Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Nghiệt tử: Bài ca khát sống

Tất cả đau thương cứ rơi lả tả như trận mưa không dứt tỏa xuống từ công viên này.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

“Tớ sẽ cho cậu thấy, tớ thực sự đang sống trong một vở kịch như thế nào” – đấy là câu thoại mà Tiểu Ngọc nói cùng Thanh trong bản chuyển thể điện ảnh của Nghiệt tử vào năm 2003. Và quả thật cũng đúng như vậy, bằng quyển tiểu thuyết này, Bạch Tiên Dũng đã âm thầm dựng lên một sân khấu lớn, tuyển chọn diễn viên và cứ thế action không cần kịch bản. Vốn dĩ chẳng cần một dòng chữ nào bởi họ đang sống như chính là mình, phơi bày ra trước thế giới rộng lớn bản chất thật nhất của mình, kể câu chuyện đời mình. Họ là đội quân những bóng ma lang thang vô định trong từng mét vuông sân khấu, phê pha tận hưởng từng khoảnh khắc vẻ vang hay đớn đau, và tất cả được Bạch Tiên Dũng ghi lại dưới con mắt lành nghề vừa mang vẻ tinh tế, nhưng cũng đồng thời, thật đến tan nát cõi lòng. Với Nghiệt tử, ông không hẳn cho thấy cái tréo ngoe cùa những con người vốn được coi như một trò đùa của tạo hóa, mà ngay cả những người tưởng như bình thường nhất, những người con theo đúng ý định của Adam và Eva nhất, cũng đồng thời mang trong mình cái gen tréo ngoe mà hễ sinh ra là kiếp con người, ai rồi cũng sẽ nếm mật nằm gai.

Nghiệt tử như cơn đồng sàng dị mộng rất khó tiêu hóa, khi một bên là đời sống bên ngoài ở Công viên Mới, một bên là những thẳm sâu bên trong mỗi nhân vật. Lấy câu chuyện của Thanh làm mạch sườn chính, Bạch Tiên Dũng tạo ra ban đầu một sự tiếp cận vô cùng tuần tự. Một thanh niên đang tuổi nổi loạn bùng cháy những khát khao yêu đương hừng hực tuổi trẻ, nhưng hà khắc ở chỗ, tình yêu ấy chưa bao giờ được chấp nhận bởi những phụ huynh vẫn tin lí tưởng của mình trên hết, và một xã hội dẫu được Tây hóa từ rất lâu như Đài Loan vẫn phải chào thua. Những đứa trẻ một khi đã như những con thiêu thân lao đầu vào thứ tình cảm ấy, đều có một số phận không mấy êm đẹp. Như lời lão Quách từng nói khi mở tập ảnh Bầy chim Thanh xuân rằng: “Chính dòng máu trong người đã thôi thúc chúng bây, chúng bây là lũ nhóc hoang dại sinh ra trên hòn đảo này, giống như bão tố và động đất trên đảo. Chúng bây là bầy chim non đã mất đi tổ ấm. Giống như bầy chim én bay vượt đại dương, chỉ biết gồng mình bay về phía trước, rồi sẽ bay đến nơi đâu chúng bây cũng không biết được.”

Ở đó tồn tại một vương quốc nơi những con người lạc loài như họ hàng ngày vẫn tề tựu về như chốn dung dưỡng tâm hồn. Đó là một vương quốc không phân giàu nghèo, sang hèn, già trẻ hay mạnh yếu, mà đó là chốn thỏa bày, là nơi hợp nhất những sự tuyệt vọng như hai dấu trừ của môn đại số, để rồi từ đó bật lên là những cảm thông, là sự chia sẻ qua hết ngày dài đoạn tháng. Từ Công viên Mới ấy, Bạch Tiên Dũng tỏa ra nhiều ngã, sử dụng những câu chuyện nhỏ như nét chấm phá gợi lên đôi chút thương đau. Về anh thầy giáo thể dục, về cậu thiếu niên nhảy cầu Đạm Thủy, về cậu bé vẫn mãi trông chờ người tình nước Mỹ của mình đến mức hóa rồ hay cả chuyện tình ly kì của Phượng,… Tất cả đau thương cứ rơi lả tả như trận mưa không dứt tỏa xuống từ công viên này.  Chật chội, ám ảnh và đè nén như những thước phim đặc tả cái cô đơn đậm chất Hongkong của Vương Gia Vệ bằng những khung hình chật hẹp, Bạch Tiên Dũng cũng phả vào đây thứ hơi nghẹn đắng ứ đầy ở cổ: “Thứ mà tất cả chúng tôi đều có, là những tấm thân bị dục vọng thiêu đốt đến tột cùng đau đớn, là những trái tim cô đơn đến cuồng dại. Những trái tim cô đơn đến cuồng dại ấy, cứ đến lúc nửa đêm, lại như một bầy mãnh thú phá tan hoang tù ngục giam cầm, nhe nanh múa vuốt, gầm gừ bắt đầu cuộc sục sạo săn tìm. Dưới bóng hắt của vầng trăng đỏ bầm, chúng tôi như lũ con bệnh mộng du, mỗi kẻ giẫm lên một chiếc bóng, bắt đầu cuộc truy tìm cuồng nhiệt vòng quanh hồ hoa súng không ngừng không nghỉ, luân hồi bất tận, theo đuổi cơn ác mộng khổng lồ ngập ngụa yêu thương và dục vọng.”

Thế nhưng ở đó không chỉ là những thiêu đốt của dục vọng thấp hèn, mà ngoài ánh sáng, họ vẫn là những con người hàng ngày quay cuồng với cõi nhân gian. Bạch Tiên Dũng rõ ràng không quá cố gắng khi chỉ khai thác cái sầu thảm hay duy bi kịch, mà ông đạt đến trạng thái cân bằng và sau đó dùng nó làm chiếc đòn bẩy như niềm tiếc nuối cho những tháng ngày đã qua. Hình ảnh cậu em của Thanh không chỉ xuất hiện trong tác phẩm như cách để làm dài thêm, mà đó là cách con người họ sống, là kí ức đẹp và sự xót thương. Hay Tiểu Ngọc với giấc mơ Nhật đi tìm người cha lừa dối mẹ mình, không biết mặt mũi ông sao, chỉ biết tên họ dẫu cho Nakajima trăm ngàn phổ biến ấy biết có thật không? Chuột và người anh Qụa, dẫu có bị hành hạ vô cớ hay đánh đến mềm rũ người, cậu ta vẫn cười hề hề sau mỗi trận đánh, vì sống với Qụa đã quá quen rồi!? Hay như Ngô Mẫn, cậu trai mềm yếu từng cắt tay mình vì một người đàn ông cho cậu giấc mơ về cuộc sống tưởng quá êm đềm: “Cậu không biết phòng tắm nhà anh Trương thích đến mức nào đâu, toàn bộ lát gạch men màu xanh lam, đến bồn tắm cũng màu xanh nốt… Tớ chưa bao giờ nhìn thấy cái bồn tắm nào đẹp đến thế, bên trên bồn tắm có van gas, mở vòi là nước nóng chảy ra ào ào. Tớ xả đầy một bồn nước nóng, ngâm mình trong đó, không muốn bước chân ra ngoài nữa, cứ ngâm đến khi cả người đỏ au lên… Lần đầu tiên trong đời tớ được tắm thỏa thích đến thế”. Tất cả bọn họ đều là những người rất ư bình thường, đều có gia đình, những mối quan hệ, đã từng hay đang mơ ước thứ này thứ khác, những thứ giản đơn… Bạch Tiên Dũng từ đây lại gợi một sự cân bằng, dẫu cho sai khác một mặt nào đó, họ vẫn là những sinh thể dưới ánh mặt trời, khát khao yêu thương, đam mê cả thế giới này. Từ một tác phẩm tưởng như viết riêng cho một cộng đồng người, Nghiệt tử lại như tiếng nói nhân sinh cho mọi con người như lời thiết sống.

Nghiệt tử mang trong lòng mình dáng dấp một tác phẩm lớn. Nói thế, bởi Nghiệt tử vô cùng toàn diện, khi không những phác họa thành công những nhân-vật-chính của mình, mà đồng thời, nó còn gom cả xã hội ôm vào trong mình, thành sự phản ánh hai chiều đầy đủ giác quan, nghe-nhìn-cảm nhận. Đó là cha của Lý Thanh, người cha suốt cả một đời chinh chiến nhưng không may bị bắt làm tù binh, để rồi sau đó không còn lại gì: chức tước, danh lợi, địa vị,… Là mẹ Lý Thanh, người đàn bà trẻ khi mới 19 đã lấy cha anh, lúc ấy 45 để rồi sau này say đắm bản tính nghệ sĩ cuốn gói đi xa bỏ mặc cả hai người con. Như chính cái tên dãi dầu của chị – Hoàng Lệ Hà, những năm cuối đời là những kí ức vô cùng muốn quên. Hoảng loạn, cuồng nộ như cơn bão lớn, Thanh viết: “Mẹ tôi suốt đời không ngừng trốn chạy, phiêu bạt, kiếm tìm, để đến cuối cùng phải nằm liệt trên chiếc giường chồng chất những chăn bông chua loét mồ hôi, chụp kín trong cánh màn nhem nhuốc, bệnh độc đầy người, thoi thóp hơi tàn chờ chết.” Là mẹ Tiểu Ngọc, người đàn bà phốp pháp phấn son lem luốc, trót đem lòng tin người đàn ông Nhật để rồi khổ sở cả đời. Là Lệ Nguyệt, người đàn bà đẹp, nhưng quá đa cảm tin vào tình yêu,… Mỗi một người họ đều như những con mồi ngon của thứ thời cuộc ủ men quá độ, đều là những thân những kiếp của loài côn trùng khoác lên trên mình bộ cánh đẹp đẽ, nhưng nào biết rằng họ đang dấn bước vào trong khu rừng của loài nắp ấm, chỉ tiến quá gần, rồi sẽ tiêu tan.

Một điểm rất đáng chú ý ở Nghiệt tử là nó không hề chứa đựng một phút giây nào của những đặc tả ham muốn thể xác. Việc chối từ một mặt tối quan trọng của những tiểu thuyết mô tả bản chất con người của Bạch Tiên Dũng rõ ràng là một ca lạ. Vì như từ trước đến nay, sex trong văn chương vẫn luôn được coi như một thành tố vừa đi sâu vào lòng bản chất, vừa như một lối hướng theo thị hiếu đọc giả. Nói sex trong văn chương châu Á vẫn chưa rộng đường, còn hơi tế nhị cũng chưa hẳn đúng; vì Trương Ái Linh cùng Sắc, Giới hay bộ phim chuyển thể của Lý An sau này đã như một sự phản hồi. Chuyển từ những cảnh tính dục sang những mô tả tình cảm vô cùng thần sầu, mối quan hệ cha – con trong Nghiệt tử là chi tiết cá nhân nhất mà Bạch Tiên Dũng mang vào. Giữ Vương Quỳ Long như nhân vật mang chính hình dáng chính mình, ông khắc sâu vào lòng độc giả thế đối lập tư tưởng giữa những cánh chim hoang dã và người cha của họ. Cụ Phó Sùng Sơn, Vương Thượng Đức và cha Lý Thanh là ba người được ông khắc họa cùng chung một khuôn, như đại diện cho những con người cứng cỏi nhất của thời bấy giờ, khi từng chinh chiến, giữ chức vụ cao và hơn hết, là những kỳ vọng lớn lao vào con trai họ. Trong khi Phó Vệ, Vương Quỳ Long và Lý Thanh, lại là ba con chim hoang dã không chịu khuất phục, lao mình vào lửa không màng kết cục. Sự kình chống tư tưởng giữa mỗi người họ giống như cách nhìn của xã hội Đài Loan lúc bấy giờ, nhưng trong trường hợp này, còn hơn thế nữa, khi nó còn là bộ mặt, còn là thanh danh. Kết cục là cái chết tự kết liễu mình của Phó Vệ, là sự thù hằn không bao giờ nguôi của Vương Thượng Đức và nỗi nhớ nhà nhưng đành bất lực của Lý Thanh. Tất cả xoay vòng thành một hỗn thế, đầy đủ hết mọi xúc cảm: hối hận, căm tức, phẫn nộ, đau khổ,… Nhưng rồi ông lại thắp lên ánh sáng sau đường hầm tối, khi rồi nhìn lại, cụ Phó dang tay cứu giúp những đứa trẻ trong công viên Mới, hay một lần khác ông ngồi trầm ngâm dưới hương ngải tiên vào ngày giỗ của con trai mình. Chi tiết Vương Quỳ Long chất vấn cụ Phó vì sự lạnh lùng của cha mình, để rồi nhận lại câu nói: “Ông ấy không nỡ gặp con… Đến nhắm mắt rồi cũng không nỡ gặp con…”, hay giọt nước mắt của cha Lý Thanh và tiếng gào thét khan đặc gọi cậu quay lại ở bản điện ảnh, tất cả đã như một câu trả lời.

Đài Loan những năm 70 chìm trong bầu không khí ngột ngạt của nền kinh tế chuyển mình, rón rén bước chân trở thành một trong bốn con rồng châu Á, giống như lời Bạch Tiên Dũng mô tả một con ngõ nhỏ: “Trong con ngõ số 125 đường Nam Kinh Đông, quán ăn, nhà hàng san sát. Đầu ngõ là Phượng Thành, một nhà hàng chuyên món Quảng Đông rất đắt khách […] Sát bên cạnh là một nhà hàng Nhật Bản tên là Mai Uyển, tiếp nữa là quán thịt nướng Hàn Quốc Arirang, đối diện với Arirang là nhà hàng Âu Golden Angel.” Một cách gần giống với Us của đạo diễn Jordan Peele, ở đâu đó trong đêm trường tăm tối, cả một cộng đồng mới đã dần thành hình. Nhưng khác với nhóm những người song trùng đầy những hận thù của Red, cộng đồng những con chim hoang dại tập hợp ở đây chỉ với một mục đích duy nhất, khát khao sống. Đọc Nghiệt tử, ta thấy họ cũng như những con người khác, cũng mong manh trước những thân phận, nhưng cũng mạnh mẽ đứng lên trước những khó khăn. Nghiệt tử là một tác phẩm lớn, khi nó không chỉ khắc họa sự lênh đênh của những con người bị tạo hóa trêu đùa, mà nó còn như nét màu hoàn thiện bức tranh nhân quần đầy chuyển động, cạnh đó là một xã hội Đài Loan thu nhỏ với nhịp sống về đêm vô cùng nhộn nhịp, là chốn vui chơi lạc thú bên cạnh những thân xác rã rời. Với Nghiệt tử, Bạch Tiên Dũng đã tự đưa mình vào hàng ngũ những cây bút ngoài Đại Lục vô cùng tài hoa, bên cạnh những Kim Dung, Trương Ái Linh, Lưu Dĩ Sưởng,… từng làm nức lòng xứ Cảng Thơm biết bao thế hệ.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Bài viết có chủ đề liên quan



Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Những cảnh đời tỉnh lẻ: Tự vạch trần nội tâm của người đàn ông yếm thế

Published

on

J. M. Coetzee không phải là một nhà văn đại chúng. Sách của ông chưa từng đứng nhất trên những bảng xếp hạng sách bán chạy. Tên tuổi ông cũng không phủ sóng rộng khắp các mạng xã hội (như Margaret Atwood). Hình ảnh của ông trước công chúng là một trí thức xa cách, cao ngạo; người chối từ đứng trước đám đông ở những buổi lễ tôn vinh mình. Dù không ẩn mình đến cực đoan như Thomas Pychon nhưng Coetzee cũng chẳng buồn làm gì để xua tan đi những ấn tượng đó; thậm chí, ông còn khuyến khích những phán đoán trên. Đa số độc giả tìm đến văn chương Coetzee sau những danh tiếng, giải thưởng mà ông nhận được. Hai giải Booker và một Nobel văn chương, vẫn có điều gì đó ở người đàn ông Nam Phi này làm người khác nghi ngại, bởi sự kín tiếng, bởi thói ẩn mình.

Đến khi Tuổi thơ ra đời như phát pháo đầu tiên cho bộ tự truyện – giả tưởng Những cảnh đời tỉnh lẻ, người ta mới bỗng chốc nhận ra Coetzee không đơn thuần là người kín tiếng, mà còn đáo để trong cách tự châm biếm bản thân mình. Động cơ đằng sau việc ra mắt ba tập tự truyện trong khi ẩn mình đến mức tối đa có lẽ ngoài bản thân ông ra thì không ai hiểu rõ. Nhưng với bộ ba này, ít nhiều một Coetzee yếm thế đã dần hiện ra: nhân vật chính, một nhà văn Nam Phi được đánh giá cao, hay phôi thai xanh xao chưa đủ sức bật… tất cả xoay vòng trong ba phần những trang viết này.

“Hắn sẽ giữ hết chúng trong đầu thế nào đây, tất thảy những cuốn sách, tất thảy những con người, tất thảy những câu chuyện này? Và nếu hắn không ghi nhớ chúng, thì ai sẽ làm?”

Một thoáng Coetzee.

Văn nghiệp của Coetzee bắt đầu khá muộn. Vào thập niên 70 tại Mỹ, khi phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam đang lên đỉnh điểm, ông cùng đồng nghiệp – bấy giờ đang giảng dạy tại đại học Buffalo – cảm thấy mình cần làm một điều gì đó. Sau khi bị chính quyền bắt và bị từ chối cấp lại thẻ xanh, tình trạng pháp lý của ông càng trở nên báo động, dẫn đến việc ông trở về quê hương Nam Phi, khi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid vẫn đang hoành hành.

Không khó để nhận ra điểm nhấn văn chương của Coetzee vẫn thường trở đi trở lại trong những tác phẩm của ông. Nhân vật chính hầu hết là người đàn ông trung niên, một chút luống tuổi, có vị thế và bị mắc kẹt trong bộ máy chính quyền công chính và những mối quan hệ nhục dục không biết đường tránh. Từ những mối quan hệ này, hình ảnh tàn tạ, đơn độc của người đàn ông được khắc sâu thêm. Văn chương Coetzee mang sắc thái lạnh, một giọng văn tỉnh táo, trưởng thành, nhẹ nhàng nhưng thiếu vận động và nhiệt huyết sáng tạo. Độc giả có lúc tự hỏi, liệu những ám muội này xuất phát từ đâu, để chúng đến với văn chương ông như phong vị riêng, nét độc đáo riêng mà chỉ Coetzee mới tạo được căn phòng ấy, mùi hương ấy, cái lạnh ấy và buổi chiều tàn hôm ấy. Những cảnh đời tỉnh lẻ như bộ ba giải mã những thắc mắc trên, từ chính thâm sâu ở tận gốc rễ.

Tác giả J. M. Coetzee
Ảnh: Washington Examiner

Mẫu hình nhân vật đàn ông.

Mẫu hình nhân vật người đàn ông trở lại trong Những cảnh đời tỉnh lẻ. Nếu trong Ruồng bỏ là vị giáo sư đại học vướng vào lao lý tình yêu với cô sinh viên trẻ, trong Đợi bọn mọi là vị thẩm phán với cô thổ dân cùng nhau đối đầu với bộ máy công chính; thì ở đây là John - cậu bé da trắng, người Afrikan, yếm thế từ trong bản chất và rất dễ tổn thương. Khởi đầu bằng Tuổi thơ là quá trình lớn lên của John nơi bình nguyên Karoo đầy biến động. Tiếp đến là Tuổi trẻ tương ứng với giai đoạn giảng dạy tại Buffalo sau tuổi trưởng thành. Cuối cùng là Mùa hè, khi John trở lại Nam Phi những năm 71, 72. Bộ ba tác phẩm lần lượt lướt qua trường đoạn lớn lên của cậu bé John nơi thị trấn Worcester, để từ đó thấy được những ảnh hưởng sâu rộng đến tâm hồn nghệ sĩ. Sau thảm kịch Sharpeville và những biến động chính trị trong nước, John ôm mộng sang Anh trở thành một nghệ sĩ vĩ đại trong lĩnh vực thơ ca nối gót Pound, Eliot, Ford Madox Ford rồi bị dìm chết bởi những mánh khóe vật chất sinh tồn nơi đây. Cuối cùng về lại Nam Phi, trở thành một người đàn ông bình thường, trong căn nhà bình thường đến khi mất đi, và được thuật lại đầy đủ từ năm 71 bằng cuộc ghi chép một cuốn tiểu sử của Vincent.

Giai đoạn cuộn mình phôi thai trong Tuổi thơ, Coetzee tinh tế đưa John trở về thể dạng của một tạo tác dính nhớp, của một người bấu víu lấy mẹ, muốn bà hy sinh mọi khát vọng cho riêng mình và mắc kẹt trong tình yêu của bà. Đó còn là cậu bé sợ bị đánh roi vì lòng tự cao, yêu thích bãi cát hơn là dòng sông u ám, thích mang giầy hơn đi chân không… Coetzee chuyển hóa bản thân mình sang John bằng sự nhạy cảm đầy cuốn hút, để từ đó thế giới nội tâm dần dà phát triển, trở thành một nhân tế bào hình thành nhân cách của người đàn ông sau này theo nghĩa hẹp hay các nhân vật chính sau này theo lối nghĩa rộng.

Những cảnh đời tỉnh lẻ - Tuổi thơ

Thế giới nội tâm phát triển phong phú hơn mọi điều khác, đơm hoa kết trái, nhân bản theo cấp số nhân triệu triệu tế bào, hình thành nên thể yếm thế được máu nuôi dưỡng. Sự thiếu sót ấy, vẻ yếm thế ấy thể hiện ở cả hai mặt, về những ảo tưởng trở thành nghệ sĩ và những cuộc tình với những người khác. Coetzee hay John trong bộ ba này dường như mắc kẹt trong nỗi cô đơn và sự khốn khổ. Sự đùm bọc của người mẹ làm anh cảm thấy tuy đã 30 nhưng vẫn không hơn là một đứa trẻ. Việc phá trinh của Marianne rồi mặc kệ cô ra về với máu vẫn chảy từ giữa hai chân, về việc Sarah mang thai và anh hoảng lên để cô đi phá chỉ riêng một mình… Từ đầu chí cuối, John thử và lại mắc kẹt; thử lại lần nữa, và vẫn mắc kẹt. John là loại đàn ông không mang bất cứ sự cuốn hút nào đối với phái nữ: anh ngẩn ngơ, tuyệt vọng, rồi tự nghi ngờ để thử với bọn đàn ông, nhưng rồi mọi chuyện lại chẳng tới đâu.

Cái tự diệt ấy cũng đồng thời hiển hiện qua ảo mộng trở thành nghệ sĩ trong cuốn Tuổi trẻ. Rời xa Nam Phi khi bất bạo động chính trị mới vừa diễn ra để chứng minh rằng mỗi con người là một hòn đảo, không cần đến cha mẹ; nay anh sớm nhận ra con đường của Pound, của Eliot, của Picasso vốn không bằng phẳng. Giữa nỗ lực ở lại nơi đất khách quê người bằng việc cố định mình vào việc lập trình cho IBM hay International Computers, giấc mộng thơ ca đã tắt ngấm. Trong những ngày ngồi trước trang giấy trống rỗng không chứa một chữ, những tự vấn lương tâm trong cảnh chán ngán vật chất, nỗi luyến nhớ để lại đằng sau, còn Bộ Nội vụ đang ở phía trước, anh vặn mình rằng: Có gì bất ổn với hắn vậy? Tại sao hắn lại làm cho những điều bình thường nhất trở thành khó khăn là thế với mình? Nếu câu trả lời là bản tính hắn là thế, thì có ích gì khi mang một bản tính như vậy? Tại sao hắn không thay đổi bản tính mình?

Nhưng cái yếm thế một khi gắn vào không thể gỡ ra, nó bám vào ta như loài hà đá, như thép nung chảy, để hàn con người vào tình thế, để rồi rốt cuộc lý do rời khỏi Nam Phi không vì chính trị, không vì chiến tranh, mà bởi trốn chạy khỏi sự nhàm chán, khỏi sự phàm tục, khỏi sự teo tóp của đời sống đạo đức, khỏi nỗi hổ thẹn. Ở đó, John sẽ mãi là một bóng ma, là gã trai trẻ nhàn du quanh thành phố xa lạ, ăn dần khoản tiền để dành của mình, đĩ điếm, làm bộ mình là nghệ sĩ! Từ người chạy trốn bạo động trong nước, giờ đây trở thành chính người viết mã cho máy bay Anh trong Chiến tranh lạnh, lập trình Atlas ở những cuộc chiến rất vô nghĩa khác.

Từ cái yếm thế của nhân vật, Coetzee nhân rộng lên cùng với đại diện là chàng Ganapathy kỹ sư người Ấn không thể tự chăm sóc bản thân mình và cả cha John – người cha lụn bại, sặc sụa trong cơn trầm uất; để đến với đàn ông nói chung, đàn ông của dòng họ Coetzee trên bình nguyên Karoo bao đời để lại, mà nghĩa vụ đầu tiên của những phụ nữ dòng họ này là xoay xở tống dòng máu Coetzee ra khỏi những đứa con mình. Làm thế nào để tống dòng máu slap ra khỏi con người, chị không nói ngay được, ngoài việc mang họ đến bệnh viện cho bơm hết máu ra và thay thế nó bằng máu của người hiến tặng nghiêm khắc nào đó. […] Cậu ấy không có hoạch định. Cậu ấy là người nhà Coetzee, người nhà Coetzee không có hoạch định. Họ không có tham vọng, họ chỉ có những mong mỏi lười nhác.

Nhìn nhận một cách tựu trung, đây là lý giải của Coetzee cho toàn bộ vũ trụ nhân vật đàn ông trong tiểu thuyết của ông, những người lặt lìa trước đàn bà, trước cơn gió cuộc đời nhưng hàn chặt bản thân với nỗi yếm thế tự thân. Với riêng J. M. Coetzee, ông nhìn nhận thế nào về mình thì ta không hề biết. Nhưng ở điểm mấu chốt này, ít nhiều ta hiểu một cách sâu xa các tiểu thuyết này, nơi cái mắc kẹt, cô đơn, khốn khổ vẫn luôn trồi dậy. Một cách tự phẫu từ trong bản chất, Coetzee ít nhiều cung cấp cho ta lý giải nhất thời về văn chương, về con người ông, và trên hơn hết, về xã hội Nam Phi phân cấp vốn không ổn định.

*

Nam Phi với Coetzee như khung chống đỡ cho những giá trị nguyên bản nơi con người ông, nơi tiểu thuyết của ông. Xã hội Nam Phi đầy rẫy biến động trong sự đấu tranh giữa các sắc da, giữa người Da màu, người Bản địa và người Afrikan. Nếu trong Ruồng bỏ là cách mạng giành lại ruộng đất từ nông dân da trắng, trong Đợi bọn mọi là cuộc chiến với người bản địa – người Khoikhoi từ Hy Lạp di cư sang Nam Phi thế kỷ 17; thì trong Những cảnh đời tỉnh lẻ, mối chồng chéo ấy được khái quát hơn, hiển thị rõ hơn nơi thị trấn Worcester như mẫu nhặt ra từ một quần thể, nơi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc khoa học vẫn đang diễn ra, mà các biểu hiện là dùng cảnh sát kiểm soát văn hóa, quân phiệt lớp trẻ, tín ngưỡng nhà nước…

Một trong những chủ đề thường xuất hiện trong văn chương của Coetzee giai đoạn sau này là quyền động vật. Trong Những cảnh đời tỉnh lẻ, đề tài này cũng tìm cách len lỏi vào nơi trang trại Voëlfontein, nơi John về chơi vào một mùa hè, loài cừu bị giết một cách man dại trong khi những con còn lại be be bình thản mà không biết gì, đặt trong bối cảnh đối nghịch – góc nhìn của một cậu bé như John lúc này, gợi lên những điều suy tư. Và người nghệ sĩ không thành ấy biến hóa bản thân tựa như loài cừu, chỉ đợi biến động chính trị giày nát bày đàn thế hệ; và cũng có khi, là những ám ảnh theo suốt khi anh trở về Nam Phi từ Mỹ trục xuất, đã không thể ăn những món từ cừu trong cuộc họp mặt.

Với bộ ba Những cảnh đời tỉnh lẻ, J. M. Coetzee lần đầu tiên mở khóa cho người đọc thâm nhập vào những gì đã cấu thành nên một Coetzee vốn từ trước đến nay ta vẫn quen thuộc. Bộ ba tác phẩm là vũ trụ thu nhỏ của những gì rất Coetzee, những gì thuộc về và những thứ chỉ Coetzee mới viết ra được; vừa giả tưởng như cuộc đời cậu bé vô danh John giữa những biến động chính trị, giữa tầm hồn quá ư nhạy cảm, giữa mộng nghệ sĩ không thành; vừa bán tự truyện như lời phân trần, giãi bày và mở rộng ra cho ai muốn hiểu thêm về nhà văn ấy, người có tầm cỡ trí óc và đặc biệt là năng lực tưởng tượng phát triển trên mức bình thường, và cái giá phải trả chính là phần “con” bên trong anh ấy. Anh ấy là Homo sapiens, thậm chí là Homo sapiens sapiens. Một bộ ba chao đảo, một bán tự truyện vô tiền khoáng hậu với bút pháp bậc thầy. Một Coetzee đã một lần và chắc chắn sẽ không bao giờ mở lòng như thế. Tuyệt đẹp.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Cửa sổ trên Tháp đôi: Một tiểu thuyết DeLilloian

Bạn có nghĩ rằng sự phá hủy đẹp hay không? Trò đùa, Milan Kundera

Published

on

Sự kiện 11 tháng Chín và những xung động của nó đến nay vẫn để lại những dư chấn nhất định trong tâm thức những ai lớn lên trong thời đoạn này. Như Nina Simone từng nói, nghệ sĩ sẽ là ai nếu không phản ánh thời đại. Văn chương không là một ngoại lệ. Nước Mỹ đã thay đổi trong một khoảnh khắc, và hơn ai hết, chính tâm hồn nghệ sĩ là nơi chứa đựng những điều này một cách nhạy cảm và tinh tế nhất.

Một ngày sau khi nước Mỹ bị tấn công ba lần bằng máy bay bởi phần tử khủng bố quá khích, tờ The New York Times cho đăng trọn vẹn trang 7 bức hình Richard Drew chụp người đàn ông lao xuống từ Tòa tháp phía Bắc Trung tâm thương mại lúc 9g41 - tấm ảnh dữ dội và hiển hình nhất cho thảm họa này. Nhân vật người đàn ông ấy đến nay vẫn chưa được nhận dạng. Phần lớn những suy đoán rằng đây là một nhân viên làm việc trong nhà hàng Windows on the World ở tầng 106 tòa tháp phía Bắc, trùng đúng kết cục và nơi diễn tiến cho câu chuyện trong cuốn sách Cửa sổ trên Tháp đôi của Frédéric Beigbeder.

Nếu bức ảnh đơn thuần là hiện thân của sự thật nhưng vẫn có thể bị chỉ trích bởi các chuẩn mực đạo đức, thì sự kết hợp giữa Frédéric Beigbeder và chủ đề này lại khiến độc giả chìm trong cơn bấn loạn còn nhiều hơn. Beigbeder vốn từ trước đến nay vẫn được biết đến như giọng văn trào phúng châm biếm xã hội sâu cay, lãnh địa vốn suy tàn dần trong giới văn chương ngày nay mà may thay Woody Allen vẫn còn trụ vững sau ngần ấy năm. Thế cho nên việc kết hợp giữa châm biếm và sự kiện mang nhiều đau thương này dường như mang đến sự trái khoáy nào đó cho người đọc. Nhưng như mọi thứ vận hành trong vũ trụ này, mỗi nơi đều có đối nghịch. Và như câu dẫn của Milan Kundera hay văn chương của Don DeLillo, cái tự hủy cũng có vẻ đẹp riêng.

*

Cửa sổ trên Tháp đôi là câu chuyện song hành giữa trải nghiệm đi tìm dấu vết của bản thân tác giả và sự kiện khủng bố ngày 11 tháng Chín. Có thể nói đây dường như là trải nghiệm cá nhân nhất của Beigbeder trong số những cuốn sách từ trước đến nay của ông. Giữa một bên là Carthew Yorston – doanh nhân môi giới bất động sản, người đàn ông theo chủ nghĩa khoái lạc – tự do – trung dung miền Texas, cha của hai cậu con trai, người chồng đã ly dị vợ; và chính Beigbeder. Vào buổi sáng hôm ấy, Carthew dẫn hai cậu con trai đến Windows on the World tọa lạc tại World Trade Center, một nhà hàng sang trọng và dĩ nhiên vô cùng khó khăn để đặt được bàn như cách nhìn lại quãng đời ở tuổi trung niên, về việc ly dị vợ, về cô người yêu Candace và còn để nhìn thiên hạ thế thái trong đời sống thượng lưu tư bản. Người đàn ông tự nhận chưa hưởng thụ hết cuộc sống ấy không thể ngờ chỉ vài phút nữa, một chiếc máy bay sẽ đâm sầm vào tòa tháp phía bắc; và 101 phút tiếp sau đó, tòa tháp sẽ kết thúc sứ mệnh Babel của mình trên bầu trời New York.

Cửa sổ trên Tháp đôi

Song song cùng đó, một nhà văn họ Beigbeder tự đặt mình vào vị trí người đàn ông ấy, đến Ciel de Paris trong tòa tháp Montparnasse ở Paris để tự hỏi quá trình đi tìm sự tự do ấy diễn ra thế nào. Để mô phỏng Carthew, nhà văn nọ dắt theo cô con gái đi bộ hơn 50 tầng nhà hay tự mình đến khu 0 – khu Trade Center khi mọi thứ đã được thu dọn – để nhìn ngắm và trò chuyện cùng những người khác. Đến cuối cuốn sách, dường như cả hai nhập vào làm một, dẫn đến cuộc đối thoại không đầu không kết với cựu nhân viên của Windows on the World tại Quảng trường Thời đại. Với Cửa sổ trên Tháp đôi, Frédéric Beigbeder mang đến thế nhập nhằng vô cùng hiếm thấy giữa cái lưỡng nan của tình thế làm người và cách cuối cùng khi trò chơi số phận dường như đã ấn định mọi thứ.

Điều đầu tiên phải khẳng định rằng, Cửa sổ trên Tháp đôi không đơn thuần là một tiểu thuyết hư cấu dựa trên một bi kịch thật. Đa số cuốn sách này đều thật, cả mặt ngoại vi – câu chuyện và nội hàm – cảm xúc. Beigbeder không mượn nhân hình bóng dáng, không xào nấu hụp sâu; ông khẳng định bản thân rõ ràng bằng cốt truyện diễn ra song song với hai khoảng thời gian lệch nhau nhưng cùng chung trải nghiệm. Cuốn sách này nói sâu hơn không nhằm khắc họa những gì đã diễn ra, vì hẳn nhiên, đó là vết thù khó gột rửa và nằm chênh vênh giữa những mệnh đề đạo đức. Điều Beigbeder mang đến cho độc giả sâu xa hơn lớp da của tình tiết bên ngoài, về góc nhìn nước Mỹ, về xã hội hiện đại, về lề thói tư bản chủ nghĩa trong chính cách viết châm biến rất khó để không nhận ra.

Trước tiên là về nước Mỹ. Hẳn nhiên, đây là chủ thể không thể bỏ qua. Nước Mỹ của thô bỉ và tự mãn cá nhân. Nước Mỹ của chiếm hữu và mọi thứ khác. Đó có thể là bản chất nhưng cũng đồng thời mang trong mình phần lớn là những nguồn cơn. Beigbeder lướt trên làn gió trào phúng quen thuộc khắc họa sự vô ơn của Mỹ trước Pháp khi giúp họ chống Anh để rồi thứ được chỉ là một bảng tên nhỏ vô danh trên con phố nơi ký hiệp ước hòa bình. Ông cũng không ngần ngại phơi bày ra thói phù hoa dòng tư bản nước Mỹ, với Cửa sổ nhìn ra thế giới […] Cái tiêu đề này là một bằng chứng cho thấy sự kiêu ngạo điển hình mang màu sắc Mỹ: “Chúng tôi xây dựng khu Trung tâm thương mại thành bộ phận đầu não của chủ nghĩa tư bản thế giới”.

Không chỉ có thế, xã hội hiện đại che lấp đi mọi thứ khác. Từ những nhân tình dắt díu nhau đến nhà hàng hạng sang trong khi tình yêu pháp lý chỉ còn là thứ kéo dài ba năm; cho đến chủ nghĩa trung dung với lối sống phóng khoáng từng được nhắc đến trong 14.99 euro; tất cả làm nên nước Mỹ hiện đại giả hiệu, như cách Gatsby làm giàu từ trong lịch sử. Ở những năm đó, Mọi thứ từ nhà cửa, xe cộ đến sở thích, niềm vui đều có gì đó giả tạo. Mỗi sáng, người ta lại bịa ra sự thật. Đất nước này đã chọn cho mình cách thức hoạt động giống như trong một bộ phim viễn tưởng.

Trong mắt Beigbeder và những người khác, nước Mỹ ở thời điểm đó không khác Babylon những ngày cổ xưa. Ở mảnh đất huyền thoại phương Đông ấy, người ta cho xây tòa tháp Babel thách đấu với Chúa, để Ngài biết rằng con người không cần đến Ngài vẫn rất dễ dàng chạm đến thiên đường. Chúa biết sự thật nhưng không nói ngay. Ngài giáng những đòn ngôn ngữ khiến mỗi người thợ không còn hiểu nhau, thế giới hợp nhất trở thành phân mảnh, tồn tại giữa họ là những ranh giới quốc gia. Để từ đó phá hủy, diệt vong thêm một lần nữa từ sau trận Đại hồng thủy, chiếc thuyền Noah. Nhưng vì sao tháp Babel thế kỷ 21 lại là World Trade Center, mà không là trụ sở Liên Hiệp Quốc liên hiệp mọi thứ? Dễ thấy nước Mỹ đứng đó như cách quần gọi dân chủ trên toàn thế giới, chi phối những ai đang nói tiếng Mỹ, cư xử chất Mỹ, mọi thứ rặt Mỹ. Mỹ như chiếc áo vô hình trong tiểu thuyết H. G. Wells thâu tóm mọi thứ trong thế giới này. Là nơi đặt hòn đảo của tiến sĩ Moreau. Là nơi bành trướng nhất, đói ăn nhất.

*

Sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, hiện thực không chỉ đã trôi ra ngoài sự tưởng tượng mà còn tàn phá luôn mọi điều hư cấu. Người ta chẳng thể nào viết về đề tài này được nhưng cũng chẳng thể viết về một đề tài nào khác nữa. Mà trong đó, nỗi đau là vô hình nên nó chẳng tồn tại, thêm nữa là chúng ta đang sống trong một thế giới vật chất, mọi thứ đều hữu hình, xác thực. Đó có thể là thế giới của những người bị cuốn theo vòng xoáy vật chất, để rồi nhận ra họ đã phung phí thời gian đến mức độ nào. Đó là người cha chưa bao giờ nói yêu cậu con trai mình, là cô phục vụ luôn giữ niềm tin vào đội cảnh sát phá cửa cứu cô, là đôi nhân tình bỏ chồng bỏ vợ vẫn chưa kịp đến với nhau… Chỉ một bữa sáng hôm ấy, con người có dịp nhìn nhau, nhìn lại những gì họ đã trải qua để thấy rằng, thế giới mà họ đang sống, những gì họ bị cuốn theo, những thứ họ đang chìm vào… tất cả dường như là nhà hàng ấy, nơi thép nung chảy nóng lên từng giây, nơi khói bốc lên trong mọi ngóc ngách, nơi người ta chứng kiến những người thân quen chết đi từng người một. Đến một mức độ không thể chịu nổi cái chết, họ bộc phát để lao ra ngoài tìm kiếm tự do khỏi những tầng lầu như Falling Man.

Nó pha lẫn giữa mùi của cao su cháy sém rồi chảy ra, bốc khói mù mịt, rồi mùi nhựa bị đốt, cả mùi từ những chiếc ghế bị thui đen, dầu hỏa cháy và vả mùi tro của xương thịt người. Khung cảnh lò thiêu tập trung và những con người lướt khỏi tòa nhà như những ám ảnh đè nén tâm hồn người đọc. Văn chương tại đây đạt được phần lớn mục đích của nó, hiện lên hiện sinh giữa những trang văn ngập ngụa niềm đau. Tại sao cảnh sát không lên nóc tháp cứu người mắc kẹt khi khoảng cách giữa họ chỉ là một cánh cửa thép? Tại sao hơn 200 người lao khỏi tòa nhà khi ngọn lửa đến, dù biết kết cục không khác nhau mấy? Tại sao lại là nước Mỹ, tháp Bắc, tháp Nam, là World Trade Center? Con người số phận nhỏ bé, nhưng hơn hết, là những tị hiềm trong mỗi dân tộc, giống nòi, cá nhân. Thế tị hiềm mang đến đau đớn của những niềm đau; để ta biết rằng, con người vốn vẫn là một sinh vật nhỏ bé, ngập ngụa trong những niềm đau, với khoái lạc, dục tính, với tị hiềm, nhỏ nhen.

*

Khép lại cuốn sách, Beigbeder một mặt mang đến người đọc vở diễn nhập vai một trong những bi kịch lớn nhất của lịch sử hiện đại nước Mỹ; một mặt cho thấy cách xã hội vận hành với sự bành trướng, tham lam, háu ăn và nỗi tị hiềm. DeLilloian – một tính từ xuất phát từ tên gốc của nhà văn Don DeLillo mang nhiều hàm ý về cảm giác mãnh mẽ của hư vô, của dịch chuyển, của biến đổi và phân ly – như định nghĩa rõ ràng nhất về cuốn sách này. Falling Man là ai, và cho đến khi nào chúng ta biết được rằng anh là ai? Ta không thể biết. Điều duy nhất chúng ta biết là buổi sáng hôm ấy, hơn 200 cánh chim đã lao ra khỏi ngọn tháp bốc cháy. Khi tòa tháp đôi sụp đổ cũng là khi màn pháo hoa lớn bùng cháy. Ngọn lửa mới đẹp làm sao, những thi thể người cháy rực lên mới đẹp làm sao […] Tôi yêu làn khói đó không vì nét đẹp thuần khiết của nó mà còn vì nó gợi người ta nhớ đến ngày tận thế, nó bao hàm cả bạo lực và nỗi kinh khiếp.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Ảnh đầu bài: Falling Man, Richard Drew | Time

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đọc “Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương”, ngẫm về sự mất màu trong mỗi chúng ta

Published

on

Haruki Murakami là cái tên đã quá đỗi quen thuộc với 15 tác phẩm tiểu thuyết nổi bật và hơn 50 truyện ngắn đã được xuất bản với nhiều thứ tiếng. Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương là cuốn tiểu thuyết thứ 14 của nhà văn, phát hành tại Nhật Bản năm 2013 và đến tay người đọc Việt Nam vào cuối năm 2014, dưới bản dịch của dịch giả Uyên Thiểm (Lương Việt Dũng), người đã từng tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với Haruki Murakami tại Nhật Bản.

Nếu các bạn đã từng yêu mến tiểu thuyết Rừng Nauy (1987), vậy thì thực sự không nên bỏ qua cuốn tiểu thuyết Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương. Dù tuổi đời cách nhau hơn 26 năm - một khoảng thời gian dài đủ để cho mọi thứ thay đổi, thế nhưng với tác phẩm sinh sau đẻ muộn này, Haruki Murakami đã chứng minh con đường văn chương của ông không nằm trong những thứ đó. Đọc từ Rừng Nauy cho đến Tazaki Tsukuru, chúng ta như được đi trên một chuyến tàu thời gian, nơi mà Haruki Murakami sống hai lần tuổi trẻ, trải nghiệm và kể lại cho người đọc hai thế giới khác nhau trong cùng một linh hồn thanh xuân bất biến. Ở đó, vẫn là những câu chuyện sâu thẳm về tình bạn, tình yêu, về những ám ảnh hành hạ cả một kiếp người, những khổ đau trầm uất và cả những hi vọng thanh tân lóe lên để cứu chuộc những kẻ hành khuất đoạ đày.

*

Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương là cuốn sách tương đối ảm đạm và u uẩn, có nhiều tình tiết mang tính chết chóc, thần bí và thực sự khó giải thích. Thế nên bản thân mình có lời khuyên đến các bạn đang mang ý định tìm đọc tác phẩm này, đó là nên đọc vào những lúc thực sự có thời gian để chiêm nghiệm. Điều này sẽ tránh việc bị ngắt quãng trong tư duy, dẫn đến khó hiểu và có những đánh giá sai lệch về giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

Câu chuyện kể về chuyến hành hương của một người đàn ông 36 tuổi tên là Tazaki Tsukuru. Dưới sự thúc đẩy của người bạn gái Sara, Tazaki đã bắt đầu chuyến đi kiếm tìm lời giải đáp cho những câu hỏi, những nỗi ám ảnh triền miên mà tuổi trẻ anh đã hèn nhát chôn sâu vào tận đáy lòng. Đó là lời giải cho việc Tazaki bị nhóm bạn thân thiết bỏ rơi một cách đầy hụt hẫng vào năm 20 tuổi. Vì không đủ can đảm để truy nguyên đến cùng sự thật, vì lòng tự trọng và cả sự tự ti đã khiến Tazaki của lúc ấy tự chấp nhận cái lý do mình bị bỏ rơi là vì bản thân không đủ quan trọng với những người bạn, vì đã bỏ quê hương để đến Tokyo học hành, vì không có màu sắc trong tên gọi... Sự chối bỏ của nhóm bạn như phát súng kết thúc quãng đời thiếu niên của Tazaki, khai sinh ra một bản thể Tazaki trưởng thành, u uẩn, mang trong tâm thức những vết thương sâu cho đến tận mãi 16 năm sau này.

Trong chuyến hành hương đi tìm lại bản thể, ngoài việc khám phá ra cái lý do kinh hoàng và vô lý đã khiến anh bị bỏ rơi ngày xưa, Tazaki còn được chứng kiến sự đổi thay, sự “mất màu” của những người bạn một thời thân thuộc. Rõ ràng rằng khi đã trưởng thành thì ai cũng phải khác đi, ai cũng có những nỗi đau và cả sự chối bỏ, trốn chạy khỏi chính bản tâm mình. Nhận ra điều đó, Tazaki trở lại hiện thực cùng với quyết tâm truy cầu hạnh phúc, níu giữ lấy Sara, người con gái mà anh đang yêu thương để không phải hối hận thêm một lần nào nữa.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương.

Về Tazaki Tsukuru và những người bạn

Nếu nói cuộc đời này là một món ăn thì tình bạn chính là một loại gia vị không thể thiếu. Chúng ta ai cũng đã từng có bạn, thậm chí có những người bạn thân thiết như cùng một gia đình. Đó là những người mà khi ở bên họ ta được là chính bản thân ta, được ngông cuồng tự tại, được vui cười không một chút tính toan. Tazaki Tsukuru cũng có những người bạn như vậy, đó là:

Akamatsu Kei: Đỏ (Ako) - Thông minh, nhạy bén và kiêu hãnh.
Oumi Yoshio: Xanh (O) - Thật thà, bộc trực và vững tâm.
Kurono Eri: Đen (Kuro) -  Mạnh mẽ, gần gũi và thấu đáo.
Shirane Yuzuki: Trắng (Shira) - Mỏng manh, cao quý và tinh khiết.

Mỗi người trong nhóm bạn của Tazaki Tsukuru đều mang một màu sắc riêng trong tên gọi, và họ cũng có những cá tính, sở thích nổi bật của mình. Điều này đã khiến Tazaki cảm thấy tự ti. Tazaki không có màu sắc trong cái tên và cũng tự đánh giá mình là “tầm thường”, không ước mơ, sở thích hay tính cách gì đáng nói. Trong một nhóm bạn đầy màu sắc, sự tồn tại của Tazaki đúng thật là đôi lúc kém nổi trội hơn nhiều, nhưng chính sự kém nổi trội và trầm lắng của Tazaki lại là một thứ chất xúc tác, dung hoà các màu sắc khác nhau ở cạnh bên nhau. Ở bên nhóm bạn, Tazaki cảm nhận được sự gần gũi, tự nhiên, và chính những người bạn của anh cũng cảm giác như vậy khi ở bên anh, giống như Xanh đã nói:

Không, không phải theo cách đó. Rất khó giải thích nhưng có cái gì như thể chỉ cần mày ở đó thì cả bọn sẽ được là chính mình một cách hết sức tự nhiên. Mày không nhiều lời, nhưng sống với hai bàn chân bám chắc trên mặt đất, điều đó tạo cho cả nhóm một cảm giác vững vàng thầm lặng, giống như cái neo tàu. Từ khi không còn mày, bọn tao mới thật sự cảm nhận được điều này. Có lẽ vì vậy mà từ khi không còn mày, bọn tao bỗng trở nên tản mác.”  

Rất rõ ràng là Tazaki đã tự đánh giá bản thân mình quá thấp, sự choáng ngợp trước những người bạn mang cá tính mạnh và màu sắc nổi bật đã khiến Tazaki trở nên tự ti. Anh không nhận ra được rằng giá trị của mình trong nhóm bạn quan trọng đến nhường nào, để rồi mặc định buông xuôi khi cho rằng mình bị bỏ rơi. Nếu nói một cách trừu tượng, Tazaki không màu chính là trang giấy để vẽ nên một bức tranh, một trang giấy không màu sắc nhưng có thể đón nhận tất cả các màu, có thể trở thành nơi mà các màu sắc có không gian để giao thoa cùng nhau. Nếu thiếu đi trang giấy tưởng chừng như không quan trọng đó, những màu sắc sẽ chỉ còn là những mảng riêng biệt nằm vô nghĩa mãi hoài trên những khay màu đơn độc.

Về sự “mất màu” trong tác phẩm và trong mỗi chúng ta

“Ai rồi cũng phải khác đi.”

Từ sâu trong cơ thể sinh học của chúng ta, các tế bào vẫn đang thay đổi hàng ngày. Sự thay đổi của con người chậm rãi như luộc ếch sống bằng nước lạnh, điều này khiến chúng ta không nhận ra thực tế là bản thân mình đang dần thay đổi, đang dần trở nên hoàn toàn khác so với quá khứ. Những người bạn của Tazaki cũng vậy, họ chỉ là những chú ếch chịu thỏa hiệp với dòng nước đang nóng dần lên theo dòng chảy thời gian, đến khi nhận ra thì màu sắc trong họ đã chết dần đi – không còn kịp để giãy dụa hay phản kháng. Như mình đã nói ở phần tóm tắt, trong quá trình đi tìm hiểu lý do cho việc bị bỏ rơi của ngày xưa, Tazaki đã được chứng kiến sự đổi thay, sự “mất màu” đến không ngờ của những người bạn thân thuộc một thời, cụ thể là:

Akamatsu Kei: Đỏ – Trở nên gian trá, lạnh lùng và tuyệt vọng.
Oumi Yoshio: Xanh – Trở nên hoạt ngôn, cứng nhắc và mỏi mệt.
Kurono Eri: Đen – Trở nên yếu đuối, trốn chạy và an phận.
Shirane Yuzuki: Trắng – Trở thành một người chết đầy bí ẩn sau quá trình khổ đau, hoang tưởng.

Ảnh: The New York Times

Đỏ không còn kiêu hãnh. Xanh không còn kiên định. Đen không còn mạnh mẽ. Trắng không còn tinh khiết. Mất đi những cá tính đặc trưng của tuổi thiếu niên, nhóm bạn của Tazaki không còn là Đỏ, Xanh, Đen hay Trắng. Họ chỉ còn là Akamatsu, Oumi, Kurono, Shirane, chỉ còn là những cái tên tầm thường dùng để định danh, là những kẻ trưởng thành “mất màu” và cô độc, vận hành một cách vô vọng với những nỗi đau trong guồng quay tất bật của cuộc đời.

Có lẽ, Tazaki chính là người ít thay đổi nhất trong nhóm bạn, anh của năm 36 tuổi vẫn vậy, vẫn là một Tazaki hiền lành ít nói, vẫn giữ cho mình ước mơ với những nhà ga và đã thật sự làm việc đúng với ước mơ của mình. Vị trí của những ga tàu trong xã hội cũng phản ánh lên vị trí của Tazaki trong nhóm bạn. Những nhà ga như một điểm giao thoa nhỏ bé và yên bình giữa người đến và người đi, nó dung nhập được tất cả loại người với tất cả màu sắc. Những chuyến tàu nếu không có nhà ga sẽ giống như nhóm bạn thiếu đi Tazaki vậy – rời rạc và không thể vận hành.

Mình cũng đã từng có những người bạn rất thân từ lúc ấu thơ, thân như ruột thịt. Vào thời điểm ấy, không một ai trong số chúng mình nghĩ rằng sẽ có một ngày không còn bên nhau nữa. Rồi thời gian trôi qua, cuộc đời cứ thế đẩy chúng mình rời xa nhau về cả khoảng cách địa lý lẫn địa vị xã hội. Để rồi đến khi gặp lại, ánh mắt những người bạn thân thiết ngày nào nhìn nhau đều không còn trong trẻo, vô tư nữa. Ai cũng đã trở thành người lớn, một kiểu người lớn quy chuẩn và nhạt nhẽo.

Sự ngăn cách vô hình khiến chúng mình không thể trải lòng cùng nhau, cũng vì thế mà không còn hiểu nổi nhau. Đó cũng chính là lúc mình nhận ra, mình – và tất cả bọn họ đều đã chết đi một phần hồn nhiên, đánh mất đi một phần sắc màu của tuổi trẻ. Chúng mình sẽ mãi mãi không thể thân thiết trở lại như ngày ấu thơ, bởi vì không còn ai là chính bản thân của ngày xưa nữa. Cả mình, cả họ, và tất cả chúng ta đều sẽ phải đánh đổi sắc màu của riêng mình để có thể tồn tại trong xã hội này, một xã hội cô đơn không có chỗ cho màu sắc.

Tạm kết

Mình gấp lại những trang sách trong sự bối rối và nhiều dòng suy nghĩ. Trong tác phẩm này của Haruki Murakami, mình nhìn thấy được nhiều mặt phản chiếu khá trùng hợp với bản thân, nên có thể nói là tác phẩm đã ảnh hưởng đến con người mình rất nhiều. Nhân vật chính Tazaki khá may mắn, anh có một gia đình giàu có hậu thuẫn và cũng vì thế mà anh tự do theo đuổi đam mê, được giữ lại màu sắc bình phàm của mình. Cuộc sống của đa phần chúng ta thì không được may mắn như vậy, chúng ta đều phải gieo mình ra xã hội để sống với những mục tiêu thực tế hơn. Như những chú khỉ buộc phải bơi, những loài cá buộc phải leo trèo. Chúng ta đôi khi phải làm những công việc mà mình không yêu thích, gồng mình 8 tiếng, 10 tiếng trong công việc tù túng và những mối quan hệ xã giao. Có lẽ, ngoài một số ít những người may mắn thì đa phần chúng ta ai rồi cũng sẽ như Xanh, như Đỏ - dần dần mất đi những màu sắc của riêng mình.

Khi giới thiệu tác phẩm này đến những người bạn, mình nhận được nhiều phản hồi tiêu cực hơn là tích cực. Mình chỉ muốn nói rằng Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương là một cuốn tiểu thuyết khá nặng nề và sâu sắc, thế nên vẫn còn rất nhiều vấn đề mình chưa thể nêu lên hết trong bài viết như: Về cái chết kỳ bí của Trắng, về lý do cô buộc tội Tazaki, lý giải về nhân vật Xám, về nhân vật Xanh lục trong câu chuyện mà nhân vật Xám kể, về những giấc mơ của Tazaki, về cái kết... Những chủ đề mở này đều có tính u ám và huyền bí, mỗi người đọc sẽ có những cách lý giải của riêng mình, cho nên tác phẩm này hay hay là dở, sâu sắc hay nông cạn là tùy vào gu đọc cùng với khả năng cảm thụ riêng của mỗi người đọc chúng ta.

Hết.

Nguyễn Đình Duy Lộc

*

Muôn màu Haruki Murakami





Đọc bài viết

Cafe sáng