Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Rừng Na Uy, một bản nhạc thăng trầm của sự sống, tình yêu, và cái chết…

Hãy cứ ngủ yên đi nhé những khổ đau này. Vì ta phải thức để sống với niềm vui…

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Đêm bắt đầu xuống, gió cuộn mình réo rắt từng cơn và trận mưa âm ỉ trôi trong làn sương mờ ảo. Tôi trở về phòng sau một cuộc gặp gỡ với những hỉ nộ ái ố thường ngày. Qua ô cửa kính nhỏ đầy những giọt nước mưa bám víu, tôi trông ra đằng xa, nơi có những ngọn đèn đường hiu hắt, nơi có màn đêm tĩnh lặng và có tiếng thở rất khẽ của cao nguyên. Tôi thấy mình đang trống hoắc trong lòng, và tự dưng, bất chợt, trong một khoảnh khắc nào đó, tôi lại nghĩ về Rừng Na Uy, một bản nhạc đầy thăng trầm về sự sống, tình yêu, và cái chết – qua cách kể chuyện đầy trần trụi nhưng lại vô cùng thực tế của Haruki Murakami. Dường như đã có một sợi dây vô hình nào đó – liên kết tôi với cuốn sách này, hoặc chăng, là chính tôi đang tự cảm nhận được một sự liên kết đồng điệu trong tâm hồn mình, nhân một đêm mưa đầy khắc khoải…

Tiếng mưa tan vào gió. Tôi nghĩ về cuộc đời, nghĩ về những người đã xuất hiện trong cuộc đời này, một cách âm thầm và lặng lẽ. Về những tháng ngày rong ruổi nối đuôi nhau trên hành trình làm con người ngắn ngủi, chao ôi, có quá nhiều những vẩn vơ khiến chúng ta suy nghĩ trong đầu, phải vậy không? Mỗi sáng thức dậy là một chặng đường mới, mỗi tối nhắm mắt là một trạm dừng chân, cứ như thế, cuộc đời trải dài ngày này qua tháng nọ, tôi cứ nghĩ rằng mình sẽ không thể nào sống được với một cuộc sống vô vị và tẻ nhạt như vậy. Ấy vậy mà tôi vẫn phải sống. Ấy vậy mà những kẻ cô đơn tột cùng kia vẫn phải sống. Giống tôi vậy.

À, hóa ra, tất cả mọi người đều như nhau. Những kẻ cô đơn thích gặm nhắm nỗi buồn? Như Watanabe, như Naoko, như Midori, Reiko hay cả những con người đang trằn trọc sống như một kẻ ôm nỗi buồn bỏ trốn.

Nỗi buồn là gì? Là một thứ gì đó mà người ta vẫn cho rằng nó ghê gớm lắm. Mà có thật là ghê gớm vậy không. Cũng không biết nữa. Vì nỗi buồn của người này chưa chắc đã là nỗi buồn của người khác. Trên đời này có hàng trăm, hàng vạn nỗi buồn khác nhau, và mỗi người lại có một ý niệm riêng biệt. Vậy thì, thôi mình tạm kết luận rằng nỗi buồn là một điều dĩ nhiên của cuộc sống vậy. Một điều dĩ nhiên mà chưa chắc ai cũng muốn có.

Có lẽ như, dù muốn dù không thì tất cả những nhân vật trong Rừng Na Uy vẫn phải sống và đối diện với nỗi buồn của mình, một cách khảng khái hoặc khiêm nhường. Suốt cả chặng đường dài tồn tại và hiện hữu trên đời, họ đã có quá nhiều những điều để làm, những thứ để chờ đợi, những con đường phải đi. Họ suy nghĩ. Họ hành động. Họ bỏ mặc. Họ bế tắc. Họ khát khao hay họ tuyệt vọng. Tất cả đều là sự sống của riêng họ. Sự sống mà họ tự chọn lấy để gắn mác là mình đang-phải-sống, một cách lay lắt và gượng gạo. Chính những sự sống không lối thoát ấy đã làm cho cái vòng tròn của nỗi cô đơn, nỗi cự tuyệt, nỗi từ chối niềm vui cứ liên tục tuần hoàn và quẩn quanh dai dẳng như thế. Và dường như, với họ, chỉ cần như vậy thôi là đủ? Một sự sống trống rỗng, hay chăng, là do tâm hồn họ đang trống rỗng bởi những khổ đau âm ỉ lấp đầy. Có lẽ là thế rồi. Vì khi khổ đau, đâu phải ai cũng đủ mạnh mẽ để chọn lấy một cuộc sống tươi đẹp hơn. Để làm được như thế, có khi ta phải đánh đổi một đời. À, vậy là tôi đã hiểu rồi. Chẳng phải họ đang chọn một cách sống như vậy đâu, mà là do đau khổ, do nỗi buồn, nỗi cô đơn trong lòng họ. Thôi thì mình cứ tạm thời cho là như thế.

Chẳng hiểu làm sao mà khi những trang cuối cùng của cuốn sách khép lại, tôi đã mặc nhiên để nỗi buồn ghé thăm mình, như một cách để mình được sống với thế giới của những trang sách. Vì với tôi, cuốn sách này là một nỗi buồn mà. Một nỗi buồn thật đẹp. Nỗi buồn ấy đến từ những niềm phảng phất xa xăm, mơ hồ và không rõ hình thù, tất nhiên rằng cũng chẳng thể gọi tên. Nỗi buồn đọng lại thành giọt nước, thành đám mây, thành bầu trời, và thành sự sống. Nỗi buồn chạm sâu vào trái tim của tôi, gửi lại đó bao nhiêu là miên man suy nghĩ, và lắm lúc, ôi trời, bỗng thấy lòng hoang hoải làm sao. Tôi tự hỏi chính tôi, và tự hỏi những con người đã được sống trong trang sách này, rằng có phải họ đã buồn lắm không? Những câu chuyện của họ, những thăng trầm của họ, những biến cố của họ… chẳng hiểu sao mà lại cứ hiện lên thật rõ trong tôi sự đau khổ lạ kì – dẫu trong những niềm đau khổ ấy, họ vẫn sống kiên cường đến lạ thường.

Chắc vì họ có tình yêu…

Tình yêu là gì nhỉ? Tôi đã từng nghe nhiều người nói lắm, rằng tình yêu là một thứ diệu kì. Nó không phải là một ý niệm. Nó thật sự là một điều để mỗi người trong chúng ta cảm nhận, bằng-trái-tim. Tình yêu sẽ làm sống dậy những chân thành tử tế trong trái tim tưởng chừng như đã cằn cỗi héo mòn. Tình yêu sẽ để ngủ yên những khôn nguôi đau khổ của cuộc đời. Và tình yêu, cứ thế, sẽ mãnh liệt gieo đầy những khao khát niềm tin và chứa chan hy vọng.

Watanabe có yêu Naoko không? Có chứ. Vì phải yêu nên cậu ta mới chân thành như thế. Chân thành nhớ, chân thành thương, chân thành hi vọng và chân thành chờ đợi. Vậy còn Naoko thì sao? Có phải cô đến với Watanabe chỉ để khỏa lấp đi những trống trải trong lòng, sau cái chết của Kizuki. Và dẫu cho đã bắt đầu làm tình với Watanabe, Naoko vẫn nghĩ về người bạn trai quá cố, và nghĩ về những mất mát lớn lao trong lòng? Nhưng nếu như thật lòng yêu Naoko, cớ làm sao Watanabe lại có nhiều lần cùng với Nagasawa đi ra ngoài gặp gỡ và qua đêm với những cô gái khác? Lẽ nào tình yêu thì không cần trân trọng? Lẽ nào tình yêu thì không cần gìn giữ? Ơ, mà khoan đã. Ta đã hiểu được gì về mối quan hệ giữa Watanabe và Naoko đâu. Cả về hai phía, có lẽ, chúng ta sẽ chẳng thể nào dùng một từ ngữ nào để nói về mối quan hệ này. Vì nó cứ mơ hồ. Vì nó cứ mập mờ. Vì nó cứ mông lung và mờ ảo như một đám mây bị nhấn chìm giữa ngọn núi khi mặt trời đã thảng thốt hoàng hôn. Đó có thể không phải là tình yêu? Đó phải chăng chỉ là sự cảm thông và tương đồng về mặt cảm xúc, về mặt tâm hồn, về mặt suy nghĩ và ưu tư vẫn từng ngày vật lộn và dằn vặt trong trái tim của hai kẻ cực kì cô đơn này? Cũng không biết nữa. Rừng Na Uy vốn dĩ không phải là một tác phẩm để hiểu, mà là để hỏi. Hỏi cho những ngẫm nghĩ trong lòng.

Vì chúng ta chỉ là một chiếc lá bé nhỏ.

Mà cuộc đời thì là cả cánh rừng, ha!

Nói về sự cô đơn trong tình yêu, tôi lại muốn nói về Nagasawa. Chao ôi, cũng không biết phải làm sao để có thể hiểu hết được suy nghĩ của gã trai vô cùng phức tạp này. Gã phóng khoáng? Gã đa tình? Gã đào hoa hay rằng gã là một kẻ thật sự thất bại trong tình yêu? Gã đã từng ngủ với rất nhiều cô gái, và tất nhiên, đó chỉ là cái cách để mà gã bỡn cợt và vui chơi. Chẳng có bất kì cô gái nào có thể khiến gã rung động – theo đúng nghĩa là tình yêu thật sự. Những gì gã làm, những gì gã trải qua… tất cả chỉ là tình dục. Một sự tình dục vớ vẩn mà ngay chính bản thân gã cũng chẳng hiểu nổi là tại sao mình lại làm thế. Sau mỗi lần gã ngủ với một cô gái nào đó, gã có cảm thấy trống rỗng và vô vị không? Có chứ. Gã hiểu là đằng khắc. Nhưng gã vẫn cứ làm. Cứ làm vậy thôi, chẳng vì lí do gì. Và dẫu cho gã có nói yêu Hatsumi đến hàng trăm lần, thì chắc gì gã đã một lần trân trọng và quan tâm đến cảm xúc của cô. Khi nghĩ về Hatsumi, tôi lại thấy cảm thương cô rất nhiều. Cô yêu gã thật. Cô thấu hiểu bản chất của gã thật. Cô chấp nhận trao cho gã trinh tiết của mình, dẫu biết gã đã và đang ngủ với rất nhiều những cô gái khác. Có thể nhiều người sẽ nói là cô quá ngu ngốc, nhưng tôi lại tin cô, và tôi hiểu lí do vì sao cô lại chấp nhận hết những điều như thế, dẫu cho cô chẳng nhận lại được gì ngoài đau thương, ngoài khổ tâm, và những giọt nước mắt của chia ly. Vì như đã nói, đó là tình yêu. Tôi tin rằng đó là một tình yêu thật sự!

Lại về Midori, lại về Reiko. Ôi những người phụ nữ mạnh mẽ nhưng đôi lúc lại vô cùng kì quặc trong cái nhìn của tôi. Họ là những người đã sống trong tình yêu và đã trải qua những tháng ngày được yêu, dẫu không phải tình yêu nào cũng trọn vẹn. Midori, cô ấy yêu Watanabe, hoặc chăng là cô ấy đang khao khát một tình yêu đúng nghĩa vì cô quá bất mãn và không còn cảm thấy hứng thú với người bạn trai của mình nữa, kể từ khi được gặp và tiếp xúc với Watanabe – cậu bạn cùng lớp thân thiết của mình. Cô ấy dám sống đúng với những suy nghĩ của mình, dẫu nó trần trụi, dẫu nó táo bạo. À, mà những điều đó có nghĩa lí gì đâu, vì cô ấy cũng chẳng thèm quan tâm. Miễn là cô ấy muốn, miễn là cô ấy thích. Cái cách sống và cách yêu của Midori là thế. Còn về Reiko – một người phụ nữ đã ngoài bốn mươi. Một người phụ nữ đã từng có gia đình, vậy mà sau những biến cố và năm tháng tưởng chừng như đã không còn quan tâm đến tình dục, thì phút cuối cùng, cô ấy lại ngỏ lời làm tình với Watanabe – gã đàn ông nhỏ hơn cô đến gần hai mươi tuổi. Tôi không hiểu vì sao Reiko lại chọn như thế, chắc là do tôi chưa từng trải nhiều, và cũng chưa từng nằm ở trong vị trí của Reiko. Tôi chỉ hiểu, tình yêu là một thứ gì đó lạ kì và khó hiểu vô cùng. Nó có cả tình dục. Thứ tình dục mà con người cho đó là điều thiêng liêng và đẹp đẽ nhất. Họ rạo rực và xốn xang. Họ làm tất cả mọi thứ để lao vào nhau. Và rồi, vậy là xong, tình dục cũng chỉ là một sự trống rỗng trong thân xác của những kẻ không tình yêu.

Khi viết đến những dòng chữ này, tôi chợt nhận ra rằng, hầu như những nhân vật tiêu biểu xuất hiện trong Rừng Na Uy đều gắn liền với tình yêu và tình dục. Những phân đoạn tả thực của Haruki Murakami đã làm cho sự trần trụi và nguyên thủy của con người được phơi bày một cách lõa thể, đơn sơ và chân thật nhất. Tôi không biết đó có phải là ý đồ của chính bản thân tác giả không. Nhưng dường như đây là một tác phẩm đã cho tôi thấy được hai thứ của con người: bản năng và lí trí – hai thứ những tưởng là của mình nhưng chẳng bao giờ mình hiểu rõ được nó, vì mình đã bị đánh lừa rất nhiều lần bởi cái tâm ô nhiễm ở bên trong.

Rồi cả sự sống, rồi cả tình yêu, và đã đến lúc chúng ta nên can đảm để nói về cái chết – những cái chết trong đời. Cũng như tình dục, cái chết ở Rừng Na Uy cứ hiện lên đầy ám ảnh và dai dẳng. Nó không hề rùng rợn và ghê sợ. Nó chỉ lạ kì. Nó chỉ bất lực. Nó chỉ bế tắc. Và nó cũng chỉ luẩn quẩn như vậy, và người ta gọi là đã xong một kiếp người. Cái chết của Kizuki, cái chết của chị gái Naoko, cái chết của bố Midori, cái chết của Hatsumi, và sau cùng là cái chết của chính Naoko. Những cái chết mà người ta đã không còn sự lựa chọn nào khác, người ta đã chọn nó, một cái chết đầy tuyệt vọng và mỏi mệt. Có phải rằng họ đã quá khổ đau, có phải rằng họ đã nhiều áp lực, có phải rằng họ đã không còn niềm tin và hi vọng gì nữa để bám víu trong cuộc đời này. Họ chọn cái chết, mà lạ làm sao, những cái chết của họ như lại được chắp vá bởi những đường chỉ bạc bẽo và vô tình. Những cái chết ấy đều giống nhau, nhưng nỗi đau của mỗi người là khác. Liệu rằng ở một thế giới nào đó, họ sẽ không còn đau khổ với nỗi đau của mình?

“Cái chết là có thực, nó không phải là đối nghịch của cuộc sống. Nó là một phần của cuộc sống.” Cái chết vẫn hiện hữu và tồn tại bên cạnh ta, xung quanh ta, trước mắt ta, và cả ở trong ta, từng phút, từng giây, từng khoảnh khắc và từng sát na. Ta vẫn sống, và cứ tưởng là sự sống lâu dài lắm, mà ta đâu biết, thứ song hành cùng với sự sống chính là cái chết. Ta được sinh ra cũng có nghĩa là ta đang chết đi. Một hơi thở đi vào cũng có nghĩa là sẽ có một hơi thở đi ra. Một thứ được hiện hữu cũng sẽ có một thứ phải biến mất. Mà những điều ấy, chẳng đâu xa, vẫn là cứ ở trong ta, mà ta thì không biết, vậy thôi.

Cái chết, tôi vẫn luôn xem nó là một đề mục quan trọng để hướng tới trong cuộc sống của mình. Nói tới đây, có lẽ nhiều người sẽ nghĩ rằng tôi đang bị tiêu cực hoặc đang tự tích lũy năng lượng xấu cho mình, và cho người. Nhưng không, với tôi, hướng tới cái chết chính là hướng tới một hành trình mà tôi đang được sống – một hành trình có những nguồn năng lượng tích cực, những điều tốt đẹp, những thứ hay ho, mà ở nơi đó, tôi sống tốt hơn, tôi biết trân trọng và biết ơn chính sự sống của mình. Vì tôi hiểu rằng mình sẽ chẳng thể nào tránh khỏi được cái chết, nên tôi phải trân quý những ngày mình được sống. Cái chết chỉ thật sự là một điều tiêu cực nếu như ta nhìn nhận nó bằng một thái độ tiêu cực, phải vậy không? Vậy nên, thật sự, tôi cũng mong rằng tất cả chúng ta đều sẽ chẳng ai phải đau khổ đến mức chọn lấy những cái chết đầy thương tiếc như những nhân vật trong Rừng Na Uy. Tôi mong cho những khôn nguôi đau khổ sẽ nằm lại thật sâu trong quá khứ, vì chẳng phải điều duy nhất mà chúng ta nên làm – và phải làm, đó là sống trong hiện tại đó sao!

Hình như có một bản nhạc vang lên, lặng thầm và ngây ngất giữa một khu rừng đầy những nỗi cô đơn. Là sự sống. Là tình yêu. Là cái chết..

Rồi bản nhạc kết thúc, tựa hồ tiếng guitar của Reiko nín bặt giữa màn đêm. Tôi lại trở về thôi.

Hãy cứ ngủ yên đi nhé những khổ đau này. Vì ta phải thức để sống với niềm vui…

Như thế, Rừng Na Uy kết thúc, lắng lại trong tôi chỉ một vài nghĩ ngợi vẩn vơ ấy. Gió vẫn ù bên tai lạnh buốt. Mưa vẫn rơi. Đêm vẫn thở. Và chúng ta sẽ phải tiếp tục sống với cuộc đời của mình – một cách thật ý nghĩa…

Hết.

Lâm Lâm

Xem tất cả những bài viết của Lâm Lâm tại đây.


Muôn màu của Haruki Murakami





1 Comment

1 Bình luận

  1. Thiên An

    Tháng Chín 11, 2019 at 9:14 sáng

    Văn học Nhật luôn có cái gì đó buồn buồn và ám ảnh. :))

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Jane Eyre: Bức họa về ý chí và nghị lực vượt lên số phận của con người

Published

on

Có đôi ba lần thế kỉ trôi qua, những đóm sao đêm đã sáng rồi lại tắt, những cuộc đời nối dài rong ruổi và miên man, bể dâu và đổi khác, tưởng rằng sẽ làm phôi phai đi tất cả những gì từng gọi là đẹp đẽ của một quá khứ huy hoàng, ấy vậy mà, Jane Eyre - một biểu tượng vững chãi của sự kiên cường và bất khuất - vẫn hiện lên thật rạng ngời và rực rỡ qua từng trang sách chứa đầy những hồi ức tự sự thật thà - bất chấp rằng thời đại đã đổi dời, bất chấp rằng thời gian đã cuồng quay. Jane Eyre, hơn cả một cuốn tiểu thuyết đã bao lần làm thổn thức trái tim độc giả, đó còn là một bức họa tuyệt đẹp về ý chí và nghị lực vươn lên số phận của con người.

Thật kì lạ là dù cuốn sách đã được nữ sĩ Charlotte Bronte viết cách đây gần hai trăm năm, ấy vậy mà, những câu chuyện, những sự kiện, những niềm vui hoặc chăng là sự đau khổ của mỗi nhân vật đều thân thuộc và tương đồng với những gì đang vận hành và xảy ra xung quanh con người thời đại này. Đó như là một tấm gương phản chiếu những mảnh đời, những số phận, những biến cố và trở ngại trong suốt hành trình làm người - của từng con người. Vậy phải chăng, con người dù ở bất kì thời điểm nào trong suốt chiều dài lịch sử - đều phải gặp và trải qua những hỉ nộ ái ố muôn thuở như những bậc tiền nhân đã từng?

“Jane Eyre”

Khi nghĩ về cái tên này, dù chỉ là cái tên trong một cuốn tiểu thuyết (hư cấu), nhưng tôi lại bỗng thấy xót xa lạ kì. Cô gái này vì sao lại bất hạnh đến như vậy? Bất hạnh như thể mọi thứ tồi tệ nhất trên đời đều đổ dồn về phía cô. Cô không có gia đình, không có người thân, cũng không có bạn bè gì cả. Những người mà cô còn có thể bám víu được suốt cả thời thơ ấu của mình lại chính là những người không hề muốn nhìn thấy sự hiện diện của cô. Chỉ vì lời hứa với người chồng đã mất, người mợ cay nghiệt đành phải cưu mang cô trong sự oán hận. Bà ghét cô. Bà khinh bỉ cô. Bà trừng phạt cô. Đến cả những đứa con của bà cũng đều khiến cho cô cảm thấy đau đớn. Chưa bao giờ cô thôi sợ hãi. Chưa bao giờ cô có quyền nói lên tiếng lòng mình, hoặc cũng thật khó để có thể chống lại tất cả bọn họ. Thứ duy nhất cô có thể làm chính là chấp nhận sống trong những thù hằn của đám người kia.

Tại sao cô không chạy đi?

Chạy? Chạy đi đâu bây giờ, khi cô chỉ là một đứa trẻ chẳng hay biết gì về cuộc đời ở bên ngoài, và có muôn vàn câu hỏi rằng thế giới xa lạ này ra sao. Cô bé đáng thương tội nghiệp ấy chỉ là một hạt cát nhỏ nhoi giữa sa mạc, chẳng tiếng nói, chẳng sức mạnh, cũng chẳng có ai để dựa vào...

Nhưng!

Jane Eyre! Cô bé nhỏ như một ngọn cỏ ven đường. Nhưng ngọn cỏ không yếu đuối bao giờ. Khi bão giông ập đến hay có ai tàn nhẫn giày xéo lên tấm thân mỏng manh ấy, ngọn cỏ vẫn sống và kiên cường vươn lên. Ngọn cỏ âm ỉ một sức mạnh phi thường - sức mạnh của nghị lực và niềm tin về sự sống của chính bản thân mình. Và Jane cũng vậy. Ai ngờ đâu đằng sau một cô gái trầm lặng ấy lại chính là một ý chí vươn lên không bao giờ ngơi nghỉ. Ý chí rằng mình sẽ được hạnh phúc. Nhất định sẽ được hạnh phúc.

“Tôi không phải là chim, không có chiếc lồng nào có thể bẫy được tôi. Tôi là một người tự do, với ý chí độc lập.”

Không chấp nhận quẩn quanh trong một giới hạn bị người ta rào cản, Jane luôn khao khát được bay đi, tìm kiếm cho mình những lí tưởng sống mới. Trên hành trình đi tìm kiếm tự do và hạnh phúc ấy, lắm khi, Jane đau khổ và thất vọng thật nhiều. Cái cay nghiệt đâu chỉ mãi quẩn quanh trong gia đình bà Reed, nó còn xuất hiện và liên tục lặp đi lặp lại mãi suốt cả quãng đời sau này của Jane: từ khi còn là nữ sinh ở trường Lowood cho đến khi về làm việc tại nhà của ông Rochester. Khi đã tưởng được yên bình rồi, thì bão giông lại bất ngờ ập đến. Khi đã tưởng kiếm tìm được hạnh phúc, thì đau khổ lại bỗng chốc lên ngôi. Cô gái bé nhỏ ấy cứ liên tục gặp phải những chuyện đau lòng. Đã từng đi qua mùa dịch bệnh, đã từng đói, từng khát, từng trở thành người vô gia cư - không thức ăn, không tài sản, từng hi vọng và bị cướp mất đi hi vọng, từng hạnh phúc vô bờ rồi bỗng rơi xuống đáy của nỗi đau... Những điều ấy, những tưởng sẽ quật ngã và giết chết Jane Eyre. Nhưng lạ thường thay, càng khó khăn, Jane lại càng vươn lên mạnh mẽ. Jane không bao giờ cam chịu hay chấp nhận những uất ức cuộc đời. Jane học được nhiều điều từ chính những khó khăn ấy. Jane phản kháng quyết liệt với những bất công mà cuộc đời đem lại. Tại sao chứ? Sao lại cúi đầu để nghiệt ngã lên ngôi, trong khi chính mình phải trở nên hiên ngang mới đúng?

“Nếu người ta lúc nào cũng tử tế và vâng lời những kẻ độc ác bất công, thì chỉ tổ làm cho kẻ ác tha hồ được thể, chúng sẽ chẳng bao giờ e dè gì cả, và như vậy thì bao giờ mà chúng tay đổi được; trái lại, chúng sẽ ngày càng trở nên quá quắt.”

“Khi nào bị đánh đòn một cách vô lý, ta cần phải chống cự lại, thật táo bạo vào. Tôi cam đoan phải làm như thế, chống cự mạnh đến mức làm cho kẻ đánh đập chúng ta phải kệch hẳn.”

“Tôi phải kháng cự lại những kẻ phạt tôi một cách bất công. Điều đó cũng tự nhiên như tôi yêu một người nào tỏ ra yêu mến tôi, và phải chịu trừng phạt khi tôi thấy là đáng phạt.”

Vì đâu mà Jane lại có thể thốt ra những lý lẽ như vậy? Phải chăng là do đã bị chà đạp quá nhiều và dìm sâu xuống tận cùng sự khổ, cô ấy mới phải tự mình đứng dậy để tìm một lối thoát cho chính mình, và chống cự lại những kẻ đã luôn đay nghiến cô? Tức nước thì vỡ bờ. Cũng giống như câu chuyện của bao kẻ khốn cùng khác, khi không còn sự lựa chọn nào cho cuộc đời đau khổ của mình, họ đành chọn mạnh mẽ!

Jane mạnh mẽ để vượt qua sóng gió, nhưng sự mạnh mẽ đó không hề biến Jane trở thành một con người vô cảm và lạnh lùng. Jane vẫn là Jane, với trái tim nồng ấm yêu thương, biết cảm thông và chia sẻ, biết thấu hiểu và quên hết hận thù.

Giống như Jane từng nghĩ rằng mình sẽ căm ghét và thù hằn bà Reed đến cuối cuộc đời - sau những điều tồi tệ bà từng làm với mình, thế nhưng, khi gặp lại bà sau nhiều năm xa cách, Jane đã chẳng còn hận thù gì thêm nữa. Jane hiểu rằng quá khứ đã mãi mãi nằm lại ở phía sau, và hiện tại, những ân oán này đã không còn ý nghĩa gì hết. Jane bỗng muốn gọi bà Reed bằng tiếng gọi thân thương, “Mợ!”, để rồi sau đó, hận thù sẽ nhường chỗ cho yêu thương.

“Mợ Reed thân mến, mợ đừng nghĩ đến những chuyện cũ ấy làm gì nữa, xin mợ hãy quên đi...”

“Mợ ơi, giá mợ có thể quên những điều đó đi, và nhìn cháu với một lòng khoan dung thương mến...”

“Hồi còn bé, nhiều lần cháu rất muốn được yêu quý mợ nếu mợ cho phép. Và bây giờ cháu hết sức mong mỏi được làm lành với mợ, mợ ơi, mợ hôn cháu đi.”

Với Jane, yêu thương là một điều thiêng liêng mà cô đã dành cả tuổi trẻ của mình để tìm kiếm. Vậy nên, khi có được những yêu thương ấy từ người đàn ông mà cô có tình cảm, cô luôn biết ơn và trân trọng. Tuy vậy, Jane không bao giờ cho phép bản thân mình sở hữu thứ yêu thương “dễ dãi” và “tầm thường”, nếu hạnh phúc mà cô có được là điều không xứng đáng. Cô nào chấp nhận mình trở thành một người phụ nữ “rẻ tiền” khi kết hôn cùng một người đã có vợ, cùng làm chuyện bất hợp pháp và khinh thường đạo lí như vậy.

“Tôi càng cô độc, càng không bè bạn, càng không nơi nương tựa, thì tôi lại càng tự trọng.”

“Luật pháp và những nguyên tắc đạo đức đâu phải đặt ra cho lúc bình thường không có sự cám dỗ, mà là cho những lúc như thế này, khi thể xác và linh hồn nổi lên chống lại sự khe khắt của chúng. Chúng khe khắt, chúng sẽ không bị vi phạm. Nhưng vì thuận tiện cho mình mà tôi phá bỏ chúng thì chẳng hóa chúng không có giá trị gì ư?”

Thật xót xa ngay phút giây trong lễ đường, Jane đã phơi phới niềm tin về một hạnh phúc căng tràn trong lồng ngực, để rồi bỗng chốc, sự thật ập đến tai, hạnh phúc vỡ tan tành như bọt sóng giữa đại dương... Chính khoảnh khắc Jane Eyre quyết định rời đi khỏi căn biệt thự Thornfield sau khi biết người mình yêu thương đã có vợ, cũng là khi độc giả tìm thấy được hình ảnh của một con người can đảm, dũng cảm, và độc lập - dẫu đằng sau đó là những giọt nước mắt ê chề và đau khổ tận tâm can. Nhưng vì đã dũng cảm yêu thương, thì khi yêu thương không còn ý nghĩa nữa, chúng ta phải dũng cảm để từ bỏ mà thôi...

“Trên đời chưa ai có thể mong ước được yêu như tôi đã được yêu, và tôi tuyệt đối phụng thờ con người đã yêu tôi như vậy, ấy thế mà tôi phải từ bỏ tình yêu với thần tượng đó. Bổn phận khốc liệt của tôi nằm gọn trọng một chữ buồn rầu: Đi!”

“Vĩnh biệt”, đó là tiếng kêu của trái tim tôi lúc tôi rời ông. Sự tuyệt vọng nói: “Đời đời vĩnh biệt.”

Nhưng sẽ chẳng có đau khổ nào là mãi mãi, khi mà sau tất cả, cuối cùng thì hạnh phúc cũng đã đến bên Jane. Đó không phải là một điều may mắn. Đó là điều tất nhiên - phần thưởng dành cho những ai biết cố gắng, biết nỗ lực và vươn lên số phận. Biết sống không hoang phí - dẫu cuộc đời đầy rẫy nỗi trầm luân. Rồi khi giọt nắng đậu bên thềm, khi cơn bão qua đi và trời xanh trở lại, cũng là lúc hạnh phúc chạm đến. Sẽ có ai đó ở cạnh bên và lắng nghe những câu chuyện của Jane, sẽ lau khô giọt nước mắt đã bao lần cô từng khóc, sẽ an ủi và yêu thương cô. Sẽ đền đáp cho cô sau năm tháng khổ cực. Cuối cùng, và nhất định, hạnh phúc đã ghé qua!

Jane Eyre chính là tấm gương phản phất hình ảnh của một cô gái bé nhỏ với một nghị lực sống phi thường giữa muôn vàn trắc trở của cuộc đời. Dẫu bị xã hội đương thời ruồng rẫy hay ghét bỏ, thế nào, Jane vẫn kiên cường và bất khuất như một ngọn cỏ dại hiên ngang trước bão. Đọc Jane Eyre để tìm thấy những phẩm chất cao cả của một con người, để tự soi lại bản thân mình trong suốt hành trình sống, và để thấy, xen lẫn những chất liệu thi ca lãng mạn hay khắc tạc hiện thực khắc nghiệt, thì tình yêu vẫn đẹp biết bao: tình yêu nhân loại, và tình yêu giữa người với người...

Thật khó để có thể kể hết những điều thật sự có ý nghĩa với tôi trong cuốn sách này, bởi qua từng giai đoạn, từng chi tiết khác nhau, thì tôi lại cảm nhận được những giá trị riêng biệt cho riêng mình. Tôi học được từ Jane một ý chí mạnh mẽ vô cùng. Đã có lúc tôi nghĩ, nếu tôi là Jane, liệu rằng tôi có thể mạnh mẽ được như cô ấy, liệu rằng tôi có dám đương đầu vươn lên giông bão, liệu rằng tôi có vượt qua được cám dỗ để theo đuổi một niềm hạnh phúc thật sự của riêng mình. Tôi không biết tôi sẽ thế nào. Nhưng tôi biết, thứ tôi đang suy nghĩ là gì...

“Bạn đọc thân mến, cầu cho bạn đừng bao giờ cảm nghĩ như tôi lúc ấy! Cầu cho mắt bạn đừng bao giờ phải nhỏ những giọt lệ nóng hổi, tràn trề, xé ruột xé gan như tôi. Cầu cho bạn đừng bao giờ phải cầu xin Chúa một cách tuyệt vọng và đay khổ như tôi đã cầu xin trong giờ phút ấy, Cầu cho bạn đừng bao giờ lo sợ như tôi, phải trở thành nguồn đau khổ cho người mà mình yêu với tất cả tâm hồn.”

Jane Eyre!

Hết.

Lâm Lâm

*

Đọc tất cả bài viết của Lâm Lâm

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Louise Glück là ai mà đạt giải Nobel Văn chương 2020?

Cùng ba bài thơ trong tập “The Wild Iris” (1992)

Published

on

Louise Glück (1943) là một nhà thơ hiện đại Mỹ. Bà sinh ở New York và trải qua thời tấm bé ở Long Island. Bà là tác giả của nhiều tập thơ mang dáng dấp tự bạch, song, thơ của bà thường vượt ra ngoài những kiến trúc và sự bày trí hình thể để nói về những trải nghiệm cá nhân thật sự sâu sắc và cá biệt. Bởi vì thường đi tìm hiểu về những mất mát, tổn thương trong những câu chuyện gia đình, thần thoại (đặc biệt là hình ảnh của Odysseus và Penelope) mà thơ của bà thường được coi như là ảm đạm. Bon Bogen trên tờ Nation gọi “những mối quan tâm căn bản” của thơ bà là “bội phản, đạo đức, tình yêu và cảm giác cùng đồng hành. Một nhà thơ của thế giới tan vỡ.” Thế nhưng, ẩn sau trong những cảm xúc vượt ra ngoài biên giới, là một thế giới vật chất muôn màu, nhiều tác động, khiến cho ta cảm giác dễ chịu khi có cơ hội được bước qua cánh cửa hiện tại thậm phồn, trả đúng con người về đúng nỗi hỗn loạn tươi đẹp của Cioran từng mơ ước. Đó là những tập thơ The Triumph of Achilles (1985), The Wild Iris (1992), Meadowlands (1996) gần đây là Faithful and Virtuous Night (2014).

Mấy ngày trước, chúng ta lại được xem màn cua gắt của Viện và tất cả mọi suy đoán trôi đi như nước lụt. Tôi cũng thế. Tôi cứ nghĩ nếu gạt đi hết Ngũgĩ wa Thiong’o, Milan Kundera (vì vừa mới được giải Kafka tháng trước, tưởng một Handke thứ hai) hay đặc biệt “nặng ký” Haruki Murakami năm nào cũng toả khắp văn đàn để chửi cho bớt tức, thì tôi không bao giờ nghĩ Mỹ lại nhận lại một Nobel kể từ Toni (không tính Bob). Tôi luôn xem xét Mỹ đã là một địa hạt mà văn xuôi đã úa tàn từ lúc Toni Morrison mất, Stephen King được coi là bậc thầy,... (còn thơ thì tôi quan tâm đến Anne Carson, thế nhưng bà lại sinh ra ở Canada). Tôi bị cuốn vào dòng tranh luận và các bàn tròn rằng năm nay Viện sẽ cua bằng cách trở lại châu Âu, hoặc qua tận châu Phi để chọn Antjie Krog hay táo bạo hơn là tha cho Milan Kundera khoảng ngày đợi chờ ở tuổi 91. Thế mà, tôi lại nhận được kết quả từ fanpage của một một nhà xuất bản. Louise Glück đối với tôi cũng như hầu hết tất cả những ai khác, tôi chỉ nhớ từng đọc được vài bài thơ trên A Star Is Fading của Nguyễn Huy Hoàng và không có ấn tượng lắm. Thế nhưng, bằng một cách nào đó, với cái lý do mà Viện đưa ra năm nào cũng thật là huy hoàng: “cho một giọng thơ không thể nhầm lẫn trong việc đưa cái đẹp của sự khổ hạnh và tồn tại cá nhân ra thành cái toàn thế.” Quả thật, sức mạnh của Nobel đủ làm ta phải choáng mình, phải lụi bụi tìm xem liệu “cái đẹp”, “sự khổ hạnh” và “tồn tại cá nhân” đó thực sự là gì mà ghê gớm đến thế, mà đủ sức đánh bật soái ca Haruki mà ta thầm ngưỡng mộ dù giờ mua “Người tivi” hay “Ngày đẹp trời để xem kangoroo” cũng chẳng phải là điều mà fan-gơn fan-boy, fan-PhD, fan-only-for-Rừng Na-uy,... làm nổi.

Chi bằng ta tự mình chiêm nghiệm các bài thơ được tôi dịch tỉ mỉ dưới đây, cả ba bài đều năm trong tập thơ The Wild Iris, được xuất bản năm 1992 và ngay lập tức được truy tặng giải Pulitzer cho Thơ Ca vào năm sau. Những bài thơ tôi dịch chắc chắn sẽ không đảm bảo được những điều mà một bài thơ nguyên bản yêu cầu, song, dễ đọc, và gần với cách chúng ta tiếp cận hơn. Dù thế, bạn có thể dễ dàng tìm thấy các bản gốc (tiếng Anh, ơn trời!) trên poemhunter.com hoặc pinterest.com.

HẠNH PHÚC

Một người đàn ông và một người phụ nữ nằm trên chiếc giường màu trắng
Lúc đó tinh mơ. Tôi nghĩ là
Họ sẽ thức dậy sớm thôi.
Trên bàn đêm cạnh giường là một lọ hoa
cắm những bông hoa lưu ly; ánh mặt trời
đục lỗ trong cổ họng.
Tôi nhìn chàng quay về phía nàng
như thể để gọi tên nàng
nhưng khẽ khàng, sâu trong họng nàng—
Trên gờ cửa sổ,
một lần, hai lần,
một con chim gọi.
Và sau đó nàng trở người; thân thể nàng
ngập trong hơi thở của chàng.

Tôi mở mắt ra; cậu đang nhìn tôi.
Gần như khắp phòng
ánh sáng mặt trời trượt đi.
Nhìn vào mặt cậu, cậu nói
nâng gương mặt cậu lại gần tôi
để làm thành một tấm gương.
Cậu mới bình tĩnh làm sao. Và bánh xe cháy trong lửa
lướt nhẹ nhàng qua chúng mình.

*

KHÚC RU

Mẹ tôi giỏi nhất một chuyện:
đem những người bà thương qua một thế giới khác.
Những thứ bé bỏng, những đứa bé—chúng nó
nàng ru, thầm thì và khẽ hát. Tôi không thể nói được
bà đã làm những gì cho bố;
dù gì đi chăng nữa, tôi đồ rằng nó là điều phải.

Cũng giống như thế, thật đấy, gói ghém một người
cho giấc ngủ, cho cái chết. Những khúc ru—họ đều nói
đừng có sợ, đó là cách họ quẩn quanh về
nhịp đập trái tim của người mẹ.
Thế nên sự sống nảy ra bình tĩnh yên ắng; điều đó chỉ
những người sắp chết, những người không thể, những người chối từ.

Sắp chết giống như những đỉnh cao, như con quay hồi chuyển—
chúng quay thật nhanh chúng trông vẫn đứng yên.
Xong thì cất cánh bay đi: trong vòng tay mẹ tôi,
chị tôi là một đám mây nguyên tử, của những hạt—đó là sự khác biệt.
Khi một đứa bé say ngủ, nó vẫn tròn vẹn.

Mẹ tôi trông như cái chết; bà không nói về sự thánh thoát của linh hồn.
Bà ôm trên mình một đứa bé mới sinh, một lão già, như thể sự chênh lệch của màn đêm hoá đặc xung quanh họ, cuối cùng cũng thay đổi thế giới.

Linh hồn cũng như tất cả vật thể:
thế tại sao nó lại mãi không bị dấy đến, chung thuỷ mãi với hình bóng của nó,
trong khi có thể tự do?

*

QUYẾT ĐỊNH CỦA ODYSSEUS

Người đàn ông vĩ đại quay lưng mình về phía đảo.
Giờ thì chàng sẽ không chết ở thiên đàng
cũng không nghe lại
những tiếng đàn luýt trên thiên đàng len giữa những cây ô-liu,
cạnh những cái hồ trong vắt dưới những cây bách. Thời gian
bắt đầu từ bây giờ, nơi chàng được nghe lại
nhịp đập đó là biển cả được
nghe kể lại, vào buổi bình minh lúc lực hút của nó là mạnh nhất.
Thứ gì đem chúng ta đến đây
sẽ dẫn chúng ta rời đi; con thuyền của chúng ta
chòng chành trên vùng nước cảnh những sắc màu kẻ sọc.
Giờ giờ nghỉ chân đã hết.
Trả chàng lại với cuộc sống của chàng,
biển chỉ có thể tiến về phía trước.

Hết.

S

*

Chuyện Nobel Văn chương



Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Bước tới thảnh thơi: Tự do khởi nguồn trong khuôn khổ là tự do vững chãi

Published

on

By

Phải đọc Bước tới thảnh thơi, hay phải đi xuyên suốt các tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong cái tâm không chướng ngại, có như vậy mới đủ kiên nhẫn để cảm nhận từng ý nghĩa, từng lợi ích sâu xa từ một cuốn sách có vẻ dành cho người xuất sĩ (xuất gia), hơn là hướng về đại chúng.

Tạo năng lượng trong những điều thường ngày

Người đi tu tạo ra năng lượng thông qua các sinh hoạt thường nhật. Bước tới thảnh thơi có ba nội dung chính nhằm miêu tả cuộc sống thường ngày nên có của một vị xuất sĩ.

Đầu tiên là Thi kệ

Đánh răng
Đánh răng và súc miệng
Cho sạch nghiệp nói năng
Miệng thơm lời chánh ngữ
Hoa nở tự vườn tâm

Đầu tiên là Thi kệ, công cụ giúp khởi tâm đúng đắn trước khi sinh hoạt, để duy trì chánh niệm được lâu hơn.

Chánh niệm là khả năng tập trung vào một hành động đang diễn ra, mà không suy nghĩ vẩn vơ bên này, bên kia. Giỏi hơn thì người duy trì chánh niệm nên có khả năng quán niệm về hành động mình đang làm, để có thể hoàn thành nó một cách đúng đắn và tạo tác được niềm vui trong quá trình sinh hoạt.

Đơn cử như việc đánh răng, mục đích là để làm sạch bộ hàm và giúp khởi động một ngày mới tỉnh táo, thì nên đánh sao cho kĩ, cho nhẹ nhàng, cho ân cần; dành hết sự trân quý cho bộ hàm đã giúp mình nhai nhỏ thức ăn mỗi ngày, giúp mình cười duyên, cho cái lưỡi đã giúp mình nói những lời ái ngữ; thay vì suy nghĩ lan man như sau khi đánh răng thì nên ăn gì, hoặc sáng nay có cuộc họp nào không.

Hãy dành hết tâm trí để thực hiện những sinh hoạt này như lúc bản thân dành hết tâm trí khi ở bên người mình thương vậy. Bởi nếu thực sự tập trung và hiểu được ý nghĩa việc mình cần làm, thì làm sao nghĩ đến việc khác được.

Đó gọi là chánh niệm. Năng lượng an lạc khởi nguồn từ đây.

Có gần 100 bài thi kệ trong Bước tới thảnh thơi, bổ trợ cho người xuất sĩ khởi niệm về một sinh hoạt thường ngày một cách đúng đắn.

Thứ hai là Mười giới mà một vị Sa di (xuất sĩ) bắt buộc phải giữ gìn. 

Hãy xem về giới thứ tư: Thực tập chánh ngữ và lắng nghe

Vì lời nói thiếu chánh niệm sẽ gây khổ đau cho nhiều người, gây đổ vỡ, gây chia rẽ, gây căm thù, bạo động nên nguyện không nói dối, không phê bình, lên án, cũng không kể ra lỗi lầm của ai. Người xuất gia sẽ nguyện thực tập lắng nghe với tâm từ bi, tôi hiện diện ở đây là vì bạn, chỉ để mang đi những buồn phiền, trăn trở đang tồn tại trong lời người nói.

Giúp người khác thức tỉnh là một quá trình của duyên hội tụ, nên lời nói thẳng thắn, xát muối thường chỉ để lại nhiều day dứt mà không có tác dụng chữa lành ngay tức khắc.

Khi nói về đạo Phật thực hành, ta sẽ nói về sự hiểu biết đi kèm với sự thực tập bằng tâm từ bi. Khi phát nguyện giữ giới, người xuất sĩ từ đầu đã quán triệt triết lý duyên sinh duyên khởi và nguyện giữ giới để thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn đó hoặc không vẽ cái vòng đó cho người khác. Hiểu về nguồn gốc của khổ đau nên nguyện không sinh ra khổ đau cho chúng sanh. Công dụng của đạo Phật thực hành nằm ở đây.

Cho nên người ta mới thấy tự do mà chịu đưa mình vào khuôn khổ.

Tu tập cao hơn thì có thể thực tập chỉ trì. Nghĩa là khi sắp phạm giới đến nơi rồi, thì biết dừng lại và tiếp tục hành trì. Khả năng ý thức tập khí bên trong trỗi dậy và chuẩn bị tác động vào lời nói của mình, sau đó bình tĩnh dừng lại và duy trì việc lắng nghe người kia là một kiểu tay nghề điêu luyện của người chọn giữ giới. Phải kiên tâm tập hành thiền, tập giữ chánh niệm một thời gian dài.

Thứ ba là Bốn mươi mốt thiên uy nghi dành cho vị xuất sĩ thọ giới Sa di.

Nếu ngồi ăn một quả quýt trong chánh niệm, thì đâu là sự khác biệt giữa người có tu học và người chưa tu học? Vì đâu đó trong số đại chúng, vẫn có nhiều người ăn quýt chỉ để ăn quýt mà thôi, tận hưởng, không suy nghĩ đến việc khác, cũng không cần học về đạo mới biết cách ăn như vậy. 

Tuy nhiên, giữa người ngồi ăn quýt trong tư thế lịch sự, vững chãi, khoan thai và người ngồi gác một chân lên ghế, thì dễ phân biệt rồi đúng không?

Thiên uy nghi là vẻ đẹp của chánh niệm, biểu hiện trong tư thế, động tác, ngôn từ, và cách xử sự. Người thực tập thiên uy nghi sẽ tạo tác thêm nhiều kiên cố và ung dung trong từng động tác chánh niệm. Bốn mươi mốt thiên uy nghi này không phải thứ bạn có thể “nuốt ngay” như kiểu mì ăn liền. Đây là kiểu công thức, tuyệt chiêu dành cho những lúc cần đến, thì giở ra mà học.

Thiên uy nghi thứ bốn mươi: Làm mới

Trong tiến trình của một mối quan hệ, hay là của vạn vật, sẽ có giai đoạn đóng băng trước khi thoái trào. Làm mới là một sự chủ động, khi người xuất sĩ nhận ra giữa mình và một vị sư muội/sư huynh kia đang có sự “lăn tăn” dẫn đến khó mà cùng nhau tu học.

Vậy mới nói rằng đời sống tu sĩ đóng khuôn trong giới luật và uy nghi, xa rời thú vui tiêu khiển, đâu có nghĩa là buồn chán và lạc hậu. Uy nghi thứ bốn mươi chỉ rằng, khi biết người bạn đồng tu của mình có chút giận hờn, hiểu lầm, hoặc làm sai quấy, thì người xuất sĩ nên tìm cách giãi bày ngay với người bạn này, trong vòng bảy ngày nếu sự việc vẫn chưa êm xuôi, cần thông báo đến tăng thân trong tu viện để có biện pháp kịp thời.

Vậy giãi bày như thế nào cho khéo léo? Giãi bày như thế nào để không tạo thêm sân si, đổ vỡ?

Người tu học sẽ dùng sự hiểu biết và phân tích sâu của mình để khởi tâm chân thành và từ bi để làm theo 3 bước như sau: Công nhận, khen ngợi người bạn kia - Tự kiểm điểm những thiếu sót của chính mình - Nói ra những khổ tâm mà mình đang chịu đựng. Rồi kết luận bằng cách đề nghị hoặc nhờ vả người kia tiếp tục tu tập có hợp tác cùng nhau.

Đời sống thế tục cần bạn tranh thủ nghỉ ngơi mỗi khi được ở một mình, tái tạo lại năng lượng đã tiêu hao cho những thời giờ giao tiếp với xã hội. Còn đời sống tu học sẽ dạy bạn cách phát triển và nuôi dưỡng năng lượng tâm linh trong từng thời khắc của cuộc sống; cách bảo toàn sự an lạc khi gặp phải những bực dọc, giận hờn, lo toan, si mê trong công việc và các mối quan hệ.

Có phải đại đa số chúng ta đều tìm được công việc mình yêu thích, để có thể sống trọn từng ngày? Hay đại đa số chúng ta, đều có thể tránh né được những điều kém may mắn, phật lòng? 

Người viết nghĩ lợi ích của Bước tới thảnh thơi chính là ở đây. “Cầm tay” chỉ ngay phương pháp tu tâm dưỡng tính mà bạn có thể áp dụng tại nhà. Và vì sao cuốn sách này nên được gọi là sách gối đầu giường của tất cả mọi người.

Lời khuyến khích dành cho người tu học

Người ta hay nói rằng

Nhất niên Phật hiện tiền
Nhị niên Phật ngoài hiên
Tam niên Phật thăng thiên

Ý chỉ việc học lúc nào bắt đầu cũng thật nhiều thôi thúc, nhiều sáng suốt nhưng về sau thì động lực càng vơi dần, kiến thức nhiều không biết vận dụng, tổng hợp cũng dẫn đến ngu muội. Lúc này nên quay về quán chiếu lại những hạt giống ban đầu, để soi rọi lại lý tưởng ban sơ, để xem đường mình đi đang là chính đạo hay rẽ lối nào rồi. Những lời khuyến khích của người đi trước là lời nhắc nhở về những cái cơ bản như vậy.

Trong số những vị xuất sĩ thọ giới Sa di, giới Tỳ kheo,... có bao nhiêu vị bị mắc kẹt trong cấp bậc, chức danh, địa vị, tuổi đạo? Có bao nhiêu vị giữ được tâm vô ngã khi đối tiếp bạn đồng tu và đại chúng? Kiến thức không phải là tuệ giác. Kiến thức không phải sự nghiệp của tu học.

Nếu bạn là một xuất sĩ, bạn sẽ đem lại hạnh phúc cho rất nhiều chúng sanh. Vô số chúng sanh được giải thoát sẽ là mục tiêu của bạn. Nếu bạn là cư sĩ (người tu tại gia), bạn sẽ là người con, người vợ, người chồng, cha, mẹ hoặc bất kỳ vai trò nào đem lại hòa khí và an lành cho gia đình bạn; tất cả bằng sự hiểu biết, tâm từ bi, khả năng lắng nghe và rất nhiều công phu tu tập khác. Tu dưỡng thân tâm cũng là tu dưỡng nguồn năng lượng yêu thương cho những người xung quanh.

Sơ tâm là tâm buổi ban đầu, là một trái tim tốt lành nguyên vẹn, và còn nóng hổi. Vạn vật rồi sẽ thay đổi, nhưng năng lượng chân thành của sơ tâm sẽ lắng đọng hoài trong từng khoảnh khắc yêu thương của cuộc sống. Nhiều vết thương xung đột được chữa lành nhờ sơ tâm, nhiều sai trái được uốn nắn trở lại cũng nhờ sơ tâm. Và đôi khi ta bám víu vào những điều dĩ vãng cũng vì sơ tâm lúc ấy quá mạnh mẽ, quá trong sáng. Trong đạo Phật, sơ tâm còn được gọi là tâm Bồ đề do người tu học phát nguyện gieo trồng và vun tưới tâm yêu thương dành cho mọi loài. Đây được xem là suối nguồn năng lượng, không bao giờ cạn kiệt. Và vì vậy cần phải được người tu học ra sức giữ gìn, chăm nom. Giữ gìn sao cho suối nguồn cứ chảy hoài, phải chảy mạnh hoài để cuốn trôi những tiêu cực, buồn phiền trong đời sống gây ra. Giữ gìn sao cho đầu nguồn không bị ô nhiễm, không vẩn đục để đời sống trong tăng đoàn nhờ mình mà được trong sạch.

Còn rất nhiều lời khuyến học khác mà người viết muốn người cầm sách có thể đọc chậm rãi, đọc mỗi ngày một chút, một ít, rồi ngẫm nghĩ để có thể soi ra cái sơ tâm mà Sư Ông - Thiền sư Thích Nhất Hạnh - người thầy của Tỉnh thức và Yêu thương dành cho đại chúng.

Bước tới thảnh thơi còn một số nội dung khác cũng rất hữu ích dành cho bạn nếu muốn tìm hiểu đầy đủ về đời sống người xuất sĩ, và xem thử mình có thể áp dụng tại nhà cái gì không.

Bài viết dành cho những ai đã cầm cuốn sách trên tay nhưng cảm thấy ngột ngạt hoặc khó hiểu vì những lớp từ ngữ của giới tu học, và cho những ai có ý định tìm hiểu nghiêm túc về dòng tu Tiếp Hiện của các chư tăng Làng Mai. Hy vọng mọi người sẽ thấy dễ dàng tiếp cận Bước tới thảnh thơi hơn, và chắt lọc nhiều điều bổ ích để ứng dụng ngay tại giây phút này.

Hết.

Anh Đào

*

Tắm mình trên dòng sông tuệ giác



*

Đối với các đệ tử của Thầy, cũng như những người yêu kính Thiền sư Nhất Hạnh, ngày 11 tháng 10 hằng năm không chỉ là ngày sinh nhật của Thầy mà còn được biết đến với tên gọi Ngày Tiếp Nối, với ý nghĩa tiếp tục lưu giữ và truyền lại những tư tưởng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh cho thế hệ sau.

Nhân Ngày Tiếp Nối, các tác phẩm sách của Thiền sư Thích Nhất Hạnh được trưng bày trang kính ở hệ thống Nhà Sách Phương Nam trên toàn quốc. Là đơn vị liên kết xuất bản, phát hành nhiều đầu sách của Thiền sư, Nhà Sách Phương Nam tự hào tiếp nối những giá trị tư tưởng của Thiền sư, từ đó trao truyền từng trang sách thấm đẫm những tư tưởng ấy đến với nhiều đối tượng bạn đọc.

Các tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh mà Phương Nam Book đã xuất bản.
Mỗi quyển sách là mỗi giá trị tư tưởng mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh trao truyền cho đại chúng.
Ảnh: Nhà Sách Phương Nam Phú Thọ
Đọc bài viết

Cafe sáng