Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Ngầm – Vì sao những con người ưu tú của xã hội Nhật lại giết hại người vô tội lạnh lùng như thế?

Đọc “Ngầm”, tôi sợ. Tôi thấy mình cứ yếu đi dần dần với mỗi chân dung người hiện ra. Chưa có quyển sách nào của Murakami lại khiến tôi sợ đến vậy.

Đăng từ

on


Thường sách của Murakami sẽ khiến tôi hơi khó hiểu chỗ này chỗ kia, bối rối và mệt mỏi truy tìm ý nghĩa một chút. Ngầm thì là sách phi hư cấu, nhưng lại khiến tôi sợ kinh khủng. Không phải nỗi sợ mơ hồ những điều không đoán định được như ma quỷ, mà vì những điều tăm tối nhất trong con người (cả con người tôi, nhất là con người tôi), vốn bị nén chặt ở tầng sâu ý thức, đang được mời lên và truy vấn để lộ diện rõ ràng nhất. Những điều đen tối đó có sức mạnh huỷ diệt và khiến người ta sợ (vì thế người ta mới phải nhốt chúng cho thật sâu chứ.)

Thật ra, Ngầm có hai phần. Và phần 1 phỏng vấn về những nạn nhân sarin thì tôi không sợ chút nào. Bất cứ câu chuyện về sự vượt qua thảm hoạ và khủng hoảng dù bi thương đến đâu cũng đều mang đến cảm giác dễ chịu và tin tưởng về sức mạnh của con người. Sự hồi sinh sau huỷ diệt, kiểu thế. Suốt cả tuần tôi đọc phần này, thấy lòng mình bình lặng và vui vẻ.

Đến cuối tuần, tôi mới bắt đầu đọc phần Hậu-Ngầm, phần phỏng vấn về những thành viên của Aum, giáo phái tổ chức rải sarin. Trước đó, khi đọc về những câu chuyện của nạn nhân sarin, tôi cũng hết sức thắc mắc về Aum rồi.

Tôi luôn có kiểu thắc mắc về động cơ đằng sau những hành động độc ác của con người. Có dạo tôi đi đọc về phát xít Đức, những kẻ giết người hàng loạt và những kẻ ăn thịt người các loại. Là người hoàn toàn ghê sợ bạo lực dưới mọi hình thức, tôi luôn không thể hiểu nổi điều gì dẫn bất cứ một con người nào đến những hành vi dã man như vậy. Tôi không thể quy dẫn đơn giản, rằng có những người sinh ra đơn giản là độc ác thế. Mình cứ yên tâm đứng ở phía này của Thiện là ok rồi, còn bọn Ác kia thì mặc kệ chúng, với tất cả những hỏng hóc kinh khủng của chúng. Một trong những bài học quan trọng nhất tôi đã học trong thời gian học đại học, là chẳng có gì tuyệt đối đen trắng cả, chỉ có những góc nhìn khác nhau và màu xám là tuyệt đối thôi.

Vậy nên vừa đọc đoạn đầu câu chuyện về vụ sarin năm 1995, tôi vừa thắc mắc mãi. Điều gì dẫn những con người ưu tú và xuất sắc hết mực của xã hội Nhật đi đến hành vi giết hại những người vô tội lạnh lùng như thế. Tại sao họ lại đi theo Aum nếu đó chỉ là một trò hề khủng bố ngu ngốc và độc ác của một tên giáo chủ tuyên bố mình đã đạt được giác ngộ? Tôi xem Youtube, thấy người của Aum mặc áo quần trắng kì dị, nghe cuộn băng thu ma quái lặp đi lặp lại một lời gì đó, thực hành những hình thức hành xác dưới nước trong khi Giáo chủ lẩm bẩm gì đó. Khi giáo chủ ra lệnh, không ai có thể cưỡng lại mệnh lệnh ấy. Trong những bài viết về Aum trên BBC, Guardian và nhiều báo khác, chữ brainwash (tẩy não) được lặp đi lặp lại.

Tôi bắt đầu đọc phần Hậu-Ngầm trong tâm thế tràn ngập định kiến về Aum như một tổ chức ma quỷ tẩy não người, khiến họ mụ mị, đánh mất ý thức.

Thế mà, trong sự kinh ngạc tuyệt đối, tôi nhận ra những cựu thành viên và thành viên hiện tại của Aum lại hoá ra là những người bình thường, có thật, với khát vọng đi tìm một điều gì đó có ý nghĩa hơn đời sống mỏi mòn này. Họ thật tâm đi tìm ánh sáng với những động cơ trong sáng, đẹp đẽ và chân thành nhất. Họ truy tìm ánh sáng, và khi thấy ánh sáng đó, họ sẵn sàng rũ bỏ tất cả để bắt đầu hành trình đến gần với bản thể mình hơn. Họ sẵn sàng bỏ công việc, bạn bè, gia đình, của cải…để gia nhập Aum, cống hiến bản thân cho một lý tưởng cao đẹp, tu tập gian nan để sống cuộc đời có ý nghĩa, thay đổi những điều đang xảy ra trong xã hội.

Đi tìm ánh sáng, họ lại gặp bóng tối. Đoạn cuối của câu chuyện chất độc sarin là hàng thành viên Aum đứng trước vành móng ngựa, với mức án tử hình và chung thân vì tội ác chống lại loài người.

Tôi thích cách lý giải của Murakami, không phải là câu hỏi, tại sao họ lại tham gia Aum trong khi họ là những người ưu tú, xuất sắc nhất, mà là họ đã trở thành tín đồ của Aum vì họ đã ưu tú, xuất sắc và luôn tuyệt vọng muốn đi tìm ý nghĩa của cuộc sống như vậy. Nhưng rồi lại bị dẫn dắt sai lầm. Giống như là loài động vật giáp xác. Bỏ đi những lớp vỏ để trở nên thành thật nhất và dễ bị lung lạc nhất. Họ đã đánh mất bản thể và bị lung lạc bởi những ý tưởng. Những ý tưởng thật sự nguy hiểm. Nó có sức mạnh kinh khủng để dời non lấp bể, để giết người, để huỷ diệt.

Shoko Asahara
Shoko Asahara – giáo chủ của Aum


Ở Aum, như mọi tôn giáo khác, lại là ý tưởng về sự nhân danh, mục đích vượt trên phương tiện. Từ lý thuyết của Phật Giáo Mật tông, không giống Phật giáo Đại Thừa và Tiểu Thừa, Mật tông cho rằng có con đường đi đến giác ngộ ngắn hơn. Đi con đường tắt ấy, người ta có thể vượt qua lằn ranh phân biệt thiện và ác. Asahara sử dụng lý thuyết đó để che lấp cho những mầm ác dần dần nảy sinh trong Aum. Tín đồ đầu tiên chết trong một nghi thức hành xác tôn giáo (Để truy tìm sự giác ngộ, Aum sử dụng những phương pháp tu khổ hạnh, gần như là tra tấn, đưa con người đến những giới hạn của cơ thể. Tín đồ phải vượt qua những giới hạn đó để đạt đến những mức khác nhau của sự giác ngộ.) Cái chết bị che đậy để bảo vệ thanh danh cho Aum. Vì một sứ mệnh cao hơn của Aum, Asahara và những lãnh đạo cấp cao của Aum lại quyết định giết một tín đồ khác, để bí mật về cái chết thứ nhất không lộ ra. Dần dần, Aum đi theo con đường bạo lực và khủng bố để loại bỏ tất cả những chướng ngại ngăn trở sứ mệnh tôn giáo và mục tiêu thay đổi thế giới trở thành một nơi tốt hơn của Aum. Và cuối cùng sarin được những nhà khoa học ưu tú nhất của Bộ Khoa học và Công nghệ điều chế ra để chứng minh và đẩy nhanh hơn đến Ngày Phán xử Cuối cùng sẽ huỷ diệt để từ đó Aum xây dựng lại tất cả theo lời tiên tri của Asahara.

Toàn bộ câu chuyện nghe như một kịch bản rẻ tiền của một bộ phim rẻ tiền. Vậy mà bấy nhiêu tín đồ đã nhất nhất làm theo. Murakami lý giải, họ tuân theo không phải là vì đó là một kịch bản hay mà vì bản thân việc được nghe theo – cảm giác bình yên khi trao tất cả quyền quyết định cùng tất cả những bất định của họ cho một người ở trên. Chỉ cần nhất nhất đi theo con đường đó, họ được hứa hẹn cứu rỗi. Họ đánh mất bản thể, đánh mất sự tự do, vì họ MUỐN như vậy.

Câu chuyện của Aum làm tôi nhớ đến lý thuyết trốn khỏi tự do (escape from freedom) của Erich Fromm. Fromm sử dụng câu chuyện về Adam và Eva để nói về sự tự do của con người. Khi ăn quả từ Cây Tri Thức và có lý trí, họ vươn khỏi bóng tối mù mờ bản năng của thế giới động vật, họ của không còn là một phần của tự nhiên nữa. Họ trở thành con người, với tất cả ý thức về sự hữu hạn và sự bất lực, nhỏ bé của mình trước tự nhiên. Tự nhiên là lòng mẹ ấm áp mà họ đã không còn đường trở về. Cùng với sự tự do để hành động độc lập theo lý trí của mình, con người luôn luôn cảm thấy nỗi đau chia cách. Con người hiểu rằng họ chỉ là một thực thể bất toàn, bất định và cô đơn giữa thế giới.

Để chạy trốn, họ tìm cách rũ bỏ sự tự do của mình. Trong Aum, các tín đồ quy phục ý chí tối cao của một giáo chủ tuyệt đối để bỏ đi sự cô đơn và bất định của mình.

Vẫn là ý tưởng muôn thuở, con người là mục đích tự thân. Không được hy sinh con người nhân danh bất kì một điều gì cả. Tất cả mọi điều xấu xa trên thế giới này đều sinh ra vì sự nhân danh. Vì bất kì điều tốt đẹp nào. Không được nhân danh Thánh Allah, không được nhân danh Chúa Jesus, không được nhân danh Đức Phật, không được nhân danh toàn thể loài người, không nhân danh công lý, không nhân danh bình đẳng- bác ái. Mục đích tối thượng sẽ làm người ta hy sinh chính con người. Không được biến con người thành phương tiện, vì con người là mục đích tự thân.

*

Tôi thích đọc Murakami, vì sau khi được dẫn đi sâu thật sâu vào tất cả những tầng tâm thức đen tối đó, tôi lại được dẫn lên, và được chỉ cho thấy, kia là ánh sáng, đây là cuộc sống cứ mới hoài, đi vào cuộc sống đi.

Bởi thế, Ngầm làm tôi sợ vì chỉ cho tôi thấy con người dễ bị lừa mị và thoát khỏi vòng kiểm soát của lý trí biết bao. Ngầm cảnh báo về cái ác, nhưng lại chỉ ra rằng không có cái ác tuyệt đối, mà chính cái ác có thể sinh ra từ khát vọng lương thiện. Kết luận cuối cùng về những người tham gia Aum, Murakami nói “những người gia nhập các giáo phái đều không phải là người dị thường, họ không có điểm gì thiệt thòi, họ không lệch lạc…Có thể họ đã nghĩ về mọi chuyện hơi quá nghiêm túc một chút. Có thể trong nội tâm họ có nỗi đau nào đó họ cứ mang theo. Họ không giỏi bày tỏ cảm xúc của mình cho người khác và có phần nào đó bất an. Họ không thể tìm ra cách thích hợp để tự diễn đạt bản thân, và cứ đắn đo qua lại giữa cảm giác kiêu hãnh và cảm giác mình thiếu năng lực. Tôi rất có thể là như thế. Và cả bạn nữa.”

Đọc xong Ngầm, tôi thấy mình như vừa đi qua những cơn lốc xoáy của những bình nguyên và cánh đồng cuộc sống. Cảm xúc của tôi mạnh đến mức không thể gom những suy nghĩ và cảm xúc của mình thành điều gì khả dĩ đọc được sau đó. Mãi sau hai tháng, tôi mới mở review này ra để viết lại. Đọc xong Ngầm, tôi thấy mình cần ánh sáng kinh khủng. Tôi như vừa trở lại từ thế giới bên trong, vẫn còn lơ mơ. Không cần chi ánh sáng của tri thức hay hiểu biết, mà chỉ là ánh nắng ấm của cuộc sống hằng ngày thôi.

Thật ra, đôi khi phải trèo xuống sâu trong những suy nghĩ nặng nề của đầu mình, để cảm thấy rõ khao khát ánh sáng đó hơn. Chẳng cần lo gì, vì chỉ cần còn nguyên nỗi khát thèm sống lại này thì sự sống đâu được mệt mỏi và hẹp hòi quá lâu.

Một số hình ảnh về vụ tấn công tàu điện ngầm Tokyo bằng sarin ngày 20.3.1995

Tokyo subway sarin attack
Tokyo subway sarin attack
Tokyo subway sarin attack
Tokyo subway sarin attack
Tokyo subway sarin attack

Hết.

Chi Mai


Muôn màu của Haruki Murakami




7 bình luận

7 Bình luận

  1. Tâm An

    Tháng Năm 15, 2019 at 10:21 sáng

    Vì sao những con người ưu tú của xã hội Nhật lại giết hại người vô tội lạnh lùng như thế? câu hỏi vào bài của ad làm cho một người chưa đọc cuốn này như e thắc mắc nhiều ghê gớm, rằng trong cuốn sách này có gì, và chuyện gì đã xảy ra vậy? Đoạn bài tiếp theo như hé lộ thêm vài ý nữa và e muốn nói về câu hỏi ad đặt ra đầu bài, về sự lạnh lùng và tội ác của con người. “Ngầm cảnh báo về cái ác, nhưng lại chỉ ra rằng không có cái ác tuyệt đối, mà chính cái ác có thể sinh ra từ khát vọng lương thiện.” ” Nhân chi sơ tính bổn thiện” hay nhân chi sơ tính bổn ác” thật ra cái thiện thắng thế hơn nhưng để giải thích chính xác thì đó vẫn còn là câu hỏi bỏ ngõ rất nhiều điều, mọi thứ từ đầu vốn chỉ là tương đối thôi và thiện ác tốt xấu cũng vậy, ranh giới của mọi thứ khá là mong manh mà ta khó lòng đưa ra chính xác một câu trả lời cho câu hỏi đó.

  2. Pingback: 1Q84 – Aomame và Haruki, người thật tuyệt vời – Bookish

  3. Pingback: Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương – Cái lỗ hổng ăn dần vào lòng người đọc – Bookish

  4. Pingback: Tôi đọc lại Rừng Na Uy – Bookish

  5. Pingback: Rừng Na Uy, một bản nhạc thăng trầm của sự sống, tình yêu, và cái chết… – Bookish

  6. Pingback: Rừng Na Uy – Về Murakami và những kẻ cứ nghĩ là mình cô đơn lắm – Bookish

  7. Pingback: Những người đàn ông không có đàn bà – Haruki, ông có tiến gần hơn đến câu trả lời mà ông đang tìm kiếm? – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Ngày xưa có một chuyện tình: Hồi ức đẹp của mối tình thơ ngây dại

“Ngày xưa có một chuyện tình” của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh chính là một miền kí ức xinh đẹp và trong sáng về một thời ngây ngô chạm ngõ vào tình yêu của tôi, hoặc cũng chính là của rất nhiều độc giả khác, khi bồi hồi lần giở từng trang sách và nghe như năm tháng gọi về.

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Thời gian có lẽ chính là thứ tàn nhẫn và khắc nghiệt nhất trên đời, khi nó vô tình đẩy xô những phận đời trôi nổi giữa vòng quay của số phận, đưa bao kiếp người rong ruổi hết nơi này đến nơi khác, để rồi khi ngậm ngùi nhìn lại, chợt biết rằng đã qua đi rất nhiều tháng năm dài. Trong suốt chặng hành trình của một kiếp sống đó, ta còn nhớ và đã quên những gì? Bao lỗi lầm xưa, bao niềm vui cũ, bao hờn giận và đau thương khổ cùng? Tất cả rồi cũng như một áng mây trôi bãng lãng ngang bầu trời cao vợi, để đôi khi trái tim có vô tình va chạm vào một góc cạnh nào đó của kí ức, ta lại cười và bồi hồi nhớ lại tháng năm xưa, và ta hiểu rằng, à, ngày xưa ta đã có một chuyện tình…

Ngày xưa có một chuyện tình của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh chính là một miền kí ức xinh đẹp và trong sáng về một thời ngây ngô chạm ngõ vào tình yêu của tôi, hoặc cũng chính là của rất nhiều độc giả khác, khi bồi hồi lần giở từng trang sách và nghe như năm tháng gọi về. Không cầu kì, phô trương, không mĩ miều, hoa lệ, cuốn sách này đơn giản chỉ là một sự nhắc nhở đầy xúc cảm về một chuyện tình ngây dại mà tác giả muốn gửi gắm đến với mỗi người đọc.

Câu chuyện bắt đầu từ những ngày khi mà bộ ba nhân vật chính – Phúc, Vinh, Miền – vẫn còn là các cô cậu học trò mới lớn ngây ngô cắp sách đến trường. Ở cái tuổi mộng mơ và hiếu kì ấy, họ đã có những rung động đầu đời thật đẹp, thật sáng trong. Vinh thích Miền – một thứ tình cảm đơn sơ và đầy chất phác, chẳng có bất kì một thứ vật chất nào có thể mua được. Vinh yêu thương Miền với tư cách như là một người bạn. Vinh bảo bọc, chở che cho Miền. Vinh dám đứng ra bênh vực Miền trong khi đám bạn cùng lớp lúc nào cũng xa lánh và bắt nạt. Vinh sẵn sàng chấp nhận những trận đòn roi vô cớ từ người anh của Miền, chỉ vì mong được gặp Miền hoặc gửi tặng cho Miền một thứ gì đó. Không mưu cầu vụ lợi vì bất kì một mục đích nào (như cái cách mà nhiều người lớn yêu thương nhau vẫn thường hay làm), Vinh dành hết mọi tình cảm cho Miền, chỉ mong một ngày cô bạn có thể thấu hiểu. Vì trái tim là thứ ngốc nghếch nhất trên đời, và nó có lí lẽ riêng của nó mà chỉ những kẻ đang yêu mới biết được.

“Sau này, tôi nghe ai đó phân loại tình yêu: yêu bằng lý trí và yêu bằng con tim. Với tôi, tình yêu chẳng liên quan gì đến lý trí. Lý trí không biết yêu… Cũng như con người, con tim luôn có những giới hạn. Nó cũng đầy rẫy những lỗi lầm.

Nhưng cho dù như vậy, lỗi lầm của con tim là loại lỗi lầm đáng tha thứ nhất trong các loại lỗi lầm mà loài người mắc phải.”

Nhưng đâu phải cứ một lòng một dạ với người mình yêu thì nhất định sẽ được đền đáp? Vì trên đời vẫn luôn có những câu chuyện lạ kì – mà lạ nhất vẫn là chuyện tình yêu. Tình yêu trói buộc con người ta vào nhớ thương khôn xiết, để rồi làm con người ta phải đau khổ khốn cùng. Vậy mà người ta vẫn cứ yêu. Yêu thắm thiết. Yêu dại khờ. Yêu như thể sẵn sàng chấp nhận mọi thua thiệt về mình, chỉ mong được đổi lại một nụ cười của ai đó mà thôi. Như cái cách mà Vinh yêu Miền. Như cái cách mà Miền yêu Phúc. Như cái cách mà Phúc nhận ra rằng mình cũng có tình cảm với Miền. Tất cả mọi thứ đến và đi, xảy ra như một điều tự nhiên của duyên phận. Và tình yêu vẫn cứ quẩn quanh trong mối quan hệ đầy khổ ải của ba con người này. Như một chiếc “bùng binh” không điểm dừng.

Như khi Vinh đau lòng hỏi người cậu của mình rằng, có phải chăng tình yêu luôn gắn liền với đau khổ?

“Tình yêu trói buộc con người ta vào nhớ thương khôn xiết, để rồi làm con người ta phải đau khổ khốn cùng.”

Và người cậu trả lời, đau khổ của người này đôi khi là hạnh phúc của người kia, và ngược lại. Số phận thích ném đá những người đang yêu, nhưng khi tảng đá rơi trúng đầu người này thì hiển nhiên nó sẽ không rơi trúng đầu người khác.

Quan trọng là lúc đó mình đang đứng ở đâu…

Và Vinh hiểu rằng, Vinh đang đứng ở vị trí bất lợi, trong câu chuyện tình cảm với Miền và Phúc.

Nhưng có làm sao. Bởi tình yêu đâu phải là thứ cưỡng cầu hay ép uổng. Năm tháng qua đi, dẫu cuộc đời đã bao lần dâu bể, thì tình cảm của Vinh dành cho Miền vẫn vậy thôi, thậm chí lớn khôn và trưởng thành hơn nhiều. Đó không còn là thích, là yêu nữa. Mà là thương. Thương vô bờ. Nhưng đã thương ai thì khổ lắm. Khổ và buồn.

“Người chẳng thương ta, ta cứ thương

Hơi đâu so sánh cả đôi đường…”

Và năm tháng thì cứ trôi qua, cuộc đời vẫn tiếp tục làm tròn nhiệm vụ của nó, là đẩy xô con người đi vào những câu chuyện lạ thường. Những tưởng như bao nhiêu câu chuyện của tuổi học trò sẽ là một hồi ức đẹp đẽ nằm yên và ngủ sâu trong quá khứ, thế nhưng, nó vẫn tiếp tục lăn lốc và trải dài. Nó băng qua những kẽ hở của thời gian, len lỏi vào từng tế bào cuộc sống và ăn mòn trí nhớ của con người. Phúc, Vinh, Miền đã không còn là những đứa học trò năm nào nữa. Họ đã lớn lên và rong ruổi trên những chặng đường. Có bao nhiêu đổi khác và trầm thăng, nhưng họ vẫn hoài nằm trong những cuộc vui đùa của số phận. Rồi bồng bột, rồi khờ dại, rồi đau khổ, rồi thương tâm… cứ thế cứ thế cuốn xô vào những kiếp người. Họ lớn lên trong sự khó nhọc của cuộc đời. Họ phải trưởng thành và đối diện với bao nhiêu là trở ngại. Thăng trầm của Phúc, số phận của Miền, tình yêu của Vinh… đã đến lúc họ phải dũng cảm để nhìn nhận mọi thứ, để đặt tên cho những mối quan hệ lạ thường, để nhắc nhớ hoặc ru yên những nỗi đau đã cũ, và để biết rằng họ đã có một chuyện tình ngày xưa.

Mặc dù được xây dựng từ mô-típ chuyện tình ba người vô cùng quen thuộc, thế nhưng cuốn sách lại không hề nhàm chán và cũ kĩ so với nhiều tác phẩm trước đó. Vẫn giọng văn nhẹ nhàng và ấm áp, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã đưa độc giả đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, mở ra một thế giới bình dị và thân thương từ những con người, những số phận đuổi trôi qua những con chữ thân tình đầy cảm xúc. Đã có lúc tôi nghẹt thở với câu chuyện của những nhân vật trong cuốn sách. Tôi hoang mang và ngỡ ngàng khi tự hỏi tại sao mọi thứ lại như vậy, tại sao họ lại làm vậy, rồi tôi lo sợ với những điều họ nghĩ, những chuyện họ làm. Tôi không biết họ sẽ phải đối mặt với những biến cố như thế nào. Đã có lúc tôi đắm chìm trong những suy nghĩ miên man của nội tâm nhân vật. Tôi thương họ. Tôi đồng cảm với họ. Tôi thấu hiểu và muốn được ủi an, chia sẻ với họ. Đã có lúc tôi nghĩ mình là họ. Tôi thấy được hình ảnh của chính mình trong cuốn sách này. Tôi thấy tôi ngây thơ và khờ dại. Tôi cũng vô cùng lo lắng và bất an. Để rồi khi cuốn sách khép lại và ngủ yên trong tim tôi những xúc cảm dâng trào, tôi mới chợt mỉm cười, vì cuối cùng mình đã tìm thấy được câu trả lời, dẫu nụ cười ấy có thể không hề vui. Và tôi thấy mình như vừa được sống trong một thế giới rất khác. Thế giới của văn chương.

Điều mà tôi luôn yêu thích trong hầu hết tất cả những tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, chính là các triết lí của cuộc đời được lồng ghép một cách vô cùng tinh tế trong từng chi tiết. Là tuổi trẻ, là tình yêu, là tình bạn, là gia đình, là thời gian, là số phận…. tất cả như được đúc kết từ chính cuộc đời của nhà văn, để rồi nó chạm khẽ và tan dần trong mạch máu của tôi. Tôi được học và tôi được hiểu. Tôi cảm nhận về cuộc sống của mình. Một cách vẹn tròn.

“Nhưng nếu con là một cậu bé ngoan, biết vâng lời ba mẹ và thầy cô, chăm học và bớt nghịch, thì con sẽ không thể trở thành nhà văn, vì khi con lớn lên chẳng có gì để viết ra cả. Nó chẳng có gì hấp dẫn.”

“Chẳng lẽ vì biết ngày mai mình sẽ chết mà hôm nay mình không muốn làm gì?”

“Điều con sợ nhất là mình lớn lên. Khác với trẻ con, người lớn không lớn thêm nữa mà họ sẽ già đi. Sau đó thì họ qua đời. Và mình sẽ lần lượt mất dần những người thân.”

Có ai nghĩ rằng những lời nói trên lại xuất phát từ một cậu bé tám tuổi, vốn ngây thơ và vẫn còn là trẻ con. Thật hay khi mà nhà văn Nguyễn Nhật Ánh lại để cậu bé tám tuổi này nói lên những điều mà người lớn vẫn thường trăn trở, để mỗi người lớn như chúng ta lại có dịp tự nhìn lại mình, nhìn lại tuổi thơ và những ngô nghê suy nghĩ ngày ấy.

Vẫn luôn có những chất thơ tuôn ra từ mạch cảm xúc trong tiếng thở nội tâm của từng nhân vật. Với tôi, đây không chỉ là một cuốn truyện dài. Nó còn là một bài thơ vang vọng, là một khúc ca hoài niệm đầy nhớ thương và bâng khuâng, tiếc nuối. Để có lúc cô đơn đến nỗi bật khóc giữa màn đêm, khi những tinh cầu trên bầu trời cao rộng đã không còn đủ sáng để thắp lên ngọn lửa hồng xua tan nỗi đơn côi, tôi sẽ lại nhớ về những câu thơ mà Vinh đã từng khắc khoải hỏi chính mình.

“Khuyết một nửa tôi đợi chờ một nửa

Như rằm chờ một nửa của vầng trăng

Như câu hỏi đợi một người để hỏi

Bạn có là một nửa của tôi không?”

Bạn không biết, tôi cũng không biết. Chỉ có thời gian là sẽ biết. Vậy nên mình cứ đợi thời gian trôi, khi ngoảnh lại những năm tháng rộng dài trôi bãng lãng qua cánh cửa cuộc đời, mình sẽ tìm được câu trả lời ấy. Miễn là mình vẫn luôn còn muốn hỏi. Miễn là người vẫn ở đó để trả lời. Dẫu câu trả lời có thế nào đi chăng nữa, thì vẫn cam tâm an phận để chấp nhận. Như một điều tự nhiên nhất. Trong cuộc đời…

Rồi sẽ lại còn rất nhiều những xa xăm kỉ niệm ở trong cuốn sách này đợi ta đến đánh thức.

Rồi sẽ lại một lần nữa ta được vui buồn cùng ngày xưa.

Rồi sẽ lại những khôn nguôi thương nhớ trong lồng ngực sống lại mãnh liệt, khi ta nhớ về một người nào đó, một mối tình nào đó, dẫu là vẹn tròn hay dang dở, dẫu là ngổn ngang hay gọn ghẽ trong tim mình…

Rồi sẽ nhiều, nhiều lắm. Ta lại nhớ về một thời đã xa, về những ngày ta còn bé, ta mới tập tành bước vào cửa tình yêu, để bơ vơ dại khờ nhận ra rằng ta đang dần lớn, và ta có một chuyện tình, ở ngày xưa…

Bỗng nghe đâu đó vang lên một lời hát.

“Tình buồn đâu phải lúc nào cũng chỉ để quên đi

Tình buồn lưu giữ bao nhiêu mộng mơ lúc xuân thì…”

Hết.

Lâm Lâm

Xem tất cả những bài viết của Lâm Lâm tại đây.


Nếu bạn yêu tác giả Nguyễn Nhật Ánh…

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Bàn tiệc văn chương cho ngày Halloween đen tối

Từ ma ca rồng đến hiệu ứng song trùng; chúc bạn dùng bữa ngon miệng.

Đăng từ

on

Người đăng

1. Interview with the Vampire (Anne Rice)

Là một trong những mảnh ghép cấu thành nên vũ trụ ma cà rồng của Anne Rice (Ricean Universe), Interview with the Vampire (Tạm dịch: Phỏng vấn ma cà rồng) mở ra cho ta góc nhìn về một thế giới mới lạ mà từ trước đến nay vẫn ít xuất hiện trong văn chương đương đại. Lấy bối cảnh thế kỷ 18 tràn ngập không gian gothic của những lời đồn đoán, Anne Rice khắc họa những nhân vật của mình một cách sống động, hợp lý và kỳ lạ thay, lại đầy tính người. Có thể nói, Interview with the Vampire thật sự là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất về ma ca rồng, khi nó không chỉ là những câu chuyện tưởng tượng mà song hành cùng đó còn là những hiện sinh chủ nghĩa tiến bước song hành. 

Chuyện kể về Louis, chủ một điền trang ở Lousiana vì quá đớn đau trước cái chết của vợ và đứa con mới chào đời, đã xin ân huệ là cái chết từ Lestat – một con ma cà rồng lâu năm. Lestat đồng thời vừa muốn chiếm đoạt số gia sản ấy, lại vừa muốn có một người bạn cạnh cầu; vì thế đã không giết mà biến Louis trở thành ma cà rồng như y, và kể từ đó số phận hai người gắn với nhau. Thế nhưng, sâu trong Louis luôn là những dằn vặt giữa thiện và ác, giữa con người và ma quái; nhận thấy Louis có khả năng rời bỏ mình, Lestat đã dùng Claudia như đứa con chung để níu giữ anh. Claudia ngày càng lớn lên, nhận ra trạng thái mắc kẹt mãi mãi trong thân thể đứa trẻ sáu tuổi của mình, đã cùng Louis bàn cách giết chết Lestat và tìm đến những con ma cà rồng khác để được tự do và hiểu thêm về cuộc sống này. Thế nhưng vì mắc tội giết đi đồng loại, cả hai người họ đều bị một sự phản trắc dội ngược, và cái kết là Claudia bị ép thiêu rụi trong ánh nắng ban ngày. Louis vì quá hằn thù những kẻ ấy nên đã đốt trụi rạp xiếc cùng những con ma cà rồng. Đến cuối, Lestat vẫn ở đó và cầu mong Louis trở lại, nhưng chỉ nhận được lời từ chối từ anh.

Với Interview with the Vampire, Anne Rice không những thành công trong việc khắc họa những con ma cà rồng “điển hình” nhất (nếu so với Twilight); mà còn thành công ở một mặt khác, về khía cạnh hiện sinh. Nói Louis và Lestat, nhưng dễ dàng nhận ra, đó cũng đồng thời là hai bản ngã của một con người. Ở đây, Claudia được thêm vào dưới nhân dạng một đứa trẻ như nỗi kinh hãi, kinh hãi thật sự khi mãi mãi phải chìm trong thân xác đứa trẻ sáu tuổi dẫu cho thời gian đã phôi phai 70 năm. Hành động giết chết Lestat của Claudia và Louis như tiếng gọi tha thiết tự do, và Louis khi đốt trụi Théâtre des Vampire của những con ma cà rồng làm hại Claudia, nó như tiếng thét cuối cùng của bản chất lương thiện. Ma ca rồng dù sao vẫn từng là người, họ muốn sống và được yêu thương; và một cách thật sâu, Anne Rice đã đưa chính những triết lý đơn giản này vào câu chuyện tưởng chừng không liên quan như thế.

Với hơn tám triệu bản được bán ra trên toàn cầu và sự bảo chứng thành công của bản chuyển thể điện ảnh vào năm 1994 cùng những tên tuổi đắt giá như Tom Cruise, Brad Pitt, Kirsten Dunst; Interview with the Vampire cùng với Queen of the Damned của nữ ca sỹ tài họa yểu mệnh Aaliyah thật sự là hai tượng đài của thể loại tiểu thuyết kinh dị gây ám ảnh. Anne Rice đã thật sự thành công khi làm nên một vũ trụ của những nhân vật như thế, và biết đâu ngay khi cơn sốt siêu anh hùng của Marvel nguội lạnh vì bội thực, một thế giới ma cà rồng khác sẽ lại lên ngôi, thế chỗ, và mang lại những giá trị hiện sinh đầy ý nghĩa như thế?

2. 172 giờ trên mặt trăng (Johan Harstad)

Mang trong mình đầy đủ yếu tố kinh dị thường thấy của những tiểu thuyết trinh thám Bắc Âu, 172 giờ trên mặt trăng đem đến một sự kinh hãi dần dần cho người đọc như cơn triều rút. Mở ra không gian vũ trụ không mấy thân quen ở thì tương lai, Johan Harstad tha hồ sáng tạo nên những nhân vật không thực – mà ở đây rõ ràng anh đã không làm người đọc thất vọng. Cái hay của Johan là không tạo nên những nhân vật quá phi logic, vượt quá xa hiểu biết con người hay quá mang tính thể nghiệm thực dụng; mà ở đây, anh dùng những câu chuyện dân gian đồng thoại, kết hợp cùng những cái thực làm ra một thế giới vừa ảo tưởng đấy lại vừa thật đấy, vừa kinh hãi ghê rợn đấy nhưng nghe trong đó tiếng cười lại thành xa xôi.

Là một tiểu thuyết gia viết cho lớp thanh thiếu niên, câu chuyện trong tác phẩm này cũng tràn đầy hơi thở tuổi trẻ như thế. Lấy bối cảnh cuộc trở lại mặt trăng sau thành công những năm 60, ba đứa trẻ được NASA tuyển chọn trên khắp thế giới mang vinh hạnh thực hiện thử thách này, nhưng đằng sau đó, là những âm mưu của người đứng đầu bộ sậu về những nghi ngờ lịch sử đã từng xảy ra. Ở đó, Mia, Midori và Antoine như ba chú chuột thí nghiệm bị nhốt trong chiếc lồng sắt DARIAH 2 trên Biển bình yên để chờ những kỳ dị tới. Ở đó, trên chính trạm không gian bị bỏ hoang từ lâu, bắt đầu xuất hiện những cái chết – cái chết bên ngoài không gian mỗi khi ai đó ra ngoài một mình hay cái chết đến từ bên trong, khi không khí đã dần cạn hết. Không dừng ở đó, Johan đẩy mạch truyện dần lên cao trào, khi ngoài cái chết, là chính khi con người ta lại phải đối diện với bản thân mình – một thể mang dáng hình mình lại không phải mình, một hệ song trùng vô cùng kinh hãi.

Nếu bỏ qua mạch truyện ban đầu đôi khi dài dòng lê thê, thì ở phần sau, tất cả đã mang cân bằng về lại cho tác phẩm này. Thế nhưng, đó thật sự là điều dễ hiểu, bởi nhẽ một tiểu thuyết viết riêng cho lớp thanh thiếu niên thì không thể thiếu đi đời sống của họ, nhịp điệu của họ. Johan cũng đồng khéo léo khắc họa được những vấn đề ở lứa tuổi ấy: là sự bốc đồng ngông cuồng với thứ nhạc Rock thập niên 60, là sự hảo danh của những đứa trẻ vẫn chưa kịp lớn, và cả tình yêu dẫu cho cuồng loạn. Với cú bùng nổ ở phía sau chót, Johan Hastard gợi ra một nỗi ám ảnh tưởng như vô song, một sự kích động mà những bộ phim như Us hay Truth or Dare đã từng làm được. Nhận giải Barge danh giá nhất Na Uy cho cuốn tiểu thuyết đầu tay, 172 giờ trên mặt trăng đòi hỏi nhiều sự kiên nhẫn, nhưng khi đến trang cuối cùng, cũng chính là khi adrenalin vượt khỏi trang giấy, chính ta sẽ thấy nó thật sự là cuốn sách lạ, và có thể, bởi sự dị kỳ, ta sẽ không còn bao giờ cầm lại đến lần thứ hai.

3. Đứa trẻ thứ 44 (Tom Rob Smith)

Tương tự 172 giờ trên mặt trăng, Đứa trẻ thứ 44 của Tom Rob Smith là cuốn sách đầu tay mang đến sự bùng nổ về tài năng cho chính tác giả. Được đề cử hơn 17 giải thưởng quốc tế trong đó có Man Booker, giành chiến thắng bảy giải, Đứa trẻ thứ 44 là cuốn sách trinh thám rất đáng để đọc những năm gần đây, sau những Hoa súng đen của Michel Bussi hay Chim cổ đỏ của Jo Nesbø.

Liên Xô những năm 1930 rúng động với hàng loạt những vụ giết người theo một motif kinh dị giống nhau: khi đó đều là những đứa trẻ bị cắt dạ dày, nhét vỏ cây vào miệng và chân bị cột chặt dây. Leo Demidov – nhân viên MGB, vì những quyết định tự trọng của mình đã tự sa lầy vào chính bộ máy chính quyền quan liêu, phải tự dấn thân tìm ra sự thật mà không có thêm một sự hỗ trợ nào khác, trừ người vợ mình – Raisa. Ở đó, Leo đồng thời song hành ở hai con đường, một chạy thoát thân khỏi những hiểm họa muốn lấy mạng anh và một tìm ra hung thủ đằng sau màn nhung. Và hơn cả thảy, cuối cùng là sự khó hiểu, một nỗi nhận thức thật sự muốn quên. Những chọn lựa nào dành riêng cho anh?

Tom Rob Smith một cách tài tình đã cân bằng được logic chặt chẽ với tình cảm chi phối; giữa trinh thám điều tra cùng hiện trưng xã hội. Như thế hệ tiếp sau của Georges Simenon với mảng trinh thám xã hội, Đứa trẻ thứ 44 là cuộc truy ngược về bản chất con người, về bộ máy quan liêu và trên hết, về chính tình người ta dành cho nhau. Ở đó có niềm tin, thất vọng, tuyệt vọng; có cái chết, hy vọng, sự sống,… Đọc cuốn sách này không đơn giản như cùng phá án, mà chính ở đó, ta như lần ngược về những sang chấn tâm lý, những câu hỏi nguyên thủy nhất về thực chất chúng ta là ai, tình cảm chúng ta là gì.

Sử dụng lối viết xen kẽ những khoảng thời gian cùng nhiều câu chuyện đa góc nhìn, Tom Rob Smith làm nên thế trận rối tung, nhưng dù sao nếu đủ tỉnh táo cùng một chút cảnh giác, ta vẫn có thể nhìn được vào sâu sự thật. Đứa trẻ thứ 44 vẫn không thoát khỏi những tình tiết đôi khi gượng ép không thật, bởi những dàn xếp quá nhiều đâm ra rất thiếu tự nhiên hay dễ đoán trước; nhưng dẫu sao, với một cấu trúc phức tạp và những sắp xếp gọn ghẽ, đây vẫn là cuốn sách khiến ta muốn cầm đến trang cuối cùng. Như một nhận định: “Đứa trẻ thứ 44 dữ dội như một con sói Nga. Nó tóm lấy cổ họng ta và không buông ra nữa”; nếu đủ can đảm vào một đêm Halloween khuya khoắt nào đó, hãy cùng đọc và đồng hành cùng Leo Demidov như vừa bước ra từ câu lạc bộ của Maigret, Harry Hole hay Poirot; phiêu lưu một chuyến đến vùng đất xa, để săn lũ mèo, tìm ra sự thật.

4. Hiệu cầm đồ số 8 (Thâm Tuyết)

Văn học châu Á từ lâu vẫn mang trong mình một sự bóc trần chủ nghĩa hiện thực mang đậm phong cách địa phương. Và Hiệu cầm đồ số 8 của Thâm Tuyết là không ngoại lệ, trên hết nó còn mở đầu như một chứng nhân cho phong cách rất riêng của văn học Hongkong, vốn từ trước đến nay luôn được biết đến như nền văn học của nhiều những cây bút trẻ, hơi thiếu cá tính, đôi khi mơ mộng.

Hiệu cầm đồ số 8 thực chất là một tiểu thuyết hiện thực hiện sinh trong lớp vỏ của những tưởng tượng. Ở đó, hai nhân vật chính – ông chủ và Tinh; với nét tính cách, những mối quan hệ cùng những xuất thân, dễ gợi nhớ đến hai nhân vật của Anne Rice như đã nói trên. Khác với Anne Rice, Thâm Tuyết ở đây không quá đi sâu vào việc phân tích tâm lý, phát triển cốt truyện, hay tạo cú hook – mà cô đơn thuần kể lại như đang chứng kiến.

Đọc về cuộc đời của Tinh, đôi khi ta thấy hiện ra là cuộc đương đầu đối với số phận của người phụ nữ một lần nào đó đã từng thấp thoáng trong nhiều tác phẩm điện ảnh, từ một Lồng đèn đỏ treo cao cho đến Cao lương đỏ của Trương Nghệ Mưu; hay một điểm khác, là cái đói, cái nghèo, cái heo hút của Thu Cúc đi kiện,… Một cách giản dị mà không màu mè, Thâm Tuyết gom hết những thứ đặc trưng của vùng nông thôn Trung Quốc vào chung một mâm, để chúng tự nhiên hòa quyện vào trong tâm tưởng của mỗi người đọc, tự nhiên tuôn chảy như điều gì đó vốn đã từ lâu.    

Với những tư liệu đắt giá vốn có thế này, Thâm Tuyết hoàn toàn có thể kéo dài mạch truyện để rồi phát triển ngày càng cao lên. Thế nhưng dường như cô rất tính toán và chỉ chọn ra những chi tiết thật sự đắt giá để mà đưa vào một lần rồi thôi. Đây là một nhân tố nữa làm nên chính sự cuốn hút của quyển sách này: sự vừa phải. Rõ ràng ở đây, Thâm Tuyết đã rất thành công trong việc miêu tả khía cạnh giả tưởng rất ư thật nhất. Yếu tố kinh dị tuy chỉ là phụ, thế nhưng lại là yếu tố cô làm tốt nhất. Những dòng miêu tả Hàn Nặc – hay chính con quỷ trong người cậu bé – luôn luôn khiến ta dựng hết tóc gáy mỗi lần đọc đến. Cô dùng chính lối tương phản giữa đứa trẻ con và một con quỷ để bật lên hết những niềm tàn ác. Đẩy lên cao trào, người cha trong chính cảnh này lại là chứng nhân tham gia can dự. Những đoạn hội thoại của hai cha con, hay chính con quỷ với người cha này – vô cùng sắc bén và rất gợi mở. Tuy chỉ là yếu tố phụ, thế nhưng Thâm Tuyết lại rất tài năng trong việc gợi mở một chiều kích khác, đánh sâu vào gai cảm giác của mỗi một người. Ngoài ra, một sự trùng hợp vô cùng kỳ lạ khi cả Anne Rice và Thâm Tuyết đều rất thành công khi đưa trẻ con vào trong câu chuyện của mình, và cũng kể từ đây, Claudia và Hàn Nặc thật sự trở thành hai trong số rất nhiều nhân vật trong các tiểu thuyết kinh dị mang nhiều những nỗi ám ảnh cho ai đã từng đọc đến.          

Tạm quên đi các yếu tố làm nên những điểm đặc biệt cho tác phẩm này, thì phần còn lại của Hiệu cầm đồ số 8 xứng danh là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu cho văn chương Hongkong. Cùng viết về tình yêu nhưng được đặt dưới lớp vỏ kinh dị, Thâm Tuyết lại một lần nữa mang đến cái kết vô cùng dễ chịu cho mỗi người đọc – hệt như là những bộ phim ta từng mê mẩn những năm còn trẻ. Cùng viết về tình yêu và ý nghĩa của nó, Thâm Tuyết nhẹ nhàng truyền đến người đọc thông qua cốt truyện rất ư mới lạ. Tuy phần sau của tiểu thuyết này rất dễ đoán ra, cùng những tình tiết không hẳn logic hay những lời văn đao to búa lớn, chi tiết khoa trương rất không cần thiết; thế nhưng nhìn chung, Hiệu cầm đồ số 8 là tác phẩm lạ và vô cùng độc đáo, như một phiên bản phương Đông của Interview with the Vampire, nhẹ nhàng và khắc sâu hơn.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Khi thiên hạ rao bán (và bẻ răng) tiểu thuyết dystopia

Dystopia đã chuyển từ phê bình chính trị công khai sang một hình thức giải trí giật gân và thương mại hóa – vậy chúng ta có thể làm gì? Thật sự là rất nhiều.

Đăng từ

on

Người đăng

DYSTOPIA FOR SALE: HOW A COMMERCIALIZED GENRE LOST ITS TEETH

Brady Gerber

Khi Chuyện người tùy nữ của Hulu thắng giải Emmy, hạng mục Phim truyền hình xuất sắc năm 2017, người dẫn chương trình Bruce Miller đã mời Margaret Atwood – tác giả cuốn tiểu thuyết ra đời năm 1985 truyền cảm hứng cho bộ phim – lên sân khấu để nhận giải. Trong buổi tối hôm đó, loạt phim kể về nước Mỹ chế độ độc tài, cưỡng ép phụ nữ làm nô lệ cho mục đích sinh sản được ca ngợi không ngớt; sê-ri phim này còn giành thêm vài giải thưởng bổ sung và Hulu trở thành dịch vụ phim trực tuyến đầu tiên giành danh hiệu Emmy cao nhất. Đối với phần đông dân số Mỹ, Chuyện người tùy nữ đã tóm lược quang cảnh ảm đạm và đáng chán của thế giới năm 2017. Chiến thắng giải Emmy lần này biết đâu chừng đã xác nhận cảm giác rằng thời điểm này đang rất tồi tệ và người ta cần phải làm điều gì đó. Tuy nhiên, khoảnh khắc này thuộc về Hulu.

Tại hậu trường, Atwood đã nói chuyện với cánh phóng viên về chiến thắng của mình. “Đúc kết của tôi là đừng bao giờ nghĩ rằng viễn cảnh này sẽ không bao giờ trở thành sự thật. Chẳng có bất kỳ điều gì tồn tại trong sách vở mà con người chưa từng hiện thực hóa trong một thời điểm nào đó, tại một nơi nào đó.” Những bình luận của bà mang tính truyền cảm hứng nhưng lại khá mơ hồ. Và rồi Atwood, sau khi thảo luận về bộ phim Chuyện người tùy n do Volker Schlöndorff thực hiện năm 1990, bắt đầu liệt kê những phiên bản chuyển thể khác từ tiểu thuyết của mình:

“Nó đã được chuyển thành một vở ô-pê-ra, một vở ba-lê; và giờ đây đã trở thành một cuốn tiểu thuyết bằng tranh… Ngoài ra trên YouTube còn có một đoạn phim ngắn mang tên: ‘Rốt Cuộc Họ Đã Thực Hiện Một Chuyện Người Tùy Nữ Cho Đàn Ông’. Vì thế, câu chuyện thoát ra khỏi cái khung sẵn có. Mọi người đã gửi cho tôi những chú gà dệt kim mặc những trang phục hầu gái nho nhỏ, cùng với những bức ảnh về chó và mèo của họ [được hóa trang]. Nó ở đâu đó ngoài kia trên thế giới. Nó cũng trở thành chủ đề cho cuộc biểu tình đến cơ quan lập pháp tiểu bang. Bạn có thể nói rằng những người hầu gái đã trốn thoát. Họ ở ngoài kia. Nhưng họ sẽ lại đến với bạn một lần nữa trong phần hai!”

Khi Atwood kết thúc lời phát biểu với việc đề cập đến phần hai của loạt phim Chuyện người tùy n, dù có chút hóm hỉnh, nhưng đó không phải là điều tôi mong đợi. Với sự kiêu ngạo – hay ngây thơ – của bản thân, tôi đang trông chờ Atwood – người đã vẽ ra một tương lai đáng sợ nhưng cũng khả dĩ – sẽ đưa ra một lời kêu gọi hành động và cho tôi biết mình có thể làm gì để ngăn chặn viễn cảnh của bà trở thành hiện thực. Chẳng phải Atwood hẳn nên biết làm cách nào để ngăn chặn nó ư?

Tôi biết đáng nhẽ mình nên mừng cho Atwood. Chuyện người tùy n là cuốn tiểu thuyết tuyệt vời và cần thiết, hiện đã tiếp cận với nhiều khán giả mới thông qua loạt phim truyền hình. Atwood xứng đáng được hưởng thành quả cần lao của mình và bà ấy chẳng nợ tôi điều gì cả. Tôi rất muốn tin rằng có ai đó xem chương trình này sẽ được thôi thúc hành động thay vì ngồi khắp nơi và đan những con gà dệt kim trong lúc chờ đợi phần hai và những điều tồi tệ sẽ xảy ra ở đó. Nhưng chúng ta đang sống trong thế giới của vô số màn hình. Dù muốn hay không, chúng ta vẫn không thể tránh được bộ phim. Việc chấp nhận hòa theo dòng chảy và theo dõi những diễn biến sắp tới hóa ra dễ dàng hơn nhiều.

*

Thành công gần đây của Chuyện người tùy n cũng như việc tác phẩm 1984 của George Orwell đã nhảy vọt trở lại danh sách bán chạy nhất, và sự bùng nổ của các tiêu đề nhai đi nhai lại rằng mọi thứ đột nhiên đang xảy ra “hơn bao giờ hết” hướng về một kết luận: chúng ta đang sống trong thời dystopia1 (không-tưởng-đen/ phản-địa-đàng).

Từ dystopia, trong thời kỳ nước Mỹ đang bị chia cắt về mặt chính trị, đã điềm nhiên thành mốt. Thành mốt, quá đà, và ngay lúc này bị lạm dụng.

“Thói bi quan nay trở nên thời thượng”, tờ Vulture tuyên bố vào tháng Tám trong danh sách 100 tác phẩm vĩ đại nhất thuộc thể loại hư cấu dystopia. Bất kể mối quan tâm lớn nhất của bạn là gì – mâu thuẫn chính trị, biến đổi khí hậu, người da màu và phụ nữ bị áp bức, sự phát triển không kiểm soát được của công nghệ – thì vẫn có một viễn cảnh tương lai ác mộng đang chờ đón bạn. Nếu bạn thực sự muốn nắm rõ tình hình, bạn có thể bao bọc bản thân với mọi kết cục ảm đạm tiềm tàng. Mọi người đều được phép tạo ra một dystopia của riêng mình; họ dễ dàng cá nhân hóa nó như một danh sách iTunes.

“Thói bi quan nay trở nên thời thượng”

Từng là phương tiện đầy tham vọng để chỉ trích xã hội và chính trị, nhưng giờ dystopia đã bị giáng xuống thành phổ ngữ mà có thể đắp vào bất cứ thứ gì để nghe có vẻ theo kịp thời đại. Tuy thế, từ này vẫn chưa biến thành hoàn toàn vô nghĩa; nó vẫn gợi lên một nỗi sợ nhất định – và nghệ thuật dystopia cao quý vẫn còn đang sinh sôi. Nhưng nó đã trở nên quá thừa mứa. Chúng ta đã biết có vô vàn lý do để sợ hãi, rằng chẳng có ai đơn độc hành động mà có thể thay đổi tương lai. Chúng ta đang bị bão hòa với dystopia.

Nhiều người thuộc thế hệ của tôi lần đầu định hình quan niệm về dystopia từ việc đọc 1984Thế giới mới tươi đẹp của Aldous Huxley ở trường. Chúng tôi trưởng thành với Big Brother2, và bây giờ chúng tôi lại trốn tránh vào những thế giới hư cấu đáng sợ khi mọi thứ trong đời thực bắt đầu giống với những viễn cảnh ấy. Khi những câu chuyện này (rất nhiều trong số đó chứa đựng lời phê bình chống tư bản hoặc chống chủ nghĩa tiêu thụ) ngày càng phổ biến, chắc chắn chúng sẽ được chuyển thể thành các chương trình truyền hình, điện ảnh, hoặc quảng cáo của Apple. Giống như việc mỗi năm chúng ta có một bộ phim Chiến tranh giữa các vì sao mới cho đến khi ngày tận thế, chúng ta được nghe kể về những câu chuyện từa tựa dystopia mà mình đã học hết ngày này qua ngày khác vào năm nhất trong trường trung học, nhiều trong số đó đã được viết từ lâu và, như Angelica Jade Bastién chỉ ra, tuyền một màu trắng. Chúng ta đã thực sự mắc kẹt khi nhìn thế giới như tuổi-mười-lăm.

Dystopia từng là tiểu thuyết của sự phản kháng,” chuyên gia sử học Jill Lepore đã viết cho tờ New Yorker vào tháng 6, “[bây giờ] nó trở thành tiểu thuyết của sự quy phục, về một thế kỷ 21 không đáng tin cậy, cô đơn và ủ rủ, tiểu thuyết của những tin giả và chiến tranh thông tin, tiểu thuyết về sự bất lực và vô vọng.” Lepore tiếp tục:

“[Dystopia] không thể vẽ nên một tương lai tốt hơn, và nó không yêu cầu bất cứ ai phải bận tâm nghĩ cách tạo ra một tương lai như thế. Nó nuôi dưỡng sự bất bình và phẫn nộ; nó không kêu gọi sự can đảm; nó thấy rằng hèn nhát là đủ. Lời khuyên duy nhất của nó là: Hãy tuyệt vọng nhiều hơn. Nó hấp dẫn cả cánh tả và cánh hữu, bởi vì, sau tất cả, nó chẳng mấy khi đòi hỏi về mặt văn chương, chính trị hay trí tưởng tượng của đạo đức mà chỉ yêu cầu bạn tận hưởng sự bầu bạn của những người có chung nỗi sợ về tương lai với bạn.”

Theo quan điểm của Lepore, hiện nay chúng ta khơi gợi lại dystopia là để trốn tránh chứ không phải để phản kháng.

Nhưng Hollywood, quan tâm nhiều đến việc trung thành với thương hiệu hơn là tạo ra những suy nghĩ tiến bộ, họ muốn khiến ta tin rằng chiến thắng của một chương trình bình đẳng giới kiểu dystopia hẳn nhiên chính là một đổi thay ý nghĩa.

Đặc biệt với Chuyện người tùy nữ, khi những người biểu tình hóa trang thành hầu gái và diễu hành khắp các tòa thủ phủ của bang, đôi lúc, ngoài ý nghĩa phản kháng thì việc đó lại tình cờ quảng cáo miễn phí cho Hulu. Thực tế, cuộc biểu tình hầu gái trọng yếu đầu tiên là một chương trình quảng cáo của Hulu theo đúng nghĩa đen. “Chúng tôi không hề cố tạo ra một tuyên bố chính trị”, một trong những người đứng đầu bộ phận marketing của Hulu cho hay đương lúc cuộc biểu tình diễn ra vào cuối năm ngoái tại SXSW3.

Trong một quốc gia đầy những kẻ đam mê chính trị, việc bênh vực nghệ thuật dystopia nay trở thành lựa chọn hàng đầu cho những ai muốn thể hiện lập trường chính trị mà không cần thật sự làm bất cứ điều gì. Nhưng nếu chúng ta chấp nhận rằng mình đang sống trong dystopia, vậy đã quá muộn rồi. Cuộc đời chỉ phỏng theo nghệ thuật thôi.

Đây không phải là một lời kêu gọi ngừng đọc văn học dystopia. Thế giới cần các nhà văn như George Orwell và Margaret Atwood để đặt ra những câu hỏi khó về quá khứ, hiện tại và tương lai của chúng ta. Nhưng như thế là chưa đủ. Chúng ta cũng cần tưởng tượng một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân, không đơn giản với tư cách là người tiêu dùng – dẫu tiêu dùng nghệ thuật hay văn học – mà như một công dân.

*

Dystopia là từ trái nghĩa của utopia4, thuật ngữ do Sir Thomas More miêu tả một trạng thái hư cấu hoàn hảo dùng làm tiêu đề bản châm biếm chính trị cổ điển năm 1516 của ông. Utopia, ở dạng ban đầu, nghĩa đen là “không đâu cả”. Nếu utopia là lý tưởng không thể đạt được, thì dystopia đi ngược lại: cơn ác mộng không thể tiến tới. Năm 1868, nhà triết học và kinh tế học người Anh John Stuart Mill đã xác nhận định nghĩa này khi ông trở thành người đầu tiên sử dụng dystopia như một từ riêng biệt.Trong bài phát biểu tại Quốc hội để chỉ trích sự cai trị của người Anh ở Ireland, Mill đã tuyên bố: “Nếu gọi [những người cai trị này] là utopia thì quá khen ngợi rồi. Phải gọi họ là dystopia… vì những gì họ tỏ vẻ ủng hộ là quá tồi tệ để được hiện thực hóa.”

Các tài liệu dystopia đầu tiên đều dựa trên quan điểm của More và Mill, và trong khi bản đồ thế giới ngày càng mở rộng, họ dùng khoảng cách địa lý để tạo ra những nơi chốn không thể chạm tới và không mong đợi. Những dystopia hư cấu đầu tiên là những địa điểm cụ thể hiện hữu song song với thế giới thực của tác giả, như hòn đảo kỳ lạ trong Gulliver Du ký của Jonathan Swift, vùng đất Darwinian hữu danh vô thực ở Erewhon của Samuel Butler, hay nền văn minh tương lai của H.G. Wells trong bước nhảy thời đại tại Cỗ máy thời gian. Sức mạnh của những tác phẩm đầu tiên là chúng cho thấy sự tương phản rõ rệt giữa bản thân thế giới thời bấy giờ và thế giới như nó có thể trở thành. Lemuel Gulliver đã phiêu lưu đến nhiều nơi khác nhau như Lilliput, nhưng anh ta luôn quay trở lại nước Anh thời hiện đại để suy ngẫm về những gì anh ta đã thấy và nó làm thay đổi thế giới quan của mình như thế nào. Người đọc có thể không đồng ý với kết luận của Swift, nhưng ông đã đưa ra một lời phê bình rõ ràng.

Vào đầu thế kỷ 20, những tiến bộ công nghệ (máy bay của anh em nhà Wright, xe hơi đầu tiên của Ford, tín hiệu vô tuyến xuyên Đại Tây Dương của Marconi) và Chủ Nghĩa Tân Đế Quốc khiến thế giới trở nên nhỏ hơn và phức tạp hơn, đầy tiềm năng và ít tiền lệ. Những câu chuyện mới phải được viết nên, vì vậy thế hệ các nhà văn tiếp theo của dystopia sẽ hướng về tương lai để chỉ trích và chạy trốn thế giới hiện đại. Từ The Machine Stops của E. M. Forster (con người chỉ biết dựa vào máy móc để nói chuyện với nhau), đến tiểu thuyết Chúng tôi của Yevgeny Zamyatin (tất cả bị kiểm soát và không hề có tự do) và cuối cùng là Thế giới mới tươi đẹp (chúng ta sống trong một khuôn khổ sẵn có), những câu chuyện này không còn là sự châm biếm chính trị thời cuộc mà là những dự đoán táo bạo về “chuyện gì sẽ xảy ra”. Người đọc được trao quyền để rút ra những điểm tương đồng giữa tác phẩm và thực tế để xác thực xem những câu-chuyện-tương-lai-xa có phải là cảnh báo nghiêm trọng hay chỉ là những câu chuyện ngớ ngẩn.

Khi Hoa Kỳ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima, và rõ ràng rằng giờ đây thế giới có thể kết thúc chỉ với một cú bấm nút, thì những câu chuyện mới cần phải được viết ra. 1984, xuất bản năm 1949, đã kết thúc “thời kỳ hoàng kim” dystopia nghệ thuật, trước khi các nhà văn chuyển trọng tâm sang bối cảnh tận thế kịch tính thời Chiến tranh Lạnh. Làn sóng mới trong văn chương dystopia – bao gồm 451 độ F của Ray Bradbury, I Have No Mouth and I Must Scream của Harlan Ellison, và The Girl Who Was Plugged In của Alice Sheldon – bắt đầu có cảm giác như là tiểu thuyết khoa học viễn tưởng sến súa, mặc cho nhiều tác phẩm đa dạng và đầy thách thức ra đời, như là Neuromancer của William Gibson (khai sinh ra cyberpunk), A Clockwork Orange của Anthony Burgess (phong cách Orwell với niềm hân hoan phản văn hóa), và, tất nhiên, Chuyện người tùy nữ (một câu chuyện ảm đạm về kỳ thị nữ giới trong một thể loại quá ư đực tính). Vào cuối những năm 80, dystopia đã phát triển từ một thể loại cá biệt nghiêm ngặt trở nên phổ biến, tuy thế vẫn có tác dụng cải biên cho bất kỳ tiểu thuyết nào muốn tiên đoán về một tương lai chết chóc.

Một bước tiến đáng kể của dystopia, tuy thế, đã xảy ra không chỉ trong sách mà trên cả màn hình. Bộ phim dystopia vĩ đại đầu tiên là Metropolis (1927) của đạo diễn Fritz Lang, nhưng bắt đầu từ những năm 70, một số tiểu thuyết về dystopia đã được chuyển thể thành phim rất có sức ảnh hưởng, nổi bật nhất là A Clockwork OrangeDo Androids Dream of Electric Sheep? của Philip K. Dick (đổi tên thành Blade Runner). Ngoài ra còn có những câu chuyện mới về dystopia như THX 1138 (tác phẩm đầu tay của đạo diễn George Lucas), Born in Flames của Lizzie Borden và Brazil của Terry Gilliamine. Trên màn hình, tương lai vẫn ảm đạm, nhưng giờ đây nó đang bùng nổ, chải chuốt và có thể được tiêu thụ trong khoảng hai giờ.

Quả bom dystopia lớn kế tiếp tập trung ở trẻ em và thanh thiếu niên. Cuốn tiểu thuyết Người truyền ký ức (1993) của Lois Lowry đã trở thành một trong những tiểu thuyết dystopia nổi tiếng đầu tiên viết cho khán giả trẻ với nhân vật chính là một cậu thanh niên, và nó đã mở ra cánh cửa cho vô số tiểu thuyết dystopia dành cho giới trẻ – có lẽ đạt đến đỉnh cao khi cuốn tiểu thuyết Đấu trường sinh tử năm 2008 của Suzanne Collins được chuyển nhượng truyền thông (tương tự với nhiều cuốn sách ăn theo). Đối với người lớn, thì dystopia tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên màn hình hơn là trên trang giấy. (Battle Royale của Koushun Takami và Mãi đừng xa tôi của Kazuo Ishiguro là hai ngoại lệ đáng chú ý).

Chiến tranh Lạnh đã chấm dứt, nhưng thế giới vẫn đang chán nản, và xuất hiện nhiều dystopia mới có nội dung giống hệt nhau – thoát ly khỏi cái đáng chán ấy. Các bộ phim như bản chuyển thể Ghost in the Shell của Mamoru Oshii, Strange Days của Kathryn Bigelow, và The Matrix của Wachowskis xảy ra trong tương lai gần với sự thấu-hiểu-hết-thảy, kiểm-soát-hết-thảy những công dân bất-lực-hết-thảy. Trong sự toàn cầu hóa thế kỷ 21, cái tương lai gần đôi khi rất buồn cười (Idiocracy của Mike Jugle) nhưng thường thì nó chỉ ảm đạm (bản chuyển thể của Alfonson Cuarón từ Children of Men của P. D. James, District 9 của Neill Blomkamp và Snowpiercer của Bong Joon-ho).

Và TV giờ đây, nhắm chừng là phương tiện ảnh hưởng hơn cả bởi lãnh địa trực tuyến mới mẻ, dần trở thành nơi trú ngụ cho nguyên tác hay bản làm mới của những câu chuyện dystopia. Chuyện người tùy nữ sẽ trở lại với phần hai, sắp tới là 451 độ F trên HBO, và chúng sẽ chiếm suất cạnh bên một loạt những chương trình dystopia mới và chuyển thể và các chương trình tiên đoán cổ điển khác và các bộ phim sẽ được quảng bá kịp thời, lặp đi lặp lại.

*

Dystopia đã chuyển từ phê bình chính trị công khai sang một hình thức giải trí giật gân và thương mại hóa – vậy chúng ta có thể làm gì? Thật sự là rất nhiều.

Vào đoạn cuối 451 độ F, nhân vật chính của Bradbury, Montag tìm thấy một nhóm những người mê sách đang lưu vong nhưng đã ghi nhớ những cuốn sách; họ chờ đợi xã hội cũ chấm dứt để có thể xây dựng lại thế giới bằng trí tuệ của văn học. Điều này thực sự đến, và Montag trở lại với những người yêu sách để xây dựng một thế giới mới. Đây là một cách gọn ghẽ để hoàn thành một cuốn sách, nhưng chúng ta không cần chờ đợi thế giới kết thúc để tạo ra một sự thay đổi có ý nghĩa.

Mặc dù thế giới cần những nhà văn – những người đặt ra những câu hỏi khó và thách thức những giải pháp sơ sài, nhưng thế giới cũng cần những phóng viên phát ngôn cho những người không thể lên tiếng hoặc tiếng nói bị phớt lờ. Thế giới cần các tổ chức 350.org, Trung tâm Luật Giffords, RAINN và các chương trình tình nguyện để mở rộng việc giáo dục công dân. Thế giới cần chúng ta bỏ phiếu, đặc biệt ở quy mô nhỏ lẻ, nhưng ta cũng phải đứng sau sắp xếp những căn nguyên cụ thể và kêu gọi hành động. Thế giới cần chúng ta có những hành động tạo ra thay đổi nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn thay vì từ bỏ khi mọi thứ thay đổi quá nhanh. Thế giới cần chúng ta cố gắng hơn, và thông minh hơn.

Những khoảnh khắc hy vọng hiếm hoi trong dystopia thường ám chỉ rằng để  cứu vãn tương lai, tất cả phụ thuộc vào nhân vật chính – người phải bất chấp những tỷ lệ bất khả thi để đánh bại kẻ xấu trong cuộc đấu một mất một còn. Trong thực tế, tiến bộ là công việc của nhiều cá nhân có đầu óc nhưng không hoàn hảo; họ muốn cải thiện cuộc sống của chính mình và người khác, theo những cách khác nhau. Điện đàm với các vị thượng nghị sĩ chẳng thú bằng việc F5 danh sách chờ xem trên Netflix hay trông quyến rũ lộng lẫy như khi mang trên mình cái huy hiệu “Time’s Up”. Học cách để hành động chính xác là khó khăn, rất áp lực, và thường làm ta thất vọng. Nhưng nó hoàn toàn xứng đáng.

Hết.

Chú thích:

  1. Dystopia (phản-địa-đàng) là từ chỉ một cộng đồng hoặc xã hội tiêu cực đến đáng sợ. Những đặc điểm thường gặp tại dystopia là nhân tính bị đánh mất, chính quyền bạo ngược chuyên chế, thảm họa môi trường hoặc những đặc trưng khác của một xã hội đang xuống dốc đến bến bờ diệt vong.
  2. Big Brother là nhân vật giả tưởng trong tác phẩm 1984 của George Orwell, là lãnh đạo của chế độ độc tài Oceania.
  3. SXSW (South by Southwest) là một chương trình hội nghị điện ảnh, truyền thông tương tác và lễ hội âm nhạc tổ chức thường niên vào tháng Ba tại Texas, Hoa Kỳ.
  4. Utopia là một cộng đồng hoặc xã hội gần lý tưởng hoặc hoàn hảo trên mọi mặt.

Hoài Ân dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Brady Gerber, đăng tại Literary Hub.

Đọc bài viết

Cafe sáng