Phía sau trang sách

Phía nam biên giới, phía tây mặt trời: Ranh giới mong manh giữa trái tim và lý trí, hiện thực và mộng tưởng

Chúng ta hiểu gì về thế giới này?
Chúng ta hiểu gì về cuộc đời này?
Và chúng ta hiểu gì về chúng ta?

Published

on

Phía nam biên giới, phía tây mặt trời kết thúc, tôi gấp những trang cuối cùng của cuốn sách lại, thoáng nhìn qua ô cửa sổ dài, thấy một nỗi buồn vừa đọng lại nơi mi mắt của mình, và hoàng hôn đã phảng phất ngoài kia, rực rỡ. Trong một khoảnh khắc mơ hồ nào đó, khi bản thân vẫn còn đang nhập nhằng sống giữa thực và hư, giữa đời và mộng tưởng, tôi thấy mình tựa như một áng mây, trôi bãng lãng, bâng quơ ngang qua bầu trời rộng lớn, hay đang ngang qua một kiếp sống cô độc. Thảng hoặc, tôi nhìn lại, thấy xung quanh mình sao lắm nỗi cô đơn, và những muộn phiền cùng khổ đau đến từ trái tim đã chẳng còn non trẻ cứ đầy rẫy ra đó. Tôi muốn khóc, như là khóc cho chính mình, như là khóc cho người, hoặc là khóc cho tất cả những ai đang tồn tại giữa cuộc đời này, một cách cô độc. À, trong đó có cả Hajime.

Hajime, ôi cái gã trai bao lần cứ hoang hoải trong chính cuộc đời của mình, từ khi còn là một đứa trẻ cho đến khi đã lập gia đình, từ khi trái tim còn non dại nghĩ suy cho đến khi muộn phiền đã ngủ ngầm và chất chứa trong tim. Chẳng hiểu sao khi đọc cuốn sách này, tôi lại thấy Hajime thật là đáng thương, dẫu gã đã có những hành động và suy nghĩ khác biệt mà tôi vẫn luôn cho đó là sai lầm. Tôi cảm giác như Hajime là một con người cô độc, cực kì cô độc. Hajime lớn lên trong một gia đình chỉ có duy nhất một đứa con. Hajime chẳng có nhiều bạn. Người bạn thân thiết thời thơ ấu của Hajime là Shimamoto cũng là con một, và cô ấy cũng chẳng có bạn bè. Cảm giác như những kẻ cô đơn sẽ có cùng một từ trường thu hút, để tìm về, để gắn kết, để thấu hiểu và để sẻ chia. Rồi từ thuở ấu thơ, Hajime bắt đầu lớn dần lên. Cuộc sống của anh cũng chẳng có bất cứ điều gì là đặc sắc. Công việc của anh khô khan như cái cách mà anh đang sống. Mọi thứ đều tẻ nhạt, nhàm chán, vô vị và buồn bã đến mức ngày tháng trôi qua chẳng có lấy một niềm vui chân chính. Nhưng khoan, suy cho cùng, làm gì có một niềm vui chân chính nào trên cõi đời này? Vì mọi thứ đều chỉ là giả tạm. Vì mọi thứ đều chỉ là thoáng qua. Như cơn mưa thấm nhạt vào đất. Rồi bốc hơi, và biến mất.

Vì mọi thứ đều chỉ là giả tạm. Vì mọi thứ đều chỉ là thoáng qua. Như cơn mưa thấm nhạt vào đất. Rồi bốc hơi, và biến mất.

Rồi Hajime kết hôn. Ngoảnh đầu nhìn lại, anh đã đi qua một quãng đời rất dài. Bầu trời vẫn dài rộng và cuộc đời vẫn che đậy những biến số ngỡ ngàng. Hajime có một mái ấm gia đình hạnh phúc với Yukiko cùng những đứa con nhỏ. Ai cũng mong ước, ai cũng ghen tị với cuộc sống của anh. Vợ hiền, con ngoan, việc kinh doanh ổn định, cuộc sống dư dả thoải mái, được làm điều mình thích… Như có một phép màu đã mang điều may mắn đến với cuộc đời của Hajime, anh dần thoát khỏi những vô vị của quá khứ và rẽ sang một trang mới diệu kì. Tưởng chừng như sau khi kết hôn rồi, Hajime sẽ không còn thấy cô đơn nữa. Thế nhưng, nỗi cô đơn cứ bám víu lấy cuộc đời anh một cách lạ kì. Và dù cho hiểu rất rõ về nó, anh vẫn không khi nào có thể rời khỏi nó. Anh luôn cô đơn, anh luôn hoang hoải. Anh luôn thấy bản thân mình như ngạt thở và những ngổn ngang ẩn giấu tiềm tàng trong lòng anh cứ trỗi dậy một cách âm ỉ và mãnh liệt như từng đợt sóng. Anh vẫn chưa thấy hài lòng với cuộc sống của mình. Anh luôn muốn tìm kiếm một lí tưởng nào đó. Một tia hi vọng nào đó. Một niềm hạnh phúc nào đó, mà anh luôn cho là nó giản đơn hơn, nó chân thành hơn, và nó khiến cho anh được sống, dẫu chỉ là sống trong một khoảnh khắc bé nhỏ, rồi phải tan đi…

Vậy cái niềm hạnh phúc mà anh luôn tìm kiếm là gì? Là Shimamoto, người con gái đầu tiên khiến cho anh hiểu được những xúc cảm của tình yêu. Nó không phải là một thứ tình cảm đơn thuần. Nó là kỉ niệm. Nó là điều thiêng liêng. Nó là những khát khao và chờ đợi của Hajime suốt cả một cuộc đời. Vì sao Hajime luôn nhắc nhở và chờ đợi Shimamoto, khi anh đã có gia đình, khi cô đã không còn cạnh kề bên anh nữa, khi thời gian đã ngang qua nhuốm màu kí ức và xô đẩy bao phận người trôi dạt về từng bờ bến khác nhau? Phải chăng “con người ta luôn mơ ước về mối tình đầu?”, vì đó chính là thứ đẹp đẽ và đáng nhớ nhất? Hoặc phải chăng, vì chưa có được một cách tròn vẹn nên người ta cứ luôn khao khát. Một cách mù quáng. Một cách bất chấp. Một cách mờ mịt và tối tăm.

Tôi gọi Hajime là một gã đáng thương là vì sao? Vì gã có rất là nhiều sai lầm. Sai lầm này nối tiếp sai lầm kia. Gã đã bao lần khiến cho những cô gái yêu thương gã phải khổ đau và tổn thương một cách sâu sắc. Gã biết điều đó. Gã hiểu điều đó. Gã luôn ý thức được những việc gã làm. Thế nhưng, gã cho đó là một điều bình thường. “Mình không thể chỉ gặp gỡ cô gái này bình thường như thế này được, nếu không mình sẽ phải hối tiếc cả đời.”, gã tự nhủ. Khi hẹn hò với Izumi, gã lại nhẫn tâm làm tình với chị họ của cô. Khi đã có Yukiko làm vợ, gã vẫn lừa dối cô để qua lại với Shimamoto. Những lời nói dối, những sự lừa lọc… gã có thấy mệt mỏi không. Có bao giờ gã cảm thấy hổ thẹn và xấu hổ với chính bản thân mình. Chắc chỉ có gã biết điều đó! Nhưng tôi không trách gã và oán gã. Vì như đã nói, gã luôn đáng thương. Bởi đôi khi người ta sẽ chẳng thể nào biết được đâu là đúng là sai, là nên làm và không nên làm. Cái tâm thèm khát và chứa đầy dục vọng bao giờ cũng chạy nhanh hơn lí trí, và để có thể thấu hiểu và kiểm soát được cái tâm ô uế đấy lại mất cả một thời gian dài, có khi là trải qua hàng vạn cuộc đời. Tôi mong, nếu như Hajime là một nhân vật có thật trên cuộc đời này, hoặc nếu có bất kì ai đang sống một cuộc đời giống như Hajime, thì họ sẽ hiểu được tâm trí của mình. Với tôi, đó luôn là một điều quan trọng. Hãy thử một lần ngồi lại và lắng nghe tâm trí, rồi ta sẽ thấy nó ô nhiễm và đầy rẫy dục vọng như thế nào. Nghĩ đến thôi, tôi bỗng thấy sợ hãi…

Cái tâm thèm khát và chứa đầy dục vọng bao giờ cũng chạy nhanh hơn lí trí, và để có thể thấu hiểu và kiểm soát được cái tâm ô uế đấy lại mất cả một thời gian dài, có khi là trải qua hàng vạn cuộc đời.

Và khi đặt cuộc đời đáng thương của Hajime vào cuộc đời của những cô gái khác, tôi lại thấy những con người ấy đều vô cùng tội nghiệp giống như nhau. Họ gặp gỡ nhau, họ trôi vào nhau và tìm đến nhau bằng một sợi dây liên kết nào đó. Họ có với nhau những năm tháng đầy kỉ niệm. Họ cho nhau hạnh phúc, rồi họ làm tổn thương nhau, không bằng cách này thì bằng cách khác. Xem ra, ai cũng đau khổ, ai cũng muộn phiền, ai cũng mệt mỏi và khốn cùng với những câu chuyện dông dài trôi dạt biết bao là thế kỉ. Nhưng chẳng ai can tâm từ bỏ, bởi có lẽ tình yêu là một thứ ma thuật lạ kì, khiến con người ta dù biết đau khổ vẫn cứ đâm đầu vào.

“Em không trách gì anh hết. Khi người ta bắt đầu yêu một người, thì là như thế đấy, không thể làm gì cả. Người ta yêu người mà người ta yêu. Em không đủ cho anh, chỉ vậy thôi… Chính vì thế mà em không trách anh đã yêu một người khác. Thật là lạ, điều đó không còn làm em tức tối. Chỉ rất nặng nề để chịu đựng thôi. Vô cùng nặng nề…”, Yukiko.

“Lẽ ra em không nên gặp lại anh. Em đã biết điều đó ngay từ đầu. Lẽ ra em nên để mọi chuyện nguyên xi như thế. Dĩ nhiên, em đã không ngăn nổi mình. Em chỉ muốn nhìn thấy anh và ngay sau đó đi khỏi ngay lập tức. Nhưng, tất nhiên, khi đã nhìn thấy anh, em lại không sao quyết định đi khỏi được nữa…”, Shimamoto.

Hajime yêu Shimamoto. Hajime yêu Izumi. Hajime yêu Yukiko. Và còn có khá nhiều những cô gái không tên khác nữa. Rồi tình yêu. Rồi dục vọng. Rồi nhập nhằng ranh giới giữa lí trí và trái tim. Ngay cả Shimamoto – khi đã qua đi rất nhiều năm tháng dài, vẫn muốn được qua lại với Hajime để khỏa lấp nỗi trống hoắc trong lòng. Họ tìm đến nhau. Họ vụng trộm. Họ bừng lên những suy nghĩ chạy trốn. Họ muốn được giải thoát khỏi cuộc sống này. Họ muốn được tan biến. Họ muốn được rã rời. Sao cũng được, dẫu là cái chết, chỉ cần họ được là của nhau, tan vào nhau, bất tận. Khi cảm xúc đã lấn át lí trí, con người ta khó có thể kiềm chế lại được những gì đang diễn ra trong cuộc sống của mình. Đáng thương, thật sự. Rồi những ngây thơ chân thành đầy thuần khiết của Izumi dành cho Hajime, rồi tình yêu chung thủy đầy sự tha thứ và bao dung của Yukiko dành cho Hajime, tất cả đều chỉ đánh đổi bằng khổ đau và nước mắt. Hajime có lẽ chính là gã đàn ông may mắn khi lúc nào cũng được những người phụ nữ yêu thương hết lòng, chờ đợi, tha thứ và hi sinh. Dẫu là ai đi nữa thì họ cũng đều có chung một đặc điểm, đó là đau khổ vì tình yêu. Vậy họ không đáng thương thì là gì?

Tôi mãi nhớ hoài cảnh tượng vào một ngày buồn đến thê lương, khi Hajime chở Shimamoto trên chuyến xe về lại thành phố của những nỗi buồn, khi trong lòng của cả hai đều ngổn ngang cảm xúc, họ khởi lên trong tâm những ý nghĩ lạ kì. Hay là mình bỏ hết tất cả để theo đuổi hạnh phúc trước mặt này. Hay là mình mặc kệ những điều bàn tán ở sau lưng. Hay là mình chạy trốn. Hay là mình giải thoát nhau để cả hai đều được vẹn tròn hạnh phúc, dẫu chiếc xe kia có tan biến vào hư không, thân xác của nhau có rã rời thành tro bụi. Chỉ cần được ở cạnh bên nhau. Chỉ cần được hòa quyện vào nhau, ngay khoảnh khắc này, khi mà tình yêu rực cháy trong lồng ngực. Cảnh tượng ấy buồn lắm. Câu chuyện ấy buồn lắm. Sao lại nhiều phiền muộn đến thế này. Tôi tự nghĩ, và tôi vẫn chưa tìm được câu trả lời.

Chỉ là thấy thương một Hajime khổ tâm giữa những sự lựa chọn sai trái.

Chỉ là thấy thương Shimamoto khờ dại với trái tim đầy lầm lỗi.

Chỉ là thấy thương Yukiko vẫn thiết tha chân thành tin tưởng người chồng mình hết mực yêu.

Nhưng họ có làm gì khác được đâu. Số phận đã đặt lên mỗi con người những câu chuyện như thế. Họ chẳng thể nào trốn chạy nữa rồi. Đã đến lúc họ nhìn nhận lại chính mình, và đối diện, và can đảm để vượt qua…

Vẫn như những tác phẩm khác của Haruki Murakami, cốt truyện chưa bao giờ là một điều đặc sắc và độc đáo trong Phía nam biên giới, phía tây mặt trời. Mọi diễn biến trong truyện đều chầm chậm và lả lướt như một thước phim quay chậm, băng ngang qua cuộc đời của Hajime một cách khẽ khàng. Cuộc đời ấy chẳng có gì ngoài những người bạn gái, ngoài tình yêu, tình dục, sai lầm và tâm tư suy nghĩ. Thế nhưng, điều nổi bật ở đây chính là, khi nhìn vào những giản đơn tiểu tiết ấy, ta lại thấy cả một thế giới rộng mở trước mặt mình: thế giới nội tâm. Thật hay khi mà những hình ảnh giản đơn trong truyện lại hiện ra rất hài hòa cùng vơi những phân đoạn cảm xúc của nội tâm nhân vật. Khi những kẻ cô đơn cùng buồn bã, âm thanh của những bản nhạc jazz sẽ lên tiếng. Trước khi ai đó muốn nói một điều gì đó, những cuốn sách sẽ xuất hiện. Trước khi có một lỗi lầm xuất hiện, những ly cocktail và rượu sẽ là chất xúc tác để điều đó xảy ra. Tôi vẫn luôn cho rằng Haruki Murakami chính là một nhà văn tài ba khi có khả năng dùng con chữ để vẽ ra những bức tranh phân tích và miêu tả tâm lí nhân vật rất tốt. Các nhân vật không hề bộc lộ những điều đó rõ ràng, nhưng người đọc lại vô tình hóa thân thành các nhân vật ấy và bước chân vào hành trình khám phá những khắc khoải suy nghĩ thường tình kia. Cũng chẳng cần một phương tiện gì xa vời và lạ lẫm, hãy cứ gạt bỏ mọi suy nghĩ và phán xét khi đọc văn của Haruki Murakami đi, vì sự đồng cảm đã làm tốt mọi thứ rồi, tôi vẫn tin.

Có một câu mà tôi rất thích trong cuốn sách này, đó chính là những dòng cuối cùng, khi cuốn sách khép lại, là lời tự tình của Hajime, trong một buổi sáng đầu ngày vắng lặng giữa hơi mây lãng đãng trôi ngang qua khu nghĩa trang Aoyama. “Ở tận sâu trong bóng tối đó, tôi nghĩ đến mặt biển dưới cơn mưa. Trời mưa không tiếng động trên đại dương rộng lớn, mà không ai biết cả. Những giọt nước đập lên mặt nước im lặng, và ngay cả những con cá cũng không có chút ý thức nào về điều đó…”. Với tôi, khung cảnh ấy đẹp lắm, tôi có thể tưởng tượng ra được điều đó. Nó giống như một lời thức tỉnh. Phải chăng rằng vẫn luôn có những giông bão đang chực chờ nổi dậy giữa mặt biển yên bình tĩnh lặng. Hãy cứ chuẩn bị sẵn sàng và đón nhận hết tất cả vào lòng, dù là chuyện gì đi chăng nữa. Rồi cũng sẽ qua, sẽ qua thôi. Cuộc đời này vốn vô thường, kể cả niềm vui, kể cả nỗi buồn. Rồi ta lại quay về với những ngổn ngang trong lòng mình. Ta lại hoang mang chẳng biết có một biên giới nào không ở phía nam kia, và có một mặt trời nào không đang sống giữa bến bờ phía tây.

Và chúng ta là ai?

Và cuộc đời này là gì?

Và thế giới này ra sao?

Bất chợt, một giai điệu nào đó văng vẳng trong đầu tôi những ca từ quen thuộc.

Pretend you’re happy when you’re blue

It isn’t very hard to do…

Hết.

Lâm Lâm

Xem tất cả những bài viết của Lâm Lâm tại đây.


Muôn màu của Haruki Murakami





Phía sau trang sách

Dư Hoa: “Ở tuổi 21, tôi bị cuốn hút bởi Kawabata”

Published

on

By

Là một trong những nhà văn thuộc thế hệ tiên phong của văn học Trung Quốc sau thời mở cửa, Dư Hoa là tên tuổi lớn luôn được chờ đón mỗi khi có tác phẩm mới ra mắt. Văn nghiệp của ông tương đối đa dạng với nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại, từ hiện thực, châm biếm cho đến huyền ảo… Những năm gần đây cùng với Tàn Tuyết, ông được nhắm đến cho vị trí mới nhất của giải Nobel Văn Chương sau đúng một “giáp” mà Mạc Ngôn đã giành được vào năm 2012.

Bài phỏng vấn sau đây được đăng tải trên The Paris Review số mùa đông 2023.

Quay về giai đoạn đầu đời, ông đã đọc gì khi còn trẻ?

Ngoài tuyển tập của Mao Trạch Đông, thì tất cả những gì mà chúng tôi có là sách y học, sách cấp 1, cấp 2 và toàn là Lỗ Tấn. Cũng vì thế nên hồi đó tôi không thích ông ấy chút nào, mặc dù sau này tôi lại thấy thích. Vào những ngày sau Cách mạng Văn hóa, khi thư viện trong thị trấn mở cửa trở lại, thì có khoảng 30 hay 40 cuốn mà họ gọi là văn học cách mạng. Loại này được phép và tôi đã đọc tất cả. Nhưng có một số ít tiểu thuyết được truyền khắp trường một cách bí mật, để khi đến tay của tôi thì nó đã mất bìa trước hoặc là bìa sau, thiếu 10 trang đầu hay 10 trang cuối, do đó mà tôi thậm chí còn không biết nó có tựa là gì hay ai viết ra. Theo kinh nghiệm của tôi, ta có thể sống mà không biết câu chuyện bắt đầu thế nào, nhưng không chịu được khi không biết rõ cái kết. Nó như là cực hình vậy. Vì vậy tôi đã tự mình bịa ra cái kết, và các bạn cùng lớp thường tụ tập xung quanh để nghe những ý tưởng này. Bây giờ nghĩ lại, tôi nhận ra rằng đó có thể là nơi sự nghiệp viết văn của mình bắt đầu.

Các tác phẩm đã chuyển ngữ của Dư Hoa

Ông có bị ảnh hưởng bởi thế hệ tác giả Trung Quốc đi trước không?

Khi tôi bắt đầu viết văn, văn học lúc ấy chủ yếu là văn học vết thương. Chúng bày tỏ sự phẫn nộ đối với Cách mạng Văn hóa. Tôi quan tâm đến Vương Tăng Kỳ vì ông ấy xử lí nỗi đau tinh thần theo cách vô cùng độc đáo. Tôi đã đọc truyện của ông ấy vào năm 1980 và thấy rằng chúng rất hay. Những người giỏi nhất trong thế hệ đó có một điểm chung là họ rất khuyến khích các nhà văn trẻ; trong khi những người hạng 2, hạng 3 thì đối xử tệ với thế hệ tôi, như thể chúng tôi đang đe dọa chiếm lấy vị trí của họ vậy.

Tuy nhiên nhà văn tôi say mê nhất vẫn là Kawabata. Tôi đã đọc Vũ nữ Izu và tôi say mê ông ấy trong vòng 4 năm. Tôi đọc mọi thứ mà mình có được, từ Ngàn cánh hạc, Cố đô, Xứ tuyết, mà tôi vẫn nghĩ là hay nhất...  Kawabata đã dạy tôi rằng chính chi tiết, chứ không phải cốt truyện, mới tạo nên thứ gì đó đáng đọc, rằng những tác phẩm vĩ đại không phải là chuỗi sự kiện mà là tập hợp chi tiết khó quên. Đó là điều mà độc giả cảm động, cốt truyện chỉ đơn thuần là thú vị thôi. Ở tuổi 21, tôi hoàn toàn bị cuốn hút bởi một trong những câu chuyện của ông. Đó là về một người phụ nữ có chồng sắp cưới đang tham chiến, và lo lắng rằng anh sẽ chết trận. Khi ấy cô đã đến thăm một ngôi nhà đang xây dựng dở ở khu vực lân cận, và suy đoán xem ai sẽ sống ở đó khi nó hoàn thành. Nó khá cổ điển và đã trở thành lý tưởng của tôi, về một câu chuyện không có nhân vật chính, chỉ có các nhân vật phụ mà thôi. Ông ấy đã cho tôi thấy không cần phải viết theo tiến trình tường thuật chặt chẽ, mà cũng có thể đảo ngược lại nó.

Với ông thì viết tiểu thuyết có khác biệt nhiều so với khi viết truyện ngắn không?

Tôi luôn cảm thấy viết truyện ngắn giống như là làm một công việc có hạn định vậy. Tôi có thể thực hiện chúng theo lịch trình, và chắc chắn sẽ hoàn thành được trong 1 hoặc là vài ngày. Tiểu thuyết thì không thể làm theo cách đó. Qua nhiều năm làm việc, ý thức của anh thay đổi cuốn sách. Anh hiểu sâu hơn về các nhân vật, anh và họ như sống cùng nhau. Khi tôi viết được nửa chừng cuốn sách, họ bắt đầu nói những điều theo ý mình. Đôi khi tôi nghĩ những điều ấy thậm chí còn tốt hơn khi tự mình tưởng tượng.

Cảnh trong phim Phải sống (1994) của Trương Nghệ Mưu chuyển thể từ tiểu thuyết Sống của Dư Hoa. Ảnh MUBI

Ông đã nói việc viết lách chia đôi cuộc đời?

Vâng, anh sống một cuộc đời tưởng tượng và một cuộc đời khác trong thực tế. Khi cuộc sống đầu tiên phát triển, cuộc sống thứ hai co lại, không cách nào khác cả. Anh càng viết nhiều, thế giới tưởng tượng này càng giãn ra. Và cuộc sống còn lại là ngồi trên ghế, hoàn toàn im lặng, nơi cơ thể anh vẫn còn ở đó. Hoặc có thể chân của anh nhịp lên nhịp xuống, Mạc Ngôn chính là kiểu ấy, khi ông chìm đắm vào việc viết [1].

Ông viết có dễ dàng không, có nhiều bản nháp không?

Nhìn chung, mất đâu đó khoảng một năm để hoàn thành cuốn sách. Tôi thường viết tay, sau đó tôi sẽ xem xét bản nháp trong 1 hoặc là 2 tháng để chỉnh sửa, rồi lại đặt nó ở một chỗ khác, rồi 1 hoặc 2 tháng tiếp theo sẽ chỉnh sửa tiếp. Vào thời điểm bản thảo thứ hai được tinh chỉnh, tôi gần như đã hình dung được nó sẽ diễn ra thế nào. Nhưng trong khi tôi đang chỉnh sửa, tôi thường rơi nước mắt... Chỉ khi đọc hết qua một lần đọc, anh mới hiểu được sức mạnh của nó. Hồi đó chúng tôi không có khăn giấy, và cuối cùng điều tôi phải làm là quấn chiếc khăn quanh tay, dùng nó lau mặt và viết bằng tay còn lại.

Ông có thường khóc khi viết không?

Tôi nghĩ nếu một nhà văn thậm chí không thể tự xúc động với những gì mình viết thì có lẽ họ cũng sẽ không lay động được độc giả của mình. Tôi nhớ khi tôi viết Huynh đệ tôi đã khóc rất nhiều, có cả nước mũi những thứ khác, đến nỗi vợ tôi sẽ bước vào và nhìn thấy một núi khăn giấy đã qua sử dụng ở bên cạnh mình. Lúc này chúng tôi đã có khăn giấy.

Nhưng những cuốn sách đó cũng khá buồn cười.

Sống cần một chút hài hước vì nếu không thì tôi sẽ không thể tiếp tục được. Tôi nghe nói rằng nó rất khó đọc. Trương Nghệ Mưu, đạo diễn bộ phim chuyển thể, đã nói với tôi rằng người xem sẽ khó cảm nhận được nó, nhưng tôi cũng cảm thấy thế!

Ông nghĩ gì về cái kết hạnh phúc hơn của bộ phim?

Tôi yêu bộ phim. Chỉ có kẻ ngốc mới trung thành với nguyên tác, bởi họ là kẻ không có ý tưởng riêng, tất cả những gì họ có thể làm là lùng sục tài liệu và tái hiện nó. Nhân tiện, tôi chưa bao giờ xem bộ phim truyền hình dài tập này. Phim quá dài, mà nếu TV cứ bật mãi thì tôi không chịu nổi.

Kawabata là một trong những nguồn cảm hứng của Dư Hoa

Ông có tưởng tượng cuốn sách sẽ trở thành một tác phẩm kinh điển không?

Với tựa đề Sống, cuốn sách không hề có ý định chết đi! Nhưng mong muốn lớn nhất của tôi là tạp chí nào đó đăng nó nhiều kì và đặt nó lên đầu mục lục, điều mà cuối cùng tôi cũng làm được. Tôi chưa bao giờ có thể tưởng tượng được nó sẽ bán chạy. Tôi nghe nói nó đã bán được tới 20 triệu bản ở Trung Quốc, không bao gồm sách nói, sách điện tử hoặc các bản lậu. Nhà xuất bản của tôi nói rằng tôi phải bán được ít nhất 50 triệu bản lậu đấy.

Phiên bản tiếng Anh của Sống cũng khá tốt. Bây giờ anh nhận được tiền bản quyền 2 năm 1 lần phải không [2].

Không. Đến giờ họ vẫn chưa cho tôi một xu nào cả.

Không thể nào thế!

Tôi sẽ hỏi han về vấn đề này. Nhưng ông có thấy phiền khi sách của mình bị sao chép lậu không?

Tôi không phản đối. Tất cả những bộ phim tôi xem đều là phim lậu, và với tất cả các nhà làm phim ngoài kia, tôi xin lỗi, nhưng những thể loại tôi thích không chiếu ở rạp, vì vậy đó là cách duy nhất tôi có thể xem chúng! Nhân tiện, thật đáng kinh ngạc khi Liên hoan phim Cannes kết thúc vào tháng 5 và đến tháng 8 hoặc tháng 9, thì chúng ta có thể xem phim với phụ đề được dịch.

Ông có thường xuyên gặp khó khăn hoặc bỏ dở công việc không?

Nhà văn Dư Hoa. Ảnh The Paris Review

Hiện tại, tôi có 3 cuốn sách vẫn đang dang dở, tôi cứ tự nhủ mình không được làm gì khác ngoài việc cố gắng hồi sinh hết cả 3 cuốn. Nhưng thời gian để làm việc đó ngày càng ít đi, và cũng thật khó để anh có thể hồi tưởng bản thân thật sự ở đó như khi mới bắt đầu viết. Tôi đã mất tận 21 năm để hoàn thành Thành phố bị mất.

Ông đã duy trì lại mạch cảm xúc đó bằng cách nào?

Những ghi chú của tôi cực kì quan trọng. Trong tất cả những cuốn sách của tôi, nó là cuốn nhắc đến lịch sử sâu sắc nhất, vì vậy tôi cần phải thực hiện rất nhiều nghiên cứu về lịch sử và văn chương. Chỉ riêng điều đó thôi đã mất của tôi gần 2 năm. Tôi đã thu thập được nhiều chi tiết tuyệt vời và nó truyền cảm hứng cho tôi.Dịch từ bài phỏng vấn củaMichael Berry.

Chú thích:

[1] Mạc Ngôn và Dư Hoa từng ở chung phòng trong kí túc xá của trường đại học.

[2] Người thực hiện cuộc phỏng vấn là dịch giả tiếng Anh của tiểu thuyết Sống.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Một Holocaust khác lạ của Georges Perec

Published

on

By

Là một trong những thành viên của nhóm văn chương tiên phong OuLiPo với những sáng tạo về mặt hình thức, cùng Italo Calvino và Raymond Queneau, Georges Perec là một tác giả có sự đổi mới về nghệ thuật viết. Trong đó W, hay Ký ức tuổi thơ ra mắt vào năm 1975 được coi là một trong những tác phẩm vô cùng đỉnh cao.

Những thử nghiệm văn chương

Xưởng Văn Chương Tiềm Tàng hay OuLiPo là nhóm nhà văn và nhà toán học chủ trương đổi mới, cách tân nghệ thuật. Có thể kể đến Italo Calvino với Lâu đài của những số phận giao thoa, khi kết hợp giữa văn chương và bài tarot hay Perec với cuốn tiểu thuyết Đồ vật từng giành giải Renaudot, khi nội dung cuốn sách chỉ được tạo thành từ việc liệt kê đồ vật thường ngày. Ông cũng có một tác phẩm hơi hướng trinh thám mà toàn văn bản không có chữ “e”. W, hay ký ức tuổi thơ cũng nằm trong xu hướng này.

Cuốn sách gồm 2 mạch truyện, một là tự truyện của chính tác giả về cuộc đời mình trước, trong và sau Thế chiến thứ II. Mạch truyện còn lại là sản phẩm thiên về tưởng tượng, khi Perec tạo ra hòn đảo tên là W, nơi cư dân trên đảo sống như một làng thể thao của thế vận hội Olympic. Có thể nhận thấy những nét chấm phá về xu hướng phản địa đàng (dystopia) ở nơi chốn này. Cả 2 câu chuyện được đặt xen kẽ và phản ánh nhau bằng những khoảng trống đã được xây dựng một cách khéo léo.


Về mặt từ ngữ, W không phải là một cái tên đến thật ngẫu nhiên. Cũng như cấu tạo, nó được tạo thành từ 2 chữ V đính kết vào nhau, và 2 chữ V lại được tạo thành từ một chữ X được cắt ngang ra, mà trong tiếng Pháp nó cũng có nghĩa là giá cưa gỗ. Nếu ta thêm thắt một vài chi tiết ở chữ X này, nó sẽ biến thành biểu tượng chữ vạn (卐), và rồi phân rã thành một ngôi sao đính kết trên chính ve áo của người Do Thái (✡). Như vậy về mặt cấu tạo, vùng đất mà Perec đã tưởng tượng ra chính là dấu chỉ cho những gì ông đã trải qua, những gì ông không còn nhớ và cả những gì giờ được vay mượn.

Như ở đầu sách trong những văn bản có tính tự truyện ông đã viết rằng: “Tôi không có ký ức tuổi thơ. Cho đến năm tôi gần mười hai tuổi, tiểu sử của tôi chỉ có vài dòng: tôi mất cha năm bốn tuổi, mất mẹ năm sáu tuổi; tôi sống qua thời chiến tranh trong các khu nội trú khác nhau ở Villard-de-Lans. Năm 1945, vợ chồng chị ruột của cha tôi đã nhận nuôi tôi”. Việc không có mối nối nào đối với ký ức rồi sẽ biến thành một sự đứt gãy, và rồi những gì mà nhà văn làm đó là lấp vào khoảng trống rất nhiều trải nghiệm mình đã chứng kiến, lấy nó từ nơi người khác, và rồi biến nó thành ra của mình hoặc làm một việc hoàn toàn mới mẻ đó là sáng tác.


Trong những đoạn văn mang tính tự truyện được viết ngập ngừng và đầy khoảng trống, nhịp độ của riêng Perec cũng cho ta thấy được sự hoài nghi của bản thân ông. Cũng như W.G.Sebald quẩn quanh bên một nhà ga mà không thể nhớ cái tên Austerlitz tưởng rất quen thuộc là từ đâu ra, Perec cũng thế. Ông viết ký ức lớn nhất mà mình có được là vào năm 1942, ở nhà ga Lyon, khi mẹ mua cho ông một cuốn truyện tranh và rồi thấy bà vẫy chiếc mùi soa màu trắng ở nơi sân ga lúc tàu khởi hành. Cả 2 nhà văn đều được gửi đi trên những toa tàu dành cho trẻ con, để tránh diễn biến phức tạp có thể xảy ra, từ đó nhà ga như chốn lưu lạc của những linh hồn, để họ mãi tìm và rồi tuyệt vọng.

Ở những đoạn khác, Perec cũng đã cài cắm cho ta thấy được vì sao ông lại mang theo ý tưởng tạo ra vùng đất hư cấu của bản thân mình. Trong khi sự khuyết thiếu trong tiểu sử khiến ông an lòng một thời gian dài, thì khi càng lớn, sự khô khan khách quan và hiển lộ trong suốt ngày càng làm ông khó mà chịu nổi. Từ đó ông bắt đầu quan sát. Ông nhớ một cách rõ ràng mình đến với Chúa tận tụy ra sao, ông biết mình đã nhận vơ “di sản” một vụ tai nạn từ người anh họ khiến cho cánh tay bị gập ra sau đặc biệt thế nào… Ông cũng chỉnh sửa những dòng tự truyện mà mình đã biết cách đó vài năm, dù những chú thích cũng không được chắc là hoàn toàn đúng. Chính trong sự quanh quẩn đó, hình ảnh những con người đặc biệt bắt đầu hiện ra, đưa ông vào chốn W tương đối đặc biệt.

Ký ức là hòn đảo tâm trí

W theo đó là một hòn đảo mà tại nơi đây thể thao là quan trọng nhất. Trong khi những người già, phụ nữ, trẻ em bị co cụm trong một khu riêng, thì phần lớn đảo được dành cho những thanh niên đang tuổi trưởng thành. Ở đó gồm có nhiều làng, mỗi làng sẽ cử ra những thành viên riêng lẻ để thi đấu đối kháng với nhau, có khi ở quy mô nội bộ, có khi là 2 làng liên kế, và cũng có khi là những hội lễ như Olympic nơi mà tất cả đều đấu với nhau. Ở đó có các môn như chạy đua nước rút, vượt chướng ngại vật, phóng lao, ném lao cũng như nhiều môn tổng hợp…

Theo Perec viết, “không xã hội loài người nào có thể cạnh tranh được với W”, bởi việc sáng tạo nên nó như được hình thành từ những chủng tộc người Aryan thượng đẳng mà Hitler đã từng một lần ôm mộng bá chủ. Struggle for life là luật ở đây, nơi chỉ chiến thắng và những thành tích mới là quan trọng, còn việc thua cuộc sẽ đưa người ta đi vào cái chết. Khán giả có thể ca ngợi những người chiến thắng, nhưng sẽ không tha cho kẻ bại trận. Chỉ một tiếng kêu đòi hỏi hành hình, điều đó cũng có nghĩa là cái chết đến từ Trung Cổ đang chờ đợi họ.

Nhưng cũng nực cười như một xã hội không có công bằng, trong thứ thiết chế tưởng được kết cấu với các lề luật được quy định trước, thì sự bất công mới luôn là thứ được giới chóp bu ham thích ban phát. Những người thắng cuộc sẽ được ban phát những món ăn ngon và thức rượu quý mà họ không có, để rồi nếu không sáng suốt, họ sẽ thất bại vào ngày hôm sau và rồi bị tước tất cả danh dự. Ở xứ W không có tuyệt đối, chỉ có tương đối. Một người có thể có hết tất cả vào ngày hôm nay, nhưng rồi hôm sau sẽ lại mất cả.

Mua Sách - W hay là ký ức tuổi thơ - Nhã Nam Official tại FishingBook | Tiki

Phụ nữ ở đây chiếm một số lượng vô cùng ít ỏi. Khi sinh nở, chỉ một bé gái là được giữ lại trên 5 bé trai. Vào các ngày lễ chiến thắng, họ bị thả ra như những “thỏ sắt” trong trận đua chó mà phía sau là những vận động viên sẽ cưỡng hiếp họ. Cũng như Chuyện người tùy nữ của Margaret Atwood, giới nữ ở nơi chốn này chỉ được sinh ra dùng cho sinh sản. Những người đàn ông vì những tham vọng cũng như giải phóng cơn khát dục tình, sẽ làm hại nhau bằng đủ mọi cách, từ liên minh, gian lận cho đến giết người, mà dĩ nhiên thế mạnh luôn luôn thuộc về những người mạnh nhất.

Không thể không thấy hòn đảo W chính là mô hình thu nhỏ của trại diệt chủng mà mẹ Perec đã từng bước vào rồi nằm mãi lại. W hay là chữ X được tái định hình trở thành bàn xẻ sinh mạng con người. Việc bỏ tên riêng ở xứ W và được thay bằng một hệ thống các quy tắc phức tạp chẳng phải là việc xóa bỏ danh tính của người Do Thái, xăm lên tay họ những dãy số dài rồi nó sẽ trở thành dấu chỉ của họ đó sao. Và cũng chẳng phải việc đánh dấu những chữ W lên lưng áo khoác của những người trưởng thành cũng tương tự với ngôi sao sáng chói mà những người Do Thái sẽ phải đeo trên ngực mình? Những người phụ nữ bị lạm dụng, những người đàn ông phải luôn chiến đấu giành giật sự sống… để đến cuối cùng họ bị giáng cấp, và chỉ là một trò chơi của giới chóp bu nắm giữ quyền lực.

Như vậy hòn đảo W chính là nỗ lực mà Perec cố gắng thấu hiểu về cuộc đời của mẹ mình, kể từ thời điểm chiếc khăn mùi xoa được vẫy giữa nơi nhà ga Lyon là ấn tượng cuối cùng mà ông sở hữu. Ở đó “những vận động viên ném tạ mà những quả tạ của họ là những cục sắt cùm chân, những vận động viên nhảy cao với cổ chân đeo xích, những vận động viên nhảy xa ngã huych xuống chiếc hố chứa đầy nước phân bón”. Tất cả vô nghĩa, tất cả cuồng loạn và chỉ hướng về một xã hội tàn nhẫn, bạo lực và cũng là nơi cả nhân loại này không còn là người.

Bằng tài năng sáng tạo và những cách tân trong nghệ thuật viết, Georges Perec đã viết nên một cuốn sách thuộc dòng Holocaust khác lạ và ấn tượng. Chính việc tưởng tượng ra vùng đất W hoàn toàn hư cấu, mang chất phản địa đàng đã tạo nên nét đặc biệt cho tác phẩm này, thêm phần đả kích cũng như châm biếm sự mất nhân chính, tạo nên tiếng nói vô cùng mạnh mẽ.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đế chế ký hiệu: Có một nước Nhật rất riêng của Roland Barthes

Published

on

Đế chế ký hiệu là tập tiểu luận không thể bỏ lỡ đối với những ai yêu mến và muốn tìm hiểu về văn hóa nước Nhật – chính xác hơn – là một nước Nhật từ góc nhìn độc đáo của nhà ký hiệu học Roland Barthes.

Tác phẩm Đế chế ký hiệu tập hợp 26 bài viết có tính chất phân mảnh của Roland Barthes về nước Nhật với nhiều bài ngẫu nhiên, xoay quanh các chủ điểm như: Ngôn ngữ lạ, Nước và mẩu vụn, Đũa, Pachinko, Nhà ga, Gói, Ba lối viết, Món ăn giải trung tâm, Tri giác/Vô tri giác, Trong/Ngoài, Cúi chào, Bẻ khóa nghĩa, Miễn nghĩa, Phụ tiết, Hiệu văn phòng phẩm, Lối viết bằng bạo lực, Buồng ký hiệu… Những từ khóa chính được đề cập trong sách có thể kể đến là: bộ mã, rỗng và đầy, đi và viết.

Roland Barthes – tác giả của Đế chế ký hiệu – là nhà ký hiệu học, nhà hậu cấu trúc luận, nhà phê bình văn học nổi tiếng người Pháp. Đế chế ký hiệu được Roland Barthes sáng tác sau chuyến đi Nhật dài ngày theo lời mời của nhà văn Maurice Pinguet – lúc bấy giờ đang giữ chức vụ là giám đốc Viện Pháp-Nhật ở Tokyo.

Đế chế ký hiệu không chỉ là một bức tranh độc đáo về xã hội Nhật Bản mà còn là áng văn xuôi mang vẻ đẹp của văn chương đích thực, giúp độc giả có thể tận hưởng được niềm hân hoan khi chìm đắm trong những dòng suy tư sâu sắc của Roland Barthes. Hãy thử đọc cách ông miêu tả về món tempura, ta sẽ cảm nhận rõ sự hài hòa mĩ mãn khi trí tuệ và cảm xúc song hành với nhau trong một lối văn điêu luyện:

“Món tempura thoát khỏi ý nghĩa mà chúng ta thường gán cho món chiên, tức là sự nặng nề. Bột tìm lại ở đó bản chất của nó là thứ hoa đã được phân tán, hòa loãng, nhẹ nhõm đến mức thành sữa, chứ không còn là chất sệt; gặp dầu, thứ sữa vàng óng ánh ấy mỏng manh đến mức bao lấy mảnh thức ăn một cách không hoàn hảo, để lộ ra màu hồng của tôm, màu xanh của ớt, màu nâu của cà tím, qua đó tước đi của đồ chiên cái tạo nên món tẩm bột rán kiểu Tây, tức là vỏ, là bọc, là đặc.” (Khe)

Khi thưởng thức Đế chế ký hiệu, độc giả không cần phải đọc theo trình tự tuyến tính mà có thể linh hoạt chọn đọc bất kì phần nào trong sách; bởi lẽ, từng bài viết trong cuốn sách là một lát cắt đơn lẻ, vừa độc lập với cái chung và đồng thời vẫn thuộc về cái chung là đề tài văn hóa Nhật Bản. Tùy theo nền tảng tri thức của từng người, việc đón nhận những văn bản trong sách có thể nằm ở nhiều cấp độ khác nhau. Chính vì thế, để hiểu sâu hơn về tác phẩm này, trước khi lật những trang đầu tiên của sách, người đọc nên tìm hiểu một chút về cuộc đời Roland Barthes và những nét đặc trưng của văn hóa nước Nhật. Từ đó, độc giả sẽ có thể thưởng thức sách trong tinh thần phản biện, soi chiếu những luận điểm của tác giả dưới nhiều góc nhìn khác nhau.

Một trong những điểm độc đáo nhất của Đế chế ký hiệu có lẽ là việc nước Nhật được miêu tả trong sách không hoàn toàn là nước Nhật dựa trên thực tế; chính xác hơn, đó là nước Nhật trong trí tưởng tượng của Barthes. Điều này mở ra một không gian riêng để ông có thể tự do tái diễn giải lại nước Nhật theo góc nhìn cá nhân với những quan sát mới lạ, độc đáo, đúng như lời nhận xét của nhà văn Maurice Pinguet:

“Nước Nhật, nước Nhật ấy, nước Nhật của anh ấy – đối với Roland Barthes – là điều không tưởng của cái thèm muốn.”

Chính vì vậy, Đế chế ký hiệu có thể khiến người đọc cảm thấy những gì mình từng hiểu biết về nước Nhật hoàn toàn bị đảo ngược vì nước Nhật mà tác giả trình hiện trong sách hoàn toàn khác với nước Nhật trong những tác phẩm văn học, điện ảnh do chính người Nhật sáng tạo. Tinh thần lạ hóa này có thể truyền nhiều cảm hứng cho các độc giả đang muốn viết văn, hoặc sáng tạo nghệ thuật nói chung.

Thông qua tác phẩm Đế chế ký hiệu, Roland Barthes cho người đọc thấy một tấm gương rất đẹp về người lữ khách khi đặt chân đến đất nước xa lạ đã cố gắng quan sát mọi thứ một cách tinh tường bằng việc tôn trọng sự khác biệt. Đó cũng là tinh thần ta cần phải học hỏi trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay.

Hoàng Đức Nhiên

Đọc bài viết

Cafe sáng