bạn quan tâm đến môi trường.

Miền gió cát: Một vùng đất tuyệt đẹp

Niên lịch miền gió cát lấy bối cảnh tại trang trại miền gió cát ở Wisconsin, đó là thế giới bình yên nhất mà con người ta có thể “Về quê nuôi cá và trồng thêm rau”. Tác phẩm được chia làm ba phần chính, phần I: Niên lịch miền gió cát những bài viết được sắp xếp theo thứ tự mười hai tháng trong năm. Từ tháng giêng tuyết tan, tháng tư mùa nước nổi, hoa cải báo xuân đến tháng tám cánh đồng xanh cỏ, tháng chín bản hợp xướng của rừng cây bụi, tháng mười hai những rặng thông tuyết và con chim bạc má mang số hiệu 65290. Thời gian nơi hạt gió cát là một chuỗi tịnh tiến của vô vàn những điều cám dỗ lòng người. Những cuộc thăm thú lãng đãng, dung dị của những ngày tuyết tan, dấu chân chồn, chim bạc má, diều hâu và cả những con chuột đồng.

Phần II: Những phác họa đó đây đi qua những đầm lầy, những lát cắt qua từng năm tháng cùng với sự thật mà người ta bắt đầu ngộ ra về mối quan hệ giữ tự nhiên với tự nhiên, tự nhiên và con người.

Phần III: Buổi yến tiệc những câu hỏi để nhìn lại về hướng đi của bảo tồn của con người liệu có đúng đắn. Tôi đã thắc mắc tại sao tên cuốn sách là vậy, cho đến khi đọc, tôi mới tỏ ra nhiều điều. Thật sự, mọi thứ trên đời đều có nguyên do và ý nghĩa của nó nếu các bạn muốn biết thì cuốn sách luôn chờ bạn khám phá.

Thế giới ở “Niên lịch miền gió cát” sinh động, chân thực như trong những chương trình “Thế giới động vật”, “Thế giới đó đây”, với những góc máy khuất, người đọc thỏa sức khám phá thiên nhiên hoang dã cùng những suy tư mà tác giả muốn chúng ta cùng ngẫm và trả lời.

Tự nhiên luôn có những cân bằng kỳ diệu

Có những tác động làm tự nhiên không còn tự nhiên nữa. “Nếu như bầy hươu sống trong nỗi kinh sợ bầy sói, thì những ngọn núi luôn sống trong nỗi khiếp đảm bầy hươu”. Con người dùng cái mác bảo tồn để bảo vệ loài này nhưng vô tình đẩy một loài khác đến bên bờ vực tuyệt chủng. “Và cũng vì thế mà chúng ta chỉ còn trơ lại các thung lũng cát và tương lai con người cứ trôi ra biển lớn theo những dòng sông cuộn chảy”. Ẩn trong hoang dã là sự cứu rỗi cho thế giới. Có lẽ đó cũng là ý nghĩa ẩn trong tiếng tru của loài sói mà núi non đã biết từ lâu nhưng người đời thì đến giờ vẫn chưa thông hiểu.

Lạm dụng việc nhân giống thú săn sẽ khiến pháp luật lên tiếng quản lí đầu vào. Việc thắt chặt quản lí thú săn sẽ làm giảm giá trị của chúng như những chiến lợi phẩm, vì giờ đây việc săn bắn chúng đã mất đi tính hoang dã nguyên sơ. Để bảo vệ con cá hồi người ta phải tiêu diệt những con diệc hay chim hồng tước… người đánh cá sẽ không cảm thấy mất mát gì trong việc đánh đổi giữa sinh mạng loài này và loài khác nhưng sự đánh đổi này lại khiến các nhà điểu học cắn móng tay điên loạn.

“Điều gì xảy ra với loài thú săn mồi khi chúng ta biến một loài thú bị săn thành một thứ lâm sản để thu hoạch? Liệu chúng ta cần các biện pháp dành cho ngoại lai? Làm cách nào để bên quản lí thiên nhiên có thể phục hồi các giống loài đang dần tiêu biến như loài gà gô, vốn đã tuyệt chủng do săn bắn?” Vô vàn những câu hỏi vì sao con người cần trả lời.

Con người thực sự muốn gì?

“Nền văn hóa thượng cổ thường gắn liền với thiên nhiên hoang dã. Do đó, loài bò rừng không chỉ là nguồn thức ăn cho người thổ dân châu Mỹ, mà còn là nguồn cảm hứng cho kiến trúc, trang phục, ngôn ngữ, nghệ thuật và tín ngưỡng của họ”.

Con người ta đâu phải lúc nào cũng quay về quá khứ được? Thời gian không bao giờ quay đầu, có chống lại nó thì nó vẫn đẩy chúng ta đi về phía trước. Đôi khi để học được một bài học chúng ta phải trả một cái giá rất đắt. Chính vì vậy, sự tiếc nuối là một điều cần thiết xảy ra với con người, chúng ta không bao giờ có thể quay ngược thời gian, cũng không biết tương lai sẽ mang đến điều gì? Những cuộc hành hương về đầm lầy, những loài chim đặc biệt chỉ xuất hiện ở hạt Miền Gió Cát bởi tự nhiên nơi đây dung chứa chúng.

Con người sinh ra không phải để đối đầu với tạo hóa, chúng ta không có răng nanh, không có móng vuốt vũ khí, chúng ta có là tư duy. Khoa học hiện đại đơm hoa kết trái và cuộc sống của con người ngày càng nhẹ nhàng hơn. Trong Sapiens: Lược sử loài người, Yuval Noah Harari đã viết: “Chúng ta đã tiến lên từ những chiếc xuồng đi sông, đến thuyền có mái chèo, đến tàu hơi nước, đến tàu con thoi - nhưng ai biết chúng ta sẽ đi tới đâu. Chúng ta mạnh mẽ hơn bao giờ hết, nhưng gần như không biết làm gì với sức mạnh đó. Tệ hơn nữa, con người dường như vô trách nhiệm hơn bao giờ hết.” Chúng ta gây nên sự hủy hoại thảm khốc cho các loài động vật, thảm thực vật và cả hệ sinh thái, chúng ta tìm kiếm cho mình cảm giác thoải mái, thư thái và tận dụng sự hiện đại nhưng chưa bao giờ thấy hài lòng. Chúng ta kiếm tìm thiên nhiên vì nó cho ta niềm vui sướng, chúng ta nghe đến “cách hành xử trong thiên nhiên”, chúng ta răn dạy giới trẻ, chúng ta in những khái niệm để treo tường, đóng đinh… mỗi người đều đang tái hiện một kịch bản thấm nhuần chất liệu đời sống hằng ngày

Hãy để một thân cây mọc lên

Ở thung lũng Genova có một bài hát “Trên mặt đất rễ cây đâm sâu, cùng sống với ngọn gió, cùng hạt giống vượt qua mùa đông, cùng chim chóc ca vang mùa xuân…”  dù sở hữu bao nhiêu quyền năng, bao nhiêu năng lực, có hiện đại, vĩ đại ra sao thì con người không thể sống và tồn tại trong thế giới không có đất, cây cối và các loài vật khác được. Con người chúng ta đang sống vì điều gì? Con người chúng ta đang chống lại điều gì? Kẻ thù lớn nhất của chúng ta là ai? Những núi rác, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, sự tận diệt của tự nhiên, một trái đất hoang tàn. Những lưỡi cưa cắt ngang thân gỗ sồi qua từng năm cùng biến động của sàn chứng khoán mà tôi tin rằng “Giả như cây gỗ sồi có nghe thấy tiếng đổ rầm của sàn chứng khoán thì những thớ gỗ cũng chẳng mảy may rung động”.

Dù muốn hay không, con người chúng ta buộc phải thừa nhận rằng, thời gian trôi qua, ai cũng sẽ lớn lên và già đi, sẽ có một ngày chúng ta tạm biệt thế giới, bỏ lại tất cả ở phía sau và biến mất mãi mãi, nhưng chính cái chết làm chúng ta biết sợ, làm chúng ta trân quý hiện tại và yêu thương cuộc sống này hơn. Vòng sinh tử của tạo hóa sẽ chẳng bỏ qua ai, cái gì cả, và tự nhiên cũng sẽ như vậy. Chúng ta thỉnh thoảng vẫn nghe đâu đó loài này tuyệt chủng, loài kia được đưa vào sách đỏ… và nghe nó như một điều lúc đầu thật khó tin nhưng sau cũng dần thấy bình thường. Nếu chúng ta không biết quý trọng tài nguyên, yêu thương mẹ thiên nhiên hơn thì đến một ngày sẽ chẳng còn trái đất để sống nữa.

Kết.

Trong những câu chuyện cổ tích, đến cuối cùng chúng ta vẫn thường nghe “Và từ đó họ sống hạnh phúc mãi về sau…”, con người chúng ta dù giàu sang hay nghèo khó thế nào thì cuối cùng điều chúng ta mong muốn vẫn là một cuộc sống hạnh phúc. Trái đất đã được thống nhất thành một khối duy nhất về sinh thái và lịch sử, nhân loại cũng tận hưởng sự tiện nghi và giàu sang chỉ có trong chuyện cổ tích nhưng liệu chúng ta có đang hạnh phúc? Thế nào mới là hạnh phúc? Hạnh phúc do đâu mà có? Liệu chúng ta có đang sống hạnh phúc hơn tổ tiên của mình ngày trước? Tự nhiên có những quy ước của nó, mọi vật cũng đều có một giới hạn, khi con người vượt qua những giới hạn đó thì sẽ phải trả giá cho hành động của mình. Làm mẹ thiên nhiên nổi giận, hậu quả con người nhận lại chưa bao giờ là dễ chịu.

Hết.

Hoàng Anh

Đọc bài viết

KOMOaudio

Mùa xuân vắng lặng: Cái giá khi vi phạm thỏa ước giữa con người và thiên nhiên

“Chúng ta tưởng mình đủ khôn ngoan để tận hưởng những lợi ích của thỏa ước hiện đại mà không phải trả giá.”

Published

on

Năm Covid thứ hai.

Tình hình thế giới vẫn thật hỗn loạn. Việt Nam trải qua một năm sóng gió với sức mạnh kiên cường đang rộn ràng náo nức cho một niên lịch mới, một mùa xuân mới thì Covid lại xuất hiện, một điều chẳng ai mong muốn - theo nghĩa đen và nghĩa bóng - mùa xuân đến một cách vắng lặng hơn bình thường.

Dù cái sự vắng lặng của mùa xuân nó chẳng ăn nhập gì với sự vắng lặng cuốn sách muốn đề cập, tôi một lần nữa mang Mùa xuân vắng lặng ra đọc.

*

“Một sự yên lặng lạ kỳ. Những chú chim đã bay đi đâu mất?”

Nếu Túp lều bác Tom của Harriet Beecher Stowe là phát súng cho phong trào đấu tranh vì nô lệ thì Mùa xuân vắng lặng của Rachel Carson chính là hồi chuông báo động đỏ cho vấn đề môi trường khi con người bước vào thiên niên kỉ hiện đại. Theo dòng thời gian thì đến ngày nay, Mùa xuân vắng lặng vẫn còn nguyên giá trị với những con người hay quốc gia đang loay hoay với vấn đề môi trường. Cuốn sách là câu trả lời cho câu hỏi “điều gì đã làm cho không ít những thị trấn của Mỹ vắng sự rộn ràng của mùa xuân”, và cũng là hành trình tìm lại những giai điệu mùa xuân đã mất trên những mảnh đất này.

Một câu thần chú ma quỷ đã giáng xuống người dân ở một trang trại trên đất Mỹ, những căn bệnh không rõ nguyên nhân làm gia súc, gia cầm ốm dần rồi chết. Không khí chết chóc bao trùm khắp nơi. Táo sắp đến độ nở bông nhưng chẳng chú ong nào vo ve, hoa vẫn nở nhưng không được thụ phấn và chẳng có quả táo nào. Hai bên đường là thảm thực vật khô héo. Không phải phép thuật của bà phù thủy độc ác nào, chẳng phải câu thần chú nguy hiểm hay hành động “đánh ghen” tàn nhẫn nào mà chính con người đã “vô tình” gây ra tất cả. Chúng ta, dù muốn hay không phải công nhận một điều rằng, bàn tay con người tác động đến tự nhiên đã làm hệ sinh thái thay đổi rất nhiều.

Từ buổi bình minh, khi sự sống bắt đầu trên trái đất, loài người tồn tại trên tiểu hành tinh này đã đối mặt với nhiều vấn đề. Sau nạn đói, dịch bệnh và chiến tranh là những mối nguy hại lớn đối với con người. Thời hiện đại, con người phải đối mặt với vô vàn vấn đề khác: môi trường ô nhiễm, tài nguyên khan hiếm… Chúng ta dường như đã đặt bút ký vào một bản giao kèo với thiên nhiên ngay lúc chúng ta chào đời; nó chi phối cuộc đời chúng ta cho đến giây phút chúng ta lìa xa thế giới. Thời hiện đại, hầu hết các nền văn hóa đều tin rằng con người có vai trò trong bản kế hoạch vũ trụ lớn lao đó.

Con người từ bỏ ý nghĩa để đổi lấy quyền năng

Mọi thứ trong cuộc sống vận hành đều có nguyên tắc và liên kết nào đó với nhau. Thời đại công nghiệp ập đến, sự hiện đại và hóa chất len lỏi vào cuộc sống của con người. Giết một loài sâu bọ chúng ta chỉ cần phun thuốc trừ sâu một, hai lần; thế là chúng không còn gây hại đồng ruộng nữa. Con người không ngừng nghiên cứu, vươn đến cái hiện đại, giành lấy quyền năng tối cao về mình mà quên đi rằng, hệ sinh thái đa dạng cần có sự cân bằng.

Chúng ta thấy thật mất thời gian khi sử dụng các biện pháp thiên địch, khi dùng tay bắt sâu bọ trên đồng lúa, nhổ cỏ trên những cánh đồng bao la, chúng ta chỉ cần phun thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, và thế là chẳng còn sâu bọ cũng chẳng còn cỏ dại. Lợi ích trước mắt quá lớn, chúng ta vô tình bỏ quên lại nhiều điều. Những cây hoa dại, những loài sinh vật có lợi cho đất ngấm thuốc trừ sâu, chúng cũng mất đi. Hay cả nếu chúng không mất đi, ảnh hưởng của dư lượng thuốc trừ sâu trong các loại rau củ vẫn còn, chúng ta ăn, uống thực phẩm chế biến từ các loại rau củ đó mỗi ngày. Chúng ta cũng đánh mất luôn cơ hội được nhìn thấy những con chim hót, những chú bồ câu chao liệng hay những cây đinh lăng mọc dại hai bên đường.

—————

“Những hóa chất với các đặc tính lạ thường của nó được con người sử dụng cho các giống cây trồng và vật nuôi, biến thảm thực vật và động vật quanh đó trở thành lớp áo choàng của Medea, phủ độc lên mọi vật, những gì sống tiếp xúc với chúng.”

—————

Chúng ta làm mọi thứ, chúng ta mong muốn một cuộc sống hiện đại, tốt nhất cho bản thân và con cháu của mình, bản giao kèo hiện đại chúng ta ký từ lúc sinh ra đó, chúng ta chưa hề đọc hết; đa số chúng ta chỉ để ý cái lợi trước mắt chứ không suy nghĩ về lâu dài, cơ hội được thấy một đàn ngỗng trời bay liệng mất đi, thay vào đó, chúng ta nhìn đàn ngỗng bay qua màn hình ti vi trong các tư liệu cũ. Môi trường đang thật sự ô nhiễm, điều này xảy ra rành rành trước mắt chúng ta nhưng chúng ta hành động như thể mình còn rất nhiều thời gian và các biện pháp hữu hiệu. Làm sao để phục hồi lại những loài động vật đã tuyệt chủng, làm sao để cứu lấy môi trường với không khí đầy ô nhiễm và những lỗ thủng tầng ozone, làm sao để phục hồi những cánh rừng đã sa mạc hóa trở nên tươi tốt, làm sao để duy trì đa dạng sinh học?

Khi chúng ta nhận ra mình đang lao đến bờ vực nhanh thế nào, chúng ta chẳng thể dựa vào Thần Chết che chắn cho mình; có kiếp sau vẫn không thể thay đổi hiện tại của đà sống xuống dốc, phản ứng tự nhiên sẽ là hy vọng ai đó đạp phanh và làm chúng ta đi chậm lại. Những nếu chúng ta đạp phanh, nền kinh tế có dấu hiệu sụp đổ, cùng với đó là xã hội của chúng ta.

Cái giá phải trả khi vi phạm thỏa ước hiện đại

Từ xưa đến nay, vô số nhà tư tưởng, nhà tiên tri và người dân đã định nghĩa hạnh phúc, chứ không phải bản thân cuộc sống, mới là điều tuyệt vời nhất. Cuộc mưu cầu hạnh phúc sinh hóa cũng là nguyên nhân gây ra tội ác trên thế giới. Cơ thể con người không phải là bất khả xâm phạm; chúng ta bị tác động bởi những hóa chất độc hại từ môi trường. Tác hại của thuốc trừ sâu con người chưa thể thống kê được hết, thiệt hại lên thảm thực vật, những dòng sông, thế giới côn trùng… mức thiệt hại về môi trường thật sự đáng sợ.

Môi trường sống bị thu hẹp. Cuộc chiến của sự sống chống lại ung thư bắt đầu cách đây từ rất lâu đến nỗi nguồn gốc của chúng mất dần theo thời gian. Chúng ta không biết, không còn nhớ rõ nguồn cơn của ung thư nhưng chắc hẳn nó đã bắt đầu từ môi trường tự nhiên. Một trong những loại thuốc diệt sinh vật gây hại dẫn đến ung thư sớm nhất là arsenic, sodium, arsenite…

Chúng ta hay những người lớn tuyên tuyền, ra rả về việc phải bảo vệ môi trường, chúng ta bảo vệ môi trường vì ai? Vì con cháu, vì thế hệ sau của chúng ta, nhưng thực sự có phải như vậy không hay chỉ để thỏa mãn cho cuộc sống hiện đại, nhu cầu tiện nghi, tiện lợi.

Sau khi đọc xong Mùa xuân vắng lặng, cảm giác của tôi (và tôi chắc rằng ai đọc xong cuốn sách cũng sẽ thấy thế) là nỗi sợ. Tôi cảm thấy sợ phải hít thở vì không biết trong không khí có bao nhiêu hóa chất độc hại, tôi sợ khi ăn những con cá, những loại rau củ nhiễm hóa chất, tàn dư của thuốc trừ sâu dù qua nhiều lần cày sới, bừa bới vẫn còn trong đất.

Ngày nay, chúng ta nghe tin về những loài động vật, những loài thực vật đang dần tuyệt chủng, có những loài đã biến mất mãi mãi khỏi cuộc sống của chúng ta. Tôi đã đọc một cuốn sách khác về môi trường mang tên Niên lịch miền gió cát, nó cho tôi những giấc mơ và mong muốn nhìn thấy hình ảnh của những đàn thú đông đúc, những điều tự do hoang dã. Lựa chọn trong cuộc sống của mỗi người là khác nhau, có thể những gì thuộc về tự nhiên không cần thiết với người này nhưng lại hoàn toàn cần thiết với người kia. Chúng ta đối mặt với câu hỏi rằng, liệu “một mức sống ngày càng cao” có đang để đánh đổi điều tự do hoang dại hay không?

Kết.

Ngày xưa chúng ta thường hay nghe rằng con người chinh phục thiên nhiên, làm chủ thiên nhiên; nhưng thời gian gần đây chẳng còn nghe những câu như vậy nữa, chúng ta nghe và hiểu rằng con người phải sống hòa hợp với thiên nhiên. Những điều kì diệu mà thiên nhiên có đang dần mất đi. Thiên nhiên vốn đa dạng, côn trùng có nhiều loài kẻ thù, không chỉ từ vi khuẩn và còn từ nhiều loài côn trùng khác, ý tưởng dùng côn trùng kiềm hãm côn trùng cũng đã xuất hiện từ thời đồ đá. Nền khoa học ban sơ đã trang bị vũ khí hiện đại để chống lại những thế lực mà con người hiện đại lo sợ. Liệu một cuộc sống hiện đại, tiện nghi có đáng để đánh đổi với cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên hay không? Liệu những quả táo với dư lượng thuốc trừ sâu có đáng để đánh đổi một bầy chim sẻ đậu trên cây để hót hay không? Liệu nếu tiếp tục với đà hiện đại, homo deus sẽ đi đến đâu? Mùa xuân đến bao giờ sẽ thôi vắng lặng? Câu trả lời này mỗi bạn đọc hãy tự có câu trả lời cho riêng mình.

Để cây cối bên hồ chỉ còn lá rụng
Và chẳng còn nghe tiếng hót của chim.

(Keats)

Hết.

Hoàng Anh

Đọc bài viết

Book trailer

Hôm nay mẹ có vui không? – Bởi hạnh phúc ở ngay thềm ngôi nhà đây thôi

Gấu cứ hay áp bàn tay nhỏ xíu lên má mẹ rồi hỏi “Hôm nay mẹ có vui không?”. Tôi lại dối lòng, dối Gấu là mẹ ổn cả, chỉ mệt thôi.

Published

on

By

Quyển sách Hôm nay mẹ có vui không? là câu chuyện của tác giả về quá trình tìm lại chính mình, tự chữa lành, là con đường thoát khỏi trầm cảm, tìm lại niềm vui, sự cân bằng, thanh thản trong tâm hồn, giải phóng bản thân khỏi những áp lực của hành trình làm mẹ và đồng hành cùng con vượt qua những khiếm khuyết không mong muốn.

Tác giả quyển sách – chị Trần Vân Anh là một chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm, Editor-in-chief của Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt, Content Manager tại Tập đoàn CMG.Asia, Senior Beauty Editor của Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion…

Nhưng bên cạnh những chức danh đó, chị còn là một người mẹ.

Hôm nay mẹ có vui không? không là một cuốn sách nuôi dạy con khuôn mẫu. Nó mang dáng dấp của một cuốn nhật ký của bản thân tác giả hơn, nơi chị nhìn lại, suy ngẫm, và viết nên chính cuộc đời mình. Đó không đơn thuần là hành trình làm mẹ, đó còn là hành trình của người phụ nữ hiện đại, sai lầm rồi trưởng thành, sống vì con, vì gia đình, và vì cả chính mình.

Không có công thức trong việc dạy con, không có phương pháp nào là đúng hay sai nhưng chắc chắn có nhiều con đường để trở thành một người mẹ tốt. Một trong những con đường đơn giản nhất đó là trở thành một người mẹ hạnh phúc.

Hôm nay mẹ có vui không?

Lật giở trang sách, người đọc theo chân tác giả về những hồi ức tuổi thơ, nơi chị trải qua những ngày thơ ấu không thấy hạnh phúc bởi người mẹ hay âu lo, quát mắng trong phần 1: Mẹ bất ổn, con dễ bất hảo. Cũng lần theo dòng chữ, người đọc trưởng thành cùng tác giả, cùng chị đi qua những ngày tháng tuổi trẻ thiếu vững vàng, có mặt trong những khoảnh khắc chị sai lầm cho đến lúc nhận sai, tự chữa lành cảm xúc trong phần 2: Mẹ bình yên, con hạnh phúc.

Hai phần còn lại của quyển sách phần 3: Cùng con vượt khiếm khuyếtphần 4: Khi mẹ “lười” dạy hai con traixoay quanh hành trình nuôi dạy hai cậu con trai Tôm, Gấu của tác giả Trần Vân Anh. Với chị, đó không phải là hành trình mẹ dạy – con nghe, mà đó là hành trình mẹ cùng con trưởng thành. Trên bước đường trưởng thành đó, theo thời gian, người già đi, người sẽ lớn lên, nhưng cả gia đình đang cùng nhau trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình.

Có lẽ vì vậy mà quyển sách không mang nặng giáo điều về phương pháp dạy con thành công, luyện con thiên tài. Những gạch đầu dòng về phương pháp, cách thức dạy con được tác giả xen lẫn trong những câu chuyện thường ngày, những lần hồi tưởng về quá khứ. Bởi thế mà những gạch đầu dòng ngắn, súc tích, nhưng là tất cả những gì tác giả đúc kết được trong chừng ấy năm vượt trầm cảm, vượt lo âu và cùng con vượt khiếm khuyết.

Và trong hành trình của chị Vân Anh, rất nhiều người tìm thấy chính mình trong đó, qua chị Vân Anh – người mẹ hay qua Gấu – Tôm, người con. Mà nói như Nhà văn – nhà báo Khải Đơn là “Tác giả Vân Anh dành không gian cho người đọc tìm kiếm nơi trú ẩn tĩnh lặng của riêng họ, để thông cảm với nỗi niềm của “bên kia” (dù làm con hay làm cha mẹ), để có thể mở lòng yêu thương nhau và sống trọn những năm tháng ấm áp gia đình. Hôm nay mẹ có vui không? là câu hỏi ân cần như vậy, với mỗi mái nhà, mỗi thành viên trong gia đình.”

Những đoạn hội thoại mẹ - con được đóng khung xinh xắn khiến Hôm nay mẹ có vui không? trở nên nhẹ nhàng, dễ thương, không hiện hữu cảm xúc nặng nề dù đề cập đến căn bệnh trầm cảm, tự kỷ. “Sau khi gập trang cuối quyển sách này lại, người đọc sẽ mỉm cười nhẹ nhõm, vì rằng hạnh phúc viên mãn luôn luôn ở đó, ngay thềm ngôi nhà đây thôi.” - nhiếp ảnh gia - ca sĩ Phạm Hoài Nam.

Hôm nay mẹ có vui không? và thông điệp về người phụ nữ hạnh phúc

“Mẹ tự chữa lành, con vượt khiếm khuyết” - Mẹ phải ổn cả về thể chất và tinh thần, thì con mới ổn. Con cái cảm nhận rất rõ việc bố mẹ có thật sự ổn hay không. Vậy nên, nếu mẹ cân bằng, an yên, con cái sẽ tin rằng quyết định của mẹ là đúng.

Sau cùng, bí quyết nuôi dạy con tốt nhất đơn thuần là trở thành một người mẹ hạnh phúc. Quyển sách đề cao giá trị hạnh phúc của người phụ nữ, không phải bởi thước đo tài sản hay nhan sắc, mà là được làm gì những gì mình thích và biết yêu thương chính mình.

Ai chưa làm mẹ, đọc quyển sách sẽ cảm tưởng như được nghe một câu chuyện kể cuốn hút, từ một người chị đi trước với nhiều trải nghiệm cuộc đời. Ai làm mẹ rồi đọc thấy đồng cảm, thấy mình trong câu chuyện, và được tiếp thêm động lực, dũng cảm hơn với quyết định của mình.

Thông tin tác giả:

Chị Trần Vân Anh
  • Chuyên gia truyền thông với 18 năm kinh nghiệm
  • Editor-in-chief: Kilala – Tạp chí Nhật Bản dành cho người Việt
  • Media Director: Kilala Communication
  • Content Manager: Tập đoàn CMG.Asia
  • Senior Beauty Editor: Tạp chí ELLE Vietnam, F Fashion

*


Đọc bài viết

Cafe sáng