Phía sau trang sách

Một năm đọc sách

Âu bản tường trình này như một báo cáo cho năm vừa qua về mặt văn chương của bản thân, vì như Endo Shusaku viết, một con người – ai cũng có nhiều mặt.

Published

on

2019 là một năm tốt mặc cho cuốn đầu tiên trong tâm trí vẫn luôn muốn đọc hồi đầu năm nay là cái tên không tươi đẹp mấy – Diary of a Bad Year của J.M. Coetzee. Nhưng thật may vì năm qua là một năm thức thời. Không biết nên cám ơn nhà xuất bản hay là bản thân đã kịp “đú” trend như Tarzan đánh đu nhờ hít drama bổ sung đầy phổi suốt một năm qua. Nhìn lại list dài những cuốn sách theo chân, đắc thắng vì phần lớn là những cây viết nữ (cho hợp #MeToo), văn chương hiện thực vẫn chiếm đa số (có lẽ ảnh hưởng bởi Ký sinh trùng), Trung Quốc lại có khá nhiều (chắc lại vấn đề biên giới), ly hương chiễm chệ một chỗ (Trump cùng đồng bọn) và Mỹ Latin – dĩ nhiên vì thích Roma – vẫn còn đa số. Cũng có những cuốn không ưng gì mấy, cầm lên để xem sau rốt có nhai nổi không; có cuốn cười khẩy khi đọc, cũng có cuốn bám theo sát gót. Có cuốn đọc vì mê, có cuốn đọc để vạch lá tìm lỗi, có cuốn đọc để cộng tác, cũng có cuốn tự nhiên cầm lên vì… đọc thôi. Âu bản tường trình này như một báo cáo cho năm vừa qua về mặt văn chương của bản thân, vì như Endo Shusaku viết, một con người – ai cũng có nhiều mặt.

Theo dòng thiên di của những cánh chim không mỏi, Pachinko của Min Jin Lee mở đầu trào lưu tìm dòng của chủ đề này. Hơn 700 trang khổ 24 với câu chuyện về một gia đình lặn lội từ Bắc Hàn sang Nhật; ở đây ít nhất cuốn sách cũng đã khắc họa một cách ổn thỏa tạo hình vĩ đại của người phụ nữ, của lối ẩn dụ cuộc đời như một trò chơi; nhưng ngoài ra, Pachinko lại để rất ít không gian cho ta suy ngẫm. Cũng gần với đó, Đừng nói chúng ta không lợi quyền với cách xây dựng gần giống Pachinko, nhưng rối rắm và kết hợp nhiều mảng lĩnh vực hơn – như cuộc đọ sức quyền anh của bộ não để nhớ hết những dữ kiện trong này. Toán học, âm nhạc và văn chương như ba chân kiềng của tiểu thuyết– nhưng với riêng bản thân, thứ thích thú nhất ở tác phẩm này của Madeleine Thien là những tiến trình lịch sử. Đọc fiction như non-fiction, và bởi lịch sử luôn được viết ra bởi kẻ chiến thắng nên dưới góc nhìn của kẻ bại trận đồng thời là người đứng ngoài, ít ra Đừng nói chúng ta không lợi quyền đã cung cấp cho ta một góc nhìn phổ quát hơn về Đại cách mạng văn hóa, về vụ Thiên An Môn 1989 và mới mẻ thay, Madeleine Thien cũng tiết chế bớt những khốn khổ van xin niềm thương thường thấy của những tác phẩm văn chương Trung Quốc trong thời kì này. Nếu là một người yêu màu đỏ và không quá vướng bận khi kẹt xe, đây là cuốn sách rất đáng để thử.

Song song cùng đó, Đỗ Quyên Đỏ của Anchee Min như ngắt ra chỉ một quãng nhỏ nhưng tập trung hơn so với Đừng nói chúng ta không lợi quyền của thời kì chuyển đổi quyền lực giữa Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Không ấn tượng nhiều về phông nền lịch sử của cuốn sách này nhưng không thể không nhắc tới lối viết rất “phụ nữ” của Anchee Min – cuồng nhiệt và hoang dã. Cũng cùng sức bức phá đó, đối thủ bại trận “không rõ lý do” của cuộc đua Nobel năm nay – Tàn Tuyết, góp mặt vào danh sách bằng hai cuốn – Đào nguyên ngoài cõi thếBảng lảng trời xanh. Thật ra là lần thứ hai đọc lại và ở lần này lại ngẫm ra nhiều ý tưởng hơn về lối viết của bà. Không hiểu liệu có phải do tác động trước đó của hai cây viết nữ (Min Jin Lee và Madeleine Thien) cùng lối viết hoang dại của Anchee Min không mà lần đọc lại Tàn Tuyết này không quá khó khăn. Đọc rồi để hiểu, thật ra văn chương của bà không phải làm quá – nó chỉ đơn thuần phản ánh những việc rất cá nhân, và do lẽ đó, rất thiết thực. Dưới góc nhìn phân tán của một chiếc kính vạn hoa, một khi không hiểu những gì ẩn chứa đằng sau tầng tầng lớp lớp chữ nghĩa thì bùm – bạn sẽ chìm vào vũng tuyết mà bà phô ra. Tàn Tuyết là như thế, cô độc và đẹp đẽ. Văn chương bà thô mộc nhưng mạnh mẽ, bạo lực trong nền phi bạo lực và cũng có lẽ vì thiếu đi những họa tiết dễ cảm của Murakami, thành ra vẫn vô danh nằm phủ bụi trên những kệ sách Việt Nam.

Năm cuốn sách tiếp theo, hai trong số đó là những phát hiện mới và ba quyển còn lại thật sự là những trải nghiệm rất tiếc khi phải nói là không quá tốt đẹp. Giải thưởng luôn được show ra như cách tri ân bản thân tác giả – tác phẩm, là cách PR bán hàng vô cùng hiệu nghiệm, và dĩ nhiên, cũng là cách lấy đi thời gian của những con bò ngáo ngơ thích thể nghiệm bản thân – như mình. Vì quá yêu Bệnh nhân người Anh hay Margaret Atwood nên khi nhìn thấy cái nhãn Shortlist của Man Booker, bản thân đã không ngần ngại đặt lên để rồi nhận ra dư vị đắng ngắt đằng sau. Thoát đến phương Tây (Exit West) của Mohsin Hamid không phải là cuốn sách tệ, vốn bản thân cốt truyện trong phông nền chiến sự Trung Đông không phải là không thu hút người đọc nhưng với cách phát triển tình tiết, gợi tạo nút thắt để đến cuối cùng khép lại bằng một cái kết không đâu vào đâu thì rõ ràng, nếu để hỏi đâu là cuốn sách “đầu voi đuôi chuột” nhất của năm nay, thì mình sẽ không ngần ngại (mặc dù cũng khá áy náy) trao cho quyển sách này. Á hậu 2, xin mạn phép trao cho Chiếc cặp của Hiromi Kawakami với chiếc nhãn giải thưởng Tanizaki. Đọc hết cuốn tiểu thuyết này mình chỉ có một mong muốn tột bậc là được ngồi cùng hai nhân vật chính để phá tan đội hình tuyệt diệu. Một câu chuyện bình thường dễ đoán của những con người không bình thường, và dĩ nhiên, nó là như thế. Nhẹ nhàng: có; nút thắt: có; cách giải quyết: tương tự Exit West; và nếu bạn là một đọc giả nữ, là người ưa nhẹ nhàng với những câu chuyện thơ mộng, thì vâng, rất hân hạnh để giới thiệu đến bạn Chiếc cặp. Nhưng với một thằng năm nay đã 23 ngấp mé 24, thì vâng, đây là một nỗ lực phi thường!

Cuốn thứ ba, không hay cũng không tệ, nội dung không mới nhưng cách viết khá ổn là Người đẹp say ngủ của Kawabata Yasunari. Có lẽ thành kiến ở việc quá lạm dụng cái chết của văn hóa Nhật đâm ra phần lớn văn chương Nhật thường khiến mình khá dè dặt khi chọn đọc. Với một đứa tâm hồn mỏng manh và hơn 70% cơ thể là nước như mình cùng những lý do không đáng để chết; Người đẹp say ngủ đành thoái lui ở vị trí này, mặc dầu ý nghĩa đằng sau và cách viết của cụ Kawabata rất đáng trải nghiệm. Và với hai trải nghiệm không như mong muốn ấy, khi cầm lên Bên dòng sông Hằng của Endo Shusaku đã khiến cho mình một phút phân vân, nhưng thây kệ, vì công sức của dịch giả yêu quý văn học Nhật (bác Nguyễn Văn Thực) cũng như trót thích Ấn Độ (vì Mùa tôm hay Cân bằng mong manh) thì thôi cũng liều mình, đi vào con đường giáo mác dao găm. Bên dòng sông Hằng đơn giản và dễ đọc hơn Silence (bác Thực từng dịch với tựa Sao Chúa lặng im và dĩ nhiên, vì vài lý do cao đẹp vẫn chưa và có lẽ sẽ không bao giờ được xuất hiện), vẫn chứa những chủ đề mà Endo Shusaku rất hay khai thác trong tác phẩm mình – những xung đột hạn chế, những tư duy hữu cựu và tác động của chúng. Cuốn tiểu thuyết này thoát khỏi những chủ đề sáo mòn, màu sắc u tối của văn chương đương đại Nhật trong kệ sách của mình; thoát ý và đến gần hơn với cách xây dựng văn chương phương Tây, và cũng có lẽ vì thế, Bên dòng sông Hằng là một phát hiện thú vị – không những ở mặt nguồn gốc mà còn là một tác giả vô cùng quan trọng sau này.

Theo sát Bên dòng sông HằngCông chúa Bari của Hwang Sok-Young. Sau một năm khá dài tạm rời xa văn học Hàn Quốc (2017 chỉ có Ở đâu đó có điện thoại gọi tôi, 2018 là Bảy năm bóng tối và 2019 là quả bom xịt của bộ phim chuyển thể), nay mới có dịp cầm trên tay cuốn văn chương của xứ sở này. Văn chương Hàn Quốc và Nhật Bản có màu sắc khá tương đồng nhau; nhưng Hàn Quốc cụ thể, tỏ tường và không u sầu đến mức cực đoan như Nhật, và vì thế Hàn vẫn luôn là một lựa chọn ưu tiên của riêng bản thân mình. Nếu cuốn trước của Endo Shusaku mình từng e ngại vì nguồn gốc xuất thân, thì Công chúa Bari là bởi cái tên … khá củ chuối, nhưng khi chạm vào rồi lại rất khó vượt qua. Công chúa Bari sở hữu trong mình một câu chuyện không bao giờ cũ và một hành trình không bao giờ hết – đi tìm bản chất của người trong một phông nền đậm chất Bắc Hàn. Cuốn sách như áng sử thi dong buồm về câu hỏi lớn, cực ấn tượng và rất hoài nghi. Nếu để tìm một cuốn sách Hàn Quốc thoát khỏi phong trào Dân chủ, phong trào sinh viên, thì đây – Công chúa Bari rất đáng để thử.

*

Ở mảng non-fiction năm nay tạm hài lòng với 4 cuốn sách: Ngàn năm một tiếng thở dài, Sốc – Sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản thảm họa, Kẻ ly hương và bản đọc lại của Nào tối nay ăn gì. Bốn cuốn sách là bốn chủ đề khác nhau, nhưng tựu hình chung đều là những vấn đề thời đại lý thú. Ngàn năm một tiếng thở dài nói đơn giản là một cuốn du ký, nhưng khác ở đây là du ký về miền quá vãng, về quãng dài lịch sử đã qua. Bạn sẽ không tìm thấy những miền đất xinh đẹp trong này, những câu chuyện trải nghiệm thú vị ở đây; nhưng ở đó tràn ngập tiếng thở dài của những vĩ đại đã từng, cảnh đẹp đã qua trong ngòi bút cô đọng của nhà nghiên cứu văn hóa Dư Thu Vũ. Một cuốn sách rất đáng để đọc, để biết những thế hệ trước loài người đã từng vĩ đại đến mức độ nào và dĩ nhiên, cũng từng manh mún ra sao; như thể Kẻ ly hương sừng sững đứng đó như chứng nhân cho tính chất này của xã hội loài người. Tập tiểu luận với 17 bài viết của những cây viết tha hương, và nhờ sự đa dạng của ngọn nguồn câu chuyện và các phông nền văn hóa ít nhiều đã cung cấp cho ta góc nhìn của người trong cuộc về những câu chuyện xung quanh trên thế giới này, từng ngày, từng giờ; khắc phục cách nhìn duy nhất và khá văn chương của Người tị nạn trước đó; cuốn sách thức thời và khá lý thú.

Sốc – Sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản thảm họaNào tối nay ăn gì – Thế lưỡng nan của loài ăn tạp là hai quyển sách nghiên cứu xã hội vô cùng cuốn hút, đầy đủ. Nếu Sốc gắn liệu pháp trị liệu sốc điện những năm 50 vào cơn trỗi dậy của thị trường thương mại tự do tháo xích, thì Nào tối nay ăn gì như cuộc phiêu lưu từ cánh đồng ngô đến chuỗi thực phẩm cuối cùng; từ đây cho thấy hiện trạng của ngành công nghiệp thực phẩm, thói quen ăn uống của con người, sự độc chiếm của loài ngô hay mẫu số chung của những xung đột chính trị trong lịch sử. Ta sẽ gặp lại Margaret Thatcher với trận chiến Falkland, Pinochet với thời gian cầm quyền của chế độc độc tài Chile, hậu cơn bão Katrina quét sạch sành sanh ban New Orleans, chính quyền Bush và chiến tranh Afganistan, Đặng Tiểu Bình và sự kiện năm 1989,… Tất cả được Naomi Klein lý giải dước góc nhìn kinh tế, và mỗi chúng ta sẽ nhận ra những sự thật vẫn đang chôn giấu trong từng cuối hồi ký, từng bài phục dựng. Một cách nhìn sâu hơn vào thế giới vẫn đang vận hành.

Ở mảng văn chương phương Tây, không hiểu do trùng hợp hay một lý do nào đó mà sự xoay trục vào văn chương Đông Âu năm nay lại trùng đúng vào khu vực của giải Nobel văn chương vừa qua. Đọc Dưới cánh thiên thần rượu của Jerzy Pilch trong cơn chuếnh choáng một ngày chia tay vì tình, và cứ thế nó đến. Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Ba Lan này có một thời lượng không lớn, nhưng chứa trong nó là cả vấn đề thời đại, từng câu từng chữ dường như chưa bao giờ thừa thãi. Nếu đọc cuốn sách chưa đến 200 trang này một cách tập trung cao độ và thật đồng cảm, bạn sẽ quote ra được hàng tá câu văn ngập tràn sổ tay về những luân lí của ông trong này. Một tên tuổi lớn mà chỉ giải Nike 2001 thôi không bao giờ đủ.

Trẻ hơn Jerzy Pilch nhưng độ biếng nhác và tầng sâu những lớp ý nghĩa không hề thua kém là Ngoài vùng phủ sóng của Marta Dzido. Người trẻ thị thành – những con sâu biếng lười còn bò lòm ngòm trên sân chơi cuộc đời, những kẻ mộng mơ muốn tìm cái chết; chắc hẳn sẽ là những đọc giả trung thành của cô trong tác phẩm này. Một tiểu thuyết biếng nhác (rất mỏng) cho những con người biếng nhác (những ai vẫn muốn tìm lại phương hướng). Rất ổn. Cùng đó là việc đọc lại Cánh cửa của Szabó Magda – một việc dằn xé lương tâm trong cơn thỏa mãn vì cây viết Hungari vô cùng cuốn hút này. Cuốn tiểu thuyết hay và sẽ không ngừng khiến mình đọc đi đọc lại, bên cạnh Doris Lessing và Jack Kerouac đành trễ hẹn năm nay.

Con sẻ vàng, Những người nuôi giữ bồ câu, Nửa mặt trời vàngLưỡng giới là bốn cuốn tiểu thuyết với thời lượng khủng mình đã gặm nhắm trong một năm vừa qua. Bốn cuốn sách với một điểm chung đều là phương tiện cho cuộc hành trình tìm lại bản thân, nguồn gốc, bản lai diện mục. Có cuốn dữ dội về mặt tâm tư (Con sẻ vàng, Lưỡng giới); có cuốn dậy sóng ở mặt phông nền; nhưng nhìn chung đều là những tiểu thuyết quan trọng. Những người nuôi giữ bồ câu viết về cuộc tàn sát người Do thái của quân La Mã, Nửa mặt trời vàng về cuộc nội chiến Biafra; và đây dường như là hai yếu tố góp phần làm nên thành công, là sự thú vị của tác phẩm này. Trong khi đó, Con sẻ vàng ngập tràn những tâm tư của Donna Tartt; Lưỡng giới lại khá dàn trải – hai điểm yếu khi những góc nhìn tác giả chiếm một phần lớn.

Văn chương Mỹ Latin năm nay cũng chiếm phần lớn trong danh sách đọc, với những tên tuổi nổi trội – Juan Rulfo, Marquéz, Carlos Fuentes và Alejo Carpetier. Như sự cộng hưởng của quá trình đọc, quá trình biến đổi nền kinh tế thảm họa của khu vực Nón phương Nam mà Naomi Klein phơi bày trong Sốc trở thành bệ đỡ chính cho những tiểu thuyết này. Vì thế với Pedro Páramo, Sự tráo trở của phương pháp hay những truyện ngắn Marquéz; ta vẫn thấy đâu đó dáng hình của chế độ độc tài, sự nổi dậy của khởi nghĩa nhân dân trong một lối viết vô cùng thân thuộc của hiện thực kỳ ảo – trào lưu được khởi đầu bởi Alejo Carpetier và được Juan Rulfo cũng như Gábriel Marquez hay Carlos Fuentes vận dụng một cách nhuần nhuyễn. Đọc văn chương Mỹ Latin ta không những hiểu được những vấn đề chính trị như trọng tâm của khuynh hướng văn học trước đó – văn học cách mạng; mà đồng thời còn là vẻ đẹp con người, thiên nhiên, phông nền văn hóa và bản sắc quốc gia. Những trải nghiệm vô cùng thú vị.

Phát hiện thú vị của năm nay (tuy trễ hơn gần thập kỉ so với thời đại) thuộc về Nhan sắc (Zadie Smith), Những nụ hôn điện ảnh (Éric Fottorio) và Nghiệt tử (Bạch Tiên Dũng). Những tưởng đây là những quyển sách đi theo lối mòn của nạn phân biệt đối xử, của cộng da màu và những lề thói xã hội, của tiểu thuyết tình yêu nhàm chán, của những con người đặc biệt long đong; nhưng không, cả ba tác giả đã tự làm khó khi quăng chính những xung đột vào trong xã hội nhiễu nhương, của những tình tiết và mối quan hệ tréo ngoe khó mà tưởng tượng nó xảy ra thật. Từng lớp từng lớp phơi bày như lớp vỏ của củ hành tây, vô cùng xứng đáng khi nói Zadie Smith như một cây viết bước ra từ củ hành tây (như thần Vệ nữ từ trong vỏ sò). Duyên dáng, thẳng thắn và phơi bày, Nhan sắc là một tiểu thuyết quan trọng như thế. Trong khi với Những nụ hôn điện ảnh, Éric Fottorio đã chứng tỏ cảm quan của mình bằng một vẻ đẹp rất La La Land. Và cuối cùng, Nghiệt tử như mở đầu câu chuyện về những con người đặc biệt trong văn chương châu Á, Bạch Tiên Dũng bằng cảm quan nhạy cảm đã mở cánh cửa của những thương đau đã từng như thế.

Bệnh nhân người Anh và lần thứ ba đọc lại vẫn đẹp đẽ trường tồn mặc sự phá nát của bản điện ảnh. Michael Ondaatje và cuốn tiểu thuyết này tỏ ra xứng đáng với double giải Man Booker danh giá, một tưởng đài khó có thể vượt qua. Giấc mơ Mỹ (Steven Millhauser) và Giữa lòng tăm tối (Joseph Conrad) như đại diện cho những ước mơ phi thường của dòng giống người, và dĩ nhiên, xuất hiện một chút không tưởng đâm ra khá thiếu thực tế.

Ở mảng trinh thám, năm nay lại là một năm thất bát với vỏn vẹn bốn cuốn tiểu thuyết: Hành khách bí ẩn (Georges Simenon), Đứa trẻ thứ 44 (Tom Rob Smith), Cú săn đêm (Samuel Bjørk) và Mùi Adam (Jean – Christophe Rufin). Georges Simenon vẫn thế, vẫn chứng tỏ mình ở mảng trinh thám xã hội. Trong khi Đứa trẻ thứ 44Cú săn đêm có cách xây dựng khá tương đồng nhau: Tom Rob Smith một cách hài hòa thêm thắt vào đó yếu tố hành động rất Mỹ; Samuel Bjørk lại bổ sung thêm yếu tố thần thoại đậm chất Bắc Âu. Nhưng việc cố tạo ra chồng chồng lớp lớp tình tiết đa góc nhìn, đảo ngược thời gian, sử dụng phương cách hòng làm rối trí người đọc; cả hai cuốn tiểu thuyết này đều để lộ ra chính cách sắp xếp trong từng bước đi. Còn với Mùi Adam, một sự thất vọng thảm hại so với những mong chờ trước đó từ tác giả của Brésil đỏ.

Ngoài ra, văn chương thiếu nhi (Con mèo trời, Wonder), thanh – thiếu niên (172 giờ trên mặt trăng, The curious charm of Aurthor Pepper) và văn học Việt Nam (Giông tố, Hai khối tình, Như núi như mây) cũng mang đến những trải nghiệm thú vị. Trong đó nổi bật hơn hết là 172 giờ trên mặt trăng – cuốn thriller fiction đã lâu mới có cảm giác hoảng sợ như thế và Con mèo trời với cách xây dựng đối ngẫu con người – đức tin tương tự Bên dòng sông Hằng vô cùng duyên dáng,… tất cả làm nên một bức tranh trọn vẹn của hành trình đọc sách năm nay.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Đọc những bài viết của Ngô Thuật Phát.


Tìm hiểu về những cuốn sách xuất hiện trong bài viết



Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Sự bất tử

Published

on

Tôi mất một năm để dịch xong cuốn sách ấy và nhiều năm sau để tiếp tục suy nghĩ về từng thông điệp mình đã nhận được.

Thậm chí lúc gõ ra những từ này, tôi vẫn chưa thực sự hiểu anh, Louis. Và đó là khoảng cuối năm 2018. Sau 3 năm, có lẽ bây giờ tôi đã gần điểm chạm hơn một chút.

Ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice hiếm khi chết do tác động ngoại cảnh, mà thường là tự kết liễu. Họ tồn tại hàng trăm năm, chứng kiến thế giới lột áo mới hết lần này đến lần khác. Giá trị văn hoá cũ mai một, giá trị tư tưởng cũ bị cười cợt. Gia đình, bạn bè lần lượt qua đời và sau đó là cả một thời đại xuống mồ. Những cỗ xe ngựa bị ô tô thay thế; đèn khí biến mất và đèn cao áp xuất hiện; những toà nhà lai tạp kiến trúc Pháp, Tây Ban Nha và Mỹ mọc lên trên khắp nẻo đường New Orleans.

Ma cà rồng trở thành những linh hồn già cỗi và thủ cựu, đầu óc chai sần vì phải nếm trải quá nhiều sự tàn độc từ chính mình lẫn loài người. Tình yêu nói riêng, cảm xúc nói chung đều chẳng có nghĩa lý gì cả. Con người không bất tử. Và cũng chẳng ma cà rồng nào chịu đựng được đồng loại cho đến ngày tàn của vũ trụ.

Tranh Vanitas Still Life with a Tulip, Skull and Hour-Glass của Champaigne, Philippe de

Tại sao phải hiểu cho nhau nếu ta còn hàng trăm ngàn năm để nhìn vào mâu thuẫn? Nếu không có sự chết thì lòng vị tha hay đạo đức đều chỉ là triết lý giẻ rách. Chẳng có gì là hiện sinh hay vị lai trong cuộc đời vô tận. Mọi giá trị vật chất chỉ là nắm đất mớ cát bởi không có khao khát hay dục vọng nào để trao đổi. Kiến thức tích lũy vài thế kỷ cũng là đồ bỏ khi mất đi mục đích sống. Ở đó, chỉ còn hư vô.

Có một tác giả cho rằng, mọi ma cà rồng đều tồn tại với tư tưởng của Friedrich Nietzsche, bởi vì họ bất tử và họ muốn trở nên bất bại. Nhưng tôi không đồng ý. Có thể ma cà rồng trong thế giới của Anne Rice tồn tại với tư tưởng Nietzsche thật, nhưng đó là vì: “One has to take a somewhat bold and dangerous line with this existence: especially as, whatever happens, we are bound to lose it.” – (Nietzsche viết trong Untimely Meditations)

Sự sống đáng giá là bởi chúng ta có thể mất nó, bất cứ khi nào. Trong sự bất tử không có yếu tố then chốt này.

Vậy nên kết cục cho họ luôn luôn là như thế – như ma cà rồng Armand từ từ tiến về phía dòng sông và biến mất tựa phù du. Sự bất tử là hình phạt nặng nề nhất, bởi món quà đính kèm chính là trạng thái hữu tri vô giác, chỉ còn lại đúng một nỗi cô độc khủng khiếp như hố đen nuốt chửng những sinh vật này cho đến lúc lụi tàn.

Tôi đã lần hồi dò lại trong mỗi chương tiểu thuyết mình từng đi qua để chạm được vào tiềm thức của anh, Louis. Và chặng đường ấy diễn ra như thế này.

“Những người từng đến với New Orleans đều để lại nơi đây dấu ấn khó phai nhòa. Một số công trình kiến trúc bằng gạch, đá và cẩm thạch của thành phố xưa vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Ngay cả khi những ngọn đèn khí bị đèn điện thay thế, những chiếc máy bay xuất hiện và những tòa nhà chọc trời mọc lên chật kín đường Canal, vẻ đẹp một thời vang bóng của New Orleans vẫn còn đó. Tất nhiên, không phải con đường nào cũng còn dấu ấn cổ xưa. Nhưng đối với ta, mảnh đất đó luôn là New Orleans của trăm năm về trước. Mỗi lần dạo bước trên những con đường đêm đầy ánh sao của Quận Garden, ta lại thấy như thời gian chưa bao giờ trôi đi. Có lẽ đó là bản chất của cái gọi là di tích. Những dấu ấn để lại, bất kể chỉ là một ngôi nhà nhỏ hay một tòa lâu đài với những cột trụ Corinth khổng lồ và những mảng hoa văn tinh tế bằng sắt rèn, đều có thể khiến chúng ta có cảm giác như quá khứ vẫn đang tiếp tục chảy trôi trong thì hiện tại. Mặt trăng hôm nay vẫn rọi sáng bầu trời New Orleans như mặt trăng năm xưa. Chỉ cần những dấu tích đừng biến mất thì cảm xúc trong ta sẽ không thay đổi.”

2

"Ta sẽ đặt cuốn sách xuống và nhìn ra ngoài cửa sổ, cảm nhận từng nhịp đẩy đưa của đại dương, ngắm muôn vì tinh tú sáng rõ hơn trên đất liền nhiều lần đang sà xuống để chạm lên những con sóng. Khi ta đang ngồi một mình trong cabin tăm tối, dường như bầu trời đã hạ xuống để gặp đại dương và những bí mật lớn đã được tiết lộ trong cuộc hội ngộ đó, những hố sâu thăm thẳm sẽ vĩnh viễn khép lại một cách diệu kỳ. Nhưng khi trời và biển vẫn chưa phân biệt rạch ròi, cũng như khi trần gian còn trong thuở hỗn mang, ai đã tiết lộ bí mật vĩ đại đó? Chúa ư? Hay là Satan? Ta bỗng nghĩ đến niềm an ủi vĩ đại khi được gặp Satan, được nhìn thẳng lên khuôn mặt ngài, không cần biết khuôn mặt đó kinh dị tới mức nào. Nếu được biết mình hoàn toàn thuộc về ngài, ta sẽ được an ủi và giải thoát khỏi nỗi thống khổ vì sự ngu dốt của bản thân. Rồi ta có thể vén lên những bức màn đã chia cắt ta vĩnh viễn với cái gọi là nhân loại.

Ta cảm thấy con tàu đang tiến đến ngày một gần với bí mật đó. Bầu trời dường như không có điểm kết thúc, nó bao trùm lấy ta bằng vẻ đẹp huy hoàng và sự tĩnh lặng không cùng. Nhưng từ giải thoát nhanh chóng biến thành cơn ác mộng trong ta. Bởi làm gì có sự giải thoát nào cho kẻ đã bị nguyền rủa vĩnh viễn, làm gì có sự giải thoát nào. Ta tự hỏi nỗi đau khổ này có thể so sánh với những ngọn lửa vĩnh cửu của địa ngục hay không? Những con sóng cuồn cuộn dưới muôn vì tinh tú vĩnh hằng kia thì liên quan gì tới Satan? Khi chúng ta còn thơ dại, cảnh tượng hùng vĩ ấy chẳng có nghĩa lý gì bởi chúng ta còn đang mải mê vật lộn với những khát vọng cuồng điên khác. Khi ấy, chúng ta hiếm khi coi sự bình yên là điều đáng mơ ước: những thiên thần tối cao vĩnh viễn ngước nhìn lên khuôn mặt Chúa Trời và vẻ mặt ngài vĩnh viễn thanh thản. Trong quyền năng của ngài, chiếc nôi đại dương dịu dàng này chẳng qua chỉ là một lời hứa nhỏ nhoi mà thôi.

Nhưng ngay cả trong giây phút này, khi con tàu đang ngủ và cả trần gian đều đang say ngủ, những nghĩ suy về thiên đàng và địa ngục không còn là nỗi đọa đày của ta nữa. Nó đã trở thành hiểu biết, thành niềm tin, cả hai điều đó hoặc chỉ một trong hai thôi… có lẽ là sự cứu chuộc duy nhất mà ta dám mơ ước."

3

“Tôi không biết là một đứa con lại có quyền giải phóng cho cha mẹ nó. Tôi không biết là mình có thể không gắn bó với cô bé nữa, cho đến chừng nào… Ta ngừng lời. Ta đã định nói: Cho đến chừng nào cô bé vẫn còn sống trên đời. Nhưng ta nhận ra đó là một tuyên bố phàm tục vô nghĩa. Cô bé sẽ sống vĩnh viễn, cũng như ta vậy. Nhưng chẳng phải bất kỳ người cha nào trên đời này cũng phải trải nghiệm điều đó sao? Con gái họ sẽ sống vĩnh viễn vì họ sẽ là người chết trước. Đột nhiên ta bị mất phương hướng."

“‘Claudia là cả một thời đại đối với anh, một thời đại của cuộc đời anh. Nếu anh rời xa cô bé, anh sẽ rời xa người duy nhất còn sống đã cùng anh bước qua thời đại đó. Anh sẽ hoảng sợ trước sự cô độc, gánh nặng và phạm vi không thể đo đếm được của cuộc sống vĩnh hằng.’

‘Đúng, đó là sự thật, nhưng đó chỉ là một phần nhỏ của lý do mà thôi. Thời đại – điều này vốn không nghĩa lý gì lắm với tôi. Quả thực Claudia đã mang lại cho nó những ý nghĩa nhất định. Nhưng những ma cà rồng khác cũng đã trải nghiệm và sống sót qua quãng thời gian kéo dài hàng trăm thời đại đó rồi.

Nhưng họ không hề sống sót,’ Armand nói. ‘Thế giới này sẽ tràn ngập ma cà rồng nếu họ thực sự sống sót được. Anh nghĩ bằng cách nào mà tôi đã trở thành ma cà rồng già nhất ở đây cũng như trên khắp thế gian này?’

Ta ngẫm nghĩ về điều đó rồi đánh bạo nói, ‘Những ma cà rồng khác đã bị giết?’

‘Không, gần như là không bao giờ. Việc đó không cần thiết. Anh nghĩ có bao nhiêu ma cà rồng đủ sức chịu đựng sự bất tử? Không sớm thì muộn, họ sẽ bắt đầu có những ý niệm ảm đạm về cái giá phải trả cho cuộc sống vĩnh hằng. Trên con đường bất tử, họ muốn mọi thứ cũ trong đời họ vẫn phải được bảo toàn và không thể bị hủ hóa: những cỗ xe ngựa phải có thiết kế mà họ tin cậy, quần áo phải được cắt đo theo đúng tiêu chuẩn xưa cũ của họ, những người đàn ông phải ăn mặc cũng như trò chuyện theo đúng kiểu cách mà họ vẫn luôn hiểu và kính trọng. Khi mà, trên thực tế, mọi thứ đều thay đổi thì chỉ có ma cà rồng là vẫn như cũ. Mọi thứ đều thay đổi, chỉ có ma cà rồng là thực thể duy nhất vẫn mãi mục nát và méo mó. Chẳng mấy chốc, với một tâm trí không linh hoạt và kể cả với tâm trí linh hoạt nhất, sự bất tử này sẽ trở thành hình phạt ăn năn trong nhà thương điên của những hình hài vô cùng khó hiểu và vô giá trị. Trong đêm, một ma cà rồng sẽ thức dậy và nhận ra điều mình đã khiếp sợ có lẽ là trong hàng thập kỷ qua là gì. Hắn đơn giản là không cần cuộc sống này nữa, dù là với bất kỳ cái giá nào. Mọi nét đặc trưng, kiểu cách và dáng hình đã từng khiến sự bất tử hấp dẫn trong mắt hắn đều sẽ bị quét sạch khỏi mặt đất. Và không còn gì ở lại để giúp hắn thoát được khỏi cảm giác tuyệt vọng ngoài trừ việc giết chóc. Và ma cà rồng đó sẽ chết. Không ai sẽ đi tìm hài cốt của hắn. Không ai biết được hắn đã đi đâu. Và thường thì cũng không còn ai bên cạnh hắn – lẽ ra hắn vẫn nên tìm kiếm trong số các ma cà rồng khác một bạn đồng hành. Không ai biết được là hắn đang chìm trong tuyệt vọng. Hắn đã chấm dứt việc nói từ rất lâu rồi, cho dù là về bản thân hắn hay về bất cứ ai. Hắn sẽ biến mất.'”

Vậy mà sau câu chuyện rất dài, rất u tối, rất chi tiết (thậm chí quá chi tiết) của anh, khẩn cầu duy nhất của tay phóng viên vẫn là: “Xin hãy cho tôi một cơ hội trở thành ma cà rồng.”

Thật đáng buồn phải không, Louis?

Hải Âu

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đôi mắt trũng sâu và những tiên đoán kỳ lạ

Published

on

By

Trước khi Stephen King được khai thác bản quyền ồ ạt như hiện nay, thì một trong những “tiểu thuyết gia ly kỳ nổi tiếng” nổi tiếng nhất ở Việt Nam không ai khác ngoài Dean Koontz. Với hàng loạt tựa sách từ trinh thám đến kinh dị, dù là phái sinh từ cốt truyện có sẵn như Frankenstein hay tác phẩm hư cấu hoàn toàn mới, Koontz đều tạo nên dấu ấn bởi cốt truyện mới lạ, thu hút. Trong đó Đôi mắt trũng sâu gần đây được giới đọc sách quan tâm trở lại bởi có tính tiên tri kỳ lạ. 

Tiểu thuyết là câu chuyện xoay quanh hành trình tìm con của Tina Evans khi cô nhận được những dấu hiệu kì lạ. Đó là tấm bảng đề hai chữ CHƯA CHẾT, những giấc mơ bí ẩn, hay sự chuyển động đột ngột của các luồng khí… mà tất cả đều quy về Danny – con trai cô – vốn đã qua đời với thể xác biến dạng đến nỗi không còn nhận diện được trong lần thực hiện chuyến điền dã nơi vùng núi sâu. Đứng trước những hiện tượng có phần “siêu nhiên”, Tina tin vào bản năng người mẹ và tìm cách giải cứu cậu bé, nhưng cô không bao giờ ngờ tới việc đang vướng vào một hệ thống rộng lớn hơn với các âm mưu quyền lực quốc tế.

Như Dean Koontz thừa nhận, Đôi mắt trũng sâu là một phép thử khi ông pha trộn nhiều thể loại trong tiểu thuyết: hành động, hồi hộp, lãng mạn và đôi chút huyền bí. Do đó, phần lớn nội dung tác phẩm không có tính dữ dội bùng phát, cũng không đủ thời lượng khắc họa chiều sâu; thêm nữa là sự phức tạp trong chủ đề đã được tối giản cũng như độ căng đã được nới lỏng. Tuy nhiên, chính những yếu tố đó lại khiến cuốn sách này không chỉ là một tác phẩm trinh thám – kinh dị thông thường khi khai thác được rất nhiều góc khuất, từ sự mất mát cá nhân cho đến lớn hơn là các vấn đề địa chính trị thế giới.

Tác phẩm có kết cấu như tàu lượn siêu tốc khi Koontz rất tập trung khai thác hạ tầng cơ sở. Thay vì viết theo kiểu “dọa ma” thông thường, ông cố gắng làm rõ chi tiết để tác phẩm có giá trị, không rẻ tiền, mà ngược lại vô cùng hợp lý. Đó là cách khai thác tâm lý tế vi, qua những mô tả về cơn sang chấn hậu tang lễ mà Tina gặp phải, song song với mặc cảm tội lỗi là nỗi cay đắng cùng quyết tâm dứt khoát muốn quên đi quá khứ đau buồn. Thế nhưng, cái chấp niệm Danny còn sống luôn dày vò cô, một biểu hiện cụ thể là việc thường xuyên nhìn thấy hình ảnh cậu bé trong những khuôn mặt khác. Koontz cũng đồng thời khắc họa bi kịch gia đình – vốn là nguồn cơn cũng như áp lực đổ hết lên đầu phụ nữ.      

Dean Koontz | Ảnh: Rick Loomis

Tính lãng mạn cũng được tác giả khai thác khéo léo, khi xây dựng thân phận cựu điệp viên cho Elliot, hình tượng này gợi nhớ nhiều đến loạt truyện James Bond của Ian Fleming. Vẫn là motif người đàn ông hào hoa và mối tình cùng những giai nhân; kèm theo đó là các pha hành động kịch tích kích thích adrenaline – để làm được điều này, Koontz tạo ra một thế lực đối đầu có phần “biến thái” cùng hai con người đấu tranh cho chính nghĩa.

Trên hành trình cứu thoát Danny, hai người phát hiện ra Thảm kịch Sierra mà Danny vướng vào thực ra có nguồn cơn từ một dự án tên là Pandora – chính tên gọi này đã cho thấy tính bí mật của dự án với mạng lưới bảo vệ vô hình, các lực lượng ẩn danh được mô tả như những tổ chức nguy hiểm, quyền lực, vô pháp vô thiên. Từ thực tế này, Koontz đã xây dựng các thuyết âm mưu có tính tiên đoán, nhưng lạ thay lại trùng khớp với những vấn đề hiện nay.

Đó là vấn nạn tham nhũng trong bộ máy quyền lực khi chính phủ nuôi sống mạng lưới có phần “vô hình” chỉ để tư lợi. Việc này được thực hiện thông qua các cuộc dàn xếp bầu cử địa phương, với tài chính và các thế lực chính trị ủng hộ đằng sau. Hiện thực này không quá xa lạ, khi gần đây ta chứng kiến một nước Mỹ chia rẽ trong hai cuộc bầu cử liên tiếp. Đặc biệt hơn là những vấn đề chạy đua quyền lực cùng phát triển vũ khí sinh học. Loại virus cuối cùng mà Elliot cũng như Tina tìm được trùng hợp thay lại tên là Wuhan-400, có phần tương đồng với virus Corona.

Thế nhưng chính trong những giấc mơ hoang đường của tiến sĩ Tamaguchi, Koontz cũng gửi gắm một vài thông điệp nhân văn qua hình ảnh những kẻ hoang tưởng vĩ đại sản sinh ra sự bất tử và những công trình vĩ đại. Trong tập truyện Ngày mười tháng mười hai, George Saunders cũng có truyện ngắn Thoát khỏi đầu nhện, viết về chất hóa học VerbaluceTM có tác dụng chiếm hữu tâm trí – từ đó gây ra những tội ác không thể dung thứ. Hay Frank Herbert trong Xứ Cát cũng có Hương dược, và chẳng phải chính vì những thứ đó mà con người quay ra đối đầu với nhau?

*

Đôi mắt trũng sâu có thể nói là một tác phẩm mới lạ, thú vị. Do được kết cấu theo kiểu “tàu lượn siêu tốc” nên phần khởi đầu có đôi chút chậm chạp, thế nhưng khi vượt qua được đỉnh dốc ấy thì những pha hành động sẽ làm ta thót tim. Một lần nữa, tác phẩm này lại củng cố vị trí của một trong những nhà văn viết truyện ly kỳ nổi tiếng nhất nước Mỹ.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Trò chuyện trong quán La Catedral: Một Peru hỗn mang

Published

on

By

Văn chương Mỹ Latin nổi tiếng với truyền thống tái hiện lịch sử qua cuộc đời của các gia tộc. Từ Trăm năm cô đơn, Ngôi nhà của những hồn ma cho đến Bình địa trên lửa hay Pedro Páramo… ta thấy lẩn khuất đằng sau những thủ pháp cách tân nghệ thuật (kì ảo) đều là một hiện thực sống động có phần chua cay, với giới địa chủ, độc tài – thông qua góc nhìn của những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội.

Nhà văn Peru đoạt giải Nobel Văn chương 2010, Mario Vargas Llosa cũng không nằm ngoài truyền thống này. Việc tái bản gần đây hai kiệt tác được in hơn một thập kỉ trước – Trò chuyện trong quán La CatedralThành phố và Lũ chó – đã cho thấy sức hút của ông với độc giả trong nước. Kết hợp được sự đa dạng của phong cách thể hiện cùng những cải tiến mới mẻ trong phong cách viết có thể được xem là lý do chính khiến các tác phẩm của Llosa thu hút độc giả.

Bằng việc cắt gọt các đoạn đối thoại, tình tiết, bối cảnh… Llosa đã cung cấp góc nhìn đơn tuyến nhưng toàn vẹn của một sự thật đa chiều. Có chủ trương thay đổi về cách trần thuật trong suốt 5 phần với hơn 600 trang sách, người đọc sống cùng một Peru biến động cùng những người con của nó, quằn quại và nhiều dằn xé.

Câu chuyện kể về nhân vật Santiago – con trai giữa của dòng họ Zavalita, có cha là người làm việc cho chính phủ độc tài Odría. Ngay từ lúc nhỏ anh đã là “con cừu đen” của gia đình, khi luôn có những ý kiến khác lạ lệch ngoài chuẩn mực. Tiểu thuyết đi suốt cuộc đời anh, từ thơ ấu, đến trưởng thành rồi sau này là “sản phẩm thải loại”, thông qua cuộc nói chuyện trong quán La Catedral với Ambrosio – người lái xe cho cha anh. Từ đó các bí mật được tiết lộ, những sự thật được phơi bày, càng làm rõ hơn một mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” hơn bao giờ hết.

Nội dung dưới đây tiết lộ một số tình tiết quan trọng trong tác phẩm Trò chuyện trong quán La Catedral.

Mảnh đất lắm người nhiều ma

Nếu Juan Rulfo là người phơi bày rõ ràng tội ác của tầng lớp địa chủ, thì có thể nói Llosa là người cho thấy lịch sử hiện đại của Peru – với sự xúi giục của Mỹ ở sân sau – một chế độ độc tài cũng như những mầm mống chính trị nảy sinh trong suốt quá trình hình thành lịch sử hiện đại, từ chủ nghĩa quân phiệt, chế độ độc tài cho đến chủ nghĩa xã hội và những tư tưởng cấp tiến khác.

Lịch sử đó một mặt được bộc lộ qua nhân vật Santiago và quá trình rời nhà vượt thoát của anh. Luôn chống đối cha mình bởi ông là người kiếm tiền từ chế độ độc tài, Santiago và những người bạn đại học sớm theo Cahuide để kết hợp chi bộ Đại học và chi bộ Công nhân. Thế nhưng anh chưa bao giờ cảm nhận được hoàn toàn mình thuộc về nơi đâu. Chính sự bất định trong tư tưởng của anh cũng ngầm chỉ ra thế chênh vênh của một đất nước đầy hỗn loạn của các nền tư tưởng, mà như một câu thoại trong đây: “Nếu đánh mất sự nản lòng, chỉ cần mở bất cứ tờ báo Peru nào rồi bạn sẽ có lại cảm giác ấy”.

Được cai trị bởi một viên tướng thối tha, ăn cắp và bất lực, Llosa một lần nữa “giấu nhẹm” tổng thống, để cho thấy rằng đó chỉ là một cá nhân bù nhìn, không chủ kiến và hầu như vắng mặt trong suốt tiểu thuyết. Thay vào đó Llosa tập trung hướng vào viên tướng Bermundéz – vị giám đốc công an được đề cử nhanh cấp tốc, với những trò ham thú quyền lực. Ở nhân vật này, người đọc có thể thấy được mẫu hình chung của những tên độc tài đương thời như thể Diaz mà Alejo Carpentier từng thể hiện. Y ta nham hiểm, xấu xí và đầy mưu lược, từng bước từng bước trả thù, ăn miếng trả miếng để nhằm giữ vững chiếc ghế của mình. Mưu toan chồng chất lên nhau, trong đất nước đang dần rệu rã giờ đây chỉ còn những tấn trò hề.

Mario Vargas Llosa | Ảnh: Quim Llenas

Từ việc cảnh sát đàn áp các nhóm thanh niên nghiên cứu chủ nghĩa Marx cho đến các phong trào chống đối Odría; từ việc liên minh của các chính trị gia nhằm hất cẳng Bermundéz cho đến hành động hối lộ ám vào máu thịt… Llosa đã tái hiện một cách chung nhất mảnh đất “khốn khổ khốn nạn” nơi quê hương ông, mà trong thực tế với cuốn Thành phố và Lũ chó, ông cũng từng bị đuổi khỏi đất nước về sự nói thẳng và nói thực của mình.

Những cách tân nghệ thuật

Cấu tạo 5 phần như vở bi kịch năm hồi thường thấy, Llosa thay đổi phong cách viết ở từng phần một, từ liên tục trong một mạch kể duy nhất cho đến cắt rời câu chuyện, tiếp theo đó là những dòng suy tư dài cũng như những đoạn đối thoại nâng kịch tích không ngơi nghỉ. Tiểu thuyết dâng đến cao trào ở phần thứ 5 như hơi thở thở ra bất lực, của những sự thực được nói ra, của bí mật đã thôi kềm giữ. Bốn phần trước ông đều gài cắm những bi kịch riêng trên nền một câu chuyện lớn, để dần dần xâm chiếm và là cú bùng nổ cảm xúc cần thiết cuối cùng.

Sử dụng mạng lưới nhân vật chằng chịt là những cá thể xung quanh nhân vật chính Santiago, Llosa khai thác một cách hiệu quả các mối quan hệ xã hội, để không phân nhỏ vào mối quan hệ huyết thống, mà từ đó ta thấy được sự bất hạnh có thể đổ ập xuống đầu của bất kì ai trong bất kì lúc nào. Từ nàng Amalia mang bi kịch như trong Quán rượu của Zola cho đến Trinidad bị thẩm vấn dã man cuối cùng gục chết ở một góc phố. Từ thiếu phụ làng chơi – Nàng Thơ Hortensia cho đến Ambrosio – con người sống động duy nhất, vẫn giữ được nhân tính trong bầu không khí độc hại của quyền lực, mưu toan, tiền bạc và sau rốt là đánh mất nhân đạo.

Llosa tạo ra một trường phái riêng cho mình, khi ông cắt rời những câu đối thoại, bối cảnh… riêng lẻ để gom chúng vào một vision board, từ đó gợi lên nguyên nhân – kết quả, đôi khi là bổ sung góc nhìn, mà cũng có khi là gợi nên một sự hoang mang nhất định. Sự cắt rời này vừa là manh mối nhưng cũng là một ý nghĩa bâng quơ xẹt qua người đọc, nó nằm ở đó để đay nghiến rốt cuộc điều gì xảy ra, hay ai đang nói? Để rồi họ mang theo nó đến suốt hành trình, không dễ dàng để tìm ra hay chỉ ghép nối được ở phía sau cuối.

Sự tách rời ấy như biện pháp đảm bảo tính xác thực của Llosa. Chi tiết những cuộc biểu tình không chỉ đến riêng từ phía Don Cayo Bermúndez – người chuẩn bị bị hất cẳng, mà còn từ phía liên minh của những người gây ra xung đột. Cũng tương tự với câu chuyện của Amalia, của Trinidad, của Queta hay Ambrosio. Llosa ẩn thân hầu hết trong tiểu thuyết này, ông không cho cảm giác độc giả đang bị dắt mũi hay nhìn bó hẹp theo bản thân tác giả, mà với sự đa chiều trong cách khai thác sự thật, những gì ông viết ra có thể đánh lừa bất cứ ai e dè, có thể vẫn xuất phát từ ngòi bút tác giả, nhưng toàn vẹn và bao trùm.

Hình tượng xuyên suốt về một cơn nhộn nhạo dạ dày, là con rắn, là nhát dao hay là con sâu cũng lẩn khuất xuyên suốt tác phẩm. Mọi nhân vật đứng trước bi kịch đời mình đều cảm thấy tình trạng ấy, của nỗi sợ chết, của cuộc đời hoang đàng và của hậu kiếp đang chờ sau đó. Sự hội tụ này cho thấy Llosa quy tụ nhân vật về các nút thắt, để cho thấy rằng chúng đều bắt nguồn từ chính một lịch sử biến động của Peru, nơi họ sống, thở từng giây phút một của sự đàng điếm, xa hoa, và giờ đây rồi sẽ mục rữa và sụp đổ.

*

Trò chuyện trong quán La Catedral có thể thách thức bất cứ người đọc nóng vội nào. Bằng thời lượng lớn cũng như phong cách viết đặc biệt, Llosa đã khơi gợi lịch sử biến động của dải đất châu Mỹ, vừa đớn hèn mà cũng đau thương không thể khác được. Với tác phẩm lớn này, ông để lại dấu ấn cá nhân nhưng cũng phân tích một cách sâu sắc cấu trúc quyền lực cũng như thân phận nhỏ nhoi của những nạn nhân trong thời cuồng loạn. Mới mẻ và đầy đặc sắc.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Cafe sáng