Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Một năm đọc sách

Âu bản tường trình này như một báo cáo cho năm vừa qua về mặt văn chương của bản thân, vì như Endo Shusaku viết, một con người – ai cũng có nhiều mặt.

Published

on

2019 là một năm tốt mặc cho cuốn đầu tiên trong tâm trí vẫn luôn muốn đọc hồi đầu năm nay là cái tên không tươi đẹp mấy – Diary of a Bad Year của J.M. Coetzee. Nhưng thật may vì năm qua là một năm thức thời. Không biết nên cám ơn nhà xuất bản hay là bản thân đã kịp “đú” trend như Tarzan đánh đu nhờ hít drama bổ sung đầy phổi suốt một năm qua. Nhìn lại list dài những cuốn sách theo chân, đắc thắng vì phần lớn là những cây viết nữ (cho hợp #MeToo), văn chương hiện thực vẫn chiếm đa số (có lẽ ảnh hưởng bởi Ký sinh trùng), Trung Quốc lại có khá nhiều (chắc lại vấn đề biên giới), ly hương chiễm chệ một chỗ (Trump cùng đồng bọn) và Mỹ Latin – dĩ nhiên vì thích Roma – vẫn còn đa số. Cũng có những cuốn không ưng gì mấy, cầm lên để xem sau rốt có nhai nổi không; có cuốn cười khẩy khi đọc, cũng có cuốn bám theo sát gót. Có cuốn đọc vì mê, có cuốn đọc để vạch lá tìm lỗi, có cuốn đọc để cộng tác, cũng có cuốn tự nhiên cầm lên vì… đọc thôi. Âu bản tường trình này như một báo cáo cho năm vừa qua về mặt văn chương của bản thân, vì như Endo Shusaku viết, một con người – ai cũng có nhiều mặt.

Theo dòng thiên di của những cánh chim không mỏi, Pachinko của Min Jin Lee mở đầu trào lưu tìm dòng của chủ đề này. Hơn 700 trang khổ 24 với câu chuyện về một gia đình lặn lội từ Bắc Hàn sang Nhật; ở đây ít nhất cuốn sách cũng đã khắc họa một cách ổn thỏa tạo hình vĩ đại của người phụ nữ, của lối ẩn dụ cuộc đời như một trò chơi; nhưng ngoài ra, Pachinko lại để rất ít không gian cho ta suy ngẫm. Cũng gần với đó, Đừng nói chúng ta không lợi quyền với cách xây dựng gần giống Pachinko, nhưng rối rắm và kết hợp nhiều mảng lĩnh vực hơn – như cuộc đọ sức quyền anh của bộ não để nhớ hết những dữ kiện trong này. Toán học, âm nhạc và văn chương như ba chân kiềng của tiểu thuyết– nhưng với riêng bản thân, thứ thích thú nhất ở tác phẩm này của Madeleine Thien là những tiến trình lịch sử. Đọc fiction như non-fiction, và bởi lịch sử luôn được viết ra bởi kẻ chiến thắng nên dưới góc nhìn của kẻ bại trận đồng thời là người đứng ngoài, ít ra Đừng nói chúng ta không lợi quyền đã cung cấp cho ta một góc nhìn phổ quát hơn về Đại cách mạng văn hóa, về vụ Thiên An Môn 1989 và mới mẻ thay, Madeleine Thien cũng tiết chế bớt những khốn khổ van xin niềm thương thường thấy của những tác phẩm văn chương Trung Quốc trong thời kì này. Nếu là một người yêu màu đỏ và không quá vướng bận khi kẹt xe, đây là cuốn sách rất đáng để thử.

Song song cùng đó, Đỗ Quyên Đỏ của Anchee Min như ngắt ra chỉ một quãng nhỏ nhưng tập trung hơn so với Đừng nói chúng ta không lợi quyền của thời kì chuyển đổi quyền lực giữa Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Không ấn tượng nhiều về phông nền lịch sử của cuốn sách này nhưng không thể không nhắc tới lối viết rất “phụ nữ” của Anchee Min – cuồng nhiệt và hoang dã. Cũng cùng sức bức phá đó, đối thủ bại trận “không rõ lý do” của cuộc đua Nobel năm nay – Tàn Tuyết, góp mặt vào danh sách bằng hai cuốn – Đào nguyên ngoài cõi thếBảng lảng trời xanh. Thật ra là lần thứ hai đọc lại và ở lần này lại ngẫm ra nhiều ý tưởng hơn về lối viết của bà. Không hiểu liệu có phải do tác động trước đó của hai cây viết nữ (Min Jin Lee và Madeleine Thien) cùng lối viết hoang dại của Anchee Min không mà lần đọc lại Tàn Tuyết này không quá khó khăn. Đọc rồi để hiểu, thật ra văn chương của bà không phải làm quá – nó chỉ đơn thuần phản ánh những việc rất cá nhân, và do lẽ đó, rất thiết thực. Dưới góc nhìn phân tán của một chiếc kính vạn hoa, một khi không hiểu những gì ẩn chứa đằng sau tầng tầng lớp lớp chữ nghĩa thì bùm – bạn sẽ chìm vào vũng tuyết mà bà phô ra. Tàn Tuyết là như thế, cô độc và đẹp đẽ. Văn chương bà thô mộc nhưng mạnh mẽ, bạo lực trong nền phi bạo lực và cũng có lẽ vì thiếu đi những họa tiết dễ cảm của Murakami, thành ra vẫn vô danh nằm phủ bụi trên những kệ sách Việt Nam.

Năm cuốn sách tiếp theo, hai trong số đó là những phát hiện mới và ba quyển còn lại thật sự là những trải nghiệm rất tiếc khi phải nói là không quá tốt đẹp. Giải thưởng luôn được show ra như cách tri ân bản thân tác giả – tác phẩm, là cách PR bán hàng vô cùng hiệu nghiệm, và dĩ nhiên, cũng là cách lấy đi thời gian của những con bò ngáo ngơ thích thể nghiệm bản thân – như mình. Vì quá yêu Bệnh nhân người Anh hay Margaret Atwood nên khi nhìn thấy cái nhãn Shortlist của Man Booker, bản thân đã không ngần ngại đặt lên để rồi nhận ra dư vị đắng ngắt đằng sau. Thoát đến phương Tây (Exit West) của Mohsin Hamid không phải là cuốn sách tệ, vốn bản thân cốt truyện trong phông nền chiến sự Trung Đông không phải là không thu hút người đọc nhưng với cách phát triển tình tiết, gợi tạo nút thắt để đến cuối cùng khép lại bằng một cái kết không đâu vào đâu thì rõ ràng, nếu để hỏi đâu là cuốn sách “đầu voi đuôi chuột” nhất của năm nay, thì mình sẽ không ngần ngại (mặc dù cũng khá áy náy) trao cho quyển sách này. Á hậu 2, xin mạn phép trao cho Chiếc cặp của Hiromi Kawakami với chiếc nhãn giải thưởng Tanizaki. Đọc hết cuốn tiểu thuyết này mình chỉ có một mong muốn tột bậc là được ngồi cùng hai nhân vật chính để phá tan đội hình tuyệt diệu. Một câu chuyện bình thường dễ đoán của những con người không bình thường, và dĩ nhiên, nó là như thế. Nhẹ nhàng: có; nút thắt: có; cách giải quyết: tương tự Exit West; và nếu bạn là một đọc giả nữ, là người ưa nhẹ nhàng với những câu chuyện thơ mộng, thì vâng, rất hân hạnh để giới thiệu đến bạn Chiếc cặp. Nhưng với một thằng năm nay đã 23 ngấp mé 24, thì vâng, đây là một nỗ lực phi thường!

Cuốn thứ ba, không hay cũng không tệ, nội dung không mới nhưng cách viết khá ổn là Người đẹp say ngủ của Kawabata Yasunari. Có lẽ thành kiến ở việc quá lạm dụng cái chết của văn hóa Nhật đâm ra phần lớn văn chương Nhật thường khiến mình khá dè dặt khi chọn đọc. Với một đứa tâm hồn mỏng manh và hơn 70% cơ thể là nước như mình cùng những lý do không đáng để chết; Người đẹp say ngủ đành thoái lui ở vị trí này, mặc dầu ý nghĩa đằng sau và cách viết của cụ Kawabata rất đáng trải nghiệm. Và với hai trải nghiệm không như mong muốn ấy, khi cầm lên Bên dòng sông Hằng của Endo Shusaku đã khiến cho mình một phút phân vân, nhưng thây kệ, vì công sức của dịch giả yêu quý văn học Nhật (bác Nguyễn Văn Thực) cũng như trót thích Ấn Độ (vì Mùa tôm hay Cân bằng mong manh) thì thôi cũng liều mình, đi vào con đường giáo mác dao găm. Bên dòng sông Hằng đơn giản và dễ đọc hơn Silence (bác Thực từng dịch với tựa Sao Chúa lặng im và dĩ nhiên, vì vài lý do cao đẹp vẫn chưa và có lẽ sẽ không bao giờ được xuất hiện), vẫn chứa những chủ đề mà Endo Shusaku rất hay khai thác trong tác phẩm mình – những xung đột hạn chế, những tư duy hữu cựu và tác động của chúng. Cuốn tiểu thuyết này thoát khỏi những chủ đề sáo mòn, màu sắc u tối của văn chương đương đại Nhật trong kệ sách của mình; thoát ý và đến gần hơn với cách xây dựng văn chương phương Tây, và cũng có lẽ vì thế, Bên dòng sông Hằng là một phát hiện thú vị – không những ở mặt nguồn gốc mà còn là một tác giả vô cùng quan trọng sau này.

Theo sát Bên dòng sông HằngCông chúa Bari của Hwang Sok-Young. Sau một năm khá dài tạm rời xa văn học Hàn Quốc (2017 chỉ có Ở đâu đó có điện thoại gọi tôi, 2018 là Bảy năm bóng tối và 2019 là quả bom xịt của bộ phim chuyển thể), nay mới có dịp cầm trên tay cuốn văn chương của xứ sở này. Văn chương Hàn Quốc và Nhật Bản có màu sắc khá tương đồng nhau; nhưng Hàn Quốc cụ thể, tỏ tường và không u sầu đến mức cực đoan như Nhật, và vì thế Hàn vẫn luôn là một lựa chọn ưu tiên của riêng bản thân mình. Nếu cuốn trước của Endo Shusaku mình từng e ngại vì nguồn gốc xuất thân, thì Công chúa Bari là bởi cái tên … khá củ chuối, nhưng khi chạm vào rồi lại rất khó vượt qua. Công chúa Bari sở hữu trong mình một câu chuyện không bao giờ cũ và một hành trình không bao giờ hết – đi tìm bản chất của người trong một phông nền đậm chất Bắc Hàn. Cuốn sách như áng sử thi dong buồm về câu hỏi lớn, cực ấn tượng và rất hoài nghi. Nếu để tìm một cuốn sách Hàn Quốc thoát khỏi phong trào Dân chủ, phong trào sinh viên, thì đây – Công chúa Bari rất đáng để thử.

*

Ở mảng non-fiction năm nay tạm hài lòng với 4 cuốn sách: Ngàn năm một tiếng thở dài, Sốc – Sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản thảm họa, Kẻ ly hương và bản đọc lại của Nào tối nay ăn gì. Bốn cuốn sách là bốn chủ đề khác nhau, nhưng tựu hình chung đều là những vấn đề thời đại lý thú. Ngàn năm một tiếng thở dài nói đơn giản là một cuốn du ký, nhưng khác ở đây là du ký về miền quá vãng, về quãng dài lịch sử đã qua. Bạn sẽ không tìm thấy những miền đất xinh đẹp trong này, những câu chuyện trải nghiệm thú vị ở đây; nhưng ở đó tràn ngập tiếng thở dài của những vĩ đại đã từng, cảnh đẹp đã qua trong ngòi bút cô đọng của nhà nghiên cứu văn hóa Dư Thu Vũ. Một cuốn sách rất đáng để đọc, để biết những thế hệ trước loài người đã từng vĩ đại đến mức độ nào và dĩ nhiên, cũng từng manh mún ra sao; như thể Kẻ ly hương sừng sững đứng đó như chứng nhân cho tính chất này của xã hội loài người. Tập tiểu luận với 17 bài viết của những cây viết tha hương, và nhờ sự đa dạng của ngọn nguồn câu chuyện và các phông nền văn hóa ít nhiều đã cung cấp cho ta góc nhìn của người trong cuộc về những câu chuyện xung quanh trên thế giới này, từng ngày, từng giờ; khắc phục cách nhìn duy nhất và khá văn chương của Người tị nạn trước đó; cuốn sách thức thời và khá lý thú.

Sốc – Sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản thảm họaNào tối nay ăn gì – Thế lưỡng nan của loài ăn tạp là hai quyển sách nghiên cứu xã hội vô cùng cuốn hút, đầy đủ. Nếu Sốc gắn liệu pháp trị liệu sốc điện những năm 50 vào cơn trỗi dậy của thị trường thương mại tự do tháo xích, thì Nào tối nay ăn gì như cuộc phiêu lưu từ cánh đồng ngô đến chuỗi thực phẩm cuối cùng; từ đây cho thấy hiện trạng của ngành công nghiệp thực phẩm, thói quen ăn uống của con người, sự độc chiếm của loài ngô hay mẫu số chung của những xung đột chính trị trong lịch sử. Ta sẽ gặp lại Margaret Thatcher với trận chiến Falkland, Pinochet với thời gian cầm quyền của chế độc độc tài Chile, hậu cơn bão Katrina quét sạch sành sanh ban New Orleans, chính quyền Bush và chiến tranh Afganistan, Đặng Tiểu Bình và sự kiện năm 1989,… Tất cả được Naomi Klein lý giải dước góc nhìn kinh tế, và mỗi chúng ta sẽ nhận ra những sự thật vẫn đang chôn giấu trong từng cuối hồi ký, từng bài phục dựng. Một cách nhìn sâu hơn vào thế giới vẫn đang vận hành.

Ở mảng văn chương phương Tây, không hiểu do trùng hợp hay một lý do nào đó mà sự xoay trục vào văn chương Đông Âu năm nay lại trùng đúng vào khu vực của giải Nobel văn chương vừa qua. Đọc Dưới cánh thiên thần rượu của Jerzy Pilch trong cơn chuếnh choáng một ngày chia tay vì tình, và cứ thế nó đến. Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Ba Lan này có một thời lượng không lớn, nhưng chứa trong nó là cả vấn đề thời đại, từng câu từng chữ dường như chưa bao giờ thừa thãi. Nếu đọc cuốn sách chưa đến 200 trang này một cách tập trung cao độ và thật đồng cảm, bạn sẽ quote ra được hàng tá câu văn ngập tràn sổ tay về những luân lí của ông trong này. Một tên tuổi lớn mà chỉ giải Nike 2001 thôi không bao giờ đủ.

Trẻ hơn Jerzy Pilch nhưng độ biếng nhác và tầng sâu những lớp ý nghĩa không hề thua kém là Ngoài vùng phủ sóng của Marta Dzido. Người trẻ thị thành – những con sâu biếng lười còn bò lòm ngòm trên sân chơi cuộc đời, những kẻ mộng mơ muốn tìm cái chết; chắc hẳn sẽ là những đọc giả trung thành của cô trong tác phẩm này. Một tiểu thuyết biếng nhác (rất mỏng) cho những con người biếng nhác (những ai vẫn muốn tìm lại phương hướng). Rất ổn. Cùng đó là việc đọc lại Cánh cửa của Szabó Magda – một việc dằn xé lương tâm trong cơn thỏa mãn vì cây viết Hungari vô cùng cuốn hút này. Cuốn tiểu thuyết hay và sẽ không ngừng khiến mình đọc đi đọc lại, bên cạnh Doris Lessing và Jack Kerouac đành trễ hẹn năm nay.

Con sẻ vàng, Những người nuôi giữ bồ câu, Nửa mặt trời vàngLưỡng giới là bốn cuốn tiểu thuyết với thời lượng khủng mình đã gặm nhắm trong một năm vừa qua. Bốn cuốn sách với một điểm chung đều là phương tiện cho cuộc hành trình tìm lại bản thân, nguồn gốc, bản lai diện mục. Có cuốn dữ dội về mặt tâm tư (Con sẻ vàng, Lưỡng giới); có cuốn dậy sóng ở mặt phông nền; nhưng nhìn chung đều là những tiểu thuyết quan trọng. Những người nuôi giữ bồ câu viết về cuộc tàn sát người Do thái của quân La Mã, Nửa mặt trời vàng về cuộc nội chiến Biafra; và đây dường như là hai yếu tố góp phần làm nên thành công, là sự thú vị của tác phẩm này. Trong khi đó, Con sẻ vàng ngập tràn những tâm tư của Donna Tartt; Lưỡng giới lại khá dàn trải – hai điểm yếu khi những góc nhìn tác giả chiếm một phần lớn.

Văn chương Mỹ Latin năm nay cũng chiếm phần lớn trong danh sách đọc, với những tên tuổi nổi trội – Juan Rulfo, Marquéz, Carlos Fuentes và Alejo Carpetier. Như sự cộng hưởng của quá trình đọc, quá trình biến đổi nền kinh tế thảm họa của khu vực Nón phương Nam mà Naomi Klein phơi bày trong Sốc trở thành bệ đỡ chính cho những tiểu thuyết này. Vì thế với Pedro Páramo, Sự tráo trở của phương pháp hay những truyện ngắn Marquéz; ta vẫn thấy đâu đó dáng hình của chế độ độc tài, sự nổi dậy của khởi nghĩa nhân dân trong một lối viết vô cùng thân thuộc của hiện thực kỳ ảo – trào lưu được khởi đầu bởi Alejo Carpetier và được Juan Rulfo cũng như Gábriel Marquez hay Carlos Fuentes vận dụng một cách nhuần nhuyễn. Đọc văn chương Mỹ Latin ta không những hiểu được những vấn đề chính trị như trọng tâm của khuynh hướng văn học trước đó – văn học cách mạng; mà đồng thời còn là vẻ đẹp con người, thiên nhiên, phông nền văn hóa và bản sắc quốc gia. Những trải nghiệm vô cùng thú vị.

Phát hiện thú vị của năm nay (tuy trễ hơn gần thập kỉ so với thời đại) thuộc về Nhan sắc (Zadie Smith), Những nụ hôn điện ảnh (Éric Fottorio) và Nghiệt tử (Bạch Tiên Dũng). Những tưởng đây là những quyển sách đi theo lối mòn của nạn phân biệt đối xử, của cộng da màu và những lề thói xã hội, của tiểu thuyết tình yêu nhàm chán, của những con người đặc biệt long đong; nhưng không, cả ba tác giả đã tự làm khó khi quăng chính những xung đột vào trong xã hội nhiễu nhương, của những tình tiết và mối quan hệ tréo ngoe khó mà tưởng tượng nó xảy ra thật. Từng lớp từng lớp phơi bày như lớp vỏ của củ hành tây, vô cùng xứng đáng khi nói Zadie Smith như một cây viết bước ra từ củ hành tây (như thần Vệ nữ từ trong vỏ sò). Duyên dáng, thẳng thắn và phơi bày, Nhan sắc là một tiểu thuyết quan trọng như thế. Trong khi với Những nụ hôn điện ảnh, Éric Fottorio đã chứng tỏ cảm quan của mình bằng một vẻ đẹp rất La La Land. Và cuối cùng, Nghiệt tử như mở đầu câu chuyện về những con người đặc biệt trong văn chương châu Á, Bạch Tiên Dũng bằng cảm quan nhạy cảm đã mở cánh cửa của những thương đau đã từng như thế.

Bệnh nhân người Anh và lần thứ ba đọc lại vẫn đẹp đẽ trường tồn mặc sự phá nát của bản điện ảnh. Michael Ondaatje và cuốn tiểu thuyết này tỏ ra xứng đáng với double giải Man Booker danh giá, một tưởng đài khó có thể vượt qua. Giấc mơ Mỹ (Steven Millhauser) và Giữa lòng tăm tối (Joseph Conrad) như đại diện cho những ước mơ phi thường của dòng giống người, và dĩ nhiên, xuất hiện một chút không tưởng đâm ra khá thiếu thực tế.

Ở mảng trinh thám, năm nay lại là một năm thất bát với vỏn vẹn bốn cuốn tiểu thuyết: Hành khách bí ẩn (Georges Simenon), Đứa trẻ thứ 44 (Tom Rob Smith), Cú săn đêm (Samuel Bjørk) và Mùi Adam (Jean – Christophe Rufin). Georges Simenon vẫn thế, vẫn chứng tỏ mình ở mảng trinh thám xã hội. Trong khi Đứa trẻ thứ 44Cú săn đêm có cách xây dựng khá tương đồng nhau: Tom Rob Smith một cách hài hòa thêm thắt vào đó yếu tố hành động rất Mỹ; Samuel Bjørk lại bổ sung thêm yếu tố thần thoại đậm chất Bắc Âu. Nhưng việc cố tạo ra chồng chồng lớp lớp tình tiết đa góc nhìn, đảo ngược thời gian, sử dụng phương cách hòng làm rối trí người đọc; cả hai cuốn tiểu thuyết này đều để lộ ra chính cách sắp xếp trong từng bước đi. Còn với Mùi Adam, một sự thất vọng thảm hại so với những mong chờ trước đó từ tác giả của Brésil đỏ.

Ngoài ra, văn chương thiếu nhi (Con mèo trời, Wonder), thanh – thiếu niên (172 giờ trên mặt trăng, The curious charm of Aurthor Pepper) và văn học Việt Nam (Giông tố, Hai khối tình, Như núi như mây) cũng mang đến những trải nghiệm thú vị. Trong đó nổi bật hơn hết là 172 giờ trên mặt trăng – cuốn thriller fiction đã lâu mới có cảm giác hoảng sợ như thế và Con mèo trời với cách xây dựng đối ngẫu con người – đức tin tương tự Bên dòng sông Hằng vô cùng duyên dáng,… tất cả làm nên một bức tranh trọn vẹn của hành trình đọc sách năm nay.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Đọc những bài viết của Ngô Thuật Phát.


Tìm hiểu về những cuốn sách xuất hiện trong bài viết



Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Yêu thương cơn “Giận” bằng trái tim hiểu biết

Published

on

By

“Chánh niệm là ta, mà sân hận cũng là ta. Ta không nên trở thành một bãi chiến trường để hai vùng năng lượng đó đánh giặc với nhau. Đừng nên nghĩ rằng chánh niệm là chánh, là tốt, và sân hận là tà, là xấu. Đừng nên nghĩ như vậy.”

Giận là một cuốn sách chứa nhiều sắc thái yêu thương. Chúng ta thường dễ dàng yêu những điều ngọt ngào, đẹp đẽ, đầy sức sống và thương những điều chân thành, trong trẻo, bình yên. Nhưng có một sắc thái yêu thương khác thực sự không hề dễ trao tặng, nhưng nếu làm được, có lẽ con người sẽ tự thân giải thoát mình khỏi những đau khổ và giằng xé trong mọi diễn biến phức tạp của đời sống: yêu thương cơn giận và những nỗi sân hận. 

Cuốn sách là một phương pháp tu tập của thiền sư Thích Nhất Hạnh, bản gốc được viết bằng tiếng Anh và xuất bản lần đầu năm 2001. Nhưng Giận không chỉ là thực tập tâm linh. Bên trong Giận có những quan điểm triết học, nền tảng khoa học do những con người thực tập chánh niệm phát hiện ra. Cũng giống như nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, phương pháp có nền tảng là sự quan sát, ghi nhận, quán chiếu (đào sâu và phân tích hành vi) và đưa ra những kết luận đối với vận động của tâm (how mind works) thông qua việc dấn thân sâu vào mỗi giây phút thực tại của đời sống. Khi dấn thân sâu, người ta có thể nhận ra những chi tiết do tập khí của sự chú ý dẫn dắt. Đến nay, tiếng vang của tác phẩm vẫn còn nhờ vào giá trị đương thời của nó.

Cuốn sách dành cho người giận, người bị chọc giận, và hướng dẫn làm sao xử lý tàn dư sau những cơn thịnh nộ. Nhiều câu nói trong Giận có khả năng giúp người đọc tỉnh ngộ ở một mức độ nhất định khi họ đang bực bội. Nhưng có lẽ cách khai thác triệt để lợi ích của cuốn sách là vừa đọc vừa tái hiện và quán chiếu lại bên trong mình. Nghĩa là ta cần phải gợi lại dòng cảm xúc tiêu cực phát sinh trong những sự việc không như ý trong quá khứ để khai mở ra một góc nhìn mới. Và nếu muốn, tự chữa lành nó bằng tuệ giác.

Một lời khuyên hữu hiệu được Sư Ông ra sức thuyết phục xuyên suốt quyển sách, đó là những cơn giận rồi vẫn sẽ tiếp diễn, những đả kích tùy vào giới hạn sức chịu đựng của mỗi người, vẫn sẽ dẫn đến tổn thương. Chúng luôn luôn hiện diện. Nhưng bạn sẽ học được cách tiếp nhận và chuyển hóa chúng giống như bạn học cách ủ rác thành phân vậy, vì có hoa thì phải có rác, đừng sợ hãi và nhút nhát trước cơn giận.

“Tiếp xúc với đau khổ giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và nhận diện hạnh phúc khi hạnh phúc có mặt. Nếu không tiếp xúc được với đau khổ thì không biết hạnh phúc đích thực là gì.”

Chánh niệm

Khi giận, Thầy khuyên ta nên duy trì chánh niệm trên hơi thở, vừa điều tiết được cơn thịnh nộ vừa quan sát được tiến trình của cảm xúc. Thầy nói rằng phương pháp xả giận (venting) bằng cách sử dụng bạo lực (đánh, đấm, la hét vào một đồ vật chẳng hạn) là một thực hành nguy hiểm. Điều này là hoàn toàn hợp lý. Tuy vậy, nếu không hiểu rõ về chánh niệm, theo dõi hơi thở rất dễ bị nhầm lẫn thành kiểm soát hơi thở. Người đang giận mà theo dõi hơi thở trong khi chưa thực tập chánh niệm lần nào, rất dễ bị suy nghĩ bao trùm và cảm xúc chi phối. Vì thế, trong giai đoạn thuật ngữ này đang được sử dụng khá phổ biến, thì có một đối tượng khác, cũng được đề cập trong cuốn sách, có vẻ dễ hiểu và dễ thực tập nhất để học về phương pháp duy trì chánh niệm sao cho đúng với bản chất của nó:

“Ăn là một thực tập sâu sắc. Khi tôi ăn, tôi tận hưởng từng miếng ăn. Tôi ý thức rõ rệt từng miếng ăn trong miệng tôi, ý thức là tôi đang ăn. Chúng ta thực tập chánh niệm về ăn uống bằng cách ý thức rõ là ta đang nhai thức ăn. Nhai thật cẩn thận, nhai với niềm vui trong lòng, thỉnh thoảng dừng lại để nhìn những người thân, bạn bè, tăng thân đang cùng ngồi ăn. Được ngồi thảnh thơi ăn chung với nhau là một niềm vui lớn. Khi ăn trong chánh niệm chúng ta sẽ không ăn trong buồn, giận, lo lắng, không ăn những dự án tương lai.”

Thiền ăn là một hoạt động thú vị. Vì mọi người đều có thể toàn tâm toàn ý ăn sao cho ngon miệng, dù thức ăn có hợp khẩu vị, hay dù đang trong hoàn cảnh nào mà không cần hướng dẫn quá chi tiết. Nếu muốn dấn thân thật sâu sắc vào hiện tại, người tu học sẽ phát khởi thêm lòng biết ơn đối với bữa ăn để có thể trân trọng từng thìa thức ăn đưa vào miệng, quan sát từng cử động khi nhai, cảm nhận mùi vị của từng món ăn, nhận diện những thói hư tật xấu làm giảm chất lượng bữa ăn. Hay nói cách khác là Vì trân trọng, nên tôi sẽ hiện diện sâu sắc ở đây với bạn, tôi sẽ không dành năng lượng cho những việc khác. Đó là một trong những cách hiểu và thực tập về chánh niệm trực quan nhất. 

“Muốn ăn cho đúng thì nên nhai ít nhất năm mươi lần trước khi nuốt.”

Thay thế góc nhìn nhị nguyên bằng tâm từ bi và thấu hiểu

Khi theo dõi hơi thở ở một thời lượng nhất định, và nhận diện những cảm xúc đủ lâu, ý thức của ta sẽ phát hiện ra những cảm xúc, những tâm hành không nên có (sân hận, đố kỵ, nghi ngờ) và có xu hướng triệt tiêu chúng. Nhưng theo cuốn sách, nếu con người nhìn nhận những tâm hành ấy bằng tuệ giác tương tức thì sẽ có thể đối xử với chính mình và người thương bằng một cách dễ chịu hơn, bất bạo động. Cũng như tạo tiền đề để tâm từ bi nảy nở.

Tâm nhị nguyên là xu hướng gắn mác đúng-sai, trên-dưới, đẹp-xấu, thắng-thua, khởi đầu-kết thúc, ta-người đã tồn tại và cắm rễ rất sâu trong cách tư duy của con người để làm tiền đề, căn cứ cho mọi ý nghĩ và hành vi. Đạo Phật khuyên rằng, thay vì nhìn qua lăng kính nhị nguyên, hãy nhìn mọi sự vật, hiện tượng, cảm thọ là sự chuyển hóa xuất phát từ sự thay đổi, chuyển hóa của những đối tượng có liên quan, là tính tương tức, là nguyên nhân và kết quả. Được vậy thì có lẽ người ta sẽ tự xóa bỏ cho mình rất nhiều sân hận, bất an phát sinh trong đời sống.

“Pháp môn thực tập của chúng ta phải là bất bạo động. Bất bạo động chỉ có thể phát sinh từ tuệ giác bất nhị, tuệ giác tương tức. Theo tuệ giác này, tất cả mọi sự vật đều có liên hệ với nhau, và không có gì mà có thể tự nó có mặt một mình…. Chừng nào mà ta không có được tuệ giác bất nhị thì chừng đó sẽ còn bạo động, còn muốn trừng phạt, muốn đàn áp, muốn phá bỏ. Nhưng khi đã thấu triệt lẽ thật bất nhị và tương tức thì ta sẽ có thể mỉm cười với cả hoa và rác trong ta, ta có thể ôm ấp cả hai.”

Chúng ta nên làm gì khi đối phương vô tình hoặc hữu ý gây ra đau khổ cho mình? Hay chúng ta nên hành động như thế nào để phản kháng lại tha lực tiêu cực luôn dồn dập trong đời sống? 

“Một người không biết xử lý đau khổ của mình thường vung vãi đau khổ ra chung quanh”, hãy “nên giúp, không nên phạt”; tổ chức một cuộc “hội thảo hòa bình” để đưa đến “hiệp ước sống chung an lạc”; trao tặng một món quà khi giận; tri ân đối phương và viết ra tâm kinh của bản thân là một vài trong số tất cả những phương án bất bạo động thực sự nghĩa tình dành cho người mà bạn yêu quý. Thật đau lòng khi đối phương gây ra đau khổ cho bạn, nhưng bạn vẫn có quyền chọn lựa cách phản đòn sao cho nhân từ, bác ái với cả hai.

Tâm từ bi là cái tâm nhìn thấy nỗi khổ niềm đau của người khác cùng đồng thời khởi nguyện lấy đi những đau khổ ấy. Dùng tâm từ để chữa lành tâm hồn, để soi rọi sự việc, để kiên nhẫn, để tái lập truyền thông, để lắng nghe, để hàn gắn đổ vỡ. Với tâm thế đó, con người khó lòng sân hận được. 

Một dòng văn ý nghĩa nên được viết vào tâm kinh:

“Bạn biết là bạn may mắn gặp được người bạn đường, may mắn có được một người thương trong cuộc đời. Tại sao bạn lại quên đi sự thật đó? Nó ở trong tâm bạn.”

Một câu chuyện cảm động

Sư Ông nói rằng khi giận, tình yêu thương và những kí ức đẹp đẽ của người đang giận sẽ không có mặt, và họ cảm tưởng như nó chưa bao giờ thật sự có mặt. Đó là lí do vì sao khi cơn giận qua đi, người ta thường thốt lên câu “Phải chi lúc đó tôi đừng làm vậy”, và đổ thừa cho cơn giận của mình. Lúc đó, thực ra là chính họ cho phép cơn giận hoành hành bên trong lẫn bên ngoài. 

David và Angelina là câu chuyện về một người sống theo sự dẫn dắt của tập khí, anh cho rằng Angelina và những người khác cố ý xa lánh anh, không yêu thương anh. Nhưng trái tim anh quá nhỏ bé để có thể nhận ra đã từng có tình thương vô điều kiện mà mọi người dành cho anh. Còn Angelina là một cô gái yêu thương David vô điều kiện mà có lẽ trên thế giới ngày nay không còn ai sống như vậy nữa. Đến cuối cùng, Angelina vẫn trở về với David mặc cho những khổ đau mà anh đã gây ra cho cô.

Trong câu chuyện đơn giản này, độc giả sẽ phải tự hỏi khi nào bản thân mình là David mà khi nào là Angelina. Có nhiều phân cảnh để chọn lựa. Chúng ta đều đã từng là Angelina ngay từ khi sinh ra với lòng thương yêu thuần khiết. Nhưng vì không biết cách xử trí tình thương của mình, nên có những lúc chúng ta trở thành David. Hoặc chúng ta đã từng là Angelina và không chịu nổi một ai đó nên đành bỏ đi. Đến cuối cùng thì ta sẽ tự hỏi đến khi nào mới tìm được người thực sự yêu thương mình. Có nhiều người thấy bế tắc, nhiều người may mắn tìm được những người ưng ý sống yên bình đến cuối đời, nhưng cũng sẽ có nhiều người chọn sự tri túc. Sống biết đủ và biết ơn. Nếu thành công, đến một ngày nào đó ta sẽ có thể cất giọng hỏi Angelina dễ thương ngày xưa của ta giờ đang ở đâu, ta đã làm gì với sự dễ thương ấy, hoặc anh chàng David của ta giờ ra sao rồi. Đó là khoảnh khắc của sự quay đầu, của tỉnh thức và giác ngộ.

Giận - thiền sư Thích Nhất Hạnh

“Tôi cũng là một David. Tôi có nhiều Angelina trong đời mình. Trong thiền đường nhỏ của mình, tôi có một bức hình của hơn hai trăm Angelina của tôi - đó là những đệ tử của tôi tại những trung tâm thiền tập của chúng tôi tại Pháp và Mỹ. Trước khi tôi bắt đầu thiền tọa, tôi luôn luôn nhìn vào bức hình ấy và cúi lạy các Angelina của tôi. Rồi tôi ngồi xuống và nguyện sẽ sống như thế nào để cho những Angelina của tôi sẽ không bỏ tôi mà đi.

*

Giận là một cuốn sách khai mở góc nhìn. Đối với những phương pháp thay đổi cặn kẽ nhân sinh quan như Giận, bên cạnh khả năng đọc và hiểu biết, người đọc cần tạm đặt xuống tất cả những quan niệm sống mình đang theo đuổi, để có thể đón nhận triệt để cơn mưa trí tuệ mà không vi tế làm biến thể pháp môn đó. Nhưng quan trọng hơn tất cả, như Sư Ông có viết, “sự thực tập là biết rõ giới hạn của sức mình”. Nếu trái tim yêu thương của bạn chưa muốn mở lòng, bạn cảm thấy khó khăn, cảm thấy thêm u uất và chịu đựng, nghĩa là trái tim bạn chưa đủ lớn và đủ khỏe để giữ trong mình bí kíp này. Hãy thực tập chỉ khi tự thân bạn mong muốn thay đổi mà thôi, và hãy bắt đầu bằng việc tự mình thưởng thức một tách trà thật trọn vẹn.

Anh Đào

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam – Một nghiên cứu tiên phong

Published

on

By

Năm 2020 chứng kiến sự trở lại của các tác phẩm mang đậm tính lịch sử viết về Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20, khi không chỉ một mà có đến ba công ty xuất bản ra mắt cuốn Một chiến dịch ở Bắc Kỳ của bác sĩ Hocquard. Ngoài những dòng hồi ký đầy thấu hiểu cùng sự đồng cảm sâu sắc với nền văn hóa dài lâu, vẻ vang và tinh tế của người An Nam; có lẽ ít ai biết được bác sỹ Hocquard cũng chính là một nhiếp ảnh gia tài năng và vô cùng xuất sắc của nền nhiếp ảnh Việt Nam thế kỷ 19.

Và những bất ngờ ấy sẽ được tiết lộ trong tác phẩm Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam (tựa gốc Early Photograph in Vietnam) của tác giả Terry Bennett - tác phẩm đầu tiên về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam thời kì đầu viết bằng Anh ngữ. Trong tác phẩm truy nguyên về hơn 100 năm lịch sử nhiếp ảnh này, Terry Bennett bằng những nghiên cứu sâu sắc và đầy cảm hứng đã tìm về kho tư liệu khổng lồ nhưng bị phân tán rải rác khắp nơi, để đưa ra một niên biểu và những cá nhân mang đậm dấu ấn vô cùng đặc biệt của ngành khoa học – nghệ thuật còn mới chớm manh nha ở Việt Nam ngay thời kì đó.

MỘT LỊCH SỬ ĐẦY BIẾN ĐỘNG

Có thể thấy nhiếp ảnh Việt Nam gắn liền với một quá trình lịch sử dài – tham vọng bành trướng thuộc địa của Pháp trên toàn châu Á. Bắt nguồn từ những hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ thừa sai, từ đây người Pháp lún sâu vào trong can thiệp quân sự, và cũng từ đó ngành nhiếp ảnh dần dần du nhập vào nước ta, mở đầu là bởi những người ngoại quốc.

Tấm hình đầu tiên được chụp ở Việt Nam rất có thể là của nhiếp ảnh gia Jules Itier, một thanh tra hải quan, chụp pháo đài Đồn Hai vào năm 1845 ở Đà Nẵng. Ông theo một đoàn người Pháp đàm phán đòi trả tự do cho các giáo sĩ thừa sai bị bắt bớ, và với nhiệm vụ thăm dò để xây dựng cảng ở Biển Đông, chính ông cũng không thể ngờ với khoảnh khắc mạo hiểm ấy sau này mình sẽ trở thành người then chốt nhất trong lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam.

buoi dau nhiep anh viet nam - terry bennett
Hương Ký. Mẹ và con, những năm 1920, ảnh in trên giấy tráng bạc, thuộc bộ sưu tập cá nhân tác giả.

Tập trung vào trong thời kì thuộc địa, bắt đầu từ khi người Pháp bước đến năm 1850 và kết thúc vào năm 1950 khi Pháp rút khỏi Đông Dương, Terry Bennett đầy thận trọng và khách quan đã chứng minh được nhiếp ảnh của thời kì đầu không chỉ là khoa học, mà còn là nghệ thuật.

Các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp người Pháp tác nghiệp không chỉ thỏa mãn mỗi niềm đam mê, mà ở họ còn là những mục đích thương mại. Đầu năm 1863 theo chân làn sóng đổ đến Saigon làm ăn và sinh sống, kéo theo số lượng ngày càng tăng các nhà truyền giáo và nhân viên ngoại giao, từ đó số lượng hiệu ảnh thương mai cũng ngày càng tăng.

Các nhiếp ảnh gia của thời kì này cần rất nhiều yếu tố để có thể tồn tại và phát triển một hiệu ảnh độc lập. Họ cần có tài chính vững vàng mà bên cạnh đó là tài năng cũng như khả năng quảng giao, tiếp thị và óc kinh doanh nhạy bén. Sang đầu thế kỷ 20, với sự cạnh tranh vô cùng khắc nghiệt của những hiệu ảnh bản xứ, những nhiếp ảnh gia người Pháp ngày càng bị thu hẹp thị trường, và phải phụ thuộc phần nhiều vào các hoạt động buôn bán thiết bị nhiếp ảnh, hoặc thắng các gói giao thầu của chính quyền thuộc địa ưu tiên cho người Pháp.

NHỮNG ANH HÙNG CỦA LỊCH SỬ

Nếu tấm hình đầu tiên được chụp vào năm 1845 ở Đà Nẵng, thì người đầu tiên chụp hình chân dung sớm nhất tại Việt Nam với hình ảnh các chức sắc Nam Kỳ là nhiếp ảnh gia Paul-Émile Beranger. Ông cũng đồng thời là người đầu tiên chụp ảnh vùng Sài Gòn trong cuộc chuyển hướng tiến công xuống phía Nam của tướng Rigault de Genouilly trên tàu Catinat.

Ngoài những cái tên đặt nền móng đầu tiên cho nhiếp ảnh Việt Nam thì cũng không thể không nhắc đến Émile Gsell – người quan trọng và nổi bật nhất trong số các nhiếp ảnh gia ngoại quốc. Là người từng ghi hình lại những điều kỳ vĩ ở cả Việt Nam và Cao Miên, Dieulefils – gã khổng lồ của nhiếp ảnh Đông Dương cuối thế kỷ 19 cũng là một nhân vật quan trọng khác, mà tập ảnh Đông Dương xinh đẹp và kỳ vĩ đã được đón nhận vô cùng nồng nhiệt trong thời gian qua.

buoi dau nhiep anh viet nam - terry bennett anh
Émile Gsell. Ảnh tổng hợp chân dung, khoảng năm 1870, in trên giấy bạch đản, thuộc bộ sưu tập tác giả

Bác sĩ Hocquard phục vụ trong chiến tranh Pháp – Thanh cũng là người đầu tiên có đặc quyền chụp ảnh cho một vị Hoàng đế - vua Đồng Khánh. Với những tấm ảnh đạt được độ sâu cũng như tư tưởng vô cùng trân trọng các giá trị truyền thống, ông được ca ngợi là một trong những nhiếp ảnh gia xuất sắc nhất của Việt Nam thế kỷ 19, và xứng đáng được ca ngợi ở cả phương Tây lẫn Việt Nam.

Bên cạnh đó, những nhiếp ảnh gia cả chuyên nghiệp và nghiệp dư người bản xứ cũng được nhắc đến trong cuốn sách này. Hiếm có ai ngờ những tri thức như Trương Vĩnh Ký cũng có thời gian từng mở hiệu ảnh nếu như không có những nghiên cứu sâu của Terry Bennett. Bên cạnh đó, Khánh Ký – ông tổ của nghề nghiếp ảnh Việt Nam, người phái sinh và phát triển lối chụp ảnh chân dung trong nhà cũng được đề cập. Hiệu ảnh Hương Ký, cụ Nguyễn Lan Hương – người sản xuất bộ phim đầu tiên với lối chụp ảnh tối tân và luôn thay đổi mỗi năm khác nhau, cũng là một chứng nhân khác cho những con người từng làm nên một thời lịch sử của nhiếp ảnh nước nhà.

*

Buổi đầu nhiếp ảnh Việt Nam có thể nói là cuốn sách đầy thú vị và nhiều cảm hứng với những truy nguyên từ trong lịch sử. Là một nhà nghiên cứu ngoại quốc thế nhưng Terry Bennett đã làm được rất nhiều, để tìm lại về những nền nhiếp ảnh không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn Hàn Quốc và Nhật Bản. Tuy còn nhiều khó khăn trong việc định danh những nhiếp ảnh gia bản xứ và giới chuyên nghiệp người Pháp, thế nhưng có thể nói đây là một nghiên cứu vô cùng tiên phong. Và với những gì tác giả đưa ra, ta đã có cái nhìn vô cùng khách quan về bối cảnh thời đó, và những biến động trong ngành nhiếp ảnh, cũng như những người tiên phong nhất cho ngành khoa học này.

Hết.

Chiêu Dương

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Niên lịch miền gió cát: Tôi không muốn tồn tại, tôi muốn sống

Published

on

“Việc coi đất đai như một tổ hợp cộng đồng là một khái niệm cơ bản trong sinh thái học, nhưng việc coi đất đai như một thứ để yêu thương, trân trọng lại là một phần mở rộng của đạo đức.

Sự thật rằng đất đai hàm ẩn các giá trị văn hóa là một sự thật lâu đời nhưng gần đây đã rơi vào quên lãng”.

Từ thời cổ đại, nhà triết học Hy Lạp Protagore (thế kỉ V trước công nguyên) đưa ra tuyên bố nổi tiếng: “Con người là thước đo của mọi thứ”. Trong Sáng thế, loài người được ban cho quyền “thống trị” cá dưới nước và chim trên trời cùng mọi sinh vật di chuyển trên mặt đất. Đó là chưa kể đến vô số những hình thức biểu đạt khác đồng thuận với quan điểm lấy con người làm trung tâm - hơn lấy sinh thái làm trung tâm. Vậy thật sự điều đó có đúng hay không? Tôi nghĩ rằng chúng ta cần xem xét lại các mối quan hệ về sự cân bằng giữa tự nhiên với tự nhiên và tự nhiên với con người. Niên lịch miền gió cát là một cuốn sách hé lộ phần nào câu trả lời, và cũng là một cuốn sách nên đọc với những bạn quan tâm đến môi trường.

Miền gió cát: Một vùng đất tuyệt đẹp

Niên lịch miền gió cát lấy bối cảnh tại trang trại miền gió cát ở Wisconsin, đó là thế giới bình yên nhất mà con người ta có thể “Về quê nuôi cá và trồng thêm rau”. Tác phẩm được chia làm ba phần chính, phần I: Niên lịch miền gió cát những bài viết được sắp xếp theo thứ tự mười hai tháng trong năm. Từ tháng giêng tuyết tan, tháng tư mùa nước nổi, hoa cải báo xuân đến tháng tám cánh đồng xanh cỏ, tháng chín bản hợp xướng của rừng cây bụi, tháng mười hai những rặng thông tuyết và con chim bạc má mang số hiệu 65290. Thời gian nơi hạt gió cát là một chuỗi tịnh tiến của vô vàn những điều cám dỗ lòng người. Những cuộc thăm thú lãng đãng, dung dị của những ngày tuyết tan, dấu chân chồn, chim bạc má, diều hâu và cả những con chuột đồng.

Phần II: Những phác họa đó đây đi qua những đầm lầy, những lát cắt qua từng năm tháng cùng với sự thật mà người ta bắt đầu ngộ ra về mối quan hệ giữ tự nhiên với tự nhiên, tự nhiên và con người.

Phần III: Buổi yến tiệc những câu hỏi để nhìn lại về hướng đi của bảo tồn của con người liệu có đúng đắn. Tôi đã thắc mắc tại sao tên cuốn sách là vậy, cho đến khi đọc, tôi mới tỏ ra nhiều điều. Thật sự, mọi thứ trên đời đều có nguyên do và ý nghĩa của nó nếu các bạn muốn biết thì cuốn sách luôn chờ bạn khám phá.

Thế giới ở “Niên lịch miền gió cát” sinh động, chân thực như trong những chương trình “Thế giới động vật”, “Thế giới đó đây”, với những góc máy khuất, người đọc thỏa sức khám phá thiên nhiên hoang dã cùng những suy tư mà tác giả muốn chúng ta cùng ngẫm và trả lời.

Tự nhiên luôn có những cân bằng kỳ diệu

Có những tác động làm tự nhiên không còn tự nhiên nữa. “Nếu như bầy hươu sống trong nỗi kinh sợ bầy sói, thì những ngọn núi luôn sống trong nỗi khiếp đảm bầy hươu”. Con người dùng cái mác bảo tồn để bảo vệ loài này nhưng vô tình đẩy một loài khác đến bên bờ vực tuyệt chủng. “Và cũng vì thế mà chúng ta chỉ còn trơ lại các thung lũng cát và tương lai con người cứ trôi ra biển lớn theo những dòng sông cuộn chảy”. Ẩn trong hoang dã là sự cứu rỗi cho thế giới. Có lẽ đó cũng là ý nghĩa ẩn trong tiếng tru của loài sói mà núi non đã biết từ lâu nhưng người đời thì đến giờ vẫn chưa thông hiểu.

Lạm dụng việc nhân giống thú săn sẽ khiến pháp luật lên tiếng quản lí đầu vào. Việc thắt chặt quản lí thú săn sẽ làm giảm giá trị của chúng như những chiến lợi phẩm, vì giờ đây việc săn bắn chúng đã mất đi tính hoang dã nguyên sơ. Để bảo vệ con cá hồi người ta phải tiêu diệt những con diệc hay chim hồng tước… người đánh cá sẽ không cảm thấy mất mát gì trong việc đánh đổi giữa sinh mạng loài này và loài khác nhưng sự đánh đổi này lại khiến các nhà điểu học cắn móng tay điên loạn.

“Điều gì xảy ra với loài thú săn mồi khi chúng ta biến một loài thú bị săn thành một thứ lâm sản để thu hoạch? Liệu chúng ta cần các biện pháp dành cho ngoại lai? Làm cách nào để bên quản lí thiên nhiên có thể phục hồi các giống loài đang dần tiêu biến như loài gà gô, vốn đã tuyệt chủng do săn bắn?” Vô vàn những câu hỏi vì sao con người cần trả lời.

Con người thực sự muốn gì?

“Nền văn hóa thượng cổ thường gắn liền với thiên nhiên hoang dã. Do đó, loài bò rừng không chỉ là nguồn thức ăn cho người thổ dân châu Mỹ, mà còn là nguồn cảm hứng cho kiến trúc, trang phục, ngôn ngữ, nghệ thuật và tín ngưỡng của họ”.

Con người ta đâu phải lúc nào cũng quay về quá khứ được? Thời gian không bao giờ quay đầu, có chống lại nó thì nó vẫn đẩy chúng ta đi về phía trước. Đôi khi để học được một bài học chúng ta phải trả một cái giá rất đắt. Chính vì vậy, sự tiếc nuối là một điều cần thiết xảy ra với con người, chúng ta không bao giờ có thể quay ngược thời gian, cũng không biết tương lai sẽ mang đến điều gì? Những cuộc hành hương về đầm lầy, những loài chim đặc biệt chỉ xuất hiện ở hạt Miền Gió Cát bởi tự nhiên nơi đây dung chứa chúng.

Con người sinh ra không phải để đối đầu với tạo hóa, chúng ta không có răng nanh, không có móng vuốt vũ khí, chúng ta có là tư duy. Khoa học hiện đại đơm hoa kết trái và cuộc sống của con người ngày càng nhẹ nhàng hơn. Trong Sapiens: Lược sử loài người, Yuval Noah Harari đã viết: “Chúng ta đã tiến lên từ những chiếc xuồng đi sông, đến thuyền có mái chèo, đến tàu hơi nước, đến tàu con thoi - nhưng ai biết chúng ta sẽ đi tới đâu. Chúng ta mạnh mẽ hơn bao giờ hết, nhưng gần như không biết làm gì với sức mạnh đó. Tệ hơn nữa, con người dường như vô trách nhiệm hơn bao giờ hết.” Chúng ta gây nên sự hủy hoại thảm khốc cho các loài động vật, thảm thực vật và cả hệ sinh thái, chúng ta tìm kiếm cho mình cảm giác thoải mái, thư thái và tận dụng sự hiện đại nhưng chưa bao giờ thấy hài lòng. Chúng ta kiếm tìm thiên nhiên vì nó cho ta niềm vui sướng, chúng ta nghe đến “cách hành xử trong thiên nhiên”, chúng ta răn dạy giới trẻ, chúng ta in những khái niệm để treo tường, đóng đinh… mỗi người đều đang tái hiện một kịch bản thấm nhuần chất liệu đời sống hằng ngày

Hãy để một thân cây mọc lên

Ở thung lũng Genova có một bài hát “Trên mặt đất rễ cây đâm sâu, cùng sống với ngọn gió, cùng hạt giống vượt qua mùa đông, cùng chim chóc ca vang mùa xuân…”  dù sở hữu bao nhiêu quyền năng, bao nhiêu năng lực, có hiện đại, vĩ đại ra sao thì con người không thể sống và tồn tại trong thế giới không có đất, cây cối và các loài vật khác được. Con người chúng ta đang sống vì điều gì? Con người chúng ta đang chống lại điều gì? Kẻ thù lớn nhất của chúng ta là ai? Những núi rác, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, sự tận diệt của tự nhiên, một trái đất hoang tàn. Những lưỡi cưa cắt ngang thân gỗ sồi qua từng năm cùng biến động của sàn chứng khoán mà tôi tin rằng “Giả như cây gỗ sồi có nghe thấy tiếng đổ rầm của sàn chứng khoán thì những thớ gỗ cũng chẳng mảy may rung động”.

Dù muốn hay không, con người chúng ta buộc phải thừa nhận rằng, thời gian trôi qua, ai cũng sẽ lớn lên và già đi, sẽ có một ngày chúng ta tạm biệt thế giới, bỏ lại tất cả ở phía sau và biến mất mãi mãi, nhưng chính cái chết làm chúng ta biết sợ, làm chúng ta trân quý hiện tại và yêu thương cuộc sống này hơn. Vòng sinh tử của tạo hóa sẽ chẳng bỏ qua ai, cái gì cả, và tự nhiên cũng sẽ như vậy. Chúng ta thỉnh thoảng vẫn nghe đâu đó loài này tuyệt chủng, loài kia được đưa vào sách đỏ… và nghe nó như một điều lúc đầu thật khó tin nhưng sau cũng dần thấy bình thường. Nếu chúng ta không biết quý trọng tài nguyên, yêu thương mẹ thiên nhiên hơn thì đến một ngày sẽ chẳng còn trái đất để sống nữa.

Kết.

Trong những câu chuyện cổ tích, đến cuối cùng chúng ta vẫn thường nghe “Và từ đó họ sống hạnh phúc mãi về sau…”, con người chúng ta dù giàu sang hay nghèo khó thế nào thì cuối cùng điều chúng ta mong muốn vẫn là một cuộc sống hạnh phúc. Trái đất đã được thống nhất thành một khối duy nhất về sinh thái và lịch sử, nhân loại cũng tận hưởng sự tiện nghi và giàu sang chỉ có trong chuyện cổ tích nhưng liệu chúng ta có đang hạnh phúc? Thế nào mới là hạnh phúc? Hạnh phúc do đâu mà có? Liệu chúng ta có đang sống hạnh phúc hơn tổ tiên của mình ngày trước? Tự nhiên có những quy ước của nó, mọi vật cũng đều có một giới hạn, khi con người vượt qua những giới hạn đó thì sẽ phải trả giá cho hành động của mình. Làm mẹ thiên nhiên nổi giận, hậu quả con người nhận lại chưa bao giờ là dễ chịu.

Hết.

Hoàng Anh

Đọc bài viết

Cafe sáng