Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương – Cái lỗ hổng ăn dần vào lòng người đọc

Hôm nay mình muốn dành thời gian để viết về cậu chàng Tsukuru không màu và các bạn của cậu, Đen, Trắng, Đỏ, Xanh. Đọc xong cũng hơn 3 tháng rồi mà giờ mới bình tâm để viết. Dưới đây là vài dòng cảm xúc mà mình muốn lưu lại bằng chữ về cuốn sách này, một cuốn tiểu thuyết hiện thực be bé xinh xinh, hơi lặng thinh và cũng hơi buồn một chút.

Đăng từ

on

Chi tiết tác phẩm


Một vài người bạn chung hội ghiền Haruki nói với mình cảm nghĩ sau khi đọc xong Tsukuru, đa số đều cảm thấy cuốn sách nhạt nhòa và thiếu cái riêng, nhất là sau ấn tượng quá mạnh của thiên tiểu thuyết 1Q84. Nếu cái kết của 1Q84 cho họ một cái bước hụt, thì đây như hẳn một cú trượt chân rơi vào thinh không. Tazaki Tsukuru đã để lại cho họ cảm giác trống rỗng đúng như cái tên mà cậu mang – nhạt nhẽo, không màu, không mùi, không vị. Đó không phải là lỗi của Tsukuru, cũng không phải sai lầm của Haruki. Ngược lại, mình cảm thấy Haruki đã xây dựng nhân vật này thành công, không thua kém gì Aomame và Tengo của 1Q84. Tsukuru buồn bã và lặng lẽ tới nỗi cái lỗ hổng bên trong lòng cậu ăn cả vào cảm xúc của người đọc. Đến khi gấp sách lại chỉ còn đúng một khoảng không to đùng, không có trọng lượng cũng chả có nội dung. Một thực thể vừa thiếu hụt vừa nhạt nhòa, như thinh không lặng lẽ vẫn ở đó nhưng không ai hay nó tồn tại. Với mình, Tsukuru là một nhân vật rất buồn, rất đẹp, rất cần cho cuộc sống. Tsukuru không chỉ cần cho nhóm bạn 5 người để giữ cân bằng về tinh thần và tính cách, mà còn cần cho cả các ga tàu nữa. Tình yêu dành cho ga tàu của Tsukuru không khác gì cái neo giúp con tàu đậu lại bến bờ, không trôi dạt đi mất. Có lẽ nếu không có sự kết nối đó, Tsukuru đã chết từ lâu lắm rồi, như Kizuki ra đi ở tuổi 17 vậy.  

Những đoạn văn miêu tả Tsukuru ngồi lặng lẽ ngắm ga tàu từ giờ này qua ngày khác có lẽ là những khoảnh khắc đẹp đẽ nhất cuốn sách. Chúng chìm sâu dưới đáy những cơn sóng của bí ẩn giữa năm người bạn, dưới tầng tầng lớp lớp những xúc cảm dạt dào, hân hoan, bất ngờ, cay đắng của Tsukuru trong chuyến hành hương. Chúng âm thầm tồn tại ở góc khuất tâm hồn cậu, mạnh mẽ như cây xương rồng lớn lên trong sa mạc. Khi độc giả bị câu chuyện về Trắng cuốn đi, sự khát khao tò mò đã khiến người đọc quên mất Tsukuru mà chỉ còn tập trung lắng nghe tâm tình của ba người bạn. Cậu dẫn người đọc đi trải nghiệm câu chuyện của mình, nhưng hình bóng cậu trong đó mỏng manh đến độ trong suốt. Dường như người đọc có thể nhìn xuyên qua Tsukuru mà nói chuyện với Đỏ, Xanh và Đen. Đến cuối cùng, khi Tsukuru trở về làm nhân vật chính, người ta không còn nhớ nhung gì nhiều về cậu nữa. Người ta cũng sẽ quên béng mất đây là chàng trai yêu các ga tàu, yêu say mê, có thể ngồi nhìn những dòng người lên xuống từ các làn tàu cả ngày cũng được. Cậu yêu ga tàu vì nơi đây là chốn tập trung của những con người có nơi để đến, có nơi để về. Hàng ngàn người lũ lượt tỏa ra từ một khoang tàu mỗi khi một chuyến tàu dừng bến, hàng ngàn người khác lại chen chúc bước lên chính cái khoang rỗng không ấy, về với gia đình, với người họ yêu. Sự đi đi về về ấy là bằng chứng cho một xã hội đang sống, đang chuyển động. Chỉ ngắm nhìn thế thôi cũng đủ để Tsukuru không cảm thấy mình đang bị bỏ lại bên lề cuộc đời. Là bằng chứng để chứng minh Tsukuru vẫn đang còn sống. 

Illustration by Clifford Harper/Agraphia.co.uk

Bí mật về trái tim của Trắng đến cuối cùng vẫn là một màu trắng lờ nhờ, mờ đục. Dù đã làm lành với ba người bạn khi xưa, nhưng những năm tháng đã mất và những tổn thương đã gây ra thì không lành lại được. Ít nhất Tsukuru có thể biết rằng sau này khi cậu và Sara say mê làm chuyện đó với nhau, Sara sẽ không còn bảo “cậu đang ở nơi nào khác chứ không ở đây” nữa. “Dù thế nào, nếu ngày mai Sara không chọn mình, có lẽ mình sẽ chết thật, gã nghĩ. Tazaki Tsukuru không màu sẽ hoàn toàn mất màu, lặng lẽ thoái lui khỏi thế giới này. Có thể tất cả sẽ thành hư không, thứ duy nhất còn lại chỉ là một nắm đất cứng đanh, băng giá.” Những dòng này lại ở ngay cuối truyện khiến người ta xót xa. Không còn chuyến đi nào cho cậu nữa, không còn ai trả lời câu hỏi cho cậu, không còn chốn nào mong cậu trở về. Sẽ là một cái kết buồn đến mức không chịu đựng nổi dành cho Tsukuru. Cậu vốn đã không được bạn đọc ưu ái và thấu hiểu bằng Trắng hay Đỏ, lại chẳng thể làm được hạnh phúc gì lớn lao cho Sara. Nhưng thật lòng mình nghĩ, dù cho Sara có từ chối tình yêu của Tsukuru đi nữa, cậu cũng sẽ không dễ dàng chết như cậu từng nghĩ. Có thể một phần nào đó trong cậu sẽ chết hẳn, nhưng cậu vẫn sẽ sống về mặt sinh lý. Sống để ngày ngày ngồi ngắm ga tàu, vẽ ga tàu và xây dựng tu bổ các ga tàu. Dù thế nào Tsukuru cũng vẫn có nơi để đi, có chốn để về, vì tình yêu dành cho ga tàu là màu sắc duy nhất mà Tsukuru sinh ra đã có. Không cần phải đặc sắc như bốn người bạn kia, nhưng từng đó cũng đủ để hình thành con người cậu, giữ cho cậu tồn tại đến khi cái chết sinh học đến.  

Dù cái kết thế nào đi nữa, mình vẫn muốn nhớ về Tsukuru như một chàng trai yêu ga tàu say đắm. Đổi cái tên thành Tsukuru mê ga tàu và những năm tháng hành hương cũng hợp logic đấy chứ.

Viết thêm một chút về các nhân vật khác trong truyện. Tác phẩm này Haruki phân chia khá đồng đều thời lượng cuốn sách cho bốn nhân vật còn lại, tới mức có thể nói đây là cuốn sách của 5 người chứ không chỉ là về một mình Tsukuru. Thậm chí không có gì lạ nếu đọc xong sách nhiều bạn còn ấn tượng về Trắng hơn cả Tsukuru, vì câu chuyện về cô quá hấp dẫn, đầy bí ẩn và tổn thương quá nhiều người. Đây là một cuốn sách mà mức độ tàn nhẫn và biên độ nỗi buồn của nó hoàn toàn tùy vào người đọc. Tùy vào bạn đặt mình vào tâm thế của nhân vật nào trong năm nhân vật trên, bạn sẽ nhìn câu chuyện theo một hướng khác. Những tổn thương họ phải chịu đựng khác nhau, nên ám ảnh về họ trong mắt người đọc sẽ khác nhau. Haruki đã thành công trong việc xây dựng cả năm nhân vật chứ không chỉ mình Tsukuru, đó là điều mang lại sự hấp dẫn cho cuốn sách này. Riêng mình thương người còn sống (người chống chọi để sống) hơn người đã chết, nên mình chọn đứng về phía Tsukuru. 

Tsukuru và những ga tàu, dù buồn nhưng vẫn còn hi vọng. 

Năm ngoái đã cám ơn Haruki-sensei vì đã tạo ra Aomame và Tengo quá tuyệt vời, năm nay lại cảm ơn ông đã viết ra câu chuyện về năm con người này hay như thế.

Chúc mừng sinh nhật ông, Murakami Haruki, chúc ông một tuổi mới khỏe mạnh và bình an, để tiếp tục viết ra những nỗi cô đơn tuyệt vời như thế này nữa.

Hết.

Lavender Trang


Muôn màu của Haruki Murakami




3 bình luận

3 Bình luận

  1. Pingback: 1Q84 – Aomame và Haruki, người thật tuyệt vời – Bookish

  2. Pingback: Tôi đọc lại Rừng Na Uy – Bookish

  3. Pingback: Những người đàn ông không có đàn bà – Haruki, ông có tiến gần hơn đến câu trả lời mà ông đang tìm kiếm? – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

20 điều bạn chưa biết về truyện cổ Grimm

Đăng từ

on

Người đăng

Đã hơn 200 năm kể từ ngày xuất bản các tác phẩm Hansel và Gretel, Rumpelstiltskin và 200 câu truyện khác như Kinder- und Hausmärchen hay Children’s and Household Tales của Jacob và Wilhelm Grimm vào năm 1812.

Hầu hết tất cả chúng ta đều biết đến truyện cổ Grimm. Nhưng bạn có biết trong phiên bản Grimm gốc của Cô bé Lọ Lem, các cô chị ghẻ đã cắt bỏ một phân bàn chân để mang vừa chiếc giày? Hay người muốn giết hại Bạch Tuyết chính là mẹ ruột chứ không phải mẹ kế?

Trong một cuộc phỏng vấn mới đây, Giáo sư Maria Tatar ở đại học Havard – biên tập viên, dịch giả, người chú giải cho ấn bản 20 năm của The Annotated Grimm Brothers đã tiết lộ một số sự thật bất ngờ về truyện cổ Grimm.

1. Jacob và Wilhelm Grimm không hề có dự định viết truyện cổ tích cho trẻ con. Đây chỉ là một phần của dự án học thuật để khẳng định và bảo vệ tinh thần của người dân Đức.

2. Nhưng Edgar Taylor, một người Anh, đã dịch và xuất bản những câu chuyện này ở Anh vào năm 1823, và được trẻ con vô cùng yêu thích. German Popular Stories (tạm dịch: Những câu chuyện nổi tiếng ở Đức) trở nên nổi tiếng và tạo cảm hứng cho anh em nhà Grimm biên tập lại tuyển tập sách dành cho đối tượng gia đình. Điều này đã làm nên lịch sử khi ngày nay những câu chuyện của họ giúp củng cố thêm nền văn chương và văn hóa phổ biến ở phương Tây.

3. Anh em nhà Grimm không đi lang thang khắp làng quê, cũng không đương đầu với rừng rậm hay thời tiết khắc nghiệt để lượm lặt những câu chuyện của người nông dân từ mọi ngóc ngách. Nguồn truyện của họ chủ yếu đến từ những người phụ nữ trung lưu, có học thức, đặc biệt giỏi giang. Rất nhiều người đến nhà Grimm và kể lại chuyện của họ một cách thoải mái nhẹ nhàng, ngoại trừ một người lính nghỉ hưu kể câu chuyện của mình để đổi lấy quần áo cũ.

4. Anh em nhà Grimm tiếp tục bổ sung và chỉnh sửa bộ truyện, tái bản lần thứ bảy vào năm 1857. Đó là nền tảng cho mọi phiên bản truyện cổ Grimm được xuất bản ngày nay và bao gồm 210 truyện. Ngoài những chuyện ma thuật quen thuộc, quyển sách này cũng có nhiều thần thoại về tôn giáo, truyện cười và truyện ngụ ngôn.

5. Khi nhận thấy tuyển tập truyện được các độc giả trong gia đình đón nhận, tác giả chỉnh sửa thêm cho phù hợp với đối tượng trung lưu. Một trong những điều đầu tiên Wilhelm thực hiện chính là bỏ các chi tiết gợi cảm. Trong ấn bản đầu tiên của Rapunzel, chính vì Rapunzel mang thai nên mụ phù thủy mới biết đến sự viếng thăm của hoàng tử. Cô nói “Mẹ đỡ đầu ơi, tại sao quần áo của con lại bị chật, con không mặc vừa nữa”. Trong ấn bản lần thứ 7, không có một chi tiết nào ám chỉ đến hoạt động tình dục của Rapunzel. “Mẹ đỡ đầu ơi, tại sao kéo mẹ lên lại khó hơn kéo hoàng tử?

6. Một trong những câu chuyện mà Grimm loại bỏ sau ấn bản đầu tiên là Hans Dumm. Câu chuyện kể về người đàn ông có khả năng biến phụ nữ có thai chỉ bằng việc ước điều ước.

7. Anh em nhà Grimm cũng thay đổi truyện theo nhiều hướng khác, như bổ sung các chi tiết về đạo Kitô giáo, từ ngữ dân gian, và nhấn mạnh vai trò giới tính mà khán giả của họ chấp nhận. Họ trau chuốt và mở rộng các cảnh bạo lực, thường chọn các phiên bản xấu xa hơn là kết thúc có hậu.

8. Trong vài phiên bản của Rumpelstiltskin, Rumpelstiltskin trốn thoát bằng một cái thùng hay chỉ đơn giản là bỏ chạy, như trong ấn phẩm đầu tiên. Tuy nhiên, trong ấn bản năm 1857, ông ấy la hét và “trong cơn thịnh nộ, ông đã dậm chân phải mạnh đến nỗi nó văng đến tận eo. Sau đó, quá giận dữ, ông nắm chân trái bằng hai tay và xé cả người thành hai mảnh.”

9. Trong bản Cô bé Lọ Lem của Pháp, Lọ Lem tha thứ cho hai người chị kế và tìm chồng tốt cho họ. Nhưng trong phiên bản của Grimm thì khác. Đầu tiên, cả hai người chị cắt bỏ phần bàn chân để thử giày, và hoàng tử chỉ phát hiện họ không phải cô gái chàng tìm khi một chú bồ câu nói rằng chân họ bị chảy máu. Khi hoàng tử tìm được Lọ Lem, những chú chim bồ câu này đã khoét mắt của những người chị kế.

10. Không hề có bà tiên! Đúng vậy, trong phiên bản Grimm của Cô bé Lọ Lem, một cây phỉ nhỏ bé được Lọ Lem tưới bằng nước mắt đã cho nàng váy để tham dự dạ tiệc.

11. Đừng lo về việc phải hôn một con ếch. Trong Hoàng tử ếch của Grimm, con ếch biến thành hoàng tử không phải vì nụ hôn mà khi công chúa ném nó vào bức tường trong phòng ngủ. Ngay lập tức, nàng được diện kiến hoàng tử và cả hai cùng đi ngủ. Trong các phiên bản về sau, tác giả nhà Grimm đã “đứng đắn” hơn khi sửa đổi thành chi tiết “tại buổi đấu thầu của cha cô”, hoàng tử trở thành “người chồng và bạn đời” của cô gái.

12. Người mẹ kế ác độc trong Bạch Tuyết và Hansel và Gretel ban đầu là mẹ ruột của họ. Anh em nhà Grimm cho rằng họ nên bảo vệ tình mẫu tử thiêng liêng trước độc giả của mình.

13. Vì ý định ban đầu của Grimm nhằm bảo vệ nền văn học dân gian của Đức, Đức quốc xã đã cố gắng chiếm đoạt Children’s and Household Tales cho mục đích ý thức hệ của mình.

14. Các tác giả như Margaret Atwood, Angela Carter và Anne Sexton đã chỉnh sửa và chuyển thể truyện cổ Grimm thành truyện ngắn, thơ và tiểu thuyết. Điều này có tác dụng tích cực đến việc phân tích chuyện cổ tích và ảnh hưởng của chúng, đặc biệt là ảnh hưởng lên các điều kiện giới tính.

15. Khi truyện cổ tích ra đời, các dị bản cũng ra đời. Trên thực tế, Tatar cho biết, không hề có “bản gốc” của một câu chuyện cổ tích. Vậy nên khi Jon Scieszka viết một bài chế giễu The Stinky Cheese Mann và Other Fairly Stupid Tales, ông đã thay đổi từ ngữ nhưng vẫn giữ cốt truyện. Truyện cổ tích thu hút các giá trị văn hóa về thời gian và địa điểm, và các phiên bản khác nhau cho chúng ta biết nhiều giá trị khác nhau của người kể, cũng như cách họ dựa vào các giá trị để kể nên câu chuyện của mình.

16. Đúng là một sự trùng hợp thú vị khi các anh em nhà Grimm kể chuyện cổ “grim”. Trong tiếng Đức và tiếng Anh, “grim” có nghĩa là tàn bạo, độc ác, tức giận hoặc khắc nghiệt.

17. Nhưng các câu chuyện có thật sự tàn bạo đến vậy? Theo Tatar, hầu hết 210 câu chuyện đều kết thúc có hậu. Truyện The Children Who Played Butcher With Each Other là một ngoại lệ.

18. Hầu như tất cả các câu chuyện đều ca ngợi sự khôn ngoan, can đảm và kiên cường.

19. Mùa hè năm ngoái, một nhà lưu trữ người Đức đã khám phá ra 500 câu chuyện cổ tích “mới” đã được Franz Xaver xon Schonwerth – một đồng nghiệp của anh em nhà Grimm, sưu tập trước đây. Tatar cho biết, trong tuyển tập đó có các phiên bản nam của Cô bé Lọ LemCông chúa ngủ trong rừng, và Bạch Tuyết. Liệu anh em nhà Grimm có biết đến các phiên bản này và loại chúng ra khỏi tuyển tập của mình? Chúng ta không bao giờ biết được…

20. Phiên bản mới nhất của truyện cổ Grimm là của Philip Pullman, mang tên Grimm Tales for Young and Old. Ngoài việc kể chúng ta nghe những câu chuyện hấp dẫn một cách mềm mỏng và rõ ràng, Pullman còn đưa ra một số thông tin nền tảng của từng câu chuyện. Rất đáng để bạn đọc thử.

Hết.

Anh Thư dịch

Nguồn: thestar.com


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích



Đọc bài viết

Phía sau trang sách

The Fix – Quốc gia tái thiết: Hy vọng vẫn còn

“The Fix” gồm 10 bài viết như những case study về cách mà các quốc gia đã vượt qua khủng hoảng của mình.

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trong cuốn The Fix – Quốc gia tái thiết, tác giả Jonathan Tepperman đôi lần lặp đi lặp lại trạng thái “Thế giới đang bước đi trên một lưỡi dao cạo”, và vô hình chung, đây không hẳn là sự trùng hợp. Một cách vui vẻ để nhìn nhận, đứng trước mạng lưới thông tin dày đặc được cập nhật 24/7 về tình hình thế giới hiện nay, đôi khi hình tượng hạt dẻ mà chú lười Sid trong Kỷ băng hà (Ice Age) vô ý cắm vào tảng băng để từ đó vũ trụ thành ra nứt nẻ lại hiện ra. Cho đến ngày nay, khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á hay Mùa xuân Ả Rập vừa tạm nguôi đi; thì ngay lập tức mùa hạ kinh hoàng năm 2014 khi Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ra Biển Đông lại đến. Không những thế, sự lớn mạnh của Nhà nước Hồi giáo cực đoan IS, đại dịch chết chóc Ebola, sự thiếu hụt tài nguyên khí đốt, Hy Lạp phá sản hay Chủ nghĩa bản địa bài ngoại ở những nơi di dân chạy trốn chiến tranh Vùng Vịnh… cũng giáng những nỗi kinh hoàng lên đời sống con người. Ở ngay những thời khắc này, chính các sự kiện ấy là thứ hạt dẻ làm nứt vũ trụ, chỉ khác lần này không còn nằm trên màn ảnh 2D và được Disney tạo ra (sự thật rằng nó vừa mua đứt 21st Century Fox); mà đó đã dần thành hình trong thế giới thực – một thế giới của con người, vì con người; và dĩ nhiên, do con người.

The Fix tuy nhiên là một tập hợp những điều tươi sáng hơn thế. Cuốn sách gồm 10 bài viết như những case study về cách mà các quốc gia đã vượt qua khủng hoảng của mình. Lấy 10 chủ để nổi bật nhất nền địa – chính trị những năm vừa qua, Jonathan Tepperman một cách tài tình dẵn dắt người đọc qua những câu chuyện tái thiết của các quốc gia thuộc 4 châu lục; băng qua tình cảnh bất bình đẳng của Brazil, nạn tham nhũng ở Singapore, chủ nghĩa Hồi giáo Cực đoan ở Indonesia, những vết thương nội chiến của Rwanda hay lời nguyền tài nguyên của Bostwana. Bên cạnh đó, ông cũng lần mò đi tìm nguyên nhân lý giải vì sao Canada mở rộng cánh tay với người tị nạn, cách Hàn Quốc tăng trưởng – tăng trưởng nữa – tăng trưởng mãi để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, cách Mexico khởi động lại guồng máy chính phủ, cách Mỹ bùng nổ cách mạng Đá phiến hay phương pháp tháo gỡ nút thắt của New York sau vụ khủng bố 11/9. Nhìn nhận một cách khách quan, The Fix cắt ngang sự ảm đạm như một tia nắng (Adam Grant), và mang một chút hy vọng cho những ai vẫn đang mong muốn những điều tốt đẹp hơn – dĩ nhiên là thực tế hơn.

Trong vai trò Trưởng ban biên tập của Văn phòng Bộ ngoại giao, Jonathan Tepperman tiếp cận đọc giả dưới góc nhìn của một chuyên gia lành nghề. Như một bác sỹ giải phẫu tận tụy từng vấn đề, bằng kinh nghiệm và các mối quan hệ cá nhân, The Fix cung cấp cho người đọc những thông tin đúng đắn, thức thời, đôi khi ngay cả tuyệt mật từ chính những người trong cuộc; và chính yếu tố này làm nên tính thực tế và sinh động cho cuốn sách. Lấy ví dụ như trường hợp cách Mexico tháo gỡ guồng máy chính phủ ngay giữa những cuộc chống đối bè phái, mà theo Jonathan viết, đó đều là những “hoàn cảnh vụn trộm” hay những “cuộc dàn xếp bí mật” giữa 3 đảng phái nhà nước; và nếu không dùng bất cứ một mối quan hệ nào để tiếp cận những cá nhân chủ chốt từng tham gia các hội nghị trên, khó lòng để hiểu được cách chúng vận hành gỡ rối ra sao. Do đó, cá nhân người viết ở góc độ nào và đóng góp ra sao ít nhiều tạo sự thức thời cho cuốn sách này.

Và có một thực tế đa số những cuốn non-fiction ăn khách ngày nay được viết bởi những nhà báo lăn xả hơn những chuyên gia trong ngành. Có thể kể đến như Bad Blood của John Carreyrou, The Shock Doctrine của Naomi Klein, Secret Formula của Frederick L. Allen hay Seven Days in the Art Work của Sarah Thornton,… Đơn giản là vì, dưới góc độ của một nhà báo, nó đòi hỏi người viết cung cấp những thông tin giật gân, có thể gây bất ngờ hay chính những điều ngay cả người đọc không thể màng tới; và cũng chính lẽ đó, chưa chắc là những thông tin chính xác. Trong khi đó, Jonathan Tepperman giữ vững vai trò hai mang của mình – ông tìm tòi như một nhà báo, nhưng khẳng định như một chuyên gia. Cách xây dựng của ông đi từ những điều nhỏ nhặt nhất, như thể cách giải quyết bất bình đẳng ở Brazil bằng chính sách Bolsa Família, khi hỏi tổng thống Lula của nước này đâu là mấu chốt của vấn đề, ngài tổng thống đã không ngần ngại trả lời: “Người hiểu rõ nhất người nghèo thật sự cần gì là những người như mẹ ông – ấy là bản thân người nghèo”. Rõ ràng nhận thấy, Jonathan bằng cách tiếp cận trực tiếp và thức thời làm cho vấn đề một cách sáng tỏ, không đi vòng tránh né, đoán già đoán non hay tin tưởng vào những nhận định ở phía phủ định để phù hợp với con đường xây dựng cuốn sách như trường hợp của nhiều nhà báo khác.

Ảnh: Foreignpolicy.com

Cạnh đó, với các vấn đề trong cuốn sách này, Jonathan không chỉ nêu ra vấn đề, trình bày những cách giải quyết; ông cùng đó nêu bật điểm yếu hay cách áp dụng ra sao vào các nền chính trị khác. Do đó với The Fix, người đọc không mang cảm giác đây là cuốn sách tâng bốc giả tạo những sáng kiến cá nhân; khi một cách thẳng thắn, những điểm yếu của cai trị độc tài, của chủ nghĩa thực dụng, của lối từ bỏ cái hoàn hảo lấy cái có thể chấp nhận được vẫn tồn tại trong này. Jonathan không dè chừng, không sợ hãi và phơi bày chúng như những điểm yếu cần có của muôn mặt vấn đề. Đơn cử như chương về cách mạng Đá phiến của Mỹ, ông không ngần ngại chỉ ra đâu là lý do tuy nằm trên một mỏ đầy những trầm tích đá phiến với một hàm lượng gấp rất nhiều lần Mỹ nhưng lục địa già lại từ chối cơ hội khai thác này, để rồi vẫn bị Nga nắm chui khi phụ thuộc nhập khẩu hơn 1/3 khí đốt từ đất nước này. Hay bởi những đặc tính rất Trung Quốc: ngại mạo hiểm, ưa đi tắt đón đầu và thiếu nguồn khích lệ thị trường tự do đã khiến công cuộc khai thác đá phiến ở đây giậm chân tại chỗ cho đến ngày nay.

Ở một mặt khác, ông không tôn vinh quá đà hay cố lý tưởng hóa bất cứ một cá nhân hay đường lối, chính sách nào. Chẳng hạn như ngay khi vừa cho thấy một nước Mỹ sẵn sàng nghiên cứu những đường hướng mới trong cuộc cách mạng đá phiến, ông liền quay ngoắc phê phán lối thụ động đối mặt với khủng bố trong cơn ảo danh chống phá giữa các đảng phái làm tê liệt nghị trường Washington; để chính bộ máy địa phương như New York phải căng mình đứng ra lo liệu. Hay một mặt khác, ông không ngần ngại cho thấy lối cai trị độc tài của Lý Quang Diệu để đưa Singapore ra khỏi con đường tham nhũng; hay Park Chunghee tiếp tay những chaebol (tập đoàn gia đình) dần dần làm lũng đoạn kinh tế Hàn Quốc khi chỉ vừa khởi sắc. Đây đều không phải những điều đáng khen hay nên học tập trong một thế giới tiến gần đến dân chủ hóa, tự do hóa ngày nay; nhưng với những bước phát triển ngay từ bữa đầu, đây thực sự là cuộc tiểu phẫu đi sâu vào lòng vấn đề, không vòng tránh, không giảm nhẹ. Một lối viết dũng cảm, mạnh mẽ và phơi bày.

The Fix mang trong bản thân thế mạnh không chỉ của những chính sách cứu vớt khỏi cơn bĩ cực chính trị; mà còn chứa trong mình câu chuyện lịch sử của từng quốc gia dính líu ít nhiều trong này. Jonathan bằng cách nghiên cứu sâu rộng đi thẳng vào những mâu thuẫn, cách nó hình thành; đôi khi là những tập quán, phong tục tồn tại xa xưa ở những vùng đất ta chưa từng biết. Ông đi sâu vào nghiên cứu các gacaca (toà án hương thôn của Rwanda), kgotla (phiên giải quyết giữa các tù trưởng Bostwana), đặc điểm Hồi giáo cực đoan nửa vời của Indonesia hay khởi thủy một nền Canada trắng của Canada,… Do đó, nhìn chung, The Fix phù hợp người đọc ở nhiều góc nhìn. Nếu không quá chú trọng đến cách những quốc gia tái thiết – vì có lẽ đó là việc của những người chuyên trách hơn – thì cuốn sách này cho ta góc nhìn tuy chỉ một giai đoạn nhỏ, nhưng đều là những thời khắc chính trị quan trọng của những nơi chốn này. Quốc gia tái thiết đứng giữa hai bờ quá khứ – tương lai. Nếu thấy quá xa trước tương lai bất định, cứ nhảy ngược trở về quá khứ để xem cuộc nội chiến giữa 2 tộc người Tutsi và Hutu ở Rwanda tạo nên hơn 130.000 tội phạm diệt chủng và cần hơn 200 năm mới xử lý hết. Hay quay về thời khắc Singapore vừa được trao trả độc lập, với sự đồi bại và tội ác ngút trời: hội tam hoàng và những hội kín người Hoa công khai điều hành ổ hút và nhà thổ, tay chân chém giết tranh giành địa bàn khắp các đường phố,…

Thế nhưng không thể nói The Fix không có điểm yếu. Thứ nhất, nhìn chung các vấn đề trong cuốn sách này đều là các case study, do đó chúng đều là những giải pháp chỉ trên bề mặt, không một hướng đi cụ thể. Tuy Jonathan đã rất cố gắng đúc kết rất nhiều điểm chung, rất nhiều phương hướng có thể soi rọi cho những nền chính trị khác; nhưng nó là điều bất khả cho nền chính trị của các đất nước quá khác xa nhau. Nhưng như một bài học cuối cùng ông đúc kết lại, đôi khi ta phải từ bỏ cái hoàn hảo để lấy cái có thể chấp nhận được; và ở riêng điều này, The Fix tỏ ra có tác dụng. Không hoàn toàn vô ích khi học hỏi Canada về cách dang tay hỗ trợ và giữ lại người tị nạn hay cách chính quyền thành phố New York tự cứu lấy mình khỏi những lo toan khủng bố đè nặng.

Thứ hai, điểm yếu ở tính địa phương. Ở đây, hầu như 10 bài viết đều gắn liền với 10 cá nhân tổng thống xuất sắc – những người đoán đầu và chịu thử thách. Cùng đi với đó là những hoàn cảnh chính trị mà như Jonathan đôi khi thừa nhận, là rất đặc biệt, có một không hai. Chính những điều này làm nên tích chất manh mún của mỗi vấn đề. Như thể ở trường hợp Indonesia: ta không thể nói lực lượng Hồi giáo ở những khu vực vùng vịnh như Iran, Iraq hay Syria không có đường lối cứng rắn như ở Indonesia để rồi áp dụng bài học ấy ở các nước này. Hay một Bắc Triều để vươn mình phát triển như Nam Triều của ngày hôm nay, thì đào đâu ra các chaebol – gia độc gia đình để được nhà nước dù cho độc tài rót vốn, miễn thuế hay thúc đẩy phát triển? Cho nên nhìn chung, với những case study rất nhỏ và cụ thể tỏ tường thế này, một góc nào đó cho thấy The Fix vẫn chỉ là câu trả lời cho những vấn đề thức thời. Nó không bao quát, không làm nên định lý chung, không thành quỹ tích cho những đường đi vì một thế giới sẽ đẹp đẽ hơn.

Và điều cuối cùng, phụ thuộc tâm lý hơn bất cứ vấn đề nào khác của cuốn sách này. Rằng, con người với một bản chất luôn thích khám phá, bóc trần những điều tăm tối hơn là hy vọng. Dẫu cho phần đầu Jonathan một cách tinh quái nêu bật lên những lần ranh hiểm nguy trước khi đi vào giải quyết, nhưng với thời lượng quá chông chênh nhau đâm ra thiếu đi tác dụng. Không thể trách ai, chỉ trách ông quá lạc quan viết nên cuốn sách e quá tươi sáng cho những con người ủ dột của ngày hôm nay.

Đồng hồ tận thế (Doomsday Clock) vừa nhích thêm 20 giây đến khoảng cách diệt vọng của xã hội loài người, làm giảm khoảng cách xuống còn 100 giây đến thời điểm nửa đêm của ngày cuối cùng. Theo đó, Nhóm nhà Khoa học Hạt Nhân Mỹ cho rằng, hai hiểm họa diệt vong là chiến tranh hạt nhân và biến đổi khí hậu thúc sẽ đẩy càng nhanh quá trình diễn tiến. Chúng còn tăng lên khi có hàng loạt các mối đe dọa khác, khi chiến tranh thông tin trên không gian mạng đang làm ảnh hưởng khả năng đối phó một cách hiệu quả của xã hội. Và The Fix, với nguồn thông tin đầy ắp của mình, lướt qua như một tia sáng cho thấy vẫn có thể phần nào kiểm soát tình hình chừng nào chúng ta vẫn còn cố gắng và xắn tay áo lên để rồi hành động. Như đoạn mở đầu của ông trong cuốn sách này, rằng:

“Từ bỏ hy vọng tất nhiên là nỗi cám dỗ – nhất là vào thời điểm dường như có quá nhiều điều bất ổn xảy ra với thế giới này. Tuy nhiên, vấn đề với nỗi tuyệt vọng là nó chẳng có ích gì. […]

May thay cho chúng ta, nó cũng dư thừa nữa. Không một thử thách nào (dù có vẻ nghiêm trọng đến mấy) là thật sự không thể vượt qua. Giải pháp cho sự bế tắc […] đã có sẵn ngoài kia.

Bạn chỉ cần phải biết nhìn vào đâu để sửa sai mà thôi.”

Hết.

Ngô Thuận Phát

Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Có thể bạn sẽ thích những bài viết sau:


Đọc bài viết

Phía sau trang sách

“Thế giới mới tươi đẹp”: Nơi hạnh phúc là cội nguồn của bất hạnh

Lăng kính lãng mạn hoàn toàn bị bóp nát trong quyển tiểu thuyết này để chừa chỗ cho trí tưởng tượng về một xã hội đề cao giá trị vật chất rẻ tiền và bỏ mặc đi đời sống tinh thần quý báu.

Đăng từ

on

Người đăng

Cốt truyện kể gì?

Trong tác phẩm Thế giới mới tươi đẹp, Aldous Huxley đã xây dựng một xã hội tương lai thuần túy dựa trên sự hạnh phúc – bất chấp hệ quả về mặt đạo đức. Ở tương lai tưởng tượng ấy, khoa học phát minh ra những viên soma giúp người ta lâng lâng và quên đi những nỗi buồn đau, giống như một loại ma túy đỉnh cao của thời đại. Xã hội với tôn chỉ là “hạnh phúc”, nơi công nghệ tiên tiến trở thành công cụ chính để hoàn thành quá trình sinh sản nên các thú vui xác thịt tồn tại chỉ để thỏa mãn tình dục chứ không hề vì mục đích duy trì nòi giống. Người dân hoàn toàn bị lệ thuộc bởi sự thao túng về tâm trí của các lãnh đạo cấp cao. Huxley đã liên tưởng và cường điệu những tệ nạn xã hội trong tương lai một cách đặc sắc, với nguyên nhân lý tưởng là sự sai trái này bắt nguồn từ sự mất tự do và trách nhiệm cá nhân trong một cộng đồng. Không ai trong số họ dám chống đối và thách thức hệ thống cấp cao lãnh đạo. Tất cả mọi người đều tin rằng họ cùng nhau đoàn kết làm việc vì “lợi ích chung”. Vị thần của xã hội này là Ford – là biểu tượng của sự phi nhân hóa và mất cá tính của loài người. Nhìn tổng quan, ưu thế đặc biệt của quyển sách này chính là cốt truyện phi logic đến khó tin nhưng lại phản ánh góc nhìn tương lai khá thú vị.

Aldous Huxley

Tại sao một xã hội không đói nghèo, không bệnh tật, không chiến tranh lại không hề tốt đẹp?

Những khái niệm và quy tắc mà cuốn sách đưa ra thực lòng là rất kỳ quặc, đến nỗi mà nó làm tâm trí tôi bị lẫn lộn, lan man đủ thứ điều về cuộc sống. Nếu thực sự cái thế giới kinh khủng ấy trở thành đời sống thực thì mọi chuyện sẽ như thế nào? Những việc như những đứa trẻ được nhà nước tạo gen và nuôi dưỡng, những từ như “cha” và “mẹ” được coi là lời tục tĩu khiến tôi cảm thấy lo sợ. Cảm thấy lo sợ vì nền kinh tế thế giới phụ thuộc vào mức phát triển liên tục của các tầng lớp cao nhất, khi mà giai cấp xã hội được chia ra quá rõ ràng và những người thấp cổ bé họng thì cam chịu từ trong tiềm thức. Nhìn lướt qua thì thấy nơi đó thật tốt đẹp nhưng nếu xem xét kỹ thì nó hoàn toàn mất đi nhân tính, bất công và đàn áp tinh thần của người dân. Tình yêu và nghệ thuật đã trở thành thứ xa xỉ bởi người ta chỉ chú trọng đến tình dục rẻ tiền; những “phim đen hạng sang” rải rác khắp mọi chốn để thay thế cho dòng phim truyền thống. Ở đó, tình dục và sinh sản đã được tách ra và phụ nữ không còn sinh con nữa, tình dục đã trở thành một trò giải trí nhàm chán và được khuyến khích làm hàng ngày với nhiều người khác nhau. Các tư tưởng đạo đức đã thay đổi và giống như cả xã hội đang cổ vũ những người trẻ hãy cứ trần truồng để thực hiện “trò chơi tình ái” trong các bụi cây, bụi rậm ven đường nào đó. Nếu sống trong một xã hội như thế này, chắc tôi cũng phát điên mà la lên để đòi “quyền được bất hạnh”, để kiếm tìm lại những đam mê và sáng tạo mà bản thân đã đánh mất đi bởi sự chuyên chế và áp bức của một xã hội tàn bạo từ trong ý thức và bộ máy chính trị.

Thực chất, “thế giới tươi đẹp” ấy đã quay trở lại thời phong kiến cổ xưa vì việc kết hợp vô lý giữa khoa học công nghệ và hạnh phúc xác thịt. Tôi có cảm giác như những người lãnh đạo trong xã hội này đã áp đặt chế độ ngu dân cho toàn thể con người, họ không cho bất kỳ ý tưởng cá nhân nào bộc phát, họ không cho bất kỳ sự tiến hóa nào vượt ra khuôn khổ đã định sẵn bởi gen và thụ thai trong ống nghiệm. Và chính sách thực dân cũng được áp dụng từ trong tâm tưởng khi Alphas, Betas nắm giữ quyền lực và đại diện cho đẳng cấp của trí tuệ và thể chất còn Gammas, Deltas và Epsilons thì lại chịu chế độ nông nô. Tất cả những sự tốt đẹp ấy chỉ mang vẻ hào nhoáng bên ngoài, chỉ là mọi người bị ép buộc là hài lòng với sự ổn định đầy dối trá và những thú vui thể xác bần hèn ấy mà thôi. Làm gì có thứ hạnh phúc mà chúng ta phải hy sinh chủ nghĩa tự do và suy nghĩ cá nhân để vun đắp cho nó chứ? Sự nguy hiểm của công nghệ như một mầm mống len lỏi qua từng ngày và qua quyển sách này thì mọi thứ trở nên kinh hoàng biết bao. Một ngày nào đó, khi ánh bình minh của con người chợt tắt, nhường chỗ cho công nghệ, máy móc ngự trị thì khi đó đời sống tự nhiên sẽ bị che lấp bởi những thứ cứng ngắt và tẻ nhạt. Khi gán ghép khoa học vào yếu tố phi đạo đức, rõ ràng, tác giả đã làm bật lên được sự đáng sợ ẩn sau những tiện ích của nó. Sự phản đề của tác giả về niềm tin phổ biến của quần chúng vào công nghệ như một phương thuốc tương lai cho các vấn đề gây ra bởi bệnh tật và chiến tranh đã hoàn toàn hiệu quả.

Lời kết

Sự thành công của quyển sách này một phần vì đã đánh bật niềm tin của chúng ta rằng công nghệ có sức mạnh để thay đổi cả thế giới, khi Huxley cho thấy nó có tiềm năng trở nên nguy hiểm đến cỡ nào. Khi John đòi “quyền được bất hạnh” thì Mustapha đã thể hiện quyền ấy kèm theo những căn bệnh như ung thư, giang mai, ăn uống đói khổ và cả sự sợ hãi về tương lai. Nhưng rõ ràng, khi đọc đến khát vọng chân thực nhất của người Hoang dã, “Nhưng tôi không muốn thoải mái. Tôi muốn Thượng đế, tôi muốn thơ ca, tôi muốn nguy hiểm thật sự, tôi muốn tự do, tôi muốn lòng tốt. Tôi muốn tội lỗi.” – thì chúng ta đều cảm nhận được đây chính là những ước muốn thể hiện bản chất thẳm sâu trong loài người. Bởi lẽ việc loại bỏ tất cả những điều khó chịu và nỗi buồn trong cuộc sống đã vô tình làm loại bỏ cả những thú vui thực sự trong cuộc sống.

Đây là một cuốn sách thực sự phức tạp và tôi phải thú nhận rằng có một số phần tôi đọc mà chẳng hiểu gì cả. Tuy nhiên, may mắn thay, ý nghĩa xuyên suốt câu chuyện thì tôi đã thấu hiểu được. Có lẽ, một phần ý tưởng của tác giả bắt nguồn từ Chiến tranh thế giới thứ nhất với việc đánh dấu sự kết thúc của những giấc mơ phi lý theo chủ nghĩa lãng mạn trong văn học, giống như một số kế hoạch không tưởng ngoài đời thực sắp được đưa ra với những hậu quả tai hại. Chế độ Cộng sản ở Nga và Đức Quốc xã đều bắt đầu như những tầm nhìn phi logic như thế. Thế giới mới tươi đẹp không hề miêu tả những tình tiết máu me, rùng rợn giống như truyện kinh dị hay những tình huống bi thương, bất hạnh như tiểu thuyết tình cảm. Thế nhưng, cảm giác ám ảnh và lo sợ mà nó mang lại thực sự rất mạnh mẽ, vì nó khiến người ta rờn rợn khi nghĩ về thế giới, con người trong truyện. Lăng kính lãng mạn hoàn toàn bị bóp nát trong quyển tiểu thuyết này để chừa chỗ cho trí tưởng tượng về một xã hội đề cao giá trị vật chất rẻ tiền và bỏ mặc đi đời sống tinh thần quý báu. Hạnh phúc đã được lái sang một nghĩa mà nếu ai trải qua cũng có thể gọi đó là hạnh phúc cấp thấp giả tạo nhất.

Hết.

Trần Nguyễn Phước Thông

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!